Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 07:44:12 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tính trước nguy cơ - Suy ngẫm sau 20 năm Đảng Cộng sản Liên Xô mất Đảng  (Đọc 41954 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #10 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2022, 03:59:54 pm »

Thứ tư, tác động lẫn nhau giữa con người và thể chế, cơ chế cũng như phân tích mối quan hệ của nó. Tháng 8 năm 1980, tại Hội nghị mở rộng Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đặng Tiểu Bình đã có bài phát biểu quan trọng "Cải cách chế độ lãnh đạo của Đảng và Nhà nước". Trong bài phát biểu, Đặng Tiểu Bình chỉ rõ: "Các sai lầm xảy ra trước đây của chúng ta cố nhiên là có liên quan tới tư tưởng, tác phong của một số nhà lãnh đạo nào đó, nhưng vấn đề ở các mặt chế độ tổ chức, chế độ làm việc càng quan trọng hơn. Chế độ ở các mặt này tốt có thể khiến cho người xấu không thể tuỳ ý hoành hành, chế độ không tốt có thế khiến cho người tốt không thể nào làm việc tốt một cách đầy đủ, thậm chí có thể đi tới mặt trái"; "Vấn đề chế độ lãnh đạo, chế độ tổ chức càng phải có tính căn bản, tính toàn cục, tính ổn định và tính lâu dài. Vấn đề chế độ này liên quan tới Đảng và Nhà nước có thay đổi màu sắc hay không, cần phải được toàn Đảng coi trọng cao độ"1 (Văn tuyển Đặng Tiểu Bình, Sđd, q.2, tr.333). Những người chủ trương nguyên nhân chủ yếu của Đảng Cộng sản Liên Xô bị hạ bệ, Liên Xô giải thể là ở chỗ mô hình xã hội chủ nghĩa cứng nhắc của Liên Xô hoặc mô hình Xtalin, thường dẫn lại hai đoạn này để chứng minh cho quan điểm của mình. Thế nhưng, họ thường coi nhẹ những trình bày liên quan khác vào những năm cuối đời của Đặng Tiểu Bình. Ngày 5 tháng 10 năm 1991, khi tiếp Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Triều Tiên, Chủ tịch nước Kim Nhật Thành, Đặng Tiểu Bình chỉ ra: "Thật sự xảy ra vấn đề là vấn đề nội bộ chúng ta, người khác không làm được gì với chúng ta cả, Mỹ cũng không có cách nào"2 (Niên phố Đặng Tiểu Bình, Sđđ, quyển hạ, tr.1332). Trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 2 năm 1992, trong bài nói chuyện tại miền Nam nổi tiếng của mình, Đặng Tiểu Bình nói: "Đường lối chính trị đúng đắn cần dựa vào đường lối tổ chức đúng đắn làm bảo đảm. Có làm tốt được hay không công việc của Trung Quốc, có kiên trì được hay không chủ nghĩa xã hội và cải cách mở cửa, kinh tế có phát triển nhanh hơn một chút hay không, đất nước có yên ổn lâu dài hay không, xét từ ý nghĩa nhất định, mấu chốt là ở con người." Ông còn nói: "Trung Quốc nếu xảy ra vấn đề, thì vẫn là xảy ra từ nội bộ Đảng Cộng sản. Cần tỉnh táo đối với vấn đề này, cần chú ý bồi dưỡng con người, cần tuyển chọn, đề bạt những người có cả đức lẫn tài vào ban lãnh đạo theo tiêu chuẩn "cách mạng hóa, trẻ hóa, trí thức hóa, chuyên nghiệp hóa". Chúng ta nói đường lối cơ bản của Đảng cần phải kiên trì 100 năm, muốn yên ổn lâu dài, thì cần phải dựa vào điểm này. Cái thực sự liên quan đến đại cục chính là việc này"1 (Văn tuyển Đặng Tiểu Bình, Sđd, q.3, tr.380). Ông còn nói: "Chỉ cần có một Bộ Chính trị tốt, đặc biệt là một Ban Thường vụ tốt... thì cái loạn nào xuất hiện cũng ngăn chặn được"2 (Văn tuyển Đặng Tiểu Bình, Sđd, q.3, tr.310).


Ngày 21 tháng 7 năm 1977, tại Hội nghị toàn thể Trung ương 3 khóa X Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đặng Tiểu Bình đã có bài phát biểu "Lý giải tư tưởng Mao Trạch Đông một cách hoàn chỉnh, chuẩn xác". Câu đầu tiên mở màn là "Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Mao Trạch Đông là tư tưởng chỉ đạo của Đảng chúng ta"3 (Văn tuyển Đặng Tiểu Bình, Sđd, q.2, tr.42). Ông nói: "Những lời nói của đồng chí Mao Trạch Đông tại một thời điểm này, trong điều kiện này, đối với một vấn đề nào đó là đúng đắn, thì những câu nói tại một thời điểm khác, trong điều kiện khác, đối với vấn đề tương tự cũng là đúng đắn; nhưng những câu nói trong thời điểm, điều kiện khác nhau đối với cùng một vấn đề, có lúc mức độ khác nhau, điểm nhấn khác nhau, thậm chí một số cách đề cập cũng khác nhau. Vì vậy chúng ta không thể chỉ lý giải tư tưởng Mao Trạch Đông qua những câu chữ cá biệt, mà cần phải có được sự lý giải chính xác từ hệ thống chỉnh thể của tư tưởng Mao Trạch Đông"1 (Văn tuyển Đặng Tiểu Bình, Sđd, q.2, tr.42-43). Điều này đã cung cấp cho chúng ta sự chỉ đạo về ý nghĩa phương pháp luận để lý giải chính xác một cách biện chứng thống nhất những trình bày khác nhau ở những thời kỳ khác nhau của Đặng Tiểu Bình. Điều này cũng chính là nói, chúng ta cũng cần lý giải luận điểm Đặng Tiểu Bình một cách hoàn chỉnh, chuẩn xác, chứ không thể mỗi người lấy thứ mình cần, chỉ nắm lấy một, hai câu trong đó, không chú ý tới thời gian, địa điểm mà đi lý giải và trình bày một cách phiến diện.


Chúng ta hãy nhìn lại quan hệ biện chứng giữa con người với thể chế cơ chế từ bình diện nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác. Chủ nghĩa Mác luôn luôn cho rằng, lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, sự tổng hòa của các mặt quan hệ sản xuất thì cấu thành nền tảng kinh tế của xã hội, cơ sở kinh tế quyết định thượng tầng kiến trúc. Những người tham gia sản xuất là nhân tố cách mạng nhất, năng động nhất trong lực lượng sản xuất, tất nhiên, nhân tố cách mạng nhất, năng động nhất này của con người không những thể hiện trực tiếp ở phạm trù lực lượng sản xuất, mà còn thể hiện một cách tương ứng ở tất cả các mặt của các phạm trù như quan hệ sản xuất, cơ sở kinh tế  thượng tầng kiến trúc và ý thức xã hội tương ứng với thượng tầng kiến trúc. Còn thể chế cơ chế là bộ phận cấu thành hữu cơ của thượng tầng kiến trúc xã hội. Thể chế cơ chế do con người xác lập và hoàn thiện, cũng cần do con người tuân thủ hoặc thay đổi. Vì vậy xét về căn bản, con người quyết định cơ chế thể chế. Đây chính là cái mà Đặng Tiểu Bình nói khi cuối đời "mấu chốt là ở con người". Tất nhiên, quan hệ sản xuất và thượng tầng kiến trúc nhất định sẽ tác động ngược trở lại lực lượng sản xuất và cơ sở kinh tế nhất định. Quan hệ tác động ngược trở lại thể hiện ở mối quan hệ giữa con người với thể chế, cơ chế, tức là trong điều kiện nhất định, thể chế, cơ chế sẽ tác động ngược trở lại lực lượng sản xuất, trong đó bao gồm cả con người. Kiểu tác động ngược này, trong điều kiện nhất định, có thể có tác dụng quyết định. Đây cũng là tầm quan trọng của "chế độ tổ chức, chế độ làm việc" mà Đặng Tiểu Bình nói. Người viết cho rằng, kết luận quan trọng của chủ nghĩa Mác: "Trung Quốc nếu xảy ra vấn đề, thì vẫn là xảy ra từ nội bộ Đảng Cộng sản" mà Đặng Tiểu Bình nói trong bài phát biểu tại miền Nam năm 1992, thực chất là được đưa ra trên cơ sở tổng kết đúng đắn những sự kiện lịch sử lớn trong phong trào cộng sản quốc tế, kể cả việc Đảng Cộng sản Liên Xô sụp đổ, Liên Xô giải thể năm 1991, kết luận này cũng hoàn toàn phù hợp với nguyên nhân căn bản của việc Đảng Cộng sản Liên Xô mất Đảng, Liên Xô giải thể. Vấn đề trong nội bộ Đảng cũng có nhiều loại, thể chế, cơ chế chỉ là một trong số đó, hơn nữa chỉ là phương thức vận hành cụ thể và hình thức biểu hiện cụ thể của nguyên tắc tổ chức căn bản của Đảng - chế độ cơ bản xã hội chủ nghĩa và chế độ tập trung dân chủ - vào trong nội bộ Đảng và trong đời sống chính trị, kinh tế đất nước. Một thể chế nhất định sau khi hình thành tất nhiên sẽ ảnh hưởng và ràng buộc hoạt động của con người, nhưng suy cho cùng vấn đề căn bản cần là ở chỗ xác lập và quán triệt thể chế cơ chế nhất định cần dựa vào lý luận nhất định để chỉ đạo: Không có lý luận cách mạng thì không có hành động cách mạng. Biết tiến hành tư duy trừu tượng có lý trí và lý luận là sự khác biệt căn bản giữa con người với các vật chủng khác trong đó có động vật của giới tự nhiên, là biểu hiện đặc thù của tính năng động chủ quan của con người. Xét từ điểm này, chúng ta lại tìm được hình thức biểu hiện cụ thể của việc con người quyết định thể chế cơ chế Vì vậy, chúng tôi cho rằng, sự sụp đổ cuối cùng của Đảng Cộng sản Liên Xô, nguyên nhân căn bản của nó không phải ở chỗ thể chế cơ chế mà là ở chỗ Đảng Cộng sản Liên Xô bắt đầu từ tập đoàn lãnh đạo Khrushchev, đặc biệt là những người trong đó có Gorbachev dần dần xa rời, đi ngược lại, cuối cùng đã phản bội lại chủ nghĩa Mác và lợi ích căn bản của đông đảo nhất quần chúng nhân dân. Trong quá trình Liên Xô giải thể, Đảng Cộng sản Liên Xô mất Đảng, các nhân vật tiêu biểu của tập đoàn lãnh đạo - Khrushchev, Brezhnev, đặc biệt là Gorbachev khó tránh khỏi có liên quan. Đến nay chúng tôi vẫn kiên trì quan điểm này. Giang Trạch Dân chỉ ra, "Sự biến Đông Âu, Liên Xô giải thể, bài học sâu sắc nhất là: Đã từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa, từ bỏ chuyên chính vô sản, từ bỏ địa vị lãnh đạo của Đảng Cộng sản, từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, kết quả khiến cho mâu thuẫn kinh tế, chính trị, xã hội, dân tộc vốn đã tương đối nghiêm trọng càng gay gắt hơn, cuối cùng dẫn đến bi kịch lịch sử biến động lớn về chế độ, nhà nước giải thể"1 (Văn tuyển Giang Trạch Dân, Nxb. Nhân dân, 2006, q.3, tr.230). Câu nói này rất đúng.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #11 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2022, 04:00:52 pm »

Ngày 1 tháng 2 năm 2008, nhân dịp Tổng thống Nga Putin chuẩn bị kết thúc 8 năm nắm quyền, phóng viên tờ Nước Nga đã phỏng vấn Viện trưởng Viện nghiên cứu xã hội học thuộc Viện Hàn lâm khoa học Nga, Viện sĩ thông tấn Gorshkov. Phóng viên đã đề nghị ông ta nói về vấn đề "Sự phát triển của Nga trong những năm tới cần những nhà lãnh đạo kiểu nào". Vị viện trưởng này nói: "Xem ra, cần phải nhắc lại thuật ngữ 'quản lý khoa học đối với xã hội'. Do chúng ta quá ý thức hệ hóa nó nên đã luôn tránh nói đến trong thời gian dài. Hiện nay, chúng ta không thể không đồng ý với quan điểm của Xtalin về 'cán bộ quyết định hết thảy'"2 ("Putin cầm quyền 8 năm, không có lật đổ mà là đã cải tạo nước Nga", Báo Nước Nga, ngày 1 tháng 2 năm 2008). Cán bộ quyết định hết thảy, trên thực tế đã trả lời mệnh đề con người quyết định thể chế cơ chế. Cần phải nói rằng, về thực chất đây cũng là nhận thức mới của các học giả Nga đối với nguyên nhân căn bản của Đảng Cộng sản Liên Xô sụp đổ, Liên Xô giải thể.   


Thứ năm, tiến hành phân tích đối với "mô hình Xtalin" mà phương Tây đưa ra và phủ định. Chế độ xã hội chủ nghĩa được Liên Xô xây dựng vào thời kỳ Lênin và Xtalin cũng như những thể chế cơ chế quản lý cụ thể không ngừng tiến cùng thời đại bao gồm trong đó là thực tiễn của lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học của chủ nghĩa Mác ở Liên Xô. Thực tiễn chứng minh, chế độ này là phù hợp với thực tế của Liên Xô, và đã giành được thành công to lớn. Nhưng một số học giả và chính trị gia phương Tây lại đặt tên cho chế độ đó là mô hình xã hội chủ nghĩa Xtalin. Khi phân tích nguyên nhân căn bản của việc Liên Xô giải thể, Đảng Cộng sản Liên Xô sụp đổ, họ không nói một lời nào tới những sai lầm nghiêm trọng từ tập đoàn lãnh đạo Khrushchev cho đến tập đoàn lãnh đạo Gorbachev đã xa rời, đi ngược lại, thậm chí cuối cùng phản bội lại chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa xã hội và lợi ích căn bản của đông đảo nhất quần chúng nhân dân, dẫn đến đất nước hỗn loạn, dân tộc ly khai, mà ngược lại, họ đem những tội lỗi đó gán ghép cho Lênin và Xtalin. Năm 1998, khi tổng kết nguyên nhân căn bản của việc Đảng Cộng sản Liên Xô sụp đổ, Liên Xô giải thể, Gorbachev đã quy kết rộ ràng "là do 'mô hình' đã lựa chọn kia... Đây là sai lầm chủ yếu nhất mà Bônsêvích ngay từ trước Xtalin đã phạm phải"1 ([Nga] Gorbachev: Suy nghĩ của Gorbachev đối với quá khứ và tương lai, Nxb. Tân Hoa, 2002, tr.20). Điều cần chú ý nữa là, Gorbachev không những sử dụng rõ ràng cách đề cập "mô hình" này, hơn nữa cũng chĩa mũi nhọn một cách rõ ràng vào "trước Xtalin" tức chế độ xã hội chủ nghĩa Liên Xô của thời kỳ Lênin. Điều này đã cung cấp cho chúng ta một bằng chứng đanh thép để nhận định mô hình Xtalin mà họ nói đó về thực chất quyết không chỉ phủ định cá nhân Xtalin, mà muốn phủ định chế độ xã hội chủ nghĩa về căn bản.


Điều cần chỉ ra là, trước Gorbachev, Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản Trung Quốc chưa từng sử dụng cách đề cập mô hình Xtalin này. Học giả Anh Hugh Seton - Watson sử dụng cụm từ "mô hình Xtalin" tương đối sớm vào năm 1953, sử dụng từ "mô hình" để nói rõ chủ nghĩa xã hội là từ ngữ quen dùng của phương Tây. Liên Xô bắt đầu xuất hiện cách đề cập "mô hình xã hội chủ nghĩa" vào năm 1987 của thời kỳ Gorbachev. Có thể nói, "mô hình Xtalin" ngay từ khi được đưa ra đã bị gán cho tội danh "cực quyền, chính trị bạo lực", thậm chí bị đánh đồng với "chế độ phátxít", về thực chất đã bị khéo léo đưa vào trong toàn bộ chiến lược của phương Tây hòng xóa bỏ chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, chúng tôi không tán thành cách đề cập "mô hình Xtalin" này, bởi vì điều này chỉ cần không cẩn thận một chút sẽ cực kỳ dễ rơi vào cái bẫy của hệ thống phát ngôn phương Tây. Trong cuốn sách này, đôi khi cũng xuất hiện cách đề cập này, nhưng đây chỉ là để giản tiện trong hành văn, chứ không có nghĩa là chúng tôi tán thành quan điểm của phương Tây.


Những đồng chí cho rằng nguyên nhân căn bản của việc Đảng Cộng sản Liên Xô sụp đổ, Liên Xô giải thể là ở chỗ mô hình Xtalin, chủ trương truy cứu trách nhiệm của cái gọi là thể chế cơ chế xã hội chủ nghĩa cứng nhắc (thực chất là chế độ kinh tế chính trị cơ bản xã hội chủ nghĩa), nhưng lại không chủ trương truy cứu trách nhiệm cá nhân từ Khrushchev cho đến Gorbachev; mặt khác, đồng thời với truy cứu trách nhiệm chế độ kinh tế chính trị cơ bản xã hội chủ nghĩa, lại thường đòi truy cứu trách nhiệm cá nhân của Xtalin. Khi truy cứu trách nhiệm cá nhân của Xtalin, họ lại thường tập trung vào hai việc lớn xảy ra vào những năm 30 của thế kỷ XX: một là, Xtalin dừng chính sách kinh tế mới của Lênin, thực hiện tập thể hóa nông nghiệp; hai là, mở rộng tiêu diệt phản cách mạng. Có bài viết nói: "Tập thể hóa toàn diện đã phá hoại cực lớn sự phát triển của lực lượng sản xuất nông nghiệp của Liên Xô; cuộc trấn áp lớn vào những năm 1930 đã làm lay chuyển nền tảng cầm quyền của Liên Xô. Xtalin cần phải chịu trách nhiệm chính về việc này. Bởi vì hai phong trào lớn này đều là do Xtalin đưa ra mệnh lệnh có tính phương châm mà chưa được Bộ Chính trị thảo luận". Chúng tôi cho rằng, hai quan điểm này rất đáng phải bàn.


Theo ý tưởng của Lênin, sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi, nhà nước Xô viết vốn muốn dùng phương pháp thích hợp nhất với tình hình nước Nga lúc bây giờ, cố gắng từng bước quá độ sang quan hệ kinh tế xã hội mới, nhưng giai cấp tư sản Nga không đồng ý đưa ra bất kỳ sự nhượng bộ nào, không chấp nhận nhà nước điều tiết sản xuất và giám sát sản xuất, và nhanh chóng phát động cuộc chiến tranh trong nước tàn khốc uy hiếp sự tồn tại của chính quyền Xôviết. Những kẻ can thiệp bên ngoài cũng liên kết với giai cấp tư sản Nga hòng bóp chết chính quyền Xô viết non trẻ. Lênin nói, giai cấp tư sản chỉ cần "còn một tia hy vọng dùng thủ đoạn hữu hiệu nhất - chiến tranh để giải quyết vấn đề căn bản này, thì chúng sẽ không thể và cũng không cần phải chấp nhận việc chính quyền Xôviết đưa ra sự nhượng bộ có tính cục bộ đối với mình nhằm dùng biện pháp tương đối tiệm tiến để quá độ sang chế độ mới"1 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.42, tr.224). Vì vậy, "Chúng ta tiến hành cuộc đấu tranh quyết tử, vô tình, do đó sự phá hoại quan hệ cũ triệt để hơn nhiều so với ý tưởng ban đầu"2 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.42, tr.223). Vì vậy, nhà nước Xô viết không thể không thực hiện "chính sách cộng sản thời chiến" đặc thù trong thời kỳ can thiệp vũ trang của nước ngoài và chiến tranh trong nước. Những chính sách này hoàn toàn phù hợp với thực tế đấu tranh với những kẻ can thiệp bên ngoài và quân Bạch vệ lúc đó, đã bảo vệ mạnh mẽ chính quyền Xôviết. Trong khi phản kháng và rút lui, những kẻ can thiệp bên ngoài và quân Bạch vệ đã cố ý phá hoại nhà máy, hầm mỏ, vận tải đường sắt, nông cụ và kiến trúc nông nghiệp, còn xua đuổi gia súc, chở lương thực đi... Đến mùa xuân năm 1921, tình hình kinh tế và chính trị trong nước của Nga càng khó khăn hơn. Nông dân hết sức bất mãn với chế độ tập trung lương thực thừa, trong quân đội cũng xảy ra cuộc phản loạn Kronstadt. Trong tình hình đó, Lênin đã suy nghĩ và mày mò tìm hiểu hàng loạt vấn đề lớn như chủ nghĩa xã hội là gì và xây dựng chủ nghĩa xã hội như thế nào, trên cơ sở tổng kết sâu sắc những bài học kinh nghiệm của việc thực thi "chính sách cộng sản thời chiến", ông đã đưa ra Chính sách kinh tế mới. Chính sách kinh tế mới mà Lênin đưa ra là một lần thực tiễn và tìm tòi cách mạng vĩ đại, cũng là một lần sáng tạo lý luận vĩ đại. Điều này đã phát huy tác dụng quan trọng đối với việc phát triển lực lượng sản xuất, củng cố liên minh công nông, củng cố chuyên chính vô sản, có ý nghĩa tham khảo phổ biến đối với xây dựng chủ nghĩa xã hội ở đất nước lạc hậu.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #12 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2022, 04:02:39 pm »

Lênin cho rằng, tư bản nhà nước là một đầu vào để tiến vào chủ nghĩa xã hội, quá độ lên chủ nghĩa xã hội cần thông qua "con đường vu hồi" của tư bản nhà nước. Chính sách kinh tế mới về thực chất chính là xuất phát từ việc tiểu nông chiếm ưu thế ở Nga, dưới tiền đề giai cấp vô sản nắm giữ chính quyền nhà nước và nắm giữ công nghiệp lớn, quá độ vu hồi lên chủ nghĩa xã hội, bao gồm thông qua lợi dụng tư bản nhà nước để thực hiện kiểu quá độ này, mục đích của nó là củng cố liên minh công nông, củng cố chuyên chính vô sản, thúc đẩy xây dựng chủ nghĩa xã hội.


Lênin chỉ ra, để chuẩn bị tốt cho quá độ lên chủ nghĩa cộng sản, cần phải trải qua các giai đoạn quá độ như chủ nghĩa tư bản nhà nước và chủ nghĩa xã hội, thông qua chủ nghĩa tư bản nhà nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Ông nhấn mạnh, thực hiện chính sách kinh tế mới, giai cấp vô sản cần nắm vững chính quyền, không những cần, mà còn nhất định có khả năng phòng ngừa và khắc phục được những ảnh hưởng tiêu cực của chủ nghĩa tư bản, lợi dụng chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là chủ nghĩa tư bản nhà nước để thúc đẩy chủ nghĩa xã hội.


Vì vậy, muốn nhận thức rõ thực chất của chính sách kinh tế mới, cần phải nắm bắt tốt mấy điểm sau đây: Thứ nhất, năm 1921, Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang bắt đầu từ bỏ "chính sách cộng sản thời chiến", thực hiện thuế hiện vật thay cho chế độ tập trung lương thực thừa, cho phép nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại, khôi phục mậu dịch tự do, thực hiện chính sách kinh tế mới lấy chế độ tô nhượng, chế độ thuê mướn làm những nội dung chủ yếu. Đây là sự tìm tòi thành công mà Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang xuất phát từ thực tế đặt ra đối với xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga lúc bây giờ, điều này phải nói là có ý nghĩa chỉ đạo phổ biến đối với việc Đảng Cộng sản ở một đất nước lạc hậu xây dựng chủ nghĩa xã hội sau khi giành được chính quyền. Thứ hai, chính sách kinh tế mới là sự lùi bước để tiến công. Lênin chỉ rõ: "Bây giờ chúng ta lùi bước, dường như là lùi về phía sau, nhưng chúng ta làm như vậy là để lùi vài bước trước, sau đó lại bắt đầu chạy, nhảy về phía trước một cách mạnh mẽ hơn"1 (Lênin: Tuyển tập, Nxb. Nhân dân, 1995, q.4, tr.732). Vì thế, thực hiện chính sách kinh tế mới tuyệt đối không phải là từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, cũng không phải là chủ trương lùi bước không giới hạn. Thứ ba, chính sách kinh tế mới là chính sách lợi dụng chủ nghĩa tư bản để phát triển chủ nghĩa xã hội, không phải là chính sách lợi dụng chủ nghĩa tư bản để đánh đổ chủ nghĩa xã hội, nó là chính sách giai cấp mà giai cấp vô sản kiên định, chứ tuyệt đối không phải là chính sách thực hiện hòa giải giai cấp, thủ tiêu giai cấp và đấu tranh giai cấp. Lênin chỉ ra, "là một trong những yếu tố của chính sách kinh tế mới, chủ nghĩa tư bản nhà nước là một kiểu chủ nghĩa tư bản do giai cấp công nhân cho phép và tiến hành hạn chế trong điều kiện chính quyền Xôviết"1 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.43, tr.290). Thứ tư, thực hiện chính sách kinh tế mới, cần phải biết làm cho nhà nước mà mình nắm giữ hành động theo ý chí của nhân dân, cũng tức là cần phải nắm chắc phương hướng, chỉ có đi đúng đường mới có thể đi tới bờ bên kia của thắng lợi. Đối sách mà ông đưa ra là: "Lùi bước cần có trật tự, cần quy định chuẩn xác giới hạn của lùi bước, không được hoang mang bối rối, đây là việc chủ yếu nhất"2 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.43, tr.88). "Tình hình do chính sách kinh tế mới tạo thành, như sự phát triển của doanh nghiệp thương nghiệp cỡ nhỏ, việc cho thuê doanh nghiệp quốc doanh..., đều có nghĩa là sự phát triển của quan hệ tư bản chủ nghĩa, không thấy được điểm này thì hoàn toàn đã mất đi đầu óc tỉnh táo. Khỏi cần nói cũng hiểu, việc tăng cường quan hệ tư bản chủ nghĩa bản thân nó chính là tăng cường mối nguy hiểm"3 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.42, tr.231)... "Điều này đòi hỏi chúng ta tập trung tinh thần, dốc toàn lực, nó cũng đã đặt ra hết sức rõ ràng về tính cần thiết phải học cách vận dụng phương pháp chính xác để khắc phục mối nguy hiểm đó"4 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.42, tr.231).


Quá trình thực hiện chính sách kinh tế mới là quá trình Lênin không ngừng tiến hành tìm tòi và nhận thức lại đối với chủ nghĩa xã hội. Dựa vào thực tiễn mới, ông không ngừng kiểm nghiệm, uốn nắn lý luận đã có, đưa ra một loạt quan điểm lý luận mới, có sự lý giải hoàn toàn mới đối với chủ nghĩa xã hội. Những tìm tòi mới này đã phát triển nhận thức của Mác - Ăngghen đối với đặc trưng bản chất của chủ nghĩa xã hội, hình thành bộ khung chỉnh thể của ý tưởng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Nga của Lênin, từ đó mở ra con đường tự mình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước lạc hậu khác, cung cấp sự tìm tòi đi trước và gợi mở bổ ích. Đặng Tiểu Bình đã có sự khẳng định đầy đủ đối với những tìm tòi xây dựng chủ nghĩa xã hội thời kỳ Lênin. Ông chỉ ra: "Chủ nghĩa xã hội rốt cuộc là như thế nào, Liên Xô đã xây dựng rất nhiều năm, cũng chưa hoàn toàn làm rõ. Có thể tư duy của Lênin tương đối tốt, đã thực hiện chính sách kinh tế mới"1 (Văn tuyển Đặng Tiểu Bình, Sđd, q.3, tr.139). Vì vậy, hoàn toàn có thể nói, chính sách kinh tế mới mà Lênin đưa ra có thể là chính sách mang tính phổ biến mà đông đảo các nước đang phát triển với nền kinh tế tương đối lạc hậu nên áp dụng sau khi đã loại bỏ được sự đe dọa vũ lực trực tiếp của kẻ địch lớn mạnh bên ngoài. Người viết cho rằng, "có thể tư duy của Lênin tương đối tốt, đã thực hiện chính sách kinh tế mới" mà Đặng Tiểu Bình nói chính là xét từ không gian và tầm nhìn rộng lớn hơn này.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #13 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2022, 04:03:54 pm »

Liên Xô là nhà nước xã hội chủ nghĩa duy nhất trên thế giới lúc bấy giờ. Tình hình trong nước và quốc tế, đặc biệt là nguy cơ bị các cường quốc đế quốc xâm lược, đòi hỏi Liên Xô phải nhanh chóng thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa và tập thể hóa nông nghiệp, tăng cường thực lực kinh tế và quốc phòng. Nhưng chính vào lúc này, thứ nhất, sản xuất công, nông nghiệp của Liên Xô tương đối mất cân bằng. Đến cuối năm 1927, tổng giá trị sản phẩm công, nông nghiệp của Liên Xô đã vượt qua mức trước chiến tranh. Trong đó do thúc đẩy công nghiệp hóa đất nước, đến cuối năm 1927, giá trị sản xuất đại công nghiệp quốc hữu tăng 18%, chiếm 86% giá trị sản xuất toàn bộ ngành công nghiệp. Tuy tổng giá trị sản phẩm của toàn ngành nông nghiệp đã vượt trên mức trước chiến tranh, nhưng xét về tổng thể, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng chậm, năm đó chỉ tăng 4,1%1 (Xtalin: Toàn tập, Nxb. Nhân dân, 1955, q.4, tr.260-262). Sản xuất lương thực của các ngành chủ yếu trong nông nghiệp có tổng giá trị sản phẩm trong các năm 1926 - 1927 chỉ bằng 95% của năm 1913. Thứ hai, kinh tế tiểu nông từng nhà từng hộ khiến cho tỷ lệ hàng hóa nông nghiệp rất thấp. Sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi, kinh tế  đại địa chủ Liên Xô bị tiêu diệt, kinh tế phú nông bị thu nhỏ, các hộ trung nông nhỏ và hộ bần nông từ 17 triệu hộ trước Chiến tranh thế giới thứ nhất tăng nhanh lên đến 24 triệu hộ vào năm 1927. Lương thực do những hộ nông dân này sản xuất từ 2,5 triệu pud2 (Pud: đơn vị đo lường thời Nga hoàng. Một pud tương đương 16,38 kg (ND.)) trước chiến tranh tăng lên tới 4 triệu pud, đời sống có sự cải thiện rõ rệt. Nhưng lương thực hàng hóa mà họ chuyển ra khỏi nông thôn thì lại chỉ có 11,1%. Lương thực hàng hóa mà nông thôn trên toàn quốc cung cấp trước Chiến tranh thế giới thứ nhất chiếm 26% tổng sản lượng lương thực, còn trong những năm 1926 - 1927 chỉ chiếm 13,3%3 ([Liên Xô] B.N.Ponomariov (chủ biên): Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô, Nxb. Nhân dân, 1960, tr.438). Thứ ba, sự phá hoại của phú nông đối với thu mua lương thực. Trong vài năm thực hiện chính sách kinh tế mới thực hiện khôi phục kinh tế phú nông đã lớn mạnh về kinh tế, trong tay tích trữ rất nhiều lương thực thừa, nhưng họ từ chối bán theo giá cố định của nhà nước, từ đó tiến hành "bãi công lương thực", muốn lấy đó để gây ra khủng hoảng kinh tế quốc dân của Liên Xô. Thứ tư, trong quá trình công nghiệp hóa, dân số thành thị và công nhân của Liên Xô tăng lên cũng bức thiết đòi hỏi gia tăng cung ứng lương thực hàng hóa. Tình hình này bức thiết đòi hỏi nền nông nghiệp Liên Xô thực hiện tập thể hóa giải pháp lập tức uốn nắn những hành vi quá nóng và các sai lầm khác trong quá trình tập thể hóa. Báo Sự thật ngày 2 tháng 3 năm 1930 đăng bài viết quan trọng "Thắng lợi làm mê muội đầu óc" do Xtalin viết. Bài viết này vừa khẳng định "Xôviết đã giành được thắng lợi lớn về mặt phong trào nông trang tập thể", lại phê bình hết sức gay gắt cách làm "ngu xuẩn và phản động" từ bỏ "nguyên tắc tự nguyện" và "nguyên tắc các khu vực khác nhau và các loại điều kiện khác nhau" trong quá trình tập thể hóa, dùng các biện pháp "cưỡng ép", thậm chí "đã có người thử dùng biện pháp uy hiếp vũ lực, đe dọa không cung cấp nước dùng cho tưới tiêu và sản phẩm công nghiệp đối với những nông dân tạm thời không muốn tham gia vào nông trang tập thể" để thành lập nông trang tập thể, nhắc nhở "một số đồng chí" không nên "bị thắng lợi làm mê muội đầu óc"1 (Xtalin: Tuyển tập, Nxb. Nhân dân, 1979, quyển hạ, tr.238-241). Sau đó, Xtalin lại phê bình gay gắt các hiện tượng nói trên trong các trường hợp khác nhau, khiến cho một số sai lầm trong tập thể hóa nông nghiệp được phần nào uốn nắn. Cần nói rằng, trong "phong trào nông trang tập thể" quả thực có sai lầm, nhưng đấy là do nhiều nguyên nhân phức tạp gây ra. Là người lãnh đạo đứng đầu Đảng, Xtalin tất nhiên có trách nhiệm, nhưng phủ định toàn bộ những thành tựu của tập thể hóa nông nghiệp của Liên Xô, quy kết những sai lầm xuất hiện trong quá trình tập thể hóa nông nghiệp Liên Xô vào một mình Xtalin, và nói tất cả các quyết định liên quan của Trung ương trong tập thể hóa nông nghiệp là "mệnh lệnh" của cá nhân Xtalin thì rất không công bằng.


Có người nói, "tập thể hóa toàn diện đã phá hoại cực kỳ mạnh sự phát triển của lực lượng sản xuất nông nghiệp Liên Xô". Cách nói này cũng đáng để bàn. Tất nhiên, chúng ta cũng nên thấy được hai điểm. Một là, đây là do tình hình lúc đó bức bách. Điều này đúng như Giáo sư Shubin, Chủ nhiệm phòng nghiên cứu Viện Nghiên cứu lịch sử thế giới, Viện Hàn lâm khoa học Nga, đã nói: "Giai đoạn có tính quyết định của tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa của Nga là vào thời kỳ Xtalin cầm quyền những năm 1930. Thể chế Xtalin quả thực có tính tàn khốc, mức độ tàn khốc của nó thậm chí cũng không hề thua kém gì so với giai đoạn tích luỹ nguyên thủy của chủ nghĩa tư bản. Nhưng chỉ có như vậy mới có thể nắm tập trung những nguồn lực cần thiết cho xây dựng nền tảng công nghiệp, và đã đặt cơ sở cho thể chế công nghiệp Liên Xô phát triển hơn nữa"1 (A. Shubin: Cách nói hết sức hoang đường về lịch sử Liên Xô, bản tiếng Nga, Mátxcơva, 2007, tr.348-349). Ở đây, khi nói tới ''tàn khốc", Giáo sư Shubin không phân biệt cụ thể sự khác nhau giữa đối tượng "tàn khốc" khi tích luỹ nguyên thủy tư bản chủ nghĩa và khi tập thể hóa nông nghiệp Liên Xô, không phân biệt cụ thể giữa sự cần thiết và sai lầm trong sự "tàn khốc". Nhưng ông khẳng định đầy đủ tính cần thiết của kiểu "tàn khốc" này. Trong 12 năm từ năm 1925 đến năm 1937, ở một đất nước cơ sở kinh tế lạc hậu, Liên Xô đã nhanh chóng xây dựng một hệ thống công nghiệp hoàn chỉnh lấy công nghiệp nặng làm nền tảng, đầy đủ các chuyên ngành, đã đi được một quãng đường cồng nghiệp hóa mà các nước tư bản chủ nghĩa tiên tiến phải mất hơn 100 năm mới đi qua. Trình độ công nghiệp của Liên Xô năm 1937 từ đứng thứ 4 châu Âu, đứng thứ 5 thế giới vào năm 1913 đã vươn lên đứng đầu châu Âu, đứng thứ 2 thế giới. Năm 1941 khi phátxít Đức tần công bất ngờ Liên Xô, sản lượng thép của Liên Xô là 18,3 triệu tấn, bằng 5,5 lần so với năm 1913, xăng là 31 triệu tấn, bằng 4,5 lần so với năm 1913, ngay cả ngũ cốc hàng hóa cũng tăng hơn 17 triệu tấn so với năm 1913. Đến giữa và sau chiến tranh, quân đội Liên Xô không những chiếm ưu thế tuyệt đối về sĩ khí mà cả về số lượng trang bị vũ khí. Hỏa pháo các loại nhiều gấp 3,2 lần so với quân Đức, xe tăng nhiều gấp 2,8 lần, máy bay chiến đấu nhiều gấp 7,8 lần, từ đó đã giành được thắng lợi vĩ đại trong chiến tranh vệ quốc1 (Đàm Tác: Cải cách của Gorbachev và sự hủy diệt của Liên Xô, sđd, tr.609). Hai là, cũng cần thấy được rằng, cho dù trong tiến trình cần phải tăng tốc thực hiện công nghiệp hóa đất nước và trong trạng thái chiến tranh tàn khốc, nông nghiệp của Liên Xô cũng đã giành được những thành tích đáng mừng. Sản lượng ngũ cốc năm 1913 của nước Nga Sa hoàng là 4,8 triệu pud, còn Liên Xô năm 1937 đã tăng lên tới 6,8 triệu pud2 (Giáo trình sơ lược lịch sử Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang, Nxb. Nhân dân, 1975, tr.369). Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nông nghiệp của Liên Xô có một thời gian phát triển chậm chạp, sản xuất ngũ cốc đình trệ không tiến lên được, vừa có nguyên nhân của việc Liên Xô thực hiện phương châm phát triển kinh tế coi trọng công nghiệp coi nhẹ nông nghiệp; ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, nông nghiệp cung cấp tiền vốn cho công nghiệp và chính sách nông nghiệp như trưng thu cao, chênh, lệch lớn và chế độ kế hoạch nông nghiệp quá tập trung, thắt chặt quá mức, đồng thời cũng có nguyên nhân hết sức quan trọng là nông thôn Liên Xô bị tàn phá nghiêm trọng trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ hai. Thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai, quân xâm lược đã đốt cháy hơn 70.000 làng mạc, phá hoại và cướp bóc 98.000 nông trang tập thể, 1.876 nông trường quốc doanh cũng như 2.890 trạm máy móc nông nghiệp, giết, cướp đi và đuổi sang nước Đức 7 triệu con ngựa, 17 triệu con bò, vài chục triệu con lợn, cừu, dê và hơn 100 triệu gia cầm. "Trong nông nghiệp cũng thiếu người làm. Năm 1946, số người có khả năng lao động trong nông trang tập thể giảm 29% so với trước chiến tranh". Các loại máy móc nông nghiệp bị phá hoại phần lớn, còn năng lực sản xuất máy kéo thì ở vào trình độ của năm 1930. Tương tự, công nghiệp của Liên Xô cũng bị phá hoại cực kỳ lớn. Năm 1945, sản xuất hàng tiêu dùng chỉ bằng 59% mức của trước chiến tranh. Khó có thể tin được sự khó khăn và phức tạp của nhiệm vụ khôi phục lại nền kinh tế  đã bị chiến tranh tàn phá, trong đó có nông nghiệp1 (Tham khảo Jim (chủ biên): Lịch sử Liên Xô thời kỳ xã hội chủ nghĩa (1917- 1957), Sđd, tr.750-752). Năm 1946, các khu vực sản xuất lương thực chủ yếu của Liên Xô đều bị hạn hán nghiêm trọng nhất trong vòng 50 năm khiến cho nền nông nghiệp Liên Xô đã khó khăn càng thêm khó khăn. Điều này ở bất kỳ nước tư bản chủ nghĩa nào muốn hoàn toàn dựa vào sức mình đơn độc khôi phục và tái thiết công nông nghiệp cũng phải mất vài chục năm, nhưng khi hoàn thành kế hoạch 5 năm lần thứ 4 vào năm 1950, cũng tức là nói, chỉ mất thời gian khoảng 5 năm, tổng giá trị sản phẩm của toàn bộ ngành công nghiệp của Liên Xô đã tăng 73% so với trước chiến tranh, ngoài một số chỉ tiêu cá biệt, các chỉ tiêu công nghiệp đều đạt và vượt mức trước chiến tranh2 ([Liên Xô ] B.N. Ponomariov (chủ biên): Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđd, tr.652). Mặc dù chính sách nông nghiệp xuất hiện sự lặp đi lặp lại và quanh co, nhưng trình độ tập thể hóa nông nghiệp, trình độ trang bị kỹ thuật nông nghiệp đều được nâng cao rất nhiều so với trước chiến tranh, điện khí hóa nông nghiệp được tăng cường rõ rệt, tổng sản lượng lương thực năm 1958 là 8,5 triệu pud3 ([Liên Xô ] B.N. Ponomariov (chủ biên): Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđd, tr.744), không những cao hơn nhiều so với 4,8 triệu pud năm 1913 của nước Nga Sa hoàng, mà còn vượt cả mức 6,8 triệu pud của năm 1937 trước chiến tranh. Vì vậy, đánh đồng một cách giản đơn giữa phong trào tập thể hóa nông nghiệp của Liên Xô với "phá hoại cực kỳ mạnh sự phát triển của lực lượng sản xuất nông nghiệp của Liên Xô" cũng là không phù hợp với thực tế và không có sức thuyết phục. Tất nhiên, tập thể hóa nông nghiệp của Liên Xô cũng có những bài học hết sức sâu sắc cần tổng kết, ví dụ, khi thay đổi và hoàn thiện quan hệ sản xuất, quyết không thể coi nhẹ việc lấy trình độ nhất định của lực lượng sản xuất làm điều kiện, coi nhẹ việc tuân theo quy luật kinh tế khách quan; không thể áp dụng biện pháp cưỡng chế đi ngược lại nguyên tắc cải tạo nông dân cần kiên trì tự nguyện của nông dân; không thể coi nhẹ tình hình phát triển của các khu vực khác nhau, hình thức cụ thể của nó cần đa dạng, phong phú, không thể quá đơn nhất...
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #14 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2022, 04:07:14 pm »

Quyết sách trấn áp các phần tử thù địch phá hoại chế độ Liên Xô vào những năm 1930 cũng là quyết định tập thể của Trung ương Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang, không thể nói là "mệnh lệnh" của cá nhân Xtalin. Mặc dù có sai lầm nghiêm trọng, nhưng bản thân việc thanh trừ bọn phản động là cần thiết. Molotov, chiến hữu của Lênin và Xtalin, trong bài nói chuyện vào tháng 2 năm 1971 vẫn kiên trì: "Công tác làm trong sạch của Đảng hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc tập trung dân chủ"1 ([Liên Xô] F. Truev: 140 lần nói chuyện với Molotov, Sđd, tr.467, 469-470). "Tôi chịu trách nhiệm về chính sách này... Từng phạm phải sai lầm nghiêm trọng, cũng từng có hành vi quá nóng, thế nhưng, toàn bộ chính sách là đúng đắn. Toàn thể các thành viên Bộ Chính trị, trong đó cũng bao gồm cả tôi, đều có trách nhiệm đối với sai lầm"2 ([Liên Xô] F. Truev: 140 lần nói chuyện với Molotov, Sđd, tr.467, 469-470).


Đối với vấn đề mở rộng việc thanh trừ phản động mà nói, đây là một bi kịch khiến người ta đau lòng. Nhưng bản thân việc thanh trừ bọn phản động là cần thiết. Điều cần cảnh giác là, phương Tây và một số người có dụng tâm khác của Liên Xô cũ luôn muốn phóng đại số lượng những người bị bức hại đến chết trong thời kỳ Xtalin, như 20 triệu, 25 triệu, thậm chí 45 -50 triệu người. Nhưng theo báo cáo gửi cho Khrushchev do Bộ Nội vụ Liên Xô khởi thảo năm 1954, trong thời gian từ năm 1921 - 1941, có hơn 640.000 người bị tuyên án tử hình do tội phản cách mạng1 (Tham khảo Ngô Ân Viễn: Bàn về lịch sử Liên Xô, Nxb. Nhân dân, 2007, tr.120). Theo số liệu mà Ủy ban an ninh quốc gia Liên Xô công bố năm 1990, trong thời gian từ năm 1930 - 1950, có hơn 3,77 triệu người bị tuyên án vì nguyên nhân chính trị, trong đó có hơn 780.000 người bị xử tử2 (Tham khảo Ngô Ân Viễn: Bàn về lịch sử Liên Xô, Nxb. Nhân dân, 2007, tr.121). Theo "Dự án luật sửa sai cho những người bị hại do trấn áp chính trị'' mà về sau Yeltsin ký, trong thời gian cuộc đại thanh trừng, số người bị trấn áp chí ít có tới vài chục vạn người không được sửa sai3 (Tham khảo Ngô Ân Viễn: "Triệu chứng và ý nghĩa của cuộc tranh luận vấn đề 'đại thanh trừng' của Liên Xô", Nghiên cứu lịch sử, số 6 năm 2006, tr.176).


Những người có chút tôn trọng lịch sử đều sẽ thừa nhận những thành tựu to lớn của thời kỳ Xtalin. Đối với những vấn đề xảy ra trong thời kỳ Xtalin cũng cần nhìn nhận một cách lịch sử. Đối với công nghiệp hóa, tập thể hóa của Liên Xô mà nói, nó được khởi động dưới sự bao vây của các đế quốc lớn mạnh, trong điều kiện không có bất kỳ sự viện trợ nào từ bên ngoài. Tài liệu thống kê cho thấy, giá trị sản xuất công nghiệp năm 1937 đã tương đương với 3,2 lần so với năm 1933, tương đương với 6,9 lần so với năm 1913. Thông qua thực hiện hai kế hoạch 5 năm, Liên Xô đã vươn lên trở thành nước công nghiệp hóa lớn thứ hai trên thế giới chỉ sau Mỹ. Chắc chắn rằng, trong quá trình công nghiệp hóa cũng xuất hiện các vấn đề làm tổn hại nghiêm trọng tới lợi ích của họ như bóc lột quá mức nông dân, từng áp dụng chính sách quá nóng đối với phú nông... Những sự trả giá đó đổi lại là những thành tựu to lớn như Liên Xô đã đánh bại phátxít, chính quyền xã hội chủ nghĩa được củng cố. Tất nhiên, tính cấp bách của công nghiệp hóa tốc độ nhanh đã đem lại tính cưỡng chế của một số chính sách lúc đó.


Trên thế giới không có người nào hoàn mỹ không khiếm khuyết, Xtalin cũng như vậy. Xtalin đã từng phạm phải, đặc biệt là thời kỳ cuối, một số sai lầm nghiêm trọng như phương pháp làm việc độc đoán cá nhân, trong chừng mực nhất định đã gây tổn hại tới nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt của Đảng và trong chế độ nhà nước của Liên Xô, phá hoại pháp chế xã hội chủ nghĩa; trong công tác thanh trừ phần tử phản động, một mặt đã trừng trị nhiều phần tử phản cách mạng cần phải trừng trị, nhưng mặt khác cũng gây oan uổng cho không ít những người cộng sản trung thành và những công dân lương thiện, gây ra tổn thất nghiêm trọng. Chúng ta cũng cần thấy được rằng, sai lầm của Xtalin tuy gây ra tổn thất không đáng có cho Liên Xô, nhưng điều chủ yếu hơn là ông 'đã lãnh đạo Liên Xô thực hiện công nghiệp hóa, đánh bại phátxít Đức, giành được thắng lợi vĩ đại trong cuộc chiến tranh vệ quốc, và đã có cống hiến lớn trong việc giành thắng lợi trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Điều này không chỉ cho thấy tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, mà cũng cho thấy ông rốt cuộc là một nhà cộng sản kiên định. So sánh giữa sai lầm với thành tích của ông, thì sai lầm chỉ đứng ở vị trí thứ hai. Tóm lại, cần đặt vấn đề của thời kỳ đó vào hoàn cảnh lịch sử lúc đó để khảo sát. Nhìn nhận và phân tích một cách biện chứng những thành tựu và vấn đề tồn tại của thời kỳ Xtalin và thể chế Xtalin, không thể coi nhẹ việc tồn tại vấn đề, càng không thể phủ định sạch trơn. Vì tồn tại một số vấn đề cụ thể mà phủ định sạch trơn thực tiễn vĩ đại của thời kỳ đó, điều này về khách quan tất sẽ tạo cớ cho các thế lực thù địch chống chủ nghĩa cộng sản, chống chủ nghĩa xã hội, là việc khiến cho kẻ thù vui, người thân đau khổ.


Những năm gần đây, người viết đã ba lần thăm Nga, từng có vài cuộc nói chuyện sâu sắc với Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Nga Titarenko. Có một lần, ông từng nói một cách quan tâm với tôi rằng: "Đưa Liên Xô vào nhà xác không phải ai khác, mà là bản thân người Liên Xô chúng tôi. Người Nga chúng tôi coi tai ương của chính mình là sự trả giá đau đón, trở thành Jesus, bước lên đàn tế, tuyên cáo với người đời và lịch sử rằng, "dân chủ hóa", "tư hữu hóa" của Liên Xô hoàn toàn là tuyệt lộ, con đường chết. Một số nước lớn phương Tây chắc chắn vẫn chưa yên tâm, các dân tộc quốc gia khác tuyệt đối không nên đi theo vết xe đổ của chúng tôi. Tôi là đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô, nay vẫn còn giữ thẻ đảng. Nhưng khi Đảng Cộng sản Liên Xô sụp đổ, tôi cũng có thái độ chào đón. Những tai ương to lớn gây ra cho đất nước, dân tộc hơn mười năm qua khiến tôi thường có cảm giác áy náy, nợ nần, chịu tội đối với đất nước và dân tộc chúng tôi".


Năm 2002, khi người viết thăm Nga và trao đối với nhân vật thuộc các giới của Nga, đã đưa ra một chủ đề thế này: "Lấy cống hiến cho quốc gia hoặc dân tộc làm tiêu chuẩn căn bản, nếu như thang điểm tối đa là 10, thì bạn lần lượt cho Lênin, Xtalin, Khrushchev, Gorbachev, Yeltsin và Putin bao nhiêu điểm?" Người viết hỏi tổng cộng 29 nhân vật, trong đó có thị trưởng, hiệu trưởng đại học, bác sĩ, công nhân điện và kế toán nhà máy, bảo vệ khách sạn..., qua kết quả thăm dò thì thấy, tuyệt đại bộ phận có đánh giá cực kỳ cao đối với Lênin và Xtalin, còn đánh giá tương đối thấp, thậm chí cực kỳ thấp đối với Gorbachev, Yeltsin, có người còn nói "cần xử cực hình".


Tháng 12 năm 2009, khi các giới của Nga kỷ niệm 130 năm ngày sinh Xtalin, tuần san Times của Mỹ đưa tin "Tỷ lệ ủng hộ cao Xtalin sống lại ở Nga". Điều tra của Trung tâm nghiên cứu dư luận công cộng Nga cho thấy, 54% số người Nga đánh giá cao tố chất lãnh tụ của Xtalin, còn tỷ lệ số người cho rằng những đánh giá của mình đối với Xtalin trước đây là "sai lầm" thì lên tới 35%1 ("Tại sao người Nga hoài niệm Xtalin", Nhân vật cuối tuần Phương Nam, ngày 1 tháng 3 năm 2010, http://xian.qq.eom/a/20100228/000053.htm).


Trước khi qua đời không lâu, Xtalin từng nói: "Tôi biết, sau khi tôi chết, sẽ có người chất một đống rác to lên mộ tôi. Nhưng ngọn gió của lịch sử nhất định sẽ cuốn những thứ rác rưởi đó đi một cách không thương tiếc"1 ([Liên Xô] F. Truev: Molotov - nhà cầm quyền nắm một nửa quyền lực, bản tiếng Nga, Mátxcơva, 2000, tr.396). Liệu có thể nói thế này không, hiện naỵ, làn gió lịch sử này đã bắt đầu dấy lên, một vài năm sau tất sẽ thổi mạnh hơn.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #15 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2022, 03:56:44 pm »

IV. CẦN PHẢI DÙNG QUAN ĐlỂM, LẬP TRƯỜNG VÀ PHƯƠNG PHÁP DUY VẬT BIỆN CHỨNG VÀ DUY VẬT LỊCH SỬ ĐỂ PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN VÀ BÀI HỌC CỦA SỰ BIẾN LIÊN XÔ

Lịch sử là gì? Lịch sử do thời gian và không gian cấu thành, là sự tồn tại của thời gian và không gian thời quá khứ so với hiện tại. Xét về nghĩa khắt khe, sách vở hoặc sách gọi là "lịch sử" mà chúng ta đọc chỉ là ký ức, ghi chép hoặc nhận thức của nhân vật nhất định trong lịch sử. Những ký ức, ghi chép hoặc nhận thức đó có phải là bộ mặt vô vi có của lịch sử hay không, cái vạch ra có phải là bản chất và quy luật của lịch sử hay không, cần phải phân tích và phân biệt một cách tỉ mỉ. Ngay vào những năm 80 của thế kỷ XIX, Ăngghen đã chỉ ra: "Giai cấp tư sản biến tất cả thành hàng hóa, đối với môn lịch sử cũng vậy. Bản tính của giai cấp tư sản, điều kiện sinh tồn của nó chính là muốn ngụy tạo mọi hàng hóa, do đó cũng muốn ngụy tạo lịch sử. Tác phẩm lịch sử ngụy tạo phù hợp với lợi ích của giai cấp tư sản, thì thù lao nhận được cũng nhiều nhất"2 (Mác - Ăngghen: Toàn tập, Sđd, q.16, tr.573). Tháng 10 năm 1889, Ăngghen lại chỉ ra trong một bức thư: "Cần biết rằng về mặt lý luận còn có rất nhiều việc phải làm... Chỉ có phân tích, lý luận rõ ràng mới có thể chỉ rõ con đường đúng đắn trong thực tế đan xen phức tạp"1 (Mác - Ăngghen: Toàn tập, Sđd, q.37, tr.283). Vì vậy, muốn có được nhận thức bản chất đối với các hiện tượng mông lung, thì cần phải vận dụng quan điểm, lập trường và phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để tiến hành phân tích cụ thể.


Một là, nhất định cần phải đứng trên lập trường lợi ích căn bản của đông đảo nhất quần chúng nhân dân để nghiên cứu. Xét về bản chất, do tình hình cuộc sống và điều kiện sống của mỗi một người trong các mặt của xã hội khác nhau, họ sẽ có những kết luận khác nhau đối với cùng một sự kiện lịch sử lớn. Trong xã hội tồn tại các nhóm người có lợi ích căn bản hoàn toàn khác nhau, đối với vấn đề xã hội mang tính cơ bản nhất, dễ thấy nhất, họ thường có cách nhìn hoàn toàn khác nhau. Những sự kiện mà đông đảo quần chúng nhân dân hoàn toàn coi là nổi dậy và biến động lớn cũng sẽ bị một số người khác gọi là "cách mạng" hoặc "giành tự do". Lênin từng trích dẫn một câu cách ngôn thế này: "Bất kỳ công lý nào nếu như đụng chạm đến lợi ích của mọi người, thì cũng nhất định sẽ bị phản bác"2 (Lênin: Tuyển tập, Sđd, q.2, tr.1). Vì vậy, trước khi loài người thực hiện đại đồng, do nhận thức của mọi người khác nhau, đặc biệt là lợi ích căn bản mà họ đại diện khác nhau, kết luận đối với nguyên nhân và bài học việc Đảng Cộng sản Liên Xô sụp đổ, Liên Xô giải thể sẽ luôn có sự trình bày khác nhau, thậm chí tranh luận gay gắt và sẽ không hoàn toàn thống nhất. Thế nhưng, liệu có phải là không có kết luận thống nhất hoàn toàn, thì sẽ không tồn tại một kết luận chính xác, lý trí? Không, kiểu thuyết tương đối và chủ nghĩa chiết trung cái này cũng đúng, cái kia cũng phải đó không thể đứng vững trong dòng chảy dài của lịch sử. Toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân, đại diện cho lợi ích căn bản của đông đảo nhất quần chúng nhân dân là tính chất và tôn chỉ của tất cả các đảng cộng sản chân chính trên thế giới, cũng là giá trị quan mãi mãi không thay đổi của tất cả những người cộng sản chân chính trên thế giới, bao gồm cả học giả và đảng viên. Vì vậy, chúng ta chỉ có thể đứng trên lập trường lợi ích căn bản của đông đảo nhất quần chúng nhân dân để nghiên cứu nguyên nhân và bài học của Đảng Cộng sản Liên Xô sụp đổ, Liên Xô giải thế, chứ không thể đứng trên các lập trường khác, nhất là lập trường đối lập với đông đảo nhất quần chúng nhân dân, để nghiên cứu. Nếu như đứng trên các lập trường khác, đặc biệt là lập trường đối lập với lập trường của đông đảo nhất quần chúng nhân dân để nghiên cứu, thì sẽ không thể có được một kết luận thống nhất với lợi ích căn bản của đông đảo nhất quần chúng nhân dân. Đối với các cách giải thích khác nhau về nguyên nhân căn bản của Đảng Cộng sản Liên Xô sụp đổ, Liên Xô giải thể, về bản chất đều phản ánh trực tiếp hoặc gián tiếp lập trường nghiên cứu khác nhau của các nhà nghiên cứu khác nhau.


Hai là, nhất định cần phải dùng thực tiễn xã hội làm tiêu chuẩn duy nhất kiểm nghiệm chân lý để nhận định. Chúng ta thường nói thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất kiểm nghiệm chân lý, phía sau của thực tiễn nói ở đây đã lược bỏ bớt hai chữ "xã hội". Điều này cũng tức là nói, thực tiễn mà chúng ta nói tuyệt đối không phải là thực tiễn trong một thời gian ngắn của cá biệt người, cá biệt tập đoàn chính trị hay tập đoàn xã hội. Thực tiễn nói ở đây, chủ thể của nó là chỉ hàng trăm triệu người, thời gian của nó là chỉ độ vượt thời gian nhất định. Đây là giá trị quan mãi mãi không thay đổi của những người cộng sản. Có người luôn nói rằng, nguyên nhân căn bản của Đảng Cộng sản Liên Xô sụp đổ, Liên Xô giải thể là do thể chế của Liên Xô. Chúng ta hãy xem những sự thực trong thực tiễn, thì sẽ không khó để có được kết luận chính xác. Mọi người đều biết, thể chế kinh tế kế hoạch của Liên Xô bắt đầu vào thời kỳ cuối những năm 20 của thế kỷ XX, trong quãng thời gian khoảng 50 năm kể từ đó đến năm 1975, tốc độ phát triển kinh tế của Liên Xô là rất nhanh. Bất kể chúng ta dùng số liệu thống kê chính thức của Liên Xô, hay là số liệu của phương Tây, đều có thể chứng minh được tốc độ phát triển kinh tế Liên Xô thời kỳ này vượt trên tất cả các nước tư bản chủ nghĩa trừ Nhật Bản. Mà tiền đề của phát triển kinh tế Liên Xô là "thực hiện công bằng xã hội lớn nhất". Về điểm này, các nước tư bản chủ nghĩa càng không làm được. Do đã thực hiện chế độ xã hội chủ nghĩa, đã xây dựng thể chế kinh tế  xã hội chủ nghĩa ngay từ trước và sau năm 1940, nên Liên Xô đã từ một nước nông nghiệp lạc hậu biến thành một nước công nghiệp hóa tiên tiến. Theo một thống kê của phương Tây, tỷ lệ nhập khẩu máy cái công nghiệp của Liên Xô những năm 1930 lên tới 85% - 90%. Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu, toàn bộ những sản phẩm này đều do Liên Xô tự sản xuất. Điều này đã phản ánh sự tiến bộ của công nghiệp và kỹ thuật của Liên Xô. Tất nhiên, điều này cũng không có nghĩa là nói, thể chế kinh tế  kế hoạch mà Liên Xô xây dựng không tồn tại khuyết điểm và vấn đề. Thực tiễn đang tiếp diễn, nhận thức cũng đang tiếp diễn, lại trải qua thực tiễn của phong trào xã hội chủ nghĩa thế giới trong nhiều năm, nên chúng ta có đủ tự tin hơn, sẽ nhìn càng rõ hơn nguyên nhân và bài học của Đảng Cộng sản Liên Xô sụp đổ, Liên Xô giải thể.


Từ 9 giờ sáng đến hơn 2 giờ chiều 20 tháng 9 năm 2003, tại Đại sứ quán Trung Quốc ở Mátxcơva, người viết đã có cuộc nói chuyện với nhà sử học người Nga Medvedev, kéo dài chẵn 5 tiếng đồng hồ. Ông ta nói: "Ngày 11 tháng 9 năm 2001 tròn 30 năm ngày Khrushchev qua đời. Để tìm hiểu tình cảm và đánh giá của mọi người đối với Khrushchev, ngay từ sáng sớm, tôi đã vội tới mộ của Khrushchev ở nghĩa trang Novodevichy. Tôi thấy từ sáng đến tối, tổng cộng có 46 người đến viếng, nhưng toàn là họ hàng của Khrushchev, không có một người ngoài nào khác. Điều này có thể phản ánh sự đánh giá của người dân Nga hiện nay đối với Khrushchev. Còn Lênin, Xtalin, Brezhnev và Andropov đều có người tưởng nhớ họ". Người viết nghĩ, nhân dân là công bằng, thực tiễn xã hội là công bằng.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #16 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2022, 03:58:00 pm »

Ba là, nhất định cần nhìn nhận bản chất qua hiện tượng. Chủ nghĩa Mác cho rằng, hiện tượng là biểu hiện bên ngoài của bản chất, bản chất là mối liên hệ bên trong của hiện tượng. Có lúc, hiện tượng phản ánh hoàn toàn bản chất; có lúc, hiện tượng phản ánh một phần bản chất; có lúc, hiện tượng che giấu hoàn toàn bản chất. Vì vậy, chúng ta cần nhận rõ tính chất của sự vật, chỉ dựa vào trực giác và nhận thức cảm tính thì không ổn, cần phải thông qua hiện tượng, nâng lên thành tư duy lý trí, như thế mới có thể nắm được bản chất và quy luật của sự vật. Khi trình bày đấu tranh giai cấp ở Pháp năm 1848 - 1850, Mác nói: "mỗi một chương tiết tương đối quan trọng trong biên niên sử cách mạng 1848 - 1850, đều chụp một tiêu đề: Cách mạng thất bại! Những cái diệt vong trong những thất bại này không phải là cách mạng, mà là tàn dư truyền thống trước cách mạng"1 (Mác - Ăngghen: Tuyển tập, Sđd, q.1, tr.376). Tương tự, chúng ta có thể rút ra một kết luận thế này: Cái thất bại trong sự biến Liên Xô - Đông Âu trước và sau năm 1991 không phải là chủ nghĩa Mác, mà là một thứ chủ nghĩa giáo điều khác một mực theo phương Tây bắt đầu từ Khrushchev dần dần xa rời, đi ngược lại, cho đến Gorbachev cuối cùng đã phản bội chủ nghĩa Mác; cái thất bại không phải là chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa xã hội "mô hình Xtalin", mà là chủ nghĩa tư bản với hình thức khác bắt đầu từ Khrushchev dần dần xa rời, đi ngược lại cho đến Gorbachev cuối cùng phản bội lại chủ nghĩa xã hội; cái thất bại không phải là đội tiên phong của giai cấp vô sản chân chính và theo nghĩa vốn có - Đảng Cộng sản Liên Xô, mà là chính đảng của giai cấp tư sản bắt đầu từ Khrushchev dần dần xa rời, đi ngược lại cho đến Gorbachev cuối cùng phản bội lại chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa xã hội và quần chúng nhân dân, về bản chất đã hoàn toàn thoái hóa, biến chất. Đối với Đảng Cộng sản Liên Xô thời kỳ Xtalin mà nói, sai lầm về lý luận của nó chủ yếu là cứng nhắc, giáo điều. Nhưng đối với Đảng Cộng sản Liên Xô thời kỳ bắt đầu từ Khrushchev cho đến Gorbachev, xét về hình thức và biểu hiện bên ngoài, tuy cũng có không ít thứ cứng nhắc và giáo điều, nhưng bản chất của nó đã bắt đầu dần dần biến chất cho đến cuối cùng hoàn toàn thay đổi.


Tất nhiên, Gorbachev cũng từng rêu rao mình là người theo chủ nghĩa xã hội. Chúng ta có thể nhìn lại lịch sử, trong thời kỳ cách mạng dân chủ tư sản, các nước trên thế giới có hàng chục nhóm và phe phái đều tự xưng là "chủ nghĩa xã hội", thế nhưng chỉ trong vòng 10, 20 năm ngắn ngủi, thậm chí trong thời gian ngắn hơn, lịch sử đã nhanh chóng vạch rõ nguyên hình của chúng. Việc vạch rõ nguyên hình của Gorbachev thì chỉ trong thời gian ngắn hơn, 3-5 năm. Nhận định bản chất của bất kỳ người nào, bất kỳ chính đảng nào, không phải là xem bộ quần áo đẹp đẽ mà bản thân anh ta mặc, không phải là xem bản thân anh ta đặt cho mình cái tên đẹp, mà là xem hành vi của anh ta ra sao, xem về bản chất cái mà anh ta tuyên truyền là gì. Chủ nghĩa Mác cứng nhắc, giáo điều không phải là chủ nghĩa Mác. Vì vậy có thể nói, Đảng Cộng sản Liên Xô sụp đổ, Liên Xô giải thể không phải là sự thất bại của chủ nghĩa Mác. Chủ nghĩa xã hội thời kỳ Xtalin vẫn là tính chất xã hội chủ nghĩa, vì vậy, Đảng Cộng sản Liên Xô sụp đổ, Liên Xô giải thể không phải là sự thất bại của chủ nghĩa xã hội khoa học, trong đó có cả chủ nghĩa xã hội thời kỳ Xtalin. Từ sau khi tập đoàn lãnh đạo Khrushchev lên nắm quyền, nguyên nhân và kết quả, trước hết biểu hiện thành tính độc lập, tính bài xích của chúng. Ví dụ, trong đảng cầm quyền là Đảng Cộng sản Liên Xô có vấn đề, do nguyên nhân này dẫn đến kinh tế của Liên Xô không phát triển tốt, mâu thuẫn xung đột dân tộc, tranh bá với Mỹ..., chứ quyết không thể đảo lộn quả thành nhân hay nhân thành quả, cho rằng do kinh tế không phát triển tốt nên trong Đảng có vấn đề. Tiếp đến, nguyên nhân và kết quả lại biểu hiện thành tính thống nhất của chúng. Chúng tồn tại với nhau, và trong điều kiện nhất định chuyển hóa lẫn nhau. Ví dụ, sự vật đã có đủ nguyên nhân và điều kiện tiền đề nhất định, thì tất yếu nảy sinh kết quả nhất định. Sự biến "cơn bão'' mà Liên Xô thu được trước và sau năm 1991 chính là kết quả của làn gió phủ định sạch trơn Xtalin do Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô gieo rắc và không ngừng phát triển. Sự xuất hiện của tầng lớp đặc quyền trong Đảng của Liên Xô vừa là kết quả của việc tập đoàn Khrushchev bắt đầu xa rời, phản bội lại chủ nghĩa Mác, quần chúng nhân dân tại Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô, vừa xuất phát từ nguyên nhân của việc quần chúng nhân dân mất lòng tin hơn nữa đối với Đảng Cộng sản Liên Xô, cũng như nguyên nhân của việc cuối cùng đã hình thành một loạt đường lối và chính sách sai lầm về tư tưởng, về chính trị.


Sáu là, nhất định cần phải nâng nhận thức đối với sự vật cuối cùng lên thành lý luận, thành nhận thức đối với tính quy luật của sự vật. Sự thực lớn về sự biến Liên Xô - Đông Âu buộc chúng ta phải có một đợt nghiên cứu mới đối với lịch sử của nó. Điều này đòi hỏi phải làm nhiều công tác về mặt lý luận. Bởi vì chỉ có phân tích lý luận rõ ràng mới có thể tìm được câu trả lời chính xác trong mớ sự thực rối rắm, phức tạp. Tổng kết bài học của việc Liên Xô giải thể, xét về ý nghĩa nhất định, có thể thấy được một cái mạch rõ ràng thế này: Nguyên nhân chủ yếu của việc Liên Xô giải thể là từ bên trong Đảng Cộng sản Liên Xô, trong các vấn đề tồn tại trong Đảng, vấn đề về lý luận là khởi nguồn. Một nguyên nhân hết sức quan trọng của việc xuất hiện vấn đề về lý luận là ở trình độ lý luận của lãnh đạo chủ chốt của Đảng, trình độ lý luận thấp thì tất yếu dẫn đến sự dao động của người đó đối với niềm tin lý tưởng cộng sản. Nhìn lại lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô, Lênin là nhà mácxít kiên định, tỉnh táo và vĩ đại; lý luận của Đảng thời kỳ Xtalin từng có vấn đề, nhưng vấn đề xảy ra vẫn là sai lầm mà nhà mácxít vĩ đại phạm phải. Đến thời kỳ Khrushchev, lý luận của Đảng bắt đầu có sự thay đổi về chất; từ Khrushchev đến Brezhnev rồi đến Gorbachev, từng bước hoàn thành việc xa rời, đi ngược lại, phản bội lại chủ nghĩa Mác về lý luận, vì vậy cuối cùng dẫn đến Đảng Cộng sản Liên Xô sụp đổ, Liên Xô giải thể.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #17 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2022, 03:58:51 pm »

Một số năm trước, khi trao đối với nhà kinh tế học người Mỹ Lester Thurow, người viết có hỏi ông ta về nguyên nhân của Liên Xô giải thể. Ông ta nói: "Trước và sau khi Liên Xô giải thể, tôi đang ở Mátxcơva. Nguyên nhân căn bản của việc Liên Xô giải thể là Gorbachev đã mất đi niềm tin đối với chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa cộng sản". Người viết không hiểu. Ông ta lại giải thích: "Thử nghĩ, Giáo hoàng Paul Đệ nhị hôm nay tuyên bố không có Thượng đế, thì thế giới Cơ đốc giáo ngày mai sẽ như thế nào?!". Phải nói rằng, ông ta rất có lý.


Nói khởi nguồn của diễn biến Liên Xô là từ lý luận trong nội bộ đảng của Đảng Cộng sản Liên Xô, vậy thì, liệu có thể nói thế này không: Nguyên nhân cuối cùng của mọi biến động lịch sử nên chăng phải tìm kiếm trong tư tưởng luôn biến động của mọi người? Không phải. Chủ nghĩa Mác chỉ rõ cho chúng ta rằng: Cần luôn luôn đứng trên nền tảng của lịch sử hiện thực, không phải là xuất phát từ quan niệm để giải thích thực tiễn, mà là xuất phát từ thực tiễn vật chất để giải thích các quan niệm. Ở đây có ba điểm hết sức đáng chú ý. Thứ nhất, chủ nghĩa xã hội Liên Xô không phải là vô cớ sinh ra, nó được ấp ủ, đột biến trên cơ sở nước Nga cũ. Nước Nga cũ di truyền cho nước Nga Xôviết lực lượng sản xuất, tiền vốn và môi trường xã hội nhất định, từ đó quy định sự phát triển nhất định của nó và có tính chất đặc thù của nó. Ví dụ, nền sản xuất hàng hóa, trao đổi tiền tệ không thể bỏ qua, cũng như tiền lương cao cần phải trả để mua lấy sở trường của một số người... Thứ hai, tác động và ảnh hưởng của phương thức sản xuất, hệ thống sản xuất lớn mạnh của phương Tây đứng đầu là Mỹ. Trong những năm tháng chiến tranh, mọi người dựa vào niềm tin kiên định, kiên trì sự phấn đấu ngoan cường. Trong thời kỳ hòa bình, trong quá trình giao lưu chủ động và bị động với thế giới phương Tây đứng đầu là Mỹ, mặc dù về sức mạnh tổng hợp quốc gia, Liên Xô có thể sánh ngang với Mỹ, nhưng do chế độ sở hữu, phương thức phân phối cũng như lối sống khác nhau, khiến cho một bộ phận của cái gọi là giới tinh anh xã hội Liên Xô nảy sinh tình cảm "mến mộ" sâu sắc đối với việc một số ít người trong thế giới phương Tây chiếm hữu tuyệt đại bộ phận của cải. Thứ ba, tác động của của cải vật chất, tức tiền bạc, lớn mạnh nằm trong tay của phương Tây, đứng đầu là Mỹ. Mác nói: "Mũi dao nhọn đâm phải vấn đề 'kinh tế' sắc bén sẽ trở nên mềm như bấc đèn"1 (Mác - Ăngghen: Toàn tập, Sđd, q.5, tr.543). Ăngghen đưa ra nhận định rõ ràng thế này: "Toàn bộ sức mạnh của giai cấp tư sản được quyết định bởi tiền bạc"2 (Mác - Ăngghen: Toàn tập, Sđd, q.2, tr.647). Ngay từ tháng 12 năm 1918, trong "Bài phát biểu tại Đại hội đại biểu lần thứ 3 Hợp tác xã công nhân", Lênin chỉ ra, cơn sốt Wilson của Mỹ "đôla rất nhiều, có thể mua được toàn bộ nước Nga, toàn bộ Ấn Độ, thậm chí toàn bộ thế giới"3 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.35, tr.346). Lênin còn chỉ ra, "mua về" chính là mấu chốt của toàn bộ vấn đề.


Năm 1920, Lênin lại chỉ ra: "Chủ nghĩa tư bản hiện nay đã phân chia thành một số cực ít nước đặc biệt giàu mạnh (dân số của chúng không đến 1/10 dân số thế giới, cho dù tính toán 'rộng tay' nhất và phóng đại nhất, cũng chưa tới 1/5), họ chuyên dựa vào 'cắt séc' để cướp đoạt toàn bộ thế giới"; "kiểu lợi nhuận siêu ngạch số lượng lớn này (bởi vì nó có được ngoài lợi nhuận mà nhà tư bản "vắt" được từ người công nhân đất nước 'mình') có thể dùng để mua lãnh tụ công nhân và tầng lớp trên của quý tộc công nhân"; "Tầng lớp công nhân đã tư sản hóa này tức là tầng lớp 'công nhân quý tộc'... "giờ đây chính là trụ cột xã hội chủ yếu của giai cấp tư sản (không phải là trụ cột quân sự)'', "bởi vì giai cấp tư sản này là người đại diện chân chính trong phong trào công nhân". "Nếu như không hiểu được cội nguồn kinh tế của hiện tượng này, nếu như không nhận thức đầy đủ ý nghĩa chính trị và ý nghĩa xã hội của hiện tượng này, vậy thì sẽ không thể tiến được một bước nào trong việc giải quyết nhiệm vụ thực tiễn của phong trào cộng sản và cách mạng xã hội sắp tới"1 (Lênin: Tuyển tập, Sđd, q.2, tr.581-582). Những trình bày này của Mác - Ăngghen và Lênin khiến người ta phải suy nghĩ sâu sắc. Các cường quốc phương Tây không những dùng đôla để mua lấy tầng lớp trên là lãnh tụ công nhân và quý tộc công nhân của nước mình, hơn nữa lại càng chú trọng tới việc mua lấy những '"nhân vật mấu chốt" của các quốc gia khác. Phương thức mua cũng nhiều kiểu nhiều loại. Theo trợ lý của Gorbachev nhớ lại nói, Gorbachev lên nắm quyền không lâu, thì nhận được nhiều tiền thưởng, tặng thưởng, nhuận bút từ phương Tây, trong tài khoản cá nhân của ông ta rất nhanh đã có hơn một triệu đôla Mỹ2 ([Liên Xô] V. Boldin: Lịch sử thăng trầm của Gorbachev, Nxb. Biên dịch Trung ương, 1996, tr.4). Ngày 20 tháng 9 năm 2003, khi người viết nói chuyện với nhà sử học, nhà chính luận Medvedev tại Mátxcơva, ông ta nói: "Chắc chắn rằng, cá nhân Gorbachev và Yeltsin đã cầm không ít tiền của phương Tây. Một cuốn sách dày của tôi xuất bản ở Anh được 2.000 bảng Anh tiền nhuận bút; xuất bản ở Mỹ, được 10.000 đôla Mỹ. Theo như tôi biết, một cuốn sách nhỏ rất mỏng của vợ Gorbachev là Raisa, xuất bản ở Mỹ, nhưng lại được 3 triệu đôla tiền nhuận bút. Cuốn sách đầu tiên của Yeltsin xuất bản ở Cộng hòa liên bang Đức thì được 400.000 mác Đức; xuất bản ở Anh, được 100.000 bảng Anh". Chúng tôi hoàn toàn có thể nói thế này, đồng đôla Mỹ đã đóng vai trò tương đối quan trọng trong hối lộ tầng lớp đặc quyền Liên Xô trong việc Đảng Cộng sản Liên Xô sụp đổ, Liên Xô giải thể; sự cổ xuý và mua chuộc của phương Tây là một trong những động lực ban đầu để Gorbachev và Yeltsin hoàn toàn phản bội lại sự nghiệp xã hội chủ nghĩa Liên Xô; "những người như Gorbachev và Yeltsin" xuất hiện trong Đảng Cộng sản Liên Xô, cũng là kết quả của việc toàn bộ thế giới phương Tây đứng đầu là Mỹ mua chuộc. Lênin chỉ ra: "Giai cấp là những tập đoàn người mà tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế, xã hội nhất định"1 (Lênin: Tuyển tập, Sđd, q.4, tr.11).


Xét từ ý nghĩa này, "những người như Gorbachev và Yeltsin" dựa vào phương thức bán rẻ lợi ích căn bản của đất nước, dân tộc và nhân dân, và chiếm hữu không chính đáng lao động của đất nước, dân tộc và nhân dân. Ba điểm nói trên có thể nói là nguồn gốc kinh tế của việc nảy sinh ý thức hệ giai cấp tư sản xã hội xã hội chủ nghĩa Liên Xô, nhất là bên trong Đảng Cộng sản Liên Xô cầm quyền. Qua phân tích lý luận, chúng ta có thể thấy rõ rằng, một bộ sử Đảng Cộng sản Liên Xô sụp đổ, Liên Xô giải thể, cũng là một bộ sử đấu tranh giai cấp, hơn nữa là một bộ sử đấu tranh giai cấp dưới hình thức đặc thù.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #18 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2022, 03:59:52 pm »

V. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHÚNG TA CẦN TIẾP THU TỪ SỰ KIỆN LIÊN XÔ GIẢI THỂ, ĐẢNG CỘNG SẢN LIÊN XÔ SỤP ĐỔ

Liên Xô giải thể, Đảng Cộng sản Liên Xô sụp đổ là sự kiện nổi bật nhất trong phong trào cộng sản quốc tế thế kỷ XX. Tổng kết và phân tích lớn nhất này, chúng ta tối thiểu cần rút ra những bài học kinh nghiệm dưới đây.

Thứ nhất, cần phải kiên trì coi trọng cao độ công tác lý luận tư tưởng của Đảng, chống lại một cách chính xác và kịp thời các loại chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa kinh nghiệm. Lý luận hết sức quan trọng. Lý luận đúng đắn thì Đảng sẽ kiên cường, chính sách sẽ đúng đắn, tư tưởng sẽ thống nhất, kinh tế sẽ phát triển, xã hội sẽ ổn định. Nếu ngược lại thì Đảng sẽ tan tác, chính sách sẽ sai lầm, tư tưởng sẽ hỗn loạn, kinh tế sẽ đình trệ thậm chí thụt lùi, xã hội sẽ chao đảo. Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng. Xét từ một góc độ khác, lý luận sai lầm tất yếu nảy sinh hành động sai lầm. Lý luận đúng đắn là sự dẫn đường của cách mạng, lý luận sai lầm là sự dẫn đường của sụp đổ diệt vong. Sự thể hiện căn bản của việc coi trọng lý luận chính là ở chỗ dám biết kết hợp giữa nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác với thực tế nước mình và sự phát triển của thời đại, luôn luôn nắm bắt phương hướng đúng đắn trong tình hình không ngừng xuất hiện tình thế mới, tình hình mới, vấn đề mới. Điều này cần phải chống lại một cách kịp thời, chính xác các loại chủ nghĩa giáo điều. Chỉ học thuộc những câu chữ liên quan của chủ nghĩa Mác, bất kể tình hình và điều kiện cụ thể thay đổi thế nào vẫn cứ bê nguyên xi, chúng ta có thể gọi đó là "giáo điều Đông"; lấy cớ tình hình và điều kiện thay đổi, phủ định và vứt bỏ nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác, nhưng lại coi các loại lý luận của phương Tây là sáng suốt như thần, tiến hành "tư duy" và "sáng tạo" theo lý luận của phương Tây, chúng ta có thể gọi đó là "giáo điều Tây"; cho rằng lý luận chủ nghĩa Mác và lý luận phương Tây đều không phù hợp với thực tế của Trung Quốc, chủ trương tìm lối thoát từ văn hóa truyền thống như đạo Nho của Trung Quốc và lấy đó làm chỉ đạo, chúng ta có thể gọi đó là "giáo điều cổ". Bất luận là "giáo điều Đông", "giáo điều Tây" hay "giáo điều cổ", đều là những thứ mà chúng ta kiên quyết phản đối. Trong bất cứ lúc nào, bất cứ tình hình nào, chúng ta đều cần phải chống chủ nghĩa kinh nghiệm, đều quyết không thể coi nhẹ lý luận. Nếu như cho rằng lý luận đúng đắn là những thứ trống rỗng, không có tác dụng thực tế chỉ có những kinh nghiệm thực tế mà mình tích luỹ được mới đáng tin cậy, thì sớm hoặc muộn tất yếu sẽ phải nếm trái đắng của việc coi nhẹ lý luận. Ba loại chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa kinh nghiệm nói trên, trong các thời điểm khác nhau, tình hình khác nhau sẽ có các loại biểu hiện khác nhau, nhưng trong thời điểm nhất định, tình hình nhất định, thường sẽ lấy khuynh hướng sai lầm làm chính. Chúng ta cần căn cứ vào sự thay đổi không ngừng của tình hình, kịp thời điều chỉnh các chính sách liên quan. Nếu không, trong quá trình chống các loại chủ nghĩa giáo điều hoặc chủ nghĩa kinh nghiệm, chúng ta sẽ bị rơi vào cái ổ của một loại chủ nghĩa giáo điều hoặc chủ nghĩa kinh nghiệm khác.


Thứ hai, cần phải kiên trì, luôn luôn đặt quyền lãnh đạo tối cao vào tay những người trung thành với chủ nghĩa Mác, chính đảng của giai cấp vô sản, quốc gia và dân tộc, và luôn luôn coi trọng cao độ việc bồi dưỡng từng lớp, từng lớp người kế cận sự nghiệp cách mạng vô sản với cơ cấu độ tuổi hợp lý. Xét từ chủ nghĩa duy vật lịch sử, bất kỳ sự kiện lớn nào và hậu quả của nó đều không phải là ý chí của bất kỳ một cá nhân nào có thể chuyển dịch được. Điều này là vì, nguyên nhân cuối cùng của diễn tiến lịch sử loài người là do sự phát triển của lực lượng sản xuất quyết định, và môi trường lịch sử mà lực lượng sản xuất của các nước khác nhau dựa vào để tiến hành cũng có tác động đối với nó, từ đó khiến cho phát triển lịch sử của các nước khác nhau có các đặc điểm khác nhau. Ngoài ra, mỗi một thời đại xã hội nhất định đều cần có nhân vật tiêu biểu nhất định của mình, nếu như không có những nhân vật đó, nó cũng sẽ tạo ra những nhân vật như vậy. Lênin và Xtalin là những đại diện nổi bật của lợi ích căn bản của giai cấp vô sản và đông đảo quần chúng nhân dân, còn nhân vật nhất định như Gorbachev xuất hiện ở Liên Xô vào giữa những năm 80 của thế kỷ XX, xét từ ý nghĩa nhất định, đây thuần túy là một hiện tượng ngẫu nhiên. Thế nhưng, tất yếu thường ngẫu nhiên vạch ra lối đi. Điều này là vì, "chủ nghĩa cơ hội không phải là hiện tượng ngẫu nhiên, không phải là tội ác, sai lầm và phản bội của nhân vật cá biệt, mà là sản phẩm xã hội của cả thời đại lịch sử"1 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.26, tr.264-265). Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô và điều kiện xã hội sau đó đã quyết định lúc này không xuất hiện một Gorbachev, thì cũng tất yếu sẽ xuất hiện những người thay thế khác. Lịch sử đã sớm chứng minh rằng, cuộc đấu tranh cách mạng vĩ đại sẽ tạo ra nhân vật vĩ đại; còn lội ngược dòng lịch sử, thì sẽ đưa ra những nhân vật phản nghịch. Những người như Gorbachev và Yeltsin là những đại diện của lực lượng xã hội trong Đảng Cộng sản Liên Xô và trong xã hội mấy chục năm hòng cuối cùng xác lập chế độ tư hữu tư liệu sản xuất ở Liên Xô, là đại diện của giai cấp tư sản lũng đoạn phương Tây đứng đầu là Mỹ trong lực lượng của Đảng Cộng sản Liên Xô. Động cơ mà những người như Gorbachev và Yeltsin cuối cùng muốn tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản ở Liên Xô tuyệt đối không phải là ước muốn cá nhân vụn vặt của họ, mà là do trào lưu lịch sử mà họ ở trong đó quyết định. Chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng, đường đi quanh co, nhưng tiền đồ sáng sủa. Nhưng quanh co sẽ không tự mất đi, sáng sủa sẽ không tự động đến. Hai đội quân đối mặt nhau, tướng ngồi trấn, xét về ý nghĩa nhất định, cuộc đọ sức giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản là cuộc đọ sức giữa những lãnh tụ đại diện của lực lượng chính trị mỗi bên. Giai cấp tư sản hết sức coi trọng đào tạo và tuyển chọn những nhân vật đại diện của mình, giai cấp vô sản và quần chúng nhân dân chúng ta càng cần phải chú trọng đào tạo và tuyển chọn những nhân vật đại diện, nhất là nhân vật lãnh tụ cho sự nghiệp của mình. Chỉ có như thế, chúng ta mới có thể thúc đẩy lịch sử không ngừng tiến lên trong sự quanh co, vượt qua nhiều cuộc đấu tranh khó khăn gian khổ, cuối cùng chôn vùi lối sống đi ngược lại trào lưu lịch sử.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #19 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2022, 04:01:39 pm »

Cuối tháng 4 năm 2010, người viết lại một lần nữa dẫn đầu đoàn đại biểu thăm Nga và tiến hành tọa đàm với đại biểu Đảng Cộng sản Nga tại Đuma quốc gia Nga. Tham gia tọa đàm có Lukyanov, nguyên ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Bí thư Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Chủ tịch Xôviết tối cao Liên Xô, hiện là Chủ tịch ủy ban cố vấn Trung ương Đảng Cộng sản Nga. Khi nói tới trách nhiệm của Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô và nhân tố phương Tây trong quá trình Liên Xô giải thể, ông ta trích dẫn từng câu, từng chữ trong bài diễn giảng công khai mà nguyên Thủ tướng Anh Thatcher phát biểu với một loạt các chuyên gia luyện dầu và hóa dầu Liên Xô tại Houston khi đang ở thăm Houston. Thatcher lúc đó mới thôi giữ chức được hơn một năm, bà ta từng học chuyên ngành hóa ở trường đại học. Thatcher nói: "Liên Xô là một quốc gia tạo nên sự uy hiếp nghiêm trọng đối với phương Tây. Tôi nói ở đây không phải là uy hiếp quân sự. Xét về bản chất, uy hiếp về mặt quân sự không tồn tại. Các quốc gia chúng ta đây có trang thiết bị tinh vi, bao gồm cả vũ khí hạt nhân. Cái tôi nói đến là uy hiếp về mặt kinh tế. Nhờ vào chính sách kế hoạch, cộng thêm kết hợp giữa các biện pháp kích thích về tinh thần và vật chất độc đáo, chỉ tiêu phát triển kinh tế của Liên Xô rất cao. Tỷ lệ tăng trưởng tổng giá trị sản phẩm quốc dân của họ trước đây cao gấp đôi chúng ta. Nếu như lại tính đến cả nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú của Liên Xô, nếu như vận hành kinh doanh hợp lý, thì Liên Xô hoàn toàn có thể đánh bật chúng ta ra khỏi thị trường thế giới. Vì vậy, chúng ta luôn áp dụng hành động nhằm làm suy yếu kinh tế Liên Xô, tạo ra vấn đề nội bộ của họ". "Biện pháp chủ yếu là kéo họ vào chạy đua vũ trang". "Một mặt khác trong chính sách của chúng ta là lợi dụng những lỗ hổng trong Hiến pháp Liên Xô. Về hình thức, Hiến pháp Liên Xô cho phép bất kỳ một nước cộng hòa nào đã gia nhập liên bang (chỉ cần dựa vào đa số đơn giản của Xôviết tối cao nước cộng hòa) chỉ cần có ý muốn thì lập tức có thể nhanh chóng tách khỏi Liên Xô. Tất nhiên, do tác dụng tập hợp của Đảng Cộng sản và các cơ quan quyền lực, trong một thời gian dài quyền lợi này trên thực tế rất khó thực hiện. Nhưng lỗ hổng trong Hiến pháp này vẫn để lại khả năng tương lai cho việc thực hiện chính sách của chúng ta". "Điều đáng tiếc là, bất luận chúng ta cố gắng thế nào, tình hình chính trị của Liên Xô vẫn giữ được hết sức ổn định trong một thời gian dài". "Từ đó chúng ta rơi vào cảnh khó khăn. Thế nhưng, rất nhanh lại nhận được tin tình báo nói rằng sau khi lãnh tụ Liên Xô từ trần, người mà chúng ta giúp đỡ có thể sẽ kế nhiệm, nhờ ông ta chúng ta có thể thực hiện được ý tưởng của mình. Đây là ý kiến đánh giá của chuyên gia cố vấn của tôi (xung quanh tôi luôn có một đội ngũ cố vấn rất chuyên nghiệp về các vần đề của Liên Xô, tôi cũng căn cứ nhu cầu mà thúc đẩy và thu hút những người có tác dụng đối với chúng ta ra nước ngoài định cư). Người đó chính là Gorbachev. Các cố vấn của tôi đánh giá người này là: Thiếu cẩn thận, dễ bị xỏ mũi, cực kỳ thích hư vinh. Ông ta có quan hệ tốt với đại đa số các nhân vật nổi tiếng trong chính giới Liên Xô, vì vậy, thông qua sự giúp đỡ của chúng ta, ông ta có thể nắm được đại quyền". "Giữa các chuyên gia cố vấn đã tranh luận gay gắt, bất đồng ý kiến lớn về vấn đề sau đây: Liệu có tiến cử Yeltsin làm lãnh tụ của "Mặt trận nhân dân" hay không, từ đó chọn ông ta vào Xôviết tối cao Liên bang Nga, tiếp đến trở thành nhà lãnh đạo Nga (nhằm đối kháng với nhà lãnh đạo Liên Xô Gorbachev). Ý kiến của đa số người trong ban cố vấn là phản đối việc giới thiệu Yeltsin, tính đến quá trình từng trải trước đây và đặc điểm cá tính của ông ta". "Thế nhưng, qua nhiều lần tiếp xúc và ước hẹn, về sau vẫn quyết định "đưa ra" Yeltsin". "Trong thời gian sự kiện ngày 19 tháng 8 năm 1991, chúng ta cũng cho Yeltsin sự ủng hộ cực kỳ lớn". "Như thế, trên thực tế nay Liên Xô đã giải thể, thế nhưng về pháp luật Liên Xô vẫn tồn tại. Tôi có trách nhiệm nói với các bạn rằng, chỉ cần chưa đầy một tháng nữa các bạn sẽ nghe được tin Liên Xô giải thể về mặt pháp luật"1 (Người ghi: Pavlov, http://www.contrtv.ru/print/2025A http://derzava. com/art-đesc.php? aid = 425). Quả nhiên, ngày 8 tháng 12 năm 1991, Tổng thống Nga Yeltsin, Tổng thống Ucraina Kravchuk cùng Chủ tịch Xôviết tối cao Bêlarút Shushkevich đã ký Thỏa thuận về việc thành lập Cộng đồng các quốc gia độc lập tại khu rừng Belovezh, việc này trên thực tế đánh dấu việc một trong những quốc gia lớn mạnh nhất trên thế giới - Liên Xô - đã giải thể, việc này chỉ cách bài diễn giảng của Thatcher có 20 ngày. Ngày 25 tháng 12 năm 1991, Liên Xô chính thức giải thể, việc này cũng chỉ cách bài diễn giảng của Thatcher một tháng lẻ bảy ngày. Điều này lại một lần nữa cho thấy, giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản không những đặc biệt chú ý tới việc đào tạo người kế cận của mình, hơn nữa đặc biệt chú ý đào tạo người đại diện của mình trong giai cấp vô sản và nội bộ các nước xã hội chủ nghĩa. Điều này cũng lại một lần nữa cho thấy  tầm nhìn xa và sự đúng đắn của đồng chí Mao Trạch Đông khi nhấn mạnh: "bồi dưỡng và đào tạo hàng chục triệu lớp người kế cận sự nghiệp cách mạng vô sản"1 ("Về chủ nghĩa cộng sản giả của Khrushchev và bài học của nó trong lịch sử thế giới", Nhân dân nhật báo, ngày 14 tháng 7 năm 1964); cho thấy tầm nhìn xa và sự đúng đắn của đồng chí Đặng Tiểu Bình khi nhấn mạnh: "Công việc của Trung Quốc có dễ làm hay không... xét về ý nghĩa nhất định, mấu chốt là ở con người"2 (Văn tuyển Đặng Tiêu. Bình, Sđd, q.3, tr.380); cho thấy đạo lý sâu sắc của mối quan hệ giữa thể chế và con người xét về ý nghĩa nhất định "mấu chốt là ở con người".
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM