Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 09:35:51 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đường về đất mẹ  (Đọc 10322 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #20 vào lúc: 01 Tháng Hai, 2022, 03:04:40 pm »

Lực lượng vận tải trong biên chế của binh trạm có hai tiểu đoàn ô tô - Tiểu đoàn 101 và Tiểu đoàn 53. Đầu mùa khô, do tuyến trong chưa có hàng, chúng tôi được tăng cường tạm thời Tiểu đoàn ô tô 55 của Binh trạm 42, tập trung tạo chân hàng cho Binh trạm 32. Tiếp đó, vào trung tuần tháng 11, được tăng cường Tiểu đoàn ô tô 990.


Trong điều kiện địch đánh phá ngăn chặn quyết liệt, không thể tổ chức vận chuyển cung dài, chúng tôi bố trí thành ba cụm kho: một ở 050, một ở nam Seng Phan (K49) và một ở ngã ba Xóm Péng, mỗi cụm tương đương một tiểu đoàn. Đường giao liên bộ qua binh trạm do một tiểu đoàn phụ trách, rải thành năm trạm, có nhiệm vụ tổ chức đưa đón bộ đội, cán bộ qua tuyến và thương binh từ chiến trường ra.


Vào cuối năm 1968 - đầu năm 1969, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh quyết định kéo dài tuyến đường ống dẫn xăng dầu quốc gia từ hậu phương miền Bắc vào chiến trường dọc theo Tuyến 559. Binh trạm 31 được giao nhiệm vụ xây dựng đường ống từ Cổng Trời vào Xóm Péng. Tiểu đoàn 668 bộ đội xăng dầu, do đồng chí Nguyễn Văn Sỏi làm Tiểu đoàn trưởng được tăng cường cho Binh trạm 31 là lực lượng chủ công thực thi nhiệm vụ này. Đây cũng là tiểu đoàn bộ đội xăng dầu đầu tiên thuộc Cục Xăng dầu - Tổng cục Hậu cần, vào Trường Sơn.


Như vậy, lực lượng lúc cao nhất - kể cả biên chế và tăng cường, của Binh trạm 31 vào mùa khô 1968-1969 lên tới hàng chục nghìn quân, gồm bốn tiểu đoàn ô tô vận tải; một trung đoàn, bốn tiểu đoàn công binh, một trung đoàn và hai tiểu đoàn pháo phòng không, ba tiểu đoàn kho, một tiểu đoàn giao liên, một tiểu đoàn bộ đội xăng dầu, hai đại đội thông tin, một đại đội bộ binh, bốn trạm phẫu thuật, bốn đội công tác giúp bạn Lào. Quả là một lực lượng hùng hậu với đầy đủ binh chủng, mà trước đó mô hình một binh trạm chưa bao giờ có được!


Để chuẩn bị cho mùa khô này, từ đầu tháng 9 đến cuối tháng 10, theo kế hoạch chung Ban chỉ huy binh trạm tập trung chỉ đạo bộ phận ở lại tuyến và lực lượng công binh, kho, giao liên, thông tin... vào sớm, dồn sức khắc phục hậu quả đánh phá của không quân địch và sự hủy hoại của mưa lũ suốt mấy tháng hè; mở thêm đường mới, ưu tiên phương tiện, lực lượng giải quyết những trục có tầm quan trọng đặc biệt đối với chiến thuật vận tải. Điển hình là hệ thống đường vượt khẩu 12A, 12B dài gẫn một trăm cây số, đường tránh Pác Pha Năng dài gần 40 cây số.


Thế trận cầu đường được chuẩn bị khá chu đáo sẵn sàng đón lực lượng vận tải cơ giới nhập tuyến, thì giữa tháng 10, cơn bão số 8 bất thần ập vào. Gió lớn, mưa to gây ngập úng khu kho 050. Hàng nghìn tấn hàng dự trữ ngập nước. Binh trạm phải huy động khẩn cấp lực lượng công binh, cao xạ, cán bộ và nhân viên cơ quan tập trung chống lũ, cứu hàng.


Bão tan, mưa tạnh, đường khô. Lực lượng vận tải nhập tuyến, mở màn chiến dịch vận chuyển mùa khô 1968-1969.

Triệt để tận dụng yếu tố bất ngờ, những chuyến hàng đầu tiên, chúng tôi tổ chức cho Tiểu đoàn 101 và Tiểu đoàn ô tô 53 chạy đội hình tập trung từ 50 đến 100 xe; lấy hàng từ tổng kho 050 chuyển thẳng vào các kho thuộc Binh trạm 32. Tuy nhiên, thời gian đầu mùa khô, mức nước trên các sông suối còn cao. Xe vượt sông phải dùng phà, nên xe vào phía trong còn chậm; lượng xe vào cũng chưa được nhiều, không liên tục. Trong khi ùn tắc ở các bến vượt do thời tiết chưa khắc phục được, thì hoạt động đánh phá của không quân địch ngày càng ráo riết, cường độ đánh phá của chúng ngày một ác liệt hơn.


Ngày 1 tháng 11 năm 1968, tổng thống Mỹ Giôn-xơn tuyên bố chấm dứt ném bom, bắn phá miền Bắc, chấp nhận hòa đàm bốn bên ở Pa-ri, thủ đô nước Cộng hòa Pháp. Quyết định này mặc nhiên công khai thừa nhận sự phá sản của chiến lược "Chiến tranh cục bộ" và chiến tranh phá hoại miền Bắc. Tiếp tục theo đuổi mục đích xâm lược, thôn tính nước ta, ở miền Nam, Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" - một chiến lược mới mà nhiều chiến lược gia Tây phương cho rằng chỉ là "Thay đổi màu da trên xác chết". Còn giới chức cầm đầu Nhà Trắng lại cho rằng: điều kiện tiên quyết bảo đảm cho chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" thành công là chặn cắt bằng được tuyến chi viện hậu cần chiến lược của ta - vô hiệu hóa hoạt động vận chuyển tiếp tế trên Đường Hồ Chí Minh.


Để đạt được ảo vọng đó, ngay sau khi ngừng ném bom miền Bắc, Mỹ đã huy động tổng lực không quân đánh phá Tuyến 559. Cửa khẩu Seng Phan (đường 128) và cửa khẩu tập đoàn trọng điểm ATP (đường 20) lại là nơi "thử lửa" ác liệt nhất.


Đánh vào ATP và Seng Phan, địch đã chọn đúng "huyệt" của Tuyến 559. Bởi vì lúc này, mọi nguồn hàng từ hậu phương miền Bắc, nếu theo đường bộ phải qua hai cửa khẩu này mới vào được chiến trường. Mặt khác, với địa hình phức tạp, hiểm trở như Seng Phan và ATP, nếu địch tập trung đánh mạnh, liên tục thì đường tắc là không tránh khỏi, việc khắc phục cũng vô cùng khó khăn.


Seng Phan thuộc địa phận tỉnh Khăm Muộn, cách biên giới Việt - Lào khoảng 15 cây số. Toàn bộ trọng điểm nằm trên trục đường men theo sông Pha Nôp, kẹp giữa hai dãy núi đá. Địa thế nơi đây khá hiểm trở, bất lợi cho việc tập kết quân và sử dụng máy húc để khắc phục kịp thời hậu quả địch đánh phá. Do vậy, kẻ địch đánh trúng đường, thường gây ách tắc kéo dài.


Trước đây Seng Phan chưa là trọng điểm đánh phá của địch. Nhưng ý thức được địa thế của nó, Bộ Tư lệnh 559 và Ban chỉ huy Binh trạm 31 đều cho rằng sớm muộn, Seng Phan sẽ nằm trong "tầm ngắm" của không quân Mỹ. Theo đó, để chuẩn bị cho hoạt động mùa khô 1968-1969, từ Na Tông đến Pác Pha Năng, Binh trạm 31 đã cho mở hai đường ô tô bám theo sông Pha Nốp.


Ngày 4 tháng 11 năm 1968, Mỹ tập trung máy bay cường kích và hàng chục lần chiếc B-52 ném bom hòng hủy diệt Seng Phan trên một địa bàn dài 2 cây số, rộng chừng 200 mét. Cường độ đánh phá ngày càng tăng và duy trì liên tục trong bảy ngày sau đó. Ban ngày, máy bay L19 bay trinh sát phát hiện mục tiêu, chỉ điểm cho cường kích và B-52 oanh kích. Mỗi lần đánh trọng điểm, máy bay B-52 rải thảm ba đợt. Xen kẽ giữa các lần B-52 hoạt động là các loại máy bay cường kích ném bom theo tọa độ được chúng tính trước. Đêm đến, địch dùng máy bay AC130 trang bị nhiều loại khí tài hiện đại để phát hiện mục tiêu, săn diệt...


Bảy ngày, trên một vạn quả bom vừa là bom phá, vừa là bom sát thương, bom khai quang trút xuống một khoảnh đất hẹp, gần như xóa sổ con đường. Tất cả chỉ còn là những cồn đống ngổn ngang. Mặt đất, núi đồi bị biến dạng. Sườn núi bị bóc từng mảng lớn, hàng nghìn mét khối đất đá sụt lở gây ách tắc nghiêm trọng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #21 vào lúc: 01 Tháng Hai, 2022, 03:05:29 pm »

Để khắc phục ách tắc, chúng tôi bố trí tại trọng điểm một lực lượng công binh thiện chiến kịp thời ứng cứu, giải phóng xe. Cứ khoảng 100 mét đến 200 mét có một tổ 5 người làm nhiệm vụ ứng cứu và ở ngay ven đường cách quãng 20 mét có một hầm chữ A bằng gỗ, khá kiên cố, đủ chỗ cho chừng 5 người ẩn nấp. Theo chỉ dẫn của các đài quan sát máy bay địch, cứ dứt từng đợt bom, bất kể ngày hay đêm, công binh đội đất chui lên dùng bộc phá, cuốc xẻng san lấp, sửa chữa kịp thời. Do máy ủi cơ động kém, dễ bị đánh cháy, vả lại đường hẹp, nên lúc này ở Seng Phan, chúng tôi không thể sử dụng máy ủi. Sức người chọi với bom đạn như núi. Ngày nào cũng có hoặc công binh hoặc lái xe hy sinh. Vì quá căng thẳng nên cứ 10 ngày, chúng tôi lại cho đại đội công binh chốt giữ Seng Phan thay phiên một lần. Các anh Tô Duy Toan, Nguyễn Ngọc Trữ... cán bộ Tiểu đoàn 25 công binh thay nhau trực chỉ huy đại đội ứng cứu trọng điểm. Nhưng dù cố gắng đên mấy, đường vẫn tắc.


Trong khi khó khăn, tổn thất đang bám riết Binh trạm 31 ở Seng Phan, thì ở Binh trạm 32 tập đoàn trọng điểm ATP, tình hình còn căng thẳng, ác liệt hơn. Kẻ địch tập trung B-52 và các loại máy bay cường kích đánh liên tục trọng điểm này trong 15 ngày liền. Qua liên lạc điện thoại với Bộ Tư lệnh, tôi được biết 3 khẩu pháo 37 ly bị đánh hỏng và gần năm chục cán bộ, chiến sĩ Binh trạm 32 hy sinh ở ATP. Tiểu đoàn 33 công binh do anh Đỗ Xuân Diễn làm Tiểu đoàn trưởng, anh Cao Xuân Hùng làm Chính trị viên, trụ bám ngay trọng điểm, vật lộn với đất đá, bom đạn, song cũng chưa giải tỏa được.


Giải tỏa Seng Phan, ATP; giải tỏa hai trục vượt khẩu trọng yếu là yêu cầu nóng bỏng không chỉ đối với Bộ Tư lệnh 559 mà còn là vấn đề thu hút sự quan tâm lo lắng của Tổng hành dinh - Bộ Quốc phòng, của Tổng cục Hậu cần. Bộ kịp thời có những giải pháp tình thế điều hành tạo sự phối hợp gắn kết hơn giữa Tuyến 500 và Tuyến 559, và anh Đinh Đức Thiện đã kịp thời vào truyền đạt mệnh lệnh của Bộ.


Liền sau khi nhận chủ trương của trên, ngày 14 tháng 11 năm 1968, Đảng ủy 559 họp bất thường, quyết định chậm nhất ngày 25 tháng 11 phải giải tỏa Seng Phan và 10 ngày sau phải giải tỏa nốt ÀTP. Trong khi chưa giải tỏa được ATP và Seng Phan, phải tận dụng triệt để nguồn lương thực do anh Đức Phương - "ông chủ lớn" tổ chức khai thác ở Cam-pu-chia; ở phía bắc, giải pháp tình thế là tận dụng số xăng tồn kho, tổ chức vận tải cơ giới đội hình nhỏ lẻ qua đường số 9 rồi tổ chức gùi thồ cung cấp cho Mặt trận Trị - Thiên.


Hội nghị Đảng ủy kết thúc ngày 14 thì ngày 15 anh Đồng Sĩ Nguyên, anh Phạm Diêu - Tham mưu trưởng công binh và anh Đinh Hào - Trưởng phòng bảo đảm giao thông xuống trực tiếp chỉ đạo Binh trạm 32 giải tỏa ATP. Với Binh trạm 31, Bộ Tư lệnh phái anh Nguyễn Văn Kỷ - Tham mưu phó công binh xuống cùng chúng tôi tháo gỡ ách tắc ở Seng Phan. Những ngày sau đó tôi cùng anh Kỷ, anh Lợi đến từng tổ công binh chốt giữ trọng điểm; nghiên cứu kỹ địa hình, quy luật đánh phá của địch, tìm bằng được giải pháp khắc phục.


Hết ngày qua đêm, mấy anh em trụ lại trọng điểm cùng cán bộ, chiến sĩ công binh. Địch đánh tất cả chui xuống hầm chữ A. Ngớt tiếng bom, lại cùng anh em san sửa. Nhưng rồi, sức người không chọi lại được với bom tấn, bom tạ.


Phải mấy ngày đêm liền trụ ở chính nơi mà đạn bom biến núi đồi thành bình địa, chúng tôi mới thống nhất quyết định tạm thời mở đường từ Lằng Khằng xuống phía tây trọng điểm. Nhưng với lối tránh này cũng chỉ có thể tổ chức chạy đội hình từ ba đến năm xe, chớp thời cơ giữa hai đợt bắn phá của máy bay địch. Vì vậy, tổ chức vận chuyển ở đường tránh này cũng không an toàn, hằng ngày vẫn xảy ra thương vong. Chính vào lúc tình hình đang căng thẳng như dây đàn ấy, một mất mát lớn, rất thương tâm đã xảy ra chính nơi chúng tôi mở đường tránh. Một tiểu đội công binh gồm 12 cán bộ, chiến sĩ tránh máy bay trong hang núi, đã bị địch ném bom sập hang. Từ cán chí quân bàng hoàng đau xót, cắn răng nuốt nước mắt nhìn đồng đội thân yêu của mình vĩnh viễn bị chôn vùi trong núi đá. Dùng thuốc nổ phá đá, lấy xác đồng đội ư? Chúng tôi cũng cân nhắc hết mọi giải pháp. Có thể mất mấy tấn thuốc nổ. Nhưng điều thiêng liêng nhất là liệu thi thể anh em còn nguyên vẹn?...


Seng Phan, ATP tắc - hai trục vượt khẩu đường 20 và 128 tắc gần một tháng đã dồn Bộ Tư lệnh 559 đến chân tường. Một ngày không dưới năm lần anh Nguyên, anh Chiêm, anh Nguyễn Lang gọi điện xuống nắm tình hình, hối thúc chúng tôi. Rồi dường như không thể chờ đợi hơn được nữa, có lần anh Nguyên nói rất gay gắt qua điện thoại:

- Các anh có làm được không, để tôi cho người khác thay. Nguy kịch lắm! Tôi vừa từ đường 20 về. Xe vào chờ đường đỗ la liệt ở Cà Roong, dễ làm mồi cho máy bay lắm. Lúc này không giải tỏa Seng Phan và ATP là có tội lớn với bộ đội, với chiến trường...

Tôi nghẹn ngào nhưng cũng tỏ ra rắn rỏi trả lời:

- Báo cáo anh, thay ai là quyền của anh. Với chúng tôi, tư tưởng, quyết tâm chiến đấu bất di bất dịch là đánh địch, mở đường mà đi, mở đường mà vận chuyển chi viện chiến trường. Nhưng anh cho phép chúng tôi gắng tìm giải pháp tối ưu, giải tỏa được trọng điểm mà mình đỡ thương vong. Địch đánh dữ quá, không ngày nào tại trọng điểm không có người hy sinh. Vừa rồi thôi, địch đánh sập hang núi, 12 đồng chí của chúng tôi hy sinh, không lấy được xác. Khó khăn thật, nhưng đảm bảo với anh chúng tôi sẽ khắc phục được.


Dường như thấu được khó khăn cũng như thấu được "ruột gan" của cấp dưới, anh Nguyên nói khẽ hơn, trầm hẳn xuống như để chúng tôi hiểu mà thông cảm:

- Cả hai trục vượt khẩu tắc gần tháng rồi. Bộ Tư lệnh rất lo lắng. Có ý kiến đề xuất nên tìm đường tránh, tạm quay về với phương thức gùi thồ để đưa hàng vượt trọng điểm. Thủ trưởng Bộ Quốc phòng cũng đã tính tới khả năng đó.

- Vậy ý anh thế nào? - Tôi hỏi.

- Tôi chưa đồng ý - Anh Nguyên nói, làm như vậy là thua địch, cũng như trước đây tôi đã có lần khẳng định nếu chỉ gùi thồ thì hàng chuyển vào không đủ nuôi mình, chứ đừng nói tới chi viện chiến trường. Tôi tin Binh trạm 31 và Binh trạm 32 nhanh chóng khắc phục được khó khăn.


Rồi bằng giọng trầm hẳn lại, anh nói: "Đồng chí Nguyễn Trọng Bách (thư ký của anh Nguyên), một cán bộ trẻ có năng lực đi công tác, vướng bom nổ chậm, hy sinh ở Chà Là, trên đường 20".
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #22 vào lúc: 01 Tháng Hai, 2022, 03:06:53 pm »

Lại những ngày, tôi cùng anh Nguyễn Văn Ký và anh em công binh "đội bom đạn", trèo đèo, lội sông tìm đường tránh để vượt Seng Phan. Lúc này đã gần giữa mùa khô, mực nước con sông chảy qua đây rất thấp. Bom đạn địch lại bứng cả nghìn khối đất đá lấp cạn nhiều quãng sông. Sau khi nghiên cứu kỹ địa hình, chúng tôi quyết định mở hai đường chéo vượt sông, tránh các đoạn đường sát chân núi đá, để xe vượt nhanh chóng, khi địch đánh trúng, cũng dễ khắc phục.


Dọc đường từ sở chỉ huy về binh trạm, tôi nói vui với anh Ký. "Cái khó ló cái khôn", địch đánh làm tắc đường, nhưng cũng giúp ta lấp sông mở đường tránh. Khi chúng tôi trình bày phương án mở đường tránh vượt sông, anh Đặng Ba rất phấn khởi và quyết định triển khai ngay.


Để mở đường tránh trong tình hình vô cùng khẩn trương, không thể chỉ có sức người với vài thứ dụng cụ thô sơ, mà phải huy động cả máy ủi, cho dù địa hình hẹp, phức tạp, địch lại đánh dữ. Bởi vậy, ngoài hầm để người tránh bom, chúng tôi còn chỉ đạo công binh làm gấp mấy hầm chữ A cho xe ủi. Liền đó, chúng tôi tập trung lực lượng thiện chiến nhất, phương tiện thi công tốt nhất để làm đường. Trung đội công binh do Hoàng Hữu Thanh1 (Năm 1971, đồng chí Hoàng Hữu Thanh được Nhà nước tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân) phụ trách đã vật lộn đêm ngày với đất đá, san lấp hố bom, lấp sông, giành giật với địch từng thước đường. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 25 công binh Nguyễn Bửu Ký, Chính trị viên tiểu đoàn Nguyễn Văn Phiên ngày đêm bám trọng điểm cùng anh em tìm mọi phương cách thi công dưới tầm bom đạn địch, đạt hiệu quả cao, tránh được thương vong.


Dù lực lượng ít, nhưng thiện chiến và tổ chức thi công hợp lý, nên chỉ sau hơn hai ngày đêm, đường tránh từ bắc Seng Phan đến Xóm Péng dài 10 cây số đã hoàn thành. Rồi giây phút mà chúng tôi nóng lòng chờ đợi, giây phút đánh đổi bởi bao máu xương, mồ hôi, nước mắt của những người lính đã đến. Chiều ngày 25 tháng 11 năm 1968 trọng điểm Seng Phan được giải tỏa.


Đúng 5 giờ chiều - đúng hơn là chỉ chờ cho mặt trời khuất sau mấy ngọn núi phía tây, ba phát súng lệnh nổ vang. Lệnh "Vượt trọng điểm!" của binh trạm trưởng vang lên, đội hình gầm 100 xe của Tiểu đoàn 101 chất nặng hàng nhanh chóng lao qua trọng điểm an toàn.


Nhìn những chiếc xe lao đi, nhòa dần trong ánh chiều đỏ lựng, anh Đặng Ba ôm chầm lấy tôi và anh Kỷ. Nước mắt anh rơi ấm vai tôi.

Tin Seng Phan giải tỏa xong, gần một trăm chiếc xe vượt trọng điểm an toàn được báo ngay về Bộ Tư lệnh. Các anh trong Bộ Tư lệnh mừng tột độ. Anh Nguyên biểu dương Ban chỉ huy binh trạm cùng toàn thể cán bộ, chiến sĩ đã cố gắng hết mình vì mạch máu giao thông thông suốt, vì sự sống của tuyến đường.


Vừa từ cơ quan xuống đơn vị, nhưng thực tiễn giải tỏa trọng điểm Seng Phan, giúp tôi ý thức được rằng: Tổ chức vận chuyển, bảo đảm giao thông trong điều kiện địch đánh phá ác liệt, đòi hỏi việc tổ chức thế trận cầu đường, bố trí lực lượng đánh địch; tổ chức bốc xếp hàng hóa, chuẩn bị mọi mặt cho xe phải thật tỉ mỉ, chu đáo. Quan hệ điều hành chỉ huy từ Bộ Tư lệnh 559 đến chỉ huy binh trạm, xuống tới các đơn vị phải bảo đảm chặt chẽ; hệ thống thông tin đa phương tiện. Hữu tuyến, vô tuyến điện, đặc biệt là thông tin tải ba phải luôn thông suốt đến từng trận địa pháo phòng không, từng trạm chỉ huy giao thông, các trạm quan sát máy bay địch. Binh trạm chỉ huy trực tiếp hoạt động vận tải. Từ kế hoạch trong ngày đến bốc xếp hàng, tập kết xe, vận chuyển trên đường, vượt trọng điểm, đổ hàng (giao hàng)... đều được chỉ huy binh trạm nắm rất chắc, cụ thể qua báo cáo của cán bộ chỉ huy đơn vị bằng bộ đàm, hoặc qua trạm chỉ huy giao thông. Việc tổ chức cấp cứu xe hoặc do địch đánh, hoặc đổ rệ, giải quyết tắc đường, cấp cứu người bị thương... luôn được bố trí chu đáo, nên những tình huống xảy ra đều được xử trí kịp thời.


Chừng 10 ngày sau khi Binh trạm 31 giải tỏa Seng Phan, Binh trạm 32 cũng giải tỏa được tập đoàn trọng điểm ATP. Vậy là âm mưu của địch tập trung đánh phá hòng hủy diệt khu vực cửa khẩu đã thất bại hoàn toàn.

Từ khi khai thông trọng điểm Seng Phan, dù địch vẫn tiếp tục đánh phá với cường độ không giảm - không chỉ đánh tập trung vào 2 cây số men theo chân núi đá mà còn đánh suốt 10 cây số chiều dài trọng điểm; nhưng không còn thế độc đạo nên vận chuyển không bị ngưng, địch đánh đường chính ta đi đường tránh và ngược lại. Công binh túc trực khắc phục kịp thời. Đêm đêm xe vẫn vào ra đều đều. Có những ngày địch đánh suốt chiều dài trọng điểm, sườn núi sụt lở một khối lượng đất đá rất lớn. Anh em công binh có khẩu hiệu: "Hạn chế tắc giờ, không để tắc đêm". Tuy vậy có đêm phải gần bốn giờ sáng mới thông đường. Có mặt tại hiện trường lúc đó, anh em chúng tôi như đứng ngồi trên lửa. Trời gần sáng, trong khi gần một trăm chiếc xe nặng hàng của Tiểu đoàn 101 do anh Phạm Văn Thi - Tiểu đoàn trưởng và anh Hoàng Hồ làm Chính trị viên chỉ huy dàn đội hình ở bắc trọng điểm, chờ lệnh thông đường. Quả là "tiến thoái lưỡng nan". Quay về thì trời sáng, mà xe chẳng kịp về tới bãi tập kết giấu xe, sẽ làm mồi cho máy bay Mỹ. Chỉ có vượt nhanh, họa chăng xe, hàng tới kho an toàn. Năm ba cái đầu chụm lại bên ngọn đèn hạt đỗ trong căn hầm chữ A trên trọng điểm, bàn đi, tính lại cuối cùng chúng tôi quyết định, bằng mọi giá phải cho xe vượt trọng điểm. Liền đó, Ban chỉ huy binh trạm lệnh cho công binh bám đường, túc trực cứu kéo kịp thời, các trạm chỉ huy giao thông phối hợp nhịp nhàng, lực lượng kho chủ động đón xe, bốc dỡ hàng nhanh gọn và đặc biệt pháo phòng không tập trung hỏa lực đánh địch, bảo vệ đội hình xe. Toàn Binh trạm hiệp đồng chặt chẽ, như một guồng máy, một dây chuyền mang tính công nghiệp. Đường thông, trời tảng sáng; cả đoàn xe vượt trọng điểm an toàn. Nhìn đoàn xe như lùm cây di động dần xa trọng điểm, anh Đặng Ba nhìn anh Kỷ và tôi, thở phào nhẹ nhõm.


Cũng để tăng cường lực lượng đánh địch, bảo vệ vận chuyển, tháng 11 năm 1968, Bộ Tư lệnh bổ sung cho Binh trạm 31 Trung đoàn phòng không 84, trang bị pháo 37 và 57 ly. Trung đoàn trưởng là anh Nguyễn Văn Thành, Chính ủy là anh Phạm Trang. Anh Phạm Trang cùng quê với tôi. Trong Cách mạng tháng Tám, anh Phạm Trang là Chủ tịch huyện Đức Phổ; kháng chiến bùng nổ, anh tham gia quân đội và những ngày đầu kháng chiến đã là Chính trị viên tiểu đoàn. Bạn bè cùng quê, lại gặp nhau ở "tọa độ lửa", tình càng đậm.


Chỉ huy sở Trung đoàn 84 đóng gần sở chỉ huy Binh trạm. Một phần lực lượng được bố trí bảo vệ khu kho 050 và trục đường bắc Seng Phan; một tiểu đoàn cơ động đánh địch, bảo vệ vận chuyển trên đường 12B. Cũng trên tuyến đường này, chúng tôi bố trí Trung đoàn 83 công binh do đồng chí Cường làm Trung đoàn trưởng, có nhiệm vụ bảo đảm giao thông, mở đường, chuẩn bị lắp đường ống xăng dầu vào bắc Xóm Péng.


Từ tháng 12, hoạt động vận chuyển nhịp nhàng, hiệu quả hơn. Ban chỉ huy binh trạm quyết định đưa Tiểu đoàn 2 công binh vào thay một phần vị trí đảm trách của Tiểu đoàn 25 - quãng từ 050 vào bắc Seng Phan; để Tiểu đoàn 25 tập trung cho quãng từ Seng Phan vào nam Pác Pha Năng. Về lực lượng vận tải, chúng tôi sử dụng cả hai tiểu đoàn ô tô 101 và 990 chạy theo đường 128 qua Seng Phan vào giao hàng cho Tiểu đoàn 53 tại Xóm Péng, còn Tiểu đoàn 53 chuyển hàng từ đó vào giao cho Binh trạm 32 ở Lùm Bùm - bắc đường 9.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #23 vào lúc: 01 Tháng Hai, 2022, 03:07:35 pm »

Trong chiến đấu trên Tuyến 559, tư tưởng tiến công được quán triệt vận dụng vào từng binh chủng với những nội dung cụ thể khác nhau. Với nguyên tắc lấy bộ đội vận tải cơ giới làm trung tâm, các binh chủng khác có nhiệm vụ chiến đấu bảo đảm cho xe chuyển hàng ra phía trước, nên tư tưởng tiến công của bộ đội phòng không là "quay nòng pháo theo bánh xe lăn, bảo vệ xe, bảo vệ hàng, bảo vệ trọng điểm, đánh tiêu diệt, bám trụ trọng điểm".


Nhưng với Trung đoàn phòng không 84, do mới vào tuyến, anh em vẫn trung thành với tư tưởng chỉ đạo đánh tiêu diệt của Quân chủng Phòng không - Không quân. Do đó, khi giao nhiệm vụ cơ động pháo theo đội hình xe vận chuyển để đánh địch, thì một số anh em phần vì chưa thật thông suốt, phần vì chưa quen, nên hiệu suất chiến đấu thấp. Chỉ khi chứng kiến Tiểu đoàn 14 và Tiểu đoàn 6 phòng không của Binh trạm đánh tốt, bắn rơi nhiều máy bay địch, bảo vệ trọng điểm, kho tàng và đội hình xe vận chuyển, chỉ huy Trung đoàn 84 mới chịu.


Kết thúc thắng lợi nhiệm vụ mùa khô 1968-1969, trong buổi họp mặt để chia tay Trung đoàp 84, Ban chỉ huy Trung đoàn 84 hoàn toàn nhất trí với chúng tôi về tư tưởng tiến công và cách đánh tiêu diệt địch, mỗi chiến trường có nhiệm vụ và cách đánh riêng, phù hợp với đặc điểm chiến trường đó. Đối với hai tiểu đoàn cao xạ trực thuộc, trước khi về Binh trạm 31, Tiểu đoàn 14 chiến đấu hiệu suất chưa cao. Nhưng do nhanh chóng rút kinh nghiệm, đơn vị đã đánh tốt, thắng giòn giã, bắn rơi 15 máy bay trong một mùa khô, bảo vệ được xe, kho tàng. Tiểu đoàn 6 cao xạ cũng nhanh chóng "nhập cuộc" và từng bước làm chủ tình hình.


Vào một ngày đầu tháng 12 năm 1968, tôi cùng một vài cán bộ tham mưu của Binh trạm xuống nắm tình hình chiến đấu của Tiểu đoàn 6. Sở chỉ huy tiểu đoàn đóng trên một đỉnh đồi ở giữa đội hình ba đại đội đang bảo vệ đội hình vận tải, kho 49, cung đường phía nam Seng Phan và Sở chỉ huy binh trạm (lúc này Sở chỉ huy binh trạm đã chuyển vào một dãy núi có nhiều hang động, cách kho K49 chừng 2 cây số, gần trục đường 128). Chúng tôi xuống tới Sở chỉ huy tiểu đoàn đúng vào lúc máy bay trinh sát của địch phát hiện được trận địa của Đại đội 1, đang chỉ điểm cho bọn cường kích tiến công, hòng "hót sạch" trận địa pháo. Mặc dù trận địa pháo Đại đội 2 và Đại đội 3 chưa bị lộ nhưng nếu cứ "án binh bất động", để bảo toàn lực lượng, chắc chắn địch sẽ "xơi" gọn Đại đội 1. Không chần chừ, qua trao đổi chớp nhoáng, tôi chỉ thị cho đồng chí Nguyễn Văn Tú - Tiểu đoàn trưởng lệnh cho Đại đội 2 và Đại đội 3 tập trung hỏa lực phối hợp đánh địch. Đồng thời, tôi điện ngay về sở chỉ huy binh trạm đề nghị anh Đặng Ba cho khẩu cao xạ 100 ly chốt ở khu vực Na Tông đánh hỗ trợ. Gặp hỏa lực pháo 57 ly, 100 ly đánh khá dữ, từng tốp F4, F5 không dám bổ nhào thấp, phải dãn ra, ném bom ở tầm cao, xác suất trúng mục tiêu rất thấp. Có đợt, bom rơi trúng trận địa pháo, khói bụi trùm kín một vùng. Từ trên đài chỉ huy tôi không khỏi lo ngại. Hỏng rồi. Nhưng, khi máy bay địch bổ nhào tiếp, thì từ trong đám khói đen đặc đó, từng chùm đạn pháo vọt lên loang loáng, tiếng nổ gọn, đanh. Thật cảm phục tinh thần chiến đấu quả cảm của những người lính phòng không. Với trận đánh đó, Tiểu đoàn 6 bắn rơi hai máy bay. Ta hy sinh hai, bị thương ba đồng chí, hỏng hai khẩu pháo 37 ly. Nhưng cũng tại trận địa này, trong một trận chiến ác liệt sau đó, đồng chí Tú - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 đã anh dũng hy sinh trên đài chỉ huy. Được tin Tiểu đoàn báo về, anh Đặng Ba và tôi lặng người, tiếc thương vô hạn một cán bộ tiểu đoàn dũng cảm, năng động và sống rất mực tình cảm, trách nhiệm với đồng chí, đồng đội.


Thực tiễn chiến trường từ cuối năm 1968 đúng với những nhận định của Bộ Tư lệnh 559, từ đầu mùa khô: địch gần như dồn hết đạn bom để hòng hủy diệt, chặn các tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn. Mọi thành tựu của nền khoa học công nghệ quân sự phi nhân tính của Hoa Kỳ đã được thực nghiệm ở Trường Sơn - Việt Nam lúc này. Không chỉ bom tấn, bom tạ, chất độc khai quang, mà cả hàng tá kiểu loại mìn để sát thương con người hiệu quả nhất đã được địch rải dày trên từng trọng điểm, từng lối mòn. Có lần địch thả mìn vướng dày đặc, vây chặt cả đại đội cao xạ trên đỉnh đồi. Là loại mìn mới, anh em chưa hề tháo gỡ, hễ đụng tói là thương vong. Chỉ khi Ban chỉ huy binh trạm phái công binh tới "giải tỏa", bộ đội mới có đường xuống suối lấy nước.


Hoạt động trinh sát của địch bằng máy bay cũng vô cùng lợi hại. Máy bay OV10, OV2, C130 của địch thay nhau quần lượn vè vè suốt ngày, giương những cặp mắt cú vọ, xoi mói, lùng sục các khu vực tác nghiệp, kho tàng, trạm bãi giao liên của ta. Chỉ mấy tháng mùa khô này mà Sở chỉ huy binh trạm đã không ít lần trúng bom. Khi sở chỉ huy ở trong hang Na Tông đã mấy lần dính bom ở bên cạnh, thậm chí có lần bom nổ nóc hang, nhưng may không sập; sau khi chuyển vào gần khu kho K49 cũng bị đánh mấy lần, song thương vong rất ít. Duy nhất một lần, thượng úy Nguyễn Văn Bé vừa đi công tác về bị bom phạt đứt hai chân. Toàn bộ y, bác sĩ của binh trạm tập trung cứu chữa, giành giật với tử thần mạng sống của đồng đội. Sau ba lần phẫu thuật, phải cắt gần hết đùi cả hai chân mới cứu sống được Bé. Cán bộ, chiến sĩ cơ quan binh trạm góp nhóp từng con gà, chim rừng, hầm kỹ lấy nước để nuôi anh. Hôm chuyển anh về tuyến sau không ai trong chúng tôi cầm lòng nổi khi nghe Bé nói: Anh quyết sống một phần vì anh và một phần vì nghĩa tình đồng đội.


Địa phận thuộc Tiểu đoàn 27 công binh phụ trách (trục đường 128 từ ngã ba Xóm Péng vào Lùm Bùm và đường 129 vào kho K3 - Binh trạm 32), mặc dầu cường độ đánh phá của địch không dữ như khu vực 050, Seng Phan, Pác Pha Năng - nơi Tiểu đoàn 25 công binh và Tiểu đoàn 2 công binh phụ trách; nhưng cũng vô cùng ác liệt. Bom từ trường, bom nổ chậm, mìn vướng, mìn lá nhan nhản dọc các trục đường, trong rừng; dày đặc ở những cao điểm, bến vượt sông suối, những nơi mà chúng nghi ta trú quân hoặc có kho tàng. Vì bom mìn dày đặc và kẻ địch thường xuyên cải tiến, "nâng cấp" các sản phẩm giết người này, nên chúng ta gặp không ít khó khăn, thương vong. Sau khi tìm được nguyên lý gây nổ, anh Chu Thế Kỳ - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 27 đã trực tiếp cùng một tổ công binh dùng gậy, sào chọc cho mìn vướng nổ và nhặt mìn lá tập trung lại đốt. Qua nghiên cứu, tìm hiểu các thủ đoạn đánh phá, ngăn chặn của không quân Mỹ, chúng tôi thấy: Nếu như mùa khô trước, địch chủ yếu đánh bằng bom phá, bom sát thương, bom bi, thì mùa khô này, địch sử dụng phổ biến các loại bom nổ chậm, bom từ trường, mìn vướng nổ, mìn lá, mìn "răng rồng". Thủ đoạn đánh phá của chúng là ném bom phá, hủy hoại đường trước; tiếp đó thả bom bi, bom từ trường và cuối cùng là mìn vướng, mìn lá... nhằm cản trở ta khắc phục hậu quả đánh phá, ngăn cản đội hình xe, gây sát thương lớn cho ta. Đặc biệt nguy hiểm lúc này là địch rải dọc các trục đường, khắp các triền rừng hàng vạn khí tài trinh sát điện tử, gồm các loại cảm ứng âm thanh có dù với tên gọi là Spike bouy; máy cảm ứng địa chấn có bộ ăng ten râu giống như cây thông, được gọi là "cây nhiệt đới", thả cắm xuống đất lẫn với cây rừng để thu chấn động của đất và máy cảm ứng hỗn hợp cả âm thanh và chấn động có tên là Acousid, khi rơi xuống thường vướng vào cành cây. Các loại khí tài này khi bắt được mục tiêu, lập tức phát tín hiệu báo cho máy bay đến đánh.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #24 vào lúc: 01 Tháng Hai, 2022, 03:09:05 pm »

Theo hướng dẫn của cơ quan kỹ thuật công binh, chúng tôi đã chỉ đạo, tổ chức cho anh em dò tìm và áp dụng mọi phương cách để phá bom mìn, ví như dùng khung dây phá bom từ trường, chọc nổ mìn vướng, gom đốt mìn lá...


Giúp Bộ đội Trường Sơn khắc phục - phá các loại khí tài giết người tối tân của địch, Nhà nước, Bộ Quốc phòng đã tung vào tuyến một lực lượng khá đông đảo các nhà khoa học kỹ thuật quân sự, chủ yếu là cán bộ Viện Kỹ thuật Quân sự - các anh Hoàng Đình Phu, Hoàng Đức Dụ, Chử Ngọc Bích, Thái Quang Sa, Nhâm Xuân Coóng... Đầu năm 1969, Bộ còn đưa vào tuyến một khí tài phá bom từ trường do ta mới nghiên cứu chẽ tạo là xe phóng từ. Binh trạm 31 cũng được trang bị loại khí tài này. Khi xe phóng từ hoạt động ở những quãng đường thẳng, diện tiếp xúc rộng, xa thì hiệu quả phá nổ tốt. Nhưng ở trường hợp xe đi qua cua hẹp, từ bị cản, sự kích thích nổ hạn chế, bom có thể nổ gần, xe dễ bị hỏng và người dễ bị thương vong.


Có lần tôi xuống Seng Phan kiểm tra tổ xe phóng từ phá bom từ trường ở trọng điểm này. Do địa hình phức tạp, anh em không cho tôi đi cùng xe mà chỉ đứng quan sát từ xa. Ở quãng đường thẳng, xe gây nổ liên tiếp mấy quả rất gọn ghẽ; nhưng vào cua hẹp, bất ngờ một tiếng nổ dữ dội, rất gần, hất xe văng ra xa chừng 5 mét. Tổ ứng cứu có mặt kịp thời, chúng tôi cùng lao đến. Rất may, người trong xe bị sây sát chút ít. Còn xe thì bị hất nghiêng, nắp buồng lái và đầu xe móp méo, dúm dó. Khi máy húc đến lật lại, xe từ lại hoạt động bình thường. Mấy anh em trong tổ lái mặt mũi nhom nhoem, nhìn chiếc xe, cười "thả phanh" và nói với tôi: Với bọn em, chuyện này như cơm bữa Chính ủy ạ. Chỉ buồn cười là xe của chúng em bây giờ giống hệt con lợn bị cắt tai... Ôi cái hồn nhiên, nghịch ngợm của những người lính trẻ Trường Sơn lúc đó mới quý làm sao!


Tổ chức bảo đảm giao thông, tổ chức cho đội hình vận tải cơ giới vượt trọng điểm đèo dốc đã khó, nhưng đối với các ngầm, bến phà, nhiệm vụ đó càng khó khăn hơn. Bởi lẽ cùng một lượng bom đạn nhưng nếu trúng ngầm, sự hủy hoại sẽ gấp nhiều lần ở địa hình đèo dồc, và dĩ nhiên để khắc phục được đòi hỏi nhiều công sức hơn. Ở Binh trạm 31 có hai ngầm ở thượng và hạ lưu sông Pác Pha Năng là hai trọng điểm đánh phá của địch. Anh Nguyễn Bửu Ký - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 25 đã có sáng kiến làm cầu chìm dưới mặt nước chừng hơn nửa mét ở quãng sông tương đối rộng, mớn nước không lớn và tổ chức ngụy trang kỹ đường hai đầu cầu. Bởi vậy suốt mùa khô này, xe vẫn vượt sông bình thường mà máy bay trinh sát của địch không thấy cầu phà, bến vượt.


Không thực hiện được âm mưu hủy diệt khu vực vượt khẩu, từ đầu năm 1969 địch chuyển sang đánh rộng ra toàn tuyến. Cường độ đánh phá của không quân địch ở địa bàn Binh trạm 31 có giảm so với trước, nhưng ở Seng Phan, khu vực 050, Pác Pha Năng... không ngày nào không có tiếng bom. Với Seng Phan, chỉ trong vòng hơn 100 ngày đêm đầu mùa khô này, máy bay địch đã đánh 1.972 trận, ném 125 nghìn quả bom. Cao điểm, trong một ngày, địch đã sử dụng 50 lần máy bay B-52 ném bom rải thảm - không kể cường kích đánh xen kẽ. Nếu chia đều cho lực lượng chốt giữ trọng điểm này, thì mỗi người lính phải hứng chịu trên 1.000 quả. Núi đồi có thể thành bình địa, sông Sê Băng Phai chảy qua đây có thể bị đất đá lấp đầy; cỏ cây bị khai quang..., nhưng những người lính Binh trạm 31 vẫn trụ bám kiên cường. Để rồi, đêm đêm những đoàn xe lại vượt trọng điểm tiến về Nam - tiến về phía trước theo ánh lửa được thắp lên từ trái tim những người lính Trường Sơn.


Ở địa bàn trọng yếu của tuyến, ở những "cửa tử" này, không chỉ tập kích bằng đường không, kẻ địch còn cho biệt kích, thám báo, bộ binh đánh phá. Có lần địch đổ một lực lượng khá lớn biệt kích xuống dãy Phu Át có độ cao 1.000 mét, nằm ở tây bắc huyện Lằng Khằng, trinh sát hoạt động của ta, vừa chỉ điểm cho máy bay, vừa phối hợp đánh phá ta. Phát hiện hoạt động của địch, chúng tôi kịp thời lệnh cho Đại đội 1 bộ binh trực thuộc Binh trạm phối hợp với lực lượng vũ trang bạn Lào truy lùng diệt gọn.


Cùng với hoạt động trinh sát đường không, lực lượng biệt kích, thám báo của địch săn tìm vị trí đặt sở chỉ huy, kho tàng, bãi giấu xe, trận địa cao xạ... cũng gây cho ta vô vàn khó khăn. Địa bàn từ Cổng Trời (khu vực 050) đến ngầm Na Tông dài chừng 25 cây số, rộng từ 7 đến 8 cây số là khu rừng rậm, xen kẽ núi đá có nhiều hang động, đã được Bộ Tư lệnh 559 cho xây dựng thành khu kho cơ bản có sức chứa từ 5.000 đến 10.000 tấn hàng và là nơi trú đậu từ một đến hai tiểu đoàn xe. Vì vậy địch tập trung mọi lực lượng, phương tiện soi mói, săn lùng, đánh phá. Có lần địch đánh vào giữa cánh rừng già. Có lần, phát hiện xe của Binh trạm 12 từ 050 vào trả hàng muộn, chúng tập trung máy bay đuổi đánh, xe cháy, hàng cháy. Sau lần đó, chúng đánh khu kho 050 hàng tuần liền, đánh sập một hang núi chứa 1.000 tấn vũ khí, đạn. Binh trạm tập trung lực lượng đào bới gần nửa tháng mới lấy hết số súng đạn đó. Được tin, Bộ Tư lệnh 559 cử Tham mưu trưởng Nguyễn Lang trực tiếp chỉ đạo củng cố kho tàng. Và cũng chính những ngày lưu lại khu kho 050, anh Nguyễn Lang dính B-52 rải thảm. May mắn là bom nổ gần hầm anh trú, lấp cửa hầm, nhưng anh em moi, đưa anh lên kịp.


Trong chiến đấu, đặc biệt là chiến đấu với kẻ thù là đế quốc Mỹ, chuyện thắng và tổn thất là chuyện thường; cũng như trong lãnh đạo, chỉ huy có đúng, có sai là điều không tránh khỏi. Tuy nhiên, nếu thiếu sự hiệp đồng giữa các lực lượng, các đơn vị - đặc biệt là sự phối hợp, hiệp đồng giữa các cấp lãnh đạo, chỉ huy từ cấp binh trạm (trung đoàn) trở lên để cùng hoàn thành nhiệm vụ chung, thì vô tình sẽ gây khó khăn cho nhau, thậm chí gây thiệt hại về người và vật chất.


Mùa khô này, Binh trạm 12 thuộc Bộ Tư lệnh 500 có nhiệm vụ chuyển hàng giao cho Binh trạm 31 chúng tôi ở cung độ sâu hơn. Đây là quyết định đầy tính thiện chí của Tổng cục Hậu cần và Bộ Tổng Tư lệnh, nhằm "chia lửa", vơi đỡ một phần cho Bộ Tư lệnh 559. Nhưng lúc này Binh trạm 31 đang bị địch đánh vô cùng ác liệt. Hầu như các trục đường, kho tàng, sở chỉ huy, bãi giấu xe... đều bị máy bay địch oanh tạc. Người cũng như xe bị tổn thất, việc vận chuyển hàng lên phía trước cho Binh trạm 32 bị ngưng trệ. Toàn Binh trạm 31 đang đồn sức tháo gỡ ách tắc, đặc biệt là giải tỏa trọng điểm Seng Phan.


Nhận thông báo của trên, chúng tôi báo cáo ngay lên Bộ Tư lệnh đề nghị Binh trạm 12 tạm ngừng chuyển hàng vào. Khi nào đường thông, tình hình khá hơn, chúng tôi sẽ tiếp nhận không hạn chế. Nhưng rồi có thể đề đạt của chúng tôi không thấu tới đơn vị bạn, hoặc do ở tuyến ngoài, Binh trạm 12 không bị địch đánh dữ, nên vẫn tới tấp chuyển hàng vào. Thường thì thấy hàng vào nhiều, cán binh đều vui, nhưng lúc này anh em chúng tôi như đứng ngồi trên than, trên lửa. Do không đủ kho, hang để nhập, anh em lái xe cứ đổ hàng xuống hai bên đường... Hậu quả là bị địch đánh cháy khá nhiều. Việc anh Nguyễn Lang xuống trực tiếp kiểm tra Binh trạm 31, một phần cũng vì chuyện đó. Kết thúc mùa khô 1968-1969, Binh trạm 12 vẫn được biểu dương là hoàn thành tốt nhiệm vụ, đẩy nhiều hàng lên phía trước. Được tin đó, tôi cảm thấy xót xa. Trách nhiệm để tổn thất hàng, một phần thuộc về mình, đơn vị mình. Một hạt gạo, viên đạn vào tới cửa khẩu cũng đã đánh đổi bao mồ hôi xương máu của người hậu phương, của những chiến sĩ trên tuyến vận tải; để rồi lại thành tro, thành lửa. Nhưng, trong tổn thất, nguyên do chính là "tự ta làm khó cho mình". Một dây chuyền cần sự vận hành thống nhất, chúng ta lại tạo nên những nhát cắt không cần thiết. Kéo dài sự tồn tại Tuyến 559 độc lập với Tuyến 500, dĩ nhiên là nguyên cớ sâu xa cho việc thiếu đồng bộ, gây tổn thất đáng kể này. Cũng vì lý do đó, chỉ một thời gian sau, Tuyến 500 được sáp nhập vào Tuyên 559, và những trục trặc như trên được khắc phục cơ bản.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #25 vào lúc: 01 Tháng Hai, 2022, 03:09:44 pm »

Một chiến công đáng kể của Binh trạm 31 trong mùa khô này là đã hoàn thành mạng đường ống xăng dầu từ Minh Hóa (Quảng Bình) vào tới Xóm Péng, nối dài tuyến đường ống chiến lược từ hậu phương miền Bắc vào địa bàn Tuyến 559, bảo đảm cung cấp xăng dầu cho Binh trạm và chuyển tiếp cho các binh trạm tuyến trong. Đây là tuyến đường ống đầu tiên trên địa bàn 559. Cuối năm 1969, Bộ Tư lệnh 559 lắp đặt tuyến đường ống thứ hai theo trục đường 18 từ Ra Mai, Pha Băng Nưa vào Bản Cọ, Sê Pôn (bắc đường 9). Ngày 22 tháng 12 năm 1969, đúng vào lễ kỷ niệm lần thứ 25 ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, Tư lệnh Đồng Sĩ Nguyên đã chủ trì lễ khánh thành tuyến đường ống thứ hai này. Từ thành công của hai tuyến ống ban đầu này, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần, Bộ Tư lệnh 559 quyết tâm hoàn chỉnh tuyến đường ống xăng dầu suốt tuyến trong những năm sau. Đưa đường ống xăng dầu vào tuyến, Bộ đội Trường Sơn có thêm một phương thức vận chuyển xăng dầu mới, hiện đại, thêm một binh chủng mới, khắc phục được tổn thất lớn về xăng dầu do phải sử dụng ô tô vận chuyển bằng phuy hoặc xi-téc. Đây là bước ngoặt vô cùng quan trọng trong việc bảo đảm cho vận tải hàng hóa bằng cơ giới và cơ động binh chủng kỹ thuật quy mô lớn.


Cùng với lực lượng công binh, vận tải, phòng không..., góp phần làm nên thành tích của Binh trạm trong mùa khô này, còn phải kể đến những người lính giao liên. Bất chấp bom đạn, các trạm giao liên vẫn tổ chức đưa đón, đảm bảo cho bộ đội hành quân qua tuyến an toàn. Bộ đội đói, giao liên chưa được nghỉ. Bộ đội chưa có chỗ nghỉ, giao liên còn phải lo. Nhường thuận lợi cho bộ đội hành quân, nhận khó khăn, thiếu thốn về mình... là nét đẹp thầm lặng, sự hy sinh vô bờ bến của những cán bộ, chiến sĩ hậu cần, giao liên.


Trên lĩnh vực phối hợp chiến đấu giúp bạn, Binh trạm 31 có nhiệm vụ giúp huyện Lằng Khằng, tỉnh Khăm Muộn và các xã có đường ô tô đi qua. Binh trạm tổ chức bốn đội công tác và một đại đội bộ binh phối hợp cùng bạn đánh địch, đồng thời giúp bạn xây dựng cơ sở, xây dựng lực lượng vũ trang.


Có thể nói, từ cuối năm 1964 - đầu năm 1965, khi ta chủ trương "lật cánh" sang tây Trường Sơn, phát triển vận tải cơ giới quy mô lớn, đường ô tô "xẻ dọc, rọc ngang" đã có không ít bản Lào dành nương vườn cho bộ đội Việt Nam mở đường, lập tuyến. Dân bạn lại bồng bế, dắt díu nhau tìm lập bản mới. "Lửa thử vàng" - càng trong khó khăn mới thấy sáng lên tình nghĩa thủy chung son sắt Việt - Lào. Để đáp lại nghĩa tình của bạn, ngoài phối hợp với cán bộ huyện giúp bạn xây dựng lực lượng, xây dựng cơ sở, đánh địch, chúng tôi còn giúp bạn tổ chức sản xuất, cung cấp hạt giống, đỡ đần một phần gạo, muối... khi bạn gặp khó khăn; chữa bệnh cho dân... Chính nhờ sự phối hợp chặt chẽ này mà bạn đã giúp chúng tôi kịp thời phát hiện, tiêu diệt lực lượng biệt kích, thám báo của địch đổ xuống dãy Phu Át.


Trong giúp bạn xây dựng cơ sở, mùa khô này, một tổ công tác của Binh trạm đã phát hiện Sao Đi - một thiếu nữ Lào bị bệnh phong. Trước sức ép của tập tục ác nghiệt, nặng nề của bản làng, của địa phương, gia đình buộc phải đưa Sao Đi vào sống biệt lập ở trong rừng. Khi hai chiến sĩ của ta bắt gặp, Sao Đi đã như người rừng, mình vấn lá cây, thịt da lở loét.


Mặc dù bị cô phản ứng quyết liệt, nhưng anh em gắng sức thuyết phục, báo cho quân y sĩ của binh trạm, của Tiểu đoàn 25 công binh gắng sức nuôi dưỡng, chạy chữa. Và từ cõi chết, Sao Đi đã trở về với tuổi xuân tràn trề sức sống. Cô được học chữ, được học nghề y. Khi Sao Đi trở về bản, ngươi thân trong gia đình không tin là sự thật, ngõ là "bóng ma - hồn thiêng" của cô hiện về. Sau này Sao Đi trở thành một cán bộ cấp huyện giỏi của huyện Lằng Khằng. Báo Trường Sơn, cùng với một vài phương tiện thông tin đại chúng của ta hồi đó cũng có đề cập đến câu chuyện Sao Đi.


Với mùa khô này - mùa khô khốc liệt nhất ở cửa khẩu, biết bao công việc phải lo, phải làm, để những trăm, nghìn... quân vào chiến trường, để hàng nghìn tấn hàng ra phía trước, nhưng chúng tôi vẫn tổ chức đội văn nghệ biểu diễn phục vụ cán bộ, chiến sĩ binh trạm; động viên cắc đơn vị chăm lo đời sống tinh thần cho bộ đội. Chỉ có thể sống trọn, sống cùng những người lính một thời lửa đạn, bi hùng ngày ấy, nơi ấy, mới hiểu được phần nào mấy chữ "tiếng hát át tiếng bom". Thời gian tôi ở Binh trạm 31, có một số đoàn văn công Trung ương và của tỉnh Quảng Bình vào phục vụ bộ đội, thanh niên xung phong. Nhiều nhà báo, nhà văn từ hậu phương vào đưa tin, lấy chất liệu thực tiễn để sáng tác; Tổng cục Chính trị cử một tổ làm phim do đồng chí Xuân phụ trách vào công tác. Tôi đã trực tiếp dẫn tổ làm phim xuống Seng Phan, ghi được một trận địch đánh trọng điểm bom rơi, lửa đạn ngùn ngụt, cây cối ngổn ngang tưa tướp, sườn núi sụt lở... và sau đó là cảnh công binh phá bom nổ chậm, khắc phục hậu quả...


Hoạt động văn hóa, văn nghệ không thể nói là phong phú, đa dạng, nhưng cũng lắm kiểu. Tuy vậy xúc động nhất vẫn là những buổi "diễn" của đội văn nghệ binh trạm. Diễn viên là những người lính công binh, những nam nữ thanh niên xung phong gạt vội bùn đất trên đầu, trên mặt, không son phấn; trang phục chỉ là bộ quân phục tươm tất, lành lặn mà thôi. Sàn diễn là bãi trú quân. Diễn viên, khán giả không ranh giới. Từ những "sàn diễn" đó, biết bao khúc ca, bài thơ vừa bốc lửa, vừa đượm tình đã gây xúc động cho người nghe, như: Trên đỉnh Trường Sơn ta hát, Bài ca Trường Sơn... "Diễn viên" cùng khán giả rất mê những bài hát, bài thơ của chính người lính Trường Sơn; ví như: Trường Sơn đông Trường Sơn tây, Tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật, Niềm vui bám trụ của Trọng Khoát... Đặc biệt bài thơ "Nghe tiếng bom ở Seng Phan"'của anh Phạm Tiến Duật, thực sự gây xúc động mạnh, bởi anh đã nói hộ tâm trạng, ý chí, cốt cách... của những chủ nhân Seng Phan, của những người lính Trường Sơn trong mấy vần thơ ngắn ngủi:

   "... Tôi đến gần Seng Phan
   Nghe cây ào ào đổ
   Cốc chén chẳng nằm yên
   Lung lay cả ngọn đèn
   Tiếng bom như tiếng thú.
   Tôi đứng giữa Seng Phan
   Cao hơn tiếng bom là khe suối, tiếng đàn
   Tiếng mìn công binh phá đá.
   Tiếng điếu cày rít lên thong thả
   Tiếng oai phong, xe rú máy trên đường.
   Thế đấy giữa chiến trường,
   Tiếng bom nghe rất nhỏ...".
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #26 vào lúc: 01 Tháng Hai, 2022, 03:10:27 pm »

Vậy là từ tháng giêng năm 1969, hệ thống đường sá thuộc Binh trạm 31 quản lý thông suốt, bảo đảm xe vận tải chạy liên tục, giao hàng cho Binh trạm 32 và các hướng chiến trường vượt chỉ tiêu kế hoạch. Đặc biệt trong hai tháng 3 và 4 thực hiện chiến dịch vận chuyển đột kích do Bộ Tư lệnh 559 phát động, các lực lựợng đều hoạt động đạt hiệu quả cao. Bộ đội kho, công binh trong gần sáu chục ngày đêm của chiến dịch, bám hàng, bám đường; không khí như ngày hội, lập công cao, bù lại những lúc tắc đường. Anh em lái xe, những "chiến mã Trường Sơn", không chờ lệnh trên, chủ động đăng ký tăng cung, vượt chuyến. Lính lái yêu cầu Ban chỉ huy binh trạm lệnh cho các lực lượng khác, đặc biệt là bộ phận kho bốc dỡ hàng nhanh để anh em có đủ thời gian vượt cung, tăng chuyến.


Trong chiến đấu, công tác vô cùng khẩn trương, ác liệt, thường xảy ra những chuyện khúc mắc thuộc quan hệ nội bộ, quan hệ cán bộ, chiến sĩ. Nhưng cũng qua những "sự cố rất đời thường, đã xuất hiện những việc làm, những gương sáng tạo được cảm tình, uy tín lớn đối với đồng chí, đồng đội. Ở binh trạm bộ lúc đó, có nữ nhân viên tài vụ Hoàng Thị Vân, quê Hà Tĩnh. Với vốn học vấn tốt nghiệp cấp II, tác phong nhanh nhẹn, tháo vát, Vân được phụ trách tài vụ cơ quan binh trạm, được bầu là tổ trưởng phụ nữ cơ quan. Do công tác ở địa bàn chiến sự thường xuyên diễn ra hết sức ác liệt; nam nữ thanh niên xung phong đều được tổ chức và sinh hoạt như bộ đội. Tuy vậy, với đặc thù có đông nữ thanh niên xung phong, chúng tôi tổ chức thành các tổ phụ nữ, tạo điều kiện thuận lợi cho chị em trong sinh hoạt, công tác và giúp đỡ lẫn nhau, đề xuất với cấp chỉ huy những khó khăn của chị em... Là người phụ trách tài vụ, cô Vân thực hiện nghiêm túc chặt chẽ yêu cầu chuyên môn, không thâm hụt, nhưng vẫn bảo đảm được chế độ tiêu chuẩn của bộ đội. Sau vài năm công tác, Vân đã được kết nạp vào Đảng.


Sống giữa chiến trường khốc liệt, con gái "chân yếu tay mềm" là đối tượng để anh em yêu quý, chiều chuộng. Nhưng có một số anh em đôi khi trêu chọc quá đà, dẫn tới có biểu hiện thái quá! Những trường hợp đó thường được phản ánh với tổ trưởng phụ nữ, để tổ trưởng có ý kiến với lãnh đạo, chỉ huy. Nhiều lần, cô Vân gặp tôi báo cáo những chuyện như vậy, và đề nghị chấn chỉnh số anh em có biểu hiện thái quá trong ứng xử với chị em. Để ý, thấy cô chỉ báo cáo tôi, chứ không là ai khác, tôi thân mật hỏi: Tại sao đồng chí chỉ trình bày những chuyện này với tôi? Tại sao không báo Binh trạm trưởng, Tham mưu trưởng? Không một chút ngần ngại, Vân trả lời: Vì chú là Chính ủy!


Ôi! Thật giản đơn - mà cũng chí lý. Với chị em, Chính ủy luôn là người mẫu mực, khuôn thước nhất. Chỉ một vài chuyện nhỏ nhoi vậy thôi, nhưng cũng gợi nhắc tôi rằng cán bộ, chiến sĩ nói chung và chiến sĩ gái luôn tin tưởng người cán bộ làm công tác đảng, công tác chính trị. Cũng vì thế, mỗi lần chị em phản ảnh, tôi thường nhắc nhở anh em, kể cả gặp trực tiếp những người cần gặp, góp ý chân tình để đồng chí mình sửa chữa. Và dĩ nhiên, quan hệ giữa anh chị em ngày càng "yên ấm" hơn.


Hai tháng vận chuyển đột kích, rồi tổng công kích kết thúc trong niềm vui tột đỉnh. Binh trạm 31 vinh dự được Bộ Tư lệnh 559 trao cờ thưởng luân lưu "Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" của Bác Hồ - một phần thưởng đã bao lần anh em chúng tôi thầm ao ước, nhưng không nghĩ là có ngày mình có được.


Kết thúc chiến dịch, tôi thay mặt Ban chỉ huy binh trạm về Bộ Tư lệnh nhận phần thưởng, nhận nhiệm vụ mới. Theo yêu cầu của Bộ Tư lệnh, tháng còn lại của mùa khô Binh trạm 31 chỉ để Tiểu đoàn 53 tiếp tục chuyển hàng từ phía sau vào giao cho Binh trạm 32. Tiểu đoàn 990 cơ động vào tuyến trong và Tiểu đoàn 101 tăng cường cho Binh trạm 32 của anh Ngữ và anh Phan Hữu Đại. Tôi sẽ trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 101 chuyển hàng giao cho Binh trạm 33.


Mùa mưa đã "gõ cửa". Thời gian không chờ đợi. Nhận nhiệm vụ xong, anh Ngữ, anh Đại và tôi về ngay đơn vị. Xe anh Đại và anh Ngữ đi trước, xe tôi tiếp sau. Sáng sớm thấy trời nhiều mây, trần mây thấp, nghĩ là khá an toàn, chúng tôi cho xe xuất phát. Nhưng xe chạy độ một giờ thì trời quang quẻ quá. Xe mình dễ làm mồi cho AC 130 mất! Tôi giục lái xe tăng tốc độ. Ở trục vượt khẩu này, tôi đã chứng kiến nhiều lần, ở đông Trường Sơn, trời mây vần vũ, u ám, cứ như sắp trút mưa xuống. Lái xe phấn khởi, ung dung lên đường. Nhưng vượt Cổng Trời, sang tây Trường Sơn, chao ôi một mẩu mây không còn!... Dù lái xe của tôi dấn ga liên tục, nhưng không kịp. Xe chúng tôi và xe của các anh Binh trạm 32 đều lọt vào tầm ngắm của máy bay AC 130 bám đuổi chúng tôi như thú dữ đói mồi. Đạn 40 ly vãi theo xe như trấu. Với chút kinh nghiệm đối phó nhiều lần với AC 130, tôi vừa quan sát máy bay địch vừa động viên lái xe tăng tốc, cố vượt ra khỏi khu vực địch đánh. Thùng xe thủng nhiều vết đạn; một lốp xe cũng dính đạn, lép kẹp; chân tôi cũng bị một mảnh đạn ghim vào, máu chảy đầm đìa. Cuối cùng, chiếc xe "thọt" của chúng tôi cũng lết được tới trạm chỉ huy giao thông. Anh Ngữ và anh Đại đến trước, đang sốt ruột chờ, thấy tôi lóp ngóp, cà nhắc từ trong xe ra, anh Đại cười nói:

- Lo quá, phúc to bằng núi rồi, tôi cứ tưởng AC130 đã xơi tái các anh rồi! Để xe hỏng đây, lên xe về Binh trạm 32, quân y sơ cứu, kẻo "cái sảy nảy cái ung".

Không còn cách nào khác, tôi đi nhờ xe anh Đại, anh Ngữ về Binh trạm 32. Tại đây, quân y sĩ khuyên phải về đội phẫu mổ lấy mảnh đạn, nhưng tôi biết mảnh đạn chỉ nằm ở phần mềm; nên nhờ anh em băng bó cẩn thận để còn kịp đi theo Tiểu đoàn ô tô 101.


Biết xe tôi bị địch đánh hỏng, người bị thương, anh Nguyên, anh Chiêm lo lắng gọi điện hỏi thăm. Tôi báo cáo cụ thể để các anh yên tâm. Liền đó cùng Tiểu đoàn 101 tôi triển khai gấp nhiệm vụ Bộ Tư lệnh giao. Cũng phải hơn nửa tháng, vết thương ở chân mới lành miệng.


Đầu tháng 6, khi chiều chiều, mây đen treo đầy triền núi, rồi môi cánh tỏa ra đặc các nẻo đường rừng - báo hiệu một mùa mưa dữ dằn, chúng tôi được lệnh thu quân. Vậy là mùa khô 1968-1969 - một mùa khô sống trọn với cửa khẩu đối với tôi đã qua. Niềm vui trong tôi là khá trọn vẹn. Bởi Binh trạm 31 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ trong điều kiện vô cùng khó khăn, ác liệt. Cứ thêm một ngày trải nghiệm thực tế, càng thấu hiểu thêm cuộc chiến đấu của các lực lượng trên Đường Hồ Chí Minh là cuộc chiến đấu liên tục, với cường độ cao, ngày nối ngày, tháng nối tháng, năm liền năm - nhất là mùa khô, suốt sáu - bảy tháng ròng căng thẳng và quyết liệt. Thực tiễn đó đòi hỏi mỗi người lính, hoặc nam nữ thanh niên xung phong phải có tinh thần chịu đựng bền bỉ, trí - dũng song toàn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #27 vào lúc: 01 Tháng Hai, 2022, 03:11:04 pm »

Chiến sĩ lái xe, ngồi vào buồng lái là chính thức "xung trận". Một mình một xe đầy hàng, chạy trong đêm với chiếc đèn gầm tù mù rọi không quá hai mét đầu xe, trên đầu máy bay địch săn đuổi, ngăn chặn, làm sao vững tay lái, xử trí tỉnh táo, tránh được địch trong mọi tình huống, bảo đảm xe không cháy, không đổ, không bỏ xe hàng chạy thoát thân. Trường hợp địch đánh cháy xe, cháy hàng, phải tìm cách cứu xe, cứu hàng, hạn chế tổn thất. "Lửa thử vàng", đạn bom, chết chóc... như một thứ thuốc thử nhiệm màu làm sáng lên những gương đồng chí, đồng đội thân yêu. Đó là Đỗ Văn Chiến - lái xe Tiểu đoàn 101 anh hùng, Cao Duy Thuần - lái xe Tiểu đoàn 53, cùng bao tay lái lão luyện, "chiến mã Trường Sơn"... khác trên toàn tuyến, là những người luôn dẫn đầu đội hình xe vượt trọng điểm, vượt "tọa độ lửa"...; và các anh cũng là những người có số chuyến, số hàng giao ở tuyến trong cao nhất. Mùa khô này, tôi đã chứng kiến trong một lần giao hàng cho Binh trạm 32, cả đoàn xe của Tiểu đoàn 53 bị máy bay địch phát hiện, đuổi đánh ráo riết. Để hút hỏa lực địch về mình, đánh lạc hướng địch, Cao Duy Thuần bất thần cho xe vượt lên trước đội hình, bật hết đèn pha, dấn ga cho xe lao lên phía trước. Phát hiện xe của Thuần, máy bay địch tập trung đuổi đánh. Chớp thời cơ, cả đoàn xe nhanh chóng phân tán đội hình, đảm bảo an toàn. Biết đồng đội ẩn náu an toàn, Cao Duy Thuần tắt đèn pha, quay xe, tìm nơi ẩn náu. Hôm sau, tại nơi giao hàng, mọi người thấy "giáp" nứa nóc buồng lái và nhiều bao gạo trên xe của Thuần dính đầy đầu đạn 40 ly, 20 ly. Nếu như chở hàng khác thì xe anh đã là "bó đuốc"... Với những chiến công đặc biệt xuất sắc của mình, Cao Duy Thuần, Đỗ Văn Chiến - những chiến sĩ ưu tú của Binh trạm 31 đã được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Trong cuộc đọ sức vô cùng quyết liệt với kẻ thù, mỗi lực lượng binh chủng trên Tuyến 559 đều tỏ rõ những tố chất, những đặc trưng riêng, góp phần tạo nên hình tượng người lính Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh. Những chiến sĩ lái xe, xứng đáng với tên gọi "Gan vàng dạ ngọc". Bộ đội công binh kiên cường trụ bám trọng điểm, bám đường... luôn bảo đảm thông đường liên tục; dũng cảm, khéo léo trong rà phá bom mìn, xứng đáng danh hiệu "Tường đồng vách sắt". Bộ đội phòng không - cao xạ kiên cường dũng cảm "Quay nòng pháo theo bánh xe lăn" xứng danh danh hiệu "Đánh giỏi bắn trúng", bảo vệ được xe, kho... Bộ đội giao liên với đôi chân dẻo dai, tổ chức đưa đón bộ đội, thương bệnh binh qua tuyến chu đáo, an toàn, nhanh chóng, xứng đáng là "Người chiến sĩ tận tâm với đồng chí, tận nghĩa với chiến trường". Cán bộ cơ quan chỉ huy mưu trí linh hoạt thực hiện tốt ba bám: Bám nhiệm vụ, bám địch, bám đơn vị...


Để có được những danh hiệu cao quý đó, bộ đội, thanh niên xung phong Trường Sơn đã phải đánh đổi bao mồ hôi, nước mắt, đánh đổi cả tuổi xuân và cả máu xương... Tuy vậy, cũng là con người bằng xương, bằng thịt, nên trong khó khăn thử thách ác liệt, cũng có anh em dao động, thoái thác nhiệm vụ, thậm chí đào, bỏ ngũ. Dĩ nhiên chỉ là hi hữu. Thường là sau một mùa mưa, Bộ Tư lệnh tổ chức tập kết ra Bắc, cuộc sống ở hậu phương, quan hệ gia đình có biết bao điều giằng níu tác động. Mẹ già, con dại; thưa vắng tiếng đạn bom hơn..., nên một số lái xe viện lý do để thoái thác nhiệm vụ. Ở trên tuyến, có người khi bị máy bay đuổi đánh, đã bỏ xe chạy; có chiến sĩ phòng không, công binh ngại trực trọng điểm... Nhưng trước gương hy sirih dũng cảm của đồng đội, sự bảo ban, động viên ân cần, chí tình của tổ chức, bạn bè, đa phần họ vượt qua được chính mình. Cũng như không ít trường hợp chiến sĩ ta ở chiến trường, trong một phút không thắng nổi mình đã thoái lui, tìm đường ra Bắc; nhưng khi ra tới Tuyến 559 được động viên đã trở về đội ngũ, hoặc xin ở lại Tuyến 559 để chiến đấu. Trong hàng ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị trên tuyến cũng có người, có lúc còn ngại gian khổ, ác liệt; tìm cớ né tranh những nhiệm vụ, những nơi khó khăn, khốc liệt nhất... Bước vào mùa khô này, khi được Bộ Tư lệnh 559 cử xuống làm Chính ủy Binh trạm 31, không phải không có lúc tôi băn khoăn, lo lắng; bởi mình chưa nắm được quy luật đánh phá của địch, kinh nghiệm tổ chức chiến đấu chống ngăn chặn hầu như chưa có gì. Nhưng khi "vào cuộc", khi thật sự hòa nhập cuộc chiến đấu hào hùng, quyết liệt của một tập thể những con người rất đỗi dung dị, bình thường và anh dũng phi thường, thì mọi toan tính riêng tư không còn đất tồn tại, dù chỉ là ở góc cạnh sâu kín nhất của tư duy.


Kết thúc mùa khô 1968-1969, Binh trạm 31 giành thắng lợi lớn, hoàn thành nhiệm vụ vượt mức kế hoạch, đạt 120 phần trăm chỉ tiêu - trước một tháng. Các lực lượng của Binh trạm bắn rơi 20 máy bay các loại. Mặc dù vậy, để có được thắng lợi đó, ngoài nỗ lực cao độ của mỗi một cán bộ, chiến sĩ, đã có hơn 100 người con yêu quý vĩnh viễn nằm lại nơi đây; 85 xe bị cháy hoặc bị hỏng; chừng 100 tấn hàng bị cháy. Quả vậy, không có thắng lợi nào là không phải trả giá trong cuộc chiến này.


Từ thực tiễn còn khét lẹt mùi bom đạn, bi hùng - xen lẫn tổn thất và thắng lợi và những điều tâm đắc gạn lọc được từ những ngày đầu vào tuyến, tôi cùng các anh trong Ban chỉ huy binh trạm thấy cần khái quát thành những vấn đề có tính cốt lõi không thể thiếu trong chỉ huy chiến đấu.


Một là: Đánh giá đúng mạnh, yếu của địch, ở địa bàn Trường Sơn, địch tuy có nhiều máy bay, bom đạn, có lợi thế trên không, chúng có thể huy động tối đa lực lượng đánh phá gây tổn thất lớn cho ta; nhưng ta vẫn là người làm chủ dưới đất với các ưu thế: "Thiên thòi, địa lợi, nhân hòa". Từ đó xác định cho bộ đội tư tưởng tiến công, không dao động, bỏ nhiệm vụ.


Hai là: Trong chiến đấu phải luôn tạo được dũng khí ở từng người lính, luôn động viên, phát huy được tính sáng tạo của tập thể. Muốn sáng tạo, cán bộ phải bám sát thực tế (sát thực tế, sát bộ đội, phải có mặt ở những trọng điểm ác liệt nhất để nắm được mạnh, yếu của ta; âm mưu, thủ đoạn của địch...). Thực tiễn cũng chứng minh rằng, chính người chiến sĩ thường giúp cán bộ có được giải pháp tối ưu để tháo gỡ khó khăn.


Ba là: Biết chớp mọi thời cơ - dù nhỏ nhất, thời gian ngắn nhất, không gian hẹp nhất, nếu địch sơ hở, để vượt lên. Để có thể tranh thủ mọi thời cơ, phải chủ động xây dựng thế trận, tạo thế trận. Khi điều kiện chín muồi thì tiến hành tổng công kích, đột kích. Thực tiễn cho thấy, khi bộ đội, thanh niên xung phong... đã nhập cuộc thì năng suất không chỉ tính bằng phép cộng mà thường là cấp số nhân.


Bốn là: Không chỉ biết động viên sự nỗ lực của bộ đội, mà còn phải biết yêu thương, chăm sóc anh em, nhất là khi cấp dưới gặp khó khăn, thiếu thốn, tổn thất; phải biết vui niềm vui, buồn nỗi buồn của anh em. Có như vậy, anh em chiến sĩ mới thật sự gắn bó máu thịt với đơn vị, với nhiệm vụ mà tổ chức giao phó.


Năm là: Đoàn kết trong lãnh đạo chỉ huy; dân chủ bàn bạc phát huy trí tuệ tập thể, để thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị. Thực tế quãng thời gian tôi ở Binh trạm 31, cán bộ chủ trì Binh trạm lúc cao nhất lên hơn 10 người, lại có thêm cán bộ hai trung đoàn phối thuộc, cùng đồng cấp. Để tạo được sự đoàn kết nhất trí, mỗi cán bộ phải xác định rõ nhiệm vụ của Binh trạm cũng như nhiệm vụ của riêng mình. Mỗi kỳ họp Đảng ủy hoặc họp thủ trưởng quân - chính, chúng tôi đều chỉ đạo chuẩn bị chu đáo, bàn bạc khẩn trương, quyết định mọi chủ trương giải pháp chuẩn xác, thống nhất cao. Cuối cùng, khi tổ chức thực hiện, cán bộ chủ trì phải lăn xả vào nơi khó, việc khó, không né tránh, sai thì sửa; có vấn đề gì chưa thống nhất, kịp thời nghiên cứu, tìm hiểu thực tiễn để thống nhất lại.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #28 vào lúc: 01 Tháng Hai, 2022, 03:11:42 pm »

Dù chỉ là những vấn đề vừa có tính chung nhất, vừa mang tính đặc thù của một đơn vị cấp chiến thuật - một mắt xích của tuyến chi viện chiến lược, cần được bổ sung bằng thực tiễn, nhưng những nội dung nêu trên, ở chừng mực nào đó đã trở thành "cẩm nang" cho đội ngũ cán bộ binh trạm trong một thời gian khá dài. Cũng như những mùa mưa trước, đầu tháng 6 năm 1969, một cuộc rút quân ra hậu phương khá quy mô được thực hiện trên toàn tuyến. Theo lệnh của Bộ Tư lệnh 559, chúng tôi có bố trí một phần lực lượng ở lại củng cố cầu đường, kho tàng, tổ chức đưa đón bộ đội, thương bệnh binh qua tuyến bằng đường dây giao liên. Sau khi tập kết ra Bắc, chúng tôi tổ chức cho lực lượng xe máy đi sửa chữa, nhận xe mới; các đơn vị củng cố tổ chức, sinh hoạt chính trị, luân phiên nghỉ phép thăm gia đình, theo chủ trương của Bộ Tư lệnh 559. Ngày 31 tháng 7, hội nghị tổng kết hoạt động mùa khô 1968-1969 của Bộ Tư lệnh 559 được tiến hành tại Sầm Sơn - Thanh Hóa. Hội nghị vinh dự được đón Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng nhiều tướng lĩnh đại biểu của các cơ quan Bộ Quốc phòng, và điều rất đỗi thiêng liêng là tại hội nghị này, cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Trường Sơn được đón nhận lẵng hoa của Bác Hồ gửi tặng. Nhưng rồi "Mừng chẳng kịp no". Niềm vui riêng của chúng tôi không bù nổi mất mát, đau thương của dân tộc, của toàn dân, toàn quân. Bác Hồ đã vĩnh viễn ra đi. Trong những ngày "Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa", trong những ngày đất trời cũng đau nỗi đau nhân thế, tôi vinh dự có mặt trong đoàn cán bộ, chiến sĩ đại diện cho Bộ đội Trường Sơn ra Ba Đình viếng Bác.


Sau tuần lễ cùng quân và dân cả nước tổ chức lễ viếng, để tang Bác Hồ, chúng tôi tập trung thu quân, chuẩn bị mọi mặt để nhập tuyến.

Cũng trong thời gian trở lại hậu phương lần này, tôi có được một kỷ niệm hết sức cảm động - đúng hơn là một bài học không dễ gì quên được. Nhân tôi và anh Đặng Ba về Bộ Tư lệnh họp, anh Nguyễn Văn Thể - Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn ô tô 101 nhờ chúng tôi ghé thăm, chuyển chút quà nhỏ tới gia đình; bởi anh chưa thể về thăm nhà, trong khi bộ đội chưa ổn định nơi nghỉ ngơi, xe hỏng chưa tổ chức đi sửa chữa và đổi được.


Đinh ninh rằng bố mẹ, vợ con Thể rất mừng khi nhận tin vui và quà của anh. Nhưng, khi chúng tôi báo anh bận việc chưa thể về được, tạm gửi chút quà, thì cả nhà anh òa khóc dữ dội. Ngỡ ngàng, quá sức tưởng tượng! Bỗng chốc trong nhà, ngoài sân chật cứng bà con chòm xóm. Đợi cho "tình thế bớt căng thẳng chút xíu, chúng tôi gặng hỏi hồi lâu, mẹ đồng chí Thể mới nghẹn ngào hỏi lại: "Có thật con tôi còn sống không các bác?". Từ bộc bạch của gia đình và bà con chòm xóm, chúng tôi mới vỡ lẽ rằng: Khi cán bộ, chiến sĩ từ chiến trường ra Bắc, đến thăm gia đình đồng chí, bạn bè, dù có chuyển giùm quà nhưng không có thư của con, em họ, thì gia đình nghĩ ngay rằng những người này đến động viên an ủi, còn người thân của họ chắc chắn đã hy sinh. Ở địa phương này, đã có nhiều trường hợp như vậy. Vỡ lẽ, chúng tôi cố giải thích, thuyết phục mãi, gia đình mới nguôi ngoai, mới tin là Thể còn sống và để chúng tôi lên đường. Từ đó, chúng tôi cho rằng, với những gia đình có con em đi chiến đấu xa, ngoại trừ người thân của họ trở về, chỉ có mấy dòng thư do chính người thân họ viết mới có thể tin được, mới khỏa vơi phần nào nỗi mong ngóng đợi chờ.


Chuẩn bị cho một mùa ra quân mới, Bộ Tư lệnh quyết định điều chỉnh một bước biên chế tổ chức. Theo đó, anh Đặng Ba có quyết định nhận nhiệm vụ ở tuyến ngoài; anh Vũ Trịnh được bổ nhiệm làm Binh trạm trưởng. Tôi và anh Vũ Trịnh vốn là bạn chiến đấu cùng đơn vị từ hồi kháng chiến chín năm, nên việc anh Trịnh nhận chức Binh trạm trưởng càng tăng thêm tính thống nhất trong lãnh đạo, chỉ huy.


Trên toàn tuyến vào thời điểm này, Bộ Tư lệnh quyết định đưa Trung đoàn công binh 98 ra mở đường từ làng Ho vào đường số 10 thành đường ngang 16, mở đường 18 vào đường 9, thành lập Binh trạm 27 phụ trách hai hướng vượt khẩu mới. Đường 16 và đường 18 khai thông, đưa vào sử dụng, ta có thểm hai trục vượt khẩu mới, phá dần thế độc đạo ở địa bàn có tầm quan trọng chiến lược này.


Triển khai kế hoạch mùa khô 1969-1970, do chuẩn bị chu đáo cả về lực lượng và thế trận cầu đường, thế trận vận chuyển, nên cho dù địch đánh phá ngăn chặn quyết liệt khu vực vượt khẩu như các mùa khô trước, Binh trạm 31 và Binh trạm 32 vẫn thực hiện tốt vai trò, thế mạnh của binh trạm cửa khẩu phía Bắc; chuyển nhanh, nhiều hàng, bảo đảm đưa đón nhiều quân vào chiến trường. Ba tháng đầu mùa khô là quãng thời gian trước đây ta thường gặp khó khăn nhất, thì năm nay cả hai binh trạm đều hoàn thành vượt mức kế hoạch trên giao.


Vào thời điểm mọi hoạt động của Binh trạm 31 tiến triển tốt, ngày càng đi dần vào nền nếp, và tôi đã là người của Seng Phan, Pác Pha Năng, Cổng Trời, 050..., thì có điện của anh Nguyên: về gấp Bộ Tư lệnh, nhận nhiệm vụ mới. Thời gian không chờ đợi, tôi bàn giao công việc cho anh Phan Biên - người được bổ nhiệm thay tôi làm Chính ủy Binh trạm 31, rồi về ngay Bộ Tư lệnh. Phút chia tay anh Vũ Trịnh, anh Phan Biên cùng anh em trong binh trạm bộ thật bịn rịn, khó rời. Quả thật, đạn bom, khốic liệt, những sưóng khổ, buồn vui, thậm chí những giây phút cận kề cái chết đã gắn kết chúng tôi lại thành một khối dễ gì rời bỏ nhau, nếu không vì nhiệm vụ cách mạng.


Về đến Bộ Tư lệnh, tôi được anh Nguyên, anh Chiêm trực tiếp gặp thông báo, giao nhiệm vụ vào làm Chính ủy Binh trạm 42 thay anh Lê Tự Do nhận nhiệm vụ mới. Cũng qua anh Nguyên, anh Chiêm, anh Lang, tôi được biết lúc đó Binh trạm 42 đang gặp nhiều khó khăn. Khu kho La Hạp và sở chỉ huy binh trạm ở A Túc bị biệt kích đột nhập, chỉ điểm cho máy bay đánh phá, gây tổn thất lớn. Binh trạm chưa có bãi giấu xe. Sau khi hoạt động, xe thường phải đỗ rải rác dưới các lùm cây dọc đường, dễ bị địch phát hiện, đánh cháy khá nhiều. Ban chỉ huy binh trạm chưa có sở chỉ huy cố định. Do địch đánh mạnh, lượng hàng mà Binh trạm 42 chuyển giao cho Mặt trận Trị - Thiên và cánh Bắc của Quân khu 5 ở Trao chẳng được bao lăm.


Cuối mùa khô 1966-1967, do ý thức được tầm quan trọng của đường B45 thuộc Binh trạm 42, trong hoạt động vận chuyển chi viện trực tiếp cho chiến trường Trị - Thiên và bắc Khu 5, nên địch đã tập trung máy bay oanh tạc dữ dội. Mỹ còn cho trực thăng đổ quân xuống một số điểm cao để khống chế ngăn chặn vận chuyển. Riêng cao điểm Cô Ca Va đã bị sáu tiểu đoàn Mỹ - ngụy chiếm đóng, sắc áo rằn ri phủ kín núi đồi, tựa cây rừng. Lúc đó, Bộ Tư lệnh 559 đã phái anh Hồng Kỳ - Phó chính ủy xuống giúp Ban chỉ huy binh trạm tổ chức lực lượng tiêu diệt hàng trăm tên địch, buộc chúng chạy tháo thân. Lần này, cũng với ngón nghề cũ, thám báo, biệt kích địch vừa tập kích phá kho, vừa chỉ điểm cho máy bay đánh phá. Binh trạm 42 đã sử dụng Đại đội 643 bộ binh tiến công tiêu diệt địch, nhưng chúng đã kịp gây cho ta một số tổn thất.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #29 vào lúc: 01 Tháng Hai, 2022, 03:12:36 pm »

Vào thời điểm này, Binh trạm 42 đảm trách chủ yếu đường B45 từ cây số 10 đến Xưỏng Giấy (tây nam Thừa Thiên) với chiểu dài hơn 300 cây số. Lực lượng thuộc Binh trạm gồm hai tiểu đoàn công binh (37, 45), một tiểu đoàn xe ô tô (55), một tiểu đoàn cao xạ (12), một tiểu đoàn bộ binh (5), một tiểu đoàn giao liên (14), một quân y viện (Viện 48) và sáu đại đội trực thuộc. Ban chỉ huy binh trạm; ngoài anh Lê Tự Do - Chính ủy đã có quyết định nhận nhiệm vụ mới, còn có các anh: Hoàng Xuân Điển - Binh trạm trưởng, Hoàng Huềnh - Binh trạm phó phụ trách vận chuyển, Nguyễn Thăng và Hoàng Xuân Thanh - Binh trạm phó phụ trách cầu đường, Nguyễn Văn Toàn - Phó chính ủy.


Khi bước vào sở chỉ huy tạm thời của Binh trạm 42 ở rìa một cánh rừng già tại La Hạp, bị máy bay địch đánh tơi tả, đặc biệt là đi qua khu kho bị địch đánh còn khét lẹt mùi đạn bom, mùi hàng bị cháy; gặp một số xe bị cháy, chưa kịp tháo gõ, hoặc kéo đi chỗ khác... nỗi buồn trĩu nặng lòng tôi. Rồi nỗi buồn cũng nhường chỗ cho tâm trạng lo lắng - liệu rồi tôi sẽ cùng anh em chèo chống sao đây để khắc phục nhanh chóng hậu quả, triển khai tiếp kế hoạch, đặng hoàn thành sứ mệnh của một binh trạm tiếp giáp hai chiến trường Trị - Thiên và Khu 5.


Sau khi nắm sơ bộ tình hình biên chế tổ chức và hoạt động của binh trạm, hoạt động đánh phá của địch, tôi dành ba ngày cùng mấy anh em cán bộ chủ chốt xuống trực tiếp nắm tình hình thực tế các đơn vị, từng trọng điểm. Sau đó, tôi cùng anh Điền cho triệu tập hội nghị Đảng ủy binh trạm, bàn bạc và quyết định củng cố lại thế trận của binh trạm. Việc đầu tiên chúng tôi cho triển khai ngay, là chuyển sở chỉ huy Binh trạm vào vị trí mới, xây dựng khu kho mới và khu trú đậu, bãi giấu xe của Tiểu đoàn 55 ở khu vực phía nam đường B45, cách La Hạp chừng bảy cây số, cách trục đường chính năm cây số; dưới chân một ngọn núi lớn, cao chừng 800 mét.


Nghiên cứu cụ thể và qua tổng hợp báo cáo của cơ quan tham mưu, chúng tôi nắm khá chắc quy luật đánh phá của không quân địch, đặc biệt là máy bay B-52 ở khu vực này. Mỗi đợt rải bom của B-52 thường bắt đầu từ đường chính B45, vào đến đầu dãy núi là hết bom; từ loạt thứ nhất sang loạt thứ hai, và từ loạt thứ hai sang loạt thứ ba... thường ngắt quãng từ một đến hai cây số. Quãng rừng kín giữa hai đợt bom là tương đối an toàn. Chúng tôi quyết định xây dựng kho, bãi giấu xe, sở chỉ huy ở "mép an toàn" đó. Dĩ nhiên, khi xây dựng, phải kịp thời ngụy trang bằng những thứ vật liệu hợp với địa hình của đường ra vào khu căn cứ; việc chỉ huy xe ra vào bãi cũng phải hết sức chặt chẽ... Từ những căn cứ - cơ sở phân tích nêu trên, chúng tôi đã có được một căn cứ khá an toàn; để từ đó tiếp tục củng cố đường sá, khắc phục tình trạng đỗ xe tạm bợ dọc đường.


Về đường, trước đó, từ La Hạp vào A Sầu, A Lưới duy nhất chỉ có đường B45 đi qua phía nam dãy Cô Ca Va, động Con Tiên, dốc Đá..., nên khi địch tập trung đánh phá, ngăn chặn, rất dễ bị ách tắc. Để khắc phục tình trạng độc đạo này, Bộ Tư lệnh tăng cường cho chúng tôi Trung đoàn công binh 83 mở trục đường thứ hai từ A Túc qua phía bắc dãy Cô Ca Va, chạy thẳng xuống A Lưới. Đoạn đường này dài 70 cây số, tránh được động Con Tiên.


Đối với các khu trú đậu xe, trước đây do Binh trạm chưa có bãi giấu xe, lính lái xe thường tìm những lùm cây dọc trục đường, để trú đậu. Qua mấy lần xăm tìm, bắn cháy xe, không quân địch đã đánh nát những lùm cây, khoảnh rừng chúng nghi có xe ẩn náu. Vì thế, đường vốn trống trải, ngày càng trơ trụi. Xe đậu ban ngày khó thoát khỏi tầm kiểm soát của OV10, L19... Để khắc phục tình trạng này, qua nghiên cứu thực địa, chúng tôi phân cung độ xe chạy thật cụ thể, chọn điểm xe cần dừng, lợi dụng các khe suối, tổ chức sửa chữa thành những nơi đỗ xe khá lý tường. Những nơi này thường cách trục đường chính từ 500 đến 1.000 mét, bảo đảm người và xe an toàn hơn.


Một công việc khác cũng khá quan trọng là chuẩn bị điểm đặt kho và điểm giao hàng mới cho Trị - Thiên, Khu 5. Để có được cơ sở hạ tầng - một thế trận mới tương đối cơ bản của Binh trạm cũng mất ngót hằng tháng. Trong khi thời gian mùa khô cứ vùn vụt qua mà lượng hàng chuyển cho Trị - Thiên và Khu 5 chưa được bao lăm. Để giúp Binh trạm 42 gỡ bí, Bộ Tư lệnh bổ sung cho Tiểu đoàn 55 một số xe tốt, đồng thời tăng cường Trung đoàn 4 công binh cho binh trạm. Có thêm ngươi, thêm phương tiện, chúng tôi tổ chức mở gấp một đường nhánh vào Trao để giao hàng cho cánh Bắc của Khu 5. Phải nói rằng lực lượng công binh của Binh trạm 42 lúc này khá mạnh - gồm chín tiểu đoàn (ba tiểu đoàn trực thuộc binh trạm, Trung đoàn 83 và Trung đoàn 4). Và rồi cũng như hồi ở Binh trạm 31, Bộ Tư lệnh lại cử một số cán bộ cơ quan có năng lực xuống giúp chúng tôi tháo gỡ khó khăn, ách tắc. Người "có duyên" với tôi trong việc giải tỏa trọng điểm là Tham mưu phó công binh Nguyễn Văn Kỷ.


Với cương vị Binh trạm trưởng, anh Hoàng Xuân Điền có trách nhiệm chỉ đạo chung. Anh Nguyễn Thăng đặc trách chỉ huy bảo đảm giao thông. Còn tôi, anh Xuân Thanh và anh Kỷ ngày đêm chống gậy bươn bả đi nghiên cứu đường sá, tìm mở các đoạn tránh La Hạp, động Con Tiên, Cô Ca Va, A Lưới... Có lúc ngồi tránh bom trong hang núi ở động Con Tiên, tôi tâm sự cùng anh Kỷ:

- Tôi với anh đúng là sống chết có nhau. Năm ngoái anh giúp tôi cùng Binh trạm 31 giải tỏa Seng Phan, mở toang trục vượt khẩu đường 128, năm nay anh lại cùng chúng tôi gỡ nút giáp chiến trường, không biết nay mai còn nơi đâu nữa...?

Anh Kỷ cười - tiếng cười hồn hậu, hiền lành thoải mái như chính con người, nét ứng xử của anh, và nói:

- Trường Sơn rộng dài, nhưng cũng hẹp thôi. Còn sống, còn khó khăn, anh em ta sẽ gặp nhau luôn mà. Giúp được nhau một chút gì đó để vượt được "cạn", vượt được khó mới sướng. Cuộc đời nếu cứ bằng lặng, suôn sẻ; vượt Trường Sơn mà như đi trên đại lộ, hẳn mấy người đã cần đến nhau... !


Trong cái hỗn mang kỳ quái, tứ bề ì ùng bom đạn, mấy lời tâm sự của người đồng chí sao mà sâu lắng! Cũng may "Giữa chiến trường, nghe tiếng bom rất nhỏ" tôi mới lắng được những điều rất chất lính Trường Sơn.

Mấy ngày sau khi anh Kỷ xuống giúp chúng tôi, anh Bùi Đức Tạm - Phó chính ủy Bộ Tư lệnh 559 cũng xuống kiểm tra tình hình, động viên cán bộ, chiến sĩ Binh trạm 42. Nhưng xe anh Tạm vừa xuống đã bị máy bay đánh cháy. May là không ai thương vong. Làm việc với anh Tạm sau sự cố đó, tôi đùa vui: Bom đạn thật khéo tránh anh! Lần trước gặp anh cũng ở đường B45. Khi vào Binh trạm 7, xe con của anh bị cháy. Rồi lần này nữa, xe cháy mà người chẳng sây sát gì. Nhưng anh cứ để chúng đốt hết xe con như thế này, thì chỉ huy binh trạm chúng tôi lấy xe đâu mà đi! Anh Tạm cười rất thoải mái: Ừ, cái số mình sao rủi ro vậy. Nhưng trong cái rủi có cái may. Mong sao đây là xe cuối cùng mình "đốt" .
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM