Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 11:15:18 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đường về đất mẹ  (Đọc 10328 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #10 vào lúc: 24 Tháng Giêng, 2022, 07:55:51 am »

Đường 20 còn gọi là đường Quyết Thắng có chiều dài 125 cây số, khởi nguồn từ vĩ tuyến 17,6 độ bắc, khu vực Phong Nha, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, qua dốc U Bò, Cà Roòng, Ta Lê, nối sang đường 128 tại Lùm Bùm. Điểm "chọc thủng" Trường Sơn ở vĩ tuyến 17,2 độ bắc. Để có được dự án tổng thể của con đường này, từ đầu hè năm 1965, anh Phan Trọng Tuệ đã chủ trì một cuộc họp gồm đại diện Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tư lệnh 559, Bộ Tư lệnh Công binh, Ty Giao thông vận tải Quảng Bình. Sau cuộc họp đó, Bộ Tư lệnh 559 đã phối hợp với Ty Giao thông vận tải Quảng Bình cùng một đoàn cán bộ của Bộ Giao thông do anh Nam Hải - Viện trưởng Viện Kỹ thuật giao thông dẫn đầu vào tăng cường, tiến hành khảo sát cắm tuyến. Lực lượng thi công đường 20 - Quyết Thắng là Công trường 20.


Công trường 20 do anh Phan Trầm - chuyên viên của Bộ Giao thông vận tải làm Chỉ huy trưởng, anh Vũ Quang Bình - cán bộ Đoàn 559 làm Chính ủy. Lực lượng gồm Trung đoàn 4, Trung đoàn 10 công binh, 4 đội thanh niên xung phong thuộc các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Ninh Bình, Nam Hà và hơn một trăm cán bộ kỹ thuật của Bộ Giao thông vận tải. Công trường 20 có nhiệm vụ thi công 65 cây số từ điểm khởi đầu Phong Nha vào đến Ta Lê - đây là đoạn khó khăn nhất. Gần hai phần ba quãng đường này phải đi qua núi đá, với nhiều dốc đèo, mới nghe tên đã ghê người: Cù Mẹ, Cù Con, U Bò, đặc biệt là dốc Ba Thang, được coi là cái "chốt" khống chế tiến độ chung. Nhiều người khẳng định: hạ được dốc Ba Thang coi như thông đường 20. Trung đoàn 10 công binh thiện chiến, do anh Đinh Hào làm Trung đoàn trưởng và anh Hoàng Phú Túc làm Chính ủy, vinh dự được giao hạ dốc Ba Thang, chọc thủng Trường Sơn.


Ở phía tây, Công trường 128 do anh Nguyễn Lang - chuyên viên Bộ Giao thông vận tải làm Chỉ huy trưởng, anh Dương Văn Hòa làm Chính ủy, được tăng cường Trung đoàn 5 công binh, co nhiệm vụ mở đường từ Lùm Bùm ra giáp nối với Công trường 20 tại Ta Lê.


Đã gần 35 năm trôi qua, song sự kiện mờ đường Quyết Thắng vẫn hiển hiện trong tôi trọn vẹn là một kỷ niệm sống động, rất đỗi hào hùng.

Sáng mùng một Tết Bính Ngọ (tức ngày 21 tháng 1 năm 1966), lễ khởi công đường 20 được tiến hành tại Công trường 20. Anh Nguyễn Tường Lân - Phó tư lệnh Bộ Tư lệnh 559 phát lệnh nổ loạt bộc phá đầu tiên mở đầu chiến dịch "Chọc thủng Trường Sơn, mở đường thắng lợi". Bộ đội Trường Sơn cùng lực lượng giao thông vận tải Quảng Bình đón tết, đón xuân không phải bằng pháo tết mà bằng những phát đại pháo, với lượng nổ hàng trăm ký TNT. Sau lệnh khởi công là một cuộc thi đua ngấm ngầm nhưng hết sức quyết liệt giữa Công trường 20 và Công trường 128.


Có dịp xuống thị sát thực địa nắm tình hình tư tưởng, tổ chức của bộ đội, thanh niên xung phong ở Công trường 20, tôi đã được chứng kiến không khí lao động quên mình, quên ngày, quên tháng của anh chị em trên công trường này. Các đội thanh niên xung phong được bố trí thi công xen kẽ với bộ đội và được ưu ái dành những phần việc dễ dàng hơn, những quãng thuận lợi hơn. Vả lại bóng dáng những nữ thanh niên xung phong hiển hiện ở chính "cung đường lửa" này như chất men đời màu nhiệm, khơi gợi thêm nhiệt huyết của những người lính Trường Sơn vốn đã có sức cuốn hút, thuyết phục lòng người.


Ở công trường của Tiểu đoàn 3 - Trung đoàn 10 hạ dốc Ba Thang, tôi đã chứng kiến những người lính công binh ngất nghểu đứng trên đỉnh chiếc thang lênh khênh, dài bằng ba chiếc thang tre bình thường nối lại, cột mình hàng giờ vào sườn núi, đục đá để tra bộc phá. Hết tốp này đến tốp khác. Loạt này phát hỏa xong lại tiếp ngay loạt khác. Liên tục như vậy hàng nửa tháng trời, tiểu đoàn đã sử dụng gần một nghìn lượng bộc phá với hơn chín tấn thuốc nổ, hàng chục nghìn ngày công để hạ gục dốc Ba Thang. Tin vui này lập tức lan truyền làm nức lòng cán bộ, chiến sĩ trên toàn tuyến.


Sau gần hai tháng tập trung cao độ nhân lực, vật tư kỹ thuật, phương tiện thi công cho công trường, ngày 14 tháng 4, đường 20 - Quyết Thắng, con đường của ý chí, quyết tâm, được tạo dựng bởi tâm lực, mồ hôi, máu xương của những người lính Trường Sơn, của thanh niên xung phong, công nhân giao thông... đã hoàn thành về cơ bản. Ngày Bộ Tư lệnh tổ chức nghiệm thu để chính thức đưa vào sử dụng, chúng tôi đi dọc hơn một trăm cây số đường rừng khá kín đáo mà phong quang huyền diệu. Đường chạy dưới ba tán rừng già, gần như nguyên sinh. Nhưng, cũng thật đau lòng, hệt như trục đường 128 trước đây, chỉ qua một mùa vận chuyển, địch phát hiện được, là tất cả lại hoàn nguyên đất đá. Con đường kín đáo, huyền diệu kia lại quằn quại, phơi mình trơ trụi bởi hàng nghìn, hàng vạn tấn bom thù, bởi chất độc khai quang, bom na-pan...


Nghĩ đến đường 20 - Quyết Thắng, trong tôi lại trào lên nỗi xúc động khôn tả. Giờ đây, biết bao khách du lịch thập phương, trong và ngoài nước đến thăm động Phong Nha - một danh thang được xem như một kỳ quan thiên nhiên ban tặng, hẳn mấy ai nghĩ rằng, khởi nguồn ở đó, vào những tháng năm máu lửa đã có biết bao người lính Trường Sơn, nam nữ thanh niên xung phong đánh đổi máu xương, mồ hôi, đánh đổi yêu đương để làm nên đường 20 - Đường Hồ Chí Minh, cũng là một kỳ tích của nhân loại trong thế kỷ hai mươi.


Khai thông đường 20, ta có thểm một trục vượt khẩu. Cũng vào thời điểm này, Bộ Tư lệnh 559 quyết định giải thể hình thức tổ chức Tuyến; thành lập các binh trạm: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 8. So với kiểu tổ chức thành ba tuyến trước đây, từng binh trạm đảm trách một khu vực hẹp hơn. Cũng vì vậy mà công tác chỉ huy được trực tiếp hơn, khi mà phương tiện thông tin liên lạc còn hạn chế, nếu không nói là thiếu thốn. Chỉ huy binh trạm lúc này có các anh: Ngô Kỷ, Hồ Thắng (Binh trạm 1), Nguyễn Chúc (Binh trạm 2); Nguyễn Lang, Đặng Ba (Binh trạm 3); Thiết Cương, Phạm Thái (Binh trạm 4); Nguyễn An (Binh trạm 5); Lê Quang Dự, Lê Xy (Binh trạm 6); Nguyễn Chúc (Chúc già) và Nguyễn Danh (Binh trạm Cool.


Mặc dù cầu đường có được cải thiện và tổ chức toàn tuyến đã xốc lại một bước khá quan trọng, nhưng hoạt động vận chuyển vẫn ở thế bị động, khó khăn. Vấn đề mấu chốt là quan điểm đánh giá địch - ta chưa rõ ràng. Chỉ thấy mặt mạnh của địch mà chưa thấy được hạn chế thuộc về bản chất của không quân Mỹ. Ngược lại chỉ thấy mặt non kém mà không thấy mặt mạnh của ta là người làm chủ mặt đất. Từ đó mà chưa hoạch định được cụ thể thế trận vận chuyển. Khâu chỉ đạo chỉ huy còn hạn chế; thông tin liên lạc chưa đáp ứng yêu cầu chỉ huy tập trung, đồng bộ, kịp thời... Đường, cầu có bước cải thiện hơn trước, nhưng về cơ bản vẫn ở thế độc đạo, chất lượng xấu. Lực lượng cao xạ quá mỏng, chưa đủ chốt giữ bảo vệ trọng điểm. Phương tiện xe cộ quá cũ kỹ - không ít đầu xe đã từng phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ hơn 10 năm trước, lại phải hoạt động trên một chiến trường vô cùng khốc liệt, địa hình cực kỳ phức tạp, thời tiết chẳng chiều người...
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #11 vào lúc: 24 Tháng Giêng, 2022, 07:56:45 am »

Trong cái khó, cái yếu đa chiều như vậy, dù cho từ vị Tư lệnh đến những lính lái - "Chiến mã Trường Sởn" có dốc hết lực, nhưng phân nửa mùa khô qua đi mà các trọng điểm Mụ Giạ, Lùm Bùm, Văng Mu, Tha Mé, Thà Không, Bản Đông... vẫn bị địch khống chế, đánh tắc liên tục. Thiệt hại về xe và hàng không nhỏ. Khối lượng hàng toàn tuyến chuyển giao chiến trường chỉ đạt chừng 10 phần trăm kế hoạch. Cũng vì tập trung lực lượng, phương tiện vận chuyển chi viện cho chiến trường, nên lượng gạo bảo đảm cho nội bộ chẳng được bao lăm. Thật xót xa, khi hàng ngày, chúng tôi nhận tin báo về của các binh trạm, rằng bộ đội đói nghiêm trọng, gạo chỉ đủ nấu cháo mới chia được cho mỗi người một chút chất bột.


Trước tình thế khó khăn ngặt nghèo như vậy, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Đinh Đức Thiện, một mặt phái anh Hồng Kỳ vào trực tiếp tổ chức rút gạo từ hướng Tà Ngâu, Xiêm Pạng, Tà Xẻng, Chà Vằn về cứu đói cho bộ đội Khu 5, Tây Nguyên và các binh trạm tuyến cuối; mặt khác chỉ thị cho anh Đức Phương - ông chủ lớn, tổ chức mua hàng, hoặc bằng hình thức "đại ngạch", hoặc bằng "tiểu ngạch" ở Nam Lào và Cam-pu-chia, khoảng 10 nghìn tấn gạo, một tấn xăng dầu giao cho Đoàn 559.


Rồi dường như không thể yên lòng với cách "điều khiển từ xa", khi tình hình trên tuyến ngày càng thêm nóng bỏng, đầu tháng 3 năm 1966, với tư cách là Ủy viên thường trực Quân ủy Trung ương, đặc trách công tác hậu Cần, anh Đinh Đức Thiện đã cùng anh Phạm Ngọc Mậu - Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị trực tiếp vào Trường Sơn giúp Bộ Tư lệnh 559 tháo gỡ khó khăn.


Với tác phong của một cán bộ có tầm nhìn chiến lược, tác phong làm việc cụ thể, đầy quyêt đoán, sau khi nắm tổng thể tình hình, đặc biệt là thấu biêt những khó khăn của tuyến, anh Đinh Đức Thiện lệnh cho Bộ Tư lệnh 559 phối hợp cùng các cơ quan của Tổng cục Hậu cần điều chỉnh lại chỉ tiêu kế hoạch. Mục tiêu cốt yếu lúc này là bảo đảm bằng được nhu cầu thiết yếu về gạo cho các đơn vị hành quân qua tuyến, cho nội bộ Đoàn 559 và 500 tấn vũ khí cho Nam Bộ.


Anh Đinh Đức Thiện cũng chỉ thị cho Bộ Tư lệnh 559 khẩn trương hoàn chỉnh đường 20, thi công dứt điểm đường Tha Mé - Mường Noòng, đường Xê Tư (C4); đồng thời tập trung lực lượng phòng không, công binh chiến đấu tiêu diệt địch, bảo vệ vận chuyển...


Sau khi nắm tình hình qua tổng hợp báo cáo của Bộ Tư lệnh, anh Đinh Đức Thiện lần lượt trực tiếp làm việc với chỉ huy các binh trạm, từ đường 9 trở ra và các đơn vị xe, công binh, trạm giao liên khu vực vượt khẩu. Tận mắt chứng kiến cuộc chiến đấu cực kỳ quyết liệt, điều kiện sinh hoạt kham khổ, thiếu thốn của bộ đội, thanh niên xung phong, anh Thiện vô cùng xúc động. Anh chuyện trò rất thân tình, động viên, dặn dò những việc cần làm, và khảng định: Cha ông xưa dạy "Có thực mới vực được đạo", anh em mình bây giờ thì có gạo mới đào được đất, vật được bom!... Đến đơn vị nào, anh Thiện cũng có quà cho cán bộ, chiến sĩ. Khi thì mấy ký thuốc lào, vài ba tút thuốc lá "Trường Sơn", "Tam Đảo"; khi thì ít kẹo, vài ba cân chè... Tuy vậy, anh cũng phê phán kịch liệt tác phong làm việc tùy tiện, tắc trách của lãnh đạo, chỉ huy các cấp, đặc biệt là tư tưởng phòng tránh đơn thuần, bị động chờ đợi, thiếu tích cực chủ động khắc phục khó khăn. Anh nói: Cứ ngồi chờ khi nào thằng địch hết bom, hết đạn, đánh ít hoặc không đánh, mới hoạt động, thì nên nhớ rằng, chưa bị dính bom đạn địch, các ông đã chết đói...!


Buổi làm việc nào của anh Thiện với chỉ huy các đơn vị cũng khá gay gắt, căng thẳng,... Nhưng chúng tôi, cũng như chỉ huy các đơn vị, binh trạm... không vì thế mà buồn, phật ý. Hết thảy đều nhận thức rõ hơn về nhiệm vụ, về tương quan lực lượng; cái yếu, cái mạnh giữa ta và địch; để rồi tự nhắc mình phải quyết tâm hơn nữa. Bởi, cũng dần sáng tỏ một chân lý hết sức giản đơn là: Trước cuộc chiến đấu một mất, một còn này, không có cái gì là dễ dãi, giản đơn được và con đường đi tới chiến thắng không phải được rải bằng nhung lụa.


Khi còn công tác tại cơ quan Tổng cục Chính trị, đã đôi lần tôi được tiếp xúc với anh Đinh Đức Thiện, đã được nghe nhiều điều khá vui nhộn về vị tướng tài ba, khá nóng nảy này, nhưng đây là lần đầu tiên tôi chứng kiến phần nào cá tính mạnh của anh. Sau này tôi còn được tiếp xúc và làm việc với anh nhiêu lần. Phải nói rằng: nếu cán bộ cấp dưới năng lực yếu, bản lĩnh non nớt; trách nhiệm, nhiệt tình công tác hạn chế..., khi làm việc với anh Đinh Đức Thiện, dễ toát mồ hôi hột.


Anh Phạm Ngọc Mậu đi sâu tìm hiểu công tác tổ chức và tư tưởng của bộ đội. Với quan hệ gần gũi từ khi tôi được làm việc dưới quyền của anh ở Cục Tổ chức, anh tâm sự cùng tôi như một người anh:

- Cậu công tác ở Cục Tổ chức hàng chục năm, được học tập, bồi dưỡng nhiều, nay xuống chủ trì cơ quan tổ chức đơn vị có 12 Đảng bộ, là điều kiện thời cơ thuận lợi thể hiện được, phát huy được sở trường của mình, từ đó góp phần củng cố, nâng cao tính hiệu quả của ngành công tác đảng, công tác chính trị. Nhưng phải nhớ là không dừng lại ở những văn bản, chỉ thị có tính hướng dẫn, mà phải thật sự thực tế. Phải nhớ khâu xây dựng tổ chức Đảng từ cấp ủy đến chi bộ, đảng viên trong chiến đấu là điểm trước tiên làm cho sức mạnh lãnh đạo của Đảng luôn được đề cao ở các đơn vị. Hiện thời, số đảng viên ở các đơn vị còn thấp, chưa bảo đảm được tiểu đội có đảng viên, trung đội có tổ Đảng. Đây là hạn chế rất lớn, nhất là đối với những đơn vị xe, công binh - hai binh chủng này trong chiến đấu đòi hỏi tính độc lập cao. Còn về tư tưởng của bộ đội, giai đoạn này cũng rất khó khăn; vì kẻ địch tập trung đánh phá quyết liệt, ta đang quá trình củng cố lại tổ chức; hoạt động binh chủng còn mới mẻ, cán bộ chưa có kinh nghiệm tổ chức chỉ huy. Gặp những tổn thất có thể nói là thường nhật, có khi còn trầm trọng, bộ đội khó tránh khỏi dao động. Vì vậy công tác tư tưởng phải gắn liền với công tác tổ chức. Trước hết phải tạo cho được thắng lợi ở một vài trọng điểm, một vài đơn vị; từ đó tổ chức rút kinh nghiệm để nhân rộng ra toàn tuyến.


Anh Phạm Ngọc Mậu cũng nhắc nhở cơ quan chính trị chúng tôi phải thấy được cuộc chiến đấu vô cùng hào hùng, sự chịu đựng hy sinh, gian khổ vô bờ bến của bộ đội, nam nữ thanh niên xung phong trên những nẻo đường ra trận, từ đó phát hiện biểu dương, động viên kịp thời những nhân tố tích cực, những điển hình tiên tiến, chuẩn bị cho hội nghị thi đua toàn tuyên.


Đợt làm việc của phái đoàn các anh Đinh Đức Thiện, Phạm Ngọc Mậu đã tháo gỡ kịp thời một phần khó khăn bí bách, đồng thời giúp Bộ Tư lệnh 559 sáng tỏ thêm một số vấn đề có tính định hướng. Tuy vậy, cái khó lúc này là mùa mưa đang gõ cửa và kẻ thù lại gia tăng cường độ đánh phá - kế cả những trục đường đang độ phôi thai.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #12 vào lúc: 25 Tháng Giêng, 2022, 07:30:00 am »

Từ tháng 3 năm 1966, số máy bay địch hoạt động trên tuyến gấp ba lần so với những tháng đầu mùa khô 1965 - 1966. Ngoài trọng điểm là khu vực vượt khẩu từ đường số 9 trở ra, lúc này địch tập trung đánh phá địa bàn từ Thà Khống - Bản Đông vào Bạc. Khu vực đường số 9 - dốc Thơm - La Hạp bị hủy diệt trầm trọng.


Sang tháng 5, địch tăng cường đánh đêm; khống chế mạnh các trọng điểm Văng Mu, Cốc Mạc, Thà Khống, Sa Đi..., và bắt đầu đánh đường 20 - Quyết Thắng. Một hiểm họa lúc này là địch đã sử dụng máy bay chiến lược B-52 ném bom rải thảm ở Mụ Giạ, Tà Beng, La Hạp, ngã ba Sa Đi... Sau một vài tháng, ta nắm được quy luật hoạt động của thứ gọi là "Pháo đài bay" này, phòng tránh chủ động hơn; nhưng thoạt đầu chứng kiến những trận mưa bom rải thảm bất thần từ trên không chụp xuống, rồi cả triền rừng chao đảo ngả nghiêng, đường sá, núi đồi... bỗng chốc thành bình địa..., nhiều người không khỏi hoang mang, lo lắng.


Để hạn chế hoạt động đánh phá của không quân địch bảo vệ vận chuyển, từ tháng 3 năm 1966, lực lượng phòng không của tuyến được tăng cường cho các trọng điểm và pháo phòng không của ta đã đánh địch tích cực, hiệu quả hơn. Điển hình là trận đánh của Tiểu đoàn 16 pháo 37 ly, ngày 15 tháng 3 ở bản Na Hi, nam đèo Văng Mu. Đây là một trận đánh rất xuất sắc, kéo dài suốt 8 giờ, từ gần trưa tới chập tối. Tiểu đoàn 16 đã hạ 8 máy bay Mỹ.


Sang tháng 4, Tiểu đoàn 10 pháo phòng không cũng đánh thắng một trận giòn giã, bắn rơi 3 máy bay cường kích F105 của địch ở khu vực Ka Tốc...

Rất tiếc là những trận đánh xuất sắc như trên lúc này quá hiếm hoi, chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Do có đơn vị phòng không mới vào tuyến, chưa hiểu rõ địch, thiếu kinh nghiệm kết hợp tác chiến với nghi binh lừa địch lại bố trí đội hình không hợp lý, pháo 37 không "với tối" máy bay địch, cấu trúc công sự thiếu vững chắc, nên về sau nhiều trận chiến đấu hiệu suất kém, thậm chí còn tổn thất, thương vong.


Để gỡ một phần khó khăn cho Tuyến 559 và đáp ứng yêu cầu của chiến trường, ngay sau khi từ trong tuyến ra, anh Đinh Đức Thiện lệnh cho Cục Vận tải tổ chức hai đoàn xe chở 1.000 tấn đạn chạy thẳng từ Hà Nội vào Tà Xẻng, giao cho chiến trường Nam Bộ. Giao hàng xong lực lượng xe này sẽ ở lại tăng cường cho Bộ Tư lệnh 559. Đầu tháng 4, Đoàn 90 - đoàn xe thứ nhất gồm 100 xe Gát 63 do anh Nguyễn Văn Châu và anh Nguyễn Văn Nhuần chỉ huy, chở 200 tấn đạn vào Tà Xẻng. Sau khi giao hàng xong, Đoàn 90 thuộc biên chế của Binh trạm 8. Tiếp Đoàn 90 là Đoàn 100, gồm hơn 300 chiếc, do anh Trần Thăng Phúc và anh Nguyễn Ngọc chỉ huy xuất phát từ K800 - Nghĩa Đô - Hà Nội chở 600 tấn đạn vào giao cho Nam Bộ. Anh Đinh Đức Thiện gọi đoàn xe đặc biệt - Đoàn 100 là "Mũi tên xanh". Với "Mũi tên xanh", anh Thiện muốn làm một cú bất ngờ bắn trúng hai đích. Một lúc vừa chuyển giao khẩn cấp cho Nam Bộ một lượng lớn đạn, vừa tăng cường lực lượng vận tải cơ giới cho Tuyến 559. Khắc phục tình trạng "hụt hơi" cuối một mùa vận chuyển vô cùng khó khăn, căng thăng.


Bốn trăm chiếc xe chở đạn vào tuyến trong khi lương thực vốn đã thiếu trầm trọng, cộng với bộ đội hành quân vào chiến trường còn lại trên cung đường từ Bạc ra La Hạp chừng 11 nghìn người, làm cho tình hình thiếu đói thêm trầm trọng.


Ngày 10 tháng 4, theo chỉ thị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ Tư lệnh 559 quyết định cho Đoàn 90 và Đoàn 100 tạm thời dỡ đạn xuống, tập trung chuyển gạo cứu đói cho bộ đội. Có sống trong những thời điểm căng thẳng cùng cực như vậy, mới thấm thìa điều mà các tướng lĩnh từng trải trận mạc đúc kết: Trên chiến trường có lúc "Gạo là tư lệnh". Quả thật, lúc này không có gạo thì khoan bàn những chuyện đại sự khác.


Cái khó nảy sinh lúc này là hoạt động vận chuyển cơ giới được đẩy lên quy mô lớn hơn, thì công tác hiệp đồng chỉ huy chiến đấu chưa có kinh nghiệm càng bị động lúng túng. Bố trí xe chạy thẳng quá nhiều trong khi cầu đường cơ bản vẫn ở thế độc đạo, thường xuyên bị đánh với cường độ lớn... gây nên tình trạng ùn tắc nghiêm trọng. Và rồi như một hệ quả, tình trạng ùn tắc hỗn loạn rất dễ "làm mồi" cho đám "giặc trời". Chỉ trong hai tháng 3 và 4 năm 1966 toàn tuyến bị đánh cháy hơn 350 xe. Riêng Đoàn 100 của anh Thăng Phúc vừa "nhập cuộc" hơn một tháng đã cháy hơn tám chục xe...


Bảy tháng mùa khô 1966-1967 qua đi với bao khó khăn, thử thách quyết liệt trong trận đầu thực nghiệm vận chuyển cơ giới quy mô tập trung, toàn Tuyến 559 đã chuyển giao cho chiến trường hơn 14.500 tấn hàng, bảo đảm cho bộ đội hành quân qua tuyến và bảo đảm vật chất hậu cần, kỹ thuật cho nội bộ. Lượng hàng kể trên tăng gấp ba lần khối lượng hàng vận chuyển 5 năm bằng phương thức thô sơ trước đây. Điều đó khẳng định ưu thế tuyệt đối của phương thức vận chuyển cơ giới. Tuy vậy so với chỉ tiêu kế hoạch chỉ đạt 48 phần trăm. Đặc biệt, hàng giao chiến trường chỉ đạt 14 phần trăm. Tất cả những điều đó đặt Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Trường Sơn cùng những người lính Trường Sơn chúng tôi trước nhiều vấn đề phải tính trong thời gian tới.


Vậy là, thêm một mùa khô đi qua với bao toan lo, phấn khởi - dù niềm vui chỉ mới nhỏ nhoi, choán ngự tất cả đối với chúng tôi là tâm trạng nặng nợ với chiến trường và cả hậu phương.

Đầu tháng 5, khi những trận mưa dữ dằn đầu mùa trút xuống rừng tây Trường Sơn, Bộ Tư lệnh 559 nhận được điện của Đại tướng Bộ trưởng chuyển một phần lực lượng về hậu phương, chỉ để lại số người và phương tiện cần thiêt làm nhiệm vụ bảo đảm hành quân và chuyển đạn là mặt hàng thiết yếu đối với chiến trường. Theo đó, từ đầu tháng 5, một chiến dịch "lui quân" khá quy mô với hơn 12 nghìn người cùng nhiều xe máy, phương tiện kỹ thuật được triển khai. Cơ quan đoàn bộ chuyển về Bõ Trạch, Quảng Bình. Cũng tại nơi đây, sau khi cơ bản thu gọn đội hình ra Bắc, Bộ Tư lệnh 559 tiến hành hội nghị tổng kết hoạt động thi đua, bình chọn những tập thể, cá nhân tiêu biểu - những gương mặt sáng láng nhất của tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn đề nghị Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Nổi bật lên trong cả một tập thể rất đỗi anh hùng, chúng tôi thấy có: Tiểu đoàn 20 pháo cao xạ (Binh trạm 3), Tiểu đoàn 25 công binh (Binh trạm 1), Đại đội súng máy 12,7 ly (trực thuộc Bộ Tư lệnh), Đại đội 9 ô tô vận tải - Tiểu đoàn 102, Đại đội 1 bộ binh (trực thuộc) và các anh Trần Minh Khâm, Hoàng Văn Nghiên, Nguyễn Viết Sinh, Hà Văn Kẹp, Phan Hữu Thoan1 (Những tập thể, cá nhân kể trên được Quốc hội, Nhà nước tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang năm 1967)...
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #13 vào lúc: 25 Tháng Giêng, 2022, 07:31:26 am »

Mùa hè năm 1966, trên miền Bắc, đế quốc Mỹ leo nấc thang mới vô cùng nghiêm trọng; cho máy bay đánh mạnh một số vị trí nội - ngoại thành Hà Nội và Hải Phòng. Kho xăng Đức Giang - Gia Lâm - Hà Nội, kho xăng Thượng Lý - Hải Phòng trúng bom. Lửa chiến tranh bốc cao ngùn ngụt.


Ngày 17 tháng 7 năm 1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước: "Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn".


Lời của Bác là lời non nước, khích lệ, động viên quân và dân ta trên hai miền Nam - Bắc đoàn kết một lòng, vượt qua mọi hy sinh, gian khổ chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn. Cả miền Bắc sục sôi khí thế quyết tâm đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ và đẩy mạnh chi viện cho miền Nam - tất cả vì miền Nam ruột thịt.


Để có thể tăng nhanh quân và phương tiện vật chất cho chiến trường, để miền Bắc thực thi ngày càng đầy đủ hơn sứ mệnh của hậu phương lớn, đòi hỏi tuyên chi viện chiến lược Trường Sơn phải có một sự lột xác - nói đúng hơn là một sự đổi mới toàn diện.


Quả thật, đây không còn chỉ là công việc của những người lính Trường Sơn, mà là vấn đề quan tâm, lo lắng của Trung ương Đảng, Chính phủ, các bộ, các ngành. Đầu tháng 9 năm 1966, Thường trực Quân ủy Trung ương đã triệu tập hội nghị liên tịch, do Bí thư Quân ủy Trung ương Đại tướng, Bộ trướng Quốc phòng Võ Nguyên Giáp chủ trì. Dự họp có đại diện Tổng cục Hậu cần, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tư lệnh 559, Tổng cục Hậu cần tiền phương. Những chiến lược gia quân sự, các chuyên gia đầu ngành giao thông vận tải... cùng chụm đầu tìm giải pháp đưa vận tải cơ giới quy mô lớn vào Trường Sơn, giải quyết tình trạng ách tắc trì trệ hai mùa khô vừa qua.


Theo các anh lãnh đạo, chỉ huy Bộ Tư lệnh 559 truyền đạt lại, tôi được biết trong hội nghị này có hai luồng ý kiến trái ngược nhau khi đánh giá về thực trạng và nguyên nhân chưa thành công, thậm chí tổn thất lớn trong mùa khô đầu đưa vận tải cơ giới quy mô cấp trung đoàn vào Trường Sơn.


Luồng ý kiến thứ nhất cho rằng với địa hình Trường Sơn bị chia cắt mạnh, đường xấu, địch đánh phá quyết liệt, ta không thể tổ chức vận tải cơ giới quy mô lớn, nên trở lại áp dụng phương thức vận chuyển thô sơ - tuy chậm nhưng chắc. Luồng ý kiến thứ hai chiếm đại đa số, tựu trung là quan điểm của các anh Đinh Đức Thiện, Phan Trọng Tuệ, đại diện Tổng cục Hậu cần tiền phương, Đoàn 559. Là những người trực tiếp chỉ đạo hoạt động của Tuyến 559, bước đầu thấy được mặt mạnh và cả mặt yếu của ta và của đối phương, các anh cho rằng: Để đáp ứng được yêu cầu của chiến trường đánh to thắng lớn, phương thức vận chuyển chủ đạo duy nhất từ đó về sau phải là vận tải cơ giới, kết hợp từng nơi, từng lúc vận chuyển thô sơ. Vấn đề cơ bản là ta phải nghiêm khắc tìm ra cái yếu về tư tưởng, tổ chức của chúng ta. Các anh Đinh Đức Thiện, Đồng Sĩ Nguyên còn khẳng định: Quay về với phương thức gồng gánh, xe đạp thồ... thì thậm chí không nuôi nổi mình (nội bộ Đoàn 559) chứ đừng nói chi viện cho chiến trường!


Sau hai ngày nghe các đại biểu tranh luận sôi nổi, chân tình, thẳng thắn, đồng chí Bí thư Quân ủy Trung ương kết luận: Cục diện chiến tranh trên cả hai miền Nam - Bắc đã hoàn toàn khác trước. Mỹ tiến hành chiến lược "Chiến tranh cục bộ" ở miền Nam, đẩy chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta lên quy mô lớn, cường độ ngày càng ác liệt. Những khó khăn, tổn thất của Tuyến 559 vừa qua là khó tránh khỏi. Trước yêu cầu của chiến trường, các cơ quan Bộ Quốc phòng, Đoàn 559... phải tính đến mọi biện pháp tổng hợp, phát triển vận tải cơ giới đường bộ, đường sông là chủ yếu, đồng thời tùy từng lúc, từng nơi mà kết hợp vận tải thô sơ.


Trước những khó khăn nghiệt ngã từng nếm trải, quyết định của Quân ủy Trung ương thật sự là niềm khích lệ, động viên lớn lao, như thắp lửa trong mỗi con tim những người lính Trường Sơn chúng tôi. Bởi lẽ, dù có khó khăn, tổn thất trong mùa khô đầu thử nghiệm đưa vận tải quy mô lớn vào Trường Sơn, nhưng hầu hết cán bộ, chiến sĩ chúng tôi không hề có ý tưởng quay về với gồng gánh, gùi thồ... Có anh em bộc bạch một cách chân tình rằng: bàn cãi là việc của cấp trên. Có điều, kẻ thù hòng dùng bom đạn đưa chúng ta trở về thời kỳ đồ đá chẳng được. Cớ gì tự ta lại "chặt tay, chặt chân" chính mình!


Mấy tháng mùa mưa ào qua. Tháng 9 tới, toàn Đoàn chuẩn bị nhập tuyến, về tổ chức, biên chế, lúc này toàn tuyến bố trí thành 10 binh trạm, gồm 8 binh trạm trục dọc (1, 2, 3, 4, 5, 6, 8, 53) và 2 binh trạm trục ngang (7, 21). Nhưng, ngay sau đó, theo ý kiến của Bộ Tổng Tham mưu, phiên hiệu các binh trạm trục dọc thêm số 3 đứng trước, cụ thể là các binh trạm: 31, 32, 33, 34, 35, 36, Binh trạm 8 thành Binh trạm 37, Binh trạm 53. Binh trạm 7 trục ngang thành Binh trạm 42, Binh trạm 21 thành Binh trạm 44.


Cơ quan Bộ Tư lệnh được tăng cường một số cán bộ có năng lực, giàu kinh nghiệm, như anh Nguyễn An - Binh trạm trưởng Binh trạm 5 về làm Tham mưu trưởng vận chuyển. Anh Nguyễn Lang - Binh trạm trưởng Binh trạm 3 vê làm Tham mưu trưởng tác chiến. Anh Phạm Diêu làm Tham mưu trưởng công binh...


Ngoài củng cố biên chế tổ chức, chuẩn bị nguồn hàng, một công việc mà tôi thấy có ý nghĩa lớn, có tác dụng thiết thực nhất lúc này là Bộ Tư lệnh tiến hành hội nghị quân chính tại Cự Nẫm, Bố Trạch, Quảng Bình. Chỉ vẻn vẹn 2 ngày hội nghị mà có biết bao vấn đề cần giải quyết, cần thống nhất đối với đội ngũ cán bộ "đứng mũi chịu sào" từ Bộ Tư lệnh tới từng Binh trạm, Trung đoàn...


Điều đọng lại, chí ít theo tôi sau hội nghị này là đa phần cán bộ dự họp sáng tỏ hơn một số vấn đề còn băn khoăn, trăn trở. Ví như: Sức mạnh của Mỹ trong cuộc chiến ngăn chặn tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn không phải là không có giới hạn, xu thế phát triển tất yếu của tuyến là lấy phương thức vận chuyển cơ giơiliàm chủ đạo. Mọi hoạt động của tuyến phải đi theo, tuân theo xu thế đó. Những giải pháp để tổ chức vận chuyển cơ giới quy mô lớn có hiệu quả, chưa thế giải quyết "tắp lự", đồng bộ ở bàn hội nghị mà chính ở thực tiễn từng cung đường, từng trọng điểm trong mùa khô tới, trong năm tới...


Cũng tại hội nghị này, Đảng ủy Bộ Tư lệnh chính thức phát động phong trào thi đua "Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, phục vụ chiến trường đánh to thắng lớn". Từng binh chủng có tiêu chí phấn đấu cụ thể. Với lực lượng lái xe "gan vàng dạ ngọc" tiêu chí là thi đua giành danh hiệu "Dũng sĩ vạn tấn", "Dũng sĩ năm nghìn tấn", "Binh trạm vạn tấn"...


Hội nghị kết thúc. Cán bộ đơn vị, binh trạm hối hả ra về. Một mùa khô tới với bao vất vả, hy sinh đang chờ, nhưng cũng chính là một mùa khô có ý nghĩa sống còn đang chờ đợi. Những lời chúc đầy tin tưởng - những cái bắt tay thật chặt, thật ấm và bao ánh mắt tràn đầy tin tưởng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #14 vào lúc: 25 Tháng Giêng, 2022, 07:34:29 am »

Đầu tháng 11, khi những cơn gió heo may giao mùa quất ràn rạt những tán lá rừng xung quanh "Đại bản doanh" Bộ Tư lệnh 559; đường sá đã khô hanh, bộ đội xe chính thức nhập tuyến theo hai trục vượt khẩu: đường 12 và đường 20.


Mặc dù các đoàn xe được ngụy trang rất tốt, bảo đảm bí mật, nhưng cũng không thể "qua" được những cặp mắt xoi mói của kẻ địch trinh sát cả từ trên không, mặt đất. Đánh hơi thấy xe của ta nhập tuyến, may bay địch tập trung đánh chặn dọc các trục đường 12, 20, 128, 129. Cường độ đánh phá của địch ngay từ những ngày đầu đã vượt xa mùa khô trước. Nhưng, lúc này ở các trọng điểm Pác Pha Năng, Lùm Bùm, phà Tha Mé... đã có lực lượng điều chỉnh giao thông, công binh ứng cứu, khắc phục hậu quả đánh phá và lực lượng phòng không đánh địch. Đây là một nét mới trong chỉ huy chiến đấu hiệp đồng binh chủng. Vì vậy đội hình xe vượt khẩu an toàn, nhanh gọn. Chiến dịch nhập tuyến thắng lợi, tạo tiền đề cho một mùa vận chuyển nhiếu hứa hẹn tốt lành.


Sau hai tháng kể từ ngày lực lượng vận tải vượt khẩu; mọi hoạt động toàn tuyến dần dần đi vào quỹ dạo và thu được kết quả khả quan, vào đầu tháng 1 năm 1967, anh Đồng Sĩ Nguyên vào làm Tư lệnh Bộ Tư lệnh 559 thay anh Hoàng Văn Thái được bổ nhiệm Phó tư lệnh Mặt trận Trị - Thiên.


Với độ lùi thời gian sau hơn ba mươi năm và những gì đã trải nghiệm, nhiều cán bộ, chiến sĩ từng gắn bó, sinh tử với tuyến vận tải quân sự chiến lược Trường Sơn cho ràng việc trên đưa anh Nguyên vào Trường Sơn là một quyết định vô cùng quan trọng tạo bước ngoặt quyết định của tuyến, cách mạng là sự nghiệp quần chúng; nhưng vai trò của cá nhân nhiều khi cũng tạo nên cú "hích" dẫn tới bước nhảy vọt đột biến.


Năm đó, anh Nguyên mới ngoài tuổi bốn mươi, đã từng giữ chức Phó tổng tham mưu trưởng, Chính ủy Quân khu 4, Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần - Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần tiền phương (đặc trách địa bàn từ Nghệ An vào Vĩnh Linh); Tư lệnh kiêm Chính ủy Mặt trận 565 - Bộ đội tình nguyện Việt Nam ở Trung - Hạ Lào. Ngần ấy chức vụ, lại từng lăn lộn ở địa bàn eo thắt Khu 4 - nơi chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ diễn ra ác liệt nhất... đã giúp anh vào vai Tư lệnh Trường Sơn rất lẹ làng.


Sau vài ngày nắm tình hình chung, anh Nguyên đã cùng một số anh chủ trì cơ quan vận chuyển, thông tin, giao liên làm một chuyến thâm nhập xuống nắm tình hình Binh trạm 31, Binh trạm 32 - là những binh trạm cửa khẩu và một vài trọng điểm ác liệt nhất, như Văng Mu, Tha Mé, Cốc Mạc... Anh đề nghị với cán bộ cơ quan chúng tôi rằng: Hãy tìm lời giải cho bài toán hóc búa - đưa vận tải cơ giới quy mô lớn vào Trường Sơn, từ thực tế; cần khắc phục ngay tư tưởng thụ động, phòng tránh là chính.


Ấn tượng khá mạnh đối với chúng tôi lúc đó về anh Nguyên là hình ảnh vị Tư lệnh vóc dáng trẻ trung, vạm vỡ, đầu đội mũ sắt, vai khoác xắc cốt, thắt lưng đeo khẩu K59, chân dận ủng, bước phăng phăng, luôn dẫn đầu cả nhóm người xuống từng trọng điểm, bãi giấu xe, từng căn hầm của anh em công binh... Đêm xuống, anh lên buồng lái xe chở hàng, ngồi cạnh người lái xe, vừa trò chuyện tìm hiểu tâm tư người lính, vừa đếm từng chùm pháo sáng, quan sát vòng lượn của máy bay địch. Gặp các đoàn cán bộ, chiến sĩ hành quân qua tuyến, anh nhập vai, đón lấy ba lô ngươi lính, thử sức. Thế rồi, với nhãn quan của một chiến lược gia quân sự, với bề dày kinh nghiệm gạn lọc được từ nhũng năm tháng trận mạc cộng với những gì "mắt thấy, tai nghe" trên từng cung đường, từng trọng điểm, đã giúp anh cùng tập thể Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh sớm thống nhất một số vấn đề rất cơ bản.


Mấy ngày sau khi anh Nguyên khảo sát tuyến trở về, Thường vụ Đảng ủy có một cuộc họp quan trọng, nghe anh Nguyên báo cáo những kết luận bước đầu của anh, ở chừng mực nào đó, tập thể lãnh đạo chỉ huy tuyến trước đây đã ý thức được những vấn đề này, nhưng chưa tập hợp lại thành hệ thống, vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn.


Từ thực tiễn công tác ở tiền phương Tổng cục Hậu cần, và qua mấy ngày khảo sát thực địa, anh Nguyên khẳng định tinh thần chiến đấu kiên cường, nỗ lực lớn lao của bộ đội, thanh niên xung phong, công nhân... là thực tiễn sống động.


Tuy vậy, điều hạn chế, theo anh là không đánh giá đúng tương quan lực lượng, không đánh giá đúng cái mạnh, cái yếu của ta và địch trên Tuyến 559. Từ chỗ địch tập trung máy bay, bom đạn, bộ binh đánh phá ác liệt, liên tục; một số cán bộ, chiến sĩ ta chỉ thấy cái mạnh của địch mà không thấy hết mặt hạn chế của chúng; chỉ thấy khó khăn, hoặc nhấn mạnh điểm hạn chế mà không thấy mặt mạnh cơ bản của ta. Và hệ quả tất yếu là đánh giá địch quá cao, nảy sinh dao động, bị động phòng tránh, không mạnh dạn bứt ra khỏi lối làm ăn nhỏ lẻ, thô sơ, an toàn, nhưng hiệu quả chi viện thấp.


Anh Nguyên đã sớm khái quát: ở Trường Sơn, cùng lúc ta phải chiến đấu với hai kẻ thù nguy hiểm không kém cạnh nhau là Mỹ - ngụy và "giặc trời". Đối với "giặc trời" ta sẽ tìm hiểu nắm bắt quy luật và hạn chế sự nghiệt ngã của điều kiện tự nhiên. Còn với kẻ thù bằng xương bằng thịt, phải thấy địch rất mạnh, nhưng sức mạnh của chúng không phải không có giới hạn. Chúng không thể làm chủ hoàn toàn cả về thời gian và không gian trên tuyến. Ngược lại, người làm chủ ở mặt đất chính là chúng ta. Vấn đề cơ bản, quyết định hiệu quả của các hoạt động đánh địch, vận chuyển chi viện chiến trường là phải trang bị thêm về kiến thức, nghệ thuật quân sự, đặc biệt là tư tưởng tiến công. Vận dụng tư tưởng tiến công vào từng lực lượng binh chủng, từng thời điểm thật phù hợp, sáng tạo.


Tư tưởng tiến công đối với lực lượng phòng không là phải bố trí trận địa cao xạ bám đường, bám trọng điểm cần bảo vệ, lấy chốt bảo vệ trọng điểm là chính để đánh tiêu diệt, bảo vệ đội hình xe vận chuyển, đội hình tác nghiệp của công binh, bảo vệ cầu đường; đồng thời có lực lượng cơ động "quay nòng pháo theo bánh xe lăn".


Với bộ đội công binh, phải bám trọng điểm, bám đường, ứng cứu khắc phục phá hoại kịp thời, kết hợp bảo đảm giao thông vận chuyển với mở đường mới, dần dần phá hẳn thế độc đạo.

Toàn tuyến phải xem lực lượng vận tải ô tô là chủ lực quân để tổ chức hiệp đồng tác chiến binh chủng hợp thành. Xe phải chạy theo đội hình, có tổ chức chỉ huy. Có như vậy, bộ đội vận tải mới trút bỏ được nỗi ám ảnh "đơn thương độc mã", "lạnh lưng, hở sườn", mới hội đủ điều kiện để đương đầu và chiến thắng sự đánh phá, ngăn chặn của kẻ thù.


Không quân địch thường tập trung đánh vào trọng điểm nhằm tạo ưu thế, chặn đứng và gây tổn thất cho đội hình xe tiến công, chia cắt hệ thống giao thông. Vấn đề mấu chốt là phải tổ chức chiến đấu hiệp đồng binh chủng tại từng trọng điểm, đánh bật địch, bảo vệ đội hình xe, bảo vệ vận chuyển.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #15 vào lúc: 25 Tháng Giêng, 2022, 07:35:05 am »

Lần lượt, tư tưởng tiến công được anh Nguyên cụ thể hóa đối với bộ đội giao liên, thông tin, bộ binh tác chiến bảo vệ hành lang, lực lượng hậu cần bảo đảm... Các binh trạm phải trở thành một tổ chức chỉ huy chiến đấu của bộ đội hợp thành, biết nắm và vận dụng sáng tạo nghệ thuật quân sự vào đặc điểm chiến đấu trên tuyến vận tải quân sự chiến lược Trường Sơn; khắc phục cách làm cũ là chỉ biết vận tải đơn thuần. Bộ Tư lệnh 559 cũng phải thay đổi phong cách chỉ huy, chuyển hẳn sang chỉ huy chiến đấu hiệp đồng binh chủng, không dừng lại ở hình thức chỉ đạo. Để làm được điều đó, một trong những yếu tố quan trọng là xây dựng cho được mạng thông tin liên lạc đa phương tiện, thông suốt liên tục trực tiếp từ cơ quan đầu não - sở chỉ huy Bộ Tư lệnh đến các binh trạm, chí ít lúc đầu là các binh trạm từ Cổng Trời vào Bạc để nắm, chỉ huy trực tiếp một số trọng điểm ác liệt nhất, như Văng Mu, Cốc Mạc, ATP... sau đó phát triển ra toàn tuyến.


Một điều mà nhiêu người trong anh em chúng tôi được làm việc dưới sự chỉ đạo, giúp đỡ trực tiếp của anh Nguyên, đều thấy được ở anh nét kết hợp hài hòa giữa tố chất của một cán bộ quân sự tài ba với tư duy của một cán bộ chính trị giỏi - là một vị Tư lệnh làm công tác chính trị tư tưởng rất giỏi. Anh kết thúc phần thuyết trình đầy ấn tượng của mình rằng: Giải quyết được cơ bản những vấn đề trên hoàn toàn không đơn giản; không thể trong ngày một, ngày hai. Đặc biệt phải đi từ gốc của vấn đề là công tác chính trị tư tưởng, công tác con người. Phải tập trung làm chuyển biến cho được tư tưởng tiến công; khắc phục tư tưởng dao động, phòng tránh đơn thuần; tập trung xây dựng cho được một tập thể cán bộ chủ trì, ngoài mục tiêu, lý tưởng, ý chí quyết tâm cao, còn phải có tác phong công tác sâu sát, cụ thể; phải thực hiện được. 4 trực tiếp: trực tiếp giao nhiệm vụ - trực tiếp kiểm tra - trực tiếp xử lý công việc kịp thời, nhất là những nơi khó khăn, ác liệt nhất - trực tiếp hiệp đồng chỉ huy chiến đấu.


Rồi đúng như tính cách, tác phong của anh - nói là làm! Sau khi được Thường vụ Đảng ủy chấp thuận, anh Nguyên cho chuyển ngay sở chỉ huy Bộ Tư lệnh ra vị trí mới, gần các trục vận chuyển, gần trọng điểm, để tăng cường sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp. Anh trao đổi với chúng tôi rằng: Bộ Tư lệnh phải làm gương cho các binh trạm. Quả đúng vậy, liền sau đó, Binh trạm 31 rồi Binh trạm 32... điều chuyển sở chỉ huy binh trạm ra gần đường, gần trọng điểm. Thậm chí, anh còn chỉ thị cho Ban chỉ huy Binh trạm 32 - cụ thể là đồng chí Phó chính ủy binh trạm đào hầm cố thủ ngay đèo Cốc Mạc - một trọng điểm vô cùng ác liệt lúc đó, để chỉ huy bộ đội giải tỏa trọng điểm.


Thực hiện lệnh của Bộ Tư lệnh, cao xạ bố trí ngay đèo Cốc Mạc, công binh củng cố công sự, bám trọng điểm sẵn sàng cứu xe, cứu hàng, cứu đường; các đơn vị xe tập kết theo đội hình, tiếp cận trọng điểm, đợi lệnh...


Như thường lệ, máy bay địch kéo nhau tới khu vực đèo ném bom phá đường. Bất thần bị cao xạ quật "vỗ mặt", hoảng hốt quẳng bom bừa bãi và tháo chạy. Dứt tiếng bom, từ các công sự chữ A, công binh ào lên mặt đường, san lấp hố bom, khắc phục hậu quả địch đánh phá. Chiều xuống cũng là lúc đường thông. Những "Chiến mã Trường Sơn" được lệnh tung nước kiệu vượt trọng điểm trong niềm xúc động của những người lính công binh, thanh niên xung phong, những chiến sĩ phòng không, của Ban chỉ huy Binh trạm. Tinh thần quả cảm, tài trí, sức mạnh hiệp đồng của những người lính Trường Sơn đã chiến thắng đạn bom và mọi thủ đoạn thâm hiểm, tàn bạo của kẻ thù.


Kinh nghiệm chỉ huy tác chiến hiệp đồng binh chủng giữa công binh, phòng không, vận tải ô tô... giải tỏa đèo Cốc Mạc và một số trọng điểm khác trong điều kiện địch đánh phá ác liệt, được xem là mẫu mực và áp dụng trên toàn tuyến.


Cùng với thời gian, tinh thần cố gắng nỗ lực của các lực lượng trên tuyến, mọi hoạt động đi dần vào nền nếp. Tư tưởng tiến công từng bước được định hình trong ý chí, hành động của từng người lính. Địch đánh cứ đánh. Xe, người, hàng của ta vẫn ngày đêm qua tuyến vào chiến trường.


Tới cuối tháng 4, sau một đợt tổng công kích tăng đầu xe, chạy vượt cung, tăng chuyến, toàn tuyến đã hoàn thành vượt mức kế hoạch vận chuyển chi viện mùa khô 1966-1967. Quân và hàng giao cho chiến trường Nam Bộ đạt 120 phần trăm, Tây Nguyên đạt 98 phần trăm, Mặt trận Đường 9 - bắc Quảng Trị đạt 100 phần trăm; Trung - Hạ Lào đạt 227 phần trăm.


Khi vài trận mưa đầu hè rót xuống những cánh rừng, dẫu không quá say sưa với tấn, với tạ, với phần trăm này, phần trăm khác, nhưng kết quả kể trên đủ nói lên kế hoạch vận chuyển chi viện chiến trường của Tuyến 559 trong mùa khô này đã hoàn thành thắng lợi. Như vậy, sau hai mùa khô - kể từ ngày Trung đoàn ô tô 265 vào tuyến cuối năm 1964, chủ trương thực nghiệm vận chuyển cơ giới quy mô tập trung đã khẳng định được hiệu quả tuyệt đối. Thắng lợi của phương thức vận chuyển cơ giới đồng nghĩa với thắng lợi của tư tưởng tiến công, của trình độ tổ chức tác chiến hiệp đồng binh chủng... những điều phải đánh đổi biết bao tâm sức, xương máu của người lính Trường Sơn mới có được.


Từ thử nghiệm vận tải cơ giới tập trung chưa thành, tới khi thành công trên tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn, có biết bao điều được Đảng ủy, Bộ Tư lệnh, các binh chủng, cơ quan chuyên môn gạn lọc, khái quát thành kinh nghiệm. Riêng đối với đội ngũ cán bộ làm công tác đảng, công tác chính trị, tư tưởng, tổ chức như chúng tôi, vấn đề được đặt ra là phải trả lời được câu hỏi: Tại sao một vài năm trước, có một bộ phận cán bộ, chiến sĩ dao động, ngại ác liệt hy sinh, mà mùa khô này - mùa khô 1966-1967, đặc biệt từ đầu năm 1967, trong khi không quân Mỹ gia tăng cường độ đánh phá hủy diệt, mà những "tiêu cực kể trên" lại giảm đáng kể. Bằng trải nghiệm thực tiễn, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh 559 sơ bộ kết luận rằng: Chỉ có ngồi bên tay lái cùng lái xe vượt trọng điểm như Tư lệnh Đồng Sĩ Nguyên; cùng chiến sĩ công binh trụ lại trong hầm chữ A ngay giữa "tọa độ lửa", để dứt tiếng bom gầm là đội đất lao lên san lấp hố bom, hộ tống xe, cứu hàng... mới có thể lý giải được phần nào điều vô cùng lớn lao nhưng cũng hết sức bình thường đó. Trong cuộc chiến đấu cực kỳ quyết liệt, nơi "hòn đạn, mũi tên", ranh giới giữa sự sống và cái chết thường quá mỏng manh, và con người không phải là thánh thần. Điều cần thiết đối với công tác tư tưởng là giải thích để người lính hiểu để thắng được kẻ thù có tiềm lực lớn về kinh tế, quân sự, tàn bạo và vô cùng nham hiểm như đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, tất yếu chúng ta phải mất mát, hy sinh. Để hạn chế tổn thất, mọi người phải tự bảo vệ mình và bảo vệ lẫn nhau trong khi làm nhiệm vụ. Cùng với giáo dục, về tổ chức phải tạo được sức mạnh hiệp đồng chiến đấu, để người lính không cảm thấy đơn độc khi đối mặt với kẻ thù. Đặc biệt là chiến sĩ lái xe, họ sợ nhất là cảnh một mình một xe - "đơn thương độc mã" giữa chiến trận. Nếu lực lượng pháo phòng không bỏ rơi họ, không chiến đấu bảo vệ đội hình xe hành tiến; nếu công binh ở xa trọng điểm, xa đường, xe chạy không chỉ huy, không theo đội hình chiến thuật; ở các trọng điểm thiếu chỉ huy thống nhất; rồi các đội cứu kéo, các trạm quân y... cũng vắng bóng trên đường..., thì tư tưởng dao động dễ trỗi dậy trong chính những người lính lái xe bằng xương bằng thịt ấy. Nhụt chí, thiếu quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, tìm cố thoái thác nhiệm vụ là lẽ thường.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #16 vào lúc: 25 Tháng Giêng, 2022, 07:35:46 am »

Mùa mưa năm 1967, sau khi tập kết đội hình ra Bắc, Bộ Tư lệnh 559 đã có nhiều buổi làm việc báo cáo tình hình với Quân ủy Trung ương, Bộ Quôc phòng và các cơ quan trực thuộc Bộ. Sự kiện gây ấn tượng mạnh đối với tôi khi được cùng các anh Đồng Sĩ Nguyên, Vũ Xuân Chiêm làm việc với lãnh đạo Tổng cục Chính trị là - chính những điều hết sức cụ thể được Bộ Tư lệnh cùng những người lính Trường Sơn gạn lọc được từ thực tiễn chiến đấu thấm đẫm mồ hôi, máu, nước mắt - qua báo cáo của anh Vũ Xuân Chiêm, đã được các anh Song Hào, Lê Quang Đạo, Phạm Ngọc Mậu xem như những bài học rất sống, rất quý giá về công tác chính trị, công tác tư tưởng.


Cũng vào mùa mưa năm 1967, tại Hương Xuân, Hương Khê, Hà Tĩnh, Bộ Tư lệnh 559 tiến hành hội nghị Tổng kết hoạt động mùa khô 1966-1967. Vì địa điểm họp gần Hương Đô - nơi đặt đại bản doanh của Đoàn, nên nhiều người quen gọi là hội nghị Hương Đô. Cái khác của hội nghị này so với các hội nghị tổng kết trước đó, là ngoài nội dung tổng kết còn có tập huấn. Và, nhiều người trong số anh em chúng tôi có "thiện cảm", nhớ dai hội nghị Hương Đô, bởi chính nội dung tập huấn. Quả đúng vậy, qua mấy ngày tập huấn chúng tôi được trang bị thêm nhiều điều mới bổ ích về nghệ thuật quân sự được vận dụng vào tổ chức chỉ huy vận tải và đã thực hiện thắng lợi trên tuyến.


Những kinh nghiệm, những hoạt động thực tiễn được khái quát thành nghệ thuật quân sự với chúng tôi như chính những "cẩm nang" vô cùng quý giá. Nhưng, anh Nguyên và các anh trong Bộ Tư lệnh vẫn thường nhắc chúng tôi chớ tự bằng lòng với chính mình. Điều hẽt sức quan trọng là phải bám nắm đơn vị, bám sát thực địa.


Điều đó cũng hoàn toàn dễ hiểu. Cuộc chiến và tình thế ở Trường Sơn ngày ấy biến động chóng vánh khôn lường. Hiển hiện trong mắt chúng tôi một cánh rừng già vừa lợp dày mấy tán lá rậm rạp, thế mà sau một đợt bom B-52 rải thảm, sau một quầng chất độc khai quang đã trụi trần, khô khát; một đồng đội, tối hôm trước còn chia nhau nửa khói thuôc lào; nhưng rồi cũng chỉ chưa đầy nửa cung đường ngồi sau vành tay lái, đã vĩnh viễn nằm lại ở nơi bìa rừng không tên, máu xương hòa vào đất đá, cỏ cây... Ngẫm vậy, đồng thời học phong cách của anh Nguyên, anh An..., những năm tháng ở cương vị Trưởng phòng Tổ chức, tôi cùng các anh phó phòng Phạm Tể, Nguyễn Văn Lạn và anh em trợ lý luôn động viên nhau bám sát thực tiễn, làm tốt chức năng giúp Đảng ủy, giúp anh Chiêm theo dõi chỉ đạo công tác đảng, công tác chính trị, chăm lo xây dựng Đảng bộ, chỉ đạo hoạt động của các đơn vị thanh niên xung phong phối thuộc Bộ Tư lệnh 559.


Vào giai đoạn này, cơ cấu cũng như chất lượng tổ chức Đảng, đảng viên ở các đơn vị thường không đồng nhất. Do đó, cơ quan chính trị, đặc biệt là cơ quan tổ chức phải đi sâu đi sát thực tế nghiên cứu điều kiện, các trạng thái chiến đấu, công tác của các binh chủng lái xe, phòng không, công binh, giao liên, thông tin, kho, cơ quan và lực lượng thanh niên xung phong. Từ đó xác định nội dung, phương thức hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong từng lực lượng cho sát hợp với thực tiễn chiến trường 559, tránh tình trạng rập khuôn máy móc. Yêu cầu cao nhất lúc này là duy trì được sự lãnh đạo của tổ chức Đảng, chi bộ, cấp ủy khi đơn vị nhận và triển khai nhiệm vụ, hoặc lúc gặp khó khăn, ác liệt - thậm chí tổn thất trong chiến đấu. Trong những tình huống "lửa thử vàng" đó, phải nêu cao được tính tiền phong gương mẫu của người đảng viên, vai trò của cấp ủy, người bí thư Đảng.


Khi công việc yêu cầu hoặc khi điều kiện cho phép, tôi cùng anh em cơ quan bươn bả trên các nẻo đường, xuống từng binh trạm, từng đơn vị. Lúc thì theo dõi, nắm tình hình; khi truyền đạt nhiệm vụ, cùng chỉ huy đơn vị động viên bộ đội, giúp đơn vị tháo gỡ khó khăn... Những cung đường đạn bom, những năm tháng đó đã lắng lại trong tôi bao kỷ niệm vui, buồn. Ví như, vào đầu mùa khô 1966-1967, tôi được cử làm phái viên ở Binh trạm 32 và Binh trạm 33, nắm tình hình, đôn đốc việc khắc phục ách tắc ngầm Tha Mé, là một trong những trọng điểm vượt đường số 9.


Đã hơn ba mươi năm, nhưng tôi còn nhớ hôm chúng tôi xuống đơn vị. Hôm đó, thời tiết xấu. Trần mây thấp. Tranh thủ "thiên thời", chúng tôi tranh thủ chạy lấn chiều. Chừng 7 giờ tối, chiếc xe chở chúng tôi chạy lẫn trong đội hình xe chở hàng, chuẩn bị vượt ngầm Tha Mé. Ngồi trong xe, tôi nghe tiếng máy bay ào qua và ngay tức khắc một chùm pháo sáng bật treo lơ lửng đúng đỉnh đầu. Rừng đang chạng vạng vào đêm bỗng chốc bừng sáng lóa. Ngầm Tha Mé và cả đoàn xe phơi mình lồ lộ dưới ánh sáng moi móc của hàng chục chiếc pháo sáng. Như mãnh thú phát hiện được mồi, máy bay địch tập trung ném bom và bắn đạn 20 ly như vãi trấu. Trên xe, ngoài tôi còn có anh Hoàng Phú Túc - trước là Chính ủy Trung đoàn 10 công binh, vừa được điều về cơ quan chính trị Bộ Tư lệnh 559, giữ chức Viện trưởng Viện Kiểm sát, và mấy anh em cùng cơ quan.


Loạt bom này nổ chồng loạt bom khác. Những ánh chớp xanh loang loáng. Khói và lửa, đất đá, bùn nước. Đất trời như điên đảo, nghiêng ngả. Một chiếc xe chạy phía cuối đoàn trúng bom, bốc lửa. Một quả bom nổ rất gần, bứng cả tảng đá lớn tướng lên cao, rơi trúng anh Hoàng Phú Túc. Anh kêu to: Chết tôi rồi các anh ơi! Tôi ôm choàng lấy anh, sờ khắp người, không thấy ướt. Mừng quá, tôi bật cười và nói: Không chết được. Còn kêu được là còn sống. Anh Túc hoàn hồn, nói qua hơi thở: Đau quá! Tớ tướng như bị trời giáng! Chúng tôi cười lăn ra. Vậy là thoát chết!


Qua ngầm, chúng tôi cho xe nép tạm vào ven đường, rồi tất cả tức tốc quay lại đôn đốc, xi nhan giúp các xe phía sau nhanh vọt lên. Máy bay địch vẫn bu bám, quần lượn, vãi bom đạn xuống chỗ xe cháy, may mà chiến sĩ lái xe đã kịp lao ra khỏi xe. Những xe còn lại tắt đèn gầm, căn giữa hai hàng "tiêu" là những chiến sĩ công binh, thanh niên xung phong, vượt ngầm an toàn...


Sau này tôi và anh Hoàng Phú Túc còn nhiều lần cùng nhau đi thực địa. Mỗi lần qua ngầm Tha Mé, anh Túc không quên gợi lại kỷ niệm "Trời giáng" nhớ đời; để rồi đùa với nhau rằng: Giữa trọng điểm được xem như "tử địa" này, thì chết được cũng chẳng dễ chút nào. Nhưng, oái ăm thay, điều mà mũi tên hòn đạn của kẻ thù không làm được, thì không ít những người lính Trường Sơn, những người lính từ chiến trường trở về lại bị những căn bệnh quái ác cướp đi mạng sống, sự sống.


Chiến tranh kết thúc, anh Túc rời quân ngũ về nghỉ hưu tại quê nhà Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc. Rồi anh lâm bệnh nặng. Năm 1991, biết bệnh ung thư đã di căn nặng, anh có nhắn tôi và bè bạn ở Hà Nội lên thăm. Được tin, tôi đáp tàu lên ngay Vĩnh Yên, nhưng không kịp. Đứng trước nấm mồ, trước vong linh người đồng đội vĩnh viễn ra đi bởi căn bệnh quái ác; nghĩ tới bao người lính, bao nam nữ thanh niên xung phong cùng cảnh ngộ như anh, hoặc sinh con đẻ cái dị dạng tật nguyền... trong tôi trào dâng sự uất hận. Phải chăng chất độc màu da cam, chất độc khai quang... mà người Mỹ ném xuống những cánh rừng Trường Sơn ngày ấy là thủ phạm của những cái chết, những tật bệnh đau lòng này?
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #17 vào lúc: 25 Tháng Giêng, 2022, 07:36:29 am »

Cũng mùa khô 1966-1967, có lần tôi cùng một số anh em trong cơ quan xuống nắm tình hình vận chuyển dọc đường 20 Quyết Thắng, giải tỏa ATP. Đây là một tập đoàn trọng điểm trải dài chừng bảy cây số, gồm ba trọng điểm liên hoàn là cua chữ A, ngầm Ta Lê và đèo Phu La Nhích; nằm ở tây nam tỉnh Quáng Bình (Việt Nam) và đông nam tỉnh Khăm Muộn (Lào).


Cua chữ A là đoạn đường gấp khúc men quanh sườn núi; một bên là vách núi cao, một bên là vực thắm, dài gần ba cây số. Tiếp cua chữ A là ngầm qua sông Ta Lê có khẩu độ rộng chừng 100 mét, nước sâu và chảy xiết. Bên kia sông (phía nam) là đèo Phu La Nhích, quãng lên quanh co, gấp khúc dài chừng hai cây số, dốc 15 phần trăm. Qua đỉnh đèo, đường trườn sang triền tây Trường Sơn, chạy tiếp vào Ka Tốc, Lùm Bùm, giáp đường 128.


Nắm được vị thế "thiên hiểm" của ATP, Mỹ đã cho máy bay, kể cả máy bay B-52 đổ xuống đây một khối lượng bom đạn khổng lồ, hòng biến tất cả núi đồi, cây rừng nơi đây thành bình địa. Nhưng, trên tập đoàn trọng điểm này, ngày nối ngày, tháng qua tháng, năm liền năm, những người lính Trường Sơn cùng bao nam nữ thanh niên xung phong đã trụ bám kiên cường, giành giật với kẻ thù từng tấc đường, chuyẽn hàng; bất chấp hy sinh, không nề nguy hiểm.


Chiều hôm đó, khi đường rừng vừa choàng một màu hoàng hôn, im ắng, tôi cho xe xuất phát từ sở chỉ huy Binh trạm 32 đi nắm tình hình trên tuyến. Dọc đường có hai nữ thanh niên xung phong chặn xe, xin đi nhờ ra ngầm Ta Lê. Theo hai cô thì chiều đó, địch vừa đánh trọng điểm rất mạnh. Ngầm trúng bom. Đơn vị cô phải khắc phục, khẩn trương thông ngầm. Quả đúng vậy, tới giữa ngầm Ta Lê, xe chúng tôi bất ngờ rệ xuống một hố bom, bị lật nghiêng. Cả tám người không kịp ra khỏi xe, bị dồn xuống nước. Bỗng tiếng ai đó thét lên: Ôi! Chết tôi rồi. Hóa ra, anh Nguyễn Đình Ích - Trưởng phòng giúp bạn ngồi ở ghế dưới, bị cô thanh niên xung phong dẫm rồi đè lên đầu, sặc sụa trong nước. Cũng như sự kiện "Trời giáng" của anh Hoàng Phú Túc hôm nào, tôi bật cười và nói: Còn kêu to thế, làm sao mà chết được! Miệng nói, tôi cùng anh em túm lôi anh Ích và cô thanh niên xung phong lên. Cùng lúc, một đoàn xe chở hàng dàn đội hình vượt ngầm. Thấy xe chúng tôi sắp chìm nghỉm trong nước, còn người thì hết thảy ướt lướt thướt như chuột lội, nhưng vẫn đùa tếu, mấy tay lái xe ý chừng lão luyện, từng trải trọng điểm này, dừng xe quát lớn:

- Ô, các ông định đi chầu ông bà ông vải hay sao mà đứng đùa ở đó. Muốn sống thì...!

Dứt lời, người chiến sĩ đó tháo tời tròng vào đầu xe chúng tôi, nổ máy dắt xe chúng tôi qua ngầm. Bất thần, máy bay địch ập đến: Rồi pháo sáng treo từng chùm; từng loạt bom chụp xuống. Một loạt bom rơi đúng chỗ xe chúng tôi sa hố bom. Từng cột nước dựng cao hàng chục mét.


Chia tay người lính lái xe, tôi đọc được trong ánh mắt, trong cái bắt tay của anh niềm vui pha lẫn tâm trạng gần như là hài hước: Chỉ chút nữa thôi, các bố đã đi ngủ với giun rồi! Quả thực, ai biết được điều gì sẽ đến sau loạt bom dữ dằn vừa rồi, nếu như cả đám chúng tôi vẫn loay xoay với chiếc xe bên miệng hố bom giữa ngầm Ta Lê.


Thật cảm động xiết bao nghĩa tình đồng chí, đồng đội nơi "mũi tên hòn đạn", nơi mà những người lính chúng ta luôn sẵn sàng nhường nhau cọng rau, củ sắn và chia nhau cơn sốt rét rừng, chia nhau cái chết vì sự nghiệp chung. Trong cuộc chiến này, khi kẻ thù của chúng ta huy động mọi phương cách, mưu mô để hủy diệt sự sống của con đường mang tên Bác Hồ kính yêu, điển hình là các thủ đoạn chiến thuật "chẹt họng", "cắt cổ", "khoét đáy"...; khi mà biết bao nam thanh, nữ tú của đất Việt đã cống hiến tâm sức, máu xương, vĩnh viễn nằm lại với đại ngàn Trường Sơn, với những cung đường, con suối không tên... nếu như chúng ta thi vị hết thảy sẽ là tội lỗi; nhưng nếu như không có những ánh mắt tinh ranh, hóm hỉnh của chàng trai lái xe kia, không có những chuỗi cười nghiêng ngả rừng chiều nơi trọng điểm của đám nữ thanh niên xung phong, cũng khó lý giải hết nguyên cớ vì sao ta thắng địch... !


Theo đề nghị của Hội nghị tổng kết phong trào thi đua Quyết thắng toàn tuyến (tháng 5 năm 1966), năm 1967, đã có nhiều tập thể, cá nhân thuộc Bộ Tư lệnh 559 được Nhà nước tuyên dương danh hiệu cao quý: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; nhiều Dũng sĩ, Chiến sĩ Thi đua. Cùng với bộ đội, lực lượng thanh niên xung phong cũng đóng góp phần công lao to lớn. Và, những nẻo đường Trường Sơn cũng đã gắn bó máu thịt với những gương chiến đấu, hy sinh của những nam nữ thanh niên xung phong gây xúc động lòng người.    Từ năm 1965, gần như các địa phương trên miền Bắc đều có lực lượng thanh niên xung phong ở Trường Sơn. Tỉnh ít, một đại đội; tỉnh nhiều, tương đương tiểu đoàn. Để chỉ đạo các đội và giúp Trung ương Đoàn theo dõi hoạt động của thanh niên xung phong, lúc đầu, Trung ương Đoàn thành lập một ban Cán sự, gồm ba đồng chí: Tích, Tú và Thịnh (nữ). Các đội thanh niên xung phong được biên chế thuộc đội hình các công trường làm đường, chủ yếu là Công trường 20 và Công trường 128; một số được tăng cường cho các trạm giao liên, đơn vị kho. Từ năm 1967, thanh niên xung phong cơ bản được biên chế thuộc các đơn vị bộ đội, thành một lực lượng thống nhất. Duy nhất còn đội thanh niên xung phong 67 chuyển ra đứng chân bảo đảm giao thông ở địa bàn bắc Quảng Bình.


Cảm ơn đất nước, cảm ơn muôn lần những người mẹ trên đất Bắc tảo tần một nắng hai sương, lam lũ một đời, đã sản sinh và gửi những người con ưu tú vào chiến trường, vào Trường Sơn. Trong lửa đạn, gian nan khốc liệt, bộ đội, thanh niên xung phong, công nhân giao thông, văn nghệ sĩ, những nhà khoa học - đặc biệt là khoa học kỹ thuật quân sự... đã bện kết thành một tập thể "gang thép" anh hùng, chiến đấu kiên cường vì sự sống của con đường mang tên Bác Hồ, vì sự nghiệp chi viện chiến trường. Nhiều nam nữ thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến... đã để lại trong lòng những người lính Trường Sơn tình cảm tốt đẹp, lòng ngưỡng mộ...
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #18 vào lúc: 25 Tháng Giêng, 2022, 07:37:14 am »

Những năm 1966-1967 là quãng thời gian toàn tuyến phải chịu đựng khó khăn, thiếu thốn đủ bề. Giặc đánh, trời đánh - khí hậu nghiệt ngã của vùng rừng nhiệt đối cộng với thiếu đói... không ít người đã bị quật ngã bởi bệnh tật. Những cơn sốt rét ác tính đã cướp đi sự sống, tuổi xuân của biết bao đồng chí, đồng đội thân yêu của chúng tôi... Những lần xuống làm việc tại một số đội thanh niên xung phong, tôi có quen một nữ thanh niên xung phong tên là Thắm, quê vùng Kim Sơn - Phát Diệm - Ninh Bình, nơi tôi từng tham gia vận động đồng bào theo đạo Thiên Chúa chống địch cưỡng ép di cư vào Nam năm 1954. Khi vừa vào tuyến, cũng như bao thiếu nữ đồng chiêm cùng đội, Thắm là khuôn mẫu của "tuổi 17 bẻ gãy sừng trâu". Nhưng chỉ sau mấy trận sốt rét, trông cô thật ái ngại: Môi thâm tái, da vàng bủng, mái tóc chỉ còn lưa thưa mấy sợi. Dù không muốn xa chị em, khi chưa hoàn thành nhiệm vụ, nhưng do sức khỏe quá yếu, buộc lòng đơn vị phải gửi cô về hậu phương. Sau này, trong một lần tôi ra Bắc công tác; tình cờ được tin, Thắm đến thăm gia đình tôi. Lúc đó cô công tác tại cơ quan Tỉnh đoàn Ninh Bình. Nhìn cô khỏe mạnh, da dẻ hồng hào, tôi đùa: Bây giờ cô mới thật là Thắm. Nhắc lại chuyện bạn bè cùng trang lứa còn lặn lội trong tuyến, cô nói trong nước mắt: Em được trở lại hậu phương, cuộc sống dẫu còn khó khăn, nhưng cũng đầy đủ gấp nhiều lần hồi ở Trường Sơn. Nghĩ đến chị em trong đó, em không sao cầm lòng được.


Quả vậy, giờ đây khi chiến tranh đã thuộc về hồi ức, hồi niệm; nhưng đau thắt lòng vẫn là cảm giác trỗi dậy trong chúng tôi, mỗi khi bắt gặp, nghĩ về những thanh niên xung phong thời chống Mỹ chịu cảnh ôm đau, tật bệnh; những nữ thanh niên quá lứa lỡ thì, lẻ bóng cho tới khi bóng chiều đổ xuống cuộc đời.


Ở Trường Sơn ngày ấy, ngoài bom đạn, bộ đội còn phải chống chọi với tật bệnh. Điều kiện thiên nhiên nghiệt ngã ở vùng rừng nhiệt đối là môi trường lý tưởng của biết bao loại bệnh hiểm nghèo - điển hình là sốt rét, nếu điều kiện nuôi dưỡng khó khăn, thiếu thốn. Bởi vậy, khắc phục gian khổ, thiếu đói, bệnh tật, để hoàn thành nhiệm vụ cũng là một cuộc chiến không kém phần ác liệt so với cuộc chiến đấu với kẻ thù bằng xương bằng thịt.


Mùa mưa năm 1966, trong một lần xuống nắm tình hình ở Binh trạm 6 do anh Lê Quang Dự làm Binh trạm trưởng, anh Lê Xy làm Chính ủy, tôi chứng kiến gần như một trăm phần trăm quân số binh trạm bị sốt rét. Ban chỉ huy binh trạm cùng quân y ở đây đã vét cạn những viên quy-nin cuối cùng, quân nhu tập trung nuôi dưỡng, đồng thời cấp báo lên Bộ Tư lệnh 559. Nhưng vì binh trạm ở tuyến cuối, mưa lũ đang hồi cao điểm, vận chuyển vô cùng khó khăn. Gần hết mùa mưa, thuốc mới vào tới nơi. Thật đau lòng, đói thuốc, đói gạo, sốt hoành hành đã cướp đi của Binh trạm 6 gần năm chục cán bộ, chiến sĩ.


Nói đến thiếu đói ở Tuyến 559, hẳn nhiều người khó tin. Bởi lẽ, người đời vẫn nghĩ mấy ai "làm nghề săng chết bó chiếu"; sẵn gạo, lương khô, thuốc... chuyển qua tuyến, anh em trên đường dây ắt phải đầy đủ trước. Trong khi đó, nguyên tắc nhất quán của Bộ đội Trường Sơn là: Tất cả vì chiến trường, ưu tiên chiến trường, hàng của chiến trường quyết không tơ hào. Bởi vậy, không chỉ mùa mưa, mà lắm lúc trong mùa khô, từ cán chí quân chúng tôi cũng đói quay đói quắt.


Vào mùa mưa năm 1968, những khó khăn "hậu Mậu Thân" của ta đã bộc lộ trên các chiến trường với những mức độ, chiều cạnh khác nhau. Sau đợt 1 và đợt 2 ta tổng tiến công vào các đô thị, sào huyệt của Mỹ - ngụy, địch đã kịp hoàn hồn, dần dần củng cố lực lượng, vừa tăng cường phòng thủ đô thị, vừa tung quân đánh chiẽm lại các vùng nông thôn, vùng ven đã bị mất trong dịp tết.


Mất dần bàn đạp đứng chân ở vùng ven, vùng đồng bằng, nông thôn; một số đơn vị chủ lực của ta phải lùi lên vùng rừng núi; một bộ phận chủ lực ta ở Nam Bộ tạm sang đứng chân ở Đông Bắc Cam-pu-chia. Một số đơn vị chủ lực Khu 5, Trị - Thiên vượt sang tây Trường Sơn, đứng chân trên tuyến hành lang 559. Tuyến 559 lúc này ngoài nhiệm vụ vận chuyển chi viện chiến lược còn là hậu cứ trực tiếp của chiến trường Trị - Thiên, Tây Nguyên và Khu 5; là địa bàn để các chiến trường tập kết củng cố lực lượng, là nơi thu dung điều trị nuôi dưỡng thương, bệnh binh của các mặt trận.


Do dồn sức phục vụ Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, chiến dịch Đường 9 Khe Sanh - xuân hè 1968, lúc này lượng lương thực, thuốc quân y dự trữ trên Tuyến 559 rất mỏng. Tình hình căng như dây đàn. Bộ Tư lệnh 559 quyết định thử nghiệm tổ chức vận tải cơ giới trong mùa mưa, hy vọng khắc phục một phần khó khăn. Mặc dù chỉ chạy đội hình tiểu đoàn xe, về sau hạ xuống cấp đại đội, nhưng không kết quả, thậm chí còn tổn thất... Giặc đánh, trời đánh nên vận chuyển gần như tê liệt. Người dồn về trên tuyến. Lương thực, thuốc men đã thiếu lại càng thiếu hơn. Cảnh bộ đội, thanh niên xung phong chia nhau mỗi ngày chưa nổi lưng cơm, chia nhau từng củ sắn, nửa bát măng rừng... là phổ biến toàn tuyến. Những ai, ngày qua ngày ăn măng củ luộc trừ bữa, họa chăng mới thấm cái gọi là "đói quay đói quắt" của những người lính Trường Sơn mùa mưa Mậu Thân 1968.


Dù cho khó khăn - thậm chí là khó khăn nguy kịch, để có người vẫn ví là "hậu Mậu Thân", nhưng đòn tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt của quân và dân ta trên toàn miền mùa xuân này đã tạo được "một cú bom barder" - Lời của đồng chí Lê Duẩn - cố Tổng Bí thư Đảng ta1 (Đồng Sĩ Nguyên - Đường xuyên Trường Sơn - Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nôi. 1999. tr.108), làm suy sụp ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, đặc biệt là cuồng vọng hiếu chiến của những kẻ cầm đầu Nhà Trắng, tạo bước ngoặt có tính chiến lược, đặt nước Mỹ trên đà xuống dốc trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.


Với tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh, Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân - đặc biệt là chiến thắng Đường 9 - Khe Sanh xuân hè 1968 có ý nghĩa vô cùng to lớn. Giải phóng Khe Sanh - Hướng Hóa, ở địa bàn tây Quảng Trị, ta đã làm nên một "Điện Biên Phủ mới" ở miền Nam, nhổ được một vị trí trọng yếu - địch ví như "mỏ neo" chốt chặn Đường Hồ Chí Minh, tạo điều kiện cho tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn mở một chính diện mới, phát triển đồng đều hai cánh đông và tây Trường Sơn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #19 vào lúc: 01 Tháng Hai, 2022, 03:04:00 pm »

III. Ở HAI CỬA KHẨU - HAI BINH TRẠM "LỬA"

Sau một mùa hè vô cùng khó khăn, ác liệt trên Tuyến 559, một mùa hè mà nhiều người trong chúng tôi gọi là "Đội bom vượt lũ", vào đầu mùa khô 1968-1969 tôi được Bộ Tư lệnh bổ nhiệm làm Chính ủy Binh trạm 31 - là một trong hai binh trạm cửa khẩu phía bắc tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh.


Hôm tiễn tôi xuống binh trạm nhận nhiệm vụ, anh Nguyên, anh Chiêm vừa như nhắc lại những việc cần giải quyết ngay ở dưới đó, vừa như thân tình dặn dò: Mùa khô này, Binh trạm 31 và Binh trạm 32 phải chuẩn bị thật chu đáo để đối phó với âm mưu "bịt cửa khẩu" của địch. Mỹ đã xuống thang, ngừng đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra; suốt mấy tháng nay, chúng tập trung "cắt" vùng "cán xoong" Khu 4. Chỉ chờ ta nhập tuyến là chúng lại hủy diệt cửa khẩu phía bắc. Hai binh trạm ở khu vực vượt khẩu sẽ là trọng tâm đánh phá của chúng...


Tôi trả lời khá tự tin: Các anh yên tâm, là cán bộ cơ quan chính trị, nhưng tôi cũng trưởng thành từ đơn vị chiến đấu, lại gần 4 năm ở Trường Sơn; những kinh nghiệm mà Bộ Tư lệnh 559 đúc kết bước đầu từ mấy mùa khô triển khai nhiệm vụ - cả thành công và chưa thành... là cẩm nang đối với tôi. Vả lại, lãnh đạo, chỉ huy Binh trạm 31 dưới đó là một tập thể mạnh, nhiều kinh nghiệm thực tiễn.


Vào thời điểm này toàn tuyến mới có hai binh trạm cửa khẩu phía bắc tổ chức vận tải cơ giới là Binh trạm 31 và Binh trạm 32. Đến cuối năm 1969, có thêm Binh trạm 9 phụ trách khu vực Pha Băng Nưa, và sang năm 1970, ta mở thêm trục vượt khẩu đường 16 do Binh trạm 27 đảm trách.


Đón tôi tại sở chỉ huy binh trạm (khu vực Mụ Giạ-050) có anh Nguyễn Thăng Phúc - Binh trạm trưởng, anh Vũ Văn Trịnh - Binh trạm phó phụ trách tác chiến, anh Nguyễn Đức Lợi - Binh trạm phó phụ trách cầu đường, anh Trương Hữu Thanh - Binh trạm phó phụ trách vận chuyển. Hai anh Phan Biên, Nguyễn Văn Mịch là Phó chính ủy, anh Lê Văn Tưởng là Chủ nhiệm chính trị. Sau khi tôi xuống chừng một tháng, anh Đặng Ba được điều về thay anh Nguyễn Thăng Phúc; và kế đó, anh Hải Trình được tăng cường làm Binh trạm phó phụ trách tác chiến.


Địa bàn từ cửa khẩu vào đường số 9, sau khi Bộ Tư lệnh 559 thay hình thức tổ chức theo tuyến bằng các binh trạm, do Binh trạm 1 phụ trách. Nhưng rồi, do tính chất trọng yếu và khốc liệt của địa bàn vượt khẩu, nên từ mùa khô 1967-1968 do hai binh trạm (1 và 2) phụ trách. Khi chuyển đổi phiên hiệu là Binh trạm 31 và Binh trạm 32.


Binh trạm 31 phụ trách từ Mụ Giạ - Cổng Trời (cửa khẩu đường 12) vào tới Lùm Bùm (đường 128) và đường 12 từ Lằng Khăng vào Xóm Péng, đường 129 từ Ca Vát đi Na Phi Lăng. Trẽn các trục đường đó có biết bao địa danh đã trở thành "tọa độ lửa", "cửa tử", như Cổng Trời - Mụ Giạ, ngầm Na Tông, ngầm Tha Pa Chôn trên sông Pác Pha Năng, ngã ba Xóm Péng... và đặc biệt là Seng Phan.


Binh trạm 31 thành lập đã được 2 năm. Qua hai mùa vận chuyển, phục vụ vận chuyển, Binh trạm đã bước đầu xây dựng được thế trận và cơ sở của một binh trạm vận tải cơ giới. Tuy vậy, lường định trước những khó khăn, khốc liệt của mùa khô tới, ngay sau khi "nhập cuộc", tôi cùng các anh trong Ban chỉ huy binh trạm rảo một vòng từ đầu đến cuối địa bàn đơn vị phụ trách, nghiên cứu thực địa, hoàn chỉnh thế trận mới, bao gồm: dự đoán các trọng điểm ác liệt nhất, xác định khu kho, bãi trú đậu xe, bãi khách, trận địa pháo phòng không, súng máy cao xạ, trận địa của công binh, bộ binh, địa điểm đặt trạm chỉ huy giao thông, trạm cấp cứu, và dự kiến sở chỉ huy của binh trạm cho từng phương án tác chiến.


Chuyến thị sát này đã để lại trong tôi một kỷ niệm nhỏ nhưng đặc biệt thú vị. Vốn tính không ưa ồn ào, và cũng để kiểm tra thật sự hoạt động chiến đấu của bộ đội, tôi đề nghị Ban chỉ huy binh trạm không báo trước cho các đơn vị. Đến một đơn vị của Tiểu đoàn xe 101, sau một chặng đường rừng khá dài, lại sục vào kiểm tra một vài đơn vị, nên mấy anh em thấm mệt và đói! Vừa xuống xe, một đồng chí trong đoàn thân tình nói với chỉ huy đơn vị: Có gì cho chúng tớ lót dạ chút đỉnh, làm việc sau. Thật thà, bỗ bã như lính xế - quả đúng vậy, "chủ nhà" vui vẻ: Quá bữa rồi, còn cơm nguội đâu đó, các ông bảo cấp dưỡng lấy ăn tạm! Khi biết đây là đoàn do Chính ủy mới của binh trạm dẫn đầu, kiểm tra thực địa, chỉ huy đơn vị cứ lúng túng, xuýt xoa, xin lỗi mãi. Với tôi thì ngược lại: Không sao cả, mình vui vì lính xế còn cơm nguội, có nghĩa là lính ta "dư dật", không đói, vả lại, tướng sĩ ngày xưa - cái ngày phong kiến - mọi chuẩn mực quan hệ "khuôn vàng thước ngọc", còn "Hòa nước sông chén rượu ngọt ngào" - huống chi nay là Bộ đội Cụ Hồ.


Thời gian trôi, kỷ niệm luôn sống trong hồi niệm. Sau này không dưới mấy lần, anh em Binh trạm 31, Tiểu đoàn xe 101 thuở ấy, gặp lại tôi, thường nhắc chuyện này. Chỉ có những người lính từng lăn lộn nơi "mũi tên, hòn đạn", từng sẻ chia cái chết, nhường nhau sự sống, mới nâng niu những kỷ niệm thấm đẫm tình người như vậy.


Lực lượng công binh của Binh trạm 31 vào đầu mùa khô này gồm hai tiểu đoàn. Tiểu đoàn 25 công binh thiện chiến, vào tuyến từ năm 1963 - đơn vị Anh hùng (anh Nguyễn Bửu Ký làm Tiểu đoàn trưởng, anh Nguyễn Văn Phiên làm Chính trị viên, các anh Tô Duy Toan và Nguyễn Ngọc Trữ là Tiểu đoàn phó), được "chọn mặt gửi vàng" bảo đảm giao thông từ Cổng Trời vào ngã ba Xóm Péng. Tiểu đoàn 27 công binh thiện chiến (anh Chu Thế Kỳ làm Tiểu đoàn trưởng, anh Tống Duy Sự làm Chính trị viên) đảm bảo giao thông một nhánh đường 128 từ ngã ba Xóm Péng vào Lùm Bùm và đường 129 vào kho K3 thuộc Binh trạm 32. Vào cao điểm mùa khô, khi địch tập trung đánh phá ác liệt nhất, Binh trạm 31 được tăng cường Trung đoàn 83 công binh và Tiểu đoàn 2 công binh từ Binh trạm 12 vào.


Lực lượng phòng không thuộc binh trạm có Tiểu đoàn 14 pháo cao xạ 37 ly, chiến đấu bảo vệ giao thông từ ngầm Tha Pa Chôn vào Xóm Péng và hết địa phận Binh trạm 31. Phía bắc, ra đến Cổng Trời, do Tiểu đoàn 6 pháo 37 ly đảm trách. Từ tháng 11 năm 1968, Trung đoàn 84 pháo cao xạ thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân vào tuyến, chiến đấu trên đường 12 từ Cổng Trời vào tới bắc Seng Phan. Để bảo vệ đội hình xe cơ động trên đường 12b, chúng tôi bố trí một tiểu đoàn pháo cơ động, thực hiện "quay nòng pháo theo bánh xe lăn". Ngoài ra, mỗi tiểu đoàn công binh có ba tiểu đội súng máy 12,7 ly và 14,5 ly. Các tiểu đội này được bố trí tại địa bàn công binh tác nghiệp. Riêng tiểu đội súng máy của Tiểu đoàn 25 được bố trí ngay trên đỉnh núi đá trọng điểm Seng Phan. Một phần lực lượng súng máy phòng không của các tiểu đoàn còn cơ động theo đội hình xe, sẵn sàng đánh máy bay địch dọc đường vận chuyển.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM