Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:19:36 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đường về đất mẹ  (Đọc 10301 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #40 vào lúc: 07 Tháng Hai, 2022, 07:51:20 am »

Theo anh em trong đoàn kể lại, vào khoảng 15 giờ 30 chiều ngày 3 tháng 4, đoàn đến quãng đường ngang từ Pắc Xoòng đi A Tô Pơ. Đây là quãng đường cũ, từ lâu cả bạn và ta đều không sử dụng, cách chốt Pắc Xoòng chừng 15 cây số. Trời có mù. Lẽ ra đã có thể kết thúc lộ trình một ngày. Nhưng anh Tính, anh Bình lại quyết định tranh thủ đi thẳng lên chốt thăm bộ đội. Anh Kiên, anh Miên và cả anh Danh thuyết phục, can ngăn rằng ở các trục đường giáp ranh này địch rất hay gài mìn đánh xe - chúng rất sợ thiết giáp của ta tiến công, nên khó bảo đảm an toàn. Nhưng mọi lời khuyên cũng không làm Chính ủy Đặng Tính thay đổi quyết định lên chốt thăm bộ đội. Buộc lòng anh Kiên phải nghe theo, nhưng với điều kiện xe của Chính ủy phải chạy sau xe các anh ấy chừng 30 mét và bánh xe sau phải ke đúng bánh xe đi trước.


Vẫn biẽt nơi chiến trường, nơi đối đầu với "mũi tên, hòn đạn" thì sống chết đâu có ranh giới rõ rệt, thậm chí giữa sự sống và cái chết chỉ là một sợi chỉ mỏng manh. Nhưng oái oăm thay cái không ranh giới oan nghiệt ấy đã đến với vị Chính ủy và những đồng đội yêu kính của chúng tôi.


Ở quãng đường bằng, xe sau bám vết bánh xe đi trước, bình an vô sự. Nhưng, đến một chiếc cầu nhỏ, xe của Chính ủy Đặng Tính láng khẽ sang một bên, và bánh sau đè phải mìn chống tăng. Mìn nổ, xe bị hất tung một quãng chừng 20 mét. Người trên xe đều hy sinh, có các anh Đặng Tính, Vũ Quang Bình, Nguyễn Xuân Yêm, nhạc sĩ Trịnh Quý, một bác sĩ và chiến sĩ lái xe.


Gần trưa ngày 4 tháng 4, giữa lúc mấy anh em chúng tôi đang nhóm họp bàn triển khai thực hiện nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh Trường Sơn giao và chi thị của Chính ủy Đặng Tính, bỗng thấy đồng chí Hoàng Ngọc Phách - Bí thư của anh Đặng Tính hốt hoảng chạy vào. Hỏng rồi! Không ai bảo ai, cả phòng cùng hỏi: Chính ủy đâu? Có chuyện gì vậy? Anh Phách bật khóc và chỉ nói được mấy tiếng: Chính ủy hy sinh rồi. Cùng lúc, anh Miên, anh Danh cũng tối. Anh Danh chỉ tay về phía chiếc xe Zin157. Chúng tôi ùa cả lại, không tin nổi mắt mình!


Việc đầu tiên là tôi gọi điện báo về Bộ Tư lệnh.

Anh Nguyên cũng đã rời sở chỉ huy, vào Tây Nguyên. Sau khi báo cáo tình hình cụ thể với anh Hoàng Thế Thiện, anh Ngô Thành Vân, tôi xin liên lạc với anh Nguyên. Rồi tôi cũng liên lạc được ngay với anh Nguyên đang ở tại một trạm giao liên cạnh sông Sa Thầy. Tôi đau đón báo cáo "602" (mật danh của anh Đặng Tính) và anh Bình, anh Yêm... đã hy sinh. Lặng đi một lúc vì xúc động, anh Nguyên nói: Vì đường sá quá cách trở, anh không thể về ngay chỗ chúng tôi, nên anh dặn dò khâm liệm thi hài Chính ủy và các anh Bình, Yêm, Quý... thật chu đáo. Cắt thuyền nhôm làm quan tài, lấy đường kính để lót trong quan tài, cố gắng giữ gìn thi thể các anh thật nguyên vẹn. Anh Nguyên còn chỉ thị: Mọi việc phải tiến hành hết sức khẩn trương, cẩn mật. Đồng chí Hoàng Ngọc Phách chuẩn bị thật chi tiết sự việc để báo cáo trực tiếp với anh. Còn tôi, sau khi tổ chức khâm liệm xong, trực tiếp hộ tống quan tài ba đồng chí cán bộ cao cấp ra bàn giao cho anh Ngô Thành Vân - Phó chính ủy Bộ Tư lệnh Trường Sơn sẽ vào đón ở KG4 (cụm kho của Binh trạm 34). Thi hài của những đồng chí còn lại tổ chức chôn cất chu đáo gần cơ quan sư đoàn.


Y lời anh Nguyên, chúng tôi huy động tất cả cơ quan quân y, bệnh xá sú đoàn tập trung khâm liệm; do đồng chí Lệ - Chủ nhiệm quân y sư đoàn, đồng chí Hải - Phó chủ nhiệm quân y trực tiếp chỉ đạo. Thi hài anh Đặng Tính, anh Bình, anh Yêm được liệm bằng vải trắng, quàn trong quan tài nhôm, hai lớp, đệm lót bằng đường kính. Riêng thi hài anh Tính được đệm lót hai tạ đường. Anh Tính hy sinh nhưng thi thể anh còn nguyên vẹn. Anh Bình bị cụt cả hai chân, anh Yêm bị cụt một chân, một tay... Dù đã bao lần "vào sống ra chết", chứng kiến biết bao sự hy sinh của đồng chí, đồng đội, nhưng trực tiếp lo "nghĩa tử - nghĩa tận" với các Thủ trưởng, đồng đội của chúng tôi khi đó, không một ai cầm lòng được. Chúng tôi khóc vì một nỗi đau oan nghiệt, phũ phàng; khóc để nước mắt tuôn rơi và khóc để nước mắt chảy vào trong. Quả là một nỗi đau không thể nói bằng lòi. Đây là tổn thất lớn nhất về cán bộ đối với tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn.


Lo chu tất khâu khâm liệm, chúng tôi hộ tống quan tài anh Tính, anh Bình, anh Yêm ra KG4. Anh Ngô Thành Vân đã đón đợi từ trước. Liền đó, thi hài anh Đặng Tính được Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng đưa ra an táng tại nghĩa trang Mai Dịch - Hà Nội. Thi hài anh Bình, anh Yêm được an táng ở Lệ Ninh - Lệ Thủy - Quảng Bình. Sau ngày đất nước yên bình, hai anh được gia đình, đơn vị đưa về quê nhà. Khi xây dựng nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, Bộ đội Trường Sơn có lập ba ngôi mộ tượng trưng, với mong muôn các anh luôn có mặt trong đội ngũ những người lính Trường Sơn - cả những người sống và nhũng người đã ngã xuống vì sự sống của tuyến đường, vì sự nghiệp giải phóng miền Nam và làm nghĩa vụ quốc tế; đồng thời cũng để mọi người đến với nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn sẽ không quên các anh - đặc biệt là anh Đặng Tính.


Tôi biết anh Đặng Tính từ khi anh còn làm Cục trưởng Cục Không quân vào những năm đầu hòa bình trên miền Bắc (1955-1960). Là cán bộ Cục Tổ chức, đã hơn một lần tôi được làm việc với anh. Tuy không tiếp xúc nhiều với anh Đặng Tính, bởi đầu năm 1965 tôi đã vào Trường Sơn. Tuy vậy, qua nhiều nguồn thông tin, tôi biết anh là một cán bộ chính trị mẫu mực - tiêu biểu cho hàng ngũ cán bộ chính ủy cấp quân khu, quân - binh chủng.


Tháng 10 năm 1971, anh Đặng Tính vào làm Chính ủy Bộ Tư lệnh Trường Sơn thay anh Vũ Xuân Chiêm. Lúc đó, tôi đã xuống làm Chính ủy Sư đoàn 471. Làm công tác đảng, công tác chính trị ở chiến trường Trường Sơn, có được sự chỉ đạo, hướng dẫn trực tiếp của một cán bộ chủ trì mẫu mực về phong cách, tầm nhìn như anh Đặng Tính, vâi tôi quả là một may mắn, hạnh phúc, là sự động viên quá lân. Với bản tính năng động, vừa có tác phong sâu sát, cụ thể, vừa có tầm nhìn xa, anh Đặng Tính đã nhập cuộc, nhập vai Chính ủy Bộ đội Trường Sơn rất nhanh, ở cương vị Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Bộ Tư lệnh Trường Sơn, anh đã trực tiếp chỉ đạo các vấn đề công tác đảng, công tác chính trị; vừa hướng dẫn cụ thể nội dung, biện pháp tiến hành từng mặt công tác. Anh kết hợp chặt chẽ hai địa hạt lãnh đạo và chỉ huy, để đi sâu nghiên cứu những vấn đề quân sự, chính trị, biện pháp tổ chức thực hiện. Sau một năm vào tuyến, anh đã chỉ đạo tổng kết công tác đảng, công tác chính trị của Bộ đội Trường Sơn. Sư đoàn chúng tôi cũng đã nhận được sơ thảo bản tổng kết quan trọng đó.


Anh Đặng Tính ra đi mang theo bao dự định lớn lao, đồng thời cũng để lại trong mỗi một người lính Trường Sơn chúng tôi biết bao niềm tiếc thương một người cán bộ mẫu mực, kiên trung, dũng cảm; bất chấp mọi gian nguy, khó khăn; đoàn kết, hết lòng thương yêu cán bộ, chiến sĩ...


Lo chu tất những phần việc Bộ Tư lệnh giao, chúng tôi cùng ngồi lại với nhau, nghiêm khắc kiểm điểm trách nhiệm chưa tròn của những người được phân công hộ tống và bảo vệ đoàn.

Thấm thìa bài học xương máu này, một tháng sau, khi tổ chức cho đoàn của đồng chí Nguyễn Trọng Vĩnh - Ủy viên Trung ương Đảng, cố vấn giúp bạn Lào đi thăm tỉnh ủy Bô Lô Ven, chúng tôi chỉ sử dụng xe Zin157 và kiên quyết buộc đoàn đi theo sự chỉ huy của chúng tôi, nên bảo đảm an toàn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #41 vào lúc: 07 Tháng Hai, 2022, 07:52:07 am »

"Láng giềng" kề cận, cùng hoàn cảnh Sư đoàn 471 ở tuyến cuối cùng là Sư đoàn 470 - một sư đoàn khu vực có tầm quan trọng đặc biệt. Bởi lẽ Sư đoàn 470 phụ trách địa đoạn cuối cùng của tuyến chi viện chiến lược, trực tiếp chi viện cho các chiến trường Tây Nguyên, Khu 5, Nam Bộ, Hạ Lào và Đông Bắc Cam-pu-chia. Anh Nguyễn An, Nguyễn Lang - Phó tư lệnh 559; anh Bùi Đức Tạm và anh Hoàng Thế Thiện - Phó chính ủy 559, đã từng trực tiếp làm Tư lệnh và Chính ủy Sư đoàn 470; vừa lãnh đạo - chỉ huy sư đoàn vừa đại diện Bộ Tư lệnh Trường Sơn trực tiẽp giải quyết những yêu cầu ngoài "tầm với" của Bộ Tư lệnh sư đoàn. Địa bàn do Sư đoàn 470 đảm trách ác liệt, nghiệt ngã chẳng kém thua một địa danh nổi tiếng nào trên tuyến, đặc biệt nơi đây còn được coi là "rốn sốt rét của Đông Dương".


Sự gian khổ, ác liệt của địa bàn tuyến cuối kéo dài từ khi có Tuyến 3, do anh Nguyễn An phụ trách, qua giai đoạn tổ chức thành binh trạm, tới khi thành lập các sư đoàn khu vực, sư đoàn binh chủng. Được sự hỗ trợ của các chiến trường, từng bước Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã xây dựng địa bàn này thành một căn cứ hậu cần chiến lược.


Ở chiến trường này, Sư đoàn 470 không chỉ đánh thắng địch trên không, khắc phục thác ghềnh sông nước, vận chuyển hàng hóa chi viện các chiến trường xa, mà còn cùng đơn vị bạn giải phóng A Tô Pơ, Sa Ra Van, Tha Teng; chặn địch đánh xuống Pắc Xoòng; tiêu diệt nhiều biệt kích, thám báo và bộ binh Mỹ - ngụy, khi chúng nống ra khu vực ba biên giới.


Bằng những chiến công đặc biệt xuất sắc đó, Sư đoàn 470, Sư đoàn 471, bốn trung đoàn, sáu tiểu đoàn, một binh trạm giao liên và nhiều cán bộ, chiến sĩ của hai sư đoàn đã được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tuy nhiên, đường tới đích chiến thắng không được trải bằng nhung lụa. Không có một thắng lợi nào mà ta không phải trả giá, thậm chí phải đánh đổi bằng những tổn thất khá đau lòng. Gian khổ, ác liệt, thiếu thốn, khí hậu nghiệt ngã của chiến trường Nam Lào cũng đã quật ngã không ít đồng chí, đồng đội của tôi. Trong đó có sự hy sinh của Chính ủy Đặng Tính; các anh Vũ Quang Bình, Nguyễn Xuân Yêm, Nguyễn Tam Anh, Nguyễn Tuấn, Lê Phụng Kỳ, Nguyễn Huệ, Nguyễn Trung Đình, Nguyễn Tiến Thẳng, Nguyễn Xuân On... - những cán bộ mẫu mực, là tổn thất không có gì bù đắp nổi.


Kể từ sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết. Chiến trường Trường Sơn thưa dần tiếng máy bay gầm gào và tiếng bom đạn dữ dằn của kẻ thù. Trên tuyến hành lang phía tây, các "chiến mã Trường Sơn" mặc sức tung hoành cả trên "đường kín" và "đường hở" suốt ngày đêm. Anh em lái xe đã có biểu hiện "kén cá chọn canh", chỉ thích chạy "đường hở", phóng tầm mắt thoải mái hơn. Điều này không có gì lạ với lính Trường Sơn. Chỉ có những người bị "nhốt" trong rừng lâu ngày, bị bủa vây bởi màn cây, vách núi, tầm nhìn không quá dăm trăm thước, mới thấu được sự sảng khoái, sung sướng đến nhường nào khi được phóng tầm mắt trước một cánh đồng, một dòng sông rộng...


Chớp thời cơ, chúng tôi tranh thủ đẩy nhanh nhịp độ vận chuyển, bảo đảm hành quân. Lúc này phần đông bộ đội hành quân vào chiến trường bằng cơ giới. Các đơn vị binh khí kỹ thuật cũng được cơ động bằng ô tô. Đặc biệt, sau khi Bộ Tư lệnh quyết định bỏ các cung trung chuyển, phần lớn xe được chạy cung dài. Xe Sư đoàn 472 chạy thẳng vào giao hàng cho Sư đoàn 470. Xe Sư đoàn 471 chúng tôi phần lớn ra lấy hàng ở Đông Hà, đường 9 hoặc cụm kho KG4, chạy một mạch 500 cây sổ, chuyển giao cho Sư đoàn 470, có trường hợp giao thẳng cho chiến trường Nam Bộ. Hiệu quả vận chuyển tăng vọt.


Vào đầu mùa hè năm 1973, theo đề nghị của Bộ Tư lệnh Trường Sơn, Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng chủ trương hoàn thiện thế trận vận chuyển, xây dựng đường cơ bản đông Trường Sơn, góp phần tạo thời cơ và chủ động đón thời cơ chiến lược mới. Bởi vậy, một trong những nhiệm vụ trọng yếu của Bộ đội Trường Sơn lúc này là khẩn trương thi công đường cơ bản đông Trường Sơn từ Quảng Trị vào Bù Gia Mập. Theo đó, nhiệm vụ của Sư đoàn 471 là chuyển đội hình cơ bản về hành lang phía đông, nhanh chóng triển khai làm đường; trong mùa mưa, năm 1973 phải thông đường từ Trao vào Đắc Pét và khôi phục tuyến vào đến Sa Thầy kịp trước mùa khô; đồng thời tranh thủ vận chuyển đủ hàng cho Khu 5 và cánh Bắc Mặt trận Tây Nguyên.


Tạm biệt những bản Lào, những cánh rừng khộp, rừng săng lẻ thân quen; tạm biệt những người dân bạn Lào hồn hậu, chất phác, tuy nghèo thiếu, thậm chí còn đói rách, nhưng nặng nghĩa, nặng tình, cưu mang đùm bọc bộ đội tình nguyện Việt Nam, những người lính Trường Sơn chúng tôi một thời đạn bom, cam go..., như con em ruột thịt.


Được tin chúng tôi chuyển sang đông Trường Sơn, các cấp lãnh đạo, chính quyền của bạn từ huyện đến tỉnh, rồi bà con các bộ tộc Lào, kể cả dân bản xa cách hàng ngày đường cũng tìm đến sở chỉ huy sư đoàn thăm hỏi, chia tay. Tôi nhớ mãi một cụ ông cứ nắm tay tôi căn dặn: Bộ đội Cụ Hồ trở về nước đừng quên bà con dân bản Lào nghèo khổ này. Câu nói của cụ ông, bỗng chốc kéo tôi trở về với những hồi niệm, những tháng ngày có khi phẳng lặng, đầy ắp niềm vui, cũng có khi khó khăn hoạn nạn; hạt gạo củ sắn bẻ làm ba làm bốn, chung lưng đấu cật, vượt khó đi lên. Trong khó khăn mới thấy ánh lên sự thủy chung cao đẹp của tình đoàn kết Việt - Lào.


Từ tháng 4 năm 1973, phần lớn Sư đoàn 471 chuyển dần sang hành lang phía đông. Lực lượng ở lại hành lang phía tây là một số đại đội công binh chốt giữ tại các trọng điểm. Các đơn vị xe tiếp tục vận chuyển, các trạm giao liên cơ giới. Như vậy là Sư đoàn 471 vừa triển khai xây dựng thế trận đông Trường Sơn từ đông A Vương vào Sa Thầy, vừa tiếp tục chỉ huy các đơn vị tiếp tục làm nhiệm vụ những tháng còn lại của mùa khô 1972-1973. Sau khi Trung đoàn cao xạ 210 vào tăng cường hẳn cho Nam Bộ, Trung đoàn cao xạ 593 tăng cường cho Mặt trận Tây Nguyên, Sư đoàn 471 được bổ sung Tiểu đoàn 24 pháo cao xạ 57 ly và một tiểu đoàn pháo phòng không nữa, bố trí dọc theo trục đường từ Thạch Mỹ đi Giằng. Đại đội bộ binh của sư đoàn có nhiệm vụ bảo vệ khu kho Khâm Đức và bao vây khống chế cứ điểm Đắc Pét, để công binh mở đường tránh qua cứ điểm này.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #42 vào lúc: 07 Tháng Hai, 2022, 07:54:14 am »

Mãi về sau, tôi vẫn không hết băn khoăn về quyết định mở đường tránh Đắc Pét của trên. Qua trinh sát nắm địch, chúng tôi biết ở Đắc Pét địch chỉ có khoảng hai đại đội. Căn cứ này được cấu trúc khá vững chắc, có cả hệ thống hầm ngầm. Nhưng quân địch ở đây đã bị ta cô lập hơn một năm. Địch chỉ có thể tiếp tế bằng đường không.


Trên cơ sơ phân tích mọi yếu tố, chúng tôi dự tính có thể dùng lực lượng cao xạ mạnh, đủ khống chế máy bay địch, triệt nguồn tiếp tế của chúng. Sau một thời gian, khi địch ở đây hết đạn, cạn gạo; chúng ta kết hợp sử dụng những tay súng thiện xạ bắn tỉa tiêu hao sinh lực địch, vừa dùng pháo cối uy hiếp liên tục, làm cho kẻ địch luôn ở trong tình trạng nơm nớp, hoảng loạn, tinh thần suy sụp, buộc phải đầu hàng; cùng lắm, ta chỉ dùng một lực lượng nhỏ tiến công, cũng cầm chắc thắng lợi. Nhổ được đồn Đắc Pét, ta dễ dàng khai thông đường vào Sa Thầy, không cần mở đường tránh.


Sau khi cân nhắc kỹ, chúng tôi báo cáo phương án "nhổ" căn cứ Đắc Pét lên Bộ Tư lệnh và đề nghị Bộ Tư lệnh báo cáo với Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ chiến đấu cho Sư đoàn 471.

Khi mới chuyển về đông Trường Sơn. Bộ Tư lệnh Sư đoàn 471 đóng ở Khâm Đức (tây Quảng Nam); sau một thời gian ngắn, chuyển ra đóng ở Bến Giằng, cạnh bờ sông Tranh. Dù đang vào mùa mưa, nhưng hết thảy các đơn vị công binh đều được tung vào mặt trận cầu đường. Các lực lượng khác cũng coi bảo đảm, phục vụ cho mở đường là nhiệm vụ trung tâm. Công binh Binh trạm 44, Binh trạm 35 mở đường tránh Đắc Pét, khai thông đường 14 từ Khâm Đức vào Đắc Pét, Sa Thầy - giáp Trung đoàn 551 Sư đoàn 470. Bộ Tư lệnh Trường Sơn tăng cường cho chúng tôi hai trung đoàn công binh, Trung đoàn 529 tham gia mở đường từ Giằng ra A Vương (giáp Sư đoàn 473); Trung đoàn 99 khôi phục các cầu cũ trên đường 14, làm một số cầu và ngầm mới trên trục đường từ Thạch Mỹ ra A Vương.


Ở tuyến cuối, Sư đoàn 470 tiếp tục đẩy nhanh nhịp độ hoàn chỉnh đường từ Sa Thầy ra giáp địa đoạn Sư đoàn 471 phụ trách và phía nam vào tối Bù Gia Mập, Lộc Ninh.

Cả Trường Sơn - cả triền đông Trường Sơn vào trận. Chiến trường thưa dần tiếng bom đạn. Thay vào đó là âm thanh của một đại công trường xây dựng, hội tụ hàng chục vạn con người, cùng nhiều máy móc, phương tiện thi công khá hiện đại. Núi rừng rung chuyển không phải vì bom đạn Mỹ như những năm tháng trước đó, mà bởi tiếng mìn phá đá của công binh Trường Sơn.


Nghe tôi trình bày xong phương án nhổ Đắc Pét, anh Nguyên trả lời: Bộ Tư lệnh cũng đã tính đến phương án "nhổ" Đắc Pét, đã trao đổi với Bộ Tư lệnh Quân khu 5 và Tây Nguyên; nhưng hai quân khu cho rằng đấy là nhiệm vụ của Quân khu. Không chỉ "nhổ" Đắc Pét, mà cả cao điểm 900 (Đắc Min) nữa... Vậy là chúng tôi buộc phải quay về với phương án mở đường tránh Đắc Pét. Để bảo đảm cho công binh mở đường hành quân, chúng tôi phải bố trí 2 đại đội cao xạ 37 ly và 1 đại đội bộ binh chốt quanh cứ điểm đề phòng chúng nống ra và máy bay ngụy đánh phá.


Chỉ trong hai tháng 4 và 5 năm 1973, Sư đoàn 471 đã thông đường từ Sa Thầy ra đến Trao - giáp địa đoạn Sư đoàn 473, đảm bảo cho xe của Sư đoàn 472 và Sư đoàn 473 chuyển hàng vào giao cho Sư đoàn 471 tại Giằng và Khâm Đức. Sư đoàn 471 nhận hàng và chuyển giao cho Quân khu 5 ở khu vực Thượng Đức (Đại Lộc - Quảng Nam), Làng Hồi (Tiên Phước), Trà Mi, và giao cho Mặt trận Tây Nguyên ở Sa Thầy. Trong khi đó, mãi sang năm 1974, căn cứ Đắc Pét của địch mới được "nhổ".


Sau khi đường vào Sa Thầy và các trục ngang xuổng vùng ven Trị - Thiên và Khu 5 được khai thông, chúng tôi được lệnh chuyển giao 1.000 tấn gạo ngoài kế hoạch cho Quân khu 5. Anh Nguyên dặn chúng tôi cố gắng bảo đảm số lượng gạo mà Quân khu yêu cầu vào tháng 7 năm 1973, chậm nhất là tháng 8 phải dứt điểm.


Có thể do lo lắng Sư đoàn 471 khó bảo đảm được lượng gạo đó trong một thời gian ngắn ngay đầu mùa mưa, anh Nguyễn Chánh - Phó tư lệnh Quân khu 5 đã gặp chúng tôi yêu cầu nhượng lại phần lương thực bảo đảm nội bộ sư đoàn cho Quân khu; Quân khu sẽ đổi lại bằng số sắn mà Quân khu trồng được ở Khâm Đức.


Thấu hiểu và đồng cảm sự lo lắng của các anh trong Bộ Tư lệnh Quân khu 5, chúng tôi nói để anh Nguyễn Chánh yên tâm rằng: Anh Nguyên giao kế hoạch bổ sung là đã tính tới khả năng của Sư đoàn 471, kể cả khả năng thời tiết không bình thường. Chúng tôi nhất định giao cho Quân khu không thiếu một ký gạo. Nếu thiếu, chúng tôi sẽ bù lại bằng tiêu chuẩn của sư đoàn.


Anh Chánh cười hồn hậu, giải thích là sợ chúng tôi vừa về lại đông Trường Sơn còn nhiều khó khăn...

Kết quả là, chỉ trong vòng tháng 7, chúng tôi đã chuyển giao đủ số gạo mà Quân khu 5 yêu cầu. Không chỉ có vậy, Sư đoàn 471 còn chuyển một khối lượng hàng dân sinh cho nhân dân vùng giải phóng hai tỉnh Quảng Đà, Công Tum.


Được trở về đông Trường Sơn chiến đấu và công tác, từ cán chí binh ấm lòng hơn bởi tình cảm "quê nhà", và cũng xem đó như nguồn năng lượng tinh thần, động viên cổ vũ mạnh mẽ chúng tôi nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ. Để tranh thủ tối đa sự ủng hộ của cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân địa phương ở địa bàn đơn vị đảm trách, chúng tôi thường xuyên giữ được mối liên hệ và hiệp đồng chặt chẽ với huyện Giằng (Quảng Đà), huyện 10 (Công Tum) và Ủy ban mặt trận dân tộc giải phóng tỉnh Quảng Đà, do anh Nam làm Chủ tịch. Anh Nguyễn Hòa - Phó tư lệnh và đặc biệt là anh Lê Xy - Phó chính ủy Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã vào cùng chúng tôi tổ chức hội nghị liên tịch với tỉnh Quảng Đà và tỉnh Công Tum, bàn kế hoạch, phương thức hiệp đồng chiến đấu và công tác ở địa bàn tây Quảng Đà, bắc Công Tum.


Mặt trận cầu đường lúc này không căng thẳng, quyết liệt như những mùa khô rực lửa trên tuyến trước đây, nhưng các anh trong Bộ Tư lệnh luôn sâu sát đơn vị. Mỗi lần xuống đơn vị, các anh lại giúp chúng tôi tháo gỡ, giải quyết được bao vấn đề: Khi thì tạo mối hiệp đồng với địa phương, khi thì giải quyết khâu kỹ thuật thi công đường cơ bản, khi thì giải quyết vấn đề tư tưởng lừng chừng, thỏa mãn của một số anh em kể từ sau khi có Hiệp định Pa-ri. Anh Lê Xy đặc biệt lưu ý chúng tôi tư tưởng - nói đúng hơn là những biểu hiện "ảo tưởng hòa bình" trong một số cán bộ, chiến sĩ.


Anh Lê Xy quê ở Hà Tĩnh, là cán bộ, đảng viên trước Cách mạng tháng Tám. Khi vào quân đội, anh đã là Tỉnh ủy viên tỉnh Hà Tĩnh. Vào công tác ở Đoàn 559, lúc đầu anh làm Chính ủy Cục Hậu cần, sau đó vào làm Chính ủy Tuyến 3, Chính ủy Binh trạm 36. Khi Bộ Tổng Tư lệnh thành lập Bộ Tư lệnh 500 - phụ trách công tác giao thông vận tải nam Khu 4, anh được bổ nhiệm làm Phó chính ủy (Chính ủy là anh Hồng Kỳ)...


Anh Lê Xy và tôi có chung nhiều kỷ niệm sâu sắc trong khi cùng làm việc ở cơ quan cũng như khi tôi xuống binh trạm hoặc sư đoàn. Anh và tôi có sự tương đồng là luôn hướng về cơ sở, lấy việc đi sâu thực tế làm nội dung, biện pháp và tác phong công tác. Do vậy, khi còn công tác ở cơ quan mỗi lần đi thực địa, anh thường bảo tôi đi cùng. Những lần như vậy, chúng tôi thường cho xe chạy vào ban ngày xuống đơn vị. Chúng tôi thường nghĩ muốn nắm chắc tình hình bộ đội, phải trực tiếp xuống khi bộ đội xe đang hành quân, chở hàng, công binh đang làm đường; bộ đội phòng không, bộ binh đang chiến đấu ở trọng điểm, trận địa... Chúng tôi thường đến các trạm chỉ huy giao thông ở đầu, cuối, hoặc giữa trọng điểm để "mục sở thị" hoạt động đánh phá của địch; tình hình tổ chức chiến đấu, khắc phục địch đánh phá của các đơn vị... Để từ đó, vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp tư tưởng tiến công của Bộ đội Trường Sơn vào từng binh chủng, từng đơn vị, từng thời điểm nhằm đạt hiệu suất chiến đấu, công tác cao nhất.


Sau này, anh Lê Xy thay anh Hoàng Thế Thiện làm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Bộ Tư lệnh Trường Sơn, thì tôi cũng được điều về lại cơ quan làm Phó chủ nhiệm chính trị. Anh em chúng tôi có điều kiện gần gũi nhau hơn trong công tác và cuộc sống đời thường, cũng vì vậy mà tôi học hỏi được ở anh thêm nhiều điều. Anh Lê Xy là một cán bộ chính trị năng động, luôn gắn với cơ sở; có uy tín không chỉ với cán bộ cấp dưới, với chiến sĩ mà cả cán bộ chỉ huy các cấp; đặc biệt là đồng chí Tư lệnh. Điều rủi ro và đáng tiẽc là sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, anh Lê Xy phải chịu một căn bệnh hiểm nghèo. Đã gần hai chục năm anh sống, hay nói đúng hơn là anh tồn tại cùng tật bệnh. Cũng quãng thời gian đó, gia đình, người thân, đơn vị, đặc biệt là chị Thường - vợ anh hết lòng chăm sóc anh.


Mỗi lần đến thăm anh, những kỷ niệm "một thời sôi nổi" ở Trường Sơn lại hiện về, và nước mắt lại giàn giụa trên khuôn mặt ốm yếu, tật nguyền của anh. Thật oái oăm, một con người, biết bao lần bất chấp mọi gian khổ, hiểm nguy, chiến thắng cả kẻ thù hung bạo, nhưng lại phải buông tay, trước bệnh tật, tuổi già...
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #43 vào lúc: 07 Tháng Hai, 2022, 07:55:21 am »

Sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội lần lượt vào thăm và trực tiếp chỉ đạo Bộ Tư lệnh Trường Sơn tích cực chuẩn bị tạo thế, tạo lực cho chủ trương chiến lược mới.


Đầu xuân Quý Sửu 1973, đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng vào thăm Bộ đội Trường Sơn. Đồng chí đã tới thăm một số đơn vị vận tải, công binh; một vài trọng điểm nổi tiếng...; động viên cán bộ, chiến sĩ Trường Sơn. Sổ vàng truyền thống của Bộ đội Trường Sơn, còn lưu giữ những dòng chữ - những suy cảm của vị lãnh đạo cao nhất của Đảng ta lúc đó: "Đường Trường Sơn là một chiến công chói lọi trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta. Đường Trường Sơn là con đường của ý chí quyết chiến quyết thắng, của lòng dũng cảm, của khí phách anh hùng. Đó cũng là con đường đoàn kết của các dân tộc ba nước Đông Dương...


Quang vinh thay Bộ đội Trường Sơn anh hùng đã chiến đấu và chiến thắng trên con đường mang tên Bác Hồ vĩ đại...".

Đầu tháng 3 năm 1973, Đại hội mừng công của Bộ Tư lệnh Trường Sơn được tổ chức tại Hiền Ninh - Quảng Ninh, Quảng Bình. Đại hội vinh dự được đón Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp. Hội nghị kết thúc, Đại tướng đã đến thăm một số đơn vị vận tải, công binh, thăm trọng điểm Văng Mu, tập đoàn trọng điểm ATP; gặp gỡ động viên những người lính Trường Sơn "Gan vàng dạ ngọc", thấp nén hương và kính cẩn nghiêng mình trước vong hồn các chiến sĩ đã ngã xuống tại những cung đường, trọng điểm mà Đại tướng tới thăm.


Tháng 6 năm 1973, chúng tôi đón anh Tố Hữu và anh Đinh Đức Thiện dẫn đầu đoàn cán bộ Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần vào chiến trường công tác. Đoàn có làm việc với lãnh đạo các tỉnh Quảng Đà - Thừa Thiên - Huế. Anh Đinh Đức Thiện đặc biệt quan tâm việc xây dựng đường cơ bản và đường ống dẫn xăng dầu đông Trường Sơn. Vậy nên, Bộ đội Trường Sơn xem anh là Tổng công trình sư của tuyến đường ống chiến lược này. Anh Tố Hữu có ghé thăm làng Rô - một làng nhỏ ở huyện Giằng, tây Quảng Nam. Vào thời trước Cách mạng tháng Tám, khi vượt ngục Công Tum, anh Tố Hữu đã về sống ở làng Rô trong tình yêu thương, cưu mang của nhân dân. Người thân buổi ấy chẳng còn bao lăm, nhưng dân làng đón anh thật chân tình, xúc động. Làng Rô là một trong những điển hình trong phong trào chiến tranh nhân dân, đánh địch, bảo vệ bản làng của tỉnh Quảng Nam thời đánh Mỹ (lúc đó là Quảng Đà).


Thời gian này, chúng tôi cũng tổ chức đưa đón, bảo đảm cho phái đoàn của Khu ủy Khu 5, do đồng chí Võ Chí Công - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Khu ủy dẫn đầu ra Bắc công tác. Hôm ghé thăm sư đoàn, đồng chí yêu cầu chúng tôi báo cáo tình hình đơn vị, tình hình địa bàn Khu 5 mà sư đoàn đứng chân làm nhiệm vụ... Được biết tuy vất vả, thiếu thốn, nhưng cán bộ, chiến sĩ trên tuyến vẫn thực hiện tốt nhiệm vụ chi viện chiến trường, đồng chí Võ Chí Công xúc động nói: Vậy mà trước đây, có lúc chúng tôi nhầm tưởng bộ đội hậu cần các đồng chí thì không thiếu thốn đến như vậy. Ở chiến trường mà cũng có lúc quan liêu. Liền đó, đồng chí quay sang dặn anh Dương Loan - đại tá, Ủy viên Khu uy, Phó tư lệnh Quân khu, chỉ thị cơ quan tài vụ Quân khu 5 trích cho sư đoàn một triệu đồng (tiền ngụy Sài Gòn) để mua máy thu thanh, pin..., cải thiện đời sống tinh thần cho bộ đội.


Nhờ "lật cánh" về đông Trường Sơn mà tôi có điều kiện gặp một số bạn bè, anh em thân quen. Có lần tôi gặp anh Huỳnh Hữu Anh - nguyên là Tiểu đoàn trưởng của tôi hồi kháng chiến chín năm chống Pháp, nay là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 3, anh Đặng Hòa - nguyên Trưởng ban tổ chức Phòng chính trị Liên khu 5 hồi đó, nay là Chính ủy Sư đoàn 3, Khu 5, cả hai anh ra Bắc công tác. Bạn bè thân quen, gặp lại nhau sau gần hai chục năm, giữa "đường về đất Mẹ", mừng khôn tả. Các anh tâm sự: Giá mà năm 1961, cậu về Khu 5 với bọn mình thì hay quá, anh em quen người, quen việc. Nhưng vào Trường Sơn cũng quý lắm rồi. Có Bộ đội Trường Sơn - 559 chi viện, không thì chúng mình gay go lắm...!


Những lần gặp cán bộ miền Trung qua tuyến, tôi đều dò hỏi tin nhà, nhưng đều "bặt vô âm tín". Vào giữa năm 1973, tôi nhận được thư của vợ tôi, cho hay là có cháu con anh trai tôi ra Bắc học. Cháu báo tin: mẹ, chị gái và các cháu của tôi đã chuyển vào Khánh Hòa từ năm 1965. Một cháu trai con anh tôi vào quân giải phóng và hy sinh năm 1969, hai cháu gái thoát ly; một cháu hoạt động ở địa phương, bị địch bắt đày ra Côn Đảo. Mẹ tôi đã ngoài 70 tuổi, nhưng cũng không quản nguy nan, tìm mọi cách nuôi giấu bộ đội, cán bộ, động viên con cháu hoạt động cách mạng. Hiện ở Quảng Ngãi chỉ còn mẹ vợ tôi và một cô em vợ. Một cậu em vợ tôi cũng vào quân giải phóng và hy sinh năm 1969.


Rồi dịp may cũng đến! Một hôm đang đi thực địa nắm tình hình đơn vị, tôi được báo có người nhà đến. Mừng như "mở cờ trong bụng", tôi về ngay cơ quan. Không phải người nhà mà chỉ nhận được thư nhà. Hai chị cán bộ tỉnh Khánh Hòa trên đường ra Bắc công tác ghé thăm và chuyển cho tôi lá thư của, em tôi là Bùi Dư, hiện là Chính ủy Cục Hậu cần Quân khu 5. Nhận được thư em, biết bao niềm vui, nỗi lo luôn canh canh bên lòng. Ôi! Quê hương, gia đình, người thân... tưởng như gần trong tấc gang mà vẫn còn vời vợi.


Tôi vẫn là đứa con mang nợ. Nhưng tình thế nay khác rồi. Một ngày không xa, tôi sẽ trở về.

Đầu tháng 8, đông Trường Sơn vào cao điểm mùa mưa. Nhận điện báo của Bộ Tư lệnh, cán bộ các đơn vị lại tề tựu về cơ quan dự hội nghị tổng kết nhiệm vụ mùa khô 1972-1973 và triển khai nhiệm vụ mới. Như có linh tính mách bảo, hôm tôi lên xe về dự họp, mấy anh em trong cơ quan sư đoàn nói đùa: Anh đừng đi luôn nhé. Hai năm với hai mùa khô gian khổ, ác liệt, chúng ta đã là một tập thể tâm đầu ý hợp trong chiến đấu, công tác... mọi việc xuôi chèo mát mái... Tưởng đùa lại hóa thật! Để chuẩn bị cho một mùa khô "đổi mới", hoàn thiện thế trận vận chuyển, Bộ Tư lệnh Trường Sơn bố trí lại cán bộ. Theo đó, tôi được Quân ủy Trung ương chỉ định vào Đảng ủy Bộ Tư lệnh Trường Sơn, và được điều trở lại tây Trường Sơn làm Chính ủy Sư đoàn 472. Vậy là vẫn còn duyên nợ với đất bạn Lào.


Ở hội nghị này, chúng tôi được phổ biến rất cụ thể chủ trương chiến lược mới của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, về đẩy mạnh tiến công địch, hoàn thành thắng lợi phần còn lại Di chúc của Bác Hồ kính yêu: "Đánh cho ngụy nhào", giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn có nhiệm vụ trực tiếp bảo đảm cho việc thực hiện chủ trương chiến lược đó.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #44 vào lúc: 07 Tháng Hai, 2022, 07:56:00 am »

Lúc này, lực lượng của Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã lên tới 17 vạn quân, đủ các lực lượng binh chủng, về tổ chức, các sư đoàn binh chủng bỏ cấp binh trạm, thay vào đó là những trung đoàn. Sư đoàn 471 chuyển hẳn sang hành lang đông Trường Sơn, phụ trách địa đoạn từ Trao vào Sa Thầy. Lực lượng chủ yếu của sư đoàn gồm Trung đoàn 36 vận tải ô tô; ba trung đoàn công binh (10, 529, 576). Địa bàn tây Trường Sơn mà sư đoàn đảm trách trước đó, được giao lại cho Sư đoàn 472. Sư đoàn 470 đảm trách địa bàn từ Sê Ca Mán vào Bù Gia Mập. Lực lượng chủ yếu của Sư đoàn 470 gồm Trung đoàn 27 ô tô vận tải, ba trung đoàn công binh (4, 551, 574) và Trung đoàn 53 vận tải đường sông Sê Công, Mê Công, đường bộ ở Đông Bắc Cam-pu-chia. Sư đoàn 473 là sư đoàn công binh, bảo đảm cầu đường từ Đông Hà vào Trao. Sư đoàn 571 khu vực hậu cứ phát triển thành sư đoàn ô tô vận tải biên chế bốn trung đoàn ô tô (11, 12, 13, 17). Đây là sư đoàn ô tô vận tải chủ lực, thiện chiến; nhận hàng ở cụm kho Đông Hà - Cửa Việt - đường số 9 vào giao cho các sư đoàn 472, 471, 470. Khi cần thiết, Sư đoàn 571 cũng "vượt tuyến" giao hàng cho Nam Bộ và Cam-pu-chia. Sư đoàn 968 bộ binh vẫn hoạt động ở chiến trường Trung - Hạ Lào, từ đường số 9 vào cao nguyên Bô Lô Ven. Cùng với các sư đoàn kể trên còn có ba trung đoàn đường ống xăng dầu, hai trung đoàn giao liên cơ giới, hai trung đoàn thông tin, một trung đoàn kho, Trường Quân chính, Trường đào tạo Lái xe, quân y viện... Sở chỉ huy Bộ Tư lệnh Trường Sơn kịp thời chuyển vào Thạch Bàn (tây nam Quảng Bình) tập trung chỉ đạo làm đường cơ bản đông Trường Sơn; sau đó chuyển vào Gio An, Gio Linh, Vĩnh Linh.


Xung quanh việc thành lập các sư đoàn binh chủng ô tô vận tải, công binh, lúc này không phải đã được nhất trí cao. Có ý kiến không đồng tình, thậm chí phản đối; viện dẫn quân đội nhiều cường quốc quân sự trên thế giới cũng không có sư đoàn binh chủng. Nhiều người tỏ ý nghi ngờ hiệu quả của các sư đoàn binh chủng cũng như khả năng tổ chức chỉ huy của Bộ Tư lệnh Trường Sơn, của cán bộ chủ trì những sư đoàn này. Mặc dư âm của những buổi tranh luận, bàn cãi "có hay không?", các sư đoàn binh chủng nhanh chóng hòa trong nhịp sống sôi động thường nhật và chỉ đến Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, lịch sử mới trả lời một cách khoa học, khách quan, sòng phẳng câu hỏi kể trên! Việc thành lập các sư đoàn binh chủng chiến đấu, phục vụ chiến đấu trên tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn, trong đó có sư đoàn ô tô vận tải, sư đoàn công binh - những sư đoàn binh chủng đầu tiên của quân đội ta, đã cho phép Bộ Tư lệnh Trường Sơn tạo được những "quả đấm chiến lược", "cú đấm" tập trung cho việc hoàn thiện thế trận cầu đường và vận tải, giải quyết dứt điểm khối lượng lớn vật chất theo yêu cầu cụ thể của từng hướng chiến trường, đồng thời đáp ứng được yêu cầu phát triển như vũ bão của cả chiến trường miẽn Nam khi tình thẽ có bước đột biến về chiến lược.


Bộ Tư lệnh Sư đoàn 472 khi tôi xuống nhận công tác, có anh Võ Văn Quỳ là Tư lệnh; các anh Đào Kim Sơn, Nguyễn Đức Lợi - Phó tư lệnh, anh Hoàng Cam là Phó chính ủy. Sư đoàn 472 phụ trách địa bàn từ đường số 9 vào đến Sê Ca Mán. Biên chế sư đoàn gồm hai trung đoàn ô tô vận tải (Trung đoàn 32 và Trung đoàn 33), ba trung đoàn công binh (30, 34, 39) và Trung đoàn cao xạ 593, cụm kho KG4... Hai trung đoàn xe 32 và 33 nhận hàng tại cụm kho KG4 do Sư đoàn 571 chuyển giao; hoặc ra nhận hàng ở cụm kho dọc đường số 9 vào giao cho Sư đoàn 470, Nam Bộ... Bảo vệ cụm kho KG4 và những vị trí trọng yếu khác, có Trung đoàn cao xạ 593.


Trên hành lang tây Trường Sơn, lúc này Sư đoàn 472 không tổ chức vận chuyển trên các trục đường 17, 23. Trục chính được sử dụng là đường 128. Các trục khác chỉ sử dụng chuyển hàng cho Sư đoàn 968 và bạn Lào. Do địch vẫn lén lút gài mìn, tập kích các đoàn xe, nên mỗi khi tổ chức vận chuyển ở đường 23, 16, Tha Teng, đường 9... chúng tôi đều bố trí công binh hộ tống.


Từ đầu năm 1974, Sư đoàn 472 được Bộ Tư lệnh giao thí điểm làm đường cơ bản từ đường số 9 (Bản Đông) đi Mường Noòng và một số đoạn khác. Chúng tôi sử dụng một tiểu đoàn công binh (sáu đại đội, có một đại đội cầu) chuyên trách làm đường cơ bản. Bộ Tư lệnh cũng tăng cường cho chúng tôi một số kỹ sư, cán bộ kỹ thuật và một số thiết bị làm đường. Đại đội cầu, do đồng chí Khoát làm Tiểu đoàn trưởng trực tiếp thi công cầu Bản Đông. Lần đầu tiên làm đường cơ bản theo tiêu chuẩn quốc gia, có cả cầu cáp treo cho xe tải trọng 6-8 tấn, Sư đoàn gặp không ít khó khăn. Và cũng chính trên mặt trận cầu đường tưởng như "bình lặng" này, máu của đồng đội chúng tôi vẫn đổ.


Dù cho đã rà phá khá kỹ lưỡng, nhưng khi thi công đường từ Bản Đông trở vào, qua những bãi mìn dày đặc của địch cài khi chúng đánh ra Đường 9 - Nam Lào trong cuộc hành quân "Lam Sơn 719", ba chiến sĩ Tiểu đoàn 87 đã hy sinh, một số máy húc bị hư hỏng. Đối với yêu cầu bảo đảm giao thông, do phải đảm trách một địa bàn quá rộng, lực lượng công binh lại mỏng, nên chúng tôi chỉ rải quân ở những đoạn đường quá xấu, nơi đèo dốc hiểm trở, các bến vượt; khi yêu cầu cấp thiết thì tổ chức lực lượng sửa chữa lưu động để ứng cứu. Còn các đơn vị xe tự tổ chức khắc phục những quãng đường xấu, đường lầy cục bộ.


Tháng 12 năm 1973, chúng tôi nhận nhiệm vụ đưa đón, bảo đảm cho một phái đoàn Trung ương Cam-pu-chia, do Iêng Xa Ri dẫn đầu trở về vùng giải phóng. Anh Đào Kim Sơn - Phó tư lệnh sư đoàn trực tiếp đi cùng đoàn. Khi đi qua cầu treo Bản Đông vừa khánh thành còn thơm mùi sơn, nhiều người trong phái đoàn của Cam-pu-chia rất đỗi ngạc nhiên, khâm phục những người lính công binh Trường Sơn, trong điều kiện chiến tranh ác liệt, thiếu thốn đủ bề, vẫn làm được cầu cáp treo bảo đảm cho xe tải trọng lớn vượt sông. Trước đây, dù khó khăn, thiếu thốn, Bộ đội Trường Sơn cũng đã tổ chức đưa đón, phục vụ hết sức chu đáo phái đoàn Hoàng thân Nô Rô Đôm Xi Ha Núc và bà Hoàng Mô Ních theo đường Trường Sơn về vùng giải phóng. Cũng như sau này, khi Cam-pu-chia yêu cầu chi viện đạn pháo lớn để tiến công giải phóng Phnôm Pênh, Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã kịp thời chuyển hàng trăm xe đạn pháo giúp bạn... Kể từ ngày đó đến nay, thời cuộc đã qua bao biến cố thăng trầm, ở đời có kẻ "sớm nắng chiều mưa"..., nhưng là người lính Trường Sơn, chúng tôi vẫn thầm tự hào đã góp một phần, tuy rất nhỏ, củng cố khối đoàn kết, liên minh Việt - Lào - Cam-pu-chia chiến đấu chống kẻ thù chung.


Qua hơn 6 tháng hoạt động khẩn trương và có sự hiệp đồng chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các lực lượng, đến tháng 5 năm 1974, chỉ tiêu vận tải mùa khô toàn tuyến đã đạt 110-120 phần trăm. Riêng Sư đoàn 472 đã chuyển giao cho Sư đoàn 470 hơn 300 nghìn tấn vũ khí, lương thực, thuốc quân y, bảo đảm cho hành quân hơn 10 nghìn tấn, đưa hàng chục nghìn thương bệnh binh và năm nghìn trẻ em miền Nam ra Bắc an toàn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #45 vào lúc: 07 Tháng Hai, 2022, 07:56:39 am »

Tranh thủ mùa mưa năm 1974 đến muộn hơn ở hành lang phía tây, trong tháng 6, chúng tôi huy động cả hai trung đoàn xe tập trung vận chuyển lập chân hàng ở KG4, đồng thời tạo chân hàng cho Trung đoàn 53 đủ hoạt động trên tuyến đường sông, tuyến cuối trong mùa mưa. Sư đoàn còn tập trung bốn tiểu đoàn xe vận chuyển đột kích bổ sung hàng trực tiếp cho Mặt trận Tây Nguyên và bạn Lào ở Sa Ra Van.


Cuối tháng 6, mưa lớn, dai dẳng. Đường sá lầy lún như muôn thuở. Quân ngụy Lào lại huy động một số binh đoàn cơ động đánh nống ra, hòng đẩy lực lượng Pa-thét Lào và Sư đoàn 968 ra xa trục đường 13, đường 17... Được phép của Bộ Tư lệnh Trường Sơn, Sư đoàn 472 kết thúc kế hoạch vận chuyển mùa khô 1973-1974.


Cũng trong mùa khô này, Sư đoàn 472 còn vinh dự được giao nhiệm vụ khai thác gỗ quý để xây dựng Lăng Bác Hồ. Anh Phan Khắc Hy - Phó tư lệnh xuống trực tiếp cùng chúng tôi tổ chức triển khai nhiệm vụ mà tầm ý nghĩa vượt xa khối lượng công việc. Trường Sơn đại ngàn, gỗ đâu thiếu! Nhưng cái khó là phải tìm được gỗ tốt nhất. Sau hơn một tháng, chúng tôi cũng chọn được một xe gỗ quý, đưa ngay ra Hà Nội giao cho Ban quản lý xây dựng Lăng. Chỉ là một chút công việc nhỏ nhoi, lặng thầm, song với cương vị là những người lính đang sống, chiến đấu trên tuyến đường mang tên Bác, chúng tôi cũng không giấu nổi niềm vui, đã góp phần mình vào sự nghiệp: "Để Bác Hồ sống mãi với đất nước, với nhân dân".


Cuối tháng 5 năm 1974, Bộ Tư lệnh Trường Sơn chuyển sở chỉ huy từ Thạch Bàn (ngã ba đường 15 và đường 16, cạnh sông Bang) vào Bến Tắt - bờ nam sông Bến Hải. Đồng thời cũng tại khu vực này, Bộ Tư lệnh đã quyết định xây dựng nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn - một nghĩa trang có tầm cỡ quốc gia. Sau này, khi hoàn tất khâu xây dựng, di dời phần mộ liệt sĩ, nghĩa trang Trường Sơn là nơi yên nghỉ của hơn 10 nghìn ngôi mộ của những người lính trên khắp mọi miền đất nước đã ngã xuống trên tuyến đường mang tên Bác, vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà và làm nghĩa vụ quốc tẽ cao cả.


Tại sở chỉ huy mới ở Bến Tắt, cuối tháng 8 năm 1974, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Trường Sơn họp tổng kết nhiệm vụ mùa khô 1973-1974 và triển khai chuẩn bị cho chủ trương chiến lược mới. Hội nghị thống nhất đánh giá mùa khô 1973-1974 của tuyến chi viện chiến lược đã "kết thúc thắng lợi chưa từng có", cả về cải thiện thế trận vận chuyển và khối lượng vận chuyển chi viện các chiến trường. Trong thắng lợi tổng thể trên các mặt, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh cũng khẳng định bước tiến vượt bậc của toàn tuyến trong lĩnh vực công tác chính trị. Không phải chỉ mùa khô vừa qua, mà từ nhiều năm trước, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh đã rất coi trọng công tác tư tưởng, tổ chức. Những năm không quân Mỹ đánh phá ác liệt trên toàn tuyến, trọng tâm của công tác chính trị, tư tưởng là khắc phục hiện tượng tiêu cực, dao động, thoái thác nhiệm vụ. Còn hiện tại, vấn đề quan trọng nhất là xây dựng tư tưởng tiến công, tranh thủ thời cơ, liên tục bền bỉ chiến đấu, công tác, không kể tháng, kể ngày.


Về tổ chức, vấn đề quan trọng bậc nhất - cũng là vấn đề thành công nhất của Bộ Tư lệnh Trường Sơn là đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển nhảy vọt của chiến trường. Do yêu cầu của nhiệm vụ, đội ngũ cán bộ Tuyến 559 được bổ sung từ nhiều nguồn: các cơ quan Bộ Quốc phòng, quân - binh chủng, các quân khu, cơ quan Nhà nước ở hậu phương miền Bắc và tự đào tạo. Đảng ủy 559 luôn xác định: mỗi cán bộ vào chiến đấu, công tác ở chiến trường Trường Sơn, là những đồng chí đã tự nguyện chiến đấu vì độc lập tự do, thống nhất Tổ quốc. Dù trước đó, trình độ của cán bộ không đồng đều, các cấp ủy, chỉ huy cần phát huy mặt mạnh, mặt tốt của từng người, hạn chế mặt điểm yếu của họ. Kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện cục bộ địa phương, bè phái. Với tư tưởng đó, nhiều cán bộ dân - chính vẫn được bố trí, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, hoặc cán bộ chủ trì cơ quan. Đó là các anh Nguyễn Tường Lân - Phó tư lệnh 559, Nam Hải - Tham mưu phó công binh 559; các anh Nguyễn Lang, Phan Trầm... chỉ huy trưởng công trình. Đại bộ phận cán bộ đều hoàn thành tốt chức trách nhiệm vụ của mình. Đó là một trong những thành công của công tác tổ chức, xây dựng đội ngũ cán bộ của Bộ Tư lệnh Trường Sơn.


Trong chiến tranh, do yêu cầu phát triển nhanh lực lượng, việc bổ nhiệm cán bộ nhiều khi có những bước "nhảy vọt" - phổ biến là cán bộ từ trung đội đến trung đoàn. Có đồng chí, đầu mùa khô mới là cán bộ trung đội, qua một mùa khô công tác, chiến đấu, đã trở thành cán bộ cấp tiểu đoàn. Chức vụ cán bộ thường cao hơn cấp bậc. Nhiều đồng chí thượng úy là cán bộ trung đoàn, trung úy là tiểu đoàn trưởng... Việc đề bạt cho cán bộ tuy có làm nhưng rất chậm. Đặc biệt là đối với số cán bộ trung đội, đại đội, tiểu đoàn; nhiều đồng chí vẫn chỉ là thượng sĩ. Cấp "sĩ" cũng phải qua Bộ Quốc phòng phê chuẩn, nên phải qua nhiều khâu, rất chậm là điều không thể nào khác được, ở Tuyến 559, đã có trường hợp anh em vẫn đùa là "thượng sĩ i-nốc" làm tiểu đoàn trưởng. Chưa hết, phụ cấp cho cán bộ lại không được hưởng theo chức vụ. Cũng vì điều này, mà khi làm Chính ủy Sư đoàn 472, tôi đã bị phê bình: "Chính ủy sư đoàn mà làm việc thiếu nguyên tắc". Chuyện là, vào mùa khô 1973-1974, Bộ Tư lệnh Sư đoàn được giao quyền bổ nhiệm cán bộ trung đội trưởng và đại đội phó. Trong thời gian chờ Bộ phong quân hàm, chúng tôi đề nghị Bộ Tư lệnh 559 cho số anh em vừa bổ nhiệm được hưởng phụ cấp chức vụ. Nhưng rồi chờ mãi vẫn không thấy Bộ Tư lệnh ý kiến gì, chúng tôi bèn giải quyết. Khi nhận được báo cáo của Phòng Tài vụ, anh Hoàng Thẽ Thiện đã thẳng thắn phê bình chúng tôi. Chúng tôi tự giác nhận khuyết điểm bởi "việc đã rồi", nhưng thâm tâm vẫn thật không thoải mái bởi điều nghịch lý - "bất đồng" giữa trách nhiệm và quyền lợi này. Nhưng chiến tranh là vậy,... Khái niệm "quyền lợi" thường nhường chỗ cho sự hy sinh và những điều lớn lao, thiêng liêng khác.


Hội nghị Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Trường Sơn lần này tập trung quán triệt kỹ về quyết tâm chiến lược và nhiệm vụ chuẩn bị cho giai đoạn cuối cùng của sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Đối với Bộ Tư lệnh Trường Sơn, biên chế tổ chức tiếp tục có sự hoàn thiện, tăng cường các sư đoàn binh chủng. Cán bộ cơ quan Bộ Tư lệnh cũng có bước điều chỉnh. Tôi được điều trở lại cương vị Phó chủ nhiệm chính trị Bộ Tư lệnh Trường Sơn. Chủ nhiệm chính trị lúc này là anh Nguyễn Quang Vân. Phó chủ nhiệm chính trị, ngoài tôi còn có các anh: Đặng Đình Miên, Phạm Tề, Hoàng Nguyễn.


Đại biểu dự hội nghị thảo luận sôi nổi, tập trung bàn triển khai kế hoạch mùa khô 1974-1975 mà Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng giao, đồng thời chuẩn bị chủ động bảo đảm cho "phương án thời cơ", giải phóng hoàn toàn miền Nam trong năm 1975.


Sau gần ba ngày làm việc, chỉ huy các sư đoàn, trung đoàn trực thuộc hối hả về đơn vị. Tôi đọc được trong ánh mắt, nụ cười mọi người niềm vui, niẽm tin "phương án 2" đang đến gần.

Từ đầu mùa khô, trừ anh Quang Vân thường trực ở cơ quan, còn tôi, anh Miên, anh Phạm Tề, anh Hoàng Nguyễn chia nhau xuống nắm tình hình, đốc chiến các hướng. Tôi được phân công sang tuyến hành lang tây Trường Sơn, đi sâu vào phía nam, đôn đốc các trung đoàn giao liên cơ giới cơ động quân và vận chuyển bảo đảm binh khí kỹ thuật cho các đơn vị. Một mình một xe, một lái xe, tôi bươn bả tới các trạm chỉ huy giao thông này đến trạm chỉ huy giao liên khác, trực tiếp nghe các đơn vị hành quân qua tuyến phản ánh các mặt bảo đảm, từ đó cùng các trung đoàn giao liên Sư đoàn 470 tổ chức bảo đảm tốt hơn. Nhiều lần, tôi và cán bộ sư đoàn, trung đoàn giao liên đi cùng xe chở quân vào giao cho Mặt trận Tây Nguyên ở đường 19, giao cho Nam Bộ ở Lộc Ninh.


Cả nước vào trận, cả Trường Sơn vào trận. Người và xe, pháo tuôn đổ về Nam. Đường, bình thường vốn đã chật, lúc này như chật hẹp hơn. Nhưng không trở ngại nào ngăn được những "dòng sông người", những "dòng sông xe - pháo" đang rùng rùng tiến ra phía trước.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #46 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2022, 07:23:01 am »

V. TRỞ VỀ TRONG MÙA XUÂN TOÀN THẮNG

Đầu năm 1975, với cương vị Phó chủ nhiệm chính trị, Đảng ủy viên Bộ Tư lệnh Trường Sơn, đang là phái viên đốc chiến trên tuyến, tôi nhận được điện báo về hậu cứ họp Đảng ủy Bộ Tư lệnh Trường Sơn. Điểm họp là một trạm khách được Bộ Tư lệnh cho xây dựng ở Vĩnh Mốc, Vĩnh Linh, sau khi ta giải phóng Quảng Trị, để đón tiếp các đồng chí lãnh đạo từ chiến trường ra, hoặc từ ngoài Bắc vào. Dự họp có đông đủ các anh trong Đảng ủy Bộ Tư lệnh: Đồng Sĩ Nguyên, Hoàng Thẽ Thiện, Nguyễn Lang, Phan Khắc Hy..., cùng các anh chỉ huy cơ quan Bộ Tư lệnh và đơn vị.


Vào hội nghị, anh Nguyên quán triệt lại quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị Trung ương Đảng trong 2 năm 1975-1976, tranh thủ thời cơ giải phóng hoàn toàn miền Nam, nếu điều kiện cho phép, quyết tâm dứt điểm trong năm 1975. Đặc biệt, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương quyết định chọn Tây Nguyên làm "đột phá khẩu" cho chủ trương chiến lược mới, thành lập Bộ Tư lệnh chiến dịch, do anh Hoàng Minh Thảo làm Tư lệnh, anh Đặng Vũ Hiệp làm Chính ủy. Do vậy, ngoài thực hiện nhiệm vụ chi viện chiến lược theo kế hoạch, Bộ Tư lệnh Trường Sơn còn có nhiệm vụ tham gia chiến dịch Tây Nguyên, cụ thể là làm đường chiến dịch, cơ động quân, vận chuyển bảo đảm vật chất hậu cần, vũ khí, khí tài cho các lực lượng tham gia chiến dịch và trực tiếp tác chiến chiến dịch.


Để trực tiếp phục vụ chiến dịch giải phóng Tây Nguyên, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Trường Sơn quyết định thành lập Bộ Tư lệnh tiền phương. Phó tư lệnh Nguyễn Lang được phân công phụ trách Bộ Tư lệnh tiền phương. Anh còn được Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng chỉ định làm Phó tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên, đặc trách công tác hậu cần, kỹ thuật. Chỉ huy sở Bộ Tư lệnh tiền phương đặt ở Sa Thầy, cạnh sở chỉ huy Sư đoàn 470. Tôi được chỉ định là thành viên của Bộ Tư lệnh tiền phương. Những gì lĩnh hội được từ hội nghị có tính lịch sử này đã tạo cho chúng tôi niềm tin mãnh liệt về một mùa xuân mới - mùa xuân toàn thắng.


Thực hành mệnh lệnh của Bộ, Sư đoàn 470 được giao nhiệm vụ vừa vận chuyển chi viện chiến lược, vừa bảo đảm phục vụ chiến dịch Tây Nguyên và là lực lượng tác chiến tại chỗ của chiến dịch Sư đoàn bộ binh 968 quân tình nguyện Việt Nam tại Hạ Lào, trực thuộc Bộ Tư lệnh Trường Sơn, khẩn trương cơ động về bắc Tây Nguyên, tác chiến trên một hướng chiến dịch. Sư đoàn ô tô 471 dâng toàn bộ đội hình sâu vào phía Nam, vừa vận chuyển chi viện chiến lược, vừa vận chuyển phục vụ chiến dịch. Bộ Tư lệnh Trường Sơn còn thành lập thêm hai trung đoàn công binh (574 và 575) để mở gấp đường chiến dịch, bảo đảm cơ động bí mật bất ngờ xe tăng, pháo hạng nặng... theo yêu cầu của Bộ Tư lệnh chiến dịch.


Do yêu cầu nhiệm vụ, hầu hết cán bộ các cơ quan Bộ Tư lệnh và Bộ Tư lệnh tiền phương được tung xuống các đơn vị, từng cung đường, trực tiếp truyền đạt mệnh lệnh của cấp trên, đôn đốc, kiểm tra, giúp đơn vị thực thi nhiệm vụ. Tôi được phân công xuống đốc chiến, giúp các anh Bộ Tư lệnh Sư đoàn 471 và hai trung đoàn công binh 574, 575.


Đối với Sư đoàn vận tải ô tô 471, sau khi chuyển sang làm Chính ủy Sư đoàn 472 và về cơ quan Bộ Tư lệnh, tôi vẫn luôn theo dõi từng "đường đi nước bước" của Sư đoàn - nơi tôi từng gắn bó suốt hai mùa khô 1971-1972 và 1972-1973. Bình tâm nhìn lại, đây là thời điểm gian khổ, quyết liệt nhất đối với Sư đoàn 471.


Sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, Sư đoàn 471 chuyển sang hoạt động chủ yếu ở địa bàn đông Trường Sơn, góp phần hoàn chỉnh thế trận cầu đường, chuẩn bị cho chủ trương chiến lược mới, vận chuyển chi viện chiến trường. Được sự hỗ trợ của lực lượng thanh niên xung phong, của Bộ Tư lệnh Khu 5, Mặt trận Tây Nguyên..., Sư đoàn 471 đã hoàn thiện mạng đường, cầu đông Trường Sơn từ A Vương đến Sa Thầy, vào năm 1974.


Tháng 6 năm 1974, theo đề nghị của Bộ Tư lệnh Trường Sơn, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng quyết định thành lập các sư đoàn binh chủng. Theo đó, Sư đoàn khu vực 471 và Sư đoàn khu vực hậu cứ 571 chuyển thành hai sư đoàn vận tải ô tô. Đây là một sự kiện vô cùng quan trọng trong lịch sử tổ chức quân đội ta, nếu không nói là chưa có tiền lệ cả với những cường quốc quân sự trên thế giới.


Biên chế của Sư đoàn 471 lúc này có các trung đoàn ô tô 32, 33, 536 và 17, do anh Nguyễn Văn Lạn làm Sư đoàn trưởng, anh Phạm Thái làm Chính ủy; các anh Phạm Lê Hoàng, Nguyễn Tất Giới là Sư đoàn phó, anh Phan Biên là Phó chính ủy và anh Nguyễn Thuận Quảng là Tham mưu trưởng. Đây là một tập thể cán bộ sư đoàn vận tải cơ giới khá lý tưởng. Anh Nguyễn Văn Lạn, nguyên là cán bộ chính trị, là người khá quyết đoán, có chính kiến kể cả chính kiên trái với cấp trên như bản tính "đồ Nghệ" mà chúng tôi vẫn thường đùa gọi anh như vậy. Sự kiện anh phản ứng quyết định của Bộ Tư lệnh Trường Sơn thử nghiệm tổ chức vận chuyển cơ giới mùa mưa trước đây là một điển hình cho tính cách đó.


Đến với Sư đoàn 471 trong những ngày khẩn trương chuẩn bị cho chiến dịch, nhớ về hội nghị Đảng ủy Bộ Tư lệnh Trường Sơn bàn triển khai thực hiện chủ trương chiến lược mới của Đảng, khi đó lãnh đạo, chỉ huy các sư đoàn 470, 471, 472, 571... nhận nhiệm vụ đột xuất, nặng nể mà đầy tự tin, không một chút lo lắng, tôi càng cảm phục tầm nhìn xa của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và sự năng động, sáng tạo của Bộ Tư lệnh Trường Sơn. Chỉ bằng "vốn liếng" quý giá là mấy sư đoàn binh chủng - đặc biệt là hai sư đoàn vận tải thiện chiến sẵn trong tay thì Bộ Tư lệnh Trường Sơn mới chủ động hoàn toàn trước tình hình có bước phát triển đột biến, mới đủ khả năng bảo đảm nhanh nhất, đầy đủ nhất khối lượng vật chất kỹ thuật cho chiến trường; kể cả sử dụng lực lượng lớn vận tải cơ giới cơ động các binh đoàn binh chủng hợp thành của Bộ vào tham gia các chiến dịch quy mô lớn.


Từ khi chuyển thành sư đoàn vận tải cơ giới, biên chế hơn 1.600 xe, trong điều kiện cầu đường cho phép, cường độ đánh phá của không quân địch giảm hẳn, Sư đoàn 471 đã tổ chức vận chuyển cung dài từ đường số 9 vào Xê Sụ, Sa Thầy; giao hàng trực tiếp cho chiến trường Khu 5, Tây Nguyên; một bộ phận chuyển tiếp vào Lộc Ninh, Bù Gia Mập, giao hàng cho Nam Bộ. Bước vào Tổng tiến công Xuân 1975, sở chỉ huy sư đoàn chuyển từ Đầu Mầu - đường số 9 vào Xê Sụ. Hai trung đoàn 33 và 536 lấy hàng ở Xê Sụ, Sa Thầy, chuyển giao cho các hướng chiến trường. Hai trung đoàn 32 và 17 trực tiếp lấy hàng từ cụm kho Đông Hà, đường số 9 chuyển thẳng vào giao cho Nam Bộ tại Lộc Ninh.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #47 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2022, 07:24:04 am »

Chuẩn bị cho chiến dịch Tây Nguyên, theo yêu cầu của Bộ, Sư đoàn 471 huy động tổng lực phương tiện cơ động gấp toàn bộ đội hình Sư đoàn 316 cùng toàn bộ binh khí kỹ thuật từ Tây Nguyên, tập kết quanh đường số 19, bảo đảm tuyệt đối bí mật an toàn. Thành công của việc cơ động Sư đoàn 316 đã tạo tiền đề để chúng tôi tổ chức lực lượng cơ động Sư đoàn 968 từ Hạ Lào về Plây Cu, Công Tum thay chân Sư đoàn 10 tác chiến nghi binh ở hướng bắc chiến dịch. Tiếp đó, ngày 4 tháng 3, Sư đoàn 471 tổ chức lực lượng, bí mật cơ động Sư đoàn 10 vào vị trí tập kết chiến dịch, chuẩn bị tiến công Đức Lập; chuyển hơn 100 tấn đạn pháo lớn theo lưng bộ đội vào tới tận trận địa pháo, kịp giò "G" phát hỏa mở màn chiến dịch.


Để bảo đảm kịp thời yêu cầu vận chuyển vật chất, cơ động lực lượng tham gia chiến dịch, tôi cùng các anh trong Bộ Tư lệnh Sư đoàn quyết định cho xe chạy lấn sáng, lấn chiều, nhưng tuyệt đối phải bảo đảm bí mật. Riêng các đêm 6 và 7 tháng 3, khi chuyển hàng giao tại những điểm gần địch, lái xe phải tắt đèn, đi mò trong đêm.


Xen kẽ những ngày đốc chiến tại Sư đoàn 471, tôi sang nắm tình hình mở đường chiến dịch từ nam Đức Cơ xuống Chư Mơ Nga của các trung đoàn 574, 575. Trên hướng bắc Buôn Ma Thuột, Trung đoàn 575, do các anh Nguyễn Văn Châu và Nguyễn Văn Liễu chỉ huy, khẩn trương khôi phục các trục đường 48, 50. Từ giữa tháng 2, Trung đoàn tiếp tục mở một trục dọc gồm đường 50B và hai nhánh là đường 50C, 50D. Tổng chiều dài trục đường này lên tới gần sáu chục cây số. Đa phần đường mới mở đi sát đồn điền cao su của các chủ tư bản Pháp trước đây. Vào gần thị xã Buôn Ma Thuột địa hình trống trải, dân cư đi lại nhiều, yêu cầu giữ bí mật được đặt lên hàng đầu. Khi đường mở vào cách thị xã chừng 20 cây số, chỉ huy trung đoàn được lệnh cho bộ đội tạm dừng, chuẩn bị vật liệu, phương tiện để khi có lệnh là hoàn tất quãng còn lại trong một ngày đêm. Chính thời gian này, anh em công binh đã bí mật, khôn khéo tổ chức thành từng nhóm nhỏ, cưa cắt sát gốc những cây to dọc trục đường sẽ mở, chỉ để lại một phần cho cây khỏi ngã; đào đặt sẵn lượng nổ cần thiết vào những gò đống phải phá... Tất cả sẵn sàng chờ lệnh thông đường.


Dốc hết khả năng, phát huy cao độ trí tuệ, tính tổ chức kỷ luật cao, đến ngày 4 tháng 3, trục đường do Trung đoàn 575 mở từ hướng bắc đã vào đến bản Kơ Hia, Chư Mơ Nga, cách thị xã Buôn Ma Thuột chừng 20 cây số mà kẻ địch không hay biết gì. Để có được kết quả đó, cũng phải kể đến sự ưu ái của núi rừng Trường Sơn. Đúng là "rừng che bộ đội, rừng vây quân thù". Dưới những tán rừng lặng lẽ là cả một chiến dịch ra quân của mấy chục nghìn quân, mấy nghìn xe ô tô, pháo lớn. Núi rừng Trường Sơn đang ẩn chứa sức mạnh tiềm tàng, to lớn mà đối phương không thể nào hình dung nổi.


Thời gian mở màn chiến dịch đên gần, kế hoạch bảo đảm cho chiến dịch cũng hoàn tất. Ngoài cơ động Sư đoàn 968 và Sư đoàn 10 vào vị trí tập kết chiến dịch bí mật, an toàn, Sư đoàn 471 đã chuyển 10.300 tấn vũ khí, khí tài - chủ yếu là đạn pháo lớn, khí tài thông tin, phụ tùng xe tăng thiết giáp vào khu vực Sa Thầy, tập kết ở trục đường đông Trường Sơn, tại những nhánh rẽ xuống từng hướng chiến dịch...


Qua theo dõi, kiểm tra của Tiền phương Bộ Tư lệnh Trường Sơn, toàn bộ công tác chuẩn bị, bảo đảm vật chất kỹ thuật, cầu đường..., Bộ đội Trường Sơn đã hoàn thành vượt mức kế hoạch 30 phần trăm trước 3 ngày so với thời gian quy định. Đặc biệt, do chủ động chuẩn bị tốt, khi được lệnh mở tiếp các trục đường còn lại như dự kiến, Trung đoàn 575 đã dồn lực tổ chức thi công suốt ngày đêm. Đúng 23 giờ ngày 9 tháng 3, Trung đoàn đã khai thông trục đường 50B, hai nhánh 50C, 50D và tổ chức xong lực lượng hộ tống xe cùng binh khí kỹ thuật.


Là người chủ trì tiền phương Bộ Tư lệnh trong "đêm trước" của chiến dịch, sau khi gọi điện báo cáo kết quả công tác chuẩn bị cũng như đánh giá của Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên, với anh Đồng Sĩ Nguyên và anh Lê Xy, anh Nguyễn Lang không giấu nổi vui mừng. Anh tâm sự với chúng tôi: Bộ đội Trường Sơn đã thực hiện tốt lời căn dặn một tháng trước đó của anh Văn Tiến Dũng và anh Đinh Đức Thiện... Niềm vui ngập tràn cơ quan Bộ Tư lệnh tiền phương, làm vợi đi tâm trạng bồn chồn, thấp thỏm của chúng tôi, bởi giờ mỏ màn chiến dịch Tây Nguyên đang đến gần.


Ngày 10 tháng 3, ta nổ súng tiến công địch ở thị xã Buôn Ma Thuột. Theo yêu cầu của Bộ Tư lệnh chiến dịch, Trung đoàn công binh 575 đã phối hợp cùng Trung đoàn 7 công binh, Mặt trận Tây Nguyên bảo đảm cầu đường cho đội hình binh chủng hợp thành tiến công địch, giành thắng lợi.


Cuộc tiến công đồng loạt của ta trên khắp chiến trường Tây Nguyên, đỉnh cao là đòn "điểm huyệt" Buôn Ma Thuột đã làm cho quân địch ở địa bàn chiến lược trọng yếu này hoàn toàn tan rã. Địch buộc phải bỏ Tây Nguyên tháo chạy theo đường số 7 về co cụm tạo "lá chắn" ở duyên hải miền Trung.


Không cho địch chạy thoát, nhận chỉ thị của Đại tướng Văn Tiến Dũng, anh Nguyễn Lang lệnh cho Sư đoàn 471 tổ chức một lực lượng cơ động Sư đoàn 10 truy kích địch rút chạy theo đường số 7 và cơ động Sư đoàn 320 truy kích địch theo đường 19 xuống Buôn Hồ, Đạt Lý.


Theo phân công của anh Lang, tôi may mắn được đi cùng cánh quân truy kích địch theo đường số 7. Khi Sư đoàn 10 phối hợp cùng Sư đoàn 3 Quân khu 5 chặn đánh tiêu diệt gọn lực lượng Quân khu 2 của địch từ Plây Cu tháo chạy theo đường số 7 xuống Phú Yên; chúng tôi lại đi cùng Trung đoàn ô tô 32 và Trung đoàn ô tô 536 cơ động Sư đoàn 320 truy kích địch, phía nam tiểu khu Buôn Hồ đến Đạt Lý.


Sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm và tham gia chiến dịch Tây Nguyên, Sư đoàn 470 khẩn trương sửa chữa gấp trục đường 19 nối dài từ Đức Cơ xuống đường 14 ở khu vực Núi Hòn Rồng và trục đường từ Công Tum vào Buôn Ma Thuột...


Khói súng chưa tan, Tiền phương Bộ Tư lệnh Trường Sơn được lệnh khẩn trương tiếp quản và chuyển vào thị xã Buôn Ma Thuột, đóng tại khu vực kho Mai Hắc Đế và bộ tư lệnh sư đoàn 23 quân ngụy. Sư đoàn 470 cơ động toàn bộ lực lượng vào Đắc Lắc, Bộ Tư lệnh Sư đoàn đóng tại ngã ba đường 14 và đường 21 đi Ninh Hòa. Sư đoàn 471 khẩn cấp chuyển một khối lượng lương thực, thực phẩm cứu đói cho nhân dân thị xã Buôn Ma Thuột và vùng phụ cận, kịp thời ổn định tình hình vùng mới giải phóng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #48 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2022, 07:26:12 am »

Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên đã làm đảo lộn hoàn toàn thế phòng thủ chiến lược của quân đội Sài Gòn, là cơ sở để Bộ Chính trị họp ngày 25 tháng 3, hạ quyết tâm "Tập trung lớn nhất và nhanh nhất lực lượng, binh khí kỹ thuật, vật chất đảm bảo giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa. Nắm thời cơ chiến lược, tiêu diệt, làm tan rã quân đoàn 1 ngụy và đại bộ phận quân đoàn 2, không cho chúng co cụm quanh Sài Gòn".


Thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị, Bộ Tư lệnh Trường Sơn dốc toàn lực phục vụ cho Tổng tiến công. Sư đoàn ô tô 571 và một số trung đoàn công binh, cao xạ phục vụ Quân đoàn 2, Quân khu Trị - Thiên giải phóng Huế - Đà Nẵng. Sư đoàn 472 tiếp tục bảo đảm cầu đường tuyến tây Trường Sơn. Sư đoàn 470 sửa chữa, bảo đảm cầu đường trục đông Trường Sơn từ Buôn Ma Thuột vào Bù Gia Mập, Tây Ninh, sửa chữa đường 21 Buôn Ma Thuột - Ninh Hòa, do khi rút chạy, địch đã kịp phá hỏng một số cầu trọng yếu. Lúc này, tôi tiếp tục bám đốc chiến Sư đoàn 471 chuyển nhanh hơn 6.000 tấn đạn pháo lớn và một khối lượng lớn khí tài, vật tư kỹ thuật bảo đảm cho bộ đội tăng thiết giáp, pháo binh; đặc biệt là cơ động toàn bộ đội hình Quân đoàn 3 và tiếp đó là một số sư đoàn của Quân đoàn 1 vào Nam Bộ.


Nhận nhiệm vụ cơ động đội hình cấp quân đoàn binh chủng hợp thành và một khối lượng lớn binh khí kỹ thuật trong điều kiện lực lượng xe phân tán vừa chuyển hàng, vừa cơ động bộ đội truy kích địch; rồi người và xe cũng đã gần trọn 6 tháng mùa khô bám đường, bám hàng... là một thử thách vô cùng gay cấn đối với cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 471.


Nhưng chủ động dự kiến sớm tình hình, tôi cùng các anh trong Bộ Tư lệnh Sư đoàn thống nhất rằng: chần chừ, chậm trễ lúc này là có tội lớn với cách mạng, với nhân dân. Liền đó, chúng tôi phát lệnh thu quân, dồn dịch đội hình, quyết tâm từ 5 đến 7 ngày có đủ 1.620 xe. Các trạm xưởng làm việc liên tục suốt ngày đêm. Nhiều tốp thợ được tung đi các trục đường tháo gỡ phụ tùng xe cháy, khắc phục tối đa số xe hỏng. Đầu tháng 4, đủ xe. Các anh trong Bộ Tư lệnh Sư đoàn lại chia nhau bám theo đội hình xe, trực tiếp chỉ huy các trung đoàn cơ động quân theo đường 14 tiến vào Lộc Ninh, Đồng Xoài.


Mọi hoạt động của các sư đoàn 470 và 471 tiến triển đồng bộ, khẩn trương, với nhịp độ "một ngày bằng hai mươi năm"; sau khi được anh Nguyễn Lang cho phép, tôi tranh thủ về Ninh Hòa thăm Mẹ, thăm quê.


Dọc đường quê, cảnh chiến tranh vào hồi kết hiển hiện. Cờ Giải phóng ngạo nghễ, thấp thoáng bay ở công sở, giữa thôn, ngoài làng, tươi rói trong nắng tháng 3. Xác xe, pháo của địch ngổn ngang; thậm chí còn một số xác lính ngụy nằm rải rác còng queo. Đồng bọn còn sống của những kẻ xấu số ấy thì hồn xiêu phách lạc tìm kế dung thân; bộ đội ta đang truy đuổi địch, chưa kịp chôn cất...


Trưa 15 tháng 4, tôi về tới thôn Lạc Ninh, thuộc huyện Ninh Hòa - nơi mà mẹ và chị tôi từng nương náu. Nhưng niềm vui chưa trọn, bởi chỉ gặp được mợ tôi, còn mẹ và chị tôi đã về Quảng Ngãi từ hơn một năm trước, nay không biết còn hay mất. Mợ cháu gặp nhau, mừng mừng tủi tủi. Biết tôi còn sống trở về, bà con thân thích kéo đến chật nhà, đầy sân. Gắng mãi tôi mới thoát được sự vây bủa của mọi người, để về Quảng Ngãi tìm mẹ.


Rời Lạc Ninh, tối đó tôi và chiến sĩ lái xe nghỉ nhờ cơ quan Huyện ủy Tuy An - Phú Yên; được các anh ở Huyện ủy tiếp đón thân tình, chu đáo. Sáng hôm sau, chưa tỏ mặt người, hai "thầy trò" đã lên xe, ngược ra Quảng Ngãi. Đã bao năm sống và chiến đấu trên đường Trường Sơn, dưới mưa bom bão đạn, địa hình núi rừng chia cắt mạnh, đường xấu, xe của chúng tôi chạy nhanh cũng chỉ chừng hai chục cây số một giờ. Nay về đồng bằng, đường tốt, lại sốt ruột muốn chóng được gặp mẹ, tôi giục lái xe tăng tốc. Hiểu lòng tôi, nhưng vốn cẩn thận, chiến sĩ lái xe động viên: Thủ trưởng yên tâm, trưa nay chắc chắn là chúng ta gặp được cụ! Chạy nhanh khi chưa quen đường, nguy hiểm lắm. Vậy là dẫu có sốt ruột, tôi cũng thuận theo quyết định rất thấu tình, đạt lý của ngươi lái xe.


Cuối cùng, điều mong mỏi đến cháy lòng của tôi cũng đã thỏa nguyện. Trưa đó tôi gặp lại mẹ già và người chị thân thương sau 20 năm trời xa cách, tại chính nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Mảnh vườn xưa còn đó, nhưng nếp nhà của bố mẹ tôi đánh đổi cả cuộc đòi làm lụng, xây cất đã bị đạn bom thù thiêu hủy, thay vào đó là một túp lều tranh, chỉ kê được vẻn vẹn chiếc giường tre.


Xuống xe, lao vội vào nhà, tôi kêu như lạc giọng: Mẹ ơi! Con đã về đây với mẹ!

Sau giây lát bàng hoàng như mơ, mẹ và chị ôm riết lấy tôi với vòng tay run lẩy bẩy, rồi mẹ nói: Thế là mẹ còn sống đến ngày đất nước thống nhất để được gặp con! Tưởng là 2 năm mà đã 20 năm...! Lời mẹ hòa trong nước mắt. Đúng như một nhà thơ từng nói: Đất nước ta - đất nước của những người xa nhau không hề rơi nước mắt. Nước mắt chỉ để dành cho ngày gặp mặt.


Tình cảm dồn nén sau bao tháng năm xa cách khó có thể giãi bày khỏa lấp trong chốc lát, nhưng tôi xin phép mẹ cùng bà con được sang thăm mẹ vợ ở làng bên. Nhà của bố mẹ vợ tôi xưa cũng chẳng còn, thay vào đó là túp lều đơn bạc như lều mẹ đẻ tôi. Rồi cũng như bao bà mẹ có con từ nơi bom đạn trở về, bà ôm chặt lấy tôi như một đứa trẻ thơ dại, dẫu lúc đó tôi đã xấp xỉ tuổi "tri thiên mệnh". Có tôi trong vòng tay mẹ khi quê nhà hoàn toàn giải phóng, rồi biết được vợ con tôi ở ngoài Bắc khỏe mạnh, trưởng thành..., mẹ mừng khôn xiết.


Vậy là sau 20 năm xa cách, vượt qua bao gian khổ hy sinh, cùng đồng chí, đồng đội "lo việc nước, trả thù nhà", tôi đã được trở về quê hương nội - ngoại trong niềm vui chiến thắng của dân tộc, trong tình cảm nhớ mong của người thân. So với sự mất mát, hy sinh của bao người, tôi thấy niềm may mắn, hạnh phúc của mình lớn lao không tả nổi. Cố lách khỏi cái ồn ào, níu kéo của ngày vui đoàn tụ, chiều xuống, tôi lần theo những nẻo đường thôn, gặp lại những khóm tre đầu làng, những nhịp cầu tre, lối nhỏ từng in dấu chân tôi tới trường; những mảnh vườn, bãi cỏ, bò dứa dại..., như chính một mảng đời thơ ấu, lam lũ của đời tôi. Nơi nào cũng gợi lại trong tôi những kỷ niệm đau đáu về một miền quê nghèo khó. Biết bao nếp nhà thân thương không còn bởi đạn bom thù tàn phá, biết bao người thân đã ngã xuống để hôm nay tôi có được ngày về... Trong tôi trào lên niềm thương cảm vô bờ.


Ngày mai, tôi sẽ trở về đơn vị. Đau thương sẽ biến thành căm thù dồn lên đầu súng, lên vành tay lái, quyết giành toàn thắng trong cuộc đọ sức cuối cùng với kẻ thù. Cùng lúc đó, tôi nghe vọng về từ phía đường số 1 tiếng động cơ rầm trời của các loại xe pháo. Đại quân ta đang ào ạt tiến về Nam, tiến về Sài Gòn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #49 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2022, 07:27:27 am »

Sau khi đưa mẹ và chị tôi vào Khánh Hòa, tôi gửi mẹ và chị ở nhà một người thân, rồi trở về ngay đơn vị. Anh Lang tiếp tục cử tôi xuống đôn đốc Sư đoàn 470 và Sư đoàn 471. Hôm xuống Sư đoàn 471, anh Nguyễn Văn Lạn và các anh trong Bộ Tư lệnh Sư đoàn quây lại chúc mừng tôi; ai cũng muôn sẻ chia cùng tôi niềm vui đoàn tụ gia đình - mẹ con sau hai chục năm ròng cách xa, vượt lên bao đạn bom, mưu ma chước quỷ của kẻ thù. Nhưng rồi, công việc như lốc, như bão, không cho phép chúng tôi say sưa với niềm vui đó. Nhiệm vụ lúc này của Sư đoàn 471 là tiếp tục vận chuyển gấp 6.100 tấn đạn pháo từ các cụm kho KG4 (Nam Lào), Xê Sụ, Buôn Ma Thuột (kể cả đạn hỏa lực lấy được của địch) vào miền Đông Nam Bộ.


Trong khi tôi cùng các anh trong Bộ Tư lệnh Sư đoàn bàn bạc triển khai nhanh lực lượng vận chuyển thì nhận được lệnh của anh Nguyên, điều động Trung đoàn 33 ô tô vận tải của Sư đoàn 471 đi phối thuộc cho Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh. Trung đoàn 33 có nhiệm vụ cơ động các đơn vị chủ lực theo trục đường Đồng Xoài - Dầu Tiếng - Bến Cát - Lò Gò - Chơn Thành vào tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh. Mặc dù hầu như toàn bộ xe máy đã tung hết lên tuyến, nhưng Sư đoàn 471 đã thực hiện nghiêm lệnh "hỏa tốc". Chỉ sau hơn một ngày, Trung đoàn 33 với đội hình 320 xe đã triển khai thực hiện nhiệm vụ đột xuất của Bộ. Trung tướng - Phó tổng tham mưu trưởng Phùng Thế Tài và Thiếu tướng Phan Hàm - Cục phó Cục Tác chiến, phái viên đốc chiến của Bộ Tổng Tư lệnh, vô cùng cảm kích và đánh giá cao nỗ lực phi thường của Bộ đội Trường Sơn.


Sau đợt tập trung vận chuyển đạn hỏa pháo, lực lượng chủ yếu của Sư đoàn 471 khẩn trương cơ động Quân đoàn 1 theo hướng Đồng Xoài - Chơn Thành - đường 13, đánh vào Sài Gòn.

Ở trục thứ nhất, hai Tiểu đoàn xe 51 và 235 tham gia cơ động Sư đoàn 320 tiến qua Tân Uyên, phát triển vào Sài Gòn. Vào 9 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4, đội hình tiến công của ta trên trục này đã tập kết tại Tân Uyên. Trong cơn giãy chết, địch phản kích điên cuồng. Tiểu đoàn 51 có 3 xe bị cháy, 8 xe hỏng nặng, 1 lái xe hy sinh và một số khác bị thương. Gương hy sinh dũng cảm của đồng chí, đồng đội trước cửa ngõ Sài Gòn, trước giây phút toàn thắng đã gây xúc động mạnh, khích lệ những người còn sống vững tay lái, chắc tay súng. Khi chủ lực của ta vượt cầu Bình Triệu, địch tập trung máy bay và lực lượng dưới mặt đất chống trả quyết liệt. Nhưng thế giặc đã tàn. Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 51 và Tiểu đoàn 253 đã hợp sức cùng bộ binh trên xe dũng mãnh tiến công, đánh địch trong hành tiến, phát triển nhanh vào đánh chiếm bộ tổng tham mưu ngụy.


Trên trục thứ hai, Tiểu đoàn 53, Tiểu đoàn 734 tham gia cơ động lực lượng còn lại của Quân đoàn 1, đánh chiếm Bến Cát vượt sông Bé vào nội đô Sài Gòn.

Ở hướng tây bắc, Trung đoàn 17, Trung đoàn 536, sau khi dồn hàng - chủ yếu là đạn pháo phục vụ chiến dịch, đã cơ động Quân đoàn 3 đánh chiếm Đồng Dù - củ Chi, Hóc Môn, nhanh chóng phát triển vào đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất.


Trên hướng đông nam Sài Gòn, Trung đoàn 512 ô tô vận tải Sư đoàn 571 đã tham gia cơ động Quân đoàn 2 vượt hàng nghìn cây số, tiến công địch trong hành tiến, đập nát các tuyến phòng thủ từ xa của địch, và sáng ngày 30 tháng 4, cũng cơ động bộ binh đồng loạt tiến vào nội đô.


11 giờ 30 phút, cò Giải phóng tung bay trên tầng cao dinh Độc lập - Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Miền Nam hoàn toàn giải phóng. Trong giây phút vô cùng thiêng liêng, đợi chờ từ ba mươi năm, giữa Sài Gòn đã hiển hiện những đoàn "chiến mã Trường Sơn", những người lính Trường Sơn quân phục đỏ quạch bụi đường, làn da sạm màu sốt rét rừng, cơ động những binh đoàn đột kích thọc sâu, có mặt đầu tiên tiến vào làm chủ sào huyệt - dinh lũy cuối cùng của kẻ thù. Trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh, các lực lượng Bộ đội Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh tham gia chiến dịch đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ vô cùng quan trọng là tham gia bảo đảm cầu đường, đảm bảo hậu cần - kỹ thuật, đặc biệt là đã cơ động các binh đoàn chủ lực đánh địch trong hành tiến, thần tốc vượt hàng nghìn cây số kịp vào miền Đông Nam Bộ, thực hành chiến dịch hiệp đồng binh chủng quy mô lớn nhất trong lịch sử chiến tranh giải phóng của dân tộc ta.


Một trong những sáng tạo về nghệ thuật quân sự mà Bộ đội Trường Sơn thực hiện được trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân này, chiến dịch này Là đã "cơ giới hóa bộ binh, tạo nên khả năng cơ giới cao, sức đột kích mạnh của các binh đoàn chủ lực, nhanh chóng đè bẹp mọi sự phản kháng của kẻ thù, giành toàn thắng trong trận quyết chiến chiến lược cuối cùng"1 (Đường xuyên Trường Sơn - Sđd, tr.370).


Là một người lính Trường Sơn, nuôi ước nguyện từ ngày ra Bắc tập kết được trở về góp sức giải phóng quê hương, giải phóng miền Nam, tôi không khỏi xúc động tự hào bởi ước nguyện đó đã trở thành hiện thực, và chính chúng tôi vừa là người trở về trong lòng đất Mẹ, vừa là những người đóng góp mồ hôi, máu xương mở những con đường về đất Mẹ.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM