vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #20 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2021, 06:56:41 pm » |
|
Từ đầu cuộc chiến đến nay, quân đội xâm lược Pháp đã gặp sức chống trả quyết liệt ngày đêm, bị tiêu hao về lực lượng, giảm sút về tinh thần, có những khó khăn về tăng viện... Phía ta, nhiều dân thường còn bị mắc kẹt ở các phố, chưa kịp tản cư ra ngoài...
Giữa lúc đó, vào một buổi sáng đầu tháng 1 năm 1947, có 3 người nước ngoài mang 3 lá cờ Mỹ - Anh - Trung Hoa đi ra hướng Ngã Tư Sở. Quân ta ngăn lại và báo cáo lên Thành. Ngày 13-1-1947, đại diện chính quyền ta và Pháp, với sự có mặt của các lãnh sự Mỹ, Anh, Trung Hoa (Tưởng) đã gặp nhau ở Ô Chợ Dừa. Hai bên thoả thuận sẽ ngừng bắn ngày 15-1-1947 để dân tản cư ra ngoài. Đại diện chính quyền ta có đồng chí Nguyễn Văn Trân - Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Khu XI, đồng chí Hoàng Minh Giám - Bộ trưởng Ngoại giao và đồng chí Hoàng Hữu Nam - Thứ trưởng Nội vụ. Lực lượng ta bố trí bí mật bảo vệ, có các đồng chí Tổ trinh sát của Liên khu như đồng chí Đoàn Đức Thành, Đoàn Kính, Việt Sơn.
Sớm ngày 15-1-1947, Pháp vi phạm thoá thuận ngừng bắn. Chúng đã huy động hàng ngàn quân, trên 150 xe cơ giới các loại tiến ra phía Nam Hà Nội bao đường vòng quanh thành phố từ Vĩnh Tuy - Ngã tư Trung Hiền - Ngã tư Vọng - Ngã Tư Sở - Ô Cầu Giấy, với âm mưu tiêu diệt các đơn vị Vệ quốc quân và lực lượng kháng chiến, mở rộng phạm vi chiếm đóng và tạo địa bàn tăng sức ép Liên khu I.
Phía Liên khu II kiên cường chặn địch ở Ô Cầu Dền, Ngã tư Trung Hiền, nhà thương Bạch Mai. Địch đánh vào sân bay Bạch Mai. Lúc này có một bộ phận của Đại đội 29, Tiểu đoàn 523 đang đóng ở đây, đã tổ chức đánh chặn địch. Địch tràn vào. Đơn vị do Chính trị viên Đại đội Trân Hải chỉ huy, chia thành nhiều tốp nhỏ, phân tán nhiều hướng, vượt ra ngoài sân bay, cùng một số đơn vị bạn tổ chức đánh chặn địch từ nhà thương Bạch Mai bật ra. Quân ta chặn địch từng bước. Địch thương vong trên 20 tên, phải rút về sân bay Bạch Mai.
Ngay đêm 15, thi hành lệnh của Bộ chỉ huy Khu XI, các đơn vị thuộc địa bàn Liên khu III đã tổ chức các nhóm nhỏ luồn sâu tập kích các vị trí địch ở Khâm Thiên, Ô Chợ Dừa... Ở các vị trí rải rác địch mới tạm chiếm, do bị đòn liên tiếp, nên chỉ cần gây tiếng động cũng khiến địch bắn loạn xạ hàng tràng đạn. Địch vận nhiều lần, cũng có hiệu quả. Tổ Tuyên truyền phát loa địch vận ở nhà Dầu Shell Khâm Thiên, địch để ta nói xong, kêu lên "Attention", rồi bắn chỉ thiên. Suốt đêm như vậy, cũng làm cho địch thêm mỏi mệt. Tập kích, quấy rối, địch vận là một cách tấn công địch có hiệu quả.
Cho đến ngày 25, Pháp chiếm đóng Nhật Tân, Vĩnh Tuy, dồn sức kiểm soát vòng cung ngoài cùng thành phố Hà Nội. Địch dùng một lực lượng khá lớn tiến ven sông Tô Lịch, từ Láng đánh vào Mọc, một Trung đội của Đại đội 29, lực lượng Tự vệ chiến đấu Liên khu và một số chiến sĩ công binh tổ chức đánh chặn. Địch thương vong một số, phải rút.
Từ đầu tháng 2 năm 1947. Pháp lại tập trung quân đánh vào Liên khu I, đồng thời vẫn cố gắng kiểm soát các làng mạc bên ngoài các vị trí đóng quân trên vòng cung ngoại thành. Bên ta, sở chỉ huy Liên khu đóng ở Mọc, rồi dần chuyển sang Lủ. Chúng ta vừa xốc lại đội ngũ, vừa tổ chức chiến đấu. Đội Tuyên truyền xung phong được thành lập ở Lủ do đồng chí Minh Quang trực tiếp phụ trách. Lập đội kịch Thăng Long do đồng chí Sinh (già) phụ trách. Các trung đội Vệ quốc quân, Tự vệ chiến đấu Liên khu vẫn chốt giữ từ Cót về Mọc, Khương Trung, Khương Hạ. Lực lượng công binh cơ động phá huỷ nhà cao tầng bên Ngã Tư Sở, đánh sập Cầu Mới, đào hố cắt đường đi thị xã Hà Đông... Ở các nơi đóng quân của lực lượng vũ trang, đội hình bố trí theo thế Vệ quốc quân vòng ngoài, Tự vệ chiến đấu vòng trong; vẫn giữ được phối hợp chiến đấu. Các đơn vị tổ chức các tổ chiến đấu phù hợp yêu cầu phục kích, bắn tỉa, tập kích, nghi binh... Với cách tổ chức chiến đấu linh hoạt liên tục đêm ngày các tổ chiến đấu luân phiên nhau xuất trận. Ban ngày tổ chức phục kích, bắn tỉa. Ban đêm tập kích quấy rối địch. Có tổ cơ động vào Hàng Bột, Kim Mã tìm địch mà diệt. Việc đánh địch được ta mở rộng, chia cắt. Những hoạt động quân sự, chính trị của Liên khu III - Đống Đa củng cố thêm quyết tâm chiến đấu trong nội bộ, thu hút lòng dân hướng vào kháng chiến, có tác dụng kìm chân địch tại các vị trí mới chiếm giữ, gây khó cho địch tập trung trở về tấn công Liên khu I.
Tết Đinh Hợi đang đến gần. Tết đầu tiên kháng chiến chống Pháp, vừa chiến đấu, vừa lo Tết cổ truyền. Tổ tiếp tế - hoả thực đã chuẩn bị gói bánh chưng, chè lam. Bà con làng xóm đem đến ủng hộ bánh chưng, chân giò, mứt kẹo... thật rôm rả. Có gia đình ở Ngã Tư Sở còn đem ủng hộ cả tạ gạo, một con lợn đã làm sẵn. Từ trận tuyến, quà tết được chuyển đến từng vị trí chiến đấu của anh em ta. Lần ăn Tết này, đội kịch Thăng Long cho biểu diễn hoạt cảnh "Tiễn chồng đi trận" do đồng chí Giao sáng tác, nữ tuyên truyền viên Minh Thái, Hồng Ngọc vào vai diễn rất tự nhiên, tạo nhiều cảm xúc cho anh em ta và bà con thôn xóm.
Trước Tết mấy ngày liên, đặc biệt đêm 15, 16, 17-2-1947, các lực lượng Liên khu III - Đống Đa được lệnh mở các cuộc tấn công quấy rối vào các vị trí địch. Ở khu vực Láng, Cầu Giấy... khắp địa bàn Liên khu vang rền tiếng súng các loại, đánh nghi binh ở nhiều hướng. Sau này anh em mới rõ hoạt động quân sự liên tục phối hợp chiến đấu nghi binh, thu hút hoả lực địch để tạo điều kiện Trung đoàn Thủ đô bí mật, an toàn rút khỏi Hà Nội.
Như vậy từ 19-12-1946 đến 17-2-1947, trọn 60 ngày đêm khói lửa, quân dân Liên khu III - Đống Đa đã kiên cường chiến đấu chống chọi đội quân Pháp xầm lược nhà nghề có trang bị vũ khí hiện đại. Đã cùng Liên khu II phối hợp chiến đấu vòng ngoài, chia lửa, chi viện và bảo vệ cho Liên khu I. Thực tế chiến đấu và được chứng kiến những sự kiện quân sự, chính trị đã diễn ra ở địa bàn này, cũng phần nào hiểu rõ hơn Liên khu III - Đống Đa là cửa ngõ quan trọng của Thủ đô Hà Nội.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #21 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2021, 06:58:04 pm » |
|
Quân và dân Liên khu III - Đống Đa đã làm được các nhiệm vụ do Khu XI giao phó, đó là:
- Nổ súng tấn công ngay các ổ chiến đấu của địch; ngăn chặn quân địch đánh dãn nới rộng nên đã góp phần làm thất bại âm mưu của Pháp đánh chiếm Hà Nội trong 24 tiếng.
- Kìm được chân địch trong Hà Nội suốt nhiều tuần, do vậy đã đóng góp tích cực bảo đảm cho cả nước chuyển vào kháng chiến.
- Bảo vệ an toàn đường rút ra ATK của Trung ương, tản cư được dân, bảo toàn được lực lượng để có thể kháng chiến lâu dài.
Chúng ta đã nghiêm chỉnh thực hiện cách đánh "trong đánh ra, ngoài đánh vào" của Bộ chỉ huy mặt trận Hà Nội, với tinh thần quyết tử để bảo vệ Thủ đô và bằng hành động mưu trí, táo bạo.
Sở dĩ làm được như vậy bởi nhiều lẽ, trong đó nổi bật là:
Huy động được sức mạnh tổng hợp của mọi tầng lớp nhân dân và các lực lượng vũ trang trên địa bàn Liên khu. Sức mạnh này bắt nguồn từ lòng yêu nước của người dân lao động hoà quyện trong chính sách đoàn kết rộng rãi của Hồ Chủ tịch và Đảng Cộng sản, được thừa hưởng khí thế tiến công của Cách mạng tháng Tám nên trên dưới một lòng, sẵn sàng hy sinh, quyết không chịu mất nước, không trở lại cuộc đời nô lệ. Trong bức tranh chiến đấu của Liên khu hiện lên hình ảnh kháng chiến toàn dân: thanh niên - chiến đấu, phụ nữ - phát loa, trung niên - hoả thực, em bé - đưa tin, ả đào - tiếp tế. Nòng cốt trong đó là những Đảng viên cộng sản, được dân tin, đồng đội mến phục. Đội ngũ Đảng viên của Liên khu từ sau ngày nổ súng đã kết nạp thêm nhiều đồng chí: Bùi Văn Phi, Nguyễn Ngọc Cảnh, Nguyễn Hữu Hạnh, Nguyễn Kim (Quế), Bình Long, Thanh, các nữ đồng chí Phạm Thị Thiệp, Nguyễn Kim Phượng (Vân).
Sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Khu uỷ XI, Ủy ban Kháng chiến, Bộ chỉ huy Khu XI đã chỉ đạo chỉ huy đúng đắn, chủ động, quyết tâm, quan tâm tăng cường lực lượng cho Mặt trận Liên khu, giành sự chi viện về người và vật chất của Hà Đông, trực tiếp là hai huyện Thanh Oai, Thanh Trì cho Mặt trận Liên khu III - Đống Đa.
Bộ máy chỉ huy của Liên khu từ thực tiễn chiến đấu đã vận dụng linh hoạt các hình thức tác chiến phù hợp, đạt hiệu suất như chủ động tấn công để ngăn chặn, vừa tác chiến vừa phòng ngự, vừa tấn công nhỏ bằng tập kích, phục kích, bắn tỉa; vừa bắn súng, vừa phát loa... Trong tổ chức chỉ huy, ngay từ đầu đã giữ được tính thống nhất bàn bạc phối hợp, phân công giữa các lực lượng vũ trang, giữa chiến đấu và hậu cần, đảm bảo duy trì thế đánh liên tục, bảo đảm mối quan hệ thống tin với cấp trên - cấp dưới được kịp thời, thông suốt.
Thực hiện quyết định của Trung ương để chuẩn bị kháng chiến lâu dài, Mặt trận Hà Nội bao quát cả 4 huyện Thanh Oai, Thanh Trì (thuộc tỉnh Hà Đông). Hoài Đức, Đan Phượng (thuộc tính Son Tây). Hà Nội lập 3 quận IV, V và VI.
Quận V là phiên hiệu mới của Liên khu III - Đống Đa. Địa bàn huyện Thanh Oai là căn cứ hậu phương của Quận V. Tháng 2-1947 các lực lượng kháng chiến của Quận dần dần di chuyển khỏi Hà Nội, tập kết về quanh khu vực Cự Đà - Khúc Thuỷ (bên hữu ngạn huyện Thanh Oai). Quận V hoạt động và đóng quân trong phạm vi: kể từ Ngã Tư Vọng theo quốc lộ I đến Văn Điển, ven sông Nhuệ qua Đa Sĩ, Mậu Lương, Hống về Rùa rồi qua Trừ, Chẩy, Từ Châu; phía Bắc, kể từ thị xã Hà Đông xuống Ba La Bông Đỏ, Thạch Bích rồi dọc theo bờ Đông sông Đáy đến Chuông, Miêng, Ngã tư Vác, vòng sang Đông Quan, Tía.
Ở vùng ngoại thành Hà Nội tạm chiếm, Quận V hoạt động trong phạm vi từ Ngã Tư Vọng - Láng - Ô Cầu Giấy - Dịch Vọng - Mọc - Mễ Trì đến phía Bắc đường 70.
Trong các phố ở nội thành Hà Nội, do hoàn cảnh đặc biệt, không xác định ranh giới hoạt động giữa 3 Quận V, VI và IV.
Khi quân Pháp tiến quân ra ngoài Hà Nội, trong Thư của Hồ Chủ tịch gửi đồng bào toàn quốc ngày 5-3-1947 đã chỉ rõ: "... địch càng rải ra nhiều nơi thì lực lượng địch càng mỏng manh. Ta càng sẵn cơ hội mà đánh du kích để tiêu diệt nó dần dần, để đi đến thắng lợi cuối cùng".
Hội nghị Cán bộ Trung ương lần 2 (3 đến 6-4-1947) có quyết nghị: "... để nắm chắc thắng lợi, phải mở một mặt trận ở bất cứ nơi nào có bóng địch, đánh ngay ở cả sau lưng địch, trong ruột địch".
Khu XI cùng quyết định chỉnh đốn lại hàng ngũ, trước hết là đội ngũ Đảng để trở về hoạt động sau lưng địch.
Quán triệt nhiệm vụ chiến lược toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến và sự chỉ đạo của trên, trong suốt thời gian từ tháng 2-1947 đến tháng 3-1948, các chủ trương công tác và hoạt động của Quận V xoay quanh 3 vấn đề lớn, đó là:
- Chấn chỉnh đội ngũ kháng chiến. Huấn luyện cán bộ, chiến sĩ.
- Chống địch càn quét, chủ động đánh địch. Tiếp tục xây dựng lực lượng ta.
- Xây dựng cơ sở kháng chiến trong lòng Hà Nội.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #22 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2021, 06:59:02 pm » |
|
Về đến Cự Đà. Quận V tiếp tục thực hiện việc chấn chỉnh đội ngũ, tranh thủ thời gian huấn luyện, đẩy mạnh công tác tuyên truyền đối với dân sơ tán.
Đồng chí Đỗ Trình được cấp trên điều động đến Mặt trận Bắc (Ninh) - Bắc (Giang). Đồng chí Minh Quang thay làm Bí thư Quận. Sau đó đồng chí Minh Quang được điều lên Khu XI. Quận uỷ do đồng chí Nguyễn Kỷ làm Bí thư, có các đồng chí quận uỷ viên Hồ Trúc, Hà Đăng Ấn. Ủy ban Kháng chiến Quận do đồng chí Hà Đăng Ấn làm Chủ tịch. Quận bộ Việt Minh do đồng chí Ước làm Chủ nhiệm. Phụ nữ Quận do đồng chí Nguyễn Kim Phượng (Vân) làm Bí thư. Ban chỉ huy Quận đội có Quận đội trưởng Lê Thanh, Chính trị viên Hồ Trúc, Quận đội phó Chu Văn Biên, Chính trị viên phó Lương Hoài Tín. Công an Quận do đồng chí Lê Tuấn được Ty Công an Hà Nội cử về làm Quận trưởng từ tháng 4-1947, hiện thành lập một số bộ phận trực thuộc chuyên trách từng mặt công việc. Ban Tiếp tế do đồng chí Ước phụ trách; Ban Quân báo do đồng chí Lê Trần Lợi (Sáng) phụ trách. Ban Tuyên truyền Xung phong do đồng chí Nguyễn Ngọc Cảnh, Lê Kim Tùng phụ trách. Ban Ca - kịch có Trưởng ban Nguyễn Kim (Quế); Đội uỷ lạo Thương binh có các đồng chí Thái Tiên, Hồng Ngọc...
Các đơn vị vũ trang của Quận được xây dựng gồm 2 đại đội du kích, Trường huấn luyện và Trung đội nữ du kích, Đại đội 2 có Đại đội trưởng Ngọc (già), đồng chí Phương là chính trị viên. Đại đội 3 có Đại đội trưởng Bùi Văn Phi (Vũ Tiến) và 2 Đại đội phó là Nguyễn Viết Châu và Lê Đình Cầu. Trường huấn luyện có nhiệm vụ chính là đào tạo tổ trưởng và tiểu đội trưởng do đồng chí Lam Sơn làm Giám đốc, trường có 2 người Việt Nam mới (quốc tịch Nhật) có tên là Được và Quý giúp việc huấn luyện. Trung đội nữ du kích do đồng chí Nguyễn Kim Thoa làm Đội trưởng kiêm Chính trị viên, nhiệm vụ chính của Trung đội làm công tác địch vận và vũ trang tuyên truyền.
Lực lượng Công an Quận, kể cả các cơ sở, ước độ 50 người, ngoài bộ phận chỉ huy, văn phòng... còn tổ chức 4 trạm đóng rải rác các làng bao quanh thị xã Hà Đông, Mọc, Lủ, Ngã Tư Sở... làm nhiệm vụ điều tra tình hình dịch, xây dựng mạng lưới lượm tin...
Việc chấn chỉnh đội ngũ lần đầu này đặt cơ sở cho guồng máy kháng chiến Quận V hoạt động phù hợp với yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới, tiếp nối bước đi thắng lợi của Liên khu III - Đống Đa. Quá trình chấn chỉnh diễn ra cảnh bịn rịn xen lẫn phấn khởi giữa kẻ ở - người đến - người đi. Anh em tiếc nuối những kỷ niệm cùng chịu gian truân, nhường cơm sẻ áo trong những ngày đầu tiên vào trận. Nhiều đồng chí được bổ sung vào Vệ quốc quân như hơn 30 đồng chí Tự vệ Hỏa xa; sang quân báo... Có đồng chí cần theo gia đình, vì nhiều hoàn cảnh. Có đồng chí muốn được tiếp tục học văn hóa... Việc tiễn đưa đầu tiên này chưa mấy cam go như lần phải giảm nhẹ số người diễn ra giữa năm 1947.
Quận V đồng thời cũng tiếp nhận nguồn sinh lực mới từ trên cử về, từ các Liên khu I, II như đồng chí Lê Thanh, Lê Tuấn, nữ đồng chí Đoàn Thị Nguyệt, Đỗ Thị Tiến..., từ các em đứt liên lạc và tự nguyện tìm đến như Phạm Vũ Kiệm, Đoàn Đình Hải.
Lúc này ở vùng đất tự do Cự Đà - Khúc Thủy đã đông thêm do nhiều gia đình Hà Nội tản cư đến, do lực lượng kháng chiến của Liên khu III - Đống Đa và của các Liên khu khác... di chuyển đến. Các gia đình tản cư thuộc hàng trung lưu trở lên thì sinh hoạt thường nhật còn đầy đủ hoặc còn dễ thở. Nhiều gia đình nghèo túng hoặc đông người, hoặc do nhiều cảnh ngộ khác thì lương ăn cạn dần, bắt đầu đã phải chạy chợ, buôn thúng bán mẹt, đời sống bấp bênh, vất vả. Mức sống vốn dư dả của người dân quê vùng cận ven đô này được thói quen đô thị của đồng bào Hà Nội tản cư mang theo hoà nhập vào càng làm tăng thêm hoạt động chợ búa, quán sá sầm uất, nhộn nhịp suốt ngày từ chợ Cự Đà đến chợ Sổ. Tin tức chiến đấu lan truyền, đặc biệt cuộc rút quân thắng lợi của Trung đoàn Thủ đô làm bà con phấn chấn lạ thường. Cò làng bên tả ngạn sông Nhuệ mở hội 2, 3 ngày, chiêng trống ăn mừng. Anh em ta, sau những ngày gian nan thiếu thốn, về tới đây gặp lại gia đình, gặp được người thân nên hoan hỉ lắm, người còn sẵn tiền được dịp này cũng xả hơi đôi chút.
Bộ phận in báo "Thép" của Liên khu, sau khi di chuyển từ Mỗ về Cự Đà. trước khi chuyển nhập về báo Thủ đô của Khu XI, đã in xong cuốn "Du kích Nga" do đồng chí Hồ Trúc sưu tầm và biên soạn, kịp cung cấp cho các đơn vị trong quân. Lúc này các nội dung tuyên truyền nhằm cổ vũ tinh thần kháng chiến qua những mẩu chuyện chiến thắng và gương chiến đấu nhắc nhở đồng bào và anh em ta cảnh giác về những tin đồn nhảm của bọn Việt gian trà trộn vào vùng tự do tung tin, giữ gìn bí mật nơi đóng quân... Hình ảnh Hồ Chủ tịch luôn được trân trọng ghi nhớ trong các cuộc mít tinh, cổ động... Việc thường xuyên nhắc nhở cảnh giác cũng có hiệu quá uốn nắn dần tình trạng còn ấu trĩ khi khám xét người lạ (cứ thấy nẹp áo có viền màu xanh trắng đỏ... thì cho là mang mật hiệu cờ tam tài, là Việt gian).
Quận chủ trương tổ chức huấn luyện quân sự. Trừ bộ phận chốt chặn phía trên, đại bộ phận lực lượng chiến đấu được huấn luyện có bài bản từ đầu, học lăn lê bò toài, học sử dụng súng và lựu đạn... Ở trường huấn luyện, thầy dạy là mấy anh Việt Nam mới, quen dạy theo cách của quân đội Nhật Bản, rất nghiêm, quân phiệt với học viên, bất kể nam hay nữ. Nam giới tập huấn luyện rất mệt, còn chịu được. Còn nữ du kích, có chị vốn là nữ sinh, tiểu thương, ni cô, ả đào... gặp trường hợp quân phiệt rất bất bình. Tuy vậy thầy trò vẫn hăng hái luyện tập, nhất là nữ, như hai chị em Ai Chi Lung, Ai Chi Miên rất tích cực học, kết quả khá. Anh em còn nhớ lại một chuyện đau lòng khi mới về đóng ở Khúc Thuỷ. Trước đây vì có ít súng, nên có người đã chiến đấu nhưng chưa hề sử dụng súng lục. Lần ấy có một chiến sĩ mân mê xem khẩu côn-bát, chẳng may súng cướp cò nổ, làm chết đồng chí Lan, nữ cứu thướng. Vì thế khi được học, anh em ta rất chăm chỉ. Về nội dung chính trị, Chính trị viên Hồ Trúc huấn luyện theo cuốn "Người chính trị viên quân đội", kết hợp khuyến cáo những hành vi vô kỷ luật của đội viên du kích đối với tài sản của dân.
Chấn chỉnh, huấn luyện, tuyên truyền giáo dục đã làm đội ngũ Quận V chặt chẽ hơn về tổ chức, tự giác hơn trong kỷ luật. Quan hệ giữa lực lượng kháng chiến Quận V với dân sở tại, với đồng bào tản cư chưa xảy điều gì đáng tiếc. Hồi đó, lực lượng của Quận đóng nhờ ở chùa, ở đình, số lớn tản ra nhờ nhà dân. Có một trung đội được bố trí ở nhờ nhà của ông phó lý cũ. Anh em chấp hành quy định của gia chủ không được nấu ăn bằng rơm và nước bể của gia đình. Sau ít ngày, từ thông cảm đến thương anh em vất vả, ông chủ gặp Ban chỉ huy trung đội ủng hộ cả cây rạ và cho dùng nước, ủng hộ cả gạo. Theo ông nói: "... cứ nấu cháo để đêm về các em ăn". Quận V sống trong tình dân đậm đà, vừa huấn luyện vừa sẵn sàng chiến đấu.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #23 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2021, 07:02:00 pm » |
|
Sau khi quân Pháp lại được tăng viện, chúng đã tập trung lực lượng đánh ra ngoài nhằm truy kích chủ lực ta, tiêu diệt các cơ quan lãnh đạo kháng chiến, mở rộng vùng kiểm soát chung quanh Hà Nội.
Ngày 2-3-1947 quân Pháp đánh chiếm thị xã Hà Đông, rồi bắt đầu hành quân kiểm soát vùng ngoại thị. Cuộc sống yên ổn của đồng bào vùng Cự Đà - Khúc Thuỷ bị chiến tranh đe doạ. Dân tản cư Hà Nội liên tiếp về Bối Khê - Đại Định. Các cơ quan của Quận chuyển về Bối Khê - Bồ Nâu - Úc Lý.
Cuộc hành quân thăm dò của quân Pháp từ thị xã Hà Đông tiến ra hai hướng: một hướng theo đường 70, sau có cả cánh quân từ Văn Điển vào, hợp điểm tại Ngà ba Tó. Có xe tăng và xe bọc thép yểm trợ, chúng tiến xuống Tó, Nhân Hồi; hướng khác từ thị xã qua Đa Sĩ, Mậu Lương, đánh xuống Hữu Từ. Cự Đà.
Lực lượng dân quân du kích các thôn và du kích Quận V chặn đánh quyết, liệt từ sáng, bên ta không mấy thương vong, chỉ có đồng chí Tiến - Công an của Quận hy sinh vì đạn lạc của địch ở Nhân Hoà. Đến chiều, địch phải rút vô Thanh Liệt và đường 70. Ngay đêm đó, đơn vị đồng chí Vũ Văn Sự tập kích cụm quân đóng trên đường 70, diệt một số tên và đánh hỏng một xe tăng địch. Cùng lúc Đại đội 29 tập kích cụm quân ở Thanh Liệt. Thắng lợi chặn địch đã cổ vũ anh em Quận V. Suốt trong tháng 3-1947, lực lượng du kích Quận vẫn từ vùng Cự Đà - Khúc Thuỷ xuất quân vào quấy rối các vị trí địch ở ngoại thành Hà Nội và sân bay Bạch Mai.
Kế đó, quân Pháp liên tục mở nhiều cuộc hành quân hòng mở rộng phạm vi kiểm soát Hà Đông. Sau khi đánh chiếm Ba La Bông Đó, địch tập trung vào hướng đường 22 (Hà Đông - Vân Đình).
Trận Cự Đà. Tháng 3-1947. Quận đội chỉ thị Đại đội 3 cử một Trung đội lên trực chiến thay Trung đội Vũ Văn Sự (thuộc Đại đội 2) lui về nghỉ ở tuyến sau. Trung đội Vũ Văn Sự lúc đó đang đóng ở Cự Đà, có nhiệm vụ bảo vệ Cự Đà - Khúc Thuỷ. Vào khoảng 8 giờ sáng ngày 27 tháng 3 năm 1947, Trung đội trưởng Vũ Văn Sự được tin một Đại đội Lê dương Pháp có xe tăng dẫn đầu tiến từ phía Mậu Lương đã đến gần chợ Cự Đà. Lúc này, cả 3 tiểu đội đang ở Khúc Thuỷ, chỉ còn Trung đội bộ đóng ở Cự Đà tại một căn nhà 2 tầng kiên cố ngay bên rìa đường cái giáp sông Nhuệ, cách chợ độ 100 mét. Tại Trung đội bộ có Trung đội trưởng Vũ Văn Sự, Trung đội phó Nguyễn Văn San, Chính trị viên Nguyễn Đôn Tự, quản lý Thái và em Dân liên lạc. Trong tình hình gay go không kịp điều quân, Ban chỉ huy Trung đội quyết định cố thủ chặn địch tại nhà Trung đội bộ, trang bị vũ khí có một súng trường với 2 viên đạn ghém, 1 xì ten với 1 băng đạn và 11 qua lựu đạn. Từ 9 giờ sáng, cuộc chiến đã ác liệt. Địch phá được cổng vào ngõ, dồn nhau xông vào. Từ trên gác đồng chí Tự ném xuống quả lựu đạn đầu tiên gây thương vong gần chục tên. Địch rên la, chửi bới, rút chạy về phía chợ. Chúng đổi cách đánh, không tiến theo đường cái mà luôn qua các lỗ đục tường lọt vào dãy nhà ngang phía sau, cũng bị đánh bật. Địch tập trung hoả lực, kế cả pháo tăng bắn thủng 2 mảng tường sát mái. Bọn Lê dương mũ đỏ ào ạt đánh chiếm nhà bếp và tầng dưới. Đồng chí San và đồng chí Thái sau khi đã chống trả quyết liệt đã anh dũng hy sinh. Một Trung đội mũ đỏ đến tiếp viện, liều mạng leo qua xác chết xung phong vào cầu thang gác. Đồng chí Sự và Tự cố thủ tầng 2. Bọn giặc xông lên cầu thang, đồng chí Sự lia nửa băng xì-ten, một tên mũ đỏ ngã gục. Địch tiếp tục xông lên, có lần chúng tung lựu đạn lên, đồng chí Sự bắt được ném trả lại. Khâu xì-ten đang bắn, bị hóc. Chỉ còn lại một quả lựu đạn. Địch bị thương vong nhiều. Không đánh lên gác được, chúng xếp đồ gỗ vào chân cầu thang, phun xăng đốt. Khói lửa mù mịt tầng hai. Hai đồng chí Sự và Tự buộc phải lên sân thượng, náu mình trên đó, lấy gạch vỡ ghi lại lời trăn trối quyết tử, lúc 5 giờ 30 chiều... Đến gần tối, sợ bị quân ta tập kích bao vây, địch phải rút. Trong khi địch tập trung đánh chiếm nhà Trung đội bộ bên Cự Đà, trạm Công an Quận đóng ở Nhân Hoà bắn chặn phía sau địch. Tổ công tác của Công an Quận do đồng chí Đăng chỉ huy chặn đánh bọn địch định vượt sông sang bọc Cự Đà. Từ làng Khê Tang, một Trung đội thuộc Đại đội 3 đang trên đường vào thay thế Trung đội Vũ Văn Sự cũng tổ chức đánh hỗ trợ giải vây. Đồng chí Hồng, chiến sĩ của Trung đội đã hy sinh trên mảnh ruộng làng Khê Tang (gần cuối làng Cự Đà). Những cuộc đánh kiềm chế, hỗ trợ. giải vây của ta ở phía ngoài Cự Đà đã gây cho địch lúng túng đối phó. Khoảng 8 giờ tối hôm đó, anh em chiến sĩ đốt đuốc vào tìm xác đồng đội để chôn cất đã gặp hai đồng chí chỉ huy của mình còn sống sót. Họ ôm nhau vui mừng khôn tả. Họ bùi ngùi vĩnh biệt các đồng chí đã anh dũng hy sinh.
Hai đồng chí Sự và Tự được tặng thương Huân chương, được bà con thân thương kêu tên "Hùm sám Cự Đà".
Trận Cự Đà "... khiến 40 lính Pháp Đức bị giết và hơn 10 tên nữa bị thương” (Giấy khen ngày 10-4-1947 của Ủy ban Kháng chiến Khu XI), có ý nghĩa cổ vũ rất nhiều đối với anh em Quận V. Với ý chí quyết tử và thông minh của ta thì ít cũng thắng nhiều, yếu cũng thắng mạnh.
Nhằm mục đích tiêu hao sinh lực địch, ngăn chặn địch mở rộng địa bàn chiến sự, Quận V chủ động đánh địch bằng những lực lượng nhỏ từ tổ đến tiểu đội, có lúc sử dụng lực lượng trung đội, luân phiên liên tục chiến đấu. Cũng có lúc ta sử dụng cả lực lượng đại đội như lần đánh nhà Dầu Shell Khâm Thiên gây cháy, suốt mấy ngày sau địch mới dập tắt được. Ta dùng nhiều hình thức chiến đấu gồm hoạt động thăm dò, quấy rối (như những lần đánh vị trí Cầu Mới), đánh phục kích, hoạt động quân sự kết hợp chính trị (binh vận). Lãnh đạo Quận V thường cùng lãnh đạo huyện Thanh Oai bàn phối hợp chiến đấu, bàn về tiếp tế hậu cần... Từ khi đóng quân trên địa bàn Thanh Oai, Quận V dần hình thành hai trung tâm: Cơ quan uỷ ban, Quận đội bộ, Công an đóng ở Bồ Nâu - Úc Lý. Cơ quan Quận uỷ, Quận bộ Việt Minh, Tuyên truyền xung phong đóng ở Tri Lễ, Ước lễ, Quế Sơn...
Vào khoảng tháng 4-1947, Hội nghị Đảng bộ Quận được tiến hành ở Quế Sơn. Các đồng chí đảng viên lần đầu tụ họp đông đủ, phấn khởi bàn bạc công tác lãnh đạo, công tác phát triển Đảng.... Đồng chí Hồ Trúc làm Bí thư Quận uỷ thay đồng chí Nguyễn Kỷ được điều lên Khu XI. Các mặt hoạt động của Quận tiếp tục sôi nổi. Lúc này vấn đề lương ăn có Ban Tiếp tế chuyên lo tổ chức lực lượng gánh thóc từ các kho về phân phối các đơn vị, các bộ phận tự lo xay giã. Anh em ta, đêm lên công tác vùng tạm chiếm, ngày về nghỉ ở hậu cứ trong nhà dân, lại cùng dân làng làm nón, xe chỉ... vừa giúp dân, vừa cải thiện. Bữa cơm hàng ngày rất đạm bạc, nhưng giữ được điều độ. Còn vũ khí đạn dược, phải trông vào "cái kho" của địch, lấy súng đạn của địch mà đánh địch. Mìn địch cũng có. Tổ quân giới - anh em đặt tên là Binh công xưởng của Quận lo chữa súng, lo chữa mìn. Thường xuyên ta đánh phục kích bằng mìn, ở Chuông Vác, có tổ đánh mìn làn mò vào tận Mai Lĩnh. Cũng trong thời gian này, Chủ tịch Hà Đăng Ấn cùng tổ quân giới mày mò sáng chế súng ngựa trời. Hôm thử súng, anh em bị một phen hú vía, may không ai việc gì.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #24 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2021, 07:09:08 pm » |
|
Ở vùng này, đới sống dân địa phương sung túc, dân tản cư về khá đông. Có đường thông từ đường 22 vào Tri Lễ, Ước Lễ - một làng có nghề làm giò chả nổi tiếng, đến Cống Thần Chợ Đại - khu vực chợ sầm uất vào bậc nhất nhì Hà Đông lúc đó. Dân buôn bán qua lại nhiều. Chợ búa, quán ăn nhộn nhịp suốt ngày. Anh em ta đóng quân trong vùng, không ít người sau những lúc chiến đấu, công tác vất vả thường là ca nơi quán xá. Có người ăn uống tiêu pha quá mức. Có người bán cả áo quần, xe đạp... để khao lẫn nhau, bù khú chuyện tiếu lâm. Tệ tán gẫu phát triển. Vào dịp ấy, khoảng gần giữa năm 1947, Quận tỏ chức học tập, Thư của Hồ Chủ tịch "Gửi các đồng chí Bắc Bộ và Trung Bộ". Từ anh em đến lãnh đạo tỉnh ngộ nhiều điều. Luồng gió mới đã xua đi chiều hướng tự do vô kỷ luật. Nhận thức rõ hơn về trường kỳ kháng chiến, về tư cách người chiến sĩ cách mạng, về trách nhiệm người lãnh đạo... Qua học tập các đồng chí lãnh đạo Quận cũng nhận ra sự thiếu chín chắn vững vàng trong chỉ đạo. Trong trận đánh vị trí địch ở làng công giáo toàn tòng Thạch Bích, có chứng tỏ sự chỉ đạo không vững vàng ấy. Chỉ vì dân các làng lân cận Thạch Bích căm uất, kêu ca lãnh đạo vì một đồng chí ta bị giết chết mà 2 cấp uỷ Thanh Oai và Quận V đã chủ trương đánh. Trong trận đánh. Có gây ra việc đốt nhà, cháy lớn. Hậu qua phải vài ba năm sau mới tạm giải quyết được, lấy lại được lòng dân. Tư tưởng của mọi người ổn định trở lại. Bắt đầu phát triển được nhiều đảng viên. Công tác chiến đấu và chuẩn bị chiến đấu đang được tiến hành thì Quận V bị bất ngờ phải đối phó một tình huống chưa từng dự kiến. Trận đánh quân Pháp nhảy dù ở Bồ Nâu Úc Lý. Tháng 6 năm 1947, sau vụ gặt, trên cánh đồng chiêm còn đầy gốc rạ. Cuộc sống của đồng bào Bồ Nâu Úc Lý, Tri Lễ, Ước Lễ đang diễn ra thanh bình. Các cơ quan Quận đóng quân trong vùng đó. Đại đội 2 ở Tri Lễ, Ước Lễ, Từ Châu. Đại đội 3, một nửa ở Kim Lâm, Động Giã do Đại đội trưởng Bùi Văn Phí chỉ huy, một nửa ở Bối Khê - Quan Nhân do Đại đội phó Châu chỉ huy. Trong vùng lân cận có lực lượng Công an Quận VI đóng bên Rùa; một Đại đội Vệ quốc do Đại đội trưởng Mậu chỉ huy đóng ở Khu Vác và Canh Hoạch. Sáng sớm ngày 17-6-1947, xen tiếng máy bay và tiếng súng, có tiếng bà con hô hoán: Tây thả võng. Nhiều máy bay lơ lửng trên bầu trời, dù trắng... phấp phới nhan nhản. Quân Pháp đang nhảy dù xuống cánh đồng giữa Bồ Nâu Úc Lý - Tri Lễ Ước Lễ. Tiếng súng rộ lên ở nhiều hướng. Vùng quê yên tĩnh sôi rộn náo động. Các đồng chí chỉ huy quân đội và anh em đêm trước vào đánh vị trí, vừa về nghỉ ngơi nơi đóng quân, thì tình huống bất ngờ ập tới. Ngay từ trước lúc thả dù, bộ binh Pháp từ đường trục 71 đã tiến đánh Bối Khê, Đại định để về Bồ Nâu. Phía đường 22, giặc tiến vào Kim Lâm, Trình Xá nhằm hướng Tri Lễ, Quế Sơn. Hành động tập kích táo bạo của địch đã gây cho ta bị động ban đầu. Các cơ quan Quận đóng tại Bồ Nâu Úc Lý vội vã vùi dấu tài liệu, máy chữ... một số cùng dân xóm thoát khỏi làng. Du kích Bồ Nâu bố trí chặn địch từ Thanh Đa sang. Các đại đội tự lo việc bố trí chặn đánh. Đại đội trưởng Phi cử trinh sát lên bám sát tình hình địch ở đường 22, bố trí chặn địch ở Trình Xá, Đỗ Động, lệnh cho Đại đội phó Châu tổ chức chặn đánh tại Bối Khê, đồng thời cùng dân quân địa phương hướng dẫn dân làng tản vào Quế Quyển. Một trung đội của Đại đội 2 bố trí chặn địch ở Tri Lễ. Một trung đội bố trí bên Phúc Lâm Ước Lễ.  Cánh quân Pháp theo đường 22 tiến vào Trình Xá, Cự Thần, gặp sức kháng cự của quân ta, không vào được làng. Ta bắn bị thương 6 tên địch ở cánh đồng Văn Quán Cự Thần. Sau nhiều lần tiến đánh, địch không tới được Quế Sơn. Đến chiều, địch phải rút. Cánh quân địch theo đường 71 tiến xuống Bối Khê, Đại Định, Quan Nhân, gặp sức chống trả của bộ phận Đại đội 3, trường huấn luyện và du kích các thôn. Ta chặn không để địch tiến về hợp điểm Bồ Nâu với quân dù. Còn cánh quân nhảy dù một phần do gió thổi mạnh, một phần nơi tiếp đất là cánh đồng chiêm còn lầy lội nên lực lượng bị phân tán. Bọn dạt xuống cánh đồng Tri Lễ bị lực lượng ta bố trí dọc bờ tre rìa làng bắn chặn. Đến chiều, địch không vào được Tri Lễ, Phúc Lâm, rút lên Bồ Nâu. Có một hình ảnh vui mà thương tâm xảy ra bên quán gạch nhỏ trên đường liên thôn Bồ Nâu - Tri Lễ - Phúc Lâm, đúng lúc địch nhảy dù một anh điên mặc áo tơi đội nón đang lởn vởn ở đó, bỗng nhiên anh chạy quanh gốc đa, vừa hô xung phong bằng cây gậy vừa bắn súng mồm. Thế mà lính dù Tây vừa tiếp đất cũng hốt hoảng bắn loạn xạ. Anh điên trúng đạn hy sinh. Bà con thương cảm chôn cất anh. Vào được Bồ Nâu Úc Lý, bọn quân dù đập phá đồ đạc, đốt nhà dân, bắt giết gà lợn. Tên Chung kều, vốn là người của tổ Quân giới Quận đã về hàng bọn Pháp trước đây, nay nó dẫn địch vào từng nơi cơ quan của Quận đóng, chiếu danh sách gọi tên cán bộ ta ra hàng. Quận V, không một ai bị bắt. Công an Quận trong thế bị bao vây cũng thoát ra ngoài, an toàn về người và tài liệu. Cho đến chiều 17-6, cả 3 cánh quân đều không gặp được nhau, một bộ phận quân dù rút lên đóng tại Thanh Đa. Một bộ phận đóng tại Bồ Nâu. Ngay đêm đó đồng chí Phi cử hai tiểu đội qua đường Tri Lễ sang Bồ Nâu bắn phá quấy rối. Địch không bắn trả. Một bộ phận của Đại đội 3 cùng trường Huấn luyện tập kích vào bọn dù đóng ở Thanh Đa. Sáng 18-6 quân dù từ Bồ Nâu, men đê sông máng rút sang Bối Khê. Đại đội phó Châu chỉ huỵ anh em ta đánh rượt đuổi. Địch bị thương một số tên và bỏ lại một hòm đạn súng cối. Dù bị địch bất ngờ tập kích, nhưng tinh thần chiến đấu của du kích Quận và du kích các thôn làm bà con thêm tin tưởng. Đồng bào tự động lo tiếp tế cơm nước cho anh em. Thôn xóm có bộ binh địch tràn vào dân làng vừa biết giấu tài sản của gia đình, vừa lo bảo quản tài sản của Quận. Như trường hợp bà chủ nhà bên Quan Nhân đã lập mẹo lấy lại được một máy chữ của Quận bị địch lấy nhưng chưa kịp mang đi. Tài sản và nhà cửa của dân có bị thiệt hại phần nào, song lòng dân Thanh Oai đối với kháng chiến thật là gắn bó về phía lực lượng của Quận, có một vài chiến sĩ bị thương. Hoạt động của bọn dù đóng ở Bồ Nâu chứng tỏ chúng không cố tình sục sạo nhiều, vì thế một đơn vị Tuyên truyền xung phong của Quận ẩn nấp dưới đình làng Bồ Nâu không bị phát hiện. Cán bộ ta trốn trong cột rơm cũng thoát. Nơi vùi dấu tài liệu của Quận đội bộ, Công an... không bị phát hiện. Cuộc tập kích bằng đường không của Pháp ở Bồ Nâu được coi như một cuộc tập nhảy dù chuẩn bị cho Thu Đông đánh lên Việt Bắc là chính. Tuy địch không bắt được cán bộ ta, song báo địch ở Hà Nội vẫn đăng tải tin bắt được Quận trưởng Công an Lê Tuấn. Ta đã tương kế tựu kế đánh địch. Sau trận này, ta có thêm kinh nghiệm trong phán đoán địch tình, trong bảo đảm bí mật và trong công tác bảo vệ nội bộ... Nhờ đó, sau này trong tháng 8, tháng 9 năm 1947, địch cho máy bay dội bom và pháo binh bắn tới Ước Lễ, Tri Lễ, lực lượng ta và dân làng có bị thương vong nhưng không đáng kể. Trại giam của Công an Quận khi đó còn đặt ở chùa Sổ vẫn an toàn. Những lần tập kích vị trí địch bảo đảm được yếu tố bí mật trong hành quân và chiến đấu. Có trận đạt hiệu suất cao như trận đánh vào sân bay Bạch Mai, một Trung đội của Đại đội 3 do Trung đội trưởng Dư chỉ huy đã đốt phá 2 máy bay của địch.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #25 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2021, 07:11:28 pm » |
|
Lực lượng kháng chiến Quận V tích cực hoạt động quân sự, đồng thời đẩy mạnh việc tuyên truyền chính trị và địch vận. Nội dung tuyên truyền về ba giai đoạn cuộc kháng chiến, về Hồ Chủ tịch, về nuôi dưỡng ý chí căm thù giặc Pháp... được các đồng chí tuyên truyền xung phong thể hiện qua các áp phích, tờ bướm, tranh vẽ, truyền tin ngắn gọn trong các nơi họp dân, họp chợ. Tố ấn loát của Đội Tuyên truyền do đồng chí Nguyễn Hữu Hạnh phụ trách, mùa hè năm 1947 đã phát hành tờ báo in litô "Quân du kích" đến tay các đơn vị trong Quận, dán nơi họp chợ và tán phát vào vị trí địch ở ngoại thành Hà Nội. Đội kịch - nhạc có cây đàn viôlon Quang Toản, anh Sinh già và các đồng chí khác đã tự biên tự diễn nhiều vở kịch, bài ca ngắn gọn, đã tổ chức những tối biểu diễn suốt từ Bối Khê về Ước Lễ, ra tận Cống Thần. Công tác địch vận được tiến hành ở mỗi ngành theo đặc điểm hoạt động của mình. Bộ phận lực lượng công an cắm trong địch hậu cũng vận động hàng binh có kết quả. Như trường hợp gián tiếp thông qua hai chị hội viên Phụ nữ Cứu quốc đã cảm hoá lôi kéo được 3 lính nguỵ mang súng ra hàng ta. Một trong số 2 phụ nữ đó - chị Vòng, đã được ta tác thành với anh Thái hàng binh (gia đình này hiện vẫn ở Hà Nội).
Quận V thực hiện đánh địch bằng bao vây kinh tế. Công an Quận lập một số trạm bao vây kinh tế địch, có trạm đóng sát ven đô để ngăn chặn việc mang lương thực, thực phẩm vào nội thành, bắt giữ người buôn hàng từ nội thành ra, đồng thời cũng ngăn chặn địch trà trộn ra vùng tự do. Chúng ta có làm được vài vụ việc. Như việc ta phá chợ Lủ hồi tháng 3 tháng 4-1947, đồng chí Nguyễn Tử Quát - Công an Quận dùng súng bắn tên lính gác chợ, đạn không nổ, đồng chí Quát đã hy sinh tại trận. Như việc ta theo dõi một đám tang, có nhiều nghi vấn. Đến trạm bao vây kinh tế bị chặn lại, khám thấy trong quan tài đựng trứng gà, trứng vịt... Việc thu giữ cả chiếc thuyền buôn gạo ở Rùa. Hàng trong Thành ra hầu hết là vải, hàng bách hoá, thuốc lá thơm, thuốc men... Những biện pháp thực hiện lúc ban đầu còn ấu trĩ, hiểu chưa đúng bao vây kinh tế địch. Thực ra lúc đó ngoài vùng tự do, chúng ta thiếu nhiều thứ, đặc biệt về thuốc tân dược, dụng cụ y tế, văn phòng phẩm. Vả lại, đường ra vào Thành muôn ngả, việc kiểm soát không làm xuể. Vì vậy hiệu quả, của biện pháp bao vây kinh tế địch bị hạn chế nhiều mặt. Trong việc này đội ngũ cán bộ và chiến sĩ Công an Quận V vẫn giữ được trong sạch, không bị vật chất cám dỗ. Hàng đống thuốc lá thu giữ, để mốc chẳng ai tơ hào.
Trong quá trình tổ chức đánh địch, Quận V tiếp tục làm công tác xây dựng lực lượng nội bộ. Sau khi về đóng quân ở Tri Lễ, Ước Lễ một thời gian, có chủ trương giảm biên chế. Lúc này số người trong lực lượng của Quận khá đông, không cáng đáng nổi. Giải quyết vào lúc này, đối với Quận thực là rất khó. Vì lẽ dĩ nhiên anh chị em đã ở trong đội ngũ từ ngày khởi chiến công tác và chiến đấu rất tốt. Có người trước đây là công chức, tiểu thương, tiểu chủ, thợ thuyền, học sinh... Có anh em vốn là trộm cắp, cầu bơ cầu bất nhưng làm công tác tình báo, quân báo rất xông xáo dũng cảm. Có những chị em đã từng là cô đầu, nhà thổ, rồi xung vào các đội tiếp tế cứu thương rất tận tuỵ chăm sóc anh em, có lần thu dọn hậu quả sau trận bom địch, vừa nhặt từng mảnh tay khúc ruột của anh em mà các chị vừa ngậm ngùi nước mắt. Tất cả gắn bó trong nghĩa tình đồng đội sâu xa. Nay để ai về, ai ở lại. Tâm tình, trao đổi, rồi cũng ổn. Người về gia đình sản xuất, người bổ sung đơn vị khác, người hoà lẫn vào dòng người hồi cư để làm nhân mối của ta hoạt động nội thành... Những cuộc chia tay thật là xúc động. Có những tình huống làm sững sờ lòng người. Lần đồng chí Bí thư Quận uỷ phải gặp riêng một chị trước là me Tây, nay xin tự nguyện trở về Thành làm nghề cũ cốt để làm việc cho Quận. Hôm tiễn chị ra Ba La Bông Đỏ, chị bịn rịn, khóc rất lâu, tiếc không được ở lại với anh chị em để chiến đấu công khai. Lại có lần đồng chí xuống kiểm tra quân số ở một trung đội có báo cáo đã làm xong giảm biên chế. Anh em điểm danh đến số 22 bỗng nhiên có một chú bé lao ra, tay cầm quạt nan điểm tiếp số 23. Thì ra trung đội phải nói dối trên, dấu quân số, chia khẩu phần để nuôi em liên lạc. Còn em thì đinh ninh mình vẫn là chiến sĩ trong biên chế của trung đội. Ý chí khát khao quyết tâm đánh Pháp như vậy, hèn chi giặc Pháp chẳng thể đè bẹp nổi nhân dân ta.
Kháng chiến là sự nghiệp chính nghĩa của toàn dân. Chân lý ngày được sáng tỏ dân, khai sáng trí thức cách mạng lúc đầu còn hạn hẹp của cán bộ và chiến sĩ Quận V.
Đồng bào địa phương nơi đóng quân cũng đã chịu cảnh bom đạn, đốt phá của giặc Pháp. Có gia đình mất của, mất người thân. Bà con ủng hộ kháng chiến. Thanh niên gia nhập lực lượng kháng chiến. Bà con Thanh Oai yêu mến Thủ đô kháng chiến. Dịp Trung thu năm 1947, Quận tổ chức họp trại vui chơi cho các em của Quận với các em dân làng, thả bóng diều kèm thư mừng Trung thu các bạn trong Thành. Cũng nhân kỳ lễ Pakơ, được linh mục nhà thờ Từ Châu đồng tình, thiếu nhi Quận gặp mặt dân làng kể chuyện kháng chiến, hát múa để bà con thưởng thức. Quan hệ với bà con thôn xóm đậm đà tình nghĩa.
Cuộc sống vật chất của đồng bào Hà Nội tản cư ở vùng này ngày thêm khốn khó. Vì sinh kế, nhiều gia đình đã phải hồi cư. Từ đầu năm 1947, bà con các làng ven nội như Mọc, Lủ, Đình Công... đã lục tục hồi cư. Cho đến giữa năm 1948, các làng ven ngoại thành Quận V đã hồi cư khá đông.
Ở vùng Quận V tạm chiếm, Pháp đã ráo riết dồn dân, lập tề, phát Tít (thẻ căn cước), phát giấy thông hành cho dân vào nội thành. Bọn Pháp dùng thủ đoạn vừa vây ráp, khủng bố, vừa mị dân bằng hàng hoá. Chúng tuyên truyền cho việc lập chính phủ bù nhìn. Chúng tìm chọn tay sai làm chỉ điểm, cài cặp tình báo.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #26 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2021, 07:12:16 pm » |
|
Hồi lực lượng kháng chiến Liên khu III rút khỏi Hà Nội là rút hết, không để một người nào ở lại làm công tác bí mật. Việc này lúc ấy không ai nghĩ tới. Thiếu sót này đã gây khó khăn cho ta về nắm tình hình địch, tình hình dân chúng hồi cư và chuẩn bị cơ sở để trở về hoạt động trong hậu địch. Quận V đã chỉ đạo các lực lượng kháng chiến chuẩn bị điều kiện để trở về đánh địch ngay trong lòng Hà Nội. Trước hết, cần xây dựng chỗ đứng ngay tại các làng ngoại thành, đồng thời xây dựng cơ sở nội thành. Vì vậy phá tề, trừ gian được thực hiện ngay từ đầu. Quận V không cho địch lập tề, kiên quyết phá tề. Công an Quận từ hồi còn đóng ở cầu Chiếc - Đan Thầm (tháng 5-1947) đã thường xuyên cử lực lượng lên Mọc, Lủ, Cầu Mới... gài mìn buộc địch không dám ra ngoài khu vực đóng quân, nhằm ngăn chặn chúng dồn dân để lập tề. Mặt khác, qua đó ta cũng có điều kiện nắm dân. Nắm được dân là yêu cầu cơ bản trong việc phá tề. Vì thế, đến đầu năm 1948, dù địch đã đóng bốt ở Quang Liệt, Công an Quận vẫn mở rộng phạm vi nắm dân lên tận Láng, Vạn Phúc. Quận V phá tề theo cách vừa chủ động đánh được địch, vừa bảo vệ được dân. Trong hỗ trợ dân đấu tranh chống lập tề, Công an Quận là lực lượng chủ yếu đã thực hiện cách làm có hiệu quả là: bắt những tên chỉ điểm đưa về hậu phương xử lý; thuyết phục người được địch dự định chọn đứng ra lập tề, hoặc ta lựa chọn sẵn rồi cho dân giới thiệu với địch nhận làm tề, sau đó một thời gian, bố trí "tề hờ" trốn vào Thành, nói dối là do Việt Minh bắt, nhằm cố tình kéo dài thời gian không lập được nguỵ quyền. Cứ lặp đi lặp lại như vậy theo cách khác nhau, nên có nơi đến hơn một năm, trắng không tề như ở Kim Lủ, Đại Từ, Đình Công, Hạ Đình, Láng, Mọc Quan Nhân, Nhân Chính... Chính nhờ có cơ sở bám rễ trong dân nên sau này khi được Thành giao nhiệm vụ, Công an Quận đã bố trí dân mang thư của chính phủ ta gửi Cao uỷ Pháp (người dân đó vào Ngã Tư Sở giao cho Đại Lý Hoàn Long để chuyển về Hà Nội). Lúc này, cuộc sống của đồng bào ngoại thành hồi cư về làng rất đói khổ. Nhiều nhà mùa rét chỉ có chiếu đắp. Tuy gia đình ăn cháo, ăn khoai nhưng đồng bào còn tin Hồ Chủ tịch, tin Chính phủ ta. Có gia đình nhận em giao thông làm con nuôi. Thương cán bộ chiến sĩ ta, bà con cho anh em đào hầm bí mật trong nhà, dấu anh em ta mỗi khi giặc bất thần ập tới. Có lần không kịp xuống hầm, anh em đành đánh trâu lủi ra đồng, ra bãi tha ma tránh giặc, trưa đến đồng bào tiếp tế cho củ khoai. Lòng dân không chịu theo giặc lập tề. Dân làng 3 thôn Lủ và Đại Từ rất kiên quyết, đã tự động giải tán nhiều hội tề, tối đến đóng chặt cổng làng, báo ám hiệu khi địch vây ráp. Lần vây ráp lớn và bất ngờ vào ngày 15-12-1947 ở cả ba thôn Lủ, giặc Pháp đã bắn và bắt được em Nghiêm Dũng Nhi, giao thông Quận đội, chúng họp dân làng ở dinh Lủ thượng để dân nhận diện, mặc dù em Nhi có bà mẹ nhận là con, nhưng giặc Pháp vẫn gọi là "Pơ-ti Việt Minh" và bắt về bốt Quang Tó đánh đập, em Nhi không khai báo cơ sở, sau được đoàn thể cứu thoát ra học tiếp. Dù địch có vây ráp, nhưng Kim Lủ được coi như "chiến khu” của Quận V. Khi cá đã trở về với nước thì ta hoạt động bán công khai. Một số tổ chức đoàn thể và chính quyền được lập lại. Tết Mậu Tý (năm 1948) Công an Quận đã cùng cán bộ làng Khương Hạ tổ chức mít tinh mừng năm mới ở xóm Hồng, cạnh cống Lủ. Khoảng ngày mồng 2 hay mông 4 Tết, đồng chí Trần Hoàng Bá, trạm phó tình báo hướng dẫn Quận trưởng Công an Lê Tuấn và Chủ tịch Phạm Dụ từ ngoài Cầu Chiếc vào thôn Phương Liệt, Mọc, Láng để xem xét tình hình đời sống của dân và thăm đồng bào. Trong lần đi này, hai đồng chí đã nổ súng trừng trị một tên phản bội. Phá tề đồng thời phải trừ gian, thực hiện chủ trương của Công an Khu XI, khoảng tháng 9-1947, Công an Quận lập đội Thanh Việt (có nghĩa là thanh niên Việt Nam, cũng có nghĩa là thanh trừ Việt gian). Sau đó ít lâu, Đội đã trừng trị tên trưởng phố Hàm Long khét tiếng gian ác. Không lập được tề, địch điên cuồng lồng lộn, coi vùng tạm chiếm Quận V là là trọng điểm đánh phá, nên chúng đã đặt Đại lý Hoàn Long tại Ngã Tư Sở, ở đây lập riêng Ty Công an nguỵ, lập đơn vị mật thám. Không quân ở sân bay Bạch Mai, lập bọn Mật thám Phòng Nhì bốt Vọng. Ban ngày địch tuần tra liên tục. Ban đêm phục kích mọi ngả đường. Một vài đồng chí Công an Quận hy sinh do địch phục kích trên đường ra vào vùng tự do, một số khác bị thương. Như trường hợp đồng chí Mỳ (ở Hạ Đình) bị bắt cùng một khẩu tiểu liên, một giao thông bị bắt, sau địch phải thả vì không có tài liệu, đồng chí Dân bị địch bắn vào tay nhưng thoát được. Quá trình phá tề trừ gian, lực lượng Quận V đã hỗ trợ quần chúng đấu tranh, ta đã xây dựng được chỗ đứng ở ngoại thành, tạo điều kiện để phát triển vào nội thành. Để xây dựng cơ sở trong nội thành, các lực lượng của Quận từ đầu năm 1947 đã tiến hành công tác chuẩn bị. Ngay từ tháng 4-1947 Ban Quân báo đã cử nhóm công tác vào nội thành thăm dò. Hai nữ đồng chí Nhị và Thoa từ Khương Trung vào Ngã Tư Sở, xin giấy thông hành, về nhà đồng chí Thoa ở ngõ Văn Chương, vào Giám, lên Hàng Gai để thám sát. Cùng thời gian đó, đồng chí Lê Kim Tùng vào làng Thành Công thăm dò xây dựng cơ sở, người bắt mối đầu tiên là cụ Hỗ - bán hàng nước dưới gốc đa Thành Công. Làng Thành Công nhỏ, ao hồ quanh làng, lại ven đê La Thành, nên đặt cơ sở chưa thuận. Công an Quận khi lập các Trạm tình báo đã xây dựng các tuyến giao thông từ ngoài vùng tự do vào ngoại thành, đồng thời tìm cách đưa cán bộ vào nội thành nắm tình hình. Được biết đồng bào rục rịch hồi cư, trinh sát công an được trao nhiệm vụ phát hiện những gia đình gốc Hà Nội. Tháng 5-1947, Công an Quận đã bố trí một nữ cán bộ - đồng chí Chén đi theo cùng các em ruột đồng chí Hiển hồi cư về gia đình ở 48 Phùng Hưng. Đồng chí đã đặt cơ sở bắt mối đầu tiên của Công an Quận V tại nội thành. Đồng chí Thái Dũng thuyết phục ông Tống Văn Giám (thân phụ đồng chí Tống Văn Lập) đưa gia đình hồi cư, về ở 60 phố Sinh Từ, để trở thành cơ sở kháng chiến. Tiếp đó là một số đồng chí Công an được tung vào bám rễ như đồng chí Bảo Hùng, em Vân, em Đức... Các đồng chí này được đưa vào gia đình vốn đã quen biết, có em ban ngày lên các phố trung tâm tìm việc làm thuê, điều tra tình hình, rồi về ngủ qua đêm tại các nhà vắng chủ ở các phố phía Nam Hà Nội. Trong việc tuyển chọn người, chúng ta cũng lưu tâm người dân có tâm huyết cứu nước, tự nguyện tham gia đội ngũ. Sư nữ Trang là một trong nhiều trường hợp. Sư Trang tu tại ngôi chùa to lớn nằm giữa Cống Thần - Tía, là vị sư nữ trẻ đẹp, đã tự nguyện gặp Quận trưởng Công an xin nhận nhiệm vụ và đã đi theo suốt cuộc kháng chiến, chịu nhiều gian khó trong công tác địch hậu. Đến hoà bình lập lại, đồng chí Trang xin nghỉ việc đời, trở lại đường tu hành, hiện ở chùa Ngải Cầu - Hà Tây. Chính phương pháp "bắt nhân mối" và tận dụng thời cơ công khai hồi cư hợp pháp đã cho phép Quận V có điều kiện là đi thẳng vào xây dựng cơ sở tại nội thành. Như trường hợp đồng chí Nguyễn Đình Hiếu, phải sau 3 lần bố trí, đến tháng 7 năm 1947 mới đi cùng gia đình con gái bác sĩ Đặng Vũ Lạc hồi cư về trú tại nhà bác sĩ được 3 tháng. Sau những lần tiếp xúc với cán bộ ta, bác sĩ Lạc hiểu kháng chiến hơn, đã không tham gia hoạt động chính trị do Pháp ve vãn. Từ nơi này, đồng chí Hiếu quay trở lại xây dựng cơ sở kháng chiến tại làng Thổ Quan. Đến tháng 10-1947, việc chỉ đạo đưa cán bộ vào hoạt động nội thành được tập trung về Ban Nội thành của Quận, không kể tuyến Công an - do đồng chí Bùi Văn Phi phụ trách. Các đồng chí ta tiếp tục vào nội thành hoạt động. Làng Thổ Quan dần trở thành nơi trú ngụ của anh em ta từ ngoài vào, kể cả cán bộ lãnh đạo như đồng chí Tiến Đức... Thổ Quan lại tiếp tục là nơi nuôi dưỡng, che dấu cho lực lượng kháng chiến Quận hoạt động. Các đồng chí Lê Kim Tùng, Lê Đình Cầu, Nguyễn Ngọc Cảnh, Bảo Ngọc... bám cơ sở tại đây để chỉ đạo công tác địch vận, thám sát, chỉ huy hoạt động vũ trang. Từ địa bàn đầu cầu này, các đồng chí Quận V toả sâu vào nội thành, vươn ra các làng lân cận nhanh hơn, nhất là sau Tết Mậu Tý (1948). Quận V tạo dần chỗ đứng tại nội thành, chuẩn bị tích cực cho cuộc vật lộn quyết liệt giữa ta và địch ngay trong lòng Hà Nội. Thời điểm sau tháng 3-1948, cho dù có sự xáo trộn về tổ chức chỉ đạo (Lưỡng Hà) nhưng cán bộ chiến sĩ Quận V vẫn còn phiên hiệu, đã cắm được rễ trên mảnh đất của mình, tiếp tục phát triển cơ sở kháng chiến, tiếp tục kiên cường đánh địch, không khuất phục ngay tại nhà lao Hoả Lò như đồng chí Hiếu, các nữ đồng chí Trinh (Tiến), Phượng (Ván), Nhị, Nguyệt... Vững vàng kiên trinh trong ngục tù Côn Đảo như đồng chí Phạm Hướng, Lê Đình Cầu, Nguyễn Ngọc Cảnh. Quận V tự hào có những đồng chí đã hy sinh anh dũng, thương tiếc đồng chí Phạm Hướng (Tư Koóng) đã vĩnh viễn nằm lại giữa biển khơi Côn Đảo trong lần vượt ngục. Trong đội ngũ hành quân đến chiến thắng cuối cùng của cả Hà Nội, chiến tích và tên tuổi các đồng chí, dù còn sống hay đã mất của Liên khu III - Đống Đa - Quận V trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp xâm lược, vẫn còn được ghi lại nguyên vẹn trong lòng của đồng bào, đồng chí, để lại cho mỗi người chúng ta một niềm tự hào xứng đáng. Tháng 10 năm 2001 Người thể hiện: ĐOÀN HẢI
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #27 vào lúc: 21 Tháng Mười Hai, 2021, 07:25:52 am » |
|
NĂM 1946 BÁC HỒ ĂN TẾT Nguyễn Khắc Kỳ Nguyên Giám đốc Nhà in Diên Hồng Mỗi lần Tết Trung thu và Tết Nguyên đán đến, là tôi lại nhớ đến một kỷ niệm ăn Tết với Bác Hồ - Bởi lẽ rằm tháng 8 năm Ất Dậu, đúng 32 ngày sau ngày 19-8-1945, Bác đã biết ở Hà Nội có nuôi dưỡng một số trẻ em mồ côi ở trại Bảo Anh, phố Hàng Đẫy (nay là Nguyễn Thái Học, thuộc địa bàn Liên khu III) (Một cơ sở của Hội Bảo Anh thời Pháp thuộc, cũng dùng để nuôi trẻ mồ côi, gọi là Cô nhi viện Bảo Anh. Lúc này đã bỏ hoang, không có ai ở. Chúng tôi một số thanh niên, sinh viên, giáo viên, y tá cùng với các bà, các chị lớn tuổi như bà Tú Dục (gia đình ông Bùi Tường Chiểu), nữ sĩ Vân Đài, bà Thuận, bà Thi ở phố Nhà thờ, bác sĩ Nguyền Thúc Mậu đã cùng nhau từng làm việc cứu đói từ đầu năm 1945 - nay xin cụ Nguyễn Văn Tố cho phép nhận riêng một số cháu mất cha mẹ lang thang trên đường phố, để tập trung về nuôi ở cơ sở này và vẫn gọi là Hội Bảo Anh) - Bác đến thăm và cho các cháu nhiều thùng kẹo, bánh Trung thu - và 4 tháng sau, Tết Nguyên đán Bính Tuất (30-1-1946) Bác lại đến và cho các cháu bánh chưng, mứt kẹo. Cả hai lần Bác đến, tôi có vinh dự được đón đưa Bác đi thăm trại trẻ. Niềm hạnh phúc ấy chẳng bao giờ phai mờ trong tôi. Tết Trung thu năm Ất Dậu (1945), trẻ em Việt Nam được người lớn tổ chức cho một cái tết có lẽ vui nhất trong lịch sử nước ta. Vì mới giành được chính quyền một tháng, niềm vui đang tràn ngập khắp nơi, anh Phong Nhã và các anh chị phụ trách thiếu niên nhi đồng đã tổ chức các cuộc vui chơi trên mặt hồ Hoàn Kiếm, diễu hành xung quanh hồ, bầy cỗ trên bờ hồ. Hè phố Hà Nội, trước cửa các gia đình cũng bày cỗ để tất cả mọi em đều được phá cỗ chung, không coi là của riêng nhà mình. Đi xem cỗ của gia đình hoặc ở Bờ Hồ cũng có nhiều thú vị, vì như lệ cũ, các bà các chị thường trổ tài tỉa hoa bằng quả bưởi, quả đu đủ và các vật khác thành những con giống, bông hoa cực đẹp mà đều ăn được. Bánh dẻo, bánh nướng cũng muôn hình muôn vẻ. Ngày nay - 1996 - những ai ở độ tuổi trên dưới 70 chắc còn nhớ. Ở Hội Bảo Anh, chúng tôi cũng bày cỗ cho các em, trong hoàn cảnh nghèo nhưng cũng vui vẻ tấp nập lắm. Cũng tổ chức làm đầu sư tử để múa thi. Nhưng có một sự kiện bất ngờ xảy đến đột ngột, niêm vui quá lớn, đó là việc buổi trưa ngày hôm đó, Bác Hồ đến cho kẹo, bánh Trung thu. Hơn mười một giờ, anh chị em phụ trách các lớp học, bệnh xá đã về cả, các cháu ăn cơm xong về phòng ngủ. Chỉ còn mấy bà mấy chị và tôi thường trực ở lại. Khi nghe có tiếng gọi, tôi chạy ra thấy các cháu mở cổng rồi. Nhìn thấy Bác Hồ và hai ba cán bộ đã vào đến sân, tôi bấn loạn cả lên, chào lạy Bác ạ và quay gọi trong nhà "Hồ Chủ tịch đến. Hồ Chủ tịch đến". Các bà các chị chạy ùa ra, luống cuống bước xuống sân chắp tay "lạy Bác, lạy Bác" (đó là cách chào tôn kính đối với những người có tuổi). Mọi người chúng tôi bàng hoàng, bối rối vì chuyện quá bất ngờ. Nhìn cảnh ấy, Bác cười và nói: hôm nay là ngày Tết của trẻ em. Chính phủ không quên các cháu nghèo. Đồng bào các nơi gửi quà biếu đến. Bác đến thăm và chia quà cho các cháu. Tôi xin tập hợp các cháu lại, Bác bảo thôi, để các cháu nghỉ. Hãy đưa Bác đi thăm trại. Tôi hướng dẫn Bác đến các phòng ngủ, các lớp học văn hoá, học nghề, bệnh xá và cả nhà ăn, nhà bếp. Bác hỏi các cháu có được ăn no không, thức ăn có những gì... Bác khen chúng tôi tổ chức cơ sở ngăn nắp, trật tự, sân chơi, đường đi tôn bằng đất nện mà sạch sẽ cao ráo. Cuối cùng, Bác đứng ở hiên nhà ăn nhìn ra vườn cỏ rộng một lúc rồi Bác bảo phải tổ chức giồng rau để cải thiện cho các cháu. Ôi! Một điều thật đơn giản và cần thiết mà lâu nay, chúng tôi không hề nghĩ tới. Tôi rất xúc động và thưa với Bác: "Chúng cháu xin vâng lời Bác và sẽ làm rau ngay"... Bốn tháng rưỡi sau, vào ngày Tết Nguyên đán, Bác lại đến thăm và cho nhiều bánh chưng, mứt tết, cam bưởi. Lần này Bác đến sớm hơn, trước giờ ăn và trước giờ các anh chị bác sĩ, giáo viên ra về. Chúng tôi đã đón mời Bác vào thăm cơ sở, bây giờ đã gọn gàng sạch sẽ hơn trước nhiều. Khi qua nhà ăn Bác đã vào xem thức ăn, cơm canh của các cháu. Trước hiên nhà ăn bấy giờ không còn bãi cỏ nữa, mà là một vườn rau to, đẹp. Giữa vườn có ngôi nhà nhỏ hai gian, lợp rơm để ông bà làm vườn ở và chứa dụng cụ làm vườn. Tôi giới thiệu với Bác: Theo sự chỉ bảo của Bác Hồi Tết Trung thu, chúng con đã dọn sạch cỏ, mời được hai ông bà làm vườn ngoài Mai Dịch, nhà nghèo chỉ đi làm thuê. Về đây ông bà ấy nhận lời làm rau chia đôi với trại. Buổi sáng thu hoạch xong bà cân một nửa, gánh đi chợ bán, còn một nửa các chị nhà bếp nhận và nấu cho các cháu. Từ đấy ông bà làm vườn có thêm tiền để dành, các cháu được ăn thêm thịt cá. Bác hài lòng và khen ngợi chúng tôi nhiều. Bác nhìn ngôi nhà nhỏ và mảnh vườn, Bác nói: "Tôi cũng rất mong khi về già có một ngôi nhà nhỏ và một mảnh vườn như thế này". Chị Anh Tân (sau này là bác sĩ Quân y) mời Bác về lại sân thăm các cháu. Các cháu đã được xếp hàng ngay ngắn như khi tập thể dục buổi sáng. Các cháu hô to chúc Bác sống lâu mạnh khoẻ. Các cháu tập một bài thể dục và hát bài Anh hùng xưa, Lên đàng do chị Anh Tân điều khiển. Bác khen và động viên các cháu. Bác thăm hỏi mọi người rồi nói: Các cô các chú vừa đi làm việc kiếm sống, vừa giành thời gian đến đây làm việc thiện giúp các cháu. Thế là rất tốt. Hiện nay nước nhà mới độc lập, đồng bào còn nhiều khó khăn. Bác mong các cô chú vận động thêm nhiều người bạn cùng tham gia công việc từ thiện như thế này. Chúng tôi đưa sổ vàng của Hội xin Bác ghi kỷ niệm, và tôi nhớ mãi là Bác ký rất khiêm tốn trên góc trang giấy, bên ngoài cả khung kẻ để đại biểu ghi cảm tưởng như ý nhắc nhở tránh hình thức và lãng phí giấy vở. Việc Bác Hồ đến thăm trại trẻ mồ côi Bảo Anh ngay từ những ngày đầu Cách mạng tháng Tám - trong lúc Người bận trăm công nghìn việc - là một ân đức có lẽ cả đời chúng tôi và các cháu mồ côi chẳng thể nào quên. Riêng tôi, niềm mong ước của Bác có ngôi nhà nhỏ với một mảnh vườn và việc Bác ký trên góc một trang sổ lớn năm ấy đã để lại trong tôi suốt đời như một lời giáo huấn.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #28 vào lúc: 21 Tháng Mười Hai, 2021, 07:28:08 am » |
|
Cuộc chiến đấu ở mặt trận Hàng Bột trên Từ 19 đến 30/12/1946 (Hội thảo của Ban chỉ huy C29 D523, Ban chỉ huy tự vệ và cứu thương phố Hàng Bột - Liên khu III Hà Nội) Đại tá Tống Thị Hoà thực hiện I. ĐỊA LÝ HÀNH CHÍNH VÀ DÂN CƯĐường phố Hàng Bột là một trong nhiều đường phố chính trong Liên khu III. Khu phố Hàng Bột trên bao gồm nhiều phố nhỏ như: Hàng Cháo, ngõ Hàng Bột, Phan Phù Tiên, Cát Linh, Bích Câu, Đoàn Thị Điểm, Đặng Trần Côn, Trương Vĩnh Ký (nay là Phan Văn Trị) vào làng An Trạch, phố Quốc Tử Giám. Khu phố Hàng Bột phía Bắc - Đông Bắc giáp phố Nguyễn Thái Học. Bên kia phố Nguyễn Thái Học là khu phố Tây vì hầu hết các nhà đó đều do Pháp kiều ở. Cách khoảng 500m là cổng thành phía Tây, cách khoảng 800m là cổng thành phía Nam, trong đó quân đội Pháp đóng. Cách Nha Tài chính 700m (nay là Bộ Ngoại giao, ngày 27-3-1946 quân đội Pháp đã chiếm đóng trái phép). Các đường phố Hàng Cháo, ngõ Hàng Bột, Phan Phù Tiên, Cát Linh dẫn ra sân vận động Septo rất trống trải không có tường bao (nay là sân Vận động Hà Nội). Phía Đông là phố Quốc Tử Giám, có Văn Miếu, Hồ Giám. Phía Tây giáp đường Giảng Võ và là khu vực ruộng lầy. Phía Nam giáp Hàng Bột dưới (từ ngã tư Trương Vĩnh Ký trở xuống) có nhà thờ Hàng Bột, nhà cố đạo Hiến, nhà Soeur Antoine (Sơ - Ăng-toan), nhà trẻ mồ côi. Các làng Văn Hương, Văn Chương, Thịnh Hào nhiều ngõ và ao hồ. Đường phố Hàng Bột nằm ngay đầu Ô Chợ Dừa, quân Pháp muốn mở rộng chiến sự ra xa Hà Nội bắt buộc phải qua cửa ô đó, nên cuộc chiến đấu với quân Pháp sẽ rất ác liệt, không những phải đương đầu trực tiếp mà còn phải đánh lại những mũi vu hồi của chúng. II. TÌNH HÌNH DÂN CƯThành phần nhân dân hầu hết là dân lao động: công nhân, người làm nghề tự do, buôn bán nhỏ, trồng rau, chăn nuôi; một số ít công và tư chức trung cấp, sơ cấp; một số ít trung thương. Đa số là sinh viên, học sinh. Cơ sở cách mạng ở đây có: - Tại chùa Bà Trẻ, số nhà 59 cạnh đình (là trụ sở Tự vệ nay là Câu lạc bộ) là nơi ông bà Khiêm, cô chú ruột của anh Trần By và chị Trần Thị Lê, đã nấu cơm cho số sinh viên trọ học đồng thời là những đảng viên cộng sản, sau này bị sở mật thám Pháp đến khám xét thu tài liệu và bắt các anh: Võ Sán người miền Trung, Trần Thuyên người Nam Định, sau hoà bình làm ở Bộ Ngoại thương; anh Hộ, anh Điếm ở Hải Dương, anh Câu bị bắt rồi chết. Anh Trần By (nay là Đại tá QĐNDVN ở 20 Tăng Bạt Hổ và bà Tống Thị Hiên ở 71-73 Hàng Bột (chết) làm liên lạc cho nhóm này. Sau này phát hiện do tên Phán Sinh theo dõi (mật thám Sinh). - Nhà 71-73 Hàng Bột là nhà cụ Tống Bá Nho, một thành viên của Đông Kinh Nghĩa Thục. - Đối diện với nhà này là nhà anh Liêm, cán bộ công vận Hà Nội hoạt động tiền khởi nghĩa. - Nhà 96 Hàng Bột là nhà cụ Tri phủ thân sinh các anh chị em: Lê Quân, chính uỷ Trung đoàn 48, Thái Tiên, Quỳnh Vân, Hồng Ngọc, Phương Trâm, cơ sở cách mạng, nuôi dấu cán bộ, nơi hội họp của các đồng chí Vũ Oanh, Vũ Quang... - Trong làng An Trạch có trại trồng nhãn, ruộng ao trồng rau. Cư dân hiền lành vốn có lòng yêu nước. Tại đây một thời là nơi hội họp của các cụ cử, cụ tú, cụ đồ Trần Xuân Nhuận trong phong trào chống Pháp, sau tan rã theo cụ cử Lương Văn Can bị Pháp bắt. Tiền khởi nghĩa có anh Nguyễn Kỷ về sinh sống và hoạt động gây cơ sơ cách mạng như cụ Nguyễn Văn Mậu, Nguyễn Văn Lan (đã chết), anh Nguyễn Hồng Chương lãnh đạo Việt Nam Cứu quốc hội (đã chết). Trong phố có một số hộ theo Thiên chúa giáo, là người lao động thái độ tốt. Có vài tên lưu manh, trộm cắp vặt. Một số thanh niên ăn chơi, ngổ ngáo, tính chất "anh chị" nhưng không phản động. Số nhà 1 phố Cát Linh là nhà "Săm" Thái Lai, hồi Nhật chiếm đây là nơi lui tới của bọn sĩ quan Nhật nghe nói là cơ sở tình báo Nhật. Số 9 phố Cát Linh là nhà tên Pháp lai Henri Deléveaux có vợ Việt Nam và 5 con trai: Jean 25 tuổi, Victor 19 tuổi, Etienne 18 tuổi, Pierre 16 tuổi, Laul 14 tuổi và 1 con gái Léonne 15 tuổi, có một cháu gái giúp việc. Bọn con khoe bố chúng là Deléveaux trước kia đã tham gia trận chiến 1914 - 1918 ở Pháp. Ở một nhà gần phố Phan Phù Tiên có Toà báo Vì Nước, một tờ báo chống đối chính phủ ta, có một thời gian ngắn chúng bắc loa đưa ra những luận điệu phản tuyên truyền. Lác đác có vài gia đình Pháp lai, dân thường, họ chuyển nơi khác ngay khi có lệnh tản cư. Đầu phố Hàng Bột số chẵn là khu nhà của bọn Pháp lai vợ Việt Nam. Năm 1946, thỉnh thoảng có bọn sĩ quan mũ đỏ Pháp lui tới. Là một đường phố chính, cửa ngõ Hà Nội, người dân ở đây đã từng chứng kiến những cuộc lùng sục của Pháp vào những ngày Quốc tế Lao động; cảnh chị Nhâm ở Hàng Bột dưới sau khi diễn thuyết ở trường Sinh Từ bị Pháp bắt dẫn trên đường phố về nhà; cảnh biểu tình tuần hành ngày 1-5-1938, công nhân quần xanh áo trắng cà vạt đỏ, đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng người dân Hàng Bột. Ngày 17-8-1945 nhiều thanh niên nam nữ ở Hàng Bột đã đến Quảng trường Nhà Hát lớn Thành phố (nay là Quảng trường Tháng Tám) rồi tham gia chiếm Trại bảo an binh, chiếm Toà Khâm sai (sau là Bắc Bộ phủ) ngày 19-8-1945. Từ đó các đoàn thể ở khu phố được thành lập như: Thanh niên, Phụ nữ Cứu quốc, Thiếu niên tiền phong. Ủy ban Hành chính khu phố Hàng Bột do ông Nguyễn Văn Mậu làm Chủ tịch. Hai năm 1945 - 1946, các đoàn thể làm rất nhiều việc, ví dụ: + Chống lụt: Thanh niên được lệnh đi đắp đê ở Trần Nhật Duật, Gia Lâm, Đông Lao Hà Đông. + Khất thực: Thanh niên, phụ nữ đi quyên cơm, gạo nấu cháo để cho những người đói nằm la liệt trên hè phố, có người đang ăn cháo bị nghẹn mà chết. Theo lời Bác Hồ kêu gọi phụ nữ: đi vận động lập "Hũ gạo tiết kiệm". Thanh niên kéo xe bò gạo quyên được đưa vào Tây Mỗ phát. + Tham gia bảo vệ Tuần lễ vàng tại sân vận động Hàng Đẫy (nay là phố Nguyễn Thái Học) bảo đảm an toàn suốt trong tuần đó. + Tổ chức lớp học Bình dân học vụ vào buổi tối cho các bà, các chị trong phố. + Tổ chức bày cỗ Trung thu ở Bờ Hồ cho các em thiếu nhi vui chơi rồi phá cỗ. + Tự vệ phối hợp cùng Công an khám xét nhà Deléveaux vì nghi chứa chấp vũ khí. + Chọn một số em trong đội Thiếu niên tiền phong nhanh nhẹn, linh lợi có đủ điều kiện để làm trinh sát. Các em đã phát hiện được hai vụ là có người ở nơi khác đến rải truyền đơn, và nói "Pháp từ biên giới đã về đến Hoà Bình" hòng gây hoang mang trong dân chúng. Các em cũng phát hiện một số vụ bọn lưu manh đến địa phương ăn cắp. Trong các cuộc vận động đó, các đoàn thể được nhân dân trong khu phố tin tưởng và nhiệt tình hưởng ứng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #29 vào lúc: 21 Tháng Mười Hai, 2021, 07:29:50 am » |
|
III. CHUẨN BỊ KHÁNG CHIẾN
Sau khi ký Hiệp định sơ bộ 6-3-1946, đoàn Thanh niên đổi tên thành Tự vệ Hoàng Diệu, gồm 120 anh chia thành các tiểu đội và trung đội, do anh Nguyễn Hữu Thành làm đại đội trưởng (sau kiêm cả Kim Mã làm liên đại đội trưởng) có 3 trung đội và 9 tiểu đội.
Chị Tống Thị Thiện, Bí thư Phụ nữ Cứu quốc cũng tổ chức đội Cứu thương và mời anh Nguyễn Khắc Kỳ, công tác ở Cục Quân y Bộ Quốc phòng, nhà ở phố Hàng Đẫy (Nguyễn Thái Học ngày nay) dạy cứu thương. Sau này anh Nguyễn Khắc Toàn làm trưởng trạm. Chị còn mời chị Nguyễn Thị Châu, nữ tự vệ chiến đấu về dạy cho các chị tập quân sự (nguyên Trung tá trường Đại học An ninh nay đã nghỉ hưu).
Ủy ban Hành chính chuyển thành Ủy ban Bảo vệ phố Hàng Bột vẫn do ông Mậu làm Chủ tịch. Còn nhớ chị Tống Thị Thiện và anh Tống Văn Lập là uỷ viên. Thanh niên, phụ nữ dựa vào Ủy ban Bảo vệ tổ chức các cuộc họp, lạc quyên, diễn kịch bán đô lưu niệm. Số tiền thu được một phần mua vũ khí, một phần mua thuốc, bông băng v.v... được 10 cái mác búp đa, 2 khẩu súng Pháp, 15 quả mìn, 5 quả lựu đạn Nhật và được trang bị thêm gần 10 quả lựu đạn Phan Đình Phùng. Ngoài ra cá nhân tự trang bị thêm súng, dao.
Luyện tập quân sự của tự vệ do ông Quản Chấn (đóng quản trong quân đội Pháp) dạy các động tác cơ bản, chiến thuật đánh trên đường phố, sử dụng vũ khí, đi dã ngoại.
Xác định nhiệm vụ lúc đó là giữ gìn trật tự trị an. Giải quyết nhiều vụ trộm có kết quả, trong đó có vụ một tự vệ bị thương nhẹ nên dân tin và thương mến lắm. Tên Ba Lại là một tên lưu manh ở trong ngõ 220, thái độ lời nói coi thường chính quyền, tự vệ. Hắn bị gọi ra trụ sở tự vệ thì xanh mặt, sợ, xin chừa.
Giải quyết các vụ rắc rối với quân Tàu Tường.
Lúc đó có khoảng trên 1 tiểu đoàn đóng rải rác, sau chúng tập trung ở Bích Câu - Đoàn Thị Điểm, có 1 thiếu tá chỉ huy. Anh Thành nhờ một người biết tiếng Trung Quốc phiên dịch yêu cầu mỗi bên cử một người cùng trực ở chợ giải quyết mâu thuẫn, buộc chúng phải thả anh Nguyễn Xuân Hồng, đại đội phó tự vệ.
Bọn Tàu gác cửa toà báo Vì Nước cho bọn này bắc loa phản tuyên truyền, tự vệ và trinh sát Bắc Bộ tập trung phía đối diện đấu khẩu và ngầm đe doạ, bọn báo Vì Nước sợ, dần dần kém đi, khi quân Tàu rút, bọn này cũng chạy mất.
Tự vệ còn tổ chức một đoàn đi sau đội kèn diễu hành biểu tình trong đoàn 20 vạn người qua Bắc Bộ phủ hô các khẩu hiệu ủng hộ Bác và Chính phủ.
Công tác tuyên truyền thực hiện một cách tích cực: vận động, giải thích chủ trương, chính sách, kẻ khẩu hiệu lên tường, gọi loa địch vận khi chiến đấu.
Trong khi quân Tưởng chờ rút thì bọn Pháp đã đến. Sau khi quân Tưởng rút, Pháp bắt đầu đưa quân đi chiếm đóng, một trung đội ở phố Bích Câu, có xe ôtô thường xuyên tiếp tế, liên lạc với bọn Deléveaux và hạ sĩ quan ở đầu phố.
Chúng tôi đã thực hiện bất hợp tác với Pháp, vận động các gia đình viên chức không đi làm cho Pháp, người bán hàng không bán cho Pháp. Có một cô bé làm công cho Pháp đi mua hàng tự vệ giữ lại, giải thích cho về nói với chủ. Các khẩu hiệu bất hợp tác với Pháp được kẻ to xen lẫn các khẩu hiệu sống chết với Thủ đô; Tản cư là yêu nước v.v...
12-12-1946 tự vệ vận động nhân dân để được đục tường nhà nọ thông sang nhà kia. Trung đội nào ở đâu thì đục ở nơi ấy, tránh bọn lưu manh lợi dụng.
Chỉ vài ngày là xong. Các gia đình lại lấy bàn, tủ che lại, khi chiến đấu chỉ cần đẩy mạnh là được.
Tháng 10-1946 Đại đội 29 về khu phố thì tự vệ tiếp tục đào hố cá nhân trước nhà mình nhưng không đào lối thông vào nhà nên sau này không dùng được.
15-12-1946 đắp ụ chướng ngại. Chọn nơi đắp ở đoạn đường Hàng Bột cách đầu phố Đoàn Thị Điểm độ 5m, như vậy địch không thể đi vòng ra sau ụ được vì vướng các nhà. Chỉ thị của trên còn nhấn mạnh phải để lại hơn 2m ở giữa đường để dân đi tản cư. Sau này mới rõ là con đường được chọn để Trung ương, Chính phủ ra ngoại thành.
Để làm ụ, tự vệ vào nhà ông cai Thiệu, chủ xưởng gỗ phố Đoàn Thị Điểm xin và mượn gỗ. Ông vui vẻ nhiệt tình giúp đỡ. Tự vệ đào 8 cái hố, mỗi hố chôn một cây gỗ to bằng người ôm, nhét các cây gỗ khác vào giữa các cột. Khi xong thành hai cái ụ cao quá đầu người, giữa ụ là đường tàu điện chạy qua, và khoảng cách theo đúng yêu cầu. Sau đó còn đào trước mỗi ụ một cái hố to, lấy đất đắp thêm lên ụ. Hai bên hè đào hố rộng bằng cả cái hè độ 2m sâu hơn 1m. Đoạn đường còn lại giữa hai hố đục sẵn một lỗ mìn khi nổ súng sẽ phá nốt.
15-12-1946, Tự vệ lập một đội cảm tử do đồng chí Đại đội trưởng Nguyễn Hữu Thành phụ trách. Nhiệm vụ là phá hoại những nơi cần thiết. Đội được cung cấp 10 lọ nhỏ, trong mỗi lọ có một miếng phốt-pho to bằng ngón tay út ngâm trong nước. Khi định đốt xe địch thì chờ dịp địch không chú ý, lấy miếng phốt-pho ra đặt cạnh nắp thùng xăng, độ 10 phút sau miếng đó sẽ tự cháy. Nhưng không lúc nào có dịp thực hiện được. Đội còn được cung cấp 10 thỏi mìn dẻo để phá trạm biến thế và cây. Bác phụ trách trạm điện đã hướng dẫn tự vệ cách đóng mở cầu dao, giao chìa khoá cho tự vệ. Tự vệ đã đục sẵn một lỗ ở giữa sàn trạm và hai cây gần đền Sòng Sơn, đục ở trước ụ và 15 chỗ trên mặt đường.
Trong suốt thời gian đó hầu như ngày nào tự vệ cũng tập trung ở vị trí được phân công. Phụ nữ thì ở 71-73 Hàng Bột gần trụ sở tự vệ. Khoảng 17, 18-12-1946 thì lập trạm tại ngõ Văn Hương trại ông Đỗ Lợi, thân phụ cố nghệ sĩ nhiếp ảnh Đỗ Huân.
Vận động nhân dân tản cư, đến khoảng 15-12, dân đi tản cư gần hết, giao lại cửa nhà cho tự vệ sử dụng khi cần, kể cả sập gụ, tủ đứng các loại.
Tháng 10-1946, Tiểu đoàn 523 được giao nhiệm vụ bảo vệ đường giao thông quan trọng này của Trung ương. Đại đội 29 được phân công phụ trách đánh địch ở mặt trận phố Hàng Bột. Vệ quốc đoàn và tự vệ đã phối hợp tốt. Dãy số lẻ do tự vệ Hàng Bột phụ trách, dãy số chẵn do Việt Nam Cứu quốc Hội phụ trách để tiện đường tiến lui. Nhiệm vụ đại đội 29 là: "Đơn vị tác chiến tuyến đầu của tiểu đoàn, phối hợp với tự vệ khi có lệnh chiến đấu phải tiêu diệt các ổ tác chiến của địch trên đường phố Hàng Bột. Không cho địch thọc sâu, nống ra chiếm đường phố Hàng Bột, thu hút và tiêu hao một bộ phận lực lượng địch tại đây để phối hợp với các đơn vị trong toàn thành chiến đấu thắng lợi...".
Đại đội đã bố trí:
- Trung đội 58 phân tán các nhà dân. Nửa tiểu đội ở sát rào chắn tàu Sinh Từ trông ra cửa Nam.
- Trung đội 56 đầu phố Hàng Bột gồm trạm biến thế điện trông sang Văn Miếu. Do không thực hiện được đào giao thông hào sát đầu đường Hùng Vương bây giờ với sân vận động Septo nhằm chặn cơ giới địch, nên phải sử dụng một tiểu đội của Trung đội 56 bí mật vào đóng trong Văn Miếu, ngày nghỉ đêm đào đường hầm xuyên qua tường ra ngoài đường Nguyễn Thái Học để đặt bom. Khi chiến đấu làm sẽ nổ tung đường, cản trở hoạt động của cơ giới địch từ cổng thành phía Tây ra.
- Trung đội 56, 57 có nhiệm vụ phối hợp đánh nhà Deléveaux và khu nhà hạ sĩ quan, yểm trợ cho Trung đội 58 chiến đấu ở Sinh Từ.
- Trung đội 57 đóng tại nhà cao tầng phố Bích Câu bảo đảm sườn trái của đại đội, không để địch lợi dụng địa hình trống trải ở bãi Septo mà tràn từ trong Thành ra.
Đại đội bộ đóng tại ngõ Văn Chương.
Toàn đại đội có 150 chiến sĩ trẻ, 2 đảng viên. Vũ khí có 38 khẩu đủ loại Nga, Nhật, Pháp, nhiều nhất súng trường khai hậu, mỗi khẩu không quá 10 viên; một đại liên Nga cũ với một băng đạn 150 viên; một trung liên Anh với 50 viên, lựu đạn Phan Đình Phùng và mã tấu.
Về phía Pháp, tay sai:
- Quân Tưởng rút, toà báo Vì Nước không còn.
- Nhà Cố Hiến, nhà thờ Hàng Bột không có quân Pháp.
- Còn lại khu nhà hạ sĩ quan Pháp được trang bị tiểu liên, súng ngắn, lựu đạn.
- Nhà Deléveaux có khoảng một tiểu đội trang bị súng trường, tiểu liên, lựu đạn, một xe môtô ba bánh, một xe cứu thương.
Hai nơi này là ổ tác chiến nằm sẵn trong lòng trận địa ta.
- Nhà Jeanne d’Arc một cao điểm khống chế cả Văn Miếu và đầu Hàng Bột. Địch trang bị ngoài súng trường, tiểu liên còn có một khẩu cối 82 ly.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|