Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:05:32 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 5  (Đọc 10954 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #30 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2022, 03:50:55 pm »

Mỗi thời, mỗi triều đại, thậm chí mỗi người đứng đầu đất nước, có cách giải quyết quan hệ chiến tranh và hòa bình khác nhau. Nhưng tất thảy đều muốn đẩy lùi hoặc thủ tiêu nguy cơ chiến tranh, sớm kết thúc chiến tranh cho đất nước yên bình, thiết lập nền hòa bình lâu dài, không còn mầm họa binh lửa, giữ hòa hiếu với các nước, nhất là nước đối phương sau chiến tranh.


Vào thời Lý, sau chiến thắng Như Nguyệt (1077), biết quân Tống cùng đường, Lý Thường Kiệt đã dùng biện sĩ bàn hòa, khiến quân giặc buông vũ khí, ta đỡ hy sinh xương máu và giữ yên xã tắc. Thời Lê, Bình Định Vương Lê Lợi tha cho tù binh và cấp cho chúng 500 chiếc thuyền cùng vài nghìn cỗ ngựa để về nước. Kế đó, nhà Lê có nhiều biện pháp bảo vệ biên cương, không nhân nhượng trước bất kỳ hoạt động lấn chiếm nào; đồng thời, thi hành chính sách ngoại giao mềm dẻo với nhà Minh để thủ tiêu nguy cơ chiến tranh, bảo toàn được độc lập, chủ quyền dân tộc. Quang Trung Nguyễn Huệ, đang trong quá trình chiến tranh, đã sớm suy tính đến việc "hàn gắn" quan hệ với các quốc gia láng giềng, trước hết với nhà Thanh, để sau chiến tranh có hòa bình, xây dựng đất nước.


Tư tưởng và hành xử của các triều đại trong việc giải quyết mối quan hệ giữa hòa bình với chiến tranh trong lịch sử Việt Nam đã chứng tỏ trên thực tế lòng yêu hòa bình, tính nhân đạo cao cả, tình nhân ái bao la của người Việt Nam; cách hành xử đó còn nhằm triệt tiêu sự thù oán, triệt mầm họa chiến tranh. Rõ ràng, tính từ khi lập quốc đến thời cận đại, trong điều kiện hòa bình hoặc lúc diễn ra chiến tranh, dân tộc Việt Nam luôn ý thức đầy đủ về tư thế và sức mạnh của mình, không hề tỏ ra khiếp sợ đối phương, dù chúng lớn đến mấy, kiên quyết cầm vũ khí bảo vệ non sông; nhưng cũng luôn tỏ rõ tâm nguyện hòa bình, thậm chí nhún nhường, sự nhún nhường cần thiết và đúng mức, tìm cách giữ thể diện cho đối phương ngay cả khi họ thua trận.


Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Chỉ 3 tuần lễ sau đó, nhân dân Việt Nam phải đứng lên chống cuộc xâm lược trở lại của thực dân Pháp. Pháp bại trận, đế quốc Mỹ thế chân Pháp tiếp tục chiến tranh xâm lược; nhân dân Việt Nam tiếp tục kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng hoàn toàn đất nước vào mùa Xuân năm 1975. Cuộc chiến tranh kéo dài suốt 30 năm (1945-1975), trên thực tế và về thực chất là cuộc chiến tranh cách mạng, bởi đây là sự tiếp tục của cách mạng bằng chiến tranh, mục đích chính trị của chiến tranh là mục tiêu cách mạng. Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định, trong điều kiện Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến, trước hết phải tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, xóa bỏ ách thống trị của đế quốc và phong kiến, giành độc lập dân tộc, thực hiện dân chủ; kế đó tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nêu lên quan hệ hữu cơ giữa cách mạng ở thuộc địa và chính quốc, sự giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau để giải phóng đất nước, giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột.


Với tầm nhìn xa rộng và lòng yêu chuộng hòa bình, trước khi lãnh đạo toàn dân đứng dậy tổng khởi nghĩa, Hồ Chí Minh đã đưa ra đề nghị 5 điểm qua J.Xanhtơni gửi Chính phủ Pháp (tháng 7 và tháng 8-1945), mà nếu Pháp chấp thuận, sẽ tránh được chiến tranh và được hưởng những ưu tiên về kinh tế. Đề nghị mà sau này, chính J.Xanhtơni cho là "khá khiêm tốn và có thể chấp nhận được". Nhưng thính phủ Pháp im lặng.


Khi đám mây đen chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp đã giăng kín bầu trời, một mặt Đảng chỉ đạo toàn dân Việt Nam đề cao cảnh giác, khẩn trương chuẩn bị chiến tranh theo chỉ thị Toàn dân kháng chiến (ngày 12-12-1946); mặt khác, nhằm cứu vãn hòa bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh, qua phóng viên báo Pari - Sài Gòn, gửi thông điệp đến Chính phủ Pháp: "Đồng bào tôi và tôi thành thực muốn hòa bình. Chúng tôi không muốn chiến tranh... Cuộc chiến tranh này chúng tôi muốn tránh bằng mọi cách... Nhưng cuộc chiến tranh ấy, nếu người ta buộc chúng tôi phải làm thì chúng tôi sẽ làm. Chúng tôi không lạ gì những điều đang đợi chúng tôi... Dù sao tôi mong rằng chúng ta sẽ không đi tới cách giải quyết ấy"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.473).


Không phải đến lúc đế quốc Mỹ thay chân Pháp tiếp tục chiến tranh xâm lược Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh mới tỏ thiện chí hòa bình, hữu nghị, hợp tác với Chính phủ và nhân dân Mỹ. Trước và ngay sau ngày tuyên bố độc lập, tinh thần trên đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ với phía Mỹ trong nhiều bức thư gửi Tổng thống Mỹ Tơruman, hoặc Quốc vụ khanh Mỹ Bớcnơ vào cuối năm 1945 đầu năm 1946. Trong bức thư gửi Tơruman ngày 6-2-1945, Người viết: "Mục tiêu của chúng tôi là độc lập hoàn toàn và hợp tác hoàn toàn với Hoa Kỳ. Chúng tôi sẽ làm hết sức mình để cho nền độc lập và sự hợp tác này trở nên có lợi cho toàn thế giới".


Với tâm nguyện và mục tiêu hòa bình, trọng khi lãnh đạo toàn dân Việt Nam kiên cường kháng chiến chống Mỹ xâm lược, Hồ Chí Minh vẫn không ngừng cố gắng nhằm đạt tới một giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam, ngăn chặn chiến tranh lan rộng và kéo dài, đi tới chấm dứt chiến tranh. Theo tài liệu của Liên hợp quốc do tuần báo Người bảo vệ Manchextơ đăng lại ngày 12-8-1965 thì, sau khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị Mỹ tiến hành đàm phán để tìm giải pháp cho vấn đề miền Nam Việt Nam. Thế nhưng phía Mỹ không trả lời đề nghị trên đây của Hồ Chí Minh.


Sau hơn hai thập kỷ thảm bại trong chiến tranh xâm lược Vịệt Nam, vào tháng 6-1997 và tháng 2-1998, nhiều nhân vật cỡ lớn của Mỹ, gồm quan chức, chính khách và các nhà khoa học do nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ là R. Mắc Namara dẫn đầu đã sang Hà Nội tham dự hội thảo nhằm làm rõ vấn đề có hay không những cơ hội hòa bình bị bỏ lỡ trong cuộc chiến Việt Nam. R. Mắc Namara cho rằng, có đến 6 hoặc 71 (Xem M. Namara và nhiều tác giả: Cuộc tranh cãi không dứt, New York, 1999, bản dịch của Tổng cục II, tr.17) cơ hội đàm phán, để có thể tránh hoặc kết thúc chiến tranh Việt Nam đã bị bỏ lở. Các đại biểu Việt Nam dự hội thảo lập luận rằng, chiến tranh không tránh được và không kết thúc sớm được là do phía Chính phủ Hoa Kỳ vẫn theo đuổi mục tiêu xâm lược Việt Nam. Ngay khi cuộc chiến đang diễn ra ác liệt trên toàn đất nước Việt Nam, Hồ Chí Minh trong bài Mỹ hoạt động hòa bình giả để mở rộng chiến tranh thật, đăng trên báo Nhân dân ngày 8-1-1966 đã chỉ rõ: "Đế quốc Mỹ xâm lược Nam Việt Nam và "leo thang" miền Bắc. Chúng tự động cút khỏi Việt Nam một cách có thể diện, thì hòa bình trở lại ngay, cần gì phải đi tìm"2 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.12).


Rõ ràng là, ở Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như ở nhân dân Việt Nam, ý chí kiên quyết bảo vệ độc lập, tự do hoàn toàn thống nhất với bản chất yêu hòa bình và lòng mong muốn sống hòa hiếu, hữu nghị với nhân dân và các quốc gia trên thế giới. Đó là một trong những nhân tố thuộc về bản sắc của văn hóa Việt Nam; là sự kế thừa và phát triển truyền thống "đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo" mà các thế hệ người Việt Nam đã thực thi, đã thể hiện, đã đắp bồi trong lịch sử chống ngoại xâm, bảo vệ nền tự chủ của dân tộc.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #31 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2022, 03:52:35 pm »

2. Tư tưởng kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình

a) Kháng chiến toàn dân, toàn diện

Kháng chiến toàn dân được nói ở đây là về lực lượng kháng chiến. Muốn đưa kháng chiến đến thắng lợi, trước hết phải xác định đúng mục đích chính trị của nó. Các cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam, dù ở thời nào, với trình độ khác nhau như thế nào, cũng đều nhằm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, độc lập, tự do và hoà bình. Đó là mục đích cao cả chân chính, phản ánh tính chất chính nghĩa của chiến tranh vệ quốc. Trải từ đời này qua đời khác, việc cố kết dân tộc tạo thành sức mạnh cộng đồng chống chọi với thiên tai, địch hoạ, chống ngoại xâm đã hình thành và trỏ thành truyền thống tốt đẹp - vững chắc, tự nó thu hút, động viên nhân dân tham gia chống giặc. Nhân dân tự giác và tham gia đông đảo chừng nào tuỳ thuộc vào lực lượng lãnh đạo đương thời nhận thức đúng - rõ yếu tố "dân", biết lấy dân để tạo lập nền tảng vững chắc, là nhân tố cơ bản tạo thành sức mạnh tiến hành kháng chiến. Như thế, giai cấp cầm quyền nào, nhà nước nào xác định đúng, nêu lên và bảo đảm được lợi ích của dân trong cả quá trình chuẩn bị chiến tranh, tiến hành chiến tranh và đặc biệt sau khi giành thắng lợi, thì giai cấp đó, nhà cầm quyển đó sẽ huy động được đông đảo người dân vào cuộc chiến và giành thắng lợi.


Do điều kiện luôn phải đương đầu với những thế lực ngoại xâm lớn mạnh gấp nhiều lần nên tư tưởng "vị dân", "thân dân" là một mạch ngầm xuyên thấm qua bao biến thiên của lịch sử Việt Nam, nó là nhân tố căn bản tạo ra và nhân lên sức mạnh bảo đảm cho dân tộc Việt Nam đương đầu và đánh bại nhiều cuộc chiến và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyển, toàn vẹn lãnh thổ. Cùng với thời gian, quan điểm về "nhân dân" có sự kế thừa và phát triển; nói cách khác, khái niệm "nhân dân" là một phạm trù có tính lịch sử, vận động và phát triển cùng với những chuyển động, biến đổi của lịch sử. Một cách tổng quát nhất, có thể thấy rằng, "dân" trong chiến tranh nhân dân ở những thời đại hoặc triều đại khác nhau, có địa vị xã hội và thân phận khác nhau. Trong thời phong kiến, khái niệm "dân", về thực chất, là "thần dân phong kiến". Còn dân - nhân dân trong chiến tranh nhân dân thời đại Hồ Chí Minh, mang ý nghĩa chính trị - cách mạng sâu sắc. Ở đây, người dân đã thoát khỏi thân phận "thần dân" để trở thành công dân một nước độc lập. Vì thế, nếu dưới chế độ phong kiến, ở những thời kỳ "vua sáng, tôi hiền", khi chủ trương "dĩ dân" - tức dựa vào dân đi nữa thì trong quan niệm của giai cấp thống trị, "khoan thư sức dân", "vị dân" vẫn chỉ giới hạn theo quan điểm giai cấp và điều kiện lịch sử - "vị dân" trước quan niệm như ban phát ân huệ của bề trên cho kẻ dưới, trước hết và chủ yếu vì lợi ích của giai cấp cầm quyền. Trong thời đại Hồ Chí Minh, mục đích chiến tranh nhân dân xuất phát từ chính nhu cầu, nguyện vọng và ý chí của nhân dân về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người, bảo vệ độc lập, tự do. Nói cách khác, chiến tranh nhân dân thời đại Hồ Chí Minh do nhân dân tiến hành và vì lợi ích của nhân dân.


Như lịch sử đã chứng tỏ, ngay từ buổi đầu giữ nước, khi phải lui quân trước thế mạnh của quân Tần, người Âu Lạc cùng nhân dân các tộc người khác, đã kháng chiến theo cách của mình, tạm rút vào rừng núi1 (Xem Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam: Lịch sử Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971, t.I, tr.73), ở với cầm thú, không ai chịu cho quân Tần bắt. Nước Âu Lạc còn hình thành lực lượng dân binh của các làng, chạ, ở cả đồng bằng và miền núi, cả vùng ven sông, ven biển.


Thời Lý - Trần, chiến tranh nhân dân diễn ra trong điều kiện quốc gia độc lập, có chủ quyền, dân vừa là chỗ dựa của triều đình và quân đội, vừa trực tiếp tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu chống quân xâm lược. Vương triều Lý và tiếp đó, vương triều Trần, đều đã thực hiện chế độ binh dịch "Ngụ binh ư nông". Đây là chính sách có ý nghĩa cả về kinh tế, quân sự - quốc phòng, cả trong thời chiến và thời bình, căn cơ và khoa học. Thời bình, quân lính chia phiên về sản xuất; khi có biến, đinh tráng đều được chiếu sổ gọi ra phục vụ quân đội. Trừ bộ phận túc trực tại lỵ sở, lực lượng còn lại được tổ chức tham gia chiến đấu. Quan điểm và chính sách này đã tạo nên trong dân chúng tư tưởng sẵn sàng tham gia bảo vệ Tổ quốc, ở một quốc gia nông nghiệp như Việt Nam (và dân số lại ít), lực lượng tham gia sản xuất cũng chính là lực lượng làm nhiệm vụ phòng giữ địa phương, chiến đấu bảo vệ độc lập dân tộc khi giặc ngoại xâm tới. Nhờ đó, chiến tranh nhân dân có được lực lượng đông đảo tham gia, không chỉ người trong quân ngũ mà cả người ở lại hậu phương cũng góp phần làm nên chiến thắng. Thực tế, vào thời Trần, quốc sách "tận dân vi binh", "cử quốc nghênh địch", thể hiện rõ trong thực tế chiến tranh.


Ví như vào thời Lý, Lý Thường Kiệt đã cho xây dựng phòng tuyến Như Nguyệt từ cửa sông Cà Lồ đến Vạn Xuân (Phả Lại), chiến lũy bằng đất dài 30 km với hàng rào tre dày đặc, hố chông ngầm. Công trình có quy mô đồ sộ như thế, cùng với công sức của quân lính là sự đóng góp to lớn về sức ngươi và sức của của nhân dân các hương, giáp, xã tại địa bàn. Cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên thời Trần thu hút sự tham gia rộng rãi, từ quý tộc tôn thất đến gia nô - nô tì. Dân chúng kinh thành tự giác thực hiện kế thanh dã, hậu thuẫn cho triều đình và trực tiếp đánh địch tại chỗ.


Quang Trung - Nguyễn Huệ cất quân phá quân Thanh xâm lược, xuất phát từ Phú Xuân, Hoàng đế mới có khoảng 2 - 3 vạn binh sĩ, dọc đường tuyển thêm binh sĩ, đến Tam Điệp, đội quân đó đã lên đến hơn 10 vạn người. Trong trận đánh vào Thăng Long Tết Kỷ Dậu (30-1-1789), được quân Tây Sơn bí mật vận động phối hợp từ trước, nhân dân 6 làng Mọc và 3 làng Gừng đã lấy rơm bện thành những "con rồng lớn", tẩm chất cháy, phối hợp với nghĩa quân đốt thành lưới lửa vây đồn địch, góp phần làm nên chiến thắng Đống Đa lịch sử.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #32 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2022, 03:53:28 pm »

Ở thời hiện đại, với mục tiêu cao cả và phương thức chiến tranh thích hợp, trong 30 năm chiến tranh cách mạng (1945 - 1975), Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã động viên, huy động được lực lượng quần chúng đông đảo nhất tham gia kháng chiến. Trong cả hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, quân và dân Việt Nam dồn toàn lực vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, song song với xây dựng chế độ mới tốt đẹp. Về phương thức, Việt Nam không chỉ dựa vào lực lượng vũ trang mà dựa vào sức mạnh của toàn dân, tiến hành chiến tranh toàn dân. Nói chiến tranh toàn dân nghĩa là Việt Nam không tiến hành những cuộc "chiến tranh thông thường của các quân đội"1 (Ph. Ăngghen: "Thất bại của Quân đội Piêmông" - Tuyển tập luận văn quân sự, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, tr.111), mà tiến hành khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng, trong đó toàn dân đứng lên, sát cánh cùng các lực lượng vũ trang nhân dân, trực tiếp chiến đấu chống lại sự thống trị và xâm lược của chủ nghĩa đế quốc và bè lũ tay sai để giành và giữ chính quyền cách mạng1 (Xem Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng tập luận văn, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr.1052-1053). Chiến tranh nhân dân Việt Nam là sự "hoà quyện với nhau làm một" giữa cách mạng và chiến tranh cách mạng2 (Xem Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975 - Thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.106), ở đây, chiến tranh cách mạng là sự tiếp tục của cách mạng bằng chiến tranh và trong chiến tranh; mục tiêu của cách mạng là mục đích chính trị của chiến tranh3 (Xem Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975 - Thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.181). Do mục tiêu của cách mạng và chiến tranh cách mạng cao cả, triệt để, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã động viên và huy động được toàn thể nhân dân cả nước, cả kiều bào ở nước ngoài, không phân biệt nam, phụ, lão, ấu, giai cấp, dân tộc, tôn giáo, vùng miền... tham gia kháng chiến, sở dĩ có được như vậy là nhờ Đảng đã kế thừa và phát huy được truyền thống "Cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc" được hình thành từ ngàn đời; vận dụng sáng tạo và làm phong phú tư tưởng Hồ Chí Minh "cách mệnh là việc chung của cả dân chúng chứ không phải việc của một, hai người"4 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.14); nhờ thấu triệt những nguyên lý của học thuyết Mác - Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử. Trên cả bình diện lý luận, hiệu quả và sức sống trong thực tiễn kháng chiến, toàn dân kháng chiến là tư tường cơ bản nhất chỉ đạo mọi lĩnh vực của toàn bộ quá trình chiến tranh nhân dân Việt Nam thời hiện đại.


Trên thực tế, tư tưởng kháng chiến toàn dân đã bao hàm và quy định kháng chiến toàn diện. Kháng chiến toàn diện nghĩa là kháng chiến trên mọi lĩnh vực, mọi mặt trận: quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá - tư tưởng, ngoại giao. Tuy nhiên, tính toàn dân sâu sắc và rộng lớn bao nhiêu, thu hút được đông đảo các tầng lớp, thành phần xã hội bao nhiêu, là do mục tiêu kháng chiến đem lại quyền lợi về cho nhân dân, đất nước như thế nào và do bộ phận lãnh đạo với phương thức chỉ đạo kháng chiến quyết định. Tính toàn diện phụ thuộc vào tính toàn dân, phụ thuộc trình độ phát triển của đất nước, cả về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội. Kháng chiến toàn diện, do đó, ngày càng đa dạng, phong phú và hiệu quả.


Ở nghĩa hẹp hơn, tư tưởng kháng chiến toàn diện là sử dụng các biện pháp phi vũ trang như ngoại giao, tâm lý chiến... đế giải quyết các vấn đề quân sự - vì, đến lượt mình, các vấn đề quân sự lại là bộ phận của những vấn đề chính trị. Thực vậy, xét từ bản thân các vấn đề quân sự, có thể thấy rằng, chiến tranh là một cuộc thử thách toàn diện đối với toàn bộ sức mạnh vật chất và tinh thần của một đất nước. Trước quân thù, không còn con đường nào khác, nhân dân Việt Nam, ở mọi thời đại đã dùng toàn lực, vật chất và tinh thần, con người và vũ khí đứng lên cứu nước và giữ nước, ở đây, quy luật "chiến tranh là chính trị được tiếp tục bằng những thủ đoạn khác", tức là đấu tranh quân sự, lại thể hiện. Trong chiến tranh, quân sự nổi lên với vai trò đặc biệt quan trọng. Rõ ràng, phải thắng kẻ xâm lược về quân sự mới có thể hoàn thành mục tiêu kháng chiến, mới giữ được độc lập dân tộc. Tùy hoàn cảnh và điều kiện, các hoạt động quân sự đa dạng và phong phú luôn tùy thuộc vào tiềm lực và trình độ kinh tế, khoa học - kỹ thuật, vào kinh nghiệm và văn hoá giữ nước.


Ngay từ thời Hùng Vương - An Dương Vương, trong cuộc kháng chiến chống Tần (thế kỷ III Tr.CN), người Việt, khi chưa đủ điều kiện cản phá quân xâm lược, đã bỏ vào rừng, không hợp tác, không cam phận tôi đòi dưới ách thống trị của quân xâm lược. Hẳn rằng, đây là hình thức sơ khai của việc bất hợp tác với giặc sau này, thực hiện kế "thanh dã", vườn không nhà trống.


Cùng với sự phát triển của tinh thần tự tôn dân tộc, tự tin vào sức mạnh của sự nghiệp chính nghĩa, nhân dân Việt Nam đã sáng tạo phương thức đấu tranh mới - phương thức địch vận. Kết quả là, dưới thời thuộc Đường, nhất là từ đầu thế kỷ IX, nhiều cuộc binh biến của võ quan, tướng lĩnh và binh sĩ người Việt trong quân đội đô hộ nhà Đường đã diễn ra, tiêu biểu là cuộc nổi dậy của binh lính dưới sự lãnh đạo của Vương Quý Nguyên (năm 803); hoặc vào những năm 819 - 820 do Dương Thanh lãnh đạo.


Trong cuộc kháng chiến chống quân Nam Hán xâm lược, nhân dân đã theo sự huy động của Ngô Quyền, vào rừng đốn gỗ, vót nhọn, bịt sắt và đóng xuống lòng sông thành hàng dài, tạo nên bãi chướng ngại dày đặc ở hai bên cửa sông Bạch Đằng. Tương tự, nhân dân tại các hương, giáp, xã đã tham gia xây dựng phòng tuyến sông Như Nguyệt. Nhân dân còn tham gia công việc hậu cần, uý lạo binh sĩ trong quá trình kháng chiến.


Song song với đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị giữ vị trí hết sức quan trọng, nổi bật. Các cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam nhằm bảo vệ Tổ quốc, giải phóng dân tộc, luôn sáng ngời tính chất chính nghĩa, vì thế ta có ưu thế tuyệt đối về chính trị so với quân xâm lược. Giặc ngoại xâm với động cơ chiếm đóng, bóc lột, nô dịch đất nước Việt Nam là hoàn toàn phi nghĩa. Tuy vậy, trước và trong chiến tranh, chúng luôn sử dụng thủ đoạn chính trị lừa bịp nhân dân Việt Nam, nhân dân nước chúng và nhân dân thế giới, giành lẽ phải về phía chúng, lấy đó làm vỏ bọc và kiếm cớ cho việc xâm lược, thống trị. Trước công nguyên, nhà Hán đã dùng thủ đoạn kích động, gây bất hoà và xung đột giữa các triều đình và thủ lĩnh đất Việt, lấy danh nghĩa cứu người này, đánh lại kẻ kia, phát binh can thiệp, thực chất là, xâm lược, bành trướng xuống phương Nam. Tương tự như thế, tháng 4-937, lấy cớ có sự cầu cứu của Kiều Công Tiễn (kẻ phản chủ, phản quốc), nhà Nam Hán lại phát động cuộc chiến tranh xâm lược nước Việt Nam lần thứ hai.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #33 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2022, 03:54:20 pm »

Thời Tống vô cớ xâm lược nước Việt Nam, trước khi cất quân xâm lược, vua Tống đã tuyên bố: "Nay thánh triều ta lòng nhân trùm muôn nước, cơ nghiệp thái bình kể cũng đã thịnh, điển lễ phân phong đã sắp sửa làm, ngươi (chỉ vua nước Việt Nam) phải đến chầu cho mình ta được khoẻ... chớ để ta phải dùng đến kế chặt xác băm xương, làm cỏ nước ngươi, lúc ấy hối sao kịp nữa"1 (Dẫn theo Hồng Nam và Hồng Lĩnh (Chủ biên): Những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam chống phong kiến Trung Quốc xâm lược, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1984, tr.231).


Để phá giặc, Lý Thường Kiệt đã thực hiện kế sách "Tiên phát chế nhân", chủ động tiến công sang đất địch, phá các cơ sở xuất phát tiến công của nhà Tống. Trong cuộc chiến này, Lý Thường Kiệt đã cho phát ra bản Lộ bố, kể tội quân Tống và nêu rõ lý do xác đáng khiến ông đưa quân sang Ung, Khâm, Liêm. Lộ bố khẳng định: "Trung Quốc dùng các phép thanh miêu, trợ dịch, làm dân khốn khổ. Nay ta đây đem quân tới cứu"2 (Dẫn theo Hoàng Xuân Hãn: Lý Thường Kiệt - Lịch sử ngoại giao và tôn giáo triều Lý, Nxb. Hà Nội, Hà Nội, 2010, tr.131). Người đời sau kể lại rằng: "Dân Tống thấy lời tuyên cáo, đều vui mừng, đem trâu rượu khao quân ta. Từ đó, mỗi lúc dân Tống thấy hiệu cờ Thường Kiệt đằng xa, thì nơi đó là quân của Cha họ Lý nước Nam; rồi cùng nhau bày hương án bái phục bên đường. Nhờ đó mà uy danh quân ta lan khắp"3 (Dẫn theo Hoàng Xuân Hãn: Lý Thường Kiệt - Lịch sử ngoại giao và tôn giáo triều Lý, Nxb. Hà Nội, Hà Nội, 2010, tr.131). Đây thực chất là hình thức đấu tranh chính trị - tư tưởng độc đáo, đầy hiệu quả.


Cũng là hình thức đấu tranh chính trị - ngoại giao, Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã khoét sâu vào tính phi nghĩa của quân Minh xâm lược, nêu rõ khó khăn nội tại của quân Minh, đánh đòn hiểm vào tư tưởng - tâm lý đối phương, cách được gọi là "mưu phạt tâm công". Trong thư gửi tướng giặc Phương Chính, Nguyễn Trãi vạch rõ: "Bọn mày chỉ chuyên lừa dối, giết hại kẻ vô tội, hãm người vào chỗ chết mà không xót thương. Việc ấy trời đất không dung tha, thần người đều căm giận"1 (Nguyễn Trãi: Toàn tập, Quân trung từ mệnh tập, Sđd, tr.49-50). Trong thư gửi Vương Thông, Nguyễn Trãi phân tích: "Ở nước các ông, quân mạnh ngựa tốt đều đóng ở miền Bắc để đề phòng quân Nguyên, không rỗi nhìn đến miền Nam... Động dụng can qua, hằng năm đánh dẹp, dân sống không nổi, nhao nhao thất vọng... Gian thần chuyên chính, chúa yếu giữ ngôi, xương thịt hại nhau, gia đình sinh biến"2 (Nguyễn Trãi: Toàn tập, Quân trung từ mệnh tập, Sđd, tr.53).


Khôn khéo sử dụng vũ khí chính trị - ngoại giao, Mạc Đăng Dung đã "vận động" được quan lại cai trị vùng Lưỡng Quảng, và họ đã can ngăn triều Minh, không phát binh đánh Đại Việt. Nhà Mạc đã chủ động thủ tiêu nguy cơ chiến tranh.


Quang Trung - Nguyễn Huệ, ngay khi còn binh lửa với quân Thanh, đã luận bàn và giao cho Ngô Thì Nhậm chuẩn bị lý lẽ để giao hảo với nhà Thanh, nhằm chấm dứt nạn binh đao.

Ở thời hiện đại, quân và dân Việt Nam đã kế thừa và phát huy mạnh mẽ truyền thống quân sự của cha ông, đưa tư tưởng kháng chiến toàn dân, toàn diện lên một tầm cao mới, cả về nhận thức, hình thức và hiệu quả thực tiễn. Kẻ thù của dân tộc Việt Nam lần này là thực dân Pháp, sau đó là đế quốc Mỹ, những đế quốc có tiềm lực kinh tế, sức mạnh quân sự và trình độ khoa học - kỹ thuật hơn ta nhiều lần. Chúng cũng đưa ra các luận điệu lừa bịp nhân dân Pháp, Mỹ và thế giới, che giấu dã tâm xâm lược.


Trong suốt 16 tháng sau ngày giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam, bằng nhiều cách, bày tỏ thiện chí với đối phương để đất nước có hoà bình, nhân dân có điều kiện xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Nhưng thực dân Pháp, được các thế lực đế quốc hiếu chiến ủng hộ, giúp sức, quyết tâm cướp nước Việt Nam một lần nữa. Cũng như vậy, sau khi Hiệp định Giơnevơ về kết thúc chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương được ký kết, trong khi nhân dân Việt Nam nghiêm chỉnh thi hành hiệp định, thì đế quốc Mỹ và tay sai lại ra sức phá hoại, chúng quyết chia cắt đất nước Việt Nam. Tuy ở hai thời điểm và hoàn cảnh khác nhau, nhưng các sự kiện nêu trên mang cùng một bản chất là, chủ nghĩa đế quốc hiếu chiến đã cố tình xâm lược, nô dịch đất nước và nhân dân Việt Nam. Đạo lý, khát vọng hoà bình, thiện chí thương lượng của Chính phủ và nhân dân Việt Nam bị chúng chà đạp. Nhân dân Việt Nam không còn con đường nào khác là cầm vũ khí đứng lên chống quân xâm lược.


Cuộc kháng chiến vệ quốc thời hiện đại của dân tộc Việt Nam là chiến tranh cách mạng, chiến tranh nhân dân. Muốn phát huy đến mức cao nhất sức mạnh toàn dân, và chỉ có như thế Việt Nam mới đủ sức đương đầu và giành thắng lợi trong cuộc chiến đấu sinh tử chống quân xâm lược, ngoài việc đề ra và tổ chức thực hiện thành công đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn, sáng tạo, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chủ trương đẩy mạnh kháng chiến toàn diện trên tất cả các mặt trận: quân sự, chính trị, ngoại giao, kinh tế cũng như văn hóa và tư tưởng. Mỗi lĩnh vực đấu tranh đều có vị trí quan trọng nhất định trong việc tạo ra sức mạnh tổng lực to lớn. Cũng chính từ đặc tính chiến tranh cách mạng, chiến tranh nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, kháng chiến đã huy động được sức mạnh tiềm tàng của toàn dân tộc. Trong suốt 30 năm chiến tranh cách mạng (1945 - 1975), Đảng, Chính phủ luôn tuyên truyền, giáo dục, kêu gọi nhân dân Việt Nam: "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng", "các mặt công tác chính trị, kinh tế, văn hoá, đều nhằm mục đích làm cho quân sự thắng lợi"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.8, tr.437). Công tác chính trị - tư tưởng nhằm bồi dưỡng lòng yêu nước, chí căm thù giặc được đẩy mạnh; lực lượng vũ trang nhân dân rộng khắp, trong đó quân đội - con em nhân dân, chiến đấu, hy sinh vì Tố quốc, vì nhân dân được tập trung xây dựng. Vùng tự do, thậm chí ngay ở vùng địch tạm chiếm, được xây dựng thành hậu phương, căn cứ địa kháng chiến. Thế trận chiến tranh nhân dân được xây dựng rộng khắp. Trên cơ sở đó, Đảng chỉ đạo thực hiện kháng chiến lâu dài, nhưng luôn tìm cách tạo thời cơ giành thắng lợi kết thúc cuộc chiến.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #34 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2022, 03:55:21 pm »

b) Tư tưởng vận dụng chiến lược đánh lâu dài, tích cực tạo thời cơ giành thắng lợi trong thời gian ngắn - tương đối ngắn

Bất cứ bên xâm lược hoặc chống xâm lược nào cũng đều không muốn kéo dài chiến tranh, giải quyết được cuộc chiến trong thời gian tối thiểu. Bởi, chiến tranh luôn đi kèm với tổn thất về sinh mạng và của cải, đau khổ và bất hạnh, kéo lùi sự phát triển của quốc gia, xã hội.


Tuy nhiên, dài, ngắn của mọi cuộc chiến tranh không chỉ tuỳ thuộc ý chí con người, mà còn phụ thuộc tương quan lực lượng hai bên, phụ thuộc thế và lực trong chiến tranh cũng như nhiều yếu tố khác. Trong lịch sử tiến hành hàng chục cuộc kháng chiến và đấu tranh giải phóng dân tộc, dân tộc Việt Nam vừa có kinh nghiệm đánh thắng địch trong thời gian ngắn - tương đối ngắn; đồng thời, cũng có truyền thống kiên trì kháng chiến và nghệ thuật đánh thắng địch trong những cuộc chiến tranh lâu dài1 (Nhà Lý chống quân Tống xâm lược từ tháng 11-1076 đến tháng 3-1077 - khoảng 5 tháng. Nhà Trần chống quân Mông - Nguyên, lần thứ nhất từ tháng 1-1258 đến tháng 2-1258 - hơn 1 tháng; lần thứ hai từ tháng 1-1285 đến tháng 7-1285 - khoảng 7 tháng; lần thứ ba từ tháng 1-1288 đến tháng 4-1288 - khoảng 4 tháng. Nhà Tây Sơn - Quang Trung Nguyễn Huệ chống quân Thanh từ tháng 11-1788 đến 30-1-1789 - khoảng 2 tháng. Nhà Hồ chống quân Minh, vài tháng là thất bại, mất nước. Trong thời hiện đại, quân và dân Việt Nam chống thực dân Pháp từ năm 1945 đến năm 1954 - 9 năm; chống đế quốc Mỹ xâm lược từ năm 1954 đến năm 1975 - 21 năm mới giành thắng lợi trọn vẹn).


Trong thời kỳ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, dân tộc Việt Nam phải tiến hành một số cuộc khởi nghĩa và chiến tranh cứu nước trong thời gian ngắn. Hai Bà Trưng, Lý Bí, Phùng Hưng đã lãnh đạo nhân dân nổi dậy khắp nơi, lật đổ ách thống trị của ngoại bang trong thời gian ngắn. Tiếp đó, Ngô Quyền chỉ thực hành một trận quyết chiến ở sông Bạch Đằng đã đánh tan quân xâm lược Nam Hán. Lê Hoàn cũng giải quyết chiến tranh bằng mấy trận khiến quân Tống thảm bại, v.v..


Bên cạnh những cuộc khởi nghĩa và chiến tranh diễn ra trong một thời gian tương đối ngắn, dân tộc Việt Nam trong điều kiện phải đương đầu với đối phương có tiềm lực và sức mạnh kinh tế và quân sự mạnh hơn gấp nhiều lần (đến thời hiện đại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ còn có ưu thế vượt trội về vũ khí, trang bị, trình độ khoa học - kỹ thuật), đã phải tiến hành cuộc chiến kéo dài. Truyền thống quân sự Việt Nam, do vậy, thường là chiến lược đánh lâu dài nhằm có thời gian chuyển hóa tương quan so sánh lực lượng, tạo thế có lợi, buộc đối phương phải bộc lộ những mặt yếu, tạo điều kiện để đẩy mạnh tiến công, giành thắng lợi từng bước, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn. Rút lui chiến lược để bảo toàn và củng cố, tăng cường tạo thời cơ, thúc đẩy và chớp lấy thời cơ, thậm chí rút khỏi kinh thành Thăng Long - Hà Nội (thời Trần, thời Quang Trung, và ngay cả hồi đầu chống Pháp thời hiện đại)... là ví dụ tiêu biểu cho nghệ thuật "kháng chiến trường kỳ". Quân xâm lược càng vào sâu, càng phải đối mặt với sự chống trả của quân và dân Việt Nam với những phương thức và hình thức linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả. Ở những cuộc chiến đó, quân xâm lược vấp phải sự kháng cự không phải chỉ của lực lượng quân sự mà còn là của toàn dân Việt Nam.


Trong cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên xâm lược lần thứ nhất (1258), trước ý định của vua Trần muốn quyết chiến với địch trong điều kiện bất lợi, tướng Lê Tần (Lê Phụ Trần) đã thẳng thắn can ngăn nhà vua: "Làm như vậy thì chỉ như những người dốc hết túi tiền để đánh một ván bạc mà thôi" và khuyên vua "hãy nên lánh đi"1 (Việt sử thông giám cương mục, Nxb. Văn - Sử - Địa, Hà Nội, 1958, t.V, tr.34). Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên lần thứ hai (1285), vua Trần theo lời khuyên của Quốc công tiết chế Trần Quốc Tuấn, đã rút khỏi căn cứ Vạn Kiếp, tiếp đó rút khỏi Thăng Long; đồng thời, đẩy mạnh các hoạt động quân sự ở khắp nơi, nhất là vùng sau lưng địch. Khi quân địch rơi vào thế bất lợi, quân và dân nhà Trần lập tức chuyển sang phản công và tiến công, buộc quân xâm lược phải tháo chạy về nước. Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mãn Thanh, Nguyễn Huệ đánh giá rất cao kế sách rút quân khỏi Thăng Long về Biện Sơn - Tam Điệp của Ngô Thì Nhậm.


Vào cuối năm 1946, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân Việt Nam mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bằng chiến đấu vây hãm quân địch tại các đô thị bắc vĩ tuyến 16 trở ra suốt 3 tháng, tổ chức đưa cơ quan đầu não kháng chiến của cả nước lên Việt Bắc an toàn; các cơ quan lãnh đạo địa phương, vật tư, lương thực, muối, thuốc men cũng được chuyển về hậu phương; lực lượng vũ trang được bảo tồn. Từ đó, dân tộc Việt Nam có khoảng thời gian chiến lược để cả nước chuyển sang thời chiến. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cũng diễn ra lâu dài. Những năm đầu, quân và dân Việt Nam nghiêm chỉnh chấp hành Hiệp định Giơnevơ và đấu tranh buộc địch thi hành Hiệp định. Đồng thời, khẩn trương khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng lực lượng mọi mặt ở miền Bắc, chuẩn bị đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược mới. Khi Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm phá hoại Hiệp định Giơnevơ, âm mưu chia cắt đất nước, gây chiến tranh ở miền Nam, lực lượng cách mạng Việt Nam đã có cơ sở tại chỗ và trên cả nước, từng bước xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, thực hiện "liên tục tiến công địch, đánh lui chúng từng bước, đánh đổ chúng từng bộ phận, đánh bại từng âm mưu chiến lược của chúng, giành thắng lợi từng bước, tiến tới đánh bại hoàn toàn quân địch"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng tập luận văn, Sđd, tr.1076).


Các cuộc rút lui chiến lược trong lịch sử dân tộc Việt Nam không phải là những cuộc rút lui thụ động. Địa hình Việt Nam dài và hẹp. Chủ trương tạm thời rút lui để tránh thế bất lợi ban đầu của quân và dân Việt Nam luôn theo một tư tưởng chủ đạo, theo một chiến lược chủ động và linh hoạt. Ví như trong cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên lần thứ hai, Trần Quốc Tuấn đã cho đánh chặn cánh quân vu hồi do Toa Đô chỉ huy ở phía Nam đánh ra; trong khi đó ở phía Bắc, quân và dân Việt Nam vừa chặn đánh đại quân của Thoát Hoan, vừa rút lui từng bước, và khi nhận thấy thời cơ xuất hiện, đã kịp thời và táo bạo luồn về phía sau lưng địch đẩy mạnh hoạt động quấy rối, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch. Vừa chủ trương và tổ chức tài giỏi những cuộc rút lui chiến lược cần thiết, truyền thống quân sự Việt Nam còn nhấn mạnh vào phương diện tập trung xây dựng thế trận, tạo ra thời cơ để sẵn sàng chuyển sang phản công và tiến công, khéo vận dụng nghệ thuật quân sự cổ điển "dĩ dật đãi lao" (lấy nhàn chờ mệt, lấy sung sức chờ hao mòn). Trong quá trình chiến đấu ghìm chân địch, tạo thuận lợi cho đại quân rút lui, trong thế trận toàn dân đánh giặc, những người cầm quân vẫn bố trí quân địa phương ở lại phối hợp với thổ binh, hương binh, tráng đinh ở các làng xã (thời cổ trung đại), thời hiện đại là bộ phận lực lượng vũ trang cùng nhân dân tại chỗ đánh địch mọi lúc, mọi nơi. Qua đó, sinh lực địch bị tiêu hao, thuỷ thổ không hợp, tiếp tế không kịp, làm cho sức lực địch hao mòn, tinh thần bị căng thẳng, rệu rã; bị đánh khắp nơi khiến chúng phải rải quân chốt giữ ở nhiều nơi, càng tăng mâu thuẫn cố hữu của quân xâm lược giữa tập trung và phân tán lực lượng. Bị ghìm chặt trong thế trận chiến tranh nhân dân và buộc phải đánh kéo dài, quân xâm lược bộc lộ sơ hở, phạm sai lầm, phát sinh mâu thuẫn trong nội bộ, và những mâu thuẫn đó chẳng những không thể khắc phục mà ngày càng bị khoét sâu thêm, khiến ý chí xâm lược bị suy giảm mạnh... Trong khi đó, tình thế ngày càng có lợi cho Việt Nam, lực ngày càng thêm lớn, càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng. Thực tế 30 năm chiến tranh cách mạng (1945 - 1975) thể hiện tiêu biểu quy luật nói trên.


Kháng chiến lâu dài, hoặc trong từng hoàn cảnh, điều kiện nhất định, tìm cách kết thúc chiến tranh trong thời gian ngắn, tương đối ngắn là một kinh nghiệm về phương thức kháng chiến của dân tộc Việt Nam, dù những hình thức thể hiện khác nhau. Tư tưởng cơ bản của phương thức này là tránh quyết chiến với địch trong điều kiện không có lợi, buộc đối phương phải bị động chuyến chiến lược từ "đánh nhanh thắng nhanh" sang đánh lâu dài.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #35 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2022, 03:56:29 pm »

c) Tư tưởng tự lực tự cường, dựa vào sức mình là chính, đồng thời ra sức tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế

Là một nước nhỏ, đất không rộng, người không đông, lại luôn phải chống trả với quân xâm lược lớn mạnh hơn mình nhiều lần, nên dân tộc Việt Nam sớm hình thành tư tưởng tự lực, tự cường, dựa vào sức mình là chính, đồng thời luôn ra sức tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế. Tuy nhiên, vào thời cổ trung đại, điều kiện của lịch sử, quan hệ bang giao và điều kiện thông tin giữa các quốc gia nói chung, giữa các nước bị xâm lược nói riêng còn hạn chế. Trong những điều kiện đó, vào cuối thế kỷ thứ III Tr.CN, khi nhà Tần cất quân xâm lược phương Nam, một số nhóm người Việt thuộc tộc Bách Việt ở Nam sông Trường Giang bỏ đất ra đi thì người Âu Việt - Lạc Việt đã ở lại, dựa vào bản quán, nơi cư trú, bám trụ ruộng vườn, kiên cường chống quân xâm lược.


Để bảo đảm có lực lượng sản xuất nông nghiệp và lực lượng vũ trang luyện tập, canh giữ trong thời bình và chiến đấu thời chiến, các vua nhà Lý, Trần, Lê đã thực hiện chính sách "ngụ binh ư nông", sử cũ ghi chép: "Lại có 9 quân như Sương quân để sai khiến làm mọi việc, mỗi tháng đến phiên một lần, gọi là đến canh, hết canh cho về nhà cày cấy hoặc làm công nghệ tự cấp lấy chứ không được cấp lương. Khi có chiến tranh thì gọi ra cho lệ thuộc vào các tướng. Nếu số quân này không đủ thì chiếu sổ gọi dân ra tòng ngũ. Xong việc lại cho về làm ruộng. Đó là đúng với ý nghĩa ngụ binh ư nông"1 (Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992, tr.7-8).


Tư tưởng gắn "việc binh" với "việc nông" bằng chính sách "Ngụ binh ư nông" trong xây dựng lực lượng vũ trang, bảo đảm quốc phòng không đơn thuần là quy định tuyển quân từ lực lượng nông dân, tổ chức cho lực lượng này thay phiên huấn luyện tại ngũ và về làm rộng. Cách thức tổ chức nghĩa vụ quân sự này có quan hệ hữu cơ với nhiều lĩnh vực khác, trên một khía cạnh nhất định, còn cho thấy tính chất của nền quân sự Việt Nam. Thực chất "ngụ binh ư nông" - việc binh, chứa đựng nội dung kinh tế - quân sự, kinh tế - quốc phòng, là xây dựng lực lượng vũ trang, huy động nông dân ra chiến trường trong thời chiến. Như thế, chính sách này đã tạo nên sự duy trì và phát triển kinh tế, đồng thời có quân phòng giữ và chiến đấu khi hữu sự. Mặt khác, chính sách này còn bổ sung cho mối liên kết quân sự địa phương với trung ương, gia tăng tính nhân dân trong truyền thống quân sự.


Quang Trung, vị anh hùng dân tộc là người thể hiện tinh thần tự lực, tự cường rất mạnh mẽ. Ông ra Chiếu khuyến nông nổi tiếng lịch sử, khuyến khích sản xuất nông nghiệp. "Chính trị của bậc vương giả là "vun gốc đè ngọn", chú trọng vào việc nông... Nay buổi đầu đại định, chính sách khuyến khích sản xuất làm cho dân giàu, phải được tiến hành lần lượt"1 (Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978, t.II, tr.119), và dân giàu thì nước mạnh. Khác với nhiều bậc vua chúa khác, vừa khuyến nông, Quang Trung vừa tạo điều kiện phát triển kinh tế công thương nghiệp, xoá bỏ chính sách ức thương "bế quan toả cảng", thực hiện "mở cửa", đẩy mạnh giao lưu, giao thương với các nước láng giềng và thế giới, phát triển kinh tế hàng hoá. Các chính sách của Quang Trung đã bồi dưỡng mạnh mẽ sức dân, rất được lòng dân, nên khi hữu sự, như ghi chép của Bitxase, hành quân ra Bắc, Nguyễn Huệ đi suốt ngày đêm, dọc đường thu nạp tất cả những người có thể cầm được vũ khí, ông không có lương thực nào khác ngoài lương thực của các làng mà nghĩa quân đi qua. Khi phái sứ thần đem theo thư của ông sang Trung Quốc đòi 7 châu thuộc Hưng Hoá mà họ xâm lấn từ trước không thành công, ông kiên định tư tưởng tự lực, ra sức củng cố quốc phòng và chờ thời cơ thích hợp giành lại đất đai đã mất.


Trên một phương diện khác, tư tưởng quân sự dựa vào sức mình là chính cũng xuất phát từ hai nền tảng: một là, chủ nghĩa yêu nước hay tinh thần dân tộc và hai là, nỗ lực nội tại chống lại những âm mưu và hành động đi ngược lại, thậm chí phản bội, lợi ích dân tộc, lợi ích nhân dân, câu kết với thế lực ngoại xâm của các phần tử phản quốc. Truyền thống tự lực, tự cường, dựa vào sức mình là chính hoàn toàn xa lạ với tính dân tộc hẹp hòi, không hề mâu thuẫn với tinh thần đoàn kết quốc tế. Ngay trong thời trung đại, nhà Trần đã hợp tác với quân Chiêm chống lại cuộc xâm lược của quân Nguyên.


Trong quá trình tìm đường cứu nước, lãnh đạo nhân dân Việt Nam đấu tranh giành độc lập dân tộc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã sớm nhận thức rằng, các dân tộc muốn được giải phóng, trước tiên chỉ có thể dựa vào lực lượng của chính bản thân mình. Nguyễn Ái Quốc cho rằng muốn người ta giúp cho thì trước hết mình phải tự giúp lấy mình đã.


Khi trực tiếp lãnh đạo nhân dân Việt Nam đấu tranh giành độc lập, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào cả nước "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta". Cách mạng Tháng Tám thành công là biểu hiện rực rỡ của tư tưởng tự lực, tự đứng lên giành lại độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Tư tưởng ấy được quán xuyến trong việc hoạch định đường lối, xây dựng lực lượng cách mạng và chớp thời cơ, đồng thời phát động toàn dân khắp mọi miền Tổ quốc đứng lên giành độc lập, đánh đổ chế độ cũ, thành lập chính quyền cách mạng. Ngay sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo toàn dân, toàn quân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trở lại, với phương châm toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh. Hồ Chí Minh viết: "Kháng chiến trường kỳ gian khổ đồng thời lại phải tự lực cánh sinh. Trông vào sức mình, nhất là ở sau lưng địch thì lại càng phải đặc biệt chú ý. Cố nhiên sự giúp đỡ của nước bạn là quan trọng nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ người khác. Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.525). Người cho rằng, thực lực bản thân có mạnh, cuộc kháng chiến có phát triển thì mới có thể tranh thủ được ngày càng rộng rãi sự đồng tình ủng hộ của quốc tế. Chính vì thế, thời kỳ tiến hành hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945 - 1975), những năm đầu khi buộc phải chiến đấu trong vòng vây, chưa có điều kiện để tranh thủ sự ủng hộ giúp đỡ của bạn bè quốc tế, cũng như sau năm 1950, khi biên giới Việt Nam đã nối thông với Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Đảng, Chính phủ ta luôn kêu gọi toàn dân đẩy mạnh phong trào tăng gia sản xuất, phát động "tuần lễ vàng", "hũ gạo kháng chiến", "mùa đông binh sĩ", lập "Quỹ độc lập"..., góp phần ủng hộ tiền tài, vật lực cho kháng chiến. Trên cơ sở nhận định kẻ thù lúc này là chủ nghĩa thực dân đang uy hiếp nền độc lập Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng quyết định tập trung vào nhiệm vụ "phản đế", thực hiện từng bước nhiệm phụ "phản phong" và khi điều kiện cho phép, sẽ tiến hành cải cách ruộng đất nhằm tạo ra sức mạnh cả vật chất và tinh thần cho kháng chiến. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thấm nhuần chân lý "Không có gì quý hơn độc lập, tự do", toàn quân, toàn dân Việt Nam trên cả hai miền tiếp tục nâng cao ý thức tự lực, tự cường, phát huy trí thông minh và lòng quả cảm của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam, biến quyết tâm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước thành những hoạt động, những phong trào quần chúng rộng rãi và mạnh mẽ. Vì thế, chiến tranh diễn ra dù ngày càng ác liệt nhưng quân và dân Việt Nam vẫn bền lòng, vững chí trong chiến đấu và xây dựng. Từ hậu phương miền Bắc, nhân lực và vật lực - hai nhân tô quan trọng nhất vẫn không ngừng được chuyển vận ra tiền tuyến, tới các mặt trận ở phương Nam, tạo ra sức mạnh to lớn kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vào mùa Xuân năm 1975, thu non sông về một mối.


Tự lực tự cường, độc lập tự chủ, phát huy cao độ sức mạnh dân tộc trong tư tưởng của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, không những không mâu thuẫn mà ngược lại, luôn gắn chặt với chiến lược vận động, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để giành chiến thắng, giành lại và bảo vệ vững chắc nền độc lập, tự do của Tố quốc. Thực tiễn cuộc kháng chiến 30 năm cho thấy sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế rất to lớn, là nhân tố quan trọng, là điều kiện không thể thiếu để quân và dân Việt Nam đủ sức đương đầu và đánh thắng các bước leo thang chiến tranh của đối phương. Thực tế lịch sử cũng đã chỉ ra rằng, độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta" kết hợp với đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự giúp đỡ của bạn bè là hai mặt thống nhất không tách rời nhau trong tư tưởng và trong đường lối chiến lược nhất quán của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trên cơ sở tư tưởng và chiến lược đúng đắn, vững tin vào sức mạnh của lòng yêu nước luôn tiềm tàng và cháy bỏng trong mọi người Việt Nam, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra và chỉ đạo thực hiện thành công đường lối kháng chiến toàn dân, đường lối chiến tranh nhân dân, mà cốt lõi là những nội dung: toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính; đồng thời, tăng cường đoàn kết với quân và dân hai dân tộc Lào, Campuchia, đoàn kết và tranh thủ sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế.


Nhìn chung, các phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân là một thế thống nhất, có quan hệ hữu cơ, các mặt, các nội dung trong từng phương châm là mối quan hệ biện chứng. Từ nhận thức có phần đơn giản, chưa hoàn chỉnh thời cổ, trung đại, đến thời hiện đại, tư tưởng về phương thức chiến tranh nhân dân phát triển lên một đỉnh cao mới. Trong đó, những tư tưởng cơ bản kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính ngày càng được khẳng định, đi vào chiều sâu cả về tính chất và hình thức thể hiện. Đó là kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, chiến tranh cách mạng với khởi nghĩa vũ trang, kết hợp các chiến trường, các vùng chiến lược, kết hợp tiêu diệt địch với giành và giữ quyền làm chủ của nhân dân...
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #36 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2022, 02:03:35 pm »

II- NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ TRONG CHIẾN TRANH NHÂN DÂN VIỆT NAM

Cơ sở, yếu tố cội nguồn quyết định sự hình thành và vận động của chiến tranh nhân dân Việt Nam cũng là cơ sở của tư tưởng chỉ đạo nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân Việt Nam. Toàn dân đánh giặc là do mục đích, mục tiêu kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Ở từng thời đoạn, giai đoạn lịch sử, mục tiêu kháng chiến có sắc thái riêng, song bao quát vẫn là chống quân xâm lược để bảo vệ Tổ quốc, giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do. Vì vậy, chiến tranh nhân dân của dân tộc Việt Nam mang tính chính nghĩa. Nhân dân tham gia như thế nào, ở mức độ nào là do tài tổ chức, động viên của các nhà lãnh đạo đất nước. Ngay từ thời Lý, Trần, lực lượng chiến đấu là quân triều đình, quân các lộ và hương binh; nhân dân tham gia phục vụ chiến đấu. Thời hiện đại, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh động viên và tổ chức toàn dân tham gia kháng chiến. Trên nên toàn dân đánh giặc, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt được tổ chức bao gồm: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích, tự vệ. Cùng với lực lượng vũ trang ba thứ quân, Đảng chủ trương xây dựng các đội công tác quần chúng, các đội vũ trang tuyên truyền, tuyên truyền xung phong, các đội trừ gian, diệt ác, biệt động, là lực lượng tình báo, công an nhân dân, bộ đội biên phòng, các đơn vị phá hoại, bảo đảm giao thông vận tải, lực lượng vận tải chiến lược trên đường Trường Sơn và trên biển Đông, lực lượng dân công, thanh niên xung phong...1 (Xem Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975 - Thắng lợi và bài học, Sđd, tr. 308). "Chiến tranh nhân dân ba thứ quân là bảo bối của kháng chiến, thể hiện sức mạnh của toàn dân kháng chiến"2 (Thượng tướng, Giáo sư Hoàng Minh Thảo: Bàn về nghệ thuật quân sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr.7).


Lực lượng vũ trang và toàn dân Việt Nam, mà tiêu biểu ở thời hiện đại, thấu suốt tư tưởng chỉ đạo chiến tranh của Đảng. Đó là tư tưởng quyết chiến quyết thắng; có dám đánh, quyết chiến, thì sẽ tìm ra cách đánh lợi hại, hiệu suất. Thấm nhuần tư tưởng quyết chiến, quyết thắng, quân và dân Việt Nam được vũ trang tư tưởng tiến công. Có tiến công mới tiêu diệt được địch, mới có tính sáng tạo, chủ động tìm mọi cách để tiêu diệt địch. Quân xâm lược bao giờ cũng đông hơn quân chính quy của ta, tiềm lực kinh tế - quân sự (đến thời hiện đại, trình độ kỹ thuật - công nghệ cao hơn ta), nên tư tưởng chỉ đạo của ta là lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều. Như vậy, lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn với tư tưởng tiến công thì phải đánh bằng mưu kế, dựa vào "thế", "thời" giành thắng lợi1 (Xem Thượng tướng, Giáo sư Hoàng Minh Thảo: Bàn về nghệ thuật quân sự, Sđd, tr.7). Nghệ thuật tạo thế, tạo lực được nâng lên trình độ mới, nhảy vọt trong thời đại mới.


1. Tư tưởng chỉ đạo nghệ thuật quân sự toàn dân đánh giặc

Trong tất cả các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc của quân và dân Việt Nam, tương quan lực lượng nghiêng lệch về phía đối phương, nhất là giai đoạn đầu cuộc chiến, sự chênh lệch về tiềm lực và sức mạnh kinh tế - quân sự, về số lượng vũ khí trang bị, về trình độ khoa học - kỹ thuật... lại càng rõ. Để đương đầu và đánh thắng quân xâm lược lớn mạnh hơn, từ rất sớm, dân tộc Việt Nam đã nhận thức rõ không thể chỉ lấy lực lượng vũ trang thường trực, mà phải huy động tất cả sức mạnh tinh thần, vật chất của dân tộc, của toàn dân để đánh giặc.


Ở các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Lê, lực lượng vũ trang của dân tộc Việt Nam đã gồm nhiều thứ quân. Tuy ở mỗi thời có khác nhau về tên gọi và tổ chức, nhưng đều có quân tập trung của triều đình, quân ở các địa phương (do chính quyền địa phương hoặc các vương hầu tổ chức, quản lý đặt dưới sự chỉ huy thống nhất của triều đình) và dân binh (thổ binh, hương binh). Quân tập trung của triều đình làm nhiệm vụ cơ động trong cả nước. Quân các địa phương có trách nhiệm giữ các lộ, các huyện và các thành quan trọng. Dân binh là lực lượng chiến đấu tại chỗ bảo vệ quê hương, làng xã. Với cách tổ chức lực lượng vũ trang như vậy, trong kháng chiến, dân tộc Việt Nam vừa thực hiện đánh phân tán, vừa đánh tập trung, vừa đánh nhỏ, vừa đánh lớn. Từ việc khéo vận dụng các hình thức tác chiến như vậy, dân tộc Việt Nam có thể huy động, tập hợp, phát huy được lực lượng, sức mạnh to lớn của toàn dân, của lực lượng vũ trang đánh và thắng địch.


Cách đánh nhỏ, cơ động, linh hoạt, đánh vận động luôn có vai trò và hiệu quả to lớn trong lịch sử kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Triệu Quang Phục dùng cách đánh đột xuất ra cướp lương thực, cầm cự lâu ngày, làm cho quân giặc mệt mỏi, trong 3-4 năm không hê đối diện chiến đấu đã làm cho quân Lương vô cùng khốn đốn, sức cùng, chí nản. Trong ba lần chống quân Mông - Nguyên thời Trần, dân binh và dân chúng đã góp phần rất quan trọng khiến quân địch mệt mỏi, hao mòn, khốn đốn, sa sút, suy giảm sức chiến đấu. Thời Lê, lúc bao vây địch ở Nghệ An, lúc tiến sâu vào giải phóng Tân Bình, Thuận Hoá, lúc ra sát Thăng Long (Đông Quan) làm nên các chiến thắng Cổ Lãm, Tốt Động, Chúc Động, Ninh Kiều, tiêu diệt hàng chục vạn quân địch. Cuối cùng, đại quân Lam Sơn kéo ra vây chặt Đông Quan, đánh tan hai đạo viện binh của Liễu Thăng, Mộc Thạnh, buộc Vương Thông phải làm lễ thề xin hoà (thực chất là đầu hàng), rút quân về nước, chấm dứt 20 năm nhà Minh xâm lược và đô hộ Đại Việt.


Quân chủ lực, ngoài việc phân tán đánh nhỏ do tình thế hoặc nhằm dìu dắt quân địa phương, tạo cơ sở chính trị hoặc đất đứng chân cho địa phương, còn đánh tập trung, có cả chiến dịch lớn, chiến dịch quyết chiến chiến lược, chiến cuộc. Thời trung đại như các trận chiến Bạch Đằng, Như Nguyệt, Chương Dương, Hàm Tử, Tốt Động, Chúc Động, Chi Lăng - Xương Giang, Rạch Gầm - Xoài Mút, Ngọc Hồi - Khương Thượng - Đông Đa; thời hiện đại như các chiến dịch: Biên giới, Điện Biên Phủ. Riêng trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, quân và dân Việt Nam thực hiện ba đòn tiến công chiến lược: đòn thứ nhất là chiến dịch Tây Nguyên; đòn thứ hai gồm các chiến dịch tiến công Trị - Thiên, Nam - Ngãi và Đà Nẵng; đòn tiến công chiến lược thứ ba là Chiến dịch Hồ Chí Minh1 (Xem thêm Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Tổng kết tác chiến chiến lược trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005)... Cách đánh tập trung của lực lượng vũ trang mang nhiều nét độc đáo, đặc sắc, phù hợp với điều kiện địa hình, thời tiết, con người Việt Nam, vận dụng tốt khoa học quân sự. Đó là "xuất kỳ bất ý", "công kỳ vô bị", đánh bằng kỳ binh - kỳ binh phối hợp chính binh, bằng phục binh, những cách đánh không bộc lộ lực lượng, mục tiêu, tận dụng được sự ủng hộ của nhân dân mà sau này được xây dựng thành thế trận chiến tranh nhân dân; phát huy cao độ yếu tố bí mật, bất ngờ, giáng những đòn hiểm, giải quyết trận đánh nhanh gọn như "sấm ran chớp giật" mà Nguyễn Trãi từng tổng kết.


Quy mô tác chiến, đặc biệt biểu hiện rõ trong thời hiện đại, là tiến hành từ đánh du kích, đánh nhỏ tiến lên đánh tập trung, kết hợp cả hai hình thức và đưa quy mô lên ngày càng lớn, tùy theo tương quan lực lượng và thời cơ tác chiến. Đánh du kích, đánh nhỏ, đánh vừa và phát triển lên đánh tập trung, đánh lớn trở thành quy luật giành thắng lợi ở Việt Nam trong những cuộc kháng chiến lâu dài. Các cuộc kháng chiến thời Triệu Quang Phục chống quân Lương, Lê Lợi, Nguyễn Trãi lãnh đạo chống quân Minh và 30 năm chiến tranh cách mạng thời hiện đại (1945 - 1975) là điển hình thành công của quy luật đó. Cũng không ít lần người Việt Nam dựa vào lực lượng vũ trang tập trung, tiến hành các trận đánh quy mô lớn, giành thắng lợi vang dội, như Ngô Quyền diệt quân Nam Hán, Lý Thường Kiệt đánh sang Ung - Khâm - Liêm phá cơ sở xuất phát tiến công trên đất địch, Nguyễn Huệ với trận Rạch Gầm - Xoài Mút và đại phá quân Thanh ở Ngọc Hồi - Khương Thượng - Đống Đa. Nhìn chung, trước kẻ thù xâm lược lớn mạnh, việc kết hợp giữa cách đánh của quân chủ lực với cách đánh nhỏ của quân địa phương và dân chúng có tác dụng làm phân tán, căng kéo, khoét sâu mâu thuẫn cơ bản của quân xâm lược giữa tập trung và phân tán lực lượng, từng bước tiêu hao sinh lực địch, làm cho chúng suy yếu, tạo ra thế và lực mới có lợi cho Việt Nam, tạo ra thời cơ cho quân chủ lực tập trung diệt địch bằng những trận đánh lớn, trận quyết chiến chiến lược giành thắng lợi quyết định. Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, có thời chỉ biết dựa vào quân triều đình (chủ lực) cộng với sai lầm về chỉ đạo chiến tranh, không biết dựa vào dân, không biết khơi dậy và phát huy sức mạnh của toàn dân, thì dù có quyết tâm kháng chiến, vẫn không tránh khỏi thất bại đau xót, như thời nhà Hồ.


Tư tưởng chỉ đạo nghệ thuật quân sự toàn dân đánh giặc là nghệ thuật chỉ đạo hoạt động quân sự của lực lượng vũ trang, đồng thời chỉ đạo hoạt động quân sự của nhân dân cầm vũ khí đánh địch; chỉ đạo hoạt động tác chiến của bộ đội chủ lực, đồng thời chỉ đạo hoạt động tác chiến của quân địa phương (thời xưa), phối hợp chặt chẽ ba thứ quân (thời hiện đại), trên nền thế trận chiến tranh nhân dân1 (Xem Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng tập luận văn, Sđd, t.2, tr.1087).


Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, về mặt tư tưởng chỉ đạo thì, nghệ thuật quân sự của toàn dân đánh giặc của ta là nghệ thuật chỉ đạo hoạt động quân sự của lực lượng vũ trang, đồng thời chỉ đạo hoạt đông quân sự của nhân dân cầm vũ khí đứng lên đánh địch, kết hợp chặt chẽ quân sự với chính trị, tác chiến với binh vận, kết hợp tiêu diệt địch với phát động quần chúng giành chính quyền. Nghệ thuật quân sự Việt Nam hiện đại quán triệt tư tưởng chỉ đạo hoạt động tác chiến của bộ đội chủ lực, đồng thời chỉ đạo hoạt động tác chiến của bộ đội địa phương và dân quân du kích, phối hợp chặt chẽ tác chiến của ha thứ quân, của các binh chủng, quân chủng, kết hợp đánh du kích và đánh tập trung, kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn. Đó là bước kế thừa và phát triển sáng tạo của tư tưởng nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân thời hiện đại.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #37 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2022, 02:04:18 pm »

2. Tư tưởng "lấy ít địch nhiểu, lấy nhỏ thắng lớn"

Tư tưởng lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn hình thành từ điều kiện và hoàn cảnh nước Việt Nam, một nước người không đông lắm, đất không rộng lắm (thời cổ, trung đại dân số càng nhỏ, lãnh thổ càng hẹp), nhưng yêu cầu lịch sử là phải đánh và đánh thắng những kẻ địch có quân số đông hơn, có tiềm lực kinh tế và quân sự lớn hơn mình gấp nhiều lần. Các thế hệ Việt Nam đã sáng tạo ra nghệ thuật "lấy ít địch nhiều", "lấy đoản binh thắng trường trận", giải quyết bài toán hóc búa mà thực tế đặt ra, bằng xây dựng và sử dụng lực lượng; tạo thế, lập thế, tạo thời cơ và sử dụng thời cơ; bày mưu, tính kế... Lực lượng nhỏ thì phải tạo được thế lợi, thời lợi, dùng mưu lừa được địch đưa chúng vào thế bất lợi, bị bất ngờ; bày được kế hay điều địch đến nơi quân ta có thế lợi, vào thế trận quân ta đã bày sẵn, vào thời cơ chúng ta chủ động, địch không ngờ.


Trong các cuộc hội chiến lớn trên sông Bạch Đằng đầu năm 938 và năm 1288, với nhiều hình thức chiến thuật, trong đó có việc lợi dụng thuỷ triều và đóng cọc gỗ, thả bè hoả công trên sông, Ngô Quyền và Trần Quốc Tuấn đã chỉ huy các đội thuyền chiến ít hơn, nhẹ và cơ động hơn thuyền của đối phương mà tiêu diệt phần lớn hạm đội Nam Hán khi chúng từ biển tiến vào cửa sông, tiêu diệt toàn bộ hạm đội quân Nguyên khi chúng từ Vạn Kiếp xuôi dòng sông hòng thoát ra biển. Bạch Đằng thời Ngô và thời Trần là những trận mẫu mực về nghệ thuật tính toán mưu kế, bày đặt thế trận, dùng lực lượng ít hơn mà giành thắng lợi lớn.


Ở thời hiện đại, nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân của Việt Nam có sự phát triển vượt bậc. Đảng ta chủ trương xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân thiên la địa võng, khiến địch muốn tập trung mà phải phân tán, chúng không biết đâu mà phán đoán, đối phó. "Thế trận của ta là chia địch ra mà đánh, trói địch lại mà diệt. Phải lập thế trận như một trận đồ bát quái, đánh địch cả ở đằng trước mặt và đằng sau địch, đánh địch ở các chiều, các hướng"1 (Thượng tướng, Giáo sư Hoàng Minh Thảo: "Mấy vấn đề về nghệ thuật tác chiến của chiến tranh nhân dân Việt Nam". In trong Nghiên cứu nghệ thuật quân sự, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1986, tr.24).


Nghệ thuật quân sự Việt Nam quán triệt tư tưởng chiến lược lấy ít đánh nhiều; tuy nhiên, trong chiến dịch và chiến đấu, lại biết thực hiện vừa lấy ít đánh nhiều, đồng thời khi cần thiết (và có điều kiện) còn biết tập trung lực lượng nhiều hơn địch một cách thích đáng, nhất là đối với bộ đội chủ lực, để tiêu diệt gọn từng đơn vị địch2 (Xem Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng tập luận văn, Sđd, tr.1095).


Trong trận đánh thành Xương Giang (1427), Lê Lợi đã tập trung lực lượng nhiều hơn địch để hạ thành. Trong các trận Ngọc Hồi, Đầm Mực, Nguyễn Huệ đã tập trung 5-6 vạn quân, xấp xỉ số quân của Hứa Thế Hanh, nhất là tập trung toàn bộ voi chiến 200 con và phần lớn pháo binh của mình để áp đảo địch. Tập trung lực lượng ngang hoặc nhiều hơn địch, biết tạo thành thế mạnh ở địa điểm và thời cơ quyết định, nhất là kết hợp nghi binh, lừa địch làm chúng bất ngờ, không phòng bị, sẽ tạo uy lực lớn, hiệu quả lớn. Nguyễn Trãi nhấn mạnh, tạo được tình huống như thế, "binh đánh vào đâu, như lấy đá gieo vào trứng", "phàm lấy sức nặng nghìn cân đè lên trứng chim, thì chưa hề có trứng nào không vỡ nát", do đó Lê Lợi và Nguyễn Trãi thực hiện được những trận đánh như "Sấm ran chớp giật, trúc trẻ tro bay". Thời hiện đại, các chiến dịch Biên giới, Điện Biên Phủ; các chiến dịch trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đặc biệt Chiến dịch Hồ Chí Minh, là những ví dụ thành công về cách tạo thành thế mạnh trong điều kiện ta tập trung binh lực nhiều hơn địch.


Trong lịch sử xưa kia cũng như trong chiến tranh hiện đại, để thực hiện đánh địch trên thế mạnh, để chuyển hóa lực lượng ngày càng có lợi, người Việt Nam đã quán triệt tư tưởng lấy ít đánh nhiều về chiến lược; còn trong chiến dịch và chiến đấu, thì vừa biết lấy ít đánh nhiều, đồng thời khi cần thiết còn biết tập trung lực lượng đông hơn địch một cách thích đáng để giành những chiến thắng quyết định.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #38 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2022, 02:05:06 pm »

3. Tư tưởng tích cực tiến công

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, có chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, chiến tranh giải phóng dân tộc và nhiều trường hợp, chiến tranh mang cả hai tính chất đó. Mặc dù vậy, qua kinh nghiệm lâu đời, các thế hệ người Việt đã từng bước nhận thức rõ vai trò của tư tưởng tích cực tiến công tiêu diệt sinh lực địch. Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, dù buổi đầu là phòng ngự, song luôn là phòng ngự tích cực, "phòng ngự thế công", luôn triển khai trận đánh hoặc chiến dịch tiến công, và khi thời cơ đến thì chuyển sang phản công, tiến công. Khái quát lịch sử quân sự thế giới, Ph. Ăngghen nhấn mạnh: "Phòng ngự là con đường chết của mọi cuộc khởi nghĩa vũ trang". Lịch sử kháng chiến của dân tộc Việt Nam nhiều cuộc xuất phát - tiếp nối từ khởi nghĩa phát triển lên. Tiến công hay phòng ngự hoặc kết hợp tiến công với phòng ngự như thế nào phụ thuộc tính chất, điều kiện chiến tranh cùng tư tưởng chỉ đạo chiến tranh của những người lãnh đạo đất nước, chỉ đạo kháng chiến.


Lý Thường Kiệt với chủ trương "tiên phát chế nhân", trước khi quân Tống tiến vào Đại Việt, đã cho quân đánh sang Ung - Khâm - Liêm, phá căn cứ xuất phát tiến công, phá kho tàng hậu cần địch. Sau đó rút về nước, tổ chức phòng ngự có chiều sâu từ biên giới tới phòng tuyến Như Nguyệt, từ Như Nguyệt đến Thăng Long, ông tiến hành một loạt hoạt động quân sự làm địch tiêu hao, mệt mỏi và chọn đúng thời cơ thực hành phản công và tiến công diệt phần lớn quần địch, buộc chúng phải rút quân về nước.


Vào thời Trần, trước cuộc xâm lược Đại Việt lần thứ hai (1285) của quân Mông - Nguyêh, quân ta đã thực hành rút lui chiến lược, dùng phòng ngự để chặn địch rồi tạo thời cơ, chọn thời cơ phản công. Do sức giặc mạnh, quân ta không chặn được chúng ở Nội Bàng (Chũ), Bình Than (Phả Lại), sông Cầu, nên đã rút lui chiến lược đưa đại quân về Trường Yên, Thiên Trường và Thanh Hoá. Khi thời cơ đến thì chuyển sang phản công, bằng cuộc tiến công chiến lược các trận ở A Lỗ - Tây Kết - Hàm Tử - Chương Dương - Thăng Long và chặn địch ở Vạn Kiếp, quân Trần đã đánh bại 60 vạn quân Mông - Nguyên.


Năm 1789, chống quân Thanh xâm lược, Nguyễn Huệ đánh giá rất cao chủ trương chiến lược rút khỏi Thăng Long về Biện Sơn - Tam Điệp của Ngô Thì Nhậm, đã dám "chịu nhịn để tránh sức mạnh ban đầu của chúng, đành hãy chỉnh đốn đội ngũ rút về giữ chỗ hiểm yếu, trong thì khiến cho lòng quân kích thích, ngoài thì khiến cho lòng giặc kiêu căng"1 (Hoàng Lê nhất thống chí, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1964, tr.513). Với kế sách "rút khỏi Thăng Long cho giặc ngủ trọ một đêm", sau đó tiến hành cuộc phản công chiến lược chớp nhoáng, Quang Trung đã đập tan đạo quân xâm lược nhà Thanh và tay sai trong mấy ngày đêm.


Trong thời hiện đại, dân tộc Việt Nam tiến hành chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, quán triệt tư tưởng cách mạng tiến công, đã vận dụng nhuần nhuyễn các hình thức tác chiến, "có tiến công, có phòng ngự, nhưng tiến công là chủ yếu"2 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng tập luận văn, Sđd, tr.1090). Từ phương châm kháng chiến lâu dài, quân và dân Việt Nam từng bước tạo ra so sánh lực lượng và thế trận chiến tranh nhân dân có lợi cho Việt Nam, thực hành tiến công đúng thời cơ và ở địa điểm thích hợp, phát triển thế tiến công từ nhỏ đến lớn, từ cục bộ đến toàn bộ. Trong những hoàn cảnh và địa điểm nhất định, quân và dân Việt Nam thực hành phòng ngự, song chỉ là tạm thời, tranh thủ thời gian xây dựng hoặc điều động lực lượng, tạo thế trận để chuyển sang tiến công tiêu diệt địch. Phòng ngự nhưng quán triệt tư tưởng tiến công, thực hiện với tinh thần tích cực, kiên quyết, luôn chủ động phản công và tiến công địch. Đó là tư tưởng kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa, đánh lớn; đánh tập trung và đánh phân tán; thực hành và kết hợp cách đánh du kích và đánh chính quy. Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Du kích là tiến công, mình bao giờ cũng nhằm quân thù đánh trước. Du kích mà để cho quân thù đến đánh, mình phải phòng ngự là không tốt rồi, là phải ở vào thế khó rồi...", "Đội du kích cũng phải dùng lối phòng ngự, nhưng lối phòng ngự này là lối phòng ngự thế công, nghĩa là tiến đánh quân thù để phòng ngự, chứ không phải rút vào một chỗ để cho quân thù tha hồ đánh phá"1 (Hồ Chí Minh: Cách đánh du kích, dẫn theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng tập luận văn, Sđd, tr.1091). Đương nhiên, để quyết định tiến công hay phòng ngự, đánh nhỏ hay đánh lớn... phải từ đánh giá chính xác so sánh lực lượng địch - ta và các yếu tố cụ thể khác.


Tóm lại, nghệ thuật quân sự Việt Nam luôn quán triệt tư tưởng tích cực tiến công địch, nó chủ yếu là nghệ thuật tiến công. Trong vận dụng, trên cơ sở đánh giá so sánh lực lượng đôi bên, ta có tiến công và có phòng ngự, nhưng tiến công vẫn là chủ yếu.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #39 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2022, 02:05:40 pm »

4. Tư tưởng tích cực tiêu diệt sinh lực địch

Mục tiêu của chiến đấu, chiến dịch trên chiến trường là tiêu diệt lực lượng quân sự địch, có như vậy mới làm mất chỗ dựa chủ yếu của địch để tiến hành chiến tranh, mới làm thất bại ý chí xâm lược của chúng, kết thúc chiến tranh. "Chỉ có kiên quyết thực hiện đánh tiêu diệt mới làm cho địch mất hẳn đi từng đơn vị, không thể nhanh chóng bổ sung; mới làm cho tinh thần quân đội chúng suy sụp nhanh chóng, gây nên những biến động lớn trong hàng ngũ địch; mới nhanh chóng thay đổi được lực lượng so sánh có lợi cho ta, tạo nên những chuyển biến lớn trên cục diện chiến trường"1 (Xem Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng tập luận văn, Sđd, tr.1099).


Trong cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên lần thứ ba, khi địch rút lui chiến lược, Trần Quốc Tuấn đã nhằm hướng sông Bạch Đằng đánh vào đạo thuỷ quân thứ yếu nhưng quan trọng của địch mà ta đủ sức tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch. Chiến thắng đó đã làm cho quân chủ lực của Thoát Hoan hoảng sợ và rút lui hỗn loạn, tạo điều kiện thuận lợi cho quân và dân nhà Trần tiến lên đánh bại hoàn toàn ý chí xâm lược của quân Mông - Nguyên.


Trong cuộc kháng chiến lâu dài chống quân Minh, sau nhiều năm gặp khó khăn ở vùng rừng núi Lam Sơn, Lê Lợi tiến quân đánh vào Nghệ An, là hướng địch sơ hở. Chỉ sau 9 tháng, nghĩa quân đã giải phóng cả Nghệ An và Thanh Hoá. Tiếp đó, giải phóng Tân Bình, Thuận Hoá một cách thuận lợi, tạo nên chỗ đứng chân vững chắc để phát triển lực lượng lớn mạnh, tiến quân ra Bắc, thực hành trận đánh tiêu diệt lớn ở Tốt Động - Chúc Động.


Quang Trung đánh tiêu diệt quân xâm lược ở Rạch Gầm - Xoài Mút, thắng trong hàng loạt các trận hội chiến lớn Ngọc Hồi, Khương Thượng, Đầm Mực, những trận đánh lớn trên sông cầu, sông Thương, sông Lô... trong vòng hơn 5 ngày, quân và dân Việt Nam đã tiêu diệt và quét sạch 29 vạn tên địch.
Tư tưởng đánh tiêu diệt cả về chiến lược và chiến thuật nói trên được vận dụng triệt để trong mọi cuộc chiến tranh, với mục đích chủ yếu là đánh sập ý chí xâm lược của kẻ thù. Nhưng mỗi khi quân địch "kế cùng lực kiệt", chắc chắn thất bại, thì ông cha ta lại tỏ ra khoan hồng, mở con đường sống cho chúng, bằng cách thương lượng, giảng hòa, hay tổ chức hội thề, ký hiệp định đình chiến với đối phương, với mục đích "giữ hòa hiếu giữa hai nước, dập tắt muôn đời chiến tranh" như Nguyễn Trãi đã nói.


Thời hiện đại, đó là các chiến dịch Biên giới, Điện Biên Phủ, Ba Gia, Bình Giã, v.v. đến các chiến dịch trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 lịch sử - các chiến dịch Tây Nguyên, Trị - Thiên, Nam - Ngãi, Đà Nẵng và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Đó là những chiến dịch "sấm vang chớp dậy, trúc chẻ tro bay", những "trận" quyết định thắng lợi của cuộc chiến tranh.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM