Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:30:12 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tính trước nguy cơ - Suy ngẫm sau 20 năm Đảng Cộng sản Liên Xô mất Đảng  (Đọc 42087 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #20 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2022, 04:02:22 pm »

Thứ ba, cần phải kiên trì chế độ tập trung dân chủ, phát huy đầy đủ dân chủ, tăng cường giám sát trong Đảng. Chế độ tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức căn bản của Đảng và nhà nước. Tháng 7 năm 1945, ngay trước ngày kháng chiến thắng lợi, cuộc nói chuyện nổi tiếng giữa Chủ tịch Mao Trạch Đông với Hoàng Viêm Bồi tại Diên An rất đáng để chúng ta mãi ghi nhớ. Hoàng Viêm Bồi nói, một bộ lịch sử, "vua lười nhác, thần lộng hành" cũng có, "người chết, chính quyền cũng chết" cũng có, "cầu vinh rước nhục" cũng có, tóm lại không thể thoát ra khỏi vòng chu kỳ "lên cũng nhanh", "chết cũng nhanh". Mao Trạch Đông nói: "Chúng ta đã tìm được con đường mới, chúng ta có thể thoát ra khỏi vòng chu kỳ đó. Con đường mới đó chính là dân chủ. Chỉ có để nhân dân giám sát chính phủ, chính phủ mới không dám lơ là. Chỉ có người người cùng có trách nhiệm, thì mới không có cảnh người chết, chính quyền cũng chết"3 (Phòng nghiên cứu văn hiến Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (biên soạn): Truyện Mao Trạch Đông (1893-1949), Nxb. Văn hiến Trung ương, 1996, tr.719-720). Tư tưởng ai nấy đều có trách nhiệm của Mao Trạch Đông là sự phát triển đối với tư tưởng chính trị dân chủ nhân dân của chủ nghĩa Mác. Hạt nhân và mục đích căn bản của chính trị dân chủ xã hội chủ nghĩa là nhân dân làm chủ, còn ai nấy đều có trách nhiệm là con đường căn bản để đạt tới mục đích căn bản đó, ngoài cái đó ra không có sự lựa chọn nào khác. Xét từ ý nghĩa nhất định, một khó khăn duy nhất của sự nghiệp xã hội chủ nghĩa, chính là khó khăn trong việc làm thế nào để thực sự khiến ai cũng đều có trách nhiệm. Toàn thể đảng viên, bất luận chức vụ cao hay thấp, đều bình đẳng như nhau, đều có quyền trực tiếp hoặc thông qua đại biểu gián tiếp xử lý mọi công việc trong Đảng theo quy định của Điều lệ Đảng, trong đó bao gồm cả việc xác định đường lối, phương châm, chính sách của Đảng. Tổng Bí thư Hổ Cẩm Đào nhiều lần nhấn mạnh, cần nói lời chân thật, lời thực, lời từ đáy lòng. Đây chính là cần bảo đảm đảng viên có thể phát biểu đầy đủ ý kiến khác nhau theo trình tự tổ chức bình thường. Thảo luận bất kỳ vấn đề gì trong Đảng, cần bình đẳng, tự do. Chỉ cần xuất phát từ lợi ích và công tác của Đảng, thì cần cho phép phát biểu đầy đủ ý kiến, đạt tới chỗ biết thì nói ra, nói thì phải nói hết, từ đó thực sự hình thành trong Đảng bầu không khí chính trị tốt đẹp dám nói lời thật, nói thoải mái. Chỉ có như thế mới có thể thực sự thực hiện đoàn kết trong Đảng, có lợi cho thống nhất hành động cao độ. Cách làm trấn áp các ý kiến khác, một người quyết định là hoàn toàn không thể chấp nhận được đối với truyền thống và tác phong tốt đẹp của Đảng chúng ta.


Thứ tư, cần phải kiên trì đường lối quần chúng của Đảng, tất cả vì quần chúng, lúc nào cũng dựa vào quần chúng. "'Toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân", "đại diện cho lợi ích căn bản của đông đảo nhất quần chúng nhân dân" là giá trị quan mãi mãi không thay đổi của chúng ta; "thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất kiểm nghiệm chân lý", thực tiễn xã hội của hàng trăm triệu quần chúng nhân dân là quan điểm chân lý mãi mãi không thay đổi của chúng ta; "nhân dân, chỉ có nhân dân mới là động lực thực sự của sáng tạo lịch sử" là quan điểm động lực mãi mãi không thay đổi của chúng ta. Chúng ta là những người theo thuyết thống nhất hữu cơ giữa lập trường, quan điểm và phương pháp, là những người theo thuyết thống nhất hữu cơ giữa giá trị quan, quan điểm chân lý và quan điểm động lực, thống nhất hữu cơ từ toàn bộ đến chủ thể là quần chúng nhân dân. Chúng ta hiểu sâu sắc rằng, xa rời quần chúng, bất cứ ai, bất cứ tập đoàn và chính đảng nào, tất sẽ không thành công được gì cả. Cá thể trong quần chúng là một giọt nước, một giọt nước rất dễ khô cạn, nhưng nhiều giọt nước tập hợp lại với nhau thì sẽ thành suối, thành sông, thành biển. Đối với các loại tác phong sai lệch và trào lưu sai lầm gây tổn hại tới lợi ích của quần chúng nhân dân, trong điều kiện nhất định, trong thời gian nhất định quần chúng có thể không đủ sức lay chuyển, có vẻ sóng yên biển lặng, nhưng trong điều kiện đặc biệt, thì có thể dấy lên sóng lớn, sông biển cuồn cuộn. Đó chính là cái gọi là nước có thể chở thuyền, cũng có thể lật thuyền. Mãi mãi đứng trên mảnh đất nhân dân, chúng ta mới có thể mãi mãi trở thành vị anh hùng Antaeus sức mạnh vô song.


Thứ năm, cần phải kiên trì cải cách mở cửa và luôn luôn kiên trì phương hướng đúng đắn của cải cách mở cửa. Chủ nghĩa Mác đã vạch ra bản chất và quy luật của phát triển xã hội loài người, chúng ta cần phải kiên trì và tuân thủ những nguyên lý căn bản về phát triển lịch sử loài người mà nó trình bày và phát triển, và việc vận dụng thực tế những nguyên lý này, "trong bất cứ lúc nào, ở bất cứ đâu cũng đều cần lấy điều kiện lịch sử lúc đó mà chuyển dịch"1 (Mác - Ăngghen: Tuyển tập, Sđd, q.1, tr.248). Vật chất là vận động, tình hình cũng thường có sự thay đổi. Chúng ta cần phải không ngừng giải phóng tư tưởng, tiến hành cải cách kịp thời, có những hành động mới nhằm không ngừng thích ứng với tình hình mới đang phát triển, thay đổi. Các quốc gia và dân tộc trên thế giới đều có truyền thống văn hóa ưu tú của mình, đều có khoa học kỹ thuật tiên tiến và các loại tài nguyên đặc biệt của mình, điều này đòi hỏi chúng ta phải có tấm lòng và dũng khí "biển dung nạp trăm sông", tiến hành học tập, tham khảo và thu hút; đồng thời, truyền thống văn hóa ưu tú của dân tộc Trung Hoa cũng hết sức cần được giới thiệu tới các nơi trên thế giới, dùng những tài nguyên của chúng ta để trao đổi, bổ sung lẫn nhau, hợp tác cùng có lợi với các quốc gia và dân tộc khác. Điều này đòi hỏi chúng ta cần phải kiên trì lâu dài chính sách mở cửa. Nhất là ngày nay, khi toàn cầu hóa kinh tế đi sâu phát triển, bất kỳ quốc gia nào đóng cửa lại để xây dựng cũng sẽ không thể thành công được. Chính vì vậỵ, kiên trì cải cách mở cửa là chiến lược làm lớn mạnh đất nước mà chúng ta kiên trì lâu dài không thay đổi. Thế nhưng, chúng ta cũng cần phải thấy rằng, cải cách mở cửa đúng là có một tiền đề căn bản, đó chính là vấn đề đường hướng. Cải cách mở cửa của chúng ta cần phải có lợi cho việc không ngừng củng cố và tự hoàn thiện của chế độ xã hội chủ nghĩa, cần phải có lợi cho xây dựng hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa, cần phải có lợi cho nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của đông đảo nhất quần chúng nhân dân. Vì vậy, trong quá trình cải cách mở cửa, chúng ta cần phải kiên trì phương hướng đúng đắn của cải cách mở cửa, kiên trì bốn nguyên tắc cơ bản, kiên trì độc lập tự chủ, trân trọng cao độ và bảo vệ một cách kiên trì không thay đổi quyền lợi độc lập tự chủ của đất nước mà nhân dân Trung Quốc đã có được qua phấn đấu lâu dài. Nếu không, thì sẽ giống như Đặng Tiểu Bình nói, chúng ta quả thật là đi sai đường mất rồi.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #21 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2022, 04:03:04 pm »

Thứ sáu, cần phải kiên trì cảnh giác cao độ trước âm mưu Tây hóa, phân hóa của các thế lực thù địch trong và ngoài nước.

Xét từ ý nghĩa nhất định, sự nghiệp giải phóng của toàn nhân loại chính là cần xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa chiến tranh và hòa bình. Điều đáng nói ở đây không chỉ là mối quan hệ giữa chiến tranh và hòa bình, mà điều quan trọng hơn là chỉ mối quan hệ lẫn nhau bên trong bản thân của chiến tranh và hòa bình khi ở hình thái độc lập. Cách mạng Công xã Pari đã mở ra một chương mới trong sự nghiệp giải phóng toàn nhân loại. Nhưng do sự nhân từ và ngây thơ của bản thân giai cấp vô sản, không xử lý tốt vấn đề chiến tranh, kết quả đã thất bại thảm hại. Giai cấp vô sản rút ra bài học sâu sắc này, sau đó, Liên Xô xã hội chủ nghĩa đã giành được thắng lợi vĩ đại trong cuộc Chiến tranh vệ quốc; Trung Quốc và Triều Tiên, Việt Nam xã hội chủ nghĩa lại lần lượt giành được thắng lợi trong cuộc chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt Nam. Điều này trong chừng mực nhất định cho thấy, khi giai cấp vô sản xử lý vấn đề chiến tranh, do sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân và chính nghĩa, thường tương đối thuận lợi. Nhưng khi xử lý vấn đề hòa bình, tức khi đối phó với vấn đề diễn biến hòa bình của giai cấp tư sản, thì lại thường thiếu kinh nghiệm, kết quả dẫn tới xuất hiện bi kịch lớn là Đảng Cộng sản Liên Xô sụp đổ, Liên Xô giải thể. Ngay từ Chiến tranh thế giới thứ nhất, Tổng thống Mỹ Wilson đã tuyên bố: "Dân chủ" là một nguyên tắc chỉ đạo quan trọng, bởi vì nó tiêu biểu cho một trật tự trong nước hoàn toàn mới, từ đó tất nhiên cũng có thể phổ cập ra trật tự quốc tế; "dân chủ tự do mới" sẽ là "một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng" của Mỹ; cần bảo đảm dân chủ được thông suốt không gặp trở ngại trên toàn thế giới. Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Giám đốc Cục Tình báo Trung ương Mỹ George Kènnan và Ngoại trưởng Allen Dulles lần lượt đưa ra lý luận "diễn biến hòa bình". Năm 1945, khi Chiến tranh thế giới thứ hai sắp sửa kết thúc, Dulles lập tức vạch kế hoạch nói: "Chiến tranh sắp sửa kết thúc, mọi việc đều có cách làm ổn thỏa, đều sẽ bố trí xong. Chúng ta sẽ dốc hết tất cả, đưa ra tất cả tiền vàng, toàn bộ sức mạnh vật chất, đào tạo mọi người thành thứ mà chúng ta cần, để cho họ nghe theo chúng ta"; "đầu óc của con người, ý thức của con người đều có thể thay đổi. Chỉ cần làm rối loạn đầu óc thì chúng ta có thể làm thay đổi giá trị quan của mọi người một cách không hay biết"; "Chúng ta nhất định cần tìm được ở bên trong nước Nga người có ý thức tư tưởng của chúng ta, tìm được quân đồng minh của chúng ta"; "Chúng ta sẽ từng bước xóa đi sự tồn tại của họ trong văn học và nghệ thuật"; "Chúng ta sẽ âm thầm, nhưng tích cực và thường xuyên không ngừng thúc đẩy thái độ tự tiện, liều lĩnh của các quan chức, để cho họ tham lam vô độ, mất đi nguyên tắc. Chủ nghĩa quan liêu và bê trễ sẽ được coi là tốt đẹp, còn thành tín và chính phái sẽ bị người ta chế nhạo, biến thành những thứ mà chẳng ai coi ra gì và không hợp thời. Vô lại và vô liêm sỉ, lừa gạt và dối trá, nát rượu và nghiện hút, người đề phòng người còn hơn cả sợ thú dữ, mất đi, bán đi cảm xúc xấu hổ, sỉ nhục, chủ nghĩa dân tộc và thù hận dân tộc, trước tiên là thù hận đối với nhân dân Nga - Chúng ta sẽ dùng biện pháp cao tay, âm thầm thần thánh hóa tất cả những cái đó, để nó nở ra thành những bông hoa đẹp đẽ"; "Chỉ có số ít người, cực kỳ ít người mới có thể cảm thấy được hoặc ý thức được rốt cuộc xảy ra chuyện gì. Nhưng chúng ta sẽ khiến cho những người đó ở vào cảnh bị cô lập không ai giúp đỡ, biến họ thành đối tượng cười chê của đám đông; chúng ta sẽ tìm được phương pháp bôi nhọ phỉ báng họ, tuyên bố họ là cặn bã xã hội"1 ([Nga] N.I. Ryzhkov: Bi kịch nước lớn, Sđd, tr.1-2). Nhưng nhà cầm quyền Mỹ vẫn chưa thực sự coi trọng điều này. Sau khi trải qua thất bại trong cuộc chiến tranh Triều Tiên và chiến tranh Việt Nam chủ yếu sử dụng "sức mạnh cứng", Mỹ mới hiểu thêm về tầm quan trọng của các "sức mạnh mềm" như "dân chủ, tự do, nhân quyền". Bước ngoặt này diễn ra vào thời kỳ chính quyền Nixon. Cuối năm 1968, Nixon trúng cử Tổng thống thứ 37 của nước Mỹ. Nước Mỹ lúc đó có 1 triệu quân có mặt tại 30 quốc gia trên thế giới, cung cấp viện trợ quân sự hoặc kinh tế  cho gần 100 quốc gia trên toàn thế giới, đặc biệt cộng thêm đã bị sa lầy vào cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài gần 6 năm, tình hình tài chính, kinh tế dần dần suy yếu, thu chi quốc tế khủng hoảng, từ đó không kham nổi gánh nặng. Ngày 20 tháng 1 năm 1969, trong bài diễn văn nhậm chức của mình, Nixon nói: "Trải qua một thời kỳ đối kháng, chúng ta đang bước vào một thời đại đàm phán", "Vinh dự lớn nhất mà lịch sử có thể ban cho chúng ta không có gì hơn danh hiệu người kiến tạo hòa bình này", "Chúng ta mời những người có thể là đối thủ của chúng ta tiến hành một cuộc chạy đua hòa bình"1 ("Diễn văn nhậm chức lần đầu tiên của Richard Nixon (bản dịch)", Blog Đông Phương, ngày 25 tháng 3 năm 2006 (http://chouky.blog2.cnool.net/ Artìcle/2006/03/25/197380.html)). Chính quyền các khóa của Mỹ sau đó ngày càng coi trọng việc vận dụng "sức mạnh mềm" của mình. Nhờ vậy mới có việc Liên Xô to lớn giải thể và Đảng Cộng sản Liên Xô khổng lồ sụp đổ. Từ đó, chính quyền các khóa của Mỹ trong quan hệ với các nước khác, nhất là các nước lớn, các cường quốc, lại càng coi trọng việc sử dụng "sức mạnh mềm" hơn.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #22 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2022, 04:03:40 pm »

Từ khi Đảng Cộng sản Liên Xô mất Đảng, Liên Xô giải thể năm 1991 đến nay (năm 2010) đã gần 20 năm. Số các luận văn, tác phẩm cũng như hồi ký của cộng đồng quốc tế nghiên cứu về Đảng Cộng sản Liên Xô mất Đảng, Liên Xô giải thể có rất nhiều, trong đó không ít học giả nhấn mạnh "đóng góp" của phương Tâỵ, đặc biệt là Cục Tình báo Trung ương Mỹ đối với việc Liên Xô giải thể. Cuốn sách Chiếc mũ gai góc của Nga: Lịch sử Hội Tam điểm 1731-1995 của nhà văn, người theo chủ nghĩa dân tộc, nhà chính luận và nhà hoạt động xã hội Nga O. A. Platonov xuất bản năm 1995 chính là một trong số đó. Khác với các nhà nghiên cứu khác, tác giả cuốn sách này xuất phát từ hoạt động khôi phục trong nước Liên Xô của tổ chức bí mật Hội Tam điểm thế giới, nghiên cứu tiến trình Mỹ thực thi "diễn biến hòa bình" đối với Liên Xô. Qua rất nhiều sự thực, cuốn sách này đã trình bày tình hình chi tiết việc tổ chức bí mật Hội Tam điểm thế giới và Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ đã bỏ ra khoản tiền khổng lồ để tìm kiếm và đào tạo những người đại diện lợi ích của Liên Xô, cũng như vai trò của những người đại diện lợi ích Mỹ trong việc Liên Xô giải thể. Tài liệu liên quan trong cuốn sách này cho thấy, từ năm 1945 đến năm 1994, có hơn 440 người của Liên Xô cũ và Nga tham gia tổ chức Hội Tam điểm hoặc các tổ chức khác được thành lập nhằm thực hiện mục tiêu của Hội Tam điểm (như Ủy ban Ba bên, Ủy ban Đại châu Âu, Câu lạc bộ Nga quốc tế...), Gorbachev, Yakovlev, Shevardnadze, Yeltsin... đều có tên trong danh sách. Không ít người trong số họ không những là người đại diện lợi ích Mỹ trung thực và lực lượng cốt cán hủy diệt Liên Xô, mà còn trở thành lực lượng trung kiên của chính quyền Yeltsin sau khi Liên Xô giải thể. Một bộ tác phẩm quan trọng khác chính là Câu lạc bộ Bilderberg - Tập đoàn bóng ma thao túng thế giới do Nhà xuất bản Tân Tinh Trung Quốc dịch, xuất bản tháng 8 năm 2009. Tác giả cuốn sách Daniel Estulin là học giả người Canada gốc Nga, từng có hơn 10 năm liên tục theo dõi, nghiên cứu Câu lạc bộ Bilderberg, câu lạc bộ được thành lập năm 1954 sau Chiến tranh thế giới thứ hai và đã hoạt động hơn nửa thế kỷ. Cuốn sách tiết lộ các hoạt động tìm đủ mọi cách hòng thao túng công việc thế giới, phục vụ cho chủ nghĩa bá quyền và chính trị cường quyền của Câu lạc bộ này. Theo đó, Thống đốc bang Arkansas của Mỹ Bill Clinton đã tham dự Hội nghị Câu lạc bộ Bilderberg họp tại Baden Đức, từ ngày 6 đến ngày 9 tháng 6 năm 1991. Năm thứ hai, ông ta lập tức được bầu làm Tổng thống Mỹ. Nhưng khi hội nghị này vừa kết thúc, ông ta lập tức tới Mátxcơva bí mật gặp Vadim Bakatin, thành viên nội các quan trọng của Tổng thống Gorbachev, khi đó làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ Liên Xô. Mặc dù Gorbachev thất bại trong bầu cử, nhưng Bakatin lại đảm nhiệm chức vụ Giám đốc tối cao KGB trong nội các của Yeltsin. Clinton cũng hứa hẹn với Yeltsin rằng, nếu như ông ta thắng cử, chiến hạm của Nga sẽ có được quyền tiếp dầu và các quyền ưu tiên khác tại tất cả các căn cứ hải quân của Mỹ. Sau khi Clinton tuyên thệ nhậm chức, quả nhiên đã thực hiện lời hứa1 (Daniel Estrulin: Câu lạc bộ Bilderberg - Tập đoàn bóng ma thao túng thế giới, Nxb. Tân Tinh, 2009, tr.58-59).


Chúng ta cần tỉnh táo nhận thức rằng, cục diện phương Tây mạnh - ta yếu có thể sẽ tồn tại trong một thời gian dài. Hai loại chế độ xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa sẽ cùng tồn tại trong một thời gian dài, có hợp tác, có cạnh tranh, đồng thời có sự đọ sức khốc liệt. Mục tiêu chiến lược căn bản của hai loại chế độ này không thể cùng thắng. Vì vậy, song song với việc cảnh, giác cao độ trước việc phương Tây sử dụng "sức mạnh cứng" đối với ta, càng cần cảnh giác hết sức trước việc họ sử dụng "sức mạnh mềm", "sức mạnh thông minh" Tây hóa, phân hóa đối với ta. Chúng ta còn cần đặc biệt chú ý tới vai trò mới của các loại vũ khí mới như "thao túng tài chính tiền tệ", "thao túng ý thức", "tổ chức phi chính phủ thâm nhập"... trong tình hình mới.


Chúng ta tin tưởng sâu sắc rằng, dân tộc Nga là dân tộc vĩ đại, nhân dân Nga là nhân dân vĩ đại. Chủ nghĩa Lênin và quê hương của Cách mạng Tháng Mười Nga tuyệt đối sẽ không im lặng lâu dài. Tai nạn lịch sử lớn Đảng Cộng sản Liên Xô sụp đổ, Liên Xô giải thể này tất sẽ được bù đắp bằng sự tiến bộ lịch sử to lớn mới của dân tộc Nga, thậm chí của toàn nhân loại. Cùng với việc toàn cầu hóa đi sâu phát triển, mâu thuẫn cơ bản trên phạm vi toàn cầu giữa toàn cầu hóa sản xuất và chiếm hữu tư bản lũng đoạn quốc tế tư liệu sản xuất ngày càng sâu sắc hơn (cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ quốc tế bắt đầu từ Mỹ tháng 9 năm 2008 và đến nay vẫn chưa chạm đáy chính là một bằng chứng mạnh mẽ nữa), và có bộ giáo trình phản diện hiếm có là Đảng Cộng sản Liên Xô mất Đảng, Liên Xô giải thể này, thì sự tiến lên của bánh xe lịch sử sẽ nghiền nát từng đống phế thải của đế quốc, lịch sử loài người tất sẽ từng bước đón chào mùa xuân vô cùng tươi đẹp và huy hoàng vô song trong khó khăn trắc trở.

Tháng 12 năm 2010
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #23 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2022, 04:04:49 pm »

Chương I
CON ĐƯỜNG LỊCH SỬ THỊNH SUY
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN LIÊN XÔ


Đảng Cộng sản Liên Xô từng là chính đảng cộng sản có sức ảnh hưởng lớn nhất, thời gian tồn tại lâu nhất, thời gian cầm quyền dài nhất trên thế giới. Kể từ khi thành lập năm 1898 đến khi tự động giải thể năm 1991, Đảng này đã trải qua một quá trình lịch sử gần một thế kỷ, trong đó thời gian cầm quyền kéo dài 74 năm. Đảng Cộng sản Liên Xô khi thành lập lấy tên là Đảng công nhân dân chủ xã hội Nga. Tại Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng năm 1903 đã hình thành hai phái là Bônsêvích và Mensêvích.


Bônsêvích do Lênin đứng đầu là phái chủ lưu, đại diện cho đường lối cách mạng mácxít. Năm 1912, về tổ chức, Bônsêvích trở thành một chính đảng độc lập sau khi Mensêvích tách ra, lấy tên là Đảng công nhân dân chủ xã hội Nga (Bônsêvích). Từ tháng 3 năm 1918 đổi tên thành Đảng Cộng sản (Bônsêvích) Nga. Sau khi Liên Xô thành lập năm 1922, tại Đại hội Đại biểu lần thứ XIV Đảng Cộng sản (Bônsêvích) Nga tháng 12 năm 1925, tên của Đảng đổi thành Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang. Đại hội Đại biểu lần thứ XIX của Đảng tổ chức năm 1952 đã thông qua Nghị quyết, đổi tên Đảng thành Đảng Cộng sản Liên Xô. Trong quá trình phát triển và cầm quyền lâu dài của mình, Đảng Cộng sản Liên Xô đã từng giành được những thành tựu huy hoàng khiến cả thế giới phải kinh ngạc. Song, cùng với thời gian, những yếu tố tiêu cực trong Đảng không ngừng tăng lên và ăn sâu bám rễ, cuối cùng Đảng không những mất đi quyền cầm quyền mà còn tự hủy diệt bản thân. Ngày nay, gần hai mươi năm sau khi Đảng Cộng sản Liên Xô biến mất trên vũ đài lịch sử, hồi tưởng lại con đường lịch sử thịnh suy của Đảng, đặc biệt là tổng kết những bài học kinh nghiệm cầm quyền của Đảng sẽ giúp chúng ta lấy lịch sử làm bài học, tính trước nguy cơ, tiến lên tốt hơn.


I. MỘT CHÍNH ĐẢNG CÁCH MẠNG KlỂU MỚI

Đảng Cộng sản Liên Xô là một chính đảng vô sản có truyền thống lịch sử vẻ vang. Đảng Cộng sản Liên Xô ra đời trong thời kỳ chuyển đổi quan trọng của lịch sử thế giới. Thời kỳ đó, các nước tư bản chủ nghĩa chính của Âu - Mỹ trong đó có cả nước Nga đều đã bước vào giai đoạn chủ nghĩa tư bản lũng đoạn, tức giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Đồng thời, đặc trưng thời đại cũng có những thay đổi: thời đại thế giới tư bản chủ nghĩa từ chỗ phát triển tương đối hòa bình chuyển sang thời đại chiến tranh đế quốc và cách mạng vô sản. Lúc đó, trào lưu xét lại trong nội bộ các chính đảng xã hội chủ nghĩa ở các nước tư bản lan rộng. Các đảng đó chủ trương cải cách một cách hòa bình và đi theo con đường đấu tranh nghị viện. Những chính đảng như vậy hoàn toàn không phù hợp với điều kiện lịch sử mới. Thời đại yêu cầu phải có chính đảng cách mạng kiểu mới. Trong bối cảnh lịch sử như vậy, Đảng Bônsêvích đã ra đời, ứng với thời cơ. Sự xuất hiện của Đảng Bônsêvích đã làm thay đổi căn bản diện mạo của phong trào xã hội chủ nghĩa trên thế giới, mở ra một bổi cảnh mới mẻ và hy vọng cho cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản. Sau khi Đảng Bônsêvích thành lập, dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ vĩ đại của Đảng, Lenin, một nhà mácxít xuất sắc, nhà cách mạng vô sản kiên cường, đã sáng tạo một cách khoa học lý luận chủ nghĩa Mác về cách mạng vô sản, cuối cùng đã lật đổ sự thống trị của địa chủ, tư sản ở nước Nga, lập nên nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, từ đó khai thiên lập địa trở thành chính đảng giai cấp vô sản đầu tiên cầm quyền ở một quốc gia (nếu không tính Công xã Pari chỉ tồn tại 72 ngày).
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #24 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2022, 04:05:57 pm »

1. Mâu thuẫn và đấu tranh trong nội bộ phong trào công nhân quốc tế cuối thế kỷ XIX: cải lương hay cách mạng

Từ những năm 70 của thế kỷ XIX, các chính đảng vô sản mang tính quần chúng đã được thành lập ở các nước tư bản chủ nghĩa chủ yếu của Âu - Mỹ. Chính đảng vô sản thành lập sớm nhất là Đảng Công nhân Dân chủ xã hội Đức1 (Năm 1875, Đảng Công nhân Dân chủ xã hội Đức hợp nhất cùng Liên hiệp Hội công nhân toàn nước Đức do Lassalle đứng đầu, lập thành Đảng Công nhân xã hội chủ nghĩa Đức. Năm 1890, Đảng đổi tên thành Đảng Dân chủ xã hội Đức). Đây là chính đảng vô sản độc lập đầu tiên trên thế giới được thành lập trong phạm vi một quốc gia, cũng là chính đảng lớn nhất và có tính đại diện nhất trong phong trào công nhân quốc tế thời kỳ đó. Sau nước Đức, ở các nước như Áo (năm 1874), Bồ Đào Nha (năm 1875), Đan Mạch (năm 1876), Tây Ban Nha (năm 1879), Pháp (năm 1879), Hà Lan (năm 1881), Italia (năm 1882), Anh (năm 1884), Bỉ (năm 1885), Mỹ (năm 1897) cũng lần lượt thành lập các chính đảng hoặc đoàn thể giai cấp vô sản. Đến cuối thập kỷ 1880, ở Âu - Mỹ đã có 16 quốc gia thành lập chính đảng xã hội chủ nghĩa2 (Tham khảo Bách khoa toàn thư Trung Quốc - Lịch sử nước ngoài, quyển thượng, tr.239). Một đặc điểm chung của các chính đảng này là hoạt động trong điều kiện hòa bình, chủ yếu tuyên truyền lý luận chủ nghĩa Mác và tư tưởng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền dân chủ và lợi ích vật chất của quần chúng vô sản bằng các hình thức như đấu tranh nghị viện, tuyên truyền báo chí, tổ chức cho công nhân bãi công và biểu tình thị uy. Trên cơ sở các chính đảng giai cấp vô sản thành lập, tích cực triển khai hoạt động và liên hệ quốc tế ngày càng tăng cường, dưới sự lãnh đạo và thúc đẩy trực tiếp của Ăngghen, tháng 7 năm 1889 tại Pari Đại hội Đại biểu công nhân quốc tế và những người theo chủ nghĩa xã hội được tổ chức với sự tham gia của 393 đại biểu đến từ 22 quốc gia. Đại hội chủ yếu thảo luận những vấn đề như việc lập pháp của công nhân lao động quốc tế và nhiệm vụ đấu tranh chính trị, kinh tế của giai cấp công nhân, đồng thời thông qua nghị quyết về hoạt động kỷ niệm ngày quốc tế lao động 1 tháng 5 hằng năm. Đại hội này đánh dấu sự ra đời của tổ chức liên hợp quốc tế mới của các chính đảng vô sản các nước - Quốc tế II1 (Quốc tế I, tức Hiệp hội công nhân quốc tế tồn tại những năm 1864-1876).


Thời kỳ đầu, trong nội bộ Quốc tế II tồn tại ba phái là chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa cải lương và chủ nghĩa vô chính phủ. Chủ nghĩa Mác đấu tranh trước hết với chủ nghĩa vô chính phủ. Chủ nghĩa vô chính phủ xuất hiện dưới bộ mặt cực tả, không chỉ phản đối cải lương xã hội và đấu tranh hợp pháp dưới mọi hình thức, mà sùng bái hoạt động khủng bố cá nhân. Với sự vạch trần và phê phán của chủ ngĩa Mác, chủ nghĩa vô chính phủ cuối cùng bị Quốc tế II và đại bộ phận người theo chủ nghĩa xã hội trong các đảng ở các nước và đông đảo quần chúng công nhân phỉ nhổ. Giai đoạn sau của Quốc tế II trào lưu cải lương chủ nghĩa trong các đảng ở các nước phát triển thêm một bước. Từ góc độ các nhà cải lương chủ nghĩa, giai cấp vô sản chỉ cần dưới sự thống trị của chủ nghĩa tư bản không ngừng cải thiện đãi ngộ vật chất là có thể quá độ lên chủ nghĩa xã hội một cách hòa bình; nhiệm vụ chủ yếu của chính đảng vô sản là tiến hành đấu tranh nghị viện, triển khai hoạt động tuyên truyền và tổ chức trong phạm vi hợp pháp. Các nhà cải lương chủ nghĩa không những ra sức phản đối đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản về thực tiễn, mà về lý luận còn thay đổi nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác. Đây là việc làm lấy danh nghĩa "xét lại" chủ nghĩa Mác, trên thực tế là trào lưu chủ nghĩa cơ hội, để xuyên tạc và thay đổi chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác, do đó bị gọi là "chủ nghĩa xét lại"1 ("Chủ nghĩa xét lại" là danh từ do Bernstein tự khoe, sau này được những người theo chủ nghĩa Mác sử dụng với nghĩa rộng).


Chủ nghĩa xét lại là biểu hiện về tư tưởng của giai cấp tư sản trong phong trào công nhân quốc tế. Đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa xét lại trong Đảng Dân chủ xã hội Đức và Quốc tế II là Eduard Bernstein. Trong thời gian những năm 1896-1898, ông ta đã có một loạt bài viết với chủ đề "Vấn đề chủ nghĩa xã hội", năm 1899 lại xuất bản cuốn sách Tiền đề của chủ nghĩa xã hội và nhiệm vụ của Đảng Dân chủ xã hội. Trong những tác phẩm này, ông ta đã tiến hành "xét lại" một cách toàn diện chủ nghĩa Mác từ lý luận triết học, chính trị học và chủ nghĩa khoa học xã hội. Trong triết học, ông ta phủ định chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, ca tụng chủ nghĩa Kant; về kinh tế chính trị, ông ta phủ định học thuyết giá trị thặng dư, cho rằng tổ chức độc quyền có thể xóa bỏ khủng hoảng tư bản chủ nghĩa; về lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học, Bernstein phủ định đấu tranh giai cấp và cách mạng vô sản, ca tụng hợp tác giai cấp và chủ nghĩa tư bản tự thân phát triển một cách hòa bình thành chủ nghĩa xã hội, chủ trương biến đảng dân chủ xã hội thành đảng cải lương chủ nghĩa. Câu nói nổi tiếng của ông "Mục đích cuối cùng không đáng kể, phong trào là tất cả"2 (Đây là cách diễn đạt khái quát. Tham khảo cách diễn đạt hoàn chỉnh trong Eduard Bernstein: Lịch sử và lý luận của chủ nghĩa xã hội, Nxb. Đông Phương, 1989, tr.195) là tổng kết đầy đủ nhất quan điểm lý luận và phương pháp tư tưởng của chủ nghĩa xét lại. Chủ nghĩa xét lại là một hiện tượng quốc tế. Khi ở nước Đức xuất hiện chủ nghĩa xét lại của Bernstein, ở một số quốc gia khác như Pháp, Anh, Áo, trong đảng cũng xuất hiện trào lưu và trường phái chủ nghĩa xét lại. Sự xuất hiện và lan tràn của chủ nghĩa xét lại đã làm tê liệt ý chí cách mạng của một bộ phận quần chúng công nhân, làm suy yếu sức mạnh của Đảng. Tư tưởng của Bernstein nhận được sự hưởng ứng và ủng hộ của Quốc tế II và những người theo chủ nghĩa cơ hội cánh hữu trong Đảng.


Đồng thời, trong nội bộ đảng của Quốc tế II và một số quốc gia cũng xuất hiện phái tả kiên trì chủ nghĩa Mác và nguyên tắc cách mạng vô sản. Họ đấu tranh trực diện với chủ nghĩa xét lại. Đi đầu trong cuộc đấu tranh này là lãnh đạo phe cánh tả của Đảng Dân chủ xã hội Đức Rosa Luxemburg và Karl Liebknecht. Trong cuốn sách Cải lương xã hội hay cách mạng xã hội viết năm 1899, Luxemburg nói, sự thay đổi trong xã hội tư bản chủ nghĩa, bao gồm cả sự phát triển nhanh chóng trong các lĩnh vực như tín dụng, các tổ chức độc quyền, thông tin, giao thông, không những không loại bỏ khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản, ngược lại làm cho khủng hoảng sâu sắc thêm, do đó, ý đồ đi lên chủ nghĩa xã hội thông qua giành đa số ghế trong nghị viện là không thể. Dân chủ là có tính giai cấp, nghị viện của giai cấp tư sản là công cụ để giai cấp tư sản thống trị nhân dân lao động. Giai cấp vô sản chỉ có thể thực hiện chủ nghĩa xã hội bằng cách thực hiện cách mạng giành chính quyền. Ngoài Rosa Luxemburg còn có một số người theo chủ nghĩa Mác, như August Bebel của Đức, Paul Lafargue của Pháp và Georgi Plekhanov của Nga, v.v. cũng phê phán chủ nghĩa xét lại của Bernstein.


Sự phát triển của chủ nghĩa cải lương và chủ nghĩạ xét lại trong nội bộ phong trào xã hội chủ nghĩa quốc tế có liên hệ mật thiết với bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ là giai đoạn quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa đế quốc. Những người theo chủ nghĩa cải lương và những người theo chủ nghĩa xét lại không có nhận thức đúng đắn về sự phát triển mới của chủ nghĩa tư bản và những thay đổi của đặc trưng thời đại trong giai đoạn giao thời giữa thế kỷ XIX và thế kỷ XX. Họ bị mê hoặc bởi hiện tượng mới của xã hội tư bản chủ nghĩa, bao gồm cả các tổ chức độc quyền, đánh giá sai lầm rằng mâu thuẫn cơ bản trong xã hội tư bản đã biến mất, bản chất của chủ nghĩa tư bản đã thay đổi. Do đó, họ khẳng định chủ nghĩa Mác đã "lỗi thời", giai cấp vô sản có thể "quá độ hòa bình" lên chủ nghĩa xã hội không thông qua phương thức đấu tranh giai cấp và cách mạng. Họ không nhận thấy rằng, do tiến vào thời đại đế quốc chủ nghĩa và từ đó nảy sinh tính mất cân đối trong phát triển của chính trị, kinh tế ở các nước tư bản chủ nghĩa và cùng với yêu cầu phân chia lại thuộc địa, các mâu thuẫn vốn có của chủ nghĩa tư bản sẽ càng tăng lên. Dù là mâu thuẫn và đấu tranh giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản trong nội bộ các nước tư bản chủ nghĩa, hay mâu thuẫn và đấu tranh giữa các nước tư bản chủ nghĩa và nhân dân các nước thuộc địa, cũng như mâu thuẫn và đấu tranh giữa các nước tư bản chủ nghĩa đều bị đẩy lên mức độ nghiêm trọng chưa từng thấy. Hiện tượng các loại mâu thuẫn bị đẩy lên đồng thời cũng cho thấy phân tích của chủ nghĩa Mác về xã hội tư bản chủ nghĩa không hề lỗi thời, lý luận chủ nghĩa xã hội tất yếu sẽ thay thế chủ nghĩa tư bản là đúng. Tiêu điểm của cuộc tranh luận giữa chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa xét lại ở giai đoạn giao thời giữa thế kỷ XIX và thế kỷ XX là ở chỗ: nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác liệu đã "lỗi thời"? Sách lược đấu tranh của các chính đảng vô sản trong tình hình mới là cách mạng hay cải lương? Thời kỳ đó, các chính đảng xã hội chủ nghĩa ở các nước và tất cả những người theo chủ nghĩa xã hội đều đứng trước sự lựa chọn lịch sử này.
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Hai, 2022, 08:17:01 am gửi bởi ptlinh » Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #25 vào lúc: 18 Tháng Hai, 2022, 08:01:49 am »

2. Đảng Bônsêvích ra đời trong cuộc đấu tranh giữa hai con đường

Dù sự phát triển của chủ nghĩa tư bản chậm hơn nhiều so với một số quốc gia chủ chốt ở Âu - Mỹ, song đến giai đoạn giao thời giữa thế kỷ XIX và thế kỷ XX, nước Nga cũng bước vào giai đoạn chủ nghĩa tư bản lũng đoạn, tức giai đoạn chủ nghĩa đế quốc. Trong thời kỳ này, nội bộ phong trào công nhân nước Nga cũng bị ảnh hưởng bởi trào lưu chủ nghĩa xét lại, tồn tại cuộc đấu tranh giữa hai tuyến là cách mạng và cải lương. Điều khác biệt là, do phong trào công nhân khởi đầu muộn, nước Nga vẫn ở thời kỳ xây dựng chính đảng của giai cấp công nhân.


Tổ chức đầu tiên truyền bá chủ nghĩa Mác ở Nga là nhóm "Giải phóng lao động", thành lập năm 1883, lãnh đạo là người theo chủ nghĩa Mác kiệt xuất Georgi Valentinovich Plekhanov.

Thời kỳ đó, trở ngại chính trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác và sáng lập chính đảng của giai cấp công nhân ở Nga là chủ nghĩa dân túy. Do đó, đồng thời với nhiệm vụ chủ yếu là truyền bá chủ nghĩa Mác, nhóm "Giải phóng lao động" còn phải vạch trần và phê phán chủ nghĩa dân túy. Chủ nghĩa dân túy là một trào lưu xã hội của giai cấp tiểu tư sản nước Nga vào nửa cuối thế kỷ XIX. Chủ nghĩa dân túy tôn sùng nông dân, tin rằng nông dân có "thiên tính" của chủ nghĩa cộng sản, cho rằng chỉ cần phát triển chế độ "thôn xã" ở nông thôn, nước Nga có thể quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Những người theo chủ nghĩa dân túy nhấn mạnh con đường phát triển độc đáo của nước Nga. Họ phủ định tính tất yếu của việc nước Nga phát triển chủ nghĩa tư bản, phủ định giai cấp công nhân là giai cấp cách mạng tiên tiến nhất và vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân trong cuộc cách mạng lật đổ chế độ chuyên chế Sa hoàng và tiến hành xã hội chủ nghĩa. Những người theo chủ nghĩa dân túy nói là tôn sùng nông dân, song lại coi thường nông dân và quần chúng lao động khác, gọi họ là "đám dân đen", cho rằng "nhân vật anh hùng" xuất thân từ phần tử trí thức mới là người sáng tạo lịch sử.


Plekhanov và các thành viên nhóm "Giải phóng lao động" đã dịch rất nhiều tác phẩm nổi tiếng của Mác - Ăngghen như Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Lao động làm thuê và Tư bản, Sự nghèo nàn của triết học, Sự phát triển của chủ nghĩa xã hội từ không tưởng đến khoa học, Ludwig Feuerbach - Sự cáo chung của triết học cổ điển Đức sang tiếng Nga, xuất bản ở nước ngoài sau đó được bí mật lan truyền ở khắp mọi miền nước Nga. Plekhanov còn viết một loạt các tác phẩm học thuật, trình bày và tuyên truyền nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác, đồng thời phê bình lý luận sai lầm của chủ nghĩa dân túy. Trong đó, nổi tiếng nhất là Chủ nghĩa xã hội và đấu tranh chính trị (năm 1883), Sự bất đồng trong ý kiến của chúng ta (năm 1885), Bàn về sự phát triển quan điểm nhất nguyên về lịch sử... Những tác phẩm xuất sắc này đã bồi dưỡng một thế hệ những người theo chủ nghĩa Mác. Đóng góp của nhóm "Giải phóng lao động" còn ở chỗ: năm 1883 và 1885 lần lượt đưa ra hai dự thảo Cương lĩnh Đảng Dân chủ Xã hội nước Nga. Mặc dù họ cũng có một số quan điểm sai lầm của chủ nghĩa dân túy, song tư tưởng chỉ đạo cơ bản là đúng đắn. Đặc biệt là cương lĩnh thứ hai, nhận được sự khen ngợi của Lênin, đặt nền móng cho cương lĩnh chính thức của Đảng Công nhân dân chủ xã hội Nga. Tóm lại, từ năm 1883 đến giữa những năm 1890, mặc dù chủ nghĩa Mác đã được truyền bá tương đối rộng rãi, nhưng tư tưởng chủ nghĩa xã hội khoa học và phong trào công nhân vẫn chưa kết hợp với nhau. Phong trào chủ nghĩa dân chủ xã hội Nga "sau này phát triển thành một chính đảng khi đó vẫn đang trong quá trình sinh trưởng trong bào thai"1 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.6, tr.171).


Ở nước Nga, tư tưởng chủ nghĩa xã hội khoa học kết hợp với phong trào công nhân liên quan tới hoạt động cách mạng của Vladimir Ilyich Lênin. Năm nhóm "Giải phóng lao động" thành lập, Lenin vừa tròn 13 tuổi. Năm 1887, trong thời gian học ở đại học Kazan, Lênin đã bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng. Ngoài học tập và nghiên cứu các tác phẩm của Mác - Ăngghen, Người còn học được rất nhiều từ những tác phẩm về chủ nghĩa Mác của Plekhanov. Năm 1889, Lênin tổ chức tổ mácxít đầu tiên ở Samara, năm 1893 dời đến Peterburg, bắt đầu lãnh đạo phong trào dân chủ xã hội ở thủ đô. Năm 1894, Lênin cho ra đời tác phẩm Những 'người bạn dân' là thế nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ - xã hội ra sao. Trong tác phẩm này, Lênin phê phán lý luận kinh tế cương lĩnh chính trị và thế giới quan của chủ nghĩa dân túy, lần đầu tiên nêu ra tư tưởng quyền lãnh đạo của giai cấp công nhân trong cách mạng dân chủ và vấn đề liên minh công nông. Lênin còn chứng minh tính quan trọng của việc đưa tư tưởng chủ nghĩa xã hội vào phong trào công nhân và thành lập chính đảng của giai cấp công nhân, cho rằng chỉ dưới sự lãnh đạo của chính đảng mảcxít thống nhất, giai cấp vô sản mới có thể thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Nặm 1895, Lênin sáp nhập Tổ mácxít Peterburg thành một tổ chức thống nhất - "Hiệp hội đấu tranh giải phóng giai cấp công nhân". Dưới sự lãnh đạo của Lênin, "Hiệp hội đấu tranh giải phóng giai cấp công nhân" đã tổ chức phong trào bãi công của công nhân Peterburg, đồng thời tích cực tuyên truyền chủ nghĩa Mác và lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học, kết hợp yêu cầu xây dựng kinh tế của giai cấp công nhân với phản đối sự thống trị của Sa hoàng và sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản. Do đó, "Hiệp hội đấu tranh giải phóng giai cấp công nhân" được Lênin coi như manh nha của chính đảng cách mạng vô sản nước Nga.


Trên cơ sở thành quả ban đầu của việc kết hợp tư tưởng chủ nghĩa xã hội khoa học với phong trào công nhân, tháng 3 năm 1898, Đại hội đại biểu lần thứ nhất Đảng Công nhân dân chủ xã hội Nga được triệu tập bí mật ở Minsk. Tham dự Đại hội có 9 đại biểu đến từ 6 tổ chức địa phương1 (Gồm "Hiệp hội đấu tranh giải phóng giai cấp công nhân" của Peterburg, Mátxcơva, Kiev và Ekaterinoslav; báo Công nhân Kiev và Liên minh công nhân Do thái Lítva, Ba Lan và Nga (tức Bund). Theo một số tư liệu có được, ngoài 6 tổ chức nói trên, còn có đại diện của tổ chức Dân chủ xã hội Tbilisi). Đại hội tuyên bố thành lập Đảng Công nhân dân chủ xã hội Nga, đồng thời thông qua một loạt nguyên tắc xây dựng Đảng, bầu ra Ban Chấp hành Trung ương với ba ủy viên. Đại hội thông qua một bản "Tuyên ngôn", tuyên bố tôn chỉ của Đảng là xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở nước Nga, vì thế trước hết phải lật đổ sự thống trị của chế độ chuyên chế Sa hoàng, giành lấy dân chủ và tự do chính trị, đồng thời tuyên bố cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản Nga là một bộ phận không thể tách rời của phong trào chủ nghĩa xã hội dân chủ quốc tế. "Tuyên ngôn" nhấn mạnh, giai cấp vô sản Nga là "giai cấp giải phóng" duy nhất, giai cấp vô sản sẽ lãnh đạo nhân dân cả nước "phá bỏ xiềng xích của chế độ chuyên chế bằng nghị lực lớn hơn nữa để tiếp tục đấu tranh với chủ nghĩa tư bản và giai cấp tư sản, đấu tranh cho đến khi chủ nghĩa xã hội giành thắng lợi hoàn toàn"2 (Tổng tập Nghị quyết Đại hội đại biểu, Hội nghị đại biểu và Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Nxb. Nhân dân, 1964, t.1, tr.6).


Sự thành lập Đảng Công nhân dân chủ xã hội Nga đã cổ vũ cho những nhà cách mạng vô sản. Từ đó, các tổ chức dân chủ xã hội ở khắp nơi đều bắt đầu đổi tên là Ban Chấp hành Đảng Công nhân dân chủ xã hội Nga. Lênin thời kỳ đó đang bị đi đày ở Siberia, khi biết tin này đã vui mừng nói với các chiến hữu của mình, từ nay Người đã là đảng viên Đảng Công nhân dân chủ xã hội Nga1 (Tham khảo Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô, Nxb. Nhân dân Thượng Hải, 1983, q.1, tr.342). Sự ra đời của Đảng cũng được quốc tế công nhận. Tuy nhiên, do Đại hội lần thứ I của Đảng chưa thông qua được cương lĩnh và chương trình công tác, hơn nữa hai trong số ba Ủy viên Trung ương cùng với nhiều đại biểu tham dự Đại hội bị bắt, tổ chức Đảng ở các nơi cơ bản vẫn ở trong trạng thái phân tán. Do đó, trên thực tế Đảng vẫn chưa được thành lập. Mặc dù vậy, Đại hội lần thứ nhất của Đảng vẫn có ý nghĩa lịch sử, là một bước đi quan trọng của giai cấp vô sản Nga trên con đường chính đảng cách mạng của mình. Từ lâu nay, một số tác phẩm trong và ngoài nước viết rất sơ sài về Đại hội lần thứ I của Đảng Công nhân dân chủ xã hội Nga, thậm chí không để cập, mà coi Đại hội lần thứ II là sự mở đầu của Đảng, như vậy là không thỏa đáng. Cần thực sự cầu thị nêu lên vai trò lịch sử của Đại hội Đảng lần thứ I.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #26 vào lúc: 18 Tháng Hai, 2022, 08:02:53 am »

Từ thế kỷ XX, mâu thuẫn về kinh tế - chính trị trong nước Nga gay gắt hơn. Khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1900 - 1903 đặc biệt nghiêm trọng ở nước Nga. Làn sóng phong trào công nhân bùng phát mạnh mẽ. Những thành phố chủ yếu trong cả nước đều thành lập Ban Chấp hành và Tổ đảng Đảng Cộng nhân dân chủ xã hội. Thời kỳ đó, trong phong trào chủ nghĩa dân chủ xã hội đã xuất hiện một phái theo chủ nghĩa cơ hội - "phái kinh tế". Phái này cho rằng, công nhân chỉ cần đấu tranh vì lợi ích kinh tế của mình, như tăng lương, cải thiện điều kiện lao động..., còn đấu tranh chinh trị, ngoài lập pháp về lao động, còn lại tất cả là nhiệm vụ của giai cấp tư sản. "Phải kinh tế" tôn thờ tính tự phát của phong trào công nhân, cho rằng tự phong trào công nhân có thể sản sinh ý thức về chủ nghĩa xã hội, không cần tác động từ bên ngoài. Căn cứ hai điểm nêu trên, "phái kinh tế" cho rằng giai cấp vô sản không cần thiết phải thành lập chính đảng cách mạng độc lập. "Chủ nghĩa kinh tế" là biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội quốc tế ở nước Nga, là biến thể của chủ nghĩa xét lại Bernstein. Trong một loạt bài viết, đặc biệt trong cuốn sách Làm gì?, Lênin phê phán sâu sắc "phái kinh tế". Lênin chỉ ra rằng, mục đích của đấu tranh giai cấp công nhân không phải là để cải thiện điều kiện bán sức lao động, mà là phải căn bản loại bỏ chế độ bóc lột, ép bản thân phải bán sức lao động, do đó, giai cấp công nhân phải liên kết lại, làm cách mạng lật đổ chế độ chuyên chế Sa hoàng, sau đó mở ra con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Lênin còn cho rằng, bất kỳ sự sùng bái nào đối với tính tự phát của phong trào công nhân, chỉ có thể tăng cường ảnh hưởng của tư tưởng giai cấp tư sản đối với công nhân. Do đó, phải tăng cường tuyên truyền, giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác đối với công nhân. Người nói: "Không có lý luận cách mạng thì không thể có phong trào cách mạng", "chỉ đảng nào được một lý luận tiên phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong"1 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.6, tr.23-24).


Để quán triệt đường lối xây dựng Đảng đúng đắn, chuẩn bị cho Đại hội Đại biểu lần thứ II của Đảng, năm 1900, một số người trong đó có Lênin và Plekhanov cùng sáng lập ra báo Tia lửa ở nước ngoài. Lênin là biên tập viên chủ chốt của Ban Biên tập. Bài xã luận "Nhiệm vụ cấp bách của chúng ta trong phong trào" của Lênin đăng trong số báo ra mắt đầu tiên đã chỉ ra một cách rõ ràng: Nhiệm vụ chủ yếu của tờ báo là thành lập một chính đảng mácxít ở nước Nga. Trong thời gian từ năm 1900 đến năm 1903, báo Tia lửa đã đăng tải một số lượng lớn những bài viết tuyên truyền chủ nghĩa Mác (riêng Lênin có hơn 50 bài), đồng thời nỗ lực liên kết các tổ chức chủ nghĩa dân chủ xã hội ở các nơi. Báo Tia lửa còn soạn thảo một dự thảo cương lĩnh cho Đảng Công nhân dân chủ xã hội Nga.


Tháng 7 đến tháng 8 năm 1903, Đại hội lần thứ II Đảng Công nhân dân chủ xã hội Nga lần lượt tiến hành ở Brussels và London, nghị trình chủ yếu là thông qua cương lĩnh, điều lệ và bầu ra cơ cấu lãnh đạo của Đảng. Tại hội nghị, "Liên minh công nhân Do thái Lítva, Ba Lan và Nga" (tức phái "Bund") giống như ở Đại hội lần thứ I, nêu yêu cầu công nhận họ là một tổ chức tự trị trong Đảng. Đây thực chất là phải tiến hành chế độ liên bang trong Đảng. Lênin và những người ủng hộ Lênin kiên quyết phản đối yêu cầu này, cho rằng phải xây dựng Đảng trên nguyên tắc chế độ tập trung. Lênin cho rằng, điều này liên quan đến vấn đề nguyên tắc thành lập chính đảng cách mạng ở quốc gia đa dân tộc, là vấn đề kiên trì chủ nghĩa quốc tế vô sản hay chủ nghĩa dân tộc tiểu tư sản, điều này không thể thỏa hiệp. Lênin chỉ ra rằng, chính đảng giai cấp vô sản là tổ chức đấu tranh để giải phóng các dân tộc bị áp bức, nếu trong Đảng nhấn mạnh đặc trưng dân tộc, tất sẽ làm yếu đi sức mạnh của Đảng. Cuối cùng, phái "Bund" bị phủ quyết với 46 phiếu phản đối, 5 phiếu tán thành. Đại hội lần lượt thảo luận từng điều khoản, thông qua dự thảo Cương lĩnh do báo Tia lửa dự thảo với một phiếu trắng (chỉ sửa đổi một số ít từ ngữ). Trong quá trình thảo luận, vấn đề được tranh luận gay gắt nhất là vấn đề chuyên chính vô sản. Một số đại biểu phản đối đề cập điểm này trong Cương lĩnh của Đảng với căn cứ là trong Cương lĩnh của các đảng xã hội ở Tây Âu đều không đề cập vấn đề này. Ngoài ra, Đại hội còn thảo luận vấn đề dân tộc và vấn đề nông dân. Một số đại biểu phản đối đưa quyền tự trị dân tộc vào Cương lĩnh của Đảng; một số đại biểu khác bề ngoài không phản đối tự quyết dân tộc, nhưng đồng thời lại nêu cái gọi là "tự trị văn hóa dân tộc", với mục đích lấy "tự trị văn hóa dân tộc" để thay thế cho tự quyết dân tộc. Còn có một số đại biểu không đồng ý đưa vấn đề nông dân vào Cương lĩnh của Đảng. Họ phủ định tính cách mạng của nông dân, phản đối liên minh công nông. Cương lĩnh mà Đại hội thông qua là một cương lĩnh mácxít, là một văn kiện lịch sử quan trọng của Đảng Công nhân dân chủ xã hội Nga. Cương lĩnh chỉ rõ, cương lĩnh cao nhất của Đảng là thông qua cách mạng xã hội chủ nghĩa và thực hiện chuyên chính vô sản để xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa; cương lĩnh thấp nhất, tức là nhiệm vụ trước mắt là lật đổ chế độ chuyên chế Sa hoàng, xây dựng nhà nước dân chủ cộng hòa, thực hiện chế độ làm việc 8 giờ, thực hiện các dân tộc hoàn toàn bình đẳng và quyền tự quyết dân tộc, xóa bỏ triệt để tàn dư của chế độ nông nô ở nông thôn.


Trong quá trình thảo luận và thông qua Cương lĩnh, giữa các đại biểu báo Tia lửa đã có những khác biệt. Điều 1 mà Lênin nêu là, tất cả những người thừa nhận Cương lĩnh của Đảng, giúp đỡ Đảng về mặt vật chất và tham gia một tổ chức đảng đều có thể trở thành đảng viên; còn điều khoản mà Martov nêu tuy cho rằng điều kiện bắt buộc của đảng viên là thừa nhận Cương lĩnh của Đảng, giúp đỡ Đảng về vật chất, nhưng không cho rằng phải tham gia một tổ chức đảng. Đây là một sự khác biệt về mặt nguyên tắc. Lênin cho rằng, nếu đảng viên không tham gia một tổ chức đảng, thì đảng không thể trở thành đội tiên phong có tổ chức, có kỷ luật, có thể chiến đấu của giai cấp công nhân, mà chỉ có thế là đảng nghị viện rời rạc giống như Quốc tế II. Điều khoản của Martov về cơ bản là lấy từ Điều lệ Đảng Dân chủ xã hội Đức. Do sự ủng hộ của một số phần tử không kiên định của báo Tia lửa, Đại hội đã thông qua điều khoản của Martov. Tuy nhiên, đây chỉ là thắng lợi tạm thời mà những phần tử theo chủ nghĩa cơ hội tạm thời giành được. Khi thảo luận những phần khác của Điều lệ Đảng, những nguyên tắc mà Lênin nêu ra đều được thông qua.


Khi bầu cơ cấu lãnh đạo của Đảng, do bảy người theo chủ nghĩa cơ hội1 (Năm phẩn từ phái "Bund" và hai phần tử "phái kinh tế" (ND.)) rời khỏi đại hội, Lênin và những người ủng hộ Người đã giành được đa số phiếu. Ba ủy viên Trung ương được bầu ra đều là những người ủng hộ Lênin. Những người được bầu vào Ban Biên tập của báo Tia lửa - cơ quan ngôn luận của Đảng là Lênin, Plekhanov và Martov, song Martov từ chối chức vụ này. Vậy là, những người ủng hộ Lênin liền được gọi là "phái đa số" (tiếng Nga là "Bônsêvích"), những người phản đối Lênin do Martov đứng đầu được gọi là "phái thiểu số" (tiếng Nga là "Mensêvích")2 (Không lâu sau Đại hội lần thứ II, Plekhanov trở thành Mensêvích). Như vậy, Sau Đại hội lần thứ II, Đảng đã chia thành hai phái là "Bônsêvích" và "Mensêvích"3 ("Bônsêvích" và "Mensêvích" khi đó là cách gọi được đưa vào trong ngoặc kép, sau này biến thành từ ngữ thường dùng trong Đảng. Martov và những người ủng hộ ông ta cũng chấp nhận cách nói này).


Đại hội lần thứ II đã thông qua Cương lĩnh, Điều lệ thể hiện đường lối cách mạng chủ nghĩa Mác, đặc biệt là đưa yêu cầu xây dựng chuyên chính vô sản vào Cương lĩnh, bầu ra cơ cấu lãnh đạo Trung ương để thực hiện đường lối cách mạng do Lênin đứng đầu, từ đó mở ra một trang mới trong lịch sử phong trào cách mạng giai cấp vô sản nước Nga. Đảng Cộng sản Nga đánh dấu một chính đảng cách mạng kiểu mới khác hẳn so với đại đa số các đảng theo chủ nghĩa xét lại của Quốc tế II: Đảng Bônsêvích. Lênin là người sáng lập chính của chính đảng kiểu mới này. Sau này Lênin nói: "Chủ nghĩa Bônsêvích là một trào lưu chính trị, tồn tại như một chính đảng bắt đầu từ năm 1903"4 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.39, tr.4).
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #27 vào lúc: 18 Tháng Hai, 2022, 08:04:58 am »

3. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga: sáng tạo vĩ đại về lý luận và thực tiễn cách mạng xã hội chủ nghĩa của Lênin và Đảng Bônsêvích

Sau khi Đảng Bônsêvích thành lập không lâu đã phát động và lãnh đạo cách mạng Nga năm 1905 - 1907. Đây là cuộc cách mạng dân chủ vô sản đầu tiên trong lịch sử nước Nga. Đảng Bônsêvích kịp thời tổ chức Đại hội Đại biểu lần thứ III vào tháng 4 năm 1905, thông qua đường lối sách lược cách mạng dân chủ đúng đắn. Điểm chủ yếu là: cách mạng phải kiên trì sự lãnh đạo của giai cấp vô sản; nông dân là quân đồng minh đáng tin cậy của giai cấp vô sản; sau khi cách mạng dân chủ thành công phải lập tức quá độ lên cách mạng xã hội chủ nghĩa1 (Đại hội đại biểu lần này là do Đảng Bônsêvích tự triệu tập. Đại hội đã sửa đổi Điều lệ Đảng, thông qua điều khoản liên quan đến điều kiện trở thành đảng viên trong Điều lệ Đảng được Lênin nêu ra tại Đại hội lần thứ II. Đại hội còn cải tổ cơ cấu lãnh đạo của Đảng, bầu ra Ban Chấp hành Trung ưang do Lênin đứng đầu). Sau này, Lênin đã trình bày toàn diện đường lối sách lược này trong tác phẩm nổi tiếng Hai sách lược của Đảng dân chủ - xã hội trong cách mạng dân chủ. Cách mạng tuy thất bại, song Đảng và giai cấp vô sản được thử thách và rèn luyện trong cách mạng. Đại biểu công nhân - Xôviết - được quần chúng công nhân sáng tạo trong quá trình cách mạng không chỉ là cơ quan lãnh đạo khởi nghĩa vũ trang, mà còn là manh nha của chuyên chính dân chủ công nông, là hình mẫu của chính quyền Xôviết. Lênin gọi cuộc cách mạng năm 1905 - 1907 là một lần tổng diễn tập của cách mạng năm 1917. Người nói: "Không có cuộc 'tổng diễn tập' năm 1905, cách mạng tư sản tháng Hai năm 1917 và cách mạng giai cấp vô sản tháng Mười không thể thực hiện được"2 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.36, tr.294).


Tháng 2 năm 1917, nhân dân Nga giành được thắng lợi trong cuộc cách mạng dân chủ tư sản tháng Hai, lật đổ sự thống trị của chuyên chính Sa hoàng, thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn đầu tiên trong mục tiêu chiến lược của Đảng Bônsêvích. Tuy nhiên, thành quả của cách mạng lại rơi vào tay chính phủ lâm thời của giai cấp tư sản1 (Sau Cách mạng Tháng Hai, nước Nga xuất hiện cục diện hiếm gặp trong lịch sử là "hai chính phủ cùng tồn tại", một là Xôviết đại diện cho công nhân, một là chính phủ lâm thời của giai cấp tư sản, trong khi đó những người Mensêvích và người của Đảng Cách mạng Xã hội chiếm đa số trong Xôviết lại ủng hộ chính phủ lâm thời của giai cấp tư sản). Chính phủ này kiên trì đòi đánh tiếp cuộc chiến tranh đế quốc - Chiến tranh thế giới thứ nhất, đồng thời từ chối giải quyết vấn đề ruộng đất. Lênin và Đảng Bônsêvích đã nêu rõ, phải giải quyết triệt để nhiệm vụ cách mạng dân chủ tư sản, đồng thời quá độ lên chủ nghĩa xã hội, phải tiếp tục tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa.


Tháng 4 năm 1917, Lênin đề ra Luận cương tháng Tư nổi tiếng. Văn kiện có ý nghĩa lịch sử này đã nêu ra nhiệm vụ trước mắt của Đảng Bônsêvích là từ cách mạng dân chủ tư sản quá độ lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, đồng thời đưa ra phương châm, chính sách của cương lĩnh kinh tế chính trị cho giai đoạn lịch sử cách mạng này. Luận cương tháng Tư còn nói, hình thức tốt nhất của tổ chức chính quyền vô sản Nga không phải là nước cộng hòa với chế độ nghị viện, mà là "nước cộng hòa Xôviết đại diện cho công nhân, cố nông, nông dân trong cả nước từ dưới lên trên"2 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.29, tr.115). Đây là mô hình nhà nước do Lênin sáng tạo dựa theo Công xã Pari, là kết luận có được nhờ tổng kết hai cuộc cách mạng dân chủ tư sản Nga, là bước phát triển mới của học thuyết về nhà nước của chủ nghĩa Mác. Sau khi văn kiện này ra đời đã gặp phải sự chỉ trích của các chính đảng khác, trong nội bộ Đảng Bônsêvích cũng có ý kiến phản đối. Ủy viên Trung ương kiêm Ủy viên Ban Biên tập báo Sự thật thời kỳ đó Kamenev cho rằng nhiệm vụ của cách mạng tư sản Nga vẫn chưa hoàn thành, điều kiện tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa vẫn chưa chín muồi. Ông phủ định chủ nghĩa xã hội có thể giành thắng lợi ở nước Nga. Do đó, ông phản đối việc đoạn tuyệt với chính phủ lâm thời của giai cấp tư sản, ủng hộ những kiến nghị của Mensêvích nhằm giám sát chính phủ lâm thời. Một lãnh đạo Đảng quan trọng khác là Rykov cũng phản đối Luận cương tháng Tư, cho rằng cách mạng xã hội chủ nghĩa nên được thực hiện ở những nước phát triển. Trải qua một quá trình làm việc tỉ mỉ, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc lần thứ 7 Đảng Bônsêvích tổ chức vào tháng 4, Luận cương tháng Tư cuối cùng đã nhận được sự tán đổng trong toàn Đảng.


Từ tháng 4 đến tháng 7 năm 1917, chính phủ lâm thời của giai cấp tư sản do kiên trì chủ nghĩa đế quốc trong đối  ngoại và tiếp tục trấn áp quần chúng cách mạng trong đối nội mà ba lần bị rơi vào khủng hoảng. Ba cuộc khủng hoảng này, đặc biệt là cuộc khủng hoảng lần thứ ba xảy ra vào tháng 7 cho thấy, tuyệt đại đa số quần chúng công nông vì hoàn toàn thất vọng với chính phủ lâm thời mà đã đứng về phía Bônsêvích, điều kiện cách mạng đã chín muồi. Bằng hình thức này, Đảng Bônsêvích đã quyết đoán phát động khởi nghĩa vũ trang tháng Mười ở Peterburg, giành được thắng lợi vĩ đại.


Thắng lợi của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga là thành quả vĩ đại nhờ Đảng Bônsêvích và lãnh tụ Lênin dũng cảm sáng tạo lý luận cách mạng xã hội chủ nghĩa của chủ nghĩa Mác. Mác - Ăngghen trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản tự do đã đưa ra quy luật chủ nghĩa tư bản tất sẽ diệt vong và chủ nghĩa xã hội tất sẽ thắng lợi. Họ đồng thời cũng cho rằng có đủ điều kiện để chủ nghĩa xã hội thay thế chủ nghĩa tư bản. Mác đã chỉ rõ trong "Lời nói đầu" của tác phẩm Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị rằng: "Không một hình thái xã hội nào diệt vong trước khi tất cả những lực lượng sản xuất mà hình, thái xã hội đó tạo địa bàn đầy đủ cho sự phát triển vẫn còn chưa phát triển, và những quan hệ sản xuất mới, cao hơn không bao giờ xuất hiện khi những điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó còn chưa chín muồi trong lòng bản thân của xã hội cũ"1 (Mác - Ăngghen: Tuyển tập, Sđd, q.2, tr.33). Thực chất của luận điểm này là chỉ quy luật "quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất của lực lượng sản xuất"; "nếu tính chất quan hệ sản xuất không phù hợp với lực lượng sản xuất thì đó là điều kiện cơ bản của cách mạng xã hội nhằm thay đổi quan hệ sản xuất"2 (Chu Tân Thành: Nghiên cứu vấn đề chủ nghĩa xã hội trên thế giới, Nxb. Đại học Công nghiệp). Theo Mác - Ăng ghen, trong một số nước tư bản chủ nghĩa phát triển đương thời, quan hệ sản xuất đã trở thành vật cản sự phát triển của lực lượng sản xuất, điều kiện khách quan để chủ nghĩa xã hội thay thế chủ nghĩa tư bản đã có. Ở những nước đó, không những sản xuất đại công nghiệp hiện đại hóa chiếm vị trí chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, số người thuộc giai cấp vô sản chiếm đại đa số trong dân số cả nước, mà sức sản xuất xã hội phát triển mạnh mẽ, đạt tới trình độ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa không thể "tạo địa bàn đầy đủ". Do đó, Mác - Ăngghen cho rằng, cách mạng xã hội chủ nghĩa chỉ có thể xảy ra ở một số nước tư bản chủ nghĩa phát triển. Đồng thời, Ăngghen chỉ ra tại Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản: nhờ thị trường thế giới do chủ nghĩa tư bản xây dựng nên "kết nối chặt chẽ nhân dân các nước trên toàn cẩu, đặc biệt là nhân dân các nước tiến bộ, để nhân dân mỗi nước đều nhận được ảnh hưởng từ những vấn đề phát sinh tại nước khác"3 (Mác - Ăngghen: Tuyển tập, Sđd, q.l, tr.241), do đó cách mạng xã hội chủ nghĩa phải đồng thời nổ ra ở một số nước tư bản chủ nghĩa phát triển mới có thể giành được thắng lợi. Ăngghen cho đến trước khi từ trần vẫn kiên trì quan điểm này. Trong phần lời dẫn bản tiếng Anh của cuốn Sự phát triển của chủ nghĩa xã hội từ không tưởng đến khoa học, xuất bản năm 1892, ông nói: "Sự thắng lợi của giai cấp công nhân châu Âu không chỉ quyết định bởi nước Anh. Ít nhất cần sự nỗ lực của cả ba nước Anh, Pháp, Đức mới có thể bảo đảm được thắng lợi"1 (Mác - Ăngghen: Tuyển tập, Sđd, q.3, tr.718).
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #28 vào lúc: 18 Tháng Hai, 2022, 08:05:44 am »

Lênin đã đột phá lý luận của Mác - Ăngghen trong điều kiện lịch sử mới của thời kỳ đầu thế kỷ XX. Người chỉ rõ, trong thời đại chủ nghĩa tư bản tự do phát triển thành chủ nghĩa tư bản lũng đoạn, tức là chủ nghĩa đế quốc, do quy luật bất cân bằng của sự phát triển về kinh tế, chính trị của chủ nghĩa tư bản, và cục diện quốc tế do Chiến tranh thế giới thứ nhất tạo thành, chủ nghĩa xã hội có thể giành được thắng lợi trước tiên ở một mắt xích mỏng yếu trong thế giới tư bản chủ nghĩa, trong số ít, thậm chí trong duy nhất một quốc gia tư bản chủ nghĩa. Lênin còn chỉ rõ thêm, về cơ bản do lý do tương tự, chủ nghĩa xã hội không thể giành thắng lợi đồng thời ở tất cả các nước tư bản chủ nghĩa. Trong bài "Bàn về khẩu hiệu liên bang châu Âu" viết năm 1915, Lênin chỉ rõ, "kinh tế và chính trị phát triển không đồng đều là quy luật tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản. Do đó có thể rút ra kết luận: Chủ nghĩa xã hội có thể giành thắng lợi trước tiên ở một số ít, thậm chí chỉ ở một nước tư bản chủ nghĩa"2 (Lênin: Tuyển tập, Sđd, q.26, tr.446). Một năm sau đó, trong bài "Cương lĩnh quân sự của cách mạng vô sản", Người nói, "sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở các quốc gia rất không đồng đều. Hơn nữa, trong sản xuất hàng hóa cũng chỉ có thể như vậy. Từ đó rút ra một kết luận tất yếu: Chủ nghĩa xã hội không thể cùng lúc giành thắng lợi ở mọi quốc gia"1 (Lênin: Tuyển tập, Sđd, q.30, tr.173). Đây là một lý luận cách mạng xã hội chủ nghĩa mới mẻ. Điều này chứng minh rõ ràng rằng, lý luận chủ nghĩa Mác là một lý luận phát triển không ngừng cùng với sự phát triển của thời đại.


Từ những lý luận trên, Lênin phân tích cụ thể tình hình nước Nga. Người cho rằng, tuy thời kỳ đó nước Nga chỉ là một quốc gia tư bản chủ nghĩa trung bình, sản xuất công nghiệp chỉ chiếm khoảng 40% nền kinh tế quốc dân, tổng số công nhân (căn cứ theo tư liệu gần đây các học giả Nga cung cấp) chỉ khoảng 13 triệu người (trong đó 2,8 triệu người là công nhân sinh ra trong gia đình có truyền thống công nhân, số còn lại là công nhân thế hệ đầu tiên vừa rời bỏ nông thôn), chiếm 7% dân số cả nước. Tuy số lượng người thuộc giai cấp vô sản ở Nga ít, song phân bố tương đối tập trung (khoảng 50% công nhân tập trung ở những xí nghiệp lớn có quy mô trên 1.000 người). Giai cấp vô sản Nga bị bóc lột nhiều hơn giai cấp vô sản ở các nước châu Âu khác. Công nhân Nga chịu sự bóc lột và áp bức song trùng của nhà tư bản và địa chủ phong kiến. Theo pháp luật thời kỳ đó, người công nhân đến tuổi mỗi ngày lao động 11,5 giờ. Lương tháng của công nhân, lấy nhà máy Putilov ở Peterburg năm 1904 làm ví dụ: Công nhân bình thường là 48,46 rúp, đốc công là 59,47 rúp, công nhân làm công việc chân tay chỉ có 18,59 rúp, trong khi chi phí sinh hoạt thấp nhất của công nhân nam mỗi tháng là 21 rúp, công nhân nữ là 17 rúp, gia đình công nhân là từ 32-38 rúp2 (Tham khảo Danilov, Kosolina: Lịch sử nước Nga thế kỷ XX, bản tiếng Nga, Mátxcơva, 2002, tr.24-26). Có thể thấy tình hình kinh tế của công nhân rất ảm đạm. Theo Lênin, điều kiện tiền đề của cách mạng xã hội chủ nghĩa có chín muồi hay không không chỉ tính đến điều kiện kinh tế, mà còn phải tính đến điều kiện chính trị. Tuy số lượng người thuộc giai cấp vô sản Nga ít, song phân bố tương đối tập trung, tính tổ chức và tính cách mạng tương đối mạnh, liên hệ mật thiết với đông đảo nông dân, quan trọng hơn là có sự lãnh đạo của một chính đảng cách mạng trưởng thành - Đảng Bônsêvích. Những điểm này đều là ưu thế riêng của giai cấp công nhân Nga. Lênin còn nhận thấy, tình hình quốc tế và trong nước rất có lợi cho cách mạng. Chiến tranh thế giới thứ nhất đã diễn ra 3 năm, gây ra nhiều thảm họa nghiêm trọng cho nước Nga. Tuy nhiên, cho dù Sa hoàng hay chính phủ lâm thời của giai cấp tư sản sau này đều quyết tâm tiến hành cuộc chiến tranh đế quốc này đến cùng; mà đương thời mọi chính đảng của giai cấp tiểu tư sản đều ủng hộ giai cấp tư sản. Chỉ có giai cấp vô sản và chính đảng của giai cấp vô sản kiên quyết phản đối cuộc chiến tranh này, do đó nhận được sự ủng hộ của quần chúng cách mạng trong cả nước. Từ góc độ quốc tế, hai tập đoàn quốc gia đế quốc chủ nghĩa đấu tranh với nhau trong cuộc chiến tranh này đã bị suy yếu về lực lượng, khiến cho giai cấp vô sản nước Nga có khả năng giành được thắng lợi cách mạng trong hệ thống đế quốc chủ nghĩa đã bị suy yếu này. Trong một bài viết vào tháng 8 năm 1917, Lênin nói: "Chiến tranh 3 năm qua đã đẩy chúng ta tiến lên 30 năm"; "chiến tranh dường như đã đẩy nhanh sự phát triển của tình hình, làm sâu sắc thêm khủng hoảng tư bản chủ nghĩa khiến cho người ta khó tin được"1 (Lênin: Tuyển tập, Sđd, q.32, tr.108-109). Thời kỳ đó, một số người theo chủ nghĩa giáo điều trong đội ngũ những người theo chủ nghĩa xã hội thể hiện sự hoài nghi và phản đối cách mạng xã hội chủ nghĩa và chính quyền mà giai cấp vô sản giành được ở nước Nga. Họ cho rằng Lênin là "người theo chủ nghĩa dân túy", công kích phương châm cách mạng xã hội chủ nghĩa của Lênin và Đảng Bônsêvích là "không tưởng của chủ nghĩa mạo hiểm". Tuy nhiên, Lênin kiên định và quyết đoán cho rằng, không thể khư khư giữ lấy những giáo điều của chủ nghĩa Mác, mà phải nắm bắt tình hình có lợi, phát động giai cấp vô sản giành chính quyền vào thời điểm thích hợp.


Đối với tư tưởng chiến lược trọng đại và lựa chọn lịch sử vĩ đại này, về sau Lênin đã trình bày rất rõ ràng trong bài "Bàn về cách mạng nước ta". Trong bài viết, Người thừa nhận, cách mạng xã hội chủ nghĩa cần có cơ sở kinh tế phát triển đến một trình độ nhất định; song Người cho rằng, xuất phát từ tình hình thực tế của nước Nga có thể thay đổi trình tự phát triển lịch sử thông thường: Trước tiên giành chính quyền, sau đó xây dựng văn minh vật chất. Người viết: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội cần một trình độ văn hóa nhất định, tại sao chúng ta không thể bằng biện pháp cách mạng để đạt được trình độ nhất định này trước, sau đó trên cơ sở chính quyền công nông và chế độ Xôviết đuổi kịp nhân dân các nước khác?"1 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.43, tr.271-372). Người còn tổng kết: "Quy luật thông thường của lịch sử phát triển của thế giới không những không loại trừ tính đặc thù của những giai đoạn phát triển cá biệt biểu hiện trong hình thức hoặc trình tự phát triển, mà còn lấy đó làm tiền đề"2 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.43, tr.370). Lênin cho rằng, lý luận này chứng minh: "Sự phát triển và hoàn thiện của chủ nghĩa xã hội khoa học luôn đi cùng với sự phê phán chủ nghĩa giáo điều". "Sự kiên trì theo đuổi và vận dụng trong thực tiễn đối với nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học phải kết hợp với điều kiện lịch sử cụ thể, tình hình đất nước cụ thể và thực tiễn cụ thể. Chỉ như vậy mới có thể thực sự phát huy vai trò chỉ đạo của lý luận khoa học, chủ nghĩa xã hội khoa học mới có sức sống"3 (Lý Thận Minh: "Nắm vững toàn diện nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học", Nhân dân nhật báo, ngày 21-1-2005). Có thể thấy rằng, nếu không có sự sáng tạo của Lênin và Đảng Bônsêvích về lý luận và thực tiễn cách mạng xã hội chủ nghĩa, Cách mạng Tháng Mười Nga không thể giành thắng lợi.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #29 vào lúc: 18 Tháng Hai, 2022, 08:07:16 am »

II. THÀNH TÍCH HUY HOÀNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN LIÊN XÔ THỜI KỲ ĐẦU CẦM QUYỀN

1. Những tìm tòi thành công của Đảng về lý luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở quốc gia lạc hậu

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, Đảng Bônsêvích trở thành đảng cầm quyền, về vấn đề làm thế nào bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga, Đảng không có kinh nghiệm thực tiễn, biện pháp duy nhất là tìm tòi dựa vào lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác, kết hợp với thực tế của nước Nga.


Trong giai đoạn đầu xây dựng chính quyền Xôviết, Đảng Bônsêvích không phải là thống trị bằng một đảng, mà liên kết với Đảng Cách mạng xã hội cánh tả của chính đảng cách mạng tiểu tư sản. Chính đảng này đại diện cho lợi ích của nông dân Nga, nhận được sự ủng hộ của nông dân Nga. Trước khi Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi, Đảng Bônsêvích đã hợp tác thành công với những người thuộc Đảng Cách mạng xã hội cánh tả phân hóa từ Đảng Cách mạng xã hội. Sau Cách mạng Tháng Hai, họ phản đối liên kết với giai cấp tư sản, phản đối tham gia chính phủ lâm thời của giai cấp tư sản, chủ trương tất cả chính quyền thuộc về Xô viết. Họ đã tham gia bộ máy lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa vũ trang Tháng Mười Pêtrôgrát - Đại hội Đại biểu lần thứ II của Ủy ban Cách mạng quân sự và Xôviết toàn Nga. Tháng 12 năm 1917, họ chính thức thành lập chính đảng độc lập - Đảng Cách mạng xã hội cánh tả, có 7 đảng viên được bổ nhiệm chức vụ bộ trưởng trong chính quyền Trung ương - Ủy ban nhân dân, còn rất nhiều người đảm nhiệm chức vụ thứ trưởng và lãnh đạo các địa phương, thậm chí trong "Cheka"1 (Gọi tắt của tiếng Nga "ЧК" (Всероссийская чрезвычайная комиссия): Ủy ban công tác đặc biệt thanh trừ phần tử phản cách mạng toàn Nga (ND.)) có một người thuộc Đảng Cách mạng xã hội cánh tả đảm nhiệm chức vụ Phó Chủ tịch. Họ không chỉ hữu danh vô thực, mà có chức có quyền. Tháng 3 năm 1918, do phản đối việc ký kết "Hòa ước Brest", họ đã rời khỏi Chính phủ để bày tỏ kháng nghị. Tuy nhiên, những người thuộc Đảng Cách mạng xã hội cánh tả vẫn làm việc ở một số bộ ngành trong Chính phủ (bao gồm cả "Cheka") cũng như ở Trung ương và Xôviết các cấp ở địa phương. Đến tháng 7 năm 1918, do Đảng Cách mạng xã hội cánh tả phản đối chính sách nông thôn của Đảng Bônsêvích bằng phương thức khủng bố, giết chết đại sứ Đức tại Nga, tiếp đến phát động những cuộc phản loạn có vũ trang phản đối Chính phủ ở Mátxcơva, từ đó làm rạn nứt hoàn toàn quan hệ của hai đảng. Tuy thời gian hợp tác giữa Đảng Bônsêvích và Đảng Cách mạng xã hội cánh tả không dài, song lại là một trang quan trọng trong quá trình tìm tòi xây dựng chính quyền xã hội chủ nghĩa của Đảng Bônsêvích.


Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, Đảng Bônsêvích lập tức chuyển trọng tâm công tác sang xây dựng kinh tế. Đảng Bônsêvích nhận thấy rõ rằng, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một quốc gia có nền kinh tế  kém phát triển như nước Nga, thì phải trải qua một thời kỳ quá độ, áp dụng một loạt các biện pháp quá độ. Được sự phân công của Trung ương Đảng, Lênin viết "Đề cương về những nhiệm vụ trước mắt của Chính quyền Xô viết". Ngày 26 tháng 4 năm 1918, Hội nghị Trung ương của Đảng đã thảo luận và thông qua Đề cương này, đồng thời quyết định công khai ban hành Đề cương này với danh nghĩa Lênin soạn thảo, khi ban hành, lấy tiêu đề là Những nhiệm vụ trước mắt của Chính quyền Xôviết. Đây là một văn kiện cương lĩnh quan trọng của Đảng Bônsêvích, phản ánh những tìm tòi đầu tiên của Đảng đối với việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga. Lênin nói rõ trong văn kiện này: Nhiệm vụ trung tâm chủ yếu trước mắt của giai cấp vô sản Nga đã chuyển từ "giành lấy nước Nga" sang "quản lý nước Nga"1 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.34, tr.155, 274-275, 281-282). Lênin nói, nước Nga quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện tồn tại nhiều thành phần kinh tế. Chính sách của Đảng phải xuất phát từ đặc điểm này. Những thành phần kinh tế này gồm có: "(1) Kiểu gia tộc, tức là kinh tế nông dân, đa số phụ thuộc vào thiên nhiên; (2) Sản xuất tiểu thương phẩm (ở đây bao gồm đại đa số nông dân bán lương thực); (3) Chủ nghĩa tư bản tư nhân; (4) Chủ nghĩa tư bản nhà nước; (5) Chủ nghĩa xã hội"2 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.34, tr.155, 274-275, 281-282). Trong đó, chiém ưu thế là sản xuất tiểu thương phẩm, còn "thế lực tự phát của giai cấp tiểu tư sản là kẻ thù chủ yếu của chủ nghĩa xã hội nước ta"3 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.34, tr.155, 274-275, 281-282). Do đó, Lênin cho rằng, nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của chính quyền Xô viết trong phương diện xây dựng kinh tế là "tiếp tục dùng Hồng quân để tấn công tư bản", không phải là tiếp tục tiến hành quốc hữu hóa, mà là ra sức phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước. Chủ nghĩa tư bản nhà nước là "sự chuẩn bị về vật chất đầy đủ nhất của chủ nghĩa xã hội, là bước đầu tiên của chủ nghĩa xã hội", "không thông qua 'bước đầu tiên' mà chúng ta chưa đạt tới này thì không thể bước qua cánh cửa của chủ nghĩa xã hội"4 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.34, tr.155, 274-275, 281-282). Đồng thời, còn phải giám sát việc thống kê toàn dân về sản xuất và phân phối sản phẩm. Chỉ có thể thông qua biện pháp này để thực hiện sự lãnh đạo của kinh, tế xã hội chủ nghĩa với kinh tế tư bản chủ nghĩa và kinh tế tiểu thương phẩm, thực hiện quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội; đồng thời cũng giúp cho giai cấp công nhân học được bản lĩnh quản lý. Lênin còn đặc biệt nhấn mạnh, muốn xây dựng kinh tế  xã hội chủ nghĩa, phải đặt việc nâng cao năng suất lao động lên vị trí hàng đầu. Đây là điều kiện căn bản nhất để kinh tế xã hội chủ nghĩa chiến thắng kinh tế tư bản chủ nghĩa. Biện pháp cụ thể để nâng cao năng suất lao động là tổ chức các cuộc thi lao động, thực hiện trả lương theo sản phẩm, tăng cường kỷ luật lao động, phản đối chủ nghĩa bình quân, ngoài ra đồng thời với việc bồi dưỡng cán bộ kỹ thuật của mình, còn phải tận dụng triệt để chuyên gia kỹ thuật của giai cấp tư sản và học tập kinh nghiệm quản lý xí nghiệp hiện đại của họ. Lênin nói: "Nếu không lợi dụng kỹ thuật và văn hóa mà chủ nghĩa tư bản có được thì không thể thực hiện chủ nghĩa xã hội"1 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.34, tr.289). Người còn nói: "Có thể thực hiện chủ nghĩa xã hội hay không phụ thuộc vào việc chúng ta kết hợp có tốt hay không giữa chính quyền Xôviết và tổ chức quản lý Xôviết với những cái tiến bộ mới nhất của chủ nghĩa tư bản"2 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.34, tr.170-171).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM