Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 02:55:46 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đường về đất mẹ  (Đọc 10348 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #30 vào lúc: 01 Tháng Hai, 2022, 03:13:13 pm »

Đúng là lúc đó chỉ huy Binh trạm 42 không có xe con, bởi năm nào cũng bị cháy, vả lại, các trục đường do Binh trạm quản lý lắm đèo dốc, chẳng xe con nào chịu nổi. Cho nên chỉ huy binh trạm đi công tác thường sử dụng xe Zin157 có đầu tời. Một lần tôi ngồi xe Zin157 đi cùng đội hình xe Tiểu đoàn 55 chuyển hàng từ La Hạp vào Trao giao cho Khu 5; khi quay về, qua động Con Tiên bị máy bay địch phát hiện, bu bám đuổi đánh. Tôi rời buồng lái nhảy lên thùng xe quan sát máy bay địch và hướng dẫn cho đồng chí lái xe vừa cho xe chạy vừa tránh đạn. Đạn địch vãi theo xe, nổ như bắp rang. Rồi một viên đạn 40 ly nổ đanh, chát chúa trên thùng xe, ngay sau lưng tôi. Giật mình ngoái lại, sàn xe bị thủng một lỗ to, nước chảy cả một vạt. Như một phản xạ tự nhiên, tôi quơ tay cầm chiêc bi đông sau lưng. Ôi thôi, nó đã vỡ thành hai mảnh, dét dẹt... Khi xe dừng tại một điểm khá kín đáo, an toàn, tôi mới đưa cho chiến sĩ lái xe xem "xác" chiếc bi đông. Đồng chí lái xe cười hì hì, rồi bảo: Số thủ trưởng còn lớn lắm. Thủ trưởng nên giữ xác chiếc bi đông này làm kỷ niệm một lần thoát hiểm và biết đâu sau này nó có giá đấy. cả hai cười vang. Thêm một lần nữa minh chứng cho cái triết lý lạc quan ở chiến trường 559. Địch lắm đạn bom, nhưng bom đạn chúng có phải lúc nào cũng đánh trúng xe, nếu trúng dễ gì xe hỏng và chắc gì đã trúng người... !


Từ tháng 2 năm 1970, mọi hoạt động của Binh trạm 42 diễn ra nhịp nhàng, thuận lợi và hiệu quả. Hàng do binh trạm chuyển giao cho Mặt trận Trị - Thiên và cánh Bắc Khu 5 ngày càng nhiều. Các chỉ tiêu kế hoạch, yêu cầu của chiến trường Trị - Thiên đều được Binh trạm đáp ứng khá kịp thời, đầy đủ. Đầu tháng 5 năm 1970, anh Hoàng Văn Thái - nguyên Tư lệnh Đoàn 559 hiện là Phó tư lệnh phụ trách hậu cần Quân khu Trị - Thiên ra Bắc công tác. Từ một trạm giao liên, anh gọi điện đến cảm ơn Binh trạm 42.


Theo anh, chủ lực Trị - Thiên đã qua đận khó khăn về hậu cần. Nguồn vật chất Bộ Tư lệnh 559 chuyển giao cho đến cuối mùa khô này đảm bảo đủ đánh lớn. Việc đánh hay không do anh Trần Văn Quang và tập thể Quân khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu quyết định.


Nghe điện khen, cảm ơn của Thủ trưởng cũ, mấy anh em lặng nhìn nhau. Niềm vui có lúc khó nói thành lời.

Cuối tháng 3 năm 1970, hoặc do máy bay trinh sát hoặc do biệt kích thám báo phát hiện chỉ điểm, B-52 đã ném bom rải thảm đúng khu vực sở chỉ huy binh trạm. Bom rơi trúng hầm làm ba trợ lý ban quân lực hy sinh. Điều may mắn là địch đánh đúng vào lúc đoàn chèo tỉnh Thái Bình đang phục vụ cán bộ, chiến sĩ Binh trạm 42, nhưng không ai việc gì. Mặc dù anh chị em yêu cầu tiếp tục đợt phục vụ Binh trạm, nhưng sáng hôm sau, chúng tôi quyết định đưa ngay những diễn viên mà cán bộ, chiến sĩ chúng tôi rất mến mộ trở lại tuyến sau, phòng có sơ sẩy gì ở đây thì chúng tôi ân hận lắm.


Sau "sự cố" B-52, chúng tôi cho chuyển sở chỉ huy binh trạm, kho, bãi giấu xe vào vị trí dự bị gần động Con Tiên, vừa tránb tổn thất, vừa để chỉ huy sâu sát, trực tiếp hơn các hoạt động phía trước.

Cùng với việc đánh phá, ngăn chặn bằng đường không, tháng 5 năm 1970, địch dùng trực thăng đổ một tiểu đoàn lính dù Mỹ xuống dãy Cô Ca Va hòng chốt chặn, khống chế ta vận chuyển chi viện cho Trị - Thiên, Khu 5. Quả là đối phương đã quên, hoặc chủ định quên bài học A Sầu, A Lưới tháng 4 năm 1967, điển hình là đồi A Bia đã trở thành "Cối xay thịt" quân dù Mỹ - như báo chí phương Tây đã ví von khá cay nghiệt lúc đó. Địch vừa chạm đất, chúng tôi lệnh cho Đại đội 643 bộ binh bám đánh, buộc chúng bị động chống đỡ, co cụm trên núi, không dám mon men xuống đường. Xe của Binh trạm vẫn chuyển hàng vào ra bình thường dưới chân núi. Sau đúng nửa tháng mất ăn mất ngủ, hao quân mà chẳng "nên cơm cháo" gì, chúng buộc phải dùng trực thăng bốc quân dù về Huế.


Đầu tháng 6 - các trục vận chuyển ban đầu lầy lội, lép nhép bởi những trận mưa chiều liên tục trút xuống rừng Lào và tây Trị - Thiên. Những quãng đường thấp đã chớm hình thành "túi nước". Toàn Binh trạm triển khai kế hoạch mùa mưa. Đột xuất, một sáng, anh Nguyên gọi điện lệnh cho Binh trạm dùng 20 xe khẩn cấp chở hàng giao cho Quân khu 5. Ban chỉ huy binh trạm hội ý chớp nhoáng. Anh Hoàng Xuân Điền hỏi ý kiến anh em. Tôi cho rằng không thể vận chuyển bằng xe tải lúc này. Vì "túi nước" tại A Lưới khá sâu và dài tới năm cây số. Rất dễ tắc tại đó.


Nếu địch phát hiện tập trung đánh chặn thì xe cháy, hàng cháy là không tránh khỏi. Vì yêu cầu quá cấp bách, nếu Tư lệnh cho phép, chúng ta sẽ tăng cường lực lượng công binh hộ tống cho xe con chuyển hàng theo đường thường sử dụng cho loại xe này, kết hợp vận tải gùi thồ, chi viện cho Quân khu 5. Dù như vậy sẽ vất vả, hàng vào chậm, nhưng khả dĩ đáp ứng được yêu cầu chiến trường, mà Binh trạm cũng đỡ tổn thất.


Nghe tôi nói vậy, anh Điền bảo tôi cầm máy báo cáo trực tiếp với anh Nguyên giải pháp đó. Nghe tôi báo cáo xong, anh Nguyên yêu cầu chúng tôi nghiên cứu lại, bàn bạc cho thật kỹ.

Chiều hôm đó, tôi gọi điện báo cáo anh Nguyên rằng chúng tôi vẫn giữ nguyên chủ trương như đã trình bày buổi sáng. Dường như chỉ chờ vậy, anh ngắt lời tôi, giọng rất gay gắt: Sao anh cãi tôi! Cứ làm theo lệnh.

Tôi giải thích thêm: Quyết định của chúng tôi căn cứ tình hình thực tế của công binh vừa báo cáo. Không thể sử dụng xe tải chạy qua túi nước A Lưới. Bài học thử nghiệm vận tải cơ giới không thành trong mùa mưa 1968, buộc chúng tôi phải tính tới khả năng ách tắc ở túi nước A Lưới và hệ quả tất yếu là địch sẽ phát hiện, đánh gây tổn thất...


Anh Nguyên không thay đổi quyết định của Bộ Tư lệnh. Còn chúng tôi buộc phải chấp hành. Kết cục sự việc diễn ra đúng như chúng tôi lường định, cả đoàn xe không vượt nổi "túi nước" A Lưới. 12 xe bị đánh cháy, 8 chiếc hỏng nặng, chúng tôi tổ chức cứu kéo vào để tạm hai bên đường. Số hàng không cháy, được tổ chức gùi thồ giao cho Trị - Thiên.


Sự cố A Lưới của Binh trạm 42 được nêu ở hội nghị tổng kết hoạt động mùa khô của Tuyến. Tư lệnh nghiêm khắc tự phê bình. Khuyết điểm là không nắm vững tình hình cộng với không nghiên cứu kỹ đề xuất của cấp dưới. Anh còn dùng một ngạn ngữ rất đặc trưng của miền Trung là: "Dùi đánh đục, đục đánh khăng" - Do trên thúc dữ quá nên buộc anh cũng phải thúc chúng tôi. Ở "ngoài lề" hội nghị, anh Mai Trung - Bí thư của anh Nguyên cho tôi biết: nhiều người ở cơ quan Bộ Tư lệnh biết chuyện tôi khăng khăng không đồng ý cho 20 xe tải đi qua "túi nước" A Lưới, đã cho rằng: ông Sở lại giống ông đồ gàn Xứ Nghệ, dám cự lại ông Nguyên (ý muốn nói tôi giống như anh Nguyễn Văn Lạn, quê Nghệ - Tĩnh, đã phản đối quyết định thử nghiệm vận tải cơ giới mùa mưa năm 1967).


Sự cố A Lưới tháng 6 năm 1970, thêm một lần nữa giúp chúng tôi thấm sâu hơn một chân lý đã được đúc kết từ trước: Thời tiết nghiệt ngã ở Trường Sơn - đặc biệt mưa lũ ở Trường Sơn cũng là một kẻ thù vô cùng nguy hiểm đối với công tác giao thông vận tải. Không nắm được tính đặc thù của thời tiết Trường Sơn cũng có nghĩa là không thấy được hết cả cái đa dạng và cái đặc thù của hoạt động vận chuyển chi viện trên tuyến đường mang tên Bác.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #31 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2022, 08:36:56 am »

IV- VỚI HAI SƯ ĐOÀN 471 - 472

Những trận mưa lớn, kéo dài tưởng như "thối đất" đã khép lại một mùa khô 1969-1970, với tôi là đầy biến động, không ít thành quả, nhưng cũng còn nhiều món nợ với chiến trường. Cuối tháng 6, Đảng ủy 559 họp mở rộng, về dự hội nghị, tôi được thông báo có quyết định của trên bổ nhiệm giữ chức Phó chủ nhiệm chính trị Bộ Tư lệnh 559. Người thay tôi làm Chính ủy Binh trạm 42 là anh Trần Danh Hòa - phái viên của Bộ Tư lệnh đang ở dưới đó.


Đã ba năm nay, hoặc trước một mùa khô, hoặc sau một mùa vận chuyển, tôi đều có quyết định thuyên chuyển công tác. Chuyển dịch lắm quả cũng khó làm được một việc gì đó cho ra tấm ra miếng. Bởi người đời thường nói: "Đá lăn chẳng mọc nổi rêu". Lần này về cơ quan chính trị, cho dù có quen người, quen việc, nhưng thâm tâm tôi vẫn muốn ở lại với binh trạm, với những cung đường, trọng điểm, "túi nước" mà ở những nơi đó, chúng tôi còn mang nợ với chiến trường.


Hội nghị Đảng ủy lần này được tiến hành sau khi các anh trong Bộ Tư lệnh vừa ra Hà Nội nhận nhiệm vụ Bộ Quốc phòng giao, trở về, nên chúng tôi được phổ biến khá tường tận tình hình trên các hướng chiến trường. Theo nhận định của Thường trực Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh thì từ khi Lon Non được Mỹ hậu thuẫn làm đảo chính, lên cầm quyền ở Cam-pu-chia, cảng Xi Ha Núc Vin bị khóa chặt, tuyến vận tải 559 trở thành tuyến chi viện chiến lược duy nhất từ hậu phương lớn miền Bắc vào miền Nam và chiến trường nước bạn. Vì vậy, chóng hoặc chầy, Mỹ - ngụy sẽ huy động tối đa sức mạnh tổng lực để hòng chặt đứt Tuyến 559 - Đường Hồ Chí Minh, vô hiệu hóa hoàn toàn nhân tố mà Mỹ vẫn cho là "vật cản", là nguyên nhân của mọi thảm bại của Mỹ trên chiến trường.


Từ sự phân tích, gợi ý với một nhãn quan chiến lược của Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh và căn cứ vào thực tiễn chiến trường Trường Sơn, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh 559 cho rằng: sắp tới địch sẽ tập trung không quân đánh mạnh, đồng thời kết hợp cho bộ binh nống ra để ngăn chặn hoạt động chi viện của Bộ đội Trường Sơn. Có thể chúng sẽ mở chiến dịch quy mô lớn bằng lực lượng binh chủng hợp thành đánh cắt Tuyến 559 theo đường số 9, hoặc nống ra ngã ba La Hạp, Phi Hà, Khâm Đức. Ở hành lang phía tây, địch có thể nống ra Sa Ra Van, A Tô Pơ, Mường Phin... Thời gian địch tập trung chặn cắt tuyến có thể là đầu mùa khô, hoặc đầu năm 1971.


Vậy là, mới chớm mua mưa, mà những tiên liệu mọi điều sẽ đến trong mùa khô tới, đã đặt Tuyến 559 trước những thử thách mới. Bộ Tư lệnh quyết định mùa mưa 1970 chỉ rút một bộ phận nhỏ lực lượng cơ giới ra Bắc để củng cố, bổ sung phương tiện, còn đại bộ phận ở lại tuyến chuẩn bị chiến trường, sẵn sàng đối phó với các cuộc hành quân quy mô lớn của địch và chuẩn bị thế trận vận chuyển chi viện trong mùa khô tới.


Cũng xuất phát từ việc lường định những khó khăn của tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn từ sau khi Lon Non đảo chính ở Cam-pu-chia, ngày 15 tháng 4 năm 1970, theo đề nghị của Bộ Tư lệnh 559, Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Bộ Tư lệnh khu vực 470 - có quyền hạn tương đương sư đoàn, đứng chân và xây dựng khu căn cứ chiến lược ở khu vực ba biên giới, trực tiếp vận chuyển chi viện các chiến trường Tây Nguyên, Nam Bộ, Trung - Hạ Lào và Đông Bắc Cam-pu-chia. Anh Nguyễn An - Phó tư lệnh Bộ Tư lệnh 559 được cử làm Tư lệnh 470. Chính ủy là anh Bùi Đức Tạm - Phó chính ủy 559.


Để chuẩn bị cho mùa khô 1970-1971, hay nói đúng hơn là nhằm đảm bảo cho Bộ Tư lệnh 559 đủ sức đối phó với âm mưu mới của Mỹ - ngụy, ngay trong mùa hè 1970, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần đã tăng cường cho tuyến hơn 24 nghìn quân, trong đó có 3.335 lái xe, 382 thợ sửa chữa; bổ sung 3.657 ô tô các loại, gần 100 máy húc1 (Lịch sử Đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh, Nxb Quân đội nhân dân - Hà Nội, 1999, tr.405). Đặc biệt, để tạo lập một chiến trường thống nhất, đủ sức đánh chặn địch tiến công cả từ trên không và mặt đất, bảo vệ vững chắc tuyến chi viện chiến lược, giúp bạn củng cố và mở rộng vùng giải phóng..., ngày 29 tháng 7 năm 1970, Quân ủy Trung ương quyết định sáp nhập Đoàn 968 quân tình nguyện cùng Đoàn chuyên gia quân sự 565 ở Trung - Hạ Lào vào Đoàn 559 và đổi tên Bộ Tư lệnh 559 thành Bộ Tư lệnh Trường Sơn trực thuộc Bộ Quốc phòng; về Đảng, trực thuộc Quân ủy Trung ương. Cũng thời gian này, trên còn tăng cường cho Bộ Tư lệnh Trường Sơn nhiều cán bộ cao cấp. Anh Hoàng Thế Thiện, anh Nguyễn Lệnh vào làm Phó chính ủy; các anh Nguyễn Hòa, Hoàng Kiện, Nguyễn Quang Bích là Phó tư lệnh. Anh Hà Tuấn Khanh - Đoàn trưởng Đoàn 565 kiêm chức Phó tư lệnh Bộ Tư lệnh Trường Sơn. Anh Trần Quyết Thắng - Chính ủy Đoàn 565 kiêm Phó chính ủy. Đầu mùa khô 1970-1971, anh Hoàng Văn Khánh cũng được tăng cường vào làm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Trường Sơn, phụ trách tác chiến. Anh Nguyên là Tư lệnh chung, phụ trách vận chuyển. Vì vậy, anh em cán bộ cơ quan chúng tôi thường nói vui: Bộ đội Trường Sơn lúc này thực hiện chế độ "đồng Tư lệnh - song trùng chỉ huy". Nhưng chỉ sau một tháng, khi ta quyết định mở chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, anh Cao Văn Khánh chuyển sang làm Tư lệnh Binh đoàn 70 - Bộ Tư lệnh cánh Đông chiến dịch.


Vào đầu mùa mưa, đặc biệt là sau khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào trực tiếp làm việc với Bộ Tư lệnh Trường Sơn ở Quảng Bình (tháng 10-1970), mọi hoạt động của tuyến chuẩn bị cho một chiến dịch lớn, ngày một khẩn trương hơn. Trên thực tế, cũng từ đầu tháng 10, Mỹ - ngụy đã tiến hành một số trận đánh nhỏ dọc tuyến chi viện Trường Sơn. Ở hành lang tây Trường Sơn, quân ngụy Lào đã nống ra theo đường 23 đến Thác Hài... Những dấu hiệu, tín hiệu từ hai phía cho phép chúng tôi nghĩ một chiến dịch lớn - một "cuộc đụng đầu lịch sử" giữa chủ lực ta và chủ lực Mỹ - ngụy, dọc theo đường số 9 đang đến gần.


Đầu tháng 11, anh Phan Hàm - Cục phó Cục Tác chiến, phái viên của Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng vào thông báo với Bộ Tư lệnh Trường Sơn những nhận định của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng về kế hoạch của Mỹ - ngụy mở một chiến dịch cắt hẳn Đường Hồ Chí Minh cả đông và tây Trường Sơn ở khu vực đường 9. Địch sẽ mở một cuộc hành quân quy mô lớn của các binh đoàn thiện chiến, với công thức: Bộ binh quân ngụy Sài Gòn, quân ngụy Lào - Thái Lan cộng với chỉ huy, hỏa lực, hậu cần Mỹ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #32 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2022, 08:37:38 am »

Căn cứ vào thông báo của trên và tình hình trên tuyến, Bộ Tư lệnh Trường Sơn quyết định triển khai một số nhiệm vụ cấp bách:

- Đẩy mạnh vận chuyển chi viện chiến lược, chuyển thật nhanh và nhiều hàng vào nam đường số 9, đảm bảo thẽ chủ động, phòng khi địch cắt tuyến.

- Chuẩn bị chiến trường tổ chức vận chuyển bảo đảm hậu cần trực tiếp cho Mặt trận Đường 9 - Nam Lào.

- Tổ chức lực lượng tác chiến chiến dịch; đặc biệt bố trí lại thế trận tác chiến phòng không bắc và nam đường số 9, chủ động tham gia đánh bại chiến thuật "trực thăng vận" của địch.

- Phối hợp với bạn Lào tiến công đẩy lùi quân ngụy Lào và Thái Lan ở phía tây, bảo đảm an toàn, vững chắc cho tuyến hành lang.

Toàn tuyến vào cuộc!


Về phần mình, sau tổng kết hoạt động mùa khô 1969-1970 và nhận nhiệm vụ mới, tôi được phân công xuống cùng các anh trong Ban chỉ huy các binh trạm 33, 34 củng cố các trạm giao liên, bảo đảm tốt hơn việc đưa đón quân vào và ra trong mùa mưa. Lúc này, ngoài việc tổ chức đưa đón quân vào, chuyển thương binh ra tuyến sau; đưa các cháu nhỏ từ miền Nam ra Bắc học tập, công tác, chúng tôi còn đưa đón cán bộ cao cấp từ chiến trường ra Bắc công tác và từ miền Bắc vào chiến trường ngày càng nhiều. Bởi vậy, Bộ Tư lệnh Trường Sơn quyết định mở một đường kín cho xe con - theo đường 10 vào đường 9, tới A Túc và Bạc; có một nhánh ra A Sầu, gọi là đường 54. Các trạm giao liên cũng phải rải lực lượng ra, bảo đảm tổ chức đưa đón bộ đội hành quân bộ và hành quân bằng ô tô.


Cũng như những mùa khô trước, khi lực lượng vận tải cơ giới nhập tuyến, địch đánh phá các trục vượt khẩu vô cùng ác liệt. Seng Phan (đường 12); ATP, Chà La (đường 20); Chà Lì, bến vượt Sê Băng Hiêng (đường 16); đèo 900 (đường 18); Văng Mu, Tha Mé (khu vực yết hầu đường 9)... lại "hoàn nguyên" là những tọa độ lửa. Có trọng điểm hứng tới 300 quả bom các loại trong một ngày đêm. Mặc dù vậy, do các đơn vị chủ động hiệp đồng tác chiến chặt chẽ, vừa nghi binh lừa - tránh địch, nên đã hạn chế được tổn thất, bảo đảm cầu đường thông suốt. Các đơn vị vừa triển khai nhanh kế hoạch vận chuyển chi viện chiến lược, vừa khẩn trương tích cực chuẩn bị cho chiến dịch phản công nếu địch đánh ra Đường 9 - Nam Lào; chuẩn bị gấp một số trục đường cơ giới xe - pháo; củng cố kho tàng dự trữ vũ khí đạn dược, lương thực ở những khu vực cần thiết..., sẵn sàng bảo đảm phục vụ chiến dịch. Nhiều cán bộ tham mưu, vận chuyển, cầu đường, tác chiến, chính trị được phái xuống các binh trạm 9, 27, 32, 42 và Trung đoàn cao xạ 591, đôn đốc các đơn vị chuẩn bị.


Một trong những nhiệm vụ cấp bách lúc này là đẩy nhanh việc xây dựng đường 16, nhằm đón trước tình hình, nếu chiến sự xảy ra ở đường 9 thì đường 16 sẽ trở thành trục vượt khẩu chủ yếu để tập kết lực lượng, cơ động binh khí kỹ thuật phục vụ chiẽn dịch; đồng thời nhanh chóng phát triển Binh trạm 27 thành binh trạm vận tải cơ giới quy mô lớn.


Để chuẩn bị tham gia chiến dịch, ngoài những đơn vị đang hoạt động trên địa bàn, các "cú đấm thép" như các sư đoàn 308, 320, 304 lần lượt tập kết tại Hà Tĩnh, Quảng Bình.

Trung tuần tháng 1 năm 1971, anh Phan Hàm lần thứ hai vào phổ biến dự lệnh cụ thể của Bộ Tổng Tư lệnh: Địch sẽ đánh Đường 9 - Nam Lào, cắt Đường Hồ Chí Minh bằng cả bộ binh và quân dù... Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương quyết định mở chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, thành lập Bộ chỉ huy chiẽn dịch do Thiếu tướng Lê Trọng Tấn - Phó tổng tham muu trưởng làm Tư lệnh chiến dịch. Thiếu tướng Lê Quang Đạo - Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy. Thượng tướng Văn Tiến Dũng - Tổng tham mưu trưởng trực tiếp chỉ đạo chung. Bộ đội Trường Sơn vừa bảo đảm hậu cần - kỹ thuật phục vụ chiến dịch vừa trực tiếp tác chiến chiến dịch.


Do được phổ biến dự kiến của Bộ từ tháng 10 năm 1970 nên Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã chủ động điều chỉnh thế bố trí lực lượng tác chiến đặt dưới sự chỉ huy của Bộ Tư lệnh chiến dịch - chủ yếu là lực lượng cao xạ và công binh.


Khi nhận lệnh chính thức của Bộ, tới ngày 28 tháng 1 năm 1971, Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh họp quyết định triển khai gấp kế hoạch tác chiến tại chỗ của Mặt trận Y (Hạ Lào), Mặt trận R (Mường Pha Lan, Đồng Hến - Trung Lào), thành lập tiền phương Bộ Tư lệnh Trường Sơn phụ trách hướng phối hợp chiến dịch ở phía tây, do anh Nguyễn Hòa làm Tư lệnh, anh Hoàng Thế Thiện làm Chính ủy. Tiền phương Bộ Tư lệnh trực tiếp chỉ huy các lực lượng trực thuộc và phối thuộc (Sư đoàn 968, Đoàn 565, Sư đoàn 2 - Khu 5) cùng một số đơn vị của bạn đánh tiêu diệt, chặn đứng quân ngụy Lào và Thái Lan nếu chúng đánh xuống Mường Phin phối hợp với quân ngụy Sài Gòn chiếm Tha Mé, Sê Pôn, cắt đứt tuyến chi viện của ta.


Bộ Tư lệnh đặc biệt chú trọng chỉ đạo xây dựng thế trận tác chiến phòng không nhằm đánh bại chiến thuật "trực thăng vận" của địch. Đến cuối tháng 1, lực lượng phòng không Bộ đội Trường Sơn được huy động tham gia chiến dịch đã lên tới 5 trung đoàn (có Trung đoàn 275 tên lửa và 1 trung đoàn cao xạ của Bộ phối thuộc), 10 tiểu đoàn cao xạ, 25 đại đội và 33 trung đội súng máy phòng không, với hơn 300 nòng pháo, hơn 350 khẩu súng máy. Toàn bộ lực lượng trên được bố trí thành 8 cụm. Riêng địa bàn nam - bắc đường 9 - dự kiến là trung tâm chiến dịch, bố trí 4 cụm. Trung đoàn cao xạ 591 thiện chiến của Bộ Tư lệnh Trường Sơn được bố trí ở khu vực Bản Đông - Cha Ky.


Cũng vào thời điểm này, mạng đường chiến dịch, các kho vật chất chuẩn bị bảo đảm cho chiến dịch đã được hoàn chỉnh về cơ bản. Đặc biệt lượng vật chất hơn 3.000 tấn đã sẵn sàng theo lưng bộ đội vào chiến dịch. Trong những buổi được làm việc với các anh trong Bộ Tư lệnh, nghe đơn vị báo cáo tình hình chuẩn bị cho chiến dịch, chúng tôi đã chứng kiến không khí rất khẩn trương, hệ trọng, nhưng đầy tin tướng. Tất cả đã sẵn sàng để giáng những đòn sấm sét xuống đầu thù. Đặc biệt anh Nguyên rất tin tưởng vào thắng lợi của chiến dịch. Anh khẳng định: Địch đánh lên đường 9 là "chui đầu vào rọ", bởi Bộ Tổng đã chuẩn bị, tập dượt cho chủ lực tác chiến ở địa bàn này rất kỹ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #33 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2022, 08:38:33 am »

Ngày 30 tháng 1 năm 1971, Mỹ - ngụy mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719". Hơn 40 nghìn quân chủ lực Sài Gòn, 6.000 quân Mỹ, gồm những đơn vị tinh nhuệ nhất, cùng một khối lượng lớn binh khí kỹ thuật: 580 xe tăng, xe bọc thép, 320 khẩu pháo, 1.000 máy bay (trong đó có 600 máy bay lên thẳng, 45 máy bay B-52) được huy động vào cuộc hành quân đánh ra khu vực đường 9 - Nam Lào. Phối hợp với quân Mỹ và quân ngụy Sài Gòn, bốn tiểu đoàn quân ngụy Lào từ Đồng Hến đánh ra khu vực Mường Pha Lan - tây đường 9.


Địch ồ ạt đánh ra Đường 9 - Nam Lào gây phẫn uất cao độ trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta. Chỉ hai ngày sau khi địch hùng hùng hổ hổ kéo ra đường 9, ngày 3 tháng 2 năm 1971, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra lời "kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch: "Trận này là một trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược, không những để giữ vững tuyến vận tải chiến lược mà còn nhằm tiêu diệt nhiều đơn vị dự bị chiến lược của địch, tạo điều kiện đánh bại một bước quan trọng âm mưu "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ... Quân đội ta nhất định phải đánh thắng trận này"1 (Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 2, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nôi. 1994, tr.337).


Lời kêu gọi của Trung ương Đảng lập tức được cơ quan chính trị phổ biến xuống từng đơn vị. Không khí thi đua vốn đã hừng hực, nay như lửa gặp gió. Khắp nơi dấy lên cao trào thi đua giết giặc lập công. Cán bộ, chiến sĩ không những ý thức được tầm quan trọng của chiến dịch mà còn xem đây là cơ hội để Bộ đội Trường Sơn tác chiến tiêu diệt địch, khẳng định không chỉ là lực lượng bảo đảm, phục vụ mà còn là lực lượng tác chiến tại chỗ đầy uy lực.


Đêm 6 tháng 2, anh Nguyên cho gọi anh Lê Xy (Phó chính ủy Bộ Tư lệnh Trường Sơn) và tôi tới giao nhiệm vụ xuống Trung đoàn phòng không 591, cùng Ban chỉ huy trung đoàn chỉ đạo, tổ chức, động viên bộ đội chiến đấu. Anh dặn: Địa bàn Trung đoàn 591 chốt giữ là tâm điểm của chiến dịch, là nơi địch rất dễ đổ bộ bằng đường không. Vì vậy phải chỉ thị cho bộ đội quán triệt thật chắc tư tưởng chỉ đạo tác chiến của Bộ Tư lệnh là nhử địch vào sâu hơn nữa, sẵn sàng chủ động tiến công vào đội hình trực thăng của chúng, sử dụng mọi vũ khí, phát huy mọi tầm hỏa lực, kiên quyết tiêu diệt địch, với khẩu hiệu: "Cứ cho nó đến, không cho nó về".


Nhận lệnh, anh Lê Xy và tôi xuống ngay Trung đoàn 591. Từ Sở chỉ huy Bộ Tư lệnh, chúng tôi phải đi theo đường 9 qua Bản Đông, quay lại đường 16 mới đến được sở chỉ huy Trung đoàn 591. Dọc đường, chúng tôi gặp đội hình xe vận tải của ta đang vượt ngầm Bản Đông. Cùng lúc đó, máy bay địch thả pháo sáng, phát hiện và đuổi theo bắn xe. Chúng tôi không dừng tìm chỗ ẩn nấp, mà vừa cho xe chạy vừa quan sát máy bay địch. Lúc thì cho xe chạy chậm, tránh máy bay địch bổ nhào bắn đón; khi thì cho chạy nhanh, tránh loạt đạn bắn đuổi phía sau. Cuối cùng, xe chúng tôi thoát hiểm, tới sở chỉ huy trung đoàn an toàn. Một đồng chí ở trạm chỉ huy giao thông cũng phấn khởi báo xe anh Hồ Quang Trung - Binh trạm trưởng Binh trạm 35 và một đoàn xe chở hàng cũng vừa vượt ngầm Bản Đông mà không bị sây sát gì.


Sáng ngày 8 tháng 2, vừa chân ướt chân ráo xuống Trung đoàn 591, chúng tôi đã được chứng kiến một trận tập kích đường không như dông bão - đỉnh cao của chiến thuật "trực thăng vận" của Mỹ - ngụy. Từ 8 giờ sáng, được hỏa lực yểm trợ của máy bay cường kích và máy bay trinh sát, từng đàn máy bay trực thăng của địch bay rợp trời rồi ào ạt đổ quân xuống các điểm cao ở nam - bắc đường 9 - khu vực Bản Đông. Nhưng đúng như anh Nguyên nói - chúng đã chui vào rọ. Từ các trận địa cấu trúc sẵn, pháo của Trung đoàn 591 và súng, pháo các cỡ của đơn vị bạn tung lên một lưới lửa dày đặc, bắn rơi hàng loạt máy bay địch khi chúng chưa kịp đổ quân. Nhiều trực thăng trúng đạn, bốc cháy, nổ tan xác, lả tả rơi khắp khu vực Bản Đông. Dưới đất, các đơn vị bộ binh, thiết giáp của ta nhanh chóng tiếp cận tiêu diệt quân dù khi chúng vừa chạm đất không kịp trở tay.


Dưới sự chỉ huy của anh Nguyễn Văn Lẫm - Trung đoàn trưởng và anh Nguyễn Văn Năm - Chính ủy, ngày đầu ra quân, Trung đoàn 591 đã chiến thắng giòn giã, bắn rơi 19 máy bay, góp phần xứng đáng vào chiến công vang dội của lực lượng phòng không Trường Sơn - trong hai ngày (8 và 9 tháng 2) bắn rơi 50 máy bay lên thẳng của địch. Với Mỹ - ngụy, đây là một thất bại cay đắng, mà chúng không ngờ tới. Đúng 21 giờ 30 phút ngày 10 tháng 2, Đài BBC của Vương quốc Anh đã phát đi bản tin: "Quân đội cộng hòa miền Nam Việt Nam tiến quân lên Đường Hồ Chí Minh đã vấp phải lưới lửa phòng không dày đặc chưa từng thấy của Bắc Việt..., như vậy là trúng kế "Điệu hổ ly sơn" của họ...".


Sang ngày thứ hai, địch phát hiện hỏa lực phòng không của ta, tập trung máy bay đánh phá vô cùng ác liệt vào các trận địa pháo của Trung đoàn 591, gây cho trung đoàn nhiều tổn thất. Anh Nguyễn Văn Lẫm đã anh dũng hy sinh trong khi đang chỉ huy bộ đội chiến đấu và một số pháo thủ đã ngã xuống trên mâm pháo. Sau khi tổ chức truy điệu, mai táng cho những đồng chí thân yêu của mình, ngay tối hôm đó, tôi nhận lệnh của Bộ Tư lệnh, xuống cùng Ban chỉ huy Binh trạm 32 và Binh trạm 33 tổ chức vận chuyển đưa hàng vượt đường 9 vào phía trong; đồng thời tôi được giao kiêm chức Chính ủy Binh trạm 32. Binh trạm trưởng Binh trạm 32 lúc này vẫn là anh Đặng Văn Ngữ.


Chiến sự dọc đường số 9 đang ngày càng diễn ra quyết liệt ở cả hai hướng đông và tây. Đề phòng địch ngăn chặn đường 128 - đoạn đường Mường Noòng vào La Hạp, Bộ Tư lệnh quyết định khẩn trương tổ chức khôi phục đường 23 từ Mường Phin đi Thác Hài, vào Sa Ra Van (thuộc Binh trạm 39); đồng thời, chỉ thị cho Binh trạm 32 nghiên cứu điểm vượt sông mới ở hạ lưu ngầm Tha Mé, mở một tuyến ngắn hơn và kín đáo để vận chuyển hàng vào giao cho Binh trạm 34 ở KG4. Anh Hoàng Đình Luyến - Trưởng phòng thuộc Cục Tham mưu công binh được phái xuống giúp Binh trạm 32 tổ chức "mở đường".


Thời gian không chờ đợi, xuống với Binh trạm 32 rồi mà dư âm những trận đánh ở Bản Đông vẫn còn thắp lửa trong tôi. Sau khi anh Luyến xuống, tôi cùng anh Luyến, anh Ngữ dẫn một tổ trinh sát công binh lặn lội hết ngày qua đêm dò dẫm dọc một đoạn sông dài chừng mười cây số cố tìm một điểm vừa cạn, vừa kín đáo để làm ngắm vượt sông. Sau hơn một tuần, chúng tôi đã triển khai được lực lượng công binh mở đường và làm ngầm mới vừa gần vừa kín. Theo trục đường này, chúng tôi đã bảo đảm được nhịp độ, lưu lượng hàng chuyển cho Binh trạm 34. Sau này, từ năm 1972, khi địch sử dụng nhiều máy bay AC130 trang bị khí tài săn xe ban đêm, Bộ Tư lệnh đã sử dụng đường này làm đường kín để vận chuyển cơ giới ban ngày.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #34 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2022, 08:39:21 am »

Đúng là "lửa thử vàng", khói lửa khốc liệt của cuộc chiến, cuộc đối đầu với đủ sắc lính của Mỹ lẫn ngụy đã làm ngời lên bản chất anh hùng của Bộ đội Trường Sơn, cả lực lượng bảo đảm - phục vụ chiến dịch và cả lực lượng tác chiến chiến dịch. Bộ Tư lệnh chiến dịch yêu cầu bổ sung 2.000 quả đạn pháo lớn, 1.000 tấn vũ khí, lương thực ngoài dự kiến; Binh trạm 9 và Binh trạm 27 đã hoàn thành xuất sắc. Trên những cung đường chiến dịch đã xuất hiện không ít tập thể, cá nhân thuộc Bộ Tư lệnh Trường Sơn bất chấp hiểm nguy, không quản hy sinh, cốt sao cho bộ đội có dư đạn, gạo, kịp thời chuyển sang tổng phản công. Tiêu biểu là các gương Anh hùng công binh Nguyễn Văn Thân, Nguyễn Bá Tòng...


Ở cánh tây, Bộ đội Trường Sơn, dưới sự chỉ huy của anh Hoàng Thế Thiện, Nguyễn Hòa đã phối hợp cùng bạn tiêu diệt nhiều sinh lực địch ở Thác Hài, Nậm Lức, Nậm Tiếng, Keng Coọc...

Ở cánh đông, Binh đoàn 70 - trụ cột là các sư đoàn 308, 304, 320... đã thực hành phản công, tiêu diệt và bắt gần toàn bộ lực lượng bộ binh địch, đánh cắt Tuyến 559, theo đường số 9. Đặc biệt, Trung đoàn 64 Sư đoàn Đồng Bằng (Sư đoàn 320B) đã lập công xuất sắc, bắt đại tá Nguyễn Văn Thọ - lữ trưởng và toàn bộ ban tham mưu lữ đoàn 3 quân dù ngụy.


Ngày 23 tháng 3 năm 1971, chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào toàn thắng. Cuộc hành quân "Lam Sơn - 719" - cố gắng cuối cùng, cố gắng cao nhất hòng chặn cắt tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn, trong tổng thể chiến lược chiến tranh ngăn chặn của Mỹ - ngụy đã thất bại hoàn toàn.


Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Bộ đội Trường Sơn đã tự khẳng đinh mình không chỉ là lực lượng phục vụ chiến đấu, vận chuyển chi viện chiến trường mà còn là lực lượng tác chiến tại chỗ rất hiệu quả. Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào xuân hè 1971 là khúc tráng ca của cuộc chiến đấu chống ngăn chặn của Bộ đội Trường Sơn trên tuyến đường mang tên Bác Hồ kính yêu.


Sau khi chiến dịch kết thúc thắng lợi, các đơn vị, binh trạm khẩn trương khắc phục hậu quả đánh phá của địch, khôi phục cầu đường, hoàn chỉnh lại thế trận cầu đường, tiếp tục hoàn tất chir tiêu vận chuyển nước rút "tổng công kích đợt 2", chủ động trước mùa mưa đang đến.


Tháng 6, rừng Lào lại chìm trong mưa. Các triền sông suối, nước dâng cao. Nhưng, "cái khó chẳng bó nổi cái khôn", Bộ Tư lệnh chủ trương tận dụng nước cả, thả hàng trôi theo sông Sê Băng Hiêng. Hàng thả trôi chủ yeesu là gạo đóng thành bao, bọc hai lớp ni lông, và phuy xăng. Binh trạm 32, Binh trạm 27 và Binh trạm 41 tổ chức lực lượng, phương tiện để thả hàng, đón nhận rồi chuyển hàng về kho dự trữ, tạo chân hàng cho mùa khô tới. Nhưng rồi ở chiến trường mà "giặc trời" cũng dữ dằn chẳng kém Mỹ - ngụy, mỗi hạt gạo, giọt xăng vào tới chiến trường phải đổi biết bao sức lực và máu, xương. Cũng chính những ngày thả hàng trôi sông, đánh vật với lũ, với thác ghềnh, một ca nô của Binh trạm 32 chúng tôi bị nhấn chìm mất tích cùng với bảy cán bộ, chiến sĩ. Chúng tôi rải quân dọc triền sông phía hạ lưu, để kiếm tìm, nhưng bất lực nhìn dòng nước dữ dằn trôi đi. Cầu mong ở một nơi nào đó, đồng đội tôi được anh em ở một đơn vị khác hoặc bà con cô bác cưu mang, che chở!


Vào cao điểm mùa mưa, một phần lực lượng tập kết ra Bắc. Bộ Tư lệnh ra tập kết ở Hiền Ninh - Quảng Ninh, Quảng Bình, tiến hành tổng kết mùa khô 1971-1972, chuẩn bị triển khai nhiệm vụ mới. Tôi cũng kết thúc nhiệm vụ tăng cường cho Binh trạm 32, trở về Cục Chính trị. Vào thời điểm này, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng phê chuẩn phương án của Bộ Tư lệnh Trường Sơn tổ chức ba Bộ Tư lệnh khu vực (Sư đoàn) 471, 472, 473 và Bộ Tư lệnh khu vực hậu cứ 571. Sư đoàn khu vực 470 vẫn phụ trách tuyến cuối, trực tiếp chi viện cho Tây Nguyên, Khu 5, Nam Bộ, Hạ Lào và Đông Bắc Cam-pu-chia. Sư đoàn 472 phụ trách địa bàn từ đường 9 trở vào tới bắc Bạc, gồm hai tỉnh Sa Va Na Khẹt và Sa Ra Van. Sư đoàn 473 phụ trách các tuyến đông và tây Trường Sơn từ Cầu Khỉ, theo đường 14 vào tây nam Thừa Thiên và từ khu vực Chà Lỳ vào Bản Đông, La Hạp; theo đường B45 vào A Lưới, Trao, Giằng. Sư đoàn 471 phụ trách địa bàn đông Hạ Lào, từ Bạc vào Sê Ca Mán, gồm địa bàn cao nguyên Bô Lô Ven, tỉnh Tà Ven Oọc, A Tô Pơ. Bộ Tư lệnh khu vực hậu cứ 571 đóng ở tây nam Quảng Bình và tây Vĩnh Linh.


Cùng với quyết định thành lập các sư đoàn khu vực, Quân ủy Trung ương đã tăng cường cho Bộ Tư lệnh Trường Sơn một số cán bộ cao cấp. Anh Đặng Tính - Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân chủng Phòng không - Không quân được điều vào giữ chức Chính ủy thay anh Vũ Xuân Chiêm ra cơ quan Bộ. Anh Phan Khắc Hy - nguyên Chính ủy Bộ Tư lệnh Không quân được điều vào giữ chức Phó tư lệnh Bộ đội Trường Sơn. Một số cán bộ trong cơ quan Bộ Tư lệnh cũng được bổ nhiệm chức vụ mới. Tôi có quyết định vào làm Phó chính ủy Sư đoàn khu vực 472. Tư lệnh Sư đoàn 472 là anh Ngô Huy Biên, Chính ủy sư đoàn là anh Lê Đình Truy. Vào Sư đoàn 472 được chừng một tháng, tôi lại được điều vào làm Chính ủy Sư đoàn 471. Người thay tôi ở Sư đoàn 472 là anh Bùi Thế Tâm.


Khi vào nhận nhiệm vụ ở Sư đoàn 471, anh Nguyễn An - nguyên Tư lệnh Sư đoàn 470, cũng vừa được điểu ra giữ chức Tư lệnh Sư đoàn 471. Phó tư lệnh Sư đoàn có các anh: Hồ Quang Trung, Bùi Quốc Uy, Cao Đôn Luân. Sau chừng một tháng, anh Nguyễn Văn Lạn được điều về làm Phó tư lệnh, anh Dương Văn Hòa làm Phó chính ủy, anh Nguyễn Tam Anh làm Phó chính ủy kiêm Chủ nhiệm chính trị. Vừa nhậm chức chưa được bao lâu, trong một lần xuống kiểm tra Binh trạm 35 và Binh trạm 46, xe của anh Tam Anh bị trúng bom và anh đã hy sinh. Anh Võ Phúc Kiến được điều vào thay, nhưng vì anh Kiến đau yếu luôn, Bộ Tư lệnh buộc phải đưa anh Hoàng Văn Thám - Chính ủy Binh trạm 35 lên thay. Cơ quan Bộ Tư lệnh sư đoàn cũng hội đủ những cán bộ dày dạn kinh nghiệm chiến đấu và công tác trên tuyến: anh Chu Minh Đông - Tham mưu trưởng công binh, anh Trịnh Liễu - Tham mưu phó tác chiến, anh Nguyễn Bình - Chủ nhiệm hậu cần. Trực thuộc sư đoàn có các binh trạm 46, 47, 35, 36, 38, 44, Trung đoàn 10 công binh, Trung đoàn 593 cao xạ; tháng 1 năm 1972 tăng cường thêm Trung đoàn 210 cao xạ. Tháng 10 năm 1972 tăng cường thêm Trung đoàn 83 công binh - Trung đoàn này phối thuộc Sư đoàn 968 để đánh địch ở Bô Lô Ven.


Nhiệm vụ của Sư đoàn khu vực 471 là tạo chân hàng cho Sư đoàn khu vực 470, giao hàng cho Quân khu 5 ở tây Quảng Nam, và giao cho Tây Nguyên ở bắc Công Tum, bảo đảm cho bộ đội tình nguyện Việt Nam và quân giải phóng Lào ở Hạ Lào đánh địch, mở rộng và củng cố vùng giải phóng; bảo đảm cho Trung đoàn 10 công binh mở đường xuyên cao nguyên Bô Lô Ven đến Tà Pao, Nậm Công, và tổ chức bảo đảm giao liên hành quân trên địa bàn được phân công phụ trách.


Ngoài Sư đoàn 470 được thành lập từ trước, Sư đoàn 471 và những sư đoàn khu vực còn lại vừa mới ra đời nên gặp nhiều khó khăn; đặc biệt là thiếu kinh nghiệm tổ chức chỉ huy hiệp đồng binh chủng, phương tiện thông tin, trang bị kỹ thuật xe máy... Nhưng, với Bộ đội Trường Sơn, đã mấy khi nhiệm vụ được thực thi trong điều kiện "xuôi chèo mát mái"! Khó khăn không thể làm chùn bước được họ. Chúng tôi khẩn trương tổ chức sở chỉ huy và thiết lập mạng thông tin tải ba phục vụ cho công tác chỉ huy vào đến Nậm Mi - một con sông nhỏ thuộc tỉnh Tà Ven Oọc, phía nam sông Sê Công.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #35 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2022, 08:40:11 am »

Vào mùa khô 1971-1972, địch đã có sự thay đổi cách đánh tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn. Hay nói đúng hơn là Mỹ đã nâng "công nghệ" đánh phá ngăn chặn Đường Hồ Chí Minh bằng đường không lên một trình độ mới với một thủ đoạn mới. Lúc này địch chú trọng tiêu diệt sinh lực ta; chủ yếu là bắn xe, trận địa pháo phòng không, kho tàng... Đối tượng nguy hiểm nhất lúc này của chúng tôi, của anh em lái xe là máy bay AC 130 có trang bị khí tài mới.


Từ đầu mùa khô, cùng với việc đánh phá các trọng điểm, đèo dốc, bến vượt... vào ban ngày, đêm đến, địch cho máy bay AC 130 canh riết dọc các trục đường để săn ô tô. Phát hiện được xe hoạt động, chúng liền hạ thấp độ cao, xả đạn 40 ly, 20 ly rất chính xác. Theo thông báo của Bộ Tư lệnh thì với thủ đoạn này, hầu như không đoàn xe nào của ta hoạt động mà không bị AC 130 phát hiện và đánh cháy. Trong ba tháng đầu mùa khô, mỗi đêm trên một cung đường, ít nhất cũng có từ ba đến năm xe hàng của ta bị đánh cháy.


Do chủ quan, không kịp thời nắm bắt thủ đoạn đánh phá mói của địch, nên thời gian đầu không chỉ sư đoàn chúng tôi mà các đơn vị bạn cũng không tránh khỏi bị động lúng túng. Khi xe bị đánh cháy với tỷ lệ khá lớn, lái xe thương vong ngày càng nhiều, một số lái xe đã tỏ ra hoang mang, lo lắng. Thậm chí cá biệt có lái xe thoái thác nhiệm vụ chở đạn, xăng dầu...


AC 130 trở thành vấn đề bức xúc, gây tranh cãi nhiều không chỉ đối với các cấp chỉ huy mà cả đối với lái xe. Đa phần anh em cho rằng AC 130 có trang bị khí tài phát hiện được mục tiêu trong đêm tối, và đánh bằng khí tài nên xác suất trúng mục tiêu rất lớn. Có người cho rằng AC 130 cũng chỉ đánh mò, nhưng do địch bắn đạn 40 ly, 20 ly rát quá, lại "dai như đỉa đói", lái xe sợ bỏ xe chạy, nên xe bị đánh cháy... Tôi cùng các anh trong Bộ Tư lệnh Sư đoàn khẳng định AC 130 đánh với khí tài mới. Một trong những bằng chứng là có lần vào đúng nửa đêm, AC 130 đã phát hiện đánh đúng vào một trạm sửa chữa xe của chúng tôi cách đường chính gần 20 cây số - mà không có dấu hiệu để lộ ánh sáng, chỉ có động cơ máy và xe đang hoạt động.


Trong khi chưa tìm được giải pháp khắc phục, chúng tôi chủ trương cho xe chạy lấn sáng lấn chiều; tranh thủ tận dụng những quãng đường kín để chạy ban ngày, chạy theo kiểu "nhảy cóc"; đặc biệt phải tổ chức nhiều đài quan sát máy bay địch và tổ chức chỉ huy thật chặt chẽ; phát hiện máy bay địch, phải báo động kịp thời. Tuy nhiên lúc này đường kín còn ít nên hiệu suất vận chuyển rất thấp.


Một thời gian sau, từ kết quả nghiên cứu thực địa, kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học kỹ thuật quân sự và đặc biệt là một đơn vị cao xạ trên tuyến bắn hạ máy bay AC130, thu được khí tài, Bộ Tư lệnh đã thông báo cho chúng tôi chi tiết về loài "ác điểu" này. Đây là loại máy bay được trang bị tia hồng ngoại, khí tài để phát hiện tia lửa điện của động cơ xe, phương tiện khuếch đại ánh sáng mờ để nhận rõ mục tiêu trong đêm tối, sát thương mục tiêu bằng súng 40 ly, 20 ly và tên lửa tầm ngắn. AC 130 lại có ưu thế hoạt động trên không với thời gian dài - như một pháo đài di động, thay nhau liên tục khống chế đánh phá đội hình xe của ta.


Các anh trên Bộ Tư lệnh nhắc nhở chúng tôi phải nắm thật chắc quy luật hoạt động của địch, tìm biện pháp đối phó thật linh hoạt, hiệu quả; nhất là khi lực lượng phòng không của ta chưa khống chế được hoạt động của AC 130, cần triệt để tổ chức chạy lấn sáng lấn chiều, tăng cường nghi binh bằng cách cho một số xe "rách" chạy hút địch vào hướng nghi binh. Biện pháp cơ bản, lâu dài là mở đường kín để chạy ban ngày.


Lúc này, trừ Tư lệnh sư đoàn Nguyễn An trực chỉ huy ở cơ quan, còn hết thảy anh em trong Bộ Tư lệnh Sư đoàn phân công nhau đi thực địa nghiên cứu địa hình để mở đường kín. Trong chiến tranh, có những việc làm có thể coi là kỳ tích. Bởi lẽ với sự bằng lặng cuộc sống đời thường dẫu có "ba đầu sáu tay" cũng khó làm nổi. Mở đường kín ở Sư đoàn 471 lúc này là một kỳ tích như vậy. Chỉ vẻn vẹn 20 ngày đầu tháng 2 năm 1972, Sư đoàn 471 đã mở được mấy trục đường kín. Một đường nối từ đường 24, từ Binh trạm 45 vào Binh trạm 46 qua ngầm Bạc, tránh những quãng trống của đường 22 vào đến Sê Ca Mán. Một đường từ B46 qua Phu Trường vào Tha Teng - Bản Phồn rồi theo đường 16 trên đất Lào xuống A Tô Pơ, vượt sông Sê Công phía thượng lưu, qua thị xã A Tô Pơ vào địa hạt Sư đoàn 470.


Lần đó, tôi giao cho một kỹ sư cầu đường, được sử dụng một đại đội công binh, mở 20 cây số đường kín ở nam sông Bạc trong vòng 10 ngày. Nhận lệnh xong, đồng chí kỹ sư hỏi lại: Thủ trưởng có thấy nhiệm vụ này quá sức tưởng tượng của mình không? Hiểu sự lo lắng của anh em, tôi trả lời: Chiến tranh cần phải vậy. Đồng chí nghĩ gì khi ngày ngày đồng đội ta cứ ngã xuống, hàng cháy, xe cháy. Cứ đến với thực địa, tôi chắc sẽ làm được.


Ngay sau đó, tôi cùng người kỹ sư dẫn đại đội công binh đến cánh rừng cần mở đường, hướng dẫn chỉ cần chặt những cây nhỏ, san sửa mặt đường chút xíu cho vừa xe chạy là được, bởi rừng khộp ở đây khá bằng phẳng. Chỉ những quãng có dốc mới dùng tới cuốc xẻng. Anh em làm đúng như vậy và chưa đầy 10 ngày, họ đã hoàn thành quãng đường cần mở. Mở đường kín trong rừng khộp khá thuận lợi. Nhưng cây thưa, tán mỏng, kín mà không thật kín. Vào mùa khô, xe chạy nhiều, đất bazan tơi tạo thành lớp dày. Chỉ cần một đoàn xe chạy qua là bụi đỏ bốc lên như khói cháy rừng, dễ bị máy bay phát hiện, đánh phá. Bởi vậy các đơn vị phải chỉ huy điều hành đội hình xe thật chặt chẽ; tổ chức tốt việc nghi binh; đặc biệt là bố trí lực lượng pháo phòng không đánh địch, bảo vệ đội hình xe.


Trên tuyến từ Chà Vằn ra Khâm Đức, chúng tôi kết hợp vận chuyển đường kín ban ngày và "đường hở" ban đêm.

Không chỉ Sư đoàn 471, mà mở đường kín còn là nhiệm vụ trung tâm của các đơn vị trên tuyến lúc này. Bộ Tư lệnh và cơ quan tham mưu công binh thường xuyên cử cán bộ xuống giúp đơn vị khảo sát, thi công đường kín. Anh Lê Xy xuống với sư đoàn chúng tôi. Nhiều lần anh Lê Xy cùng tôi và anh Phan Đức Tầm - Binh trạm trưởng Binh trạm 47 lội sông nghiên cứu khắc phục các bến vượt sông Sê Công. Vào một đêm trăng mấy anh em chúng tôi bì bõm qua lại mấy quãng sông cạn, theo chỉ dẫn của dân bạn Lào, để tìm ngầm cho xe vượt sông. Trăng sáng quá. Không sợ máy bay địch, mà chỉ sợ có đám nữ thanh niên xung phong hay phụ nữ bản Lào phát hiện.


Từ khi đường kín được đưa vào sử dụng, xe chạy vào ban ngày. Bộ đội xe phấn chấn tột độ, năng suất vận chuyển tăng vọt. Đặc biệt, số xe và hàng bị cháy giảm hẳn. Đúng là "vỏ quýt dày có móng tay nhọn". Nếu chủ động trong việc nghiên cứu thủ đoạn đánh phá của kẻ thù, chúng ta sẽ kịp thời có giải pháp khắc phục. Người dưới đất luôn làm chủ là vậy.


Kết thúc mùa khô 1971-1972, toàn tuyến đã hoàn chỉnh được hệ thống đường kín dài trên 800 cây số. Với kỳ tích này, Bộ đội Trường Sơn không chỉ vô hiệu hóa được thủ đoạn đánh phá, chặn xe của địch bằng máy bay AC130 mà còn thực hiện được vận tải cung dài với đội hình lớn, cơ bản chấm dứt những năm tháng dai dẳng xe phải chạy đêm, "làm ăn như cò như vạc", vận chuyển theo cung - trạm, hiệu quả thấp, chậm.


Xây dựng thành công tuyến đường kín trên là một sáng tạo lớn, một đóng góp lớn của Bộ đội Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh vào lịch sử Công binh Việt Nam, lịch sử Ngành Vận tải quân sự và lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #36 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2022, 08:41:17 am »

Cùng với việc phát triển hệ thống đường vận tải bộ, Sư đoàn 471 còn có nhiệm vụ vận chuyển trên sông Sê Công từ thị xã A Tô Pơ, đưa hàng xuống Tà Ngâu cho Sư đoàn 470 để chuyển tiếp theo sông Sê Công và sông Mê Công vào giao cho Nam Bộ. Tiểu đoàn 153 vận tải đường sông trực thuộc Sư đoàn 471, biên chế 3 đại đội. Mỗi đại đội trang bị từ 15-20 thuyền nhôm có trọng tải trên dưới một tấn hàng, lắp máy đẩy của Nhật. Cũng như ô tô trên đường bộ, thuyền máy trên sông luôn là mục tiêu săn đuổi của máy bay địch. Để hạn chế tổn thất, chúng tôi cho thuyền chạy lấn sáng, lấn chiều. Vận chuyển ban đêm an toàn hơn, nhưng xử lý thuyền vượt thác dữ thường phức tạp, khó khăn hơn, mặc dù lực lượng phá thác của Trung đoàn công binh 98 đã khắc phục rất nhiều. Trương Xuân Hòa - Anh hùng vận tải trên sông Bạc trước đây đã được giao phụ trách một đại đội thuyền.


Mùa khô này, lực lượng binh khí kỹ thuật từ hậu phương cơ động theo đường Trường Sơn vào chiến trường ngày càng nhiều, gồm pháo mặt đất Đ74, cao xạ, xe tăng, thiết giáp; vào với đội hình hoàn chỉnh cấp lữ đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn. Sư đoàn 471 chúng tôi cũng có vinh dự tiễn đưa Trung đoàn 210 vào tăng cường cho Bộ Tư lệnh Miền. Các anh Hồ Quang Trung, Nguyễn Văn Lạn, Dương Văn Hòa được phân công chỉ đạo tổ chức cho lực lượng binh khí kỹ thuật hành quân qua tuyến đảm bảo an toàn. Sư đoàn 471 vừa tổ chức cho lực lượng này cơ động theo đường kín, vừa thu dung xe, pháo hư hỏng dọc đường để sửa chữa và tiếp tục chuyển giao cho chiến trường. Số xe pháo bị hỏng hóc nằm lại địa bàn Sư đoàn 471 đảm trách có đến hàng chục chiếc; có xe bị địch đánh cháy ngay trên đường hành quân.


Cuối mùa khô năm 1972, chúng tôi được đón tiếp và đưa phái đoàn của các đồng chí Tố Hữu, Đinh Đức Thiện, Phạm Ngọc Mậu vào thị sát chiến trường Nam Bộ. Đến khu vực ba biên giới, xe của đoàn bị máy bay địch phát hiện đánh đuổi. Cũng may là không ai việc gì. Chỉ đến khi bộ phận tiền trạm báo cáo cụ thể tình hình của đoàn, chúng tôi mối trút được nỗi lo.


Cũng vào thời điểm này, Sư đoàn 2 Quân khu 5 - sư đoàn của anh Nguyễn Chơn lúc đó, sau mấy tháng tham gia chiến dịch Đường 9 - Nam Lào trở về Quân khu có đi qua tuyến của Sư đoàn 471 để nhận thêm vũ khí, lương thực, thực phẩm. Bởi vậy, tôi đã tìm gặp được anh họ tôi là Võ Thanh Tư - Chủ nhiệm hậu cần Trung đoàn Ba Gia. Tưởng sẽ biết được chút gì đó về mẹ tôi và những người thân thích ở quê, nhưng thật buồn, anh Tư cũng chẳng biết gì hơn tôi. Thế rồi công việc lại cuốn chúng tôi vào cuộc. Tôi nhờ anh về dưới đó gắng tìm cách liên lạc với mọi người ở quê rồi cho tôi biết, nhưng cũng "bặt vô âm tín".


Từ sau Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, đặc biệt là thời gian ta mở chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, Tuyến 559 không chỉ làm nhiệm vụ vận chuyển chi viện chiến lược mà còn vận chuyển bảo đảm chiến dịch, nên khối lượng công việc lắm khi quá sức mình. Trong khi đó nhu cầu bảo đảm nội bộ cũng ngày càng tăng thêm. Khó khăn càng thêm khó khăn. Từ tháng 11 năm 1971 đên tháng 2 năm 1972, Sư đoàn 471 luôn ở tình trạng thiếu lương thực, thực phẩm. Bộ Tư lệnh Sư đoàn chỉ đạo các đơn vị chủ động khai thác thu mua khoai sắn của nhân dân bạn Lào, nhưng cũng chẳng được bao lăm. Bời nhân dân bạn ở đây quá nghèo. Trường hợp quá khó khăn, chúng tôi dành gạo cho lái xe, giảm khẩu phần gạo của những lực lượng nào có thể giảm. Có những lực lượng chỉ chủ yếu là ăn ngô, ăn sắn. Thực phẩm hầu như chẳng có gì ngoài muối và chút ít mắm khô. Trước cảnh "túng quẫn" như vậy, Tư lệnh sư đoàn Nguyễn An - một người luôn lạc quan, dí dỏm, thích văn chương, đã có những câu thơ rất thật về Sư đoàn 471:


        Ta sinh ra giữa mùa mưa vất vả
   Còn trong nôi mà rau cháo nuôi nhau...



Tết Nguyên đán Nhâm Tý (năm 1972) bàn đi tính lại, tôi và anh An mới quyết định cho bộ đội được ăn bảy lạng gạo trong ngày mùng Một Tết - chỉ mỗi ngày mùng Một mà thôi. Lệnh phát đi rồi, tôi như thấy có lỗi với anh em - Sao mà sắt se đến cùng cực như vậy! Nhưng không thể nào khác được. Điều đáng quan tâm, lo lắng đối với chúng tôi là cái "tết dài". Thật giống như nhà nông đang buổi nghèo, chưa hết Tết đã nghĩ đến giêng hai giáp hạt. Lúc đó, Bộ Tư lệnh Trường Sơn và các đơn vị tuyến ngoài, cùng với việc chuyển hàng cho các chiến trường Khu 5, Tây Nguyên, Nam Bộ, còn tích cực chuẩn bị cho chiến dịch tiến công Trị - Thiên. Tuy vậy, biết chúng tôi khó khăn, anh Nguyên đã gọi điện cho Sư đoàn 470 chuyển gấp một số gạo, cá khô khai thác được ở Cam-pu-chia ra cho chúng tôi. Dù không được bao lăm, nhưng "một miếng khi đói bằng một gói khi no".


Về quan hệ với bạn Lào, Sư đoàn 471 được phân công giúp đỡ các tỉnh Tà Ven Oọc, A Tô Pơ và Bô Lô Ven. Trong ba tỉnh, thì Tà Ven Oọc là tỉnh thường thiếu thốn, khó khăn nhất. Trong quan hệ công tác, chúng tôi thường xuyên gặp gỡ với Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh bạn, thống nhất phối hợp hoạt động trên nhiều lĩnh vực. Bí thư Tỉnh ủy Tà Ven Oọc lúc đó là anh Pô Lan. Dẫu còn nghèo khó, nhưng bạn sẵn sàng dời nhà, dời nương rẫy để chúng tôi mở đường, nhường đường sống cho chúng tôi vận chuyển. Khi Bộ đội Trưòng Sơn thiếu đói, bạn sẵn sàng nhường hết những bắp ngô, củ sắn cuối cùng. Cũng như các đơn vị bạn, Sư đoàn 471 giúp bạn Lào tổ chức sản xuất, xây dựng cơ sở; khi có điều kiện thì giúp nhân dân bạn vải, gạo, muối và các vật dụng khác...


Cũng ở Tà Ven Oọc, có đồng chí Bun Nhơn là người Việt; quê ở miền Tây Quảng Nam, được tổ chức phân công sang giúp bạn từ năm 1949, lấy vợ người Lào và trở thành người Lào gốc Việt, là Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng ban Tuyên huấn Tỉnh ủy. Có lần, đồng chí Bun Nhơn tâm sự với tôi rằng, anh đã đề đạt nguyện vọng được về nước, nhưng Trung ương Đảng ta động viên anh ở lại, bởi vì giúp bạn cũng là tự giúp mình như Bác Hồ đã dạy. Sau ngày đất nước Lào được giải phóng, đồng chí Bun Nhơn là Ủy viên Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào và có thời gian làm Bí thư Tỉnh ủy Sa Ra Van.


Nhân dân bạn Lào tuy còn nghèo, nhưng sống chân chất, thủy chung, đôn hậu và cũng thẳng thắn hết lòng. Một lần, tôi và anh Hồ Quang Trung đi thị sát tuyến đường sông bằng ca nô dọc theo sông Sê Công, có gặp một số bà con đánh cá. Thấy bà con đánh được nhiều cá, chúng tôi muốn mua một ít để cải thiện, nhưng tiền "kíp" thì không có, mà muối và vải để đổi cũng không. Nhưng tình cờ, có cụ già đã nhận ra anh Hồ Quang Trung là "người quen", bởi anh có thời là bộ đội tình nguyện hoạt động ở Hạ Lào. Vậy là các cụ nhất mực: "Chúng mày cứ lấy mà dùng, chúng tao cho". Chúng tôi không chịu lấy không của dân, chỉ đồng ý mua chịu, sẽ đem vải và muối đến trả. Rồi các cụ cũng "xuống nước" - "Trả cũng được, không trả cũng được".


Trong quan hệ với bạn, mỗi khi có chiến sĩ của ta vi phạm khuyết điểm, kể cả vi phạm phong tục tập quán tín ngưỡng của bạn - một điều tối kỵ, cán bộ đơn vị xử lý, thì chính nhân dân bạn đến xin: "Nó cũng như con em mình mà, nó sai với dân, dân tha rồi, cán bộ cũng tha cho nó". Nhân dân bạn Lào thủy chung, tình nghĩa, nhân hậu và giàu lòng vị tha là vậy.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #37 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2022, 08:42:05 am »

Mùa hè năm 1972, mưa rất sớm. Ô tô chạy đường kín ban ngày, ưu thế nổi trội nhiều mặt so với chạy đường hở ban đêm. Nhưng đường kín cũng có cái dở là chưa mưa đã lầy lún. Bùn ngập nửa bánh xe khi mùa khô, chỉ chờ vài trận mưa là tha hồ làm tình làm tội lính xế.


Trung tuần tháng 5, chúng tôi kết thúc kế hoạch mùa khô 1971-1972.

Ngày 26 tháng 5 năm 1972, Đảng ủy Sư đoàn 471 họp sơ kết hoạt động của Sư đoàn từ ngày thành lập - chủ yếu là đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch mùa khô 1971-1972. Đảng ủy thống nhất nhận định: Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, tổ chức biên chế mới, địch đánh phá, ngăn chặn quyết liệt, đặc biệt là dùng AC 130 săn lùng diệt xe... nhưng với sự nỗ lực cao độ của cán bộ, chiến sĩ, Sư đoàn 471 đã hoàn thành 100 phần trăm kế hoạch: Vận chuyển giao cho các chiến trường 21.959 tấn hàng hóa (gồm 5.520 tấn gạo, 4.620 tấn xăng dầu, 8.200 tấn vũ khí); so với mùa khô 1970-1971, đạt 223 phần trăm. Tuy vậy, do không kịp thời đối phó với thủ đoạn đánh phá mới của địch, nên Sư đoàn cũng bị tổn thất khá lớn. 734 tấn hàng, 223 xe ô tô bị đánh cháy (số xe bị đánh cháy chiếm 29,8 phần trăm số xe hiện có của Sư đoàn - 744 chiếc). Đây là một tổn thất chưa có tiền lệ.


Sau hội nghị Đảng ủy sư đoàn, anh Nguyễn An về lại cơ quan, giữ chức Phó tư lệnh Bộ đội Trường Sơn. Anh Hồ Quang Trung được bổ nhiệm quyền Tư lệnh sư đoàn. Mùa mưa năm 1972, theo chỉ thị của Bộ Tư lệnh Trường Sơn, chúng tôi chỉ đạo cac tiểu đoàn xe cử thợ và lái xe ở lại bảo dưỡng số xe hỏng; số còn lại ra Bắc nhận xe bổ sung chuẩn bị cho mùa khô tới. Các lực lượng công binh, phòng không, bộ binh, giao liên, kho... và cơ quan ở lại tuyến. Tranh thủ mùa mưa, giảm cường độ vận chuyển, chúng tôi cho chuyển sở chỉ huy sư đoàn về tây Bản Phồn, gần Phu Trường.


Cũng như các mùa mưa trước, thời tiết miền rừng ở Lào hết sức khắc nghiệt. Ngày, trời nóng như nung, đêm về lạnh ngắt. Hầu hết cán bộ, chiến sĩ cơ quan cũng như đơn vị không tránh khỏi sốt rét. Người nhẹ thì mấy cơn sốt rét thường. Có người bị sốt rét ở thể ác tính rất nặng, dẫn tới tử vong, như cô Thắm ở đội văn nghệ sư đoàn. Đưa một cô gái phơi phới sức xuân, không chết bởi bom đạn thù mà lại ngã xuống bởi những cơn sốt rét rừng về nơi yên nghỉ cuối cùng, nỗi đau trong chúng tôi càng nhân lên gấp bội; đau bởi bất lực với đám ký sinh trùng oan nghiệt này! Chính sốt rét làm cho các đơn vị mất sức chiến đấu trầm trọng chứ không phải thương vong do bom đạn. Dĩ nhiên sốt rét nhiều một phần cũng do nuôi dưỡng kém - đúng hơn là đói. Mùa mưa này tôi cũng bị sốt rét quật ngã, nằm liệt giường hơn một tháng. Nhờ sự tận tình chăm sóc của quân y sĩ, đồng chí, đồng đội, tôi đã qua được phút hiểm nghèo.


Ngay sau khi cuộc Tổng tiến công chiến lược mùa xuân 1972 của quân và dân ta nổ ra trên chiến trường miển Nam, Mỹ đã huy động một lực lượng lớn không quân, hải quân, sử dụng một khối lượng bom đạn khổng lồ tiến công miền Bắc, hòng cứu nguy cho quân ngụy trên chiến trường. Bằng đòn tiến công quân sự này, Mỹ nuôi hy vọng buộc ta phải chấp nhận những giải pháp mà chúng đưa ra tại bàn đàm phán ở Pa-ri. Nhưng thực tế trên chiến trường không "chiều lòng" Mỹ. Sau đại thắng ở Đường 9 - Nam Lào, ta liên tiếp giành được nhiều thắng lợi trong chiến dịch Trị - Thiên xuân hè 1972. Toàn bộ một vùng rộng lớn, có tầm quan trọng chiến lược từ đường 9 vào Thành cổ Quảng Trị được giải phóng, ở tây Thừa Thiên, chủ lực của Mặt trận Trị Thiên - Huẽ (B4) đã phát triển xuống đồng bằng, áp sát thành phố Huế, các thị xã, thị trấn. Tuyến 559 lấy đường 9 làm bàn đạp - điểm xuất phát mới.


Mùa hè 1972, đối với những đơn vị phía bắc của Tuyên 559 - đặc biệt là Sư đoàn 571, nhiệm vụ nặng nề hơn, vừa vận chuyển chi viện chiến lược vừa vận chuyển bảo đảm cho chiến dịch Trị - Thiên, chủ yếu là chiến dịch phòng ngự ơ Quảng Trị.


Đầu mùa khô 1972-1973, lượng hàng hóa mà Tuyến 559 cần chuyển vào chiến trường nhiều hơn; lực lượng phải tổ chức bảo đảm qua tuyến vào chiến trường cũng nhiều hơn. Tranh thủ khi không quân địch đang tập trung đánh phá miền Bắc và bị thu hút vào Mặt trận Quảng Trị, Bộ Tư lệnh Trường Sơn chỉ đạo các đơn vị đẩy nhanh hàng vào chiến trường ngay từ tháng đầu. Và các sư đoàn, binh trạm triển khai kế hoạch khẩn trương, không phụ lòng của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh. Tháng nào, kế hoạch cũng đạt 120 - 130 phần trăm. Cũng do hành lang đông Trường Sơn được cải thiện, Bộ Tư lệnh Trường Sơn tổ chức nâng cấp tuyến đường từ Khe Sanh vào Làng Trầm, A Lưới, A Sầu, Bù Lạch, Trao, sông A Vương để chủ động bảo đảm cho cánh Bắc Khu 5 và chuẩn bị mở tiếp vào sâu hơn.


Bước vào mùa khô 1972-1973, Sư đoàn 471 vẫn đảm trách địa đoạn cũ. Vừa vận chuyển hàng, bảo đảm quân vào chiến trường, Sư đoàn vừa tiếp tục mở đường 17 xuyên giữa cao nguyên Bô Lô Ven, để chuyển hàng thẳng xuống Chăm Pát Xắc và giao cho Sư đoàn 470 chuyển tiếp theo sông Mê Công qua Cam-pu-chia vào giao cho Nam Bộ. Sau bốn tháng dồn sức thi công cật lực, Trung đoàn 10 công binh đã thông đường 17 theo kế hoạch.


Tháng 12 năm 1972, Quân khu 5 và Mặt trận Tây Nguyên giải phóng phần lớn tỉnh Công Tum. Nhiệm vụ cấp bách của Quân khu 5 lúc này là cung cấp ngay một khối lượng lớn lương thực cứu đói cho nhân dân vùng mới giải phóng. Anh Trần Kiên (tức Nguyễn Tấn Tài) - Ủy viên Thường vụ Khu ủy Khu 5, phụ trách tỉnh Công Tum tức tốc ra gặp chúng tôi yêu cầu chi viện cho Công Tum 300 tấn gạo. Vì yêu cầu ngoài kế hoạch, tôi gọi điện báo cáo và xin quyết định của Bộ Tư lệnh. Tôi trình bày yêu cầu của anh Trần Kiên khó khăn của Công Tum và nghe từ đầu dây kia, anh Nguyên cứ "khụt, khịt" liên tục. Thường khi xúc động hoặc có biểu hiện bực bội về một điều gì đó, anh Nguyên hay có cử chỉ đó. Rồi anh chỉ thị luôn:

- Anh Trần Kiên đã nói vậy là tình thế căng lắm. Không chỉ 300 mà Sư đoàn 471 chuyển giao cho Công Tum 500 tấn gạo và thực phẩm. Nhớ là chuyển thẳng, không qua Sư đoàn 470 và Mặt trận Tây Nguyên!

Biết tính anh Nguyên, nên tôi vui vẻ nhận lệnh, hứa thực hiện sớm ngày nào hay ngày đó!
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #38 vào lúc: 07 Tháng Hai, 2022, 07:48:10 am »

Cũng qua sự kiện này, tôi càng hiểu thêm tính cách của Tư lệnh Đồng Sĩ Nguyên. Tôi biết anh Nguyên từ ngày tôi về nhận công tác tại Cục Tổ chức. Lúc đó anh Nguyễn Trọng Vĩnh là Cục trưởng, anh Nguyên là Cục phó. Sau rất nhiều cương vị công tác quan trọng khác nhau, tháng 1 năm 1967, anh Nguyên vào giữ chức Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn cho đến ngày cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ hoàn toàn thắng lợi.


Không chỉ nắm vững, vận dụng sáng tạo đường lối, chủ trương của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, anh Nguyên còn rất nhạy cảm - nhạy cảm chính xác với những quyết định chiến lược. Anh luôn tìm cái mới, rất chú trọng bám nắm thực tế, từ thực tế mà quyết định được những chủ trương kịp thời, đúng đắn. Anh cũng là người coi trọng tổng kết kinh nghiệm qua mỗi giai đoạn, qua mỗi mùa vận chuyển. Những điều mà anh tổng kết, gạn lọc được vừa có giá trị lý luận sâu sắc vừa mang tính thực tiễn sinh động. Không ít người từng công tác, cộng sự với anh Nguyên, xem anh là người thường xuyên nghiên cứu thay đổi biên chế tổ chức cho phù hợp với tình hình, yêu cầu nhiệm vụ.


Khi giao nhiệm vụ cho cấp dưới, anh rất nghiêm khắc, nhưng lại lắng nghe, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của anh em, luôn theo dõi đôn đốc việc thực hiện nhiệm vụ. Trong quan hệ, anh tôn trọng cấp dưới. Tuy vậy những khi do yêu cầu nhiệm vụ quá ư bức xúc, anh cũng không ngần ngại hối thúc, làm cho cấp dưới bị động. Không chỉ với tôi (như sự cố Seng Phan, A Lưới) mà các anh Đặng Văn Ngữ, Phan Hữu Đại (Binh trạm 32), anh Nguyễn Văn Lạn (Binh trạm 41)... cũng được anh nhiều lần dành cho "đặc ân" ấy.


Được sự chỉ đạo, giúp đỡ thẳng thắn, thân tình của anh, được anh tin giao nhiều nhiệm vụ, thường là khó khăn, tôi đã học hỏi được ở anh nhiều điều, đặc biệt là sự quyết đoán, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm; là tác phong thực sự thực tế - mà anh khái quát thành "ba bám, bốn nhanh, năm trực tiếp".


Trong sử dụng cán bộ, anh Nguyên là người biết động viên cao độ nhiệt tình cũng như năng lực của họ, khoan dung với những khuyết điểm mà anh em phạm phải... Hơn ai hết, cơ quan chính trị chúng tôi đã học hỏi được ở vị Tư lệnh của mình rất nhiều trong lĩnh vực này, từ đó giúp Bộ Tư lệnh sử dụng tốt đội ngũ cán bộ cơ sở tự đào tạo, cán bộ do Bộ Quốc phòng và cả cán bộ dân - chính - Đảng bổ sung cho Đoàn 559. Tuy nhiên, anh Nguyên cũng có một vài nhược điểm, mà anh em chúng tôi vẫn cho là những "nhược điểm đáng quý". Do quá tin cán bộ, nên có trường hợp cán bộ cấp dưới đã lợi dụng lòng tin của anh, làm những việc không đúng, hoặc báo cáo thêm thành tích.


Suốt 10 năm ở cương vị Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn, anh Nguyên luôn đặt nhiệm vụ chi viện bảo đảm cho chiến trường lên hàng đầu, kể cả chiến trường miền Nam, Trung - Hạ Lào và Cam-pu-chia. Anh không để thiếu hụt một ký hàng trong kế hoạch chi viện chiến trường, nếu như điều kiện cho phép. Khi cần, anh quyết định giao vượt chỉ tiêu cho chiến trường. Trường hợp giao 500 tấn khi tỉnh Công Tum yêu cầu 300 tấn vào cuối năm 1972 là một ví dụ. Sau này, vào năm 1973, ngoài chỉ tiêu kế hoạch Bộ giao, anh Nguyên còn chỉ thị cho Sư đoàn 471 chúng tôi giao cho Quân khu 5 thêm 1.000 tấn hàng... Đối với nhân dân các tỉnh vùng Nam Lào, ngoài kế hoạch trên giao, anh thường chỉ thị cho các đơn vị bảo đảm thêm cho mỗi tỉnh của bạn mỗi năm từ 300 đến 500 tấn lương thực. Nhiều lần anh tâm sự với chúng tôi: Nhân dân bạn dọc trục hành lang luôn thiếu đói, nhưng đã không tiếc gì khi bộ đội Đường Hồ Chí Minh cần, dẫu có chi viện bao nhiêu cũng không thể đền đáp hết tình cảm, sự hy sinh của bạn...


Lịch sử Bộ đội Trường Sơn đã qua những năm tháng vô cùng khó khăn, ác liệt nhưng rất đỗi hào hùng. Sự tích anh hùng của Bộ đội Trường Sơn ngày một thêm phong phú, nhất là vào giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Mọi chiến công, thành tích lớn, nhỏ của tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn đều được tạo dựng bởi mồ hôi, xương máu của bao người. Nhưng ở một chừng mực, chiều cạnh nào đó, tôi vẫn nghĩ, anh Nguyên đã để lại rất đậm "dấu ấn" của mình ở những chiến công, thành tích đó.


Tháng chạp năm 1972, nuôi ảo vọng có thể dùng đạn bom để gây áp lực với ta tại bàn đàm phán ở Pa-ri, đế quốc Mỹ đã tiến hành cuộc tập kích chiến lược đường không - chủ yếu bằng máy bay B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng. Khi biết tin đế quốc Mỹ tập trung khối lượng lốn B-52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng một cách tàn khốc, cán bộ và chiến sĩ Sư đoàn 471 đã điện về Trung ương Đảng, Chính phủ, Bộ Quốc phòng quyết tâm làm nhiệm vụ gấp bội để thiết thực vào việc chống đế quốc Mỹ.


Một lần nữa, Mỹ lại hy vọng dùng đạn bom để khuất phục dân tộc ta. Nhưng mọi hy vọng của chúng đã trở thành ảo vọng. Xác pháo đài bay B-52 rơi lả tả trên đường phố Hà Nội, xác B-52 bị nhấn chìm trong hồ Hữu Tiệp - làng hoa Ngọc Hà. Một "Điện Biên Phủ trên không" đã ngời thêm khí phách, phẩm giá của dân tộc Việt Nam.


Trắng tay trong "canh bạc" cuối cùng của cuộc chiến tranh xâm lược nước ta, Mỹ buộc phải ngậm đắng nuốt cay ký Hiệp định Pa-ri chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Ngày 27 tháng 1 năm 1973, từ những chiếc ra-đi-ô hiếm hoi, lanh lảnh vang lên giọng đọc thân thương của nữ phát thanh viên Đài tiếng nói Việt Nam thông báo Hiệp định Pa-ri được ký kết. Quân đội Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam.

Nói sao hết nỗi niềm sung sướng của người lính chúng tôi. Đúng là:

   "Khao khát trăm năm mãi đợi chờ
   Hôm nay vui đến ngỡ trong mơ"
.

Như vậy, quyết tâm "Đánh cho Mỹ cút" như Bác Hồ đã từng khẳng định đã được thực hiện. Còn việc đánh cho ngụy nhào, để thống nhất đất nước, giành độc lập hoàn toàn đòi hỏi quân và dân ta cần gắng sức hơn nữa, tranh thủ thời cơ, tiến công, tiến công liên tục.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #39 vào lúc: 07 Tháng Hai, 2022, 07:50:25 am »

Từ cuối tháng 1 năm 1973, Hiệp định Pa-ri bắt đầu có hiệu lực, trên Tuyến 559 không còn sự đánh phá của không quân Mỹ; không quân ngụy chỉ đánh phá một số điểm ở vùng ba biên giới, tây Trị - Thiên... Đây là thời cơ hết sức thuận lợi để Bộ đội Trường Sơn tập trung lực lượng xây dựng, hoàn thiện thế trận cầu đường, hệ thống đường ống dẫn xăng dầu và đẩy mạnh vận chuyển ngày đêm; cơ động nhanh nhiều bộ đội, phương tiện vật chất hậu cần - kỹ thuật cho chiến trường. Khối lượng vận chuyển lúc này gấp từ năm đến bảy lần so với cùng thời gian những mùa khô trước.


Cuối tháng 3, cùng thời điểm mà những tên lính Mỹ - những tên lính thực thụ rút khỏi miền Nam, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Trường Sơn triệu tập hội nghị quân chính toàn tuyến quán triệt tình hình, bàn triển khai nhiệm vụ mới.


Vào hội nghị, chúng tôi được phổ biến chỉ thị của Quân ủy Trung ương và lệnh của Bộ Quốc phòng giao cho Bộ Tư lệnh Trường Sơn: Tranh thủ thời cơ, đẩy mạnh vận chuyển, tổ chức bảo đảm cho bộ đội hành quân gấp vào chiến trường, đáp ứng yêu cầu bổ sung và thay thế lực lượng; tăng cường vật chất hậu cần, kỹ thuật, đảm bảo cho các quân khu tổ chức chiến trường, đổi mới vũ khí trang bị cho bộ đội chủ lực, xây dựng lực lượng dự trữ chiến lược, chuẩn bị sẵn sàng đón thời cơ mới; đồng thời, bảo đảm một phần nhu cầu kinh tế cho nhân dân vùng giải phóng, góp phần xây dựng các căn cứ hậu cần ở chiến trường miền Nam và vùng Trung - Hạ Lào... Để làm được tốt nhiệm vụ dó. Bộ Tư lệnh Trường Sơn phải nghiên cứu, khẩn trương xây dựng đường cơ bản và nhanh chóng mở thông đường đông Trường Sơn (hoàn toàn đi trên đất Việt Nam), từ miền Bắc vào đến miền Đông Nam Bộ (Bù Gia Mập), khẩn trương phát triển đường ống dẫn xăng dầu đông Trường Sơn cho đến Lộc Ninh.


Nhìn tổng thể thế trận cầu đường của tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn lúc này, tuy đã lấy đường 9 làm bàn đạp rút ngắn được các cung chặng vận chuyển, nhưng về cơ bản tuyến vẫn nằm trên đường bạn Lào, trên các địa phận các tỉnh ở Nam Lào, như Sa Va Na Khẹt, Sa Ra Van, Tà Ven Oọc, A Tô Pơ, Bô Lô Ven, Chăm Pát xắc và một số tỉnh vùng Đông Bắc Cam-pu-chia. Ở hành lang đông Trường Sơn, đường cơ giới mới thông đến A Vương, có thêm các đường nhánh 72, 73 thọc xuống đồng bằng Thừa Thiên. Bởi vậy, quyết tâm của Bộ Tư lệnh Trường Sơn là tích cực chuẩn bị để khi điều kiện cho phép khẩn trương thi công tuyến đường cơ bản đông Trường Sơn vào tới Bù Gia Mập - Lộc Ninh.


Vào thời điểm này, Sư đoàn 471 đảm trách ba đường trục dọc: đường 128 từ sông Bạc đi Xê Sụ, đường 24 và đường 22 từ đông Sa Ra Van qua Sê Công - Bản Phồn, Sê Ca Mán, Xê Sụ; thứ ba là đường 17 từ Tha Teng đi Pắc Xoòng - qua cao nguyên Bô Lô Ven, đến Chăm Pát xắc và một đường ngang từ Chà Vằn đi Khâm Đức - Làng Hồi (Quảng Nam), Đắc Pét (Công Tum). Ngoài ra, Sư đoàn 471 còn quản lý tuyến đường sông Sê Công từ A Tô Pơ đẽn Tà Ngâu.


Cùng với các đơn vị bạn, Sư đoàn 471 chúng tôi nuôi quyết tâm chuẩn bị "lật cánh" trở lại đông Trường Sơn.

Vậy là, với tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn, Hiệp định Pa-ri đã mở ra một vận hội mới. Bởi thế, một cuộc họp hội đủ những cán bộ chủ trì trên tuyến mà chẳng khác gì một ngày hội lớn. Cũng là anh em, đồng đội thân quen mà ai cũng như trẻ lại đến mấy tuổi. Với tôi, niềm vui còn nhân lên gấp bội, vì nhận được thư vợ báo tin vợ chồng tôi đã có con trai, lấy tên là Võ Trường Sơn. Hồi đó, để khắc ghi kỷ niệm những năm tháng chồng chiến đấu ở Trường Sơn, vợ đêm ngày khắc khoải ngóng trông về nơi đó, không chỉ vợ chồng tôi mà bạn bè, anh em cũng có mấy người đặt tên con là Trường Sơn...


Qua làm việc với anh Nguyên và anh Đặng Tính, chúng tôi biết, ngay sau hội nghị quân chính, để chuẩn bị cho việc hoàn thiện thế trận vận chuyển, Tư lệnh sẽ dẫn đầu một đoàn cán bộ đi nghiên cứu tình hình tuyến đông Trường Sơn và Chính ủy sẽ khảo sát tuyến tây Trường Sơn. Bởi vậy, kết thúc hội nghị, anh em chúng tôi về ngay sư đoàn, phần để khẩn trương triển khai nhiệm vụ, phần để chuẩn bị tiếp đoàn của Chính ủy.


Ngày 1 tháng 4 năm 1973, anh Đặng Tính vào tới sở chỉ huy Sư đoàn 471 ở bắc sông Bạc. Anh Tính làm việc với Bộ Tư lệnh Sư đoàn gần hai ngày, trao đổi, bàn bạc cùng chúng tôi nhiều vấn đề nhằm hoàn chỉnh thế trận cầu đường, góp phần tạo thời cơ, chủ động đón thời cơ; đặc biệt là việc xây dựng căn cứ hậu cần chiến lược ở khu vực ba biên giới... Cùng đi với anh Đặng Tính có các anh Vũ Quang Bình - Chính ủy Sư đoàn 968, anh Nguyễn Xuân Yêm - Tham mưu phó công binh Bộ Tư lệnh Trường Sơn, Đặng Đình Miên - Phó chủ nhiệm chính trị, Nguyễn Danh - Chính ủy Cục Hậu cần, nhạc sĩ Trịnh Quý - Phó đoàn văn công Trường Sơn và một số cán bộ trợ lý cơ quan.


Sau hai ngày làm việc, ngày 3 tháng 4, chúng tôi bố trí anh Nguyễn Đình Kiên - Trung đoàn phó Trung đoàn 59 bộ binh (một trung đoàn bộ binh của Sư đoàn 471 phối thuộc cho Sư đoàn 968 chiến đấu ở Pắc Xoòng) phụ trách bộ phận hộ tống Chính ủy và đoàn đi kiểm tra Mặt trận Pắc Xoòng; sau đó làm việc với Tỉnh ủy của bạn ở Bô Lô Ven.


Thời gian này, dọc đường 16 đi Pắc Xoòng, biệt kích, thám báo địch thường gài mìn. Một số xe tải của ta đã bị vướng mìn, có trường hợp gây thương vong. Để bảo đảm an toàn cho đoàn, chúng tôi bố trí hai xe Zin157 có đầu tời đi trước; xe con của anh Tính và các anh trong đoàn chạy sau. Đơn giản là nếu có mìn thì Zinl57 sẽ gây nổ trước. Một kế hoạch hành quân cũng được tính toán kỹ càng. Đoàn của Chính ủy sẽ đi theo đường 17 mới mở đến sở chỉ huy Trung đoàn 10 và Trung đoàn 59 ở Pắc Xoòng, sau đó vào làm việc với Tỉnh ủy của bạn. Sáng ngày 4 tháng 4, cả đoàn sẽ đi bộ lên thăm bộ đội ở các chốt.


Chia tay đoàn, anh Hồ Quang Trung và tôi còn nhắc anh Nguyễn Đình Kiên tuyệt đối bảo đảm an toàn. Nghe chúng tôi dặn dò anh Kiên, anh Vũ Quang Bình còn đùa:

- Yên chí, chúng mình đã bao năm là "thổ công" ở đây rồi. Phỉ, thám báo không làm gì được đâu!

Nhưng, hàng trăm nghìn lần "không", để có một lần ngoài tầm suy nghĩ. Chúng tôi đâu có nghĩ đó chính là lần chia tay vĩnh viễn với anh Tính, anh Bình, anh Yêm...
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM