Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:40:31 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa - Quận V Hà Nội  (Đọc 12496 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #50 vào lúc: 28 Tháng Mười Hai, 2021, 07:27:43 am »

NGÂN VANG KÝ ỨC


Nguyễn Văn Minh *
Nguyễn Văn Minh, nguyên chiến sĩ tự vệ Thổ Quan

   Sau ngày Mười Chín
   Tháng Tám Bốn Lăm
   Minh tôi cùng Lễ
   Dựng xây chính quyền
   Ở xã Thổ Quan
   Rồi cùng anh Lợi
   Chủ tịch Uỷ ban
   Lập nên Tự vệ
   Chuẩn bị kháng chiến
   Đào hào, đắp ụ
   Giữa phố Khâm Thiên
   Từ ngõ Sơn Nam
   Sang nhà Đỗ Thận
   Cô đầu hàng gạo
   Nhà trăm mươi mốt
   Hai cây gỗ lớn
   Chôn xuống đất dày
   Cao trên hai mét
   Tối hôm Mười Chín (19-12-46)
   Đèn điện vụt tắt
   Kháng chiến súng lệnh
   Đại bác ầm vang
   Bà già, con trẻ
   Sẵn sàng tản cư
   Ra đi từ trước
   Ai còn ở lại
   Tiếp tục tản cư
   Giao cho Tự vệ
   Bàn, ghế, giường, tủ
   Khuân vứt ngáng đường
   Nhằm ngăn quân địch
   Tự vệ Đội tôi
   Đục tường thông nhà
   Thổ Quan, Cống Trắng
   Cùng quân chủ lực
   Đại đội Lưu Vân (C29 - D523)
   Phối hợp nhịp nhàng
   Bố phòng chặn địch
   Mặt trận Khâm Thiên
   Rồi cùng Đại đội
   Ngô Chuyền Hai Bẩy
   Tập kích Dầu Sen
   Hoả xa Hà Nội
   Đến ngày Ba Mươi
   Tháng Chạp Bốn Sáu
   Quân Pháp tiến công
   Thẳng xuống Kim Liên
   Khâm Thiên, Hàng Bột
   Bằng cả xe tăng
   Pháo binh, xe ủi
   Máy bay, bom ném
   Trúng Sở chỉ huy
   Không ai việc gì
   Quân ta dũng cảm
   Quyết tử, quyết sinh
   Chặn Tây từng bước
   Thực dân xâm lược
   Cố sức vượt qua
   Nhiều ụ chướng ngại
   Nhưng không chiếm được
   Cửa Ô Chợ Dừa
   Cho tới chiều tà
   Được lệnh tạm rút
   Qua Đê La Thành
   Đi sang Chùa Bộc
   Phi pháo thằng địch
   Bắn rượt, sát thương
   Anh Phúc hy sinh Xót lòng, nuối tiếc
    Chôn cất tại vườn.
   Nhà thờ họ Nguyễn
   Vẫn còn để lại
   Dấu vết tày trời
   Tội ác giặc Tây
   Một hình người chết
   Đọng trên nền nhà
   Gạch hoa tầng hai
   Nơi ban chỉ huy
   Tự vệ, Vệ quốc
   Đóng quân ở đó
   Và một bộ đội
   Còn đủ quân trang
   Chôn sống, đối diện
   Số nhà Sáu Sáu
   Ngõ phố Thổ Quan.
   Khi dân hồi cư
   Phát hiện, đắp mồ
   Trồng một cây si
   Dấu ghi, tưởng niệm
   Hoà bình lập lại
   Ủy ban Đống Đa
   Đã cho khai quật
   Tập trung đưa vào
   Nghĩa trang liệt sĩ
   Cùng với hài cốt
   Rải rác hy sinh
   Của nhiều con người...
   Sau lại khai quật
   Đưa lên nghĩa trang
   Liệt sĩ Yên Kỳ.
   Trở lại việc rút
   Về đến Tam Khương
   Chia đôi lực lượng,
   Một Thái Hà Ấp
   Một ở Thượng Đình
   Phối hợp công binh
   Đào hố, đặt bom
   Nơi cống Nam Đồng
   Chặn đường tiến công
   Đánh địch đẩy dãn
   Ra Ngã Tư Sở
   Sang năm Bốn Bảy
   Đánh địch mấy lần
   Rồi sang Quang Tó
   Vượt qua sông Nhuệ
   Về tới Cự Đà
   Xếp lại đội ngũ
   Sau Tết Đinh Hợi
   Khu Ba - Đống Đa
   Có phiên hiệu mới
   Quận Năm Hà Nội
   Tự vệ chiến đấu
   Chuyển thành du kích
   Tôi là Bê trưởng
   Của Đại đội Ba
   Việt Châu phụ trách
   Quận trưởng Lê Thanh.
   Tháng Ba Bốn Bảy
   Cự Đà, Khúc Thuỷ
   Sáng, địch mò xuống
   Xe tăng, lê dương
   Hung hăng nhào tới
   Trung đội Sự, Tự
   Không kịp điều quân
   Tại nhà chỉ huy
   Nhằm địch đang đi
   Phủ đầu tức khắc
   Địch gấp lùi ra
   "A-la-sô" vào
   Súng, "Na" quật trả
   Pháp no đòn ta
   Chiều tà, rút sạch
   Bước sang Tháng Sáu
   Lúc chiêm vừa gặt
   Giặc Pháp hung hăng
   Xua quân bắn phá
   "Võng Tây" dù thả
   Bồ Nâu Úc Lý
   Dựa lũy tre làng
    Quân dân chặn đánh   
   Địch không thể vào   
   Nơi địch muốn đến   
   Chỉ điểm bất thành   
   Hôm sau, địch rút      
   Sau ngày dưỡng thương
   Bí thư Hồ Trúc
   Gọi về công tác
   Dự các lớp học
   Anh Tiến Đức giảng
   Công tác bí mật
   Anh Lê Quang Đạo
   Huấn luyện trực tiếp
   Lúc này Thành uỷ
   Chỉ đạo cán bộ
   Vào thẳng nội thành
   Quận Năm kiên trì
   Ba lần bố trí
   Anh Lễ bằng đường
   Công khai hợp pháp
   Lần đầu vào nhà
   Vũ Bão, Cầu Gỗ
   Lần hai vào nhà
   Sơn Hải, Chả Cá
   Lần ba đi cùng
   Gia đình con gái
   Ông Đặng Vũ Lạc
   ...
   Sau ba tháng trời
   Hoạt động nội thành
   Gây được một số
   Cơ sở tuyên truyền
   Với Bác sĩ Lạc
   Giác ngộ thêm sâu
   Tin tưởng bội phần
   Ta nhất định thắng
   Địch nhất định thua
   Giặc không mua được
   ...
   Tạm biệt ông Lạc
   Dần chuyển về làng
   Nơi chốn Thổ Quan
   Lễ đã nhanh chóng
   Phát triển cơ sở
   Đón đưa cán bộ
   Từ ngoài vào trong
   Vào sâu nội thành
   Hoạt động toả khắp
   Trung Tự, Trung Phụng
   Hào Nam, Thịnh Hào
   Văn Chương, Hàng Bột
   Phá tề trừ gian
   Thu hết sổ sách
   Triện lý trưởng tề
   Lấy giấy của địch
   Để ta dễ đi
   Bán cả trái phiếu
   Võ trang ban ngày
   Phá phòng thông tin
   Bờ Hồ sôi sục
   Bốn Bẩy, Bốn Chín (1947-1949)
   Đã có các vùng
   Tinh thần quần chúng
   Phát triển lên cao
   Quân địch lo sợ
   Ta liên tập kích
   Đánh nhà dầu Sen (Shell)
   Đánh bốt Việt Hương
   Bốt Ô Chợ Dừa
   Bắn pháo vào Thành
   Bắn bom Vê Hai (V2)
   Ra đi nhiệt tình
   Nay già an dưỡng
   Hồi tưởng xưa nay
   Hồn thơ bay bổng
   Cùng nhau chiến đấu
   Kẻ mất người còn
   Sự nghiệp hoàn thành
   Cùng vui chiến thắng.

   Tháng 8 năm 2001
« Sửa lần cuối: 28 Tháng Mười Hai, 2021, 07:32:09 am gửi bởi ptlinh » Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #51 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2021, 07:23:55 am »

TRẬN TẬP KÍCH TIÊU DIỆT Ổ CHIẾN ĐẤU
CỦA QUÂN PHÁP TẠI NHÀ DẦU SHELL
ngày 25-12-1946 của Tiểu đoàn 523


Nguyễn Tiệp *
Nguyễn Tiệp - nguyên Tiểu đoàn trưởng 523 (1947 - 1948)


Ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc, Bộ chỉ huy Mặt trận Hà Nội và Liên khu III chủ trương tích cực đánh chặn các cuộc tiến công lấn chiếm của giặc Pháp và tập kích tiêu diệt một số ổ chiến đấu của địch nhằm tiêu diệt một phần lực lượng địch và làm chậm bước tiến của chúng, góp phần làm thất bại âm mưu đánh chiếm nhanh Thủ đô Hà Nội.


Tiểu đoàn 523 nhận nhiệm vụ tiêu diệt ổ chiến đấu của quân Pháp tại nhà Dầu Shell ở đầu phố Khâm Thiên. Tiểu đoàn đã tập kích hai lần vào ổ chiến đấu này những đêm 19 và 23-12-1946 nhưng đều không đạt kết quả.


Quân địch ở khu vực này gồm các ổ chiến đấu ở nhà Dầu Shell, ở quán cơm Hoả xa, ở nhà chè Phú Xuân và ở Ga Hàng Cỏ hình thành một cụm chiến đấu lấy ổ chiến đấu chính là nhà dầu Shell và Ga Hàng Cỏ để án ngữ một phần quan trọng cửa ngõ phía Nam thành phố Hà Nội. Mỗi ổ chiến đấu có khoảng trên dưới một tiểu đội trang bị 1 - 2 trung liên, riêng ở nhà Dầu Shell và Ga Hàng Cỏ có khi có một súng cối 60 ly.


Nhà Dầu Shell là kho chứa dầu, có một nhà 5 gian một tầng, có nhiều bồn xăng 2 - 3 tấn và thùng xăng 200 lít, xung quanh chỉ có hàng rào cột bê tông 10 x 10cm với một hàng dây thép gai rất thưa, ở cổng phía Khâm Thiên có 2 ụ súng máy do quân Nhật xây sau ngày 9-3-1945.


Quán cơm Hoả xa có 4 nhà 2 tầng xung quanh có tường cao khoảng 1,50m.

Rút kinh nghiệm hai trận tập kích trước, Tiểu đoàn trưởng An Giao và Đại đội trưởng Ngô Chuyền quyết tâm tập trung lực lượng tập kích lần thứ ba tiêu diệt ổ chiến đấu ở nhà Dầu Shell và quán cơm Hoả xa.

Tiểu đoàn được Bộ chỉ huy Mặt trận tăng cường một pháo 37 ly có 6 viên đạn, một trọng liên 12,7 ly có 175 viên đạn lập thành đội trợ chiến tiểu đoàn.


1. Kế hoạch tập kích của Tiểu đoàn:

a. Sử dụng lực lượng:

- 2 trung đội Vệ quốc quân của Đại đội 27 (C27). Mỗi trung đội có một trung liên 24 - 29 viên đạn/khẩu. Mỗi tiểu đội có 6 - 7 súng trường các loại (khai hậu, Pháp, Nga, Nhật...), đạn có 20 - 25 viên/khẩu. Mỗi chiến sĩ có hai lựu đạn Phan Đình Phùng (do quân giới sản xuất).

- Đội quyết tử của Tiểu đoàn có 20 người trang bị chủ yếu mã tấu, lựu đạn.

- 2 trung đội tự vệ chiến đấu Liên khu III và công nhân Hoả xa trang bị mỗi tiểu đội 2 - 3 súng trường, còn mã tấu, lựu đạn.

- Đội trợ chiến có n ột pháo 37 ly, một trọng liên 12,7 ly.

b. Phân công và nhiệm vụ:

- Hướng tập kích chính: Nhà Dầu Shell. Lực lượng gồm: Trung đội 50 + Trung đội 51 (thiếu một tiểu đội)/C27 + Đội quyết tử + Trung đội tự vệ chiến đấu Liên khu III và Đội trợ chiến. Có nhiệm vụ: 21 giờ ngày 24-12 xuất phát từ Ô Chợ Dừa luồn theo các lỗ đục tường dọc phố Khâm Thiên đến chợ chia làm hai mũi:

+ Mũi một gồm Trung đội 50 + một tiểu đội quyết tử luồn qua chợ Khâm Thiên áp sát phía Nam nhà 5 gian làm nhiệm vụ chủ yếu tiêu diệt địch ở nhà 5 gian. Đội trợ chiến bố trí pháo 37 ly, trọng liên 12,7 ly ở phía hậu ngôi nhà có hàng rào trông sang nhà Dầu Shell bắn áp chế 2 ụ súng và nhà 5 gian, chi viện cho mũi một.

+ Mũi hai gồm Trung đội 51 (thiếu một tiểu đội)/C27 + Trung đội tự vệ chiến đấu Liên khu III + một tiểu đội quyết tử men theo đường nhỏ giữa hai bờ ao áp sát phía Tây nhà 5 gian tiến công diệt địch, phối hợp với mũi một.


- Hướng tập kích thứ yếu: Quán cơm Hỏa xa. Lực lượng gồm: một tiểu đội Trung đội 51/C27 + Trung đội tự vệ chiến đấu công nhân Hoa Xũ có quân khí viên tiểu đoàn Nguyễn Vũ Giáp đi theo. Đội hình này xuất phát trước 20 phút luồn theo các lỗ đục tường bên số chẵn phố Khâm Thiên đến đầu ngõ rẽ vào làng Linh Quang ra đường nhỏ sát tường sau nhà Ga qua lỗ đục tường dùng một tiểu đội tự vệ kiềm chế địch ở nhà Ga không cho chúng chi viện quán cơm Hoả xa, và để 3 chiến sĩ tự vệ bố trí ở nhà Đê pô giữ đường về, còn 1 tiểu đội/trung đội 51/C27 + Trung đội tự vệ công nhân Hoả xa (thiếu) chia làm 4 tổ tập kích tiêu diệt địch ở quán cơm Hoả xa và phối hợp với hướng chính tập kích nhà Dầu Shell, Sở chỉ huy Tiểu đoàn 523 và Đại đội 27 đặt tại nhà số 37 phố Khâm Thiên (gần ngã ba chợ Khâm Thiên).


Tiểu đoàn trưởng An Giao trực tiếp phố biến kế hoạch tập kích và giao nhiệm vụ đến cán bộ tiểu đội của bộ đội và cán bộ trung đội của tự vệ chiến đấu.


Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #52 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2021, 07:25:39 am »

2. Diễn biến trận tập kích:

Các phân đội tổ chức chiến đấu và hành quân chiếm lĩnh trận địa theo đúng kế hoạch.

a. Hướng chính: Nhà Dầu Shell. Cả hai mũi sau khi bí mật áp sát hàng rào triển khai xong đội hình chiến đấu báo cáo về Sở chỉ huy Tiểu đoàn sẵn sàng nhận lệnh xung phong. 0 giờ 30 ngày 25-12, Tiểu đoàn trưởng ra lệnh pháo 37 ly và trọng liên 12,7 ly bắn vào hai ụ súng và chế ngự sân nhà Dầu Shell làm lệnh tiến công. Các trung liên và súng trường của 2 mũi đồng loạt nổ súng bắn vào nhà 5 gian. Ngay từ phút đầu ta đã diệt được một ụ súng của địch. Tiểu đội quyết tử do Tiểu đội trưởng Trần Đình Quyết chỉ huy là tiểu đội đột kích được lệnh xung phong nhưng bị địch bắn mạnh chặn đường tiến phải nằm lại. Pháo và trọng liên lại bắn tiêu diệt được ụ súng thứ hai tạo điều kiện cho các tiểu đội quyết tử nhanh chóng vượt qua hàng rào, băng qua sân, dẫn đầu hai mũi cùng tiến công nhà 5 gian. Lúc này bên quán cơm Hoả xa địch ở gác hai bắn sang sân nhà Dầu Shell nhưng ngay sau đó súng máy ở xe thiết giáp bắn lên các cửa sổ nhà gác làm địch ở đây không bắn được sang nhà dầu Shell nữa. Bọn địch ở nhà 5 gian bị tiến công từ 2 hướng nên chống cự yếu ớt, nhanh chóng bị rối loạn, một số bị thương vong, còn một số tháo thân chạy theo đường xe lửa về phía nhà ga. Ta kiểm soát vị trí, thu được 1 súng trường, 1 các bin, một số đạn, lựu đạn. Sau 45 phút ta rút lui.

b. Hướng thứ yếu: Quán cơm Hoả xa. Sau khi đã triển khai lực lượng kiềm chế dịch ở nhà ga và giữ đường về ở nhà Đề pô, cả 4 tổ bí mật áp sát tường sau 4 nhà hai tầng của quán cơm Hoả xa đợi lệnh tiến công chung của tiểu đoàn. Khi pháo 37 ly và trọng liên 12,7 ly bắn ở nhà Dầu Shell phát lệnh tiến công, cả 4 tổ đồng loạt bắn lên cửa sổ gác hai, ném lựu đạn vào sân và vượt tường đánh vào nhà được phân công. Một tổ có đồng chí Triệu, Trung đội trưởng tự vệ, chiến sĩ Quảng và quân khí viên Giáp đánh nhà số 2 phát hiện trên sân có một xe thiết giáp Halftrack liên ném lựu đạn lên thùng xe rồi nhảy lên xe thấy một tên lính da đen chết bên cạnh khẩu trọng liên 12,7 ly. Tổ nhanh chóng dùng trọng liên bắn lên các cửa sổ chi viện cho các tổ đánh chiếm 4 nhà rồi chuyển bắn 2 ụ súng bên nhà Dầu Shell chi viện hướng chính. Đồng chí Giáp lần mò trong đêm tối khởi động được, xe và cùng tổ lái xe ra ngã tư Khâm Thiên - Hàng Lọng. Từ phía nhà Ga có tiếng xe cơ giới địch đang tiến xuống ngã tư Khâm Thiên. Địch bắn có đạn vạch đường nên ta biết mục tiêu bắn trả lại. Đồng chí Triệu và Giáp thay nhau bắn hết 2 hòm đạn 12,7 ly. 10 phút sau không thấy địch bắn nữa và tiếng động cơ cơ giới nhỏ dần, các đồng chí đoán địch ở nhà Ga định tiếp viện cho nhà Dầu Shell nhưng bị đánh mạnh nên phải rút lui. Các đồng chí lùi xe về nhà Dầu Shell. Lúc này cả căn nhà Dầu Shell và quán cơm Hoả xa đều đã im tiếng súng.


Tại quán cơm Hoả xa ta làm chủ trận địa, đã kiểm soát cá 4 nhà và đang chuẩn bị rút lui.

Khi nhận lệnh rút lui, các đồng chí Triệu và Giáp không tháo được khẩu trọng liên 12,7 ly phải dùng lựu đạn phá máy xe và phá ổ súng trọng liên, chỉ mang về được một hòm đạn 12,7 ly và một số lựu đạn.

Quân ta rút lui an toàn.

Sáng ngày 25-12-1946 địch phản ứng cho máy bay ném bom, bắn phá ngõ trại khách và khu nhà xung quanh.


3. Kết quả và ưu điểm, khuyết điểm của trận tập kích:

- Trận đánh thắng lợi, quân địch thương vong khoảng 20 tên. Quân ta có 7 đồng chí bị thương. Ta đánh chiếm được 2 ổ chiến đấu, phá được một xe thiết giáp Halftrack, một trọng liên 12,7 ly và thu được một súng trường, một các bin, một số đạn, lựu đạn.


Đây là một trận tập kích có hiệu suất chiến đấu cao trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc ở Mặt trận Thủ đô Hà Nội. Trận đánh thực hiện được mục đích tiêu diệt một bộ phận lực lượng địch, phá một phần âm mưu của địch khống chế phía Nam thành phố.


Đây cũng là một trận đánh đầu tiên tập trung cấp đại đội do Tiểu đoàn trưởng và Đại đội trưởng trực tiếp chỉ huy, có trợ chiến của Bộ chỉ huy Mặt trận tăng cường, có phối hợp với tự vệ chiến đấu hiệp đồng chặt chẽ, phát huy được sức mạnh của cả bộ đội và tự vệ, của cả xung lực và hoả lực.


Trận đánh thể hiện tinh thần chiến đấu dũng cảm của bộ đội và tự vệ đã linh hoạt khi chiếm được xe thiết giáp liền sử dụng ngay để yếm trợ quân ta tiến công và đánh lui quân địch tiếp viện.

Tuy vậy kết quả của trận đánh còn bị hạn chế vì việc kiểm soát và thu dọn chiến trường để sót vũ khí, để địch chạy một số, đặc biệt là ta không có kế hoạch đốt kho xăng dầu nhà Dầu Shell và đốt chiếc xe thiết giáp. Nếu ta đốt kho xăng dầu, một khối lửa lớn bốc cao cháy rực trời phía Nam thủ đô thì hiệu qua chiến đấu và ảnh hưởng của trận đánh sẽ lớn hơn rất nhiều.


Trận đánh thắng lợi góp một phần cùng Liên khu III và Mặt trận Hà Nội thực hiện 3 nhiệm vụ mà Hồ Chủ tịch, Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng. Bộ Tổng chỉ huy giao cho Thủ đô Hà Nội là: tiêu diệt một bộ phận lực lượng địch. Kìm chân địch một thời gian để cả nước chuyển sang thời chiến. Bảo toàn lực lượng ta để kháng chiến lâu dài. Làm gương cho cả nước.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #53 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2021, 07:27:08 am »

ĐỘI TỰ VỆ HOẢ XA HÌNH THÀNH VÀ CHIẾN ĐẤU TRONG NHỮNG NGÀY ĐẦU CUỘC KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC THÁNG 12-1946


Chu Văn Biên*
Nguyên Vụ trưởng - ủy ban Kế hoạch Nhà nước
Nguyên Đại đội trưởng Tự vệ chiến đấu Hỏa xa Hà Nội 1946


Đầu năm 1946 chi bộ Hoả xa Hà Nội tổ chức Đội Tự vệ chiến đấu Hoả xa Hà Nội. Đội gần 40 cán bộ, công nhân viên tích cực, đoàn viên công nhân cứu quốc của các đơn vị Toa xe Hà Nội, Đề pô Hà Nội, cầu đường, ga Hà Nội, Ty Xa vụ. Các đơn vị này đóng trong địa phận Liên khu III và giáp giới Liên khu II: đông giáp đường Hàng Lọng; Bắc giáp đường Sinh Từ; Nam giáp đường Khâm Thiên; phía Tây là con đường sau Ga chạy từ Sinh Từ đến Khâm Thiên.


Số lượng đội viên tự vệ, đến tháng 12-1946 lên đến gần 80 người, tổ chức thành 9 trung đội (trong đó một trung đội chỉ có 2 tiểu đội). Đơn vị được trang bị hơn 10 súng trường các loại Nhật, Pháp, Nga, có Remington, khai hậu; gần 10 xìten bắn phát một hiện đại nhất là khẩu xìten Mỹ (của tên chánh Hoả xa bỏ lại hôm Nhật đảo chính 9-3-1945). Đơn vị còn được trang bị hơn 100 lựu đạn lọ mực Phan Đình Phùng, hơn chục lưỡi lê, mã tấu. Tháng 12-1946 có thêm mìn điện và một quả bom.


Mỗi tự vệ được phát một bộ đồng phục xanh công nhân. Hàng ngày anh em vẫn làm việc chuyên môn. Đến tối, luân phiên canh gác xí nghiệp. Có đến 20 người không vướng gia đình hoặc xa gia đình thì ngủ tập trung ở trụ sở. Hàng tuần sinh hoạt hai buổi tối: học chính trị, nghe thời sự, học hát (do anh Văn Cao hướng dẫn). Ngoài những hoạt động ở xí nghiệp, đội còn tham gia tổ chức ngày 1 tháng 5 ở Việt Nam Học xá, xây dựng kỳ đài cho ngày ra mắt Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tại Nhà hát lớn, ngày thành lâp Đảng Xã hội Việt Nam ở cuối phố Bà Triệu.


Tháng 9-1946, anh em tham gia sửa sang đầu máy, toa xe lập đoàn tầu đón Bác Hồ ở Pháp về. Ngày đoàn tầu đón Bác về đến ga Hà Nội, Tự vệ Hoả xa được cùng các đồng chí công an bảo vệ vòng ngoài nghênh đón Bác tại sân Ga, tại tiền sảnh Ga, - nơi Người nói chuyện với đồng bào ta và binh lính Pháp ra đón.


Có mấy lần vận chuyển vũ khí vào Nam bằng đường sắt, tự vệ phải chuẩn bị những toa xe tốt, và bằng biện pháp nghiệp vụ che mắt bọn Tàu Tưởng, nối toa xe vũ khí vào các đoàn tầu bảo đảm được các yêu cầu của đồng chí phụ trách vận chuyển quốc phòng.


Những ngày ráo riết chuẩn bị chiến đấu.

Từ đầu tháng 12-1946 tình hình ngày càng căng thẳng, thực hiện chủ trương di chuyển máy móc lên chiến khu, tự vệ làm nòng cốt trong việc tháo dỡ máy, có đêm tổ chức 4, 5 chuyến tầu chở máy đi về phía Nam.

Khoảng ngày 15-12-1946 anh em trổ tường phía sau ga ở ba vị trí Cây nước, bãi Thiên hùng và góc tường sát đường Khâm Thiên để chuẩn bị chiến đấu.

Tự vệ cũng thu gom éclipse, lập lách (thiết bị để nối hai đoạn đường ray), bu loong... để trữ trên gác nhà ga, chuẩn bị cho phòng thủ đánh địch; chuẩn bị mìn điện, magnéto để phá cây nước và đánh bom. Đào hố cá nhân để di động chiến đấu theo kinh nghiệm chiến trường phía Nam. Mua sẵn mấy bồ pháo ném để chuẩn bị cho đánh quấy rối.


Từ ngày 17-12-1946 đã tập trung lực lượng tự vệ, ăn ngủ tại trụ sở. Bố trí lực lượng trực chiến tại các vị trí chiến đấu: gác nhà ga, cổng toa xe, kho vật tư, góc ngã tư Khâm Thiên - Hàng Lọng.

19-12-1946, khoảng hơn 17 giờ chúng tôi được phổ biến lệnh chiến đấu vào 20 giờ lúc điện thành phố tắt và đại bác bắn vào Thành Nội.

Theo kế hoạch tác chiến định trước, đồng chí Hà Đăng Ấn phụ trách việc chí đạo cho trưởng ga Hà Nội điện cho trưởng ga Văn Điển ra lệnh cho đoàn tầu từ Nam Định về ga Hà Nội (giờ quy định đúng 20 giờ) phải đỗ tại cột tín hiệu đỏ ở miếu Hai Cô, đổ khách xuống hết. Tại đây, đồng chí Inh chỉ đạo việc cắm pháo hiệu và đèn đỏ để hãm tầu. Khi tầu đỗ thì cắt đầu máy cho chạy đến giữa đường Khâm Thiên đỗ lại, làm tụ "đinh chì" để đầu máy trở thành chướng ngại vật. Việc này đã làm đúng kế hoạch. Chướng ngại vật là đầu máy Pacific được hình thành trước khi điện thành phố tắt độ 2 phút.


Đồng chí Ấn cũng phụ trách việc cho lập một đoàn tầu gồm 5 toa SS, đầu máy đẩy sau, khởi hành lúc 19 giờ 50 lên hướng Bắc để làm trật bánh tại 5 đường: Trần Phú, Điện Biên Phú, Nguyễn Thái Học, Hàng Đẫy và Sinh Từ. Đoàn tầu do tài xế Nghĩa - Đảng viên phụ trách.


Đồng chí Chu Văn Biên - phụ trách lực lượng tác chiến, đã chỉ huy cung cấp thêm lựu đạn, nước uống, lương khô cho tiểu đội bố trí ở gác nhà ga, kiểm tra các chốt bố phòng ở cống và nhà máy toa xe, kho hàng; và lúc 19 giờ 50 chỉ đạo việc đào hố để đặt bom ở tim đường ngã tư Khâm Thiên - Hòng Lọng. Việc đặt bom và giật nổ giao cho trung đội trưởng Nguyên phụ trách.


Lúc 20 giờ điện thành phố tắt, đại bác ở Láng bắn vào Thành Nội (citadelle) thì mọi việc được thực hiện như kế hoạch, trừ việc dùng mìn phá cây nước không thực hiện được vì sức công phá của mìn không đủ mạnh làm hỏng van nước. Đến khoảng hơn 23 giờ mới xuất hiện xe tăng và half-track của địch ở cửa ga Hà Nội: 5 chiếc bắn rất mạnh vào tiền sảnh và hai cánh gà Ga, còn 3 tốp 3 chiếc rải từ cửa Ga đến ngã tư Khâm Thiên, trong đó có một xe tăng đỗ ngay trên quả bom ta chôn ở tim đường ngã tư Khâm Thiên - Hàng Lọng, đồng chí Nguyên và anh em châm mìn điện và giật nhưng bom không nổ. Ta chờ bộ binh địch tiến vào mới nổ súng, nhưng địch chỉ dùng súng trên xe bắn. Đèn rạng sáng 20-12 vì hoàn cảnh chiến đấu ban ngày không thuận lợi, ta chỉ để tiểu đội chốt trên gác nhà ga ở lại, còn toàn bộ rút về chốt ở nhà dân đầu phố Khâm Thiên. Suốt ngày hôm đó, dịch chỉ dùng súng trên xe cơ giới bắn, không dùng bộ binh tấn công. Chiều tối 20, ta cho tiểu đội chốt trên gác ga rút ra ngoài tổ chức đánh du kích. Các tối tiếp theo từ 21 đến 24 tháng 12, tối nào cũng có 1, 2 tổ tự vệ đi quấy rối các vị trí địch từ khoảng 8 giờ đến 11 giờ đêm. Ngày 25 tháng 12, đồng chí Dậu, đại đội phó dẫn một tổ đột nhập nhà ga Hà Nội, lên gác hai, cũng không có địch; thấy trong văn phòng giám đốc còn một máy chữ trên bàn, anh em mang về, trên đường về, đến Hàng Cà thì bị địch phục kích, quân ta chạy thoát được cả, trừ anh Dậu đi sau, bị mất tích (liên hai ngày đi tìm, không thấy xác).


Đêm 24 rạng sáng 25, Tự vệ Hoá xa được lệnh tấn công vị trí quán cơm Hoá xa ở số 2B Khâm Thiên, anh em diệt ngay tên địch gác cửa đang ngủ gật, nhanh chóng đột nhập. Địch bị bất ngờ, choàng dậy, chạy hoảng loạn. Quân ta chiếm luôn cả tầng dưới, tầng trên và truy kích địch, phát hiện tên lính Pháp chạy ra trèo lên xe thiết giáp (ban ngày không thấy có xe này), ta nổ súng tiêu diệt. Hai đồng chí ta nhảy lên chiếm xe, dùng luôn khẩu 12,7 ly trên xe bắn như vãi đạn sang nhà Dầu Shell, số đồng chí khi lên chiếm tầng gác cũng phát hiện khẩu 12,7 ly đặt ở cửa trông ra đường, do không ai biết sử dụng và tháo rắp nên chỉ đập hỏng. Ta tiêu diệt được vị trí này, thu được một hòm lựu đạn nổ, một hòm lựu đạn hoả mù và mấy băng đạn. Cùng lúc đó, bộ phận tự vệ khống chế vị trí địch ở số 2A Khâm Thiên, cũng nổ súng, địch hoảng loạn, tháo chạy sang bên kia đường tầu, phía nhà Công đoàn Hoả xa. Bọn địch phục kích ở bốt cảnh sát góc đường Hàng Lọng - Khâm Thiên nổ súng, 3 đồng chí ta trúng đạn trọng thương. Khi tự vệ rút quân, 3 đồng chí chỉ huy cũng bị thương do đạn cối địch từ Đấu Xảo và số 12 Sinh Từ bắn theo.


Sau trận đánh này, đơn vị được Bộ chỉ huy Khu XI thưởng giấy khen và một súng Carbine. Công đoàn Hoả xa Nghệ An gửi ra ủng hộ 3.000 đồng. Đội Tự vệ Hoả xa còn liên tiếp chiến đấu giữ chân địch theo chỉ đạo của Liên khu. Cho đến tháng 2-1947, 37 đồng chí được gia nhập Trung đoàn 66. Số còn lại chuyển vào bộ đội du kích Quận V. Một số được giải quyết về hậu phương giúp đỡ gia đình.

ĐOÀN HẢI biên tập
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #54 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2021, 07:33:05 am »

ĐÁNH LUI QUÂN PHÁP TẤN CÔNG
Ô CHỢ DỪA - ĐÊ LA THÀNH - GIẢNG VÕ (6-1-1947)


Đại tá Trần Quân Lập *
Trần Quân Lập - nguyên Chính trị viên Đại đội 4, Tiểu đoàn 56


Sau hơn nửa tháng chiến sự nổ ra tại Hà Nội, hình thái xen kẽ, cài răng lược đang dần chuyển sang tuyến. Liên khu I vẫn trụ giữa nội thành. Bên ngoài các cửa ô, quân ta vẫn bao vây chặt. Quân Pháp rất cần phá thế bị bao vây, muốn đẩy dãn lực lượng ta, để rồi sau đó tập trung trở lại tiêu diệt lực lượng ta ở Liên khu I.


Ngày 30-12-1946, địch đưa 600 quân, 50 xe, có phi pháo yểm hộ đánh ra Khâm Thiên, Hàng Bột, Ô Chợ Dừa.

Ngày 31-12-1946, địch tiến công Kim Liên, dùng xe lội nước vượt qua hô Bảy Mẫu đánh vào phía Nam Kim Liên.

Ngày 3-1-1947, địch mở đợt tiến công ra phía Tây, có 700 quân với 7 xe tăng, 10 xe bọc thép, 70 ôtô đánh chiếm 3 trục đường Thuỵ Khuê, Hoàng Hoa Thám, Đội Cấn.

Ngày 6-1-1947, địch mở đợt tiến công ra phía Nam, có gần 1000 quân, với 7 xe tăng, 10 xe bọc thép, xe ủi đất, cùng pháo binh, máy bay đánh ra Ô Chợ Dừa, Giảng Võ theo hai hướng.

Về phía ta, Tiểu đoàn 56 Chiến khu II, từ Hà Đông được lệnh điều động tăng cường cho Hà Nội (Thời gian này, Tiểu đoàn 56 thuộc quyền chỉ huy của Khu trưởng Chiến khu XI (Hà Nội)), ngay từ khi nổ súng 3 đại đội ra trước tăng cường cho các Tiểu đoàn 145, 523, 212. Tiểu đoàn 56 với hai đại đội số 2 và 4 ngày 21-12-1946 bước vào chiến đấu, phòng ngự tại Mặt trận Ô Cầu Dền Liên khu II. Sau ngày 30-12-1946, Tiểu đoàn được lệnh chuyến sang mặt trận Liên khu III, thay thế Tiểu đoàn 523. Đại đội 2 tổ chức phòng ngự ở Giảng Võ, đê La Thành. Đại đội 4 tổ chức phòng ngự ở Ô Chợ Dừa, Thái Hà Ấp.


Đại đội 4 có cơ cấu chiến sĩ hầu hết là lính hải ngoại từ Pháp trở về nước sau Hiệp định sơ bộ (6-3-1946). Anh em cao lớn, khoẻ, bắn giỏi, phục tùng kỷ luật, có hiểu biết về lính Pháp nên coi thường chúng, lại được giáo dục chính trị, giác ngộ lý tưởng cách mạng nên nhiều người chiến đấu rất dũng cảm, đã trở thành đảng viên và cán bộ quân đội. Còn cán bộ chỉ huy Trung đội, Đại đội đều là hội viên Việt Minh, từng tham gia khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám 1945, tuổi đời còn trẻ hơn lính, chưa có kinh nghiệm chiến đấu, song rất nhiệt tình, phẩm chất đạo đức tốt, nên chiếm được lòng tin và mến phục nơi chiến sĩ. Khi ở Mặt trận Liên khu III, sự động viên tinh thần chiến đấu của nhân dân và lực lượng kháng chiến chiến sở tại đối với Đại đội 4 cũng vẫn là yếu tố đặc biệt quan trọng. Dù rằng dân đã tản cư nhiều, song thường xuyên vẫn còn qua lại. Bà con thấy đồ đạc gia đình không bị suy suyển, mất mát, nên rất mến phục bộ đội, lần nào qua lại cũng đem về ủng hộ bộ đội mớ rau, miếng thịt, quả trứng, trái cây. Trung đội Tự vệ chiến đấu, một tiểu đội nữ cứu thương tiếp tế của Liên khu III tăng cường cho Đại đội, rất sẵn sàng nhận nhiệm vụ, không nề hà. Do quen địa bàn, nên mỗi đêm anh em dẫn bộ đội đi chôn mìn, chiến đấu... cũng gây cho địch nhiều kinh hoàng, tổn thất. Về hậu cần, cơm canh nóng... được các nữ tiếp tế theo đường xuyên tường nhà đưa đến từng chiến hào. Chiến đấu trong mối tình quân dân gắn bó như vậy, anh em chúng tôi càng xúc động cảm kích. Lúc này, Đại đội 4 có 3 trung đội bộ binh, 1 tiểu đội hoả lực, 1 tiểu đội trinh sát - liên lạc. Vũ khí có súng trường gióp 5 - gióp 3, tiểu liên Xì-ten, Tôm-sơn, gươm, mã tấu, lựu đạn, trái Ô-buy (đạn trái phá), bom ba càng, chai xăng Cờ-rếp, hiện đại nhất là khẩu trung liên đầu bạc và cối 60 ly.


Những trận đánh của Tiểu đoàn 56 ở Hà Nội từ 19-12-1946 đến 17-1-1947


Đại đội bố trí phòng ngự hai bên dãy phố từ chiến lũy Ô Chợ Dừa đến Thái Hà Ấp. Bên dãy trái (nhà số lẻ) có Trung đội 1. Bên dãy phải (nhà số chẵn) có Trung đội 2, 3 và đại đội bộ. Các trung đội chia ra từng tổ chiến đấu, mỗi tổ có từ 3-4 người, chiếm lĩnh các nhà cao tầng, tạo ra các lỗ châu mai, lợi dụng các chướng ngại vật để khống chế đường phố. Di chuyển liên lạc bằng đường xuyên tường các nhà, cũng có chỗ bị ngắt quãng trống trải do ao, vườn... cũng gặp trở ngại; trong đó, nguy hiểm nhất là khi vượt qua ngõ phố rẽ vào nhà thờ Nam Đồng. Tôi vẫn nhớ nơi này, vì ở đây đồng chí Trung đội trưởng Nguyễn Châu đã trúng đạn hy sinh do bọn "tắc bọp" biệt kích Pháp ẩn náu trong nhà thờ Nam Đồng bắn giết.


Những ngày qua, hoả lực của Đại đội được bố trí bảo vệ chiến luỹ Ô Chợ Dừa. Dưới chân ụ, có các cảm tử quân trực chiến cùng bom ba càng, đạn Ô-buy và chai cháy.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #55 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2021, 07:33:58 am »

Mờ sáng ngày 6-1-1947, quân Pháp tiến công ra phía Nam theo hai hướng đánh vào Ô Chợ Dừa và Giảng Võ - đê La Thành.

Hướng Ô Chợ Dừa

Trên trời, máy bay bà già bay dọc đường Hàng Bột

- Ngã Tư Sở, nghiêng cánh chỉ điểm cho pháo binh bắn vào chiến luỹ Ô Chợ Dừa và các vị trí hoả lực của Đại đội 4.

Dưới đất, từ đường Hàng Bột, Khâm Thiên, đoàn xe tăng dẫn đầu bắn phá chiếm luỹ, các ụ súng đặt trên nóc nhà cao tầng và yểm trợ cho xe ủi lao vào phá chướng ngại vật. Đòi xe địch đến gần, các cảm tử quân từ chỗ ẩn nấp xông ra, ném lựu đạn, chai cháy, buộc chúng phải lùi lại. Hoả lực trung liên, súng cối, súng trường của quân ta đã gây cho dịch thiệt hại, đánh lui nhiều đợt tiến công vào chiến luỹ.


Địch tập trung xung, hoả lực tiến công dãy phố bên trái - nơi Trung đội 1 bố trí phòng ngự. Chiến sĩ Trần Văn Sức từ trên cửa sổ nhà gác bên chiến luỹ, ném xuống quả đạn Ô-buy trúng mục tiêu, một xe ủi đất bốc cháy. Bộ binh địch lao vào đánh chiếm từng căn nhà. Các tổ chiến đấu dùng tiểu liên, lựu đạn, chai cháy, quả đạn Ô-buy, mã tấu... đánh giáp lá cà với địch từ nhà này sang nhà khác. Quân ta thông thạo địa hình, thoắt ẩn thoắt hiện, đánh rất trúng, gây cho địch nhiều thương vong. Chính trị viên Trung đội, đồng chí Nguyễn Văn Hoan vừa động viên cổ vũ chiến sĩ, vừa trực tiếp chiến đấu, chẳng may đồng chí trúng đạn, hy sinh. Liên lạc viên Nguyền Văn Giảng, một hải ngoại quân đã dũng cảm cõng chính trị viên băng qua đường về Đại đội bộ.


Đến trưa, địch chiếm được dãy phố bên trái.

Lúc này, Đại đội đã kịp thời điều chỉnh lực lượng. Trung đội 2 được lệnh cụm lại, tập trung chặn địch tiến sang đường để liên lạc với bọn dịch ở nhà thờ Nam Đồng. Trung đội 3 ngăn địch phát triển xuống Thái Hà Ấp.

Còn địch chủ quan, tiến dọc xuống phố Nam Đồng.

Qua những quãng trống, tài thiện xạ của chiến sĩ Đại đội 4 đã được phát huy, nhiều tên địch bị trúng đạn, gục tại chỗ. Địch phải ngừng lại, gọi pháo binh, súng cối bắn chi viện, và tổ chức tiến công sang dãy phố bên phải. Mỗi lần địch vượt qua đường lại bị Trung đội 2 và Trung đội 3 dùng hoả lực lựu đạn, chai cháy, đạn Ô-buy ném xuống. Nhiều tên bị diệt, bị thương. Chúng phải dìu nhau tháo chạy.


Đến chiều, địch phải ngừng tiến công, phải rút về nơi xuất phát - Khâm Thiên.

Hướng Giảng Võ, Đê La Thành:

Cùng lúc tấn công hướng Ô Chợ Dừa, trên hướng Giảng Võ - đê La Thành, quân Pháp chia làm 2 cánh tiến quân. Cánh quân thứ nhất theo đường Hàng Bột, làng Hào Nam dọc theo đê La Thành, có xe tăng dẫn đầu đánh vào vị trí Trung đội 1 - Đại đội 2. Trung đội đã dùng hoả lực bắn chặn, từng bước lui dần về phía Ngã tư Giảng Võ. Trên đầu dốc lang Hoàng Cầu đã diễn ra trận đánh giáp lá cà, quân ta dùng lưỡi lê, kiếm, dao xông ra đánh địch. Tiểu đội trưởng Nguyễn Phúc Lai đã anh dũng đâm bom ba càng tiêu diệt 1 xe tăng địch. Sau trận đánh, dân làng Hoàng Cầu đã chôn cất nhiều liệt sĩ của ta ở gần cây đa, hiện nay dân vẫn lập bàn thờ cúng tưởng niệm.


Cánh quân thứ hai, địch từ Nhà Tiền (phố Nguyễn Thái Học), nhà Năm Diệm (phố Cát Linh) tiến dọc đường Giảng Võ, có xe tăng yểm trợ chia làm hai mũi: một mũi triển khai tiến công vào làng Giảng Võ; một mũi tiến thẳng xuống ngã tư hợp vây với cánh quân thứ nhất.


Tại làng Giảng Võ, địch đã vấp phải sự đánh trả quyết liệt của Trung đội 2 - Đại đội 2, Trung đội Quyết tử, Trung đội Cựu binh sĩ cứu quốc làng Giảng Võ. Dựa vào luỹ tre dày đặc, các trận địa ụ súng, giao thông hào, ngõ ngách trong làng, quân và dân Giảng Võ đã đánh bật 3 đợt xung phong đột nhập vào làng của địch. Nhiều tên đã bị chết và bị thương (Lịch sử phường Giảng Võ có ghi cụ thể).


Mũi tiến công thẳng xuống ngã tư Giảng Võ diễn ra rất quyết liệt. Đại đội trưởng Vũ Công Định đã trực tiếp chỉ huy Trung đội 3 chiến đấu và huy động tất cả lực lượng còn lại của Đại đội ra chiến hào. Tiểu đội nữ cứu thương của Liên khu III phối thuộc cũng cầm súng, dao, kiếm chiến đấu cùng với bộ đội. Hoả lực trung liên, tiểu liên, súng trường của quân ta đã cản phá nhiều đợt tiến công của địch. Địch đã phải dùng hoả lực pháo binh, xe tăng bắn phá các ụ đất, trận địa hoả lực, chướng ngại vật trên đường. Nhiều quãng đã diễn ra trận giáp lá cà, vật lộn giữa ta và địch. Đến khoảng trưa, Đại đội trưởng Vũ Công Định bị trọng thương gãy đùi. Biết rằng ta không thể giữ được trận địa, để bảo toàn lực lượng, Đại đội trưởng hạ lệnh rút lui. Riêng mình anh ở lại với một số lựu đạn, tiểu liên bắn cản địch và chiến đấu đến giọt máu cuối cùng. Chính trị viên Lê Chí Thực dẫn bộ đội rút về phía Tây Nam. Anh đi cuối, bắn yểm hộ. Địch xông lên định bắt sống. Anh đập lựu đạn nổ và hy sinh. Những tên địch xung quanh anh cũng tan xác (trích 60 ngày đêm khói lửa của cố Trung tướng Vương Thừa Vũ - Nhà xuất bản QĐND năm 1964).


Bị thương vong nặng, địch phải rút lui về Nhà Tiền, Năm Diệm.

Đại đội 2 đã chiến đấu rất dũng cảm, Nguyễn Phúc Lai ôm bom ba càng đâm cháy một xe tăng. Đồng chí Nguyễn Phúc Lai năm 1997 được truy tặng Anh hùng lực lượng vũ trang và được Thành phố Hà Nội đặt tên phố Nguyễn Phúc Lai tại Đê La Thành. Liệt sĩ Vũ Công Định và Lê Chí Thực được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng Nhất năm 1947. Làng chiến đấu Giảng Võ 3 lần đánh bật 3 đợt xung phong của địch.


Đại đội 2, Đại đội 4 - Tiểu đoàn 56 đã đánh lui quân Pháp tấn công Ô Chợ Dừa, Giảng Võ, đê La Thành. Sự hy sinh chiến đấu của Vũ Công Định, Lê Chí Thực, Nguyễn Phúc Lai, Nguyễn Văn Hoan, Nguyễn Châu và gần 50 liệt sĩ, quân nhân, dân quân, tự vệ, nữ cứu thương... đã làm quân địch khiếp sợ, lực lượng bị tổn thất nặng. Mười ngày sau đó, được viện binh 2.000 quân ở Hải Phòng lên, địch mới tiếp tục mở các cuộc tiến công ra các cửa ô.


Ngày 15-1-1947, địch từ Ô Chợ Dừa đánh xuống, Ngã Tư Vọng đánh sang Ngã Tư Sở. Từ gò Đống Đa đến Ngã Tư Sở, chúng bị các chiến sĩ Đại đội 4 ngăn chặn, bắn tỉa diệt một số tên địch. Để bảo toàn lực lượng, Đại đội 4 được lệnh vừa đánh vừa lui dần về Cầu Mới, sau đó về tổ chức phòng thủ tại Thị xã Hà Đông.


Trận đánh ở Ô Chợ Dừa đã đi vào lịch sử. Nghĩ lại, khi đó quân ta chỉ có vũ khí thô sơ, tương quan lực lượng ta - địch tựa như "châu chấu đá voi", song ta có cách đánh phù hợp, tận dụng được địa hình, lợi dụng ưu thế nhà cửa đô thị, dựng chiến luỹ trên đường phố kết hợp với bố trí hỏa lực các loại để chặn địch. Đường giao thông liên lạc xuyên tường là một sáng kiến độc đáo trong chiến tranh nhân dân vừa cơ động đánh địch, vừa bảo toàn lực lượng ta. Cũng do ta đã huy động được toàn dân đánh địch bằng những hoạt động dẫn đường, tải thương, tiếp tế, dựng chướng ngại vật..., đồng thời hướng lòng dân về với Chính phủ Cụ Hồ, trên dưới một lòng, sẵn sàng tiêu thổ kháng chiến, không chịu mất nước v.v... Đó là những yếu tế vô cùng quan trọng đảm bảo đi tới thắng lợi.


Ngày nay, Hà Nội đang có nhiều đổi mới, kinh tế, quốc phòng mạnh hơn trước. Tinh thần "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh", vận dụng chiến lược chiến tranh nhân dân... vẫn còn giá trị trường tồn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Thủ đô anh hùng của chúng ta.

ĐOÀN HẢI biên tập
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #56 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2021, 07:39:39 am »

LÍNH CÔNG BINH HOẠT ĐỘNG
TRÊN MẶT TRẬN LIÊN KHU III - HÀ NỘI
từ tháng 12-1846 đến tháng 3-1947


Đại tá Nguyễn Văn Nhạn*
Nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn I
Cục Giao thông công binh Bộ Quổc phòng


Sau Hiệp định sơ bộ (6 tháng 3 năm 1946) ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ quân Pháp tiếp tục tấn công, bình định vùng chiếm đóng. Ở miền Bắc, chúng gây ra nhiều vụ khiêu khích ở Lạng Sơn, Móng Cái, Sơn La, Hà Nội. Ngày 15, 16 tháng 12 năm 1946, quân Pháp liên tiếp nổ súng, ném lựu đạn làm chết nhiều dân thường, công an và bộ đội ta ở Hà Nội. Ngày 17, chúng cho xe ủi phá các công sự của ta ở phố Lò Đúc, đồng thời gây ra vụ thảm sát Hàng Bún.


Ngày 18, chúng gửi tối hậu thư đe doạ ta, "... đến sáng 20 tháng 12, những điều trong tối hậu thư không được chấp nhận, thì quân Pháp sẽ chuyển sang hành động".

Ngày 22 tháng 12 năm 1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Toàn dân kháng chiến. Chỉ thị nêu rõ:

- Triệt để dùng du kích vận động chiến.

- Bảo đảm thực lực kháng chiến.

- Phá hoại nhiều hơn, triệt để làm cho địch đói, khát, què, mù, điếc, câm, tiêu hao mệt mỏi, chán nản.

Riêng tại Hà Nội, đêm 19 tháng 12 năm 1946, tiếng súng toàn quốc kháng chiến bùng nổ. Theo chủ trương chung là: tiêu hao tiêu diệt một bộ phận quân địch, chặn đánh, giam chân chúng một thời gian ở Hà Nội, tạo điều kiện cho cả nước chuyển vào trạng thái chiến tranh.


Phần nhiệm vụ của phúng tôi, một số cán bộ thuộc Công binh - Bộ Quốc phòng (khi đó gọi là Cục Giao thông Công binh), ngày 21 - 22/12/1946 xuống nhận công tác của Mặt trận Hà Nội để thực hiện công tác phá hoại, ngăn chặn không cho quân địch nhanh chóng đánh ra các cửa ô của thành phố, hợp đồng với các lực lượng của Trung đoàn Thủ đô để đánh địch trong Liên khu I.


Riêng ở Liên khu III, thuộc cửa ô Ngã Tư Sở, Ngã tư Khâm Thiên, chúng tôi có nhiệm vụ:

- Góp ý kiến về mặt kỷ thuật trong công tác phá hoại: nhà cửa, câu cống.

- Làm các ụ, chướng ngại vật ở các ngả đường.

- Hợp đồng với các lực lượng bộ binh - lúc đó ở địa bàn Liên khu III có tiểu đoàn của đồng chí An Giao.

Quân số kể cả cán bộ và chiến sĩ có 20 người gồm:

- Một số là học sinh trường Cao đẳng Công chính (của Pháp, trước mở tại Hà Nội - Ecole des Travaux Publics).

- Một số là các hạ sĩ, trung sĩ và đội viên các đơn vị công binh của quân Pháp cũ (Troupe du Génie). Số này sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công đã xung phong nhập ngũ và được cơ quan Bộ Quốc phòng Việt Nam giới thiệu về Cục Giao thông Công binh. Sau đó lực lượng này được bổ sung thêm số lượng đủ một tiểu đoàn.


Mặt trận Hà Nội cũng cử một cố vấn người Đức, thường gọi là đồng chí Hồ Chí Dân, nhưng theo giấy giới thiệu gửi cho chúng tôi thì có tên Nguyễn Dân, xuống giúp Đội chúng tôi rất tận tình. Đồng chí Dân vốn ở quân đội Đức, có nhiều kinh nghiệm thực tế.


Để thực hiện nhiệm vụ phá hoại nhà cửa, cầu cống và yêu cầu của Mặt trận Liên khu III phải làm các công sự cho cá nhân, cho hoả lực của ta, chủ yếu là trung liên, đại liên và súng trường các loại, chúng tôi đã mò mẫm tìm hiểu trong các sách quân sự của Pháp. Đặc biệt trong "Cuốn sách của hạ sĩ quan công binh Pháp" (Manuel du gradé du génie) đã tra cứu các mẫu chướng ngại vật bằng gỗ, đất, bằng đường ray xe hoả...; giao thông hào, chiến hào; các mẫu công sự trung liên, đại liên; hầm ẩn nấp có nắp, không nắp; lỗ châu mai, lỗ bắn...


Lực lượng công binh làm công sự, làm công việc phá hoại nhà cửa, cầu cống.

Lực lượng của dân có công nhân, học sinh, phụ nữ. Trong số phụ nữ, có chị em hồi Pháp thuộc là cô đầu hát ở phố Khâm Thiên, khi vào việc rất hăng hái, tự nguyện xin đứng vào các đội phá hoại, tiếp tế, cứu thương, hoạt động rất tích cực trong suốt 60 ngày đêm khói lửa. Sau này, trong số các thành viên trên có người tham gia đơn vị công binh, bộ binh, dân quân du kích; có người tản cư về hậu phương.


Đội công binh đã phá toàn bộ cầu lớn trên đường từ Ngã tư Khâm Thiên qua Ngã Tư Sở vào tới thị xã Hà Đông. Đặc biệt đối với Cầu Mới và cầu thị xã Hà Đông được xây dựng bằng bê-tông cốt thép rất kiên cố, anh em công binh vận dụng kỹ thuật và dùng thuốc nổ kiếm được (từ đạn pháo của địch, từ thuốc nổ phá đá của công chính) đã tập trung phá các chân cầu, mố cầu nên cầu đổ sập. Sau này do địch có trang bị kỹ thuật hiện đại hơn ta, nên chúng đã tương đối nhanh chóng khôi phục được giao thông. Dầu sao mỗi một câu được phá hỏng đã trở thành chướng ngại vật ngăn cản tiến công của địch.


Song phải có hỏa lực kết hợp. Tiếc rằng khi đó hoả lực của ta rất yếu, chủ yếu chỉ có súng trường, súng máy, không có khả năng tiêu diệt quân địch tới khôi phục giao thông.

Nhà cao tầng ở dọc đường từ Khâm Thiên vào tới thị xã Hà Đông được công binh chú trọng phá hủy. Có cán bộ quân sự quan sát thấy những gác chuông nhà thờ Giáp Bát, Phùng Khoang... nổi lên rất cao giữa các đồng ruộng, làng mạc, e ngại nếu địch đánh ra sẽ chiếm lĩnh để biến thành đài quan sát rất lợi hại, nên đã bàn cân phá, đã trèo lên gác chuông đục lỗ sẵn gài thuốc nổ, khi địch đến gần, sẽ phát nổ. Khi xin chỉ thị hành động, Mặt trận Hà Nội đã hạ lệnh: không được phá các nhà thờ, các đền chùa, miếu mạo, để đảm bảo thực hiện chính sách tự do tín ngưỡng của Đảng và Chính phủ. Các đơn vị đã nghiêm chỉnh chấp hành lệnh, tuy nhiên cung có nơi vi phạm đến đền chùa.


Theo lệnh của Mặt trận Hà Nội, Đội Công binh chúng tôi phải xây dựng một số trận địa phòng ngự xung quanh thành phố Hà Nội và trực tiếp trên địa bàn Liên khu III, để đảm bảo cho bộ binh có chỗ ẩn nấp, ngăn chặn, tiêu hao tiêu diệt các lực lượng tiến công của Pháp.


Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 12 năm 1946 đến 15-2-1947, Trung đoàn Thủ đô và các lực lượngTự vệ đã chiến đấu anh dũng bảo vệ các đường phố. Quân Pháp dồn sức tấn công ở nội thành, còn đánh ra ngoại thành, chủ yếu dùng bộ binh có cơ giới rất ít phối hợp.


Tuyến phòng ngự của ta rất đơn giản, bao gồm: một số công sự cho trung liên, đại liên đào dọc theo đường từ Khâm Thiên đến Giảng Võ, từ Ngã Tư Sở đi Láng, từ Ngã Tư Sở đi Văn Điển (đến Kim Giang). Mỗi tuyến dài khoảng 200 - 300m, cứ từng đoạn một, dựa theo địa hình địa vật cụ thể. Nòng cốt của tuyến phòng ngự là các công sự cho hoả lực của ta chống lại với trung liên, đại liên, súng cối 81 ly và đặc biệt với pháo 105 ly của địch. Chúng tôi đã làm công sự gỗ, đất, có nắp dày khoảng 1 mét, chống được đạn cối, đạn pháo của địch. Công sự có lỗ châu mai, có hầm để đạn. Tuyến phòng ngự chuẩn bị cho một tiểu đội, khi cần có thể cho một trung đội, vì vậy chúng tôi cho làm cả hố bắn cá nhân và giao thông hào lộ thiên. Vật liệu làm công sự, chủ yếu là đất, gỗ, dùng các giường, tủ... của các gia đình tản cư bỏ lại, dùng cả xe đổ rác vất chỏng chơ ở Giảng Võ.


Kết hợp với công sự phòng ngự, trên tuyến Khâm Thiên vào thị xã Hà Đông, công binh có làm một số chướng ngại vật kiên cố, tốn nhiều công sức. Sau này thực tế cho thấy, các chướng ngại vật và tuyến công sự ít có tác dụng vì lẽ các lực lượng chiến đấu của ta không trụ trong các tuyến phòng ngự để ngăn chặn địch, phải đánh du kích, vận động để chống chọi phi pháo và hoả lực áp đảo của địch. Các tuyến phòng ngự chỉ có tác dụng làm chậm phần nào cuộc hành quân đánh ra Liên khu III của địch.


Trên địa bàn Liên khu III, lực lượng Đội Công binh đã làm: 60 hầm súng máy, 120 hầm cá nhân, 3000 mét giao thông hào; bóc đường xe điện Hà Nội - Hà Đông- phá sân bay Bạch Mai, nhà cửa ở Bạch Mai, Ngã Tư Sở, thị xã Hà Đông, đánh đổ tất cả các cột điện, thu hồi dây điện; cùng lực lượng khác tham gia chiến đấu ở Cầu Mới, đánh chặn được địch hơn một tuần.


Tóm lại, trong công tác phá hoại và phòng ngự, đơn vị Công binh phối thuộc cho Liên khu III lúc ấy, đã cùng các lực lượng chủ lực, tự vệ và nhân dân làm được một số việc trong tình hình lúc đầu kháng chiến vô cùng khó khăn, đã giam chân địch trong Thủ đô Hà Nội. Nhưng do tổ chức quá gấp, huấn luyện kỹ thuật còn sơ sài, kinh nghiệm lại chưa có nên công sức bỏ ra nhiều mà hiệu quả chưa cao. Chúng tôi cũng chưa làm được việc nghiên cứu về hoạt động đánh lấn của địch, về phục hồi giao thông của địch, nên có những đoạn phá hoại dài hàng trăm mét, tốn hàng ngàn công, dùng cả tà vẹt đường ray làm vật chướng ngại, nhưng địch có cơ giới, có hoả lực mạnh nên chúng khắc phục cũng nhanh chóng.


Kinh nghiệm những ngày đầu kháng chiến trong công tác phá hoại, công tác đánh chặn địch sau này trở thành những bài học quý cho chúng ta.

Khoảng tháng 3 năm 1947, lực lượng công binh phối thuộc cho Liên khu III rời khỏi khu vực Hà Nội, Hà Đông và đi chiến đấu ở các quân khu khác.   
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #57 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2021, 07:41:24 am »

NHỚ LẠI CUỘC KHÁNG CHIẾN
CHỐNG THỰC DÂN PHÁP Ở QUẬN V HÀ NỘI NĂM 1947


Đại tá Lê Thanh Quang *
Nguyên Quận đội trưởng Quân V - Hà Nội năm 1947


Sau khi hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu ở Liên khu III, lực lượng kháng chiến rút ra ngoại thành. Theo chỉ thị của trên thành lập Quận V tiếp tục cuộc
kháng chiến đến thắng lợi. Chủ trương của Quận uỷ lúc này là:

1. Chấn chỉnh, sắp xếp lại bộ máy công tác, lực lượng chiến đấu.

2. Phòng chống địch tấn công ta và chủ động tích cực đánh địch.

3. Tuyên truyền vận động nhân dân kháng chiến và giúp đỡ cán bộ, bộ đội.

4. Đưa người trở về nội thành.


Thực hiện các chủ trương trên, Ban chỉ huy Quận đội đã họp bàn với các Ban chỉ huy Đại đội để thực hiện.

1. Chấn chính, sắp xếp lực lượng: Trước khi sắp xếp lại lực lượng, các đại đội đã tuyên truyền những gương chiến đấu dũng cảm hy sinh của nam nữ tự vệ trong Liên khu, động viên mọi người tiếp tục chiến đấu, bổ sung cho bộ đội, đồng thời cũng nêu lên những ai cần phải theo gia đình tản cư để giúp đỡ gia đình... Sau đợt vận động này chỉ có một số chị em phải về theo gia đình, một số em còn ít tuổi sau này ta đưa đi học, còn số nam thanh niên bổ sung cho Tiểu đoàn Quốc Đảm. Ta sắp xếp được hai Đại đội nam, một Trung đội nữ (sau này chuyển số nữ chiến sĩ sang công tác Phụ nữ, Tuyên truyền). Bộ phận huấn luyện quân sự do anh Lam Sơn phụ trách.


Bố trí lực lượng sẵn sàng chiến đấu: Sau khi ta sắp xếp lại lực lượng, cũng là thời gian địch đã chiếm thị xã Hà Đông. Lực lượng ta bố trí như sau:

Đại đội đồng chí Cầu và Phúc cơ động ven hai bên sông Nhuệ đảm nhiệm chiến đấu từ Quang Tó đến Nhân Hoà ở tả ngạn và từ Hữu Lê đến Khúc Thuỷ bên hữu ngạn sông Nhuệ.

Trung đội nữ ở Bối Khê và Trường Huấn luyện ở Hưng Giáo đảm nhiệm đánh địch từ Bình Đà theo đường 71 (Trường Huấn luyện đào tạo Tổ trưởng và Tiểu đội).

Đại đội đồng chí Phi và Lãng đóng quân từ Kim Lâm đến Tri Lễ có nhiệm vụ đánh giặc từ đường 22 vào.

Tất cả các đơn vị đóng quân ở đây đều phối hợp với quân dân du kích và bộ đội nơi đó có.

Ngoài ra lúc này còn có một tiểu đoàn bộ đội của đồng chí An Giao, sau là đồng chí Quốc Đảm thay. Các cơ quan khác của Quận đóng ở các thôn từ Bồ Nâu, Úc Lý, Tri Lễ, Ước Lễ, Quế Sơn.


2. Phòng chống địch tấn công và chủ động tích cực đánh giặc

a. Chủ động tích cực đánh giặc: Một mặt ta tích cực phòng địch tấn công, lúc này ta cũng đã nhận thức được địch mở rộng chiếm đóng ra ngoại thành và thị xã Hà Đông thì phía trong địch còn ít lực lượng hoặc có chỗ không có.


Ta tổ chức những bộ phận nhỏ từ 3 đến 6 người gan dạ, bình tĩnh, tháo vát, trở về nơi địa bàn mình ở trước để thăm dò tình hình. Từ những hoạt động của các bộ phận nhỏ ấy, ta đã tạo ra được đường ra vào Thành, nắm tình hình địch và nhân dân còn lại trong nội thành. Từ đó tổ chức những bộ phận lớn hơn tuỳ theo nhiệm vụ của từng việc riêng rẽ chính trị, quân sự hay chính trị quân sự phối hợp, như trừ gian thì chỉ cần 3 người, khi làm công tác tuyên truyền thì nửa tiểu đội kể cả người của quân sự và tuyên truyền. Khi hoạt động mang tính chất quân sự như quấy rối, gây tiêng động, tiếng nổ cũng chỉ dùng đến vài tiểu đội có cán bộ trung đội đi theo. Có lần ta dùng đến đại đội đánh nhà Dầu ở Khâm Thiên, đốt cháy dầu, đến mấy ngày sau địch mới dập tắt được.


Những hoạt động này đã phá luận điệu tuyên truyền của giặc, rằng chúng đã đánh dãn được chúng ta. Những hoạt động như vậy làm bà con ta hiểu thêm đường lối kháng chiến và tạo điều kiện để sau này đồng bào ủng hộ kháng chiến.


b. Phòng chống dịch tấn công (chống càn quét): Song song sử dụng lực lượng nhỏ đi sâu vào hoạt động trong nội thành, đại bộ phận lực lượng chiến đấu của Quận vẫn thường xuyên luyện tập và sẵn sàng đánh địch.


Sau khi chiếm thị xã Hà Đông, giặc thường xuyên nống ra tấn công ta từ phía Bắc theo hai hướng:

- Từ thị xã Hà Đông theo đường 70 (đôi khi có cả cánh quân từ Văn Điển theo đường 70 vào), đến ngã ba Tó hợp với nhau có xe tăng, xe bọc thép đánh xuống Tó, Nhân Hoà (tả ngạn sông Nhuệ).

- Từ thị xã Hà Đông qua Đa Sĩ, Mậu Lương xuống Hữu Từ, Cự Đà.

Ngay từ cuộc tiến công đầu tiên này, sau khi chiếm thị xã Hà Đông, chúng tiến công để thăm dò tạo điều kiện mở rộng địa bàn xuống Tó và dãn lực lượng ta. Chúng đã bị đánh quyết liệt bởi quân dân du kích ở các thôn ven sông và du kích Quận V. Chiều, chúng phái rút về Thanh Liệt và đường 70. Ngay đêm đó, trung đội đồng chí Sự tập kích vào cụm quân ở đường 70, diệt một số địch và đánh hỏng một xe tăng địch, ngày hôm sau địch phải dùng xe kéo đi. Cùng lúc tiểu đoàn đồng chí Quốc Đảm tập kích vào cụm quân ở Thanh Liệt.


Sau đó ta và giặc còn nhiều lần giáp chiến với nhau ở khu vực này. Không lần nào khi rút quân mà chúng toàn vẹn không vác xác nhau về.

Ở đây đã có trận chiến đấu nổi tiếng "Hùm sám Cự Đà" - tức là đồng chí Sự, trung đội trưởng du kích Quận V Hà Nội.

Cuộc chiến đấu káo dài từ sáng sớm của dân quân du kích ven hai bên tả hữu ngạn sông Nhuệ và du kích Quận V từ Hữu Từ, Quang Tó, đến gần trưa giặc đến được thôn Cự Đà. Lúc này, đồng chí Sự, Tự và một số anh em du kích Quận V rút về đến đây quyết định quyết chiến với giặc ở một căn nhà kiên cố ven đường đi bên sông Nhuệ để hạn chế địch triển khai lực lượng. Cuộc chiến diễn ra quyết liệt không cân sức, ta chỉ có không đến nửa tiểu đội với tiểu liên, súng trường, lựu đạn chọi với bọn Lê dương cùng các loại súng hiện đại và xe tăng. Bọn Lê dương cứ thay nhau hết đợt này đến đợt khác dồn dập tấn công. Khi chúng bị thương vong nhiều, không còn sức tấn công thì chúng lại dùng đại bác ở xe tăng và đại liên bắn vào nơi cố thủ của ta để vác số thương vong ra và cũng là hoả lực chuẩn bị cho đợt đánh tiếp. Cứ như vậy diễn ra nhiều lần cho đến lúc tai các đồng chí ta bị điếc, trao đổi và chỉ huy phải ra hiệu cho nhau. Cuối cùng giặc phải bỏ cuộc, rút lui với nhiều tên bị thương và chết, trận đánh này có ảnh hương rất rộng, có tác dụng cổ vũ mọi người kháng chiến, kể cả nhân dân trong nội thành.


Sau này, địch giảm dần cuộc tấn công ở hướng sông Nhuệ khi chúng có điểm tựa ở Thạch Bích, từ đây chúng tấn công ra xung quanh và theo trục đường 71 chúng càn vào khu Đại Định, Hưng Giáo, Bối Khê, chúng càn nhiều lần nhưng không lần nào vượt qua được lực lượng dân quân du kích các thôn và Trường Huấn luyện để xuống đến thôn Quan Nhân.


Để hạn chế việc sục sạo của bọn đóng quân ở Thạch Bích có lần du kích Quận V cùng với Tiểu đoàn của đồng chí Quốc Đảm tập kích vào Thạch Bích đã gây cho địch một số thiệt hại, đồng thời cũng gây một số thiệt hại cho dân thường, nên sau trận này ta cũng được Khu nhắc nhở!
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #58 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2021, 07:42:53 am »

c. Đánh quân nhảy dù ở Bồ Nâu (Bạch Nao), Úc Lý

Vào khoảng tháng 6-1947 sau trận tập kích vị trí Cầu Mới (nằm trên đường Ngã Tư Sở đi Hà Đông) về đến các vị trí đóng quân thì nghe có nhiều tiếng động cơ máy bay và nhân dân kêu "Tây thả võng". Tôi ra quát sát thì thấy giặc đang nhảy dù xuống cánh đồng chiếm lầy lội, lắm đỉa, nhân dân mới gặt lúa xong. Đây là một bất ngờ đối với tôi - người chỉ huy quân sự lúc này vì không dự tính đến tình huống này. Tôi bình tĩnh trở vào, chỉ đường cho đồng chí Xuân Oanh - phái viên của Khu XI, về mạn Chương Mỹ; chỉ đường cho nhân dân sơ tán. Tôi lại trở ra ngoài làng quan sát và tính toán thời gian địch có thể vào đến làng và tin tưởng lực lượng của ta kịp triển khai vào vị trí chiến đấu ở khắp tất cả các ngả đường để chặn đánh địch.


Trong khi bọn địch nhảy dù chưa tiếp đất thì ở phía Bối Khê, Đại Định, Hưng Giáo nằm trên trục đường 71 đã có tiếng súng nổ giữa ta và giặc quyết liệt giành giật từ bìa làng, ngõ xóm với đủ các loại súng của giặc.

Cùng lúc này ở phía Kim Lâm, Trình Xá bọn giặc từ đường 22 vào đến Trình Xá thì gặp Đại đội của đồng chí Phi (Quận V) cùng với dân quân du kích các thôn theo tuyến làng từ Trình Xá qua Đỗ Động đến Tri Lễ, Ước Lễ, Quế Sơn. Để vào được Tri Lễ gặp cánh quân nhảy dù, giặc không có cách nào khác phải đánh phá từng làng, ở đây chúng cũng gặp sức chiến đấu ngoan cường của du kích Quận V và dân quân du kích các thôn đã nhiều lần hất địch ra khỏi luỹ tre làng bằng súng trường và lựu đạn, nhưng do trang bị của ta có hạn, phải rút bỏ từng thôn, cho đến chiều, địch vẫn không đến được nơi chúng muốn, nên chúng phải rút ra đường 22. Đơn vị đồng chí Phi cũng tổn thất một số.


Trở lại cánh quân dù, một phần do gió thổi, một phần nhảy xuống cánh đồng chiêm lầy lội, khi tiếp đất chúng không gần nhau, có tên ở làng Ước Lễ, có tên ở gần làng Tri Lễ, có tên ở cánh đồng Tri Lễ - Úc Lý. Cũng giống như các cánh quân đường bộ, khi chúng xông tới gần làng Tri Lễ, Úc Lý cũng bị đánh. Đến trưa, bọn dù vẫn không gặp được bọn bộ binh, song chúng cũng ập vào được Úc Lý.


Tôi và anh em du kích Bồ Nâu bố trí ở phía sau làng, dựa vào luỹ tre làng và các cây rơm, đề phòng địch từ Úc Lý sang Thanh Đa tới. Chúng tôi nghe thấy cả tiếng đập phá và tiếng gà lợn giặc bắt. Cho đến tối chúng rút lên Thanh Đa qua Bồ Nâu. Ngay đêm đó một bộ phận của đơn vị đồng chí Phi và Trường Huấn luyện tập kích vào Thanh Đa và sáng hôm sau ta truy kích khi chúng rút.


3. Hai chủ trương tuyên truyền vận động nhân dân kháng chiến và Xây dựng cơ sở đưa người về Thành

Về hai chủ trương này, tôi không nắm được rộng, chỉ nhận xét qua sự thực hiện của lực lượng du kích. Nhìn chung, trong công tác tuyên truyền vận động quần chúng, anh em làm khá tốt. Chỉ trong thời gian ngắn, anh chị em đã tạo được những nơi đi lại để lấy tin tức, điều tra nắm tình hình. Dù ở nội thành, ở vùng tự do nơi đóng quân, được dân cưu mang, giúp đỡ, chan hoà không cách biệt và được dân bảo vệ. Trong trận giặc nhảy dù, quần chúng đến được làng Quan Nhân, lùng sục bắt lớn, vô tình chúng phát hiện máy chữ ở chuồng lợn, nhưng vì tham ăn chúng chỉ khiêng lợn gà đi. Bà chủ nhà ẩn nấp gần đó bèn vào lấy cất dấu chỗ khác, bên ngoài nơi cất giấu mới, bà vất ngổn ngang nhiều thứ cả bu gà. Sau này tôi hỏi vì sao bà làm thế, bà kể: để ngổn ngang như vậy làm giặc vướng chân, còn bu gà là vì chúng tham ăn. Khi cướp được cái ăn rồi thì không lục lọi nữa, lại còn sợ du kích nữa, nên phải rút nhanh.


4. Việc xây dựng cơ sở đưa người về nội thành

Từ sau tháng 6-1947 ta làm được nhiều hơn, đưa được nhiệu cán bộ đáng viên vào nội thành qua đường bí mật, qua cách hồi cư cùng gia đình. Trong số anh chị em này, có đồng chí bám trụ được lâu dài, thực hiện tốt công việc được giao, có đồng chí bị giặc bắt, đã một lòng kiên trung với Đảng với dân, không phản bội công khai. Những đồng chí này được Đảng chăm nom, được cơ sở nuôi dưỡng tin yêu, tiếp tục thăm nuôi ngay cả khi bị giặc bắt giam. Có đồng chí sau một thời gian hoạt động bị lộ, lại trở ra vùng kháng chiến tiếp tục hoạt động.


Ban chỉ huy Quận khi đó gồm 4 đồng chí: Lê Thanh Quang, Quận đội trưởng; Chu Văn Biên, Quận đội phó; Hồ Trúc, Chính trị viên; Lương Hoài Tấn, Chính trị viên phó.

Những ấn tượng sâu sắc về tình cảm đồng chí, đồng đội, những gương chiến đấu của nam nữ tự vệ, tấm lòng của nhân dân đối với cán bộ, chiến sĩ kháng chiến điển hình là những cán bộ chiến sĩ nhận nhiệm vụ không một chút đắn đo khi đi sâu vào vùng địch đổ nắm tình hình..., hay các trận chiến đấu ở Cự Đà, ở Hưng Giáo, Bối Khê, Trình Xá, Đỗ Động đánh bộ binh địch trong trận chúng nhảy dù ở cánh đồng Bồ Nâu - Tri Lễ; lòng dân đối với kháng chiến và bảo vệ tài sản (máy chữ của Quận đội) ở thôn Quan Nhân. Những hình ảnh ấy đã đi cùng tôi trọn cả cuộc đời chiến đấu, đã tạo cho tôi tiếp thu những lý luận được học sau này để nhận thức tình hình và xử lý trong công việc.

Ngày 10 tháng 3 năm 1992
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #59 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2021, 07:46:58 am »

MỘT VÀI KỶ NIỆM CHIẾN ĐẤU THỜI KỲ 1946-1948


Bùi Văn Phi (Vũ Tiến) *
Nguyên đại sứ VN tại Phillipin
Nguyên Chính trị viên kiêm Đại đội trướng Đại đội 3 - Quận V - Hà Nội


Tôi tham gia lực lượng Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu, đã cùng đơn vị chiến đấu bảo vệ Khu Đấu Xảo. Sau khi giặc Pháp đánh chiếm Đấu Xảo, tôi về văn phòng Khu ủy Hà Nội, gặp đồng chí Đỗ Trình và nhận làm nhiệm vụ phái viên quân sự. Khi Ủy ban Kháng chiến Liên khu III rút xuống Kim Lủ, đồng chí Đỗ Trình giao cho tôi nhiệm vụ xây dựng thêm một đại đội mới, có phiên hiệu Đại đội 3. Tôi là Đại đội trưởng, hai đồng chí Châu và Câu là Đại đội phó. Đại đội đóng quân ở đình làng Hữu Lê, Hữu Từ. Rồi sau đó, đội hình đóng quân của đại đội lần lượt ở Cự Đà, Khúc Thuỷ, Khê Tang, Bối Khê, Úc Lý và Cự Thần, Động Giã.


Về trận chiến đấu tháng 3-1947 ở Cự Đà, lực lượng Đại đội 3 được đánh hỗ trợ trong tình huống ngoài dự kiến như sau:

Trung đội Vũ Văn Sự thuộc Đại đội 2, vốn đóng quân ở Cự Đà đã lâu, được lệnh rút về Tri Lễ, Ước Lễ để nghỉ. Quận đội chỉ thị Đại đội 3 đưa một trung đội lên thế chỗ. Đúng vào hôm các tiểu đội của trung đội anh Sự vừa rút xong về phía sau, trung đội thay thế chưa kịp đến vị trí, thì địch tiến đánh Cự Đà. Trung đội bộ gồm anh Sự, Tự... phải tổ chức chiến đấu tại chỗ. Còn trung đội thay thế do anh Minh chỉ huy phải bố trí quân ở Khê Tang, tổ chức đánh hỗ trợ, thu hút một phần hoả lực địch. Anh Hồng thuộc trung đội này đã hy sinh ngay tại thửa ruộng làng Khê Tang (gần cuối làng Cự Đà), chúng tôi đã mai táng anh Hồng tại đó.


Về trận đánh quân nhảy dù ở Bồ Nâu tháng 6-1947.

Khi ấy, trong vùng địa bàn đóng quân của Quận V có hai đại đội. Đại đội 3, một nửa quân số đóng quân từ Bối Khê xuống Quan Nhân do anh Châu - Đại đội phó phụ trách; một nửa đóng quân từ Kim Lâm xuống Cự Thần, Đống Giã do tôi (Bùi Văn Phi) trực tiếp phụ trách, chỉ huy sở đặt tại nhà cụ Được ở thôn Động Giã (con trai cụ là Vũ Báo, đại tá không quân đã về hưu). Đại đội 2 của anh Ngọc già, có anh Phương là Đại đội phó kiêm Chính trị viên, đóng quân ở Tri Lễ, Ước Lễ, Từ Châu.


Ngoài ra, còn một Đại đội Vệ quốc quân do anh Mậu - bạn học của tôi, làm Đại đội trưởng, đóng quân ơ Khu Vác và Canh Hoạch.

Sáng sớm hôm đó (17-6-1947) thức giấc do báo động có tiếng máy bay. Ra sân quan sát thấy có hai máy bay bà già bay lượn trên bầu trời, tôi phán đoán có thể địch nhảy dù. Lập tức tôi cử một trinh sát lên Kim Lâm, Văn Quán bám sát, canh chừng địch theo đường 22 về phối hợp với quân nhảy dù, một mặt bố trí lực lượng chốt chặn ở Cự Thần, Động Giã. Đồng thời tổ chức, vận động dân làng sơ tán xuống Quế Sơn và phía dưới. Tôi cũng cử giao thông đưa thư sang cho anh Châu yêu cầu bố trí chặn đánh địch hướng từ Cự Đà, Khúc Thuỷ xuống, nếu địch mạnh, thì che dấu lực lượng tại chỗ, chờ khi địch rút, sẽ đánh tập hậu.


Sau khi máy bay bà già đi khỏi, tốp máy bay khác ào tới bắn phá các làng trong khu vực, rồi đến máy bay thả quân dù xuống cánh đồng Bồ Nâu. Cánh quân địch từ Cự Đà Khúc Thuỷ xuống, phối hợp được với bọn quân dù. Còn cánh quân địch đi theo đường 22 đến Cự Thần bị Đại đội 3 chặn lại, không vào được làng, quân ta bắn bị thương 6 tên địch ở cánh đồng Văn Quán xuống Cự Thần; cho đến chiều, địch phải rút. Bọn quân dù tập trung vây quét làng Bồ Nâu - nơi có cơ quan Quận đội và Quận ủy. Cán bộ ta không có ai bị thương, bị bắt.


Đêm đó, địch tập trung ở Bồ Nâu, cướp phá, đốt nhà dân.

Tôi cử hai tiểu đội đi từ Tri Lễ sang Bồ Nâu đánh quấy rối địch. Địch không bắn trả. Ta cũng không nắm được thiệt hại của địch.

Sáng hôm sau, khi địch rút từ Bồ Nâu sang Bối Khô (theo đường đê sông máng) về hướng Cự Đà, anh Châu cho quân đánh đuổi, địch bị thương một số và vứt bỏ lại một hòm súng cối.

Quân Đại đội 3 cũng đánh một số trận tập kích. Hai lần đánh úp nhà dép Con Nhân (gần Bạch Mai). Một lần đánh vào sân bay Bạch Mai, đốt phá hai máy bay của địch (báo Thủ đô có đưa tin). Trận này do anh Dư - Trung đội trưởng chỉ huy. Nhiều lần đánh vị trí Thạch Bích, nơi đây là làng Công giáo toàn tòng, giặc Pháp và bọn Công giáo phản động thường càn quét, cướp phá Khê Tang, Bối Khê, Bình Đà v.v...


Đến tháng 10-1947, tôi (Phi) được cử làm Trưởng ban nội thành Quận V, huấn luyện và tổ chức đưa cán bộ về Thành theo các tuyến, hoặc theo các gia đình hồi cư, về để xây dựng cơ sở ta trong lòng địch. Những cán bộ tôi trực tiếp bố trí đưa về chị Vóc, chị Cặp, cô Nguyệt, cô Mai (tức Nhị), cô Vân (Phượng) v.v... Các đồng chí hoạt động khá, cung cấp nhiều tin tức tốt.


Có đồng chí vào hoạt động một thời gian thì được kết nạp Đảng.

Từ tháng 3 năm 1948, tôi (Phi) được điều đi công tác khác (Tuyên huấn).

ĐOÀN HẢI ghi theo lời kể của đồng chí Bùi Văn Phi (Vũ Tiến)
Ngày 16 tháng 6 năm 1993.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM