Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:40:20 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tính trước nguy cơ - Suy ngẫm sau 20 năm Đảng Cộng sản Liên Xô mất Đảng  (Đọc 42082 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #30 vào lúc: 18 Tháng Hai, 2022, 08:07:56 am »

Kế hoạch trên tuy còn chưa hoàn chỉnh, song đã phản ánh những tìm tòi bước đầu về quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng Bônsêvích xuất phát từ tình hình trong nước ngay sau Cách mạng Tháng Mười Nga. Tuy nhiên, trọng điểm công tác chuyển dịch sang xây dựng kinh tế không thể chỉ dựa vào mong muốn tốt đẹp là có thể thực hiện được. Kế hoạch nêu trên của Đảng Bônsêvích đang được tiến hành thì xảy ra nội chiến. Các thế lực phản động trong nước phát động tiến công vũ trang đối với chính quyền Xô viết vừa ra đời, với mục đích giết chết chính quyền từ trong trứng nước. Trước tình thế nghiêm trọng này, để bảo vệ thành quả của thắng lợi Cách mạng Tháng Mười Nga, Đảng Bônsêvích đã áp dụng một loạt những chính sách kinh tế - xã hội nghiêm ngặt mà sau này được gọi là "Cộng sản thời chiến". Nội dung hạt nhân của chính sách này là thực hiện "chế độ trưng thu lương thực dư thừa", yêu cầu nông dân giao nộp toàn bộ lương thực thừa. "Tất cả những ai có lương thực dư thừa mà không giao nộp cho trạm lương thực thì bị tuyên bố là kẻ thù của nhân dân, bị phạt tù giam 10 năm trở lên, tịch thu toàn bộ tài sản, vĩnh viễn bị trục xuất khỏi thôn xóm"1 (Lênin: Tuyển tập, Sđđ, q.4, tr.295). Để trưng thu lương thực, Đội trưng thu lương thực có vũ trang và Ủy ban bần nông được thành lập. Đồng thời với việc thực hiện "chế độ trưng thu lương thực dư thừa", đẩy nhanh tiến trình quốc hữu hóa xí nghiệp, không chỉ bao gồm xí nghiệp lớn, còn bao gồm cả xí nghiệp cỡ vừa và cỡ nhỏ. Tất cả các xí nghiệp này đều giao cho lãnh đạo Ủy ban Kinh tế quốc dân tối cao và các cục quản lý trực thuộc. Chính sách "Cộng sản thời chiến" còn bao gồm cả tiêu diệt thương mại tư nhân trong toàn quốc; tiến hành phân phối thống nhất đối với tất cả hàng tiêu dùng thiết yêu; thực hiện chế độ trả lương bằng vật chất, v.v...


Chính sách "Cộng sản thời chiến" đã phát huy vai trò tích cực không thể xem nhẹ để giành thắng lợi trong cuộc nội chiến, do đó được Lênin gọi là "một loại công lao"2 (Lênin: Tuyển tập, Sđđ, q.4, tr.502). Nhưng nếu coi đó là một con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội thì hoàn toàn sai lầm. Thời kỳ đó có một số người trong Đảng Bônsêvích, bao gồm cả một số lãnh đạo, trong quá trình thực hiện chính sách "Cộng sản thời chiến" đã bị hoang tưởng, cho rằng chính sách mạnh mẽ này không những có thể bảo vệ chính quyền Xôviết mới ra đời, mà còn có thể trực tiếp xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Họ vận dụng một cách giáo điều một số tưởng tượng của Mác - Ăngghen về xã hội xã hội chủ nghĩa tương lai, coi "Cộng sản thời chiến" là một hình thức quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Do đó xuất hiện tình trạng như sau: ban đầu là chính sách "Cộng sản thời chiến" để ứng phó với nội chiến, nhưng đến cuối năm 1920 khi chiến tranh sắp kết thúc lại bước vào thời kỳ cao trào triển khai. Điều này vừa phản ánh việc một số người trong Đảng thiếu nhận thức khoa học về chủ nghĩa cộng sản, đồng thời cũng phản ánh việc lãnh đạo Đảng Bônsêvích do Lênin đứng đầu thiếu nhận thức đầy đủ và biện pháp cụ thể về việc làm thế nào chuyển từ phương thức làm việc áp đặt ở thời chiến sang phương thức làm việc thông qua quản lý ở thời bình, do đó cần phải tìm tòi thêm nữa. Chính sách "Cộng sản thời chiến" không quan tâm đến điều kiện khách quan, tiếp tục quan tâm đến kết quả thực hiện, dẫn đến sự bất bình trong đông đảo nông dân và công nhân, thậm chí gây ra binh biến trong quân đội.


Trước nguy cơ nghiêm trọng về kinh tế, chính trị này, Đảng Bônsêvích đã triệu tập Đại hội Đại biểu lần thứ X vào tháng 3 năm 1921. Trong Báo cáo chính trị, Lênin đã tổng kết những sai lầm và bài học của Đảng trong việc lãnh đạo đất nước thời kỳ quá độ từ thời chiến sang thời bình, nêu quan điểm phải ngay lập tức xóa bỏ chế độ trưng thu lương thực dư thừa, thay vào đó là thuế lương thực. Dựa trên Báo cáo của Lênin, Đại hội Đại biểu đã thông qua Nghị quyết tương ứng. Đây là một chính sách kinh tế mới, là một chính sách kinh tế "rõ ràng có thể trở thành chính sách kinh tế dễ được nông dân chấp nhận"1 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.41, tr.68) mà Đảng Bônsêvích tìm ra.


Thuế lương thực là nội dung hạt nhân của chính sách kinh tế mới. Nông dân không những giảm nhẹ được gánh nặng mà còn có thể tự do phân phối lương thực dư thừa. Ngoài ra, chính sách kinh tế mới còn bao gồm việc đưa ra chính sách cho phép tư nhân sở hữu xí nghiệp vừa và nhỏ; cho phép nông dân cho thuê đất và thuê nhân công; khôi phục lại thương mại tự do và xây dựng quan hệ tiền tệ thương phẩm hóa; thực hiện chế độ chuyển nhượng và chế độ cho thuê, v.v... Thực chất của chính sách kinh tế mới là: (1) Dựa vào lực đẩy là lợi ích vật chất để kích thích đông đảo người lao động, trước tiên là tính tích cực trong sản xuất của nông dân; (2) Lợi dụng quan hệ thương mại, thị trường và hàng hóa để xây dựng mối liên hệ về kinh tế giữa thành thị và nông thôn; (3) Thừa nhận nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại, phát huy vai trò tích cực của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa với kinh tế hàng hóa và các thành phần kinh tế; (4) Cải thiện phương thức quản lý kinh doanh của xí nghiệp quốc doanh, bảo đảm nền kinh tế quốc dân phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc thực hiện chính sách kinh tế mới đã nâng cao tính tích cực trong sản xuất của nông dân và đông đảo nhân dân lao động, thúc đẩy có hiệu quả việc khôi phục và phát triển nền kinh tế quốc dân.


Chính sách kinh tế mới là thử nghiệm thành công của Lênin và Đảng Bônsêvích trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga, cũng là sự phát triển quan trọng của lý luận chủ nghĩa Mác. Chính sách kinh tế mới đã chứng minh sự trưởng thành thêm một bước của Đảng Bônsêvích.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #31 vào lúc: 18 Tháng Hai, 2022, 08:09:00 am »

2. Sự hình thành mô hình chủ nghĩa xã hội Xtalin - một cuộc đổi mới chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang lãnh đạo

Cuối thập kỷ 20 đầu thập kỷ 30 thế kỷ XX, xã hội Liên Xô nảy sinh những thay đổi to lớn. Từ năm 1928, trong vấn đề xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang lần lượt áp dụng những phương châm và chính sách mới. Chính sách kinh tế mới tạm dừng, đồng thời từng bước thiết lập nên một mô hình chủ nghĩa xã hội đầu tiên trên thế giới. Do mô hình chủ nghĩa xã hội được thiết lập dưới sự lãnh đạo của Xtalin, nên mọi người gọi đơn giản là "mô hình Xtalin". Đặc điểm chủ yếu của mô hình này là tập trung cao độ về kinh tế, nhà nước thực hiện chế độ công hữu đối với tuyệt đại bộ phận tư liệu sản xuất; thực hiện kinh tế  kế hoạch, thực hiện thể chế quản lý tập trung, quản lý kinh tế bằng biện pháp hành chính; ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, về chính trị, kiên trì sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; Đảng trực tiếp tham gia quản lý công việc của đất nước; thực hiện lập pháp, hành chính, tư pháp tam quyền hợp nhất; thực hiện chế độ bổ nhiệm đối với cán bộ các cấp; lãnh đạo cao nhất trong Đảng, chính quyền, quân đội tập trung vào một người; thiếu dân chủ thực sự và chế độ giám sát trong và ngoài Đảng, về tư tưởng, kiên trì địa vị chỉ đạo của chủ nghĩa Mác - Lênin, quyết không đa nguyên hóa ý thức hệ. Ba lĩnh vực nói trên liên quan mật thiết với nhau, bổ trợ lẫn nhau. Mô hình chủ nghĩa xã hội với đặc trưng chủ yếu là tập trưng cao độ ở giai đoạn mới hình thành còn chưa hoàn chỉnh, sau này trong quá trình thực hiện và vận hành không ngừng phát triển, hoàn thiện, cuối cùng trở thành một hệ thống tương đối hoàn chỉnh.


Sự hình thành của mô hình Xtalin là sự sáng tạo về chế độ xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang. Chính sách kinh tế mới thực hiện từ năm 1921 không nghi ngờ gì nữa chính là thử nghiệm thành công của Lênin và Đảng Bônsêvích trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng. Đúng như Đặng Tiểu Bình đã nói: "Có thể tư duy của Lênin tương đối tốt, thực hiện một chính sách kinh tế mới, nhưng sau này mô hình Liên Xô đã trở nên cứng nhắc"1 (Tuyển tập Đặng Tiểu Bình, Sđd, q.3, tr.139). Song cũng phải thừa nhận rằng, do Lênin qua đời quá sớm, chưa kịp suy nghĩ về rất nhiều vấn đề. Trước tiên, về vấn đề thời hạn mà Chính sách kinh tế mới phải thực hiện, Lênin từng nói như sau trong Báo cáo tại Đại hội lần thứ X năm 1921 của Đảng: "Đồng chí Osinski đã nói đến vấn đề thời hạn (Chính sách kinh tế mới), về điểm này tôi xin bảo lưu. Cái gọi là "nghiêm túc và lâu dài" chính là 25 năm. Tôi không bi quan như vậy. Tôi không muốn dự báo phải mất bao nhiêu năm, nhưng tôi cho rằng những điều đồng chí ấy nói ít nhiều có sự bi quan. Chúng ta có thể dự báo 5-10 năm đã giỏi lắm, thông thường ngay cả tình hình trong 5 tuần chúng ta cũng đã dự báo không chính xác"1 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.41, tr.139). Ngoài ra, từ quá trình thực hiện chính sách kinh tế mới có thể thấy, đây không phải là một mô hình chế độ hoàn chỉnh, hay nói cách khác đây chưa phải là sơ để xây dựng chủ nghĩa xã hội hoàn chỉnh và lâu dài của Liên Xô. Chính sách kinh tế mới tồn tại rất nhiều hạn chế và tương đối yếu. Thứ nhất, chính sách kinh tế mới chủ yếu là một loạt chính sách kinh tế hay nói cách khác chủ yếu là một loại thể chế kinh tế, nội dung chủ yếu là: thay thế chế độ trưng thu lương thực dư thừa bằng thuế lương thực, giảm nhẹ gánh nặng cho nông dân, kích thích tính tích cực trong sản xuất của nông dân; mở cửa thị trường, thực hiện thương mại tự do; hủy bỏ quốc hữu hóa xí nghiệp cỡ lớn và vừa, thực hiện nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại. Thời kỳ đó Đảng vẫn chưa kịp đưa ra thể chế chính trị và thể chế văn hóa tư tưởng tương ứng, mà trong quá trình thực hiện chính sách kinh tế mới luôn tồn tại mâu thuẫn giữa kinh doanh phân tán và điều tiết vĩ mô của nhà nước đối với nền kinh tế. Thứ hai, việc thực hiện chính sách kinh tế mới thiếu tính nhất quán, tồn tại hiện tượng dao động, lúc lỏng lúc chặt. Ví dụ, năm 1924 nêu ra phải xóa bỏ cửa hàng bán buôn tư nhân, thiết lập mối liên hệ giữa cửa hàng bán buôn quốc doanh và bán lẻ của tư nhân, từ đó thu hẹp phạm vi thực hiện của chính sách kinh tế mới; chính sách năm 1925 có sự điều chỉnh, không những khuyến khích sự phát triển của công thương nghiệp tư nhân, mà còn nới lỏng quan hệ phát canh thu tô ở nông thôn; năm 1926 lại thu hẹp chính sách, bắt đầu kêu gọi đấu tranh với "Nepman"1 (Trong tiếng Nga, "Нэпман" nghĩa là "những người làm nên chính sách kinh tế mới", chỉ những người làm công thương nghiệp trong thời kỳ chính sách kinh tế mới, chủ yếu là thương nhân). Thứ ba, trong quá trình thực hiện chính sách kinh tế mới, đặc biệt là giai đoạn sau, do phân hóa giai cấp giữa thành thị và nông thôn và xã hội hỗn loạn, quần chúng công nông, đặc biệt là nông dân bắt đầu có biểu hiện bất mãn đối với chính sách kinh tế mới. Những năm gần đầy, các nhà lịch sử Nga bằng phương pháp nghiên cứu lịch sử xã hội đã tiến hành nghiên cứu rộng rãi về tình cảm xã hội, văn hóa xã hội và tâm lý xã hội thời kỳ chính sách kinh tế mới. Từ rất nhiều tài liệu họ phát hiện ra rằng, đại bộ phận nông dân do lưu luyến với chế độ "thôn xã" truyền thông và tư tưởng bình quân chủ nghĩa, có tâm lý chống lại chính sách kinh tế mới2 (Tham khảo Nakirdina: "Chính sách kinh tế mới của Nga trong xã hội học" (tiếng Nga), trích từ Tạp chí Lịch sử Tổ quốc, kỳ 4 năm 2007). Do đó, ở giai đoạn cuối khi thực hiện chính sách kinh tế mới, khi những mâu thuẫn liên quan đến những thiếu sót và tính yếu kém của bản thân chính sách kinh tế mới và những ý kiến trái chiều trong Đảng trở nên quyết liệt, khi tình hình quốc tế đối mặt với nguy cơ chiến tranh, yêu cầu một nước xã hội chủ nghĩa phải đẩy mạnh sản xuất và quốc phòng, chính sách này rất dễ bị mô hình mới khác thay thế. Mô hình Xtalin ra đời trong bối cảnh như vậy. Về mặt khách quan, đây là yêu cầu tất yếu để chế độ xã hội chủ nghĩa tiến hành đổi mới. Đương nhiên, mô hình Xtalin cũng có quan hệ với ý tưởng chủ quan của các nhà lãnh đạo thời kỳ đó.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #32 vào lúc: 18 Tháng Hai, 2022, 08:09:45 am »

Như mọi người đều biết, không ngừng tiến hành đổi mới chế độ là yêu cầu bản chất của chủ nghĩa xã hội. Đúng như Ăngghen từng nói: "Tôi cho rằng, cái gọi là "xã hội xã hội chủ nghĩa" không phải là thứ nhất thành bất biến, mà nên giống như mọi chế độ xã hội khác, nhìn nhận xã hội xã hội chủ nghĩa như một xã hội luôn luôn thay đổi và cải cách"1 (Mác - Ăngghen: Toàn tập, Sđd, q.37, tr.443). Do đó, trong điều kiện lịch sử thời kỳ đó, mô hình Xtalin thay thế chính sách kinh tế mới là hoàn toàn bình thường.


Điều cần chỉ rõ là, sự hình, thành của mô hình Xtalin vừa là đòi hỏi tất yếu không ngừng đổi mới của chế độ xã hội chủ nghĩa, cũng liên quan mật thiết đến truyền thống văn hóa lịch sử nước Nga và tình hình quốc tế mà nước Nga phải đối mặt thời kỳ đó.


Thứ nhất, trước cách mạng, nước Nga không phát triển về kinh tế chính trị cũng lạc hậu. Chịu ảnh hưởng của tư tưởng "thôn xã" đã tồn tại từ lâu, nông dân ít có khái niệm về tư hữu ruộng đất. Do giai cấp vô sản tương đối yếu, trong lịch sử nước Nga chưa từng có những hội nghị giống như các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây, chế độ dân chủ tư bản chủ nghĩa chưa được phát triển đầy đủ. Trình độ giáo dục của người dân không cao, khiến cho họ không thể hiểu và quen với việc thực hiện các quyền dân chủ, mà suốt một thời gian dài chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa dân túy khiến họ dễ tiếp nhận quan điểm duy tâm lịch sử - anh hùng sáng tạo nên lịch sử. Tất cả những yếu tố này về mặt khách quan đều có lợi cho việc tiếp nhận mô hình chủ nghĩa xã hội tập trung cao độ.


Thứ hai, Liên Xô ở trong tình trạng bị bao vây bởi các nước tư bản chủ nghĩa và trong điều kiện xung quanh có chiến tranh, phải tự mình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đương thời, xuất phát từ tình hình trong nước hay tình hình quốc tế thì Đảng cũng phải nghiêm túc đối mặt với vấn đề "ai thắng ai". Điều đó yêu cầu Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang trong một thời gian ngắn phải thúc đẩy sản xuất và quốc phòng phát triển. Nếu không, quốc gia xã hội chủ nghĩa đầu tiên sẽ bị chủ nghĩa đế quốc nuốt chửng. Xtalin cảnh báo không chỉ một lần: Lạc hậu sẽ phải ăn đòn. Chính vì cảm giác cấp bách này khiến cho lãnh đạo Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang cảm thấy phải bằng biện pháp hành chính tập quyền cao độ để động viên nhân lực, vật lực trong cả nước, phát triển nền kinh tế quốc dân một cách nhanh nhất bằng bất cứ giá nào, đặc biệt phải ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, đồng thời coi đó là cơ sở xây dựng đất nước công nghiệp hóa và nông nghiệp tập thể hóa.


Cuối cùng, do hạn chế thời đại và thực tiễn, nhận thức của nhân dân về lý luận chủ nghĩa xã hội vẫn chưa đạt được trình độ sau này, lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô cũng không ngoại lệ.

Tóm lại, có thể thấy rằng, mô hình chủ nghĩa xã hội tập trung cao độ của Liên Xô là sản phẩm của thời đại nhất định và hoàn cảnh nhất định. Sự hình thành của mô hình này trước tiên là một hiện tượng lịch sử. Đương nhiên, lý luận và thực tiễn chủ nghĩa xã hội của cá nhân Xtalin, bao gồm quan điểm về chủ nghĩa xã hội của ông và một số sai lầm trong sách lược đấu tranh của ông, cũng như phẩm chất và tác phong của ông cũng góp thêm một số yếu tố tiêu cực cho mô hình chủ nghĩa xã hội Liên Xô. Nhưng đây là thứ yếu. Tóm lại, mô hình chủ nghĩa xã hội đầu tiên trên thế giới mà Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang xây dựng nên trong thời kỳ Xtalin cầm quyền mặc dù có những điểm tệ hại nghiêm trọng (về điểm này chúng tôi bàn thêm ở phần sau), song đã có những tác dụng tích cực rất lớn trong lịch sử. Sự ra đời của mô hình này cơ bản phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong xã hội Liên Xô và tình hình tư tưởng văn hóa của nhân dân Liên Xô lúc đó. Mô hình này phản ánh chế độ xã hội chủ nghĩa Liên Xô đương thời. Đây là mặt căn bản của mô hình này. Có thể nói rằng, sự ra đời của mô hình chủ nghĩa xã hội Liên Xô là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử của Đảng Bônsêvích sau chính sách kinh tế mới. Trong điều kiện lịch sử thời kỳ đó, mô hình này không phải là bước lùi mà là sự sáng tạo. Không thể cho rằng sau khi mô hình này thay thế chính sách kinh tế mới, đã bị "cứng nhắc", cứng nhắc là về sau này, nếu không thì Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang không thể đạt được những thành tựu mang tính lịch sử trong những năm 1930-1940, bao gồm cả thắng lợi trong cuộc Chiến tranh vệ quốc chống phátxít.


Khi khảo sát vai trò lịch sử của mô hình Xtalin, có một vấn đề đáng để tìm hiểu: sau thắng lợi của cuộc Chiến tranh vệ quốc, phải chăng tính tích cực của mô hình này đã mất hết? Câu trả lời của chúng tôi cơ bản là phủ định. Thời kỳ đầu chiến tranh, điều kiện để Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang tiếp tục đổi mới chế độ xã hội chủ nghĩa chưa chín muồi. Trước hết, xã hội Liên Xô cần được điều trị, hàn gắn vết thương chiến tranh, mà mô hình Xtalin có thể trong một thời gian ngắn điều động nhân lực, vật lực trong cả nước, nhanh chóng khôi phục nền kinh tế  trong nước; thứ hai, sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc không lâu đã xảy ra Chiến tranh lạnh, phe đế quốc chủ nghĩa dần lộ diện. Liên Xô lại một lần nữa đối mặt với vấn đề "ai thắng ai", nếu không nhanh chóng khôi phục nền kinh tế quốc dân, làm cho đất nước trở nên lớn mạnh, Liên Xô sẽ vẫn bị "nuốt chửng"1 (Tham khảo Trần Chi Hoa, Thẩm Tông Vũ: "Đổi mới chế độ và Liên Xô - sự hình thành, phát triển và biến đổi của mô hình chủ nghĩa xã hội Xtalin", tạp chí Nghiên cứu Nga, Trung Á, Đông Âu, kỳ 4 năm 2003, tr.9).
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #33 vào lúc: 18 Tháng Hai, 2022, 08:10:56 am »

3. Thành tựu to lớn mà Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang giành được những năm 1930 - 1940

Trong thời kỳ cầm quyền, đặc biệt là thập kỷ 30 - 40 thế kỷ XX, Đảng Bônsêvích đã giành được những thành tựu to lớn mang tính lịch sử. Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang chịu ảnh hưởng của cuộc đấu tranh kịch liệt trong nội bộ vào nửa cuối thập kỷ 20 của thế kỷ XX, mặc dù tồn tại những vấn đề khác nhau, về tổng thể vẫn là một chính đảng lãnh đạo có hiệu quả, ý chí thống nhất, mục tiêu kiên định, tràn đầy niềm tin. Nhà nước Xôviết thời kỳ đó mặc dù còn tồn tại những thiếu sót khác nhau, song về tổng thể là một nhà nước xã hội chủ nghĩa đa dân tộc gian khổ đấu tranh, đoàn kết ổn định, khí thế hừng hực, phồn vinh thịnh vượng. Nếu nói trong quá trình lịch sử 74 năm sau khi Đảng Cộng sản Liên Xô cầm quyền có những thời kỳ phát triển thì phải kể đến thập kỷ 1930 - 1940. Những thành tựu mà Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang và Nhà nước Xôviết giành được trong thời kỳ này được cả thế giới công nhận, ngay cả những người phản đối Đảng Bônsêvích cũng không dám phủ nhận điều này. Những thành tựu đó có thể quy nạp thành những điểm sau đây:


Thứ nhất, đã thiết lập nên chế độ xã hội chủ nghĩa trên đất nước Liên Xô rộng lớn.

Trải qua kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1928-1932), kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1933-1937), cùng với việc thực hiện công nghiệp hóa và nông nghiệp tập thể hóa, chế độ công hữu về tư liệu sản xuất (bao gồm chế độ sở hữu nhà nước và nông trang tập thể, chế độ sở hữu hợp tác xã) đã chiếm vị trí chi phối tuyệt đối trong nền kinh tế quốc dân. Năm 1937, thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa chiếm 99,8% tổng giá trị sản lượng công nghiệp toàn quốc, chiếm 98,5% tổng giá trị sản lượng nông nghiệp, chiếm 100% giá trị bán lẻ hàng hóa, chiếm 99,1% thu nhập quốc dân1 (Tham khảo Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác, Trung ương Đàng Cộng sản Liên Xô: Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô, bản tiếng Nga, Mátxcơva, 1970, q.4, t.2, tr.470). Sự thay đổi trong quan hệ sở hữu đã dẫn đến sự thay đổi trong cơ cấu giai cấp xã hội. Giai cấp bóc lột ở thành thị và nông thôn đã bị tiêu diệt, toàn xã hội chủ yếu do giai cấp công nhân, nông dân tập thể và phần tử trí thức lao động tạo thành. Năm 1913, phần tử giai cấp bóc lột chiếm 16,3% tổng dân số nước Nga Sa hoàng, năm 1928, tỷ lệ phần tử giai cấp bóc lột so với tổng dân số cả nước giảm xuống còn 4,6%, đến khi kết thúc kế hoạch 5 năm lần thứ hai, phần tử giai cấp bóc lột ở thành thị và nông thôn đã không còn tồn tại. Năm 1937, giai cấp công nhân và phần tử trí thức chiếm 45,7% tổng dân số cả nước, nông dân tập thể và người làm trong lĩnh vực thủ công nghiệp hợp tác hóa chiếm 48,8%, còn lại 5,5% là nông dân cá thể và người làm trong lĩnh vực thủ công nghiệp cá thể2 (Tham khảo Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác, Trung ương Đàng Cộng sản Liên Xô: Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô, bản tiếng Nga, Mátxcơva, 1970, q.4, t.2, tr.491). Chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chiếm vị trí chủ đạo và sự tiêu vong của giai cấp bóc lột đã tạo tiền đề cho nguyên tắc làm theo năng lực, hưởng theo lao động. Những tình hình nêu trên cho thấy, chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa đã cơ bản được xác lập ở Liên Xô.


Để thích ứng với chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa, trước và sau khi kết thúc kế hoạch "5 năm lần thứ hai", chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa cuối cùng cũng được xác lập. Đặc trưng chủ yếu của chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa có những điểm sau đây. Một là, Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang là lực lượng lãnh đạo duy nhất trong cả nước. Tuy trong Hiến pháp Liên Xô công bố năm 1936 không quy định điều này, song nguyên tắc này được cả nước công nhận. Xtalin nói: "Người lãnh đạo của hệ thống chuyên chính vô sản là một đảng, là đảng của giai cấp vô sản, tức Đảng Cộng sản. Đảng này quyết không thể phân chia quyền lãnh đạo với chính đảng khác"1 (Xtalin: Tuyển tập, Nxb. Nhân dân, 1979, quyển thượng, tr.407). Hai là, chế độ Xô viết là chế độ căn bản của đất nước. Đó là hình thức tổ chức cụ thể của chuyên chính vô sản. Chế độ này khác hoàn toàn chế độ tam quyền phân lập của nhà nước tư bản chủ nghĩa. Đó là biểu hiện của dân chủ xã hội chủ nghĩa, giúp cho toàn thế người lao động và đại diện của họ thực hiện quyền quản lý đất nước, giải quyết những công việc của đất nước có hiệu quả. Ba là, ý thức hệ chủ nghĩa Mác - Lênin giữ vai trò chỉ đạo.


Chế độ chính trị căn bản của chủ nghĩa xã hội với ba đặc trưng chủ yếu nêu trên đã hình thành ở thời kỳ Lênin, nhưng chỉ đến thời kỳ Xtalin mới định hình.

Năm 1936, Liên Xô thông qua Hiến pháp mới. Hiến pháp quy định rõ Liên Xô là nhà nước xã hội chủ nghĩa công nông, cơ sở kinh tế của nhà nước là chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuẵt, thực hiện nguyên tắc làm theo năng lực, hưởng theo lao động; cơ sở chính trị của nhà nước là Xôviết đại diện cho nhân dân lao động các cấp. Việc ban hành Hiến pháp mới chúng tỏ chế độ cơ bản của chủ nghĩa xã hội đã được xác lập ở Liên Xô, đồng thời thiết lập nên một điển hình nhà nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới.


Thứ hai, đã phát triển lực lượng sản xuất lớn, thực hiện công nghiệp hóa đất nước lấy công nghiệp nặng làm trung tâm, tăng cường quốc lực tổng hợp.

Thời kỳ đó Liên Xô là nước xã hội chủ nghĩa duy nhất trên thế giới, bị bao vây bởi các nước tư bản chủ nghĩa. Họ luôn tìm cách tiêu diệt chính quyền giai cấp vô sản mới ra đời này. Đến giữa thập kỷ 1920, nền kinh tế  quốc dân của Liên Xô tuy đã cơ bản khôi phục, nhưng trình độ tổng thể vẫn rất thấp. Sản lượng công nghiệp toàn quốc lạc hậu hơn 50 đến 100 năm so với các nước tư bản chủ nghĩa chủ yếu. Xuất phát từ tình hình trong nước thời kỳ đó, Liên Xô có một phương châm quan trọng của công nghiệp hóa là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng. Xtalin chỉ ra rằng: "Không phải phát triển bất cứ loại công nghiệp nào cũng đều là công nghiệp hóa. Trung tâm của công nghiệp hóa, cơ sở của công nghiệp hóa chính là phát triển công nghiệp nặng (nhiên liệu, kim loại, v.v...), xét đến cùng, chính là phát triển sản xuất tư liệu sản xuất, phát triển ngành chế tạo của đất nước"1 (Xtalin: Toàn tập, Sđd, q.8, tr.112-113). Điều này lấy lý luận cho rằng trong khi mở rộng tái sản xuất ưu tiên tăng trưởng tư liệu sản xuất của chủ nghĩa Mác làm căn cứ, căn bản phù hợp với tình hình nước Nga thời kỳ đó. Công nghiệp Liên Xô lạc hậu, nhung lại có nguồn tài nguyên phong phú, chỉ cần có lượng tư liệu sản xuất lớn là có thể phát triển tương đối nhanh, từ đó thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế quốc dân phát triển, nâng cao quốc lực tổng hợp. Điều này rất có lợi cho việc chuẩn bị chiến tranh trong bối cảnh quốc tế thời kỳ đó.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #34 vào lúc: 18 Tháng Hai, 2022, 08:15:21 am »

Một phương châm khác liên quan đến phương châm ưu tiên phát triển công nghiệp nặng là nhấn mạnh tốc độ cao. Xtalin không chỉ nói một lần: để tiến hành xây dựng nền kinh tế  xã hội chủ nghĩa "phải hợp lực và ra sức đẩy nhanh tốc độ", "kéo dài tốc độ là lạc hậu. Mà người lạc hậu sẽ phải ăn đòn"2 (Xtalin: Toàn tập, Sđd, q.13, tr.37). Trong thời kỳ thực hiện hai kế hoạch 5 năm, tốc độ tăng trưởng của công nghiệp Liên Xô, đặc biệt là công nghiệp nặng, đạt mức cao trước nay chưa từng có. Tuy một số chỉ tiêu của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất không thực hiện được, nhưng thời kỳ đó, tốc độ tăng trưởng của sản xuất công nghiệp vẫn đạt 19,2%, trong đó công nghiệp nặng là 28,5%, công nghiệp nhẹ là 11,4%; thời kỳ thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ hai, tốc độ tăng trưởng bình quân của sản xuất công nghiệp đạt 11,7%, trong đó công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ lần lượt đạt 19% và 14/8%1 (Tham khảo Trần Chi Hoa (chủ biên): Đề cương lịch sử Liên Xô (1917- 1937), Nxb. Nhân dân, 1991, quyển hạ, tr.606, 619). Trong hai kế hoạch 5 năm đầu tiên, sản xuất công nghiệp tăng gấp 3,5 lần, đặc biệt 80% sản phẩm công nghiệp là do những nhà máy mới thành lập hoặc cải tạo lại sản xuất ra2 (Tham khảo Danilov, Kosolina: Lịch sử nước Nga thế kỷ XX, Sđd, tr.165). Năm 1929-1937, thành lập mới 6.000 nhà máy sản xuất công nghiệp cỡ lớn. Đến năm 1937, sản phẩm công nghiệp nhập khẩu từ nước ngoài chỉ chiếm khoảng 1%, về kỹ thuật hoàn toàn không phụ thuộc vào các nước tư bản chủ nghĩa3 (Tham khảo Sechinov: Lịch sử nước Nga thế kỷ XX, (bản tiếng Nga), Mátxcơva, tr.152). Từ Đại hội lần thứ XIV Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang quyết định coi công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng và nhân dân toàn quốc, đến năm 1937 khi hoàn thành kế "hoạch 5 năm lần thứ hai, chỉ mất 12 năm đã cơ bản thực hiện công nghiệp hóa ở Liên Xô.


"Kỳ tích công nghiệp hóa" mà nhân dân Liên Xô sáng tạo nên dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang đã căn bản làm thay đổi địa vị kinh tế của Liên Xô trên bản đồ kinh tế  thế giới, thu hẹp sự khác biệt về kinh tế giữa Liên Xô với các nước tư bản chủ nghĩa. Năm 1937, trình độ sản xuất công nghiệp của Liên Xô từ vị trí thứ năm thế giới và thứ tư châu Âu của năm 1913 đã lên vị trí thứ hai thế giới và thứ nhất châu Âu. Tỷ trọng tổng giá trị sản phẩm công nghiệp của Liên Xô từ chỗ chiếm 4% tổng giá trị sản phẩm công nghiệp toàn thế giới nâng lên 10% vào năm 19374 (Tham khảo Lục Nam Tuyền (dịch): 60 năm nền kinh tế quốc dân Liên Xô, Hiệu sách tam liên Đời sống - Đọc sách - Tri thức mới, 1979, tr.28). Tốc độ tăng trưởng công nghiệp của Liên Xô đã chứng minh tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, đồng thời cũng tạo ra sức hấp dẫn đối với thế giới tư bản chủ nghĩa. Theo ghi chép của tác gia người Mỹ William Manchester trong cuốn Vinh quang và mơ ước, ở thời kỳ khủng hoảng kinh tế Mỹ đầu những năm 30, các công ty thương mại của Liên Xô tại Mỹ bình quân mỗi ngày nhận được 350 lá đơn của công nhân Mỹ xin di cư sang sống ở Liên Xô1 (Tham khảo Hoàng Vĩ Đinh: 10 năm mất Đảng của Đảng Cộng sản Liên Xô, Nxb. Đại học Giang Tây, 2002, tr.58). Như mọi người đều biết, "Chính sách mới" mà Tổng thong Roosevelt thực hiện nhằm khắc phục cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng chính là tiếp thu thế mạnh của thể chế kinh tế xã hội chủ nghĩa. Tháng 7 năm 1934, nhà văn người Anh Herbert George Wells nói với Xtalin sau 14 năm thăm lại Liên Xô: "Bây giờ các nhà tư bản nên học tập các ông để lĩnh hội tinh thần của chủ nghĩa xã hội. Tôi cho rằng, đối với nước Mỹ, vấn đề nằm ở chỗ tiến hành cải tạo sâu sắc, ở chỗ xây dựng nền kinh tế kế hoạch, tức là kinh tế xã hội chủ nghĩa"2 (Xtalin: Tuyển tập, Sđd, quyển hạ, tr.351).


Thứ ba, đời sống vật chất và trình độ văn hóa của nhân dân lao động được nâng lên rõ rệt.

Phát triển sức sản xuất xã hội là nhiệm vụ chủ yếu của xã hội xã hội chủ nghĩa, mục tiêu chủ yếu là cải thiện đời sống của nhân dân lao động, nâng cao đời sống vật chất và trình độ văn hóa của họ. Theo tư liệu của học giả người Nga Sinkin, năm 1930, Liên Xô đã đóng cửa thị trường lao động cuối cùng3 (Tham khảo Danilov, Kosolina: Lịch sử nước Nga thế kỷ XX, Sđđ, tr.164). Khi kết thúc "Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất" vào năm 1932, cả nước đã cơ bản xóa bỏ hiện tượng thất nghiệp. Tiền lương thực tế của công nhân cả nước năm 1940 tăng 5 lần so với năm 1913; thu nhập thực tế của người dân ở nông trang cũng tăng hơn gấp đôi trong khoảng thời gian từ năm 1934 đến năm 1937. Liên Xô từ Tết năm mới năm 1934 đã xóa bỏ chế độ cung ứng bánh mỳ và mỳ theo định lượng, từ ngày 10 tháng 10 lại xóa bỏ chế độ cung ứng thực phẩm theo định lượng; từ Tết năm mới năm 1936, xóa bỏ mọi chế độ cung ứng hàng hóa theo định lượng. Một loạt nhà ở, bệnh viện, viện dưỡng lão và nhà trẻ được xây dựng mới. Trong thời kỳ kế hoạch 5 năm lần thứ hai có 67,3 triệu m2 nhà ở được đưa vào sử dụng. Thời kỳ này, đầu tư cho xây dựng nhà ở và các công trình công cộng tương đương với đầu tư cho công nghiệp nặng.


Cùng với những cải thiện trong đời sống vật chất, trình độ văn hóa của quần chúng nhân dân cũng nâng lên rõ rệt. Trong khoảng thời gian những năm 1920-1940, Liên Xô đã xóa mù chữ cho 50 triệu người trong cả nước. Theo số liệu điều tra dân số năm 1939, trong tổng số dân từ 9 tuổi trở lên, số người biết chữ chiếm 81,2%, tăng 30% so với năm 1926. Năm 1939, có 90 vạn sinh viên cao đẳng, đại học; năm 1940 có 90 vạn học sinh tốt nghiệp hệ phổ thông 10 năm1 (Tham khảo A.K. Sokurov: Lịch sử nước Nga (bản tiếng Nga), Mátxcơva, 1995, tr.262-263). Trong thời gian hai kế hoạch 5 năm đầu tiên, có một lượng lớn công trình văn hóa quần chúng mới được xây dựng đưa vào sử dụng, bao gồm câu lạc bộ ở thành thị và nông thôn, thư viện các cấp, rạp chiếu phim...


Tình hình trên đã phản ánh đầy đủ cảnh tượng ổn định và phồn vinh của xã hội Liên Xô đương thời, cũng cho thấy Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang xứng đáng là chính đảng đại diện cho lợi ích căn bản của đông đảo nhân dân Liên Xô.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #35 vào lúc: 18 Tháng Hai, 2022, 08:16:28 am »

Thứ tư, giành được thắng lợi huy hoàng trong cuộc chiến tranh chống phátxít xâm lược, sau đó đã nhanh chóng khôi phục nền kinh tế quốc dân trong những năm sau chiến tranh.

Tháng 6 năm 1941, phátxít Đức phát động cuộc chiến tranh xâm lược Liên Xô. Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang khi đó đang dựa vào thể chế kinh tế - chính trị tập trung cao độ, rất nhanh chóng đưa đất nước vào quỹ đạo chiến tranh, công tác của Đảng cũng được cải tổ theo yêu cầu của thời kỳ chiến tranh, động viên được lực lượng chống phátxít tự thân một cách hiệu quả. Trong một khoảng thời gian rất ngắn, đã điều động được hơn 500 bí thư cao cấp, trong đó có Bí thư Trung ương của nước cộng hòa, ra tiền tuyến làm thành viên của Ủy ban Quân sự; điều động hơn 270 người phụ trách trong các Ban của Trung ương Đảng giữ các chức vụ lãnh đạo trong Hồng quân và Hồng hải quân. Ngoài ra còn thành lập tổ chức Đảng ở hơn 1.100 xí nghiệp lớn, và từ tháng 11 năm 1941, thành lập Ban Chính trị ở các nông trường quốc doanh và các trạm máy kéo nông nghiệp (cho đến tháng 5 năm 1943). Trong nửa năm đầu chiến tranh, có hơn 1 triệu đảng viên cộng sản tình nguyện ra tiền tuyêh. Con số này bằng 1/3 số chiến sĩ trong toàn quân đội Liên Xô. Ở thời kỳ sau của chiến tranh, trong quân đội Liên Xô có 2,7 triệu đảng viên cộng sản1 (Tham khảo A.s. Parsenkov: Lịch sử nước Nga giai đoạn 1938-2002, (bản tiếng Nga), Mátxcơva, 2003, tr.49). Dưới sự tổ chức trực tiếp của Đảng Cộng sản, trong vòng 4 tháng, từ tháng 7 đến tháng 11 năm 1941, hơn 1.500 xí nghiệp và hơn 10 triệu nhân viên đã được chuyên từ khu vực miền Tây tiếp giáp tiền tuyến đến những khu vực như Ural, Xêbêri và Kazakh, quy mô to lớn và hiệu quả cạo của những nhà máy này khó có thể tìm thấy trong lịch sử chiến tranh thế giới2 (Tham khảo Danilov, Kosolina: Lịch sử nước Nga thế kỷ XX, Sđd, tr.218).


Cần phải thừa nhận rằng do Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang do Xtalin lãnh đạo thiếu sự chuẩn bị đầy đủ về tư tưởng đối với cuộc chiến tranh quy mô lớn đột ngột xảy ra nên quân đội Liên Xô bị tổn thất to lớn trong thời kỳ đầu cuộc chiến tranh. Quân đội Đức dựa vào sự bất ngờ và binh lực lớn mạnh, rất nhanh chóng chiếm lĩnh được một loạt thành phố quan trọng ở miền Tây Liên Xô và khoảng 1,5 triệu km2 lãnh thổ, tiến sâu vào trong Liên Xô 800 - 1.200 km. Nhưng tập thể lãnh đạo Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang do Xtalin đứng đầu đã nhanh chóng điều chỉnh chiến lược, quân đội Liên Xô nhanh chóng xoay chuyển được cục diện bị động, trải qua mấy tháng chiến đấu ngoan cường, đầu năm 1942 đã giành thắng lợi lớn trong cuộc chiến đấu bảo vệ Mátxcơva, phá vỡ thần thoại "bất khả chiến bại" của quân đội Đức. Tiếp đó quân đội Liên Xô lại tiến hành chiến đấu kịch liệt trong nửa tháng, giành được chiến thắng trong chiến dịch Xtalingrad làm cả thế giới phải kinh ngạc. Đầu năm 1944, quân đội Liên Xô tiến hành phản công toàn diện. Nhờ sự phối hợp của quân đội Đồng minh, Liên Xô không những giành lại được toàn bộ lãnh thổ, mà còn giải phóng cho các quốc gia Đông, Nam Âu bị phátxít thống trị và nô dịch, đồng thời đến tháng 4 năm 1945 tấn công vào lãnh thổ nước Đức, ngày 2 tháng 5 tấn công Béclin, giành thắng lợi cuối cùng trong cuộc chiến tranh chống phátxít và chiến tranh vệ qưôc.


Trong thời kỳ Chiến tranh vệ quốc, ngành công nghiệp quân sự của Liên Xô có bước phát triển lớn, bảo đảm về vật chất cho tiền tuyến. Có được điều này chủ yếu là do trước chiến tranh đã thực hiện công nghiệp hóa lấy phát triển công nghiệp nặng làm trọng tâm. Nếu không có cơ sở này thì không thể có chiến thắng của quân đội Liên Xô. Trong 3 năm cuối của cuộc chiến tranh, mỗi năm Liên Xô sản xuất ra 30 ngàn xe tăng, 40 ngàn máy bay, 120 ngàn quả pháo và 190 triệu đầu đạn1 (Tham khảo Samsonov (chủ biên): Sơ lược lịch sử Liên Xô, (bản tiếng Nga), Mátxcơva, quyển 2, tr.388). Trong khi đó năm 1944, số lượng xe tăng mà ba nước Mỹ, Anh, Đức sản xuất lần lượt là 17.500, 5.000 và 17.800 chiếc; số lượng máy bay lần lượt là 96.000, 26.000 và 39.000 chiếc. Điều nhân dân Liên Xô tự hào là họ hoàn toàn dùng vũ khí trong nước sản xuất để chiến thắng nước Đức xâm lược. Chiến thắng của cuộc Chiến tranh vệ quốc còn nhờ vào sự đoàn kết, quyết tâm chiến đấu của toàn quân, toàn dân cả nước, chủ nghĩa yêu nước không sợ hy sinh và tinh thần anh hùng cách mạng. Họ không xuất phát từ chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa yêu nước đơn thuần mà từ niềm tin vô bờ vào Đảng Cộng sản và chủ nghĩa cộng sản để lao vào chiến đấu.


Trong thời kỳ chiến tranh, nền kinh tế quốc dân của Liên Xô bị phá hoại nghiêm trọng. Thiệt hại về vật chất do chiến tranh là 2.500 tỷ rúp, trong đó thiệt hại trực tiếp do kẻ địch gây ra là 679 tỷ rúp. Con số này chiếm 30% tổng số tài sản quốc gia và 45% tổng sản phẩm quốc dân thời kỳ trước chiến tranh. 27 triệu quân dân chết trong chiến tranh (trong đó quân nhân chiếm 10 triệu), hơn 5 triệu ngôi nhà bị phá hủy, 25 triệu người vô gia cư. Diện tích canh tác ở nông thôn giảm 1/4, thu hoạch giảm 1/31 (Tham khảo A. Filipov: Lịch sử nước Nga hiện đại (1945-2006), Nxb. Khoa học xã hội Trung Quốc, 2008, tr.12). Trong thời kỳ chiến tranh, quân đội Đức đã phá hủy hơn 1.700 ngôi làng và hơn 7 vạn thôn trang, phá hủy 32.000 nhà máy, 16.000 km đường sắt, 1.135 mỏ khoáng sản, 427 bảo tàng, 43.000 thư viện2 (Tham khảo Sechinov: Lịch sử nước Nga thế kỷ XX, (bản tiếng Nga), Mátxcơva, tr.208).


Sau khi giành thắng lợi trong cuộc Chiến tranh vệ quốc, Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang lập tức lãnh đạo nhân dân Liên Xô khôi phục và phát triển nền kinh tế quốc dân. Năm 1946, Liên Xô đã thông qua kế hoạch phát triển nền kinh tế quốc dân - kế hoạch 5 năm lần thứ tư. Nhờ sự nỗ lực phấn đấu của nhân dân cả nước, kế hoạch 5 năm lần thứ tư đã hoàn thành trước thời hạn vào năm 1950 trong khoảng thời gian 4 năm 3 tháng. Tổng thu nhập quốc dân năm 1950 đạt 153 tỷ USD, chiếm khoảng 53,3% so với Mỹ (Mỹ là 286,8 tỷ USD), vượt xa các nước Anh, Pháp, Cộng hòa liên bang Đức, Canađa và Italia (lần lượt là 32,2 tỷ USD, 26,8 tỷ USD, 21,4 tỷ USD, 17,2 tỷ USD và 13,8 tỷ USD)1 (Tham khảo Lục Nam Tuyền (chủ biên): 70 năm phát triển nền kinh tế quốc dân Liên Xô, Nxb. Công nghiệp cơ khí, 1988, tr.41). "Năm 1948, sản xuất công nghiệp đã đạt mức trước chiến tranh, khôi phục thành công các nhà máy điện, nhà máy luyện kim, nhà máy chế tạo cơ khí và nhà máy khai thác khoảng sản... Trình độ sản xuất năm 1950 vượt 73% so với trình độ thời kỳ trước chiến tranh". Khoa học kỹ thuật quốc phòng cũng có bước phát triển mới. "Ngày 29 tháng 8 năm 1950 đã thử nghiệm thành công một quả bom nguyên tử tại Trung tâm phóng vệ tinh gần Semipalatinsk, ngày 10 tháng 10 năm 1948, Liên Xô đã phóng tên lửa đạn đạo đầu tiên P-1"2 (Filipov: Lịch sử nước Nga hiện đại (1945-2006), Sđd, tr.244). Những tình hình này cho thấy đến năm 1950, công nghiệp Liên Xô đã khôi phục và vượt trình độ trước chiến tranh. Nhưng nông nghiệp khôi phục tương đối chậm. Khi chiến tranh vừa kết thúc, trình độ sản xuất nông nghiệp chỉ bằng khoảng 60% so với trước chiến tranh3 (Danilov, Kosolina: Lịch sử nước Nga thế kỷ XX, Sđd, tr.244), nạn đói năm 1946 càng khiến cho tình hình nông nghiệp trở nên nghiêm trọng. Đến năm 1950, trình độ sản xuất nông nghiệp chỉ bằng 99% so với trước chiến tranh, chỉ đến năm 1952 mới khôi phục lại được trình độ như trước chiến tranh4 (Tham khảo Filipov: Lịch sử nước Nga hiện đại (1945-2006), Sđd, tr.12).
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #36 vào lúc: 19 Tháng Hai, 2022, 08:01:57 am »

4. Mầm mống của nhân tố tiêu cực trong Đảng thời kỳ đầu cầm quyền

Như trên đã trình bày, Đảng Cộng sản Liên Xô thời kỳ Xtalin cầm quyền đã giành được thành tựu có tính lịch sử trọng đại. Đây là một thời kỳ vươn lên phơi phới trong tiến trình lịch sử của Đảng và Nhà nước Xôviết. Nó chứng tỏ trước toàn thế giới tính ưu việt vô song và sức sống mãnh liệt của chế độ xã hội chủ nghĩa, một thể chế mới ra đời này. Nhưng, điều đó không có nghĩa là hoạt động của Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang thời kỳ này là hoàn toàn tốt đẹp, không có khiếm khuyết. Ngược lại, thời kỳ này đã từng có rất nhiều vấn đề và sai lầm trong xây dựng chủ nghĩa xã hội của Liên Xô. Những điều đó đã phản ánh nỗi gian khổ tìm tòi phát triển mô hình chủ nghĩa xã hội đầu tiên trên thế giới, đồng thời cũng phản ánh khiếm khuyết và điểm yếu tồn tại của mô hình này. Đó là nguồn gốc của những nhân tố tiêu cực trong Đảng bắt đầu nảy sinh. Những nhân tố tiêu cực này lúc bây giờ tuy còn ở trạng thái chớm nở, nhưng có ảnh hưởng không thể đánh giá thấp đối với từng bước diễn biến của Đảng Cộng sản Liên Xô về sau. Những nhân tố tiêu cực này chủ yếu biểu hiện ở những mặt dưới đây.


Thứ nhất, về vấn đề phương châm và chiến lược phát triển của công nghiệp hóa. Con đường công nghiệp hóa của Liên Xô bao gồm ưu tiên phát triển công nghiệp nặng và chiến lược nhảy vọt tốc độ cao, về cơ bản là thành công. Nhưng lúc đó đã xuất hiện tình hình mất cân đối giữa tỷ lệ nông nghiệp, công nghiệp nhẹ và công nghiệp nặng. Phát triển công nghiệp nhẹ chưa tốt, không thể thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của quần chúng nhân dân. Vấn đề này đã xuất hiện sau khi kết thúc kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Vì vậy chỉ tiêu phát triển của công nghiệp nhẹ khi vạch kế hoạch 5 năm lần thứ hai tương đối cao so với công nghiệp nặng. Nhưng kết quả thực hiện vẫn là sản xuất tư liệu sản xuất phát triển nhanh, tỷ lệ tăng bình quân hằng năm là 19,1%, còn tỷ lệ tăng bình quân hằng năm sản xuất hàng tiêu dùng chỉ là 14/8%1 (Lục Nam Tuyển (chủ biên): 70 năm phát triển nền kinh tế quốc dân Liên Xô, Sđd, tr.126) - Từ năm 1924 đến năm 1952, tổng sản lượng tư liệu sản xuất toàn quốc tăng lên 55 lần, còn tổng sản lượng hàng tiêu dùng chỉ tăng 12 lần; từ năm 1928 bắt đầu thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất đến năm 1952, nhà nước đầu tư cho công nghiệp nặng đạt 638 tỷ rúp, còn đối với công nghiệp nhẹ chỉ 72 tỷ rúp1 (Xem Phát biểu của Malenkov tại Hội nghị lần thứ 5 Xôviết tối cao Liên Xô ngày 8-8-1953, đăng trên Tân Hoa nguyệt báo, số 9 năm 1953). Phát triển công nghiệp phải trả giá bằng hy sinh nông nghiệp ở mức độ rất lớn, vì vậy phát triển nông nghiệp vẫn trì trệ rõ rệt. Mặc dù Đảng và Nhà nước áp dụng nhiều biện pháp phát triển nông nghiệp, nhưng dù trước hay sau chiến tranh, nông nghiệp vẫn luôn luôn là một ngành lạc hậu trong nền kinh tế quốc dân.


Thứ hai, một số hiện tượng xa rời thực tế và cưỡng bức mệnh lệnh trong vấn đề tập thể hóa nông nghiệp. Sản xuất nòng nghiệp lạc hậu không hoàn toàn do phương châm ưu tiên phát triển công nghiệp nặng gây ra. Trong điều kiện tiềm lực của nền kinh tế tiểu nông chưa phát huy toàn bộ, đa số nông dân chưa có nguyện vọng tha thiết thay đổi quan hệ sản xuất nông thôn và chế độ canh tác, Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang đã triển khai phong trào tập thể hóa quá sớm, quá nhanh, nhất là phong trào tập thể hóa toàn bộ, đồng thời áp dụng một số biện pháp cưỡng bức mệnh lệnh trong phong trào, từ đó đánh mạnh vào tính tích cực sản xuất của nông dân. Nhưng không thể phủ nhận phong trào tập thể hóa nông dân về tổng thể bởi vì không có tập thể hóa thì không thể nhanh chóng thực hiện công nghiệp hóa và giành được thắng lợi của Chiến tranh vệ quốc như thế. Tất nhiên, không thể đánh giá thấp di hại của những sai sót khiếm khuyết trong phong trào tập thể hóa đối với phát triển nông nghiệp và toàn bộ nền kinh tế quốc dân sau này.


Thứ ba, bỏ qua hiện tại, tuyên bố Liên Xô đã xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Trong báo cáo "Về dự thảo Hiến pháp Liên Xô" năm 1936, Xtalin nói: "Xã hội Liên Xô chúng ta đã làm được việc thực hiện chủ nghĩa xã hội về cơ bản"1 (Xtalin văn tuyển (1934-1952), Nxb. Nhân dân, 1962, tr.90). Đại hội XVIII Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang lại tuyên bố "Liên Xô đã bước vào giai đoạn từ chủ nghĩa xã hội từng bước quá độ sang chủ nghĩa cộng sản"2 (Tổng tập Nghị quyết Đại hội đại biểu Hội nghị đại biểu và Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđd, t.5, tr.10-11). Cách nêu giai đoạn phát triển xã hội nhảy vọt này chứng tỏ lý luận của Xtalin và Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang về phát triển lực lượng sản xuất có mâu thuẫn. Mặc dầu họ rất nhấn mạnh tẩm quan trọng của phát triển lực lượng sản xuất, nhưng điều quan trọng hơn vẫn là quan hệ sản xuất, nhất là "nhất đại nhì công"3 ("Nhất đại nhì công": Một là quy mô lớn, hai là công hữu hóa. Đây là cách hiểu đơn giản về chủ nghĩa xã hội những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội (ND.)) về mặt chế độ sở hữu. Họ coi sự thay đổi quan hệ sản xuất là tiêu chí duy nhất thể hiện xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Quan điểm này về sau phát triển trở thành một giáo điều, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cải cách và phát triển của xã hội Liên Xô.


Thứ tư, về phong trào "đại thanh trừng". Thực tiễn chứng tỏ, trong nước Liên Xô quả thực có không ít phần tử thù địch và phần tử thoái hóa, biến chất, trong Đảng không thuần khiết là một sự thật. Ngay từ năm 1928, Xtalin đã cho rằng: "Theo đà tiến triển của chúng ta, sự chống đối của phần tử tư bản chủ nghĩa sẽ gia tăng, đấu tranh giai cấp càng gay gắt hơn"4 (Xtalin: Toàn tập, Sđd, q.11, tr,149-150), về sau, ông tiếp tục phát huy tư tưởng này, coi đấu tranh giai cấp ngày càng gay gắt là quy luật của đấu tranh giai cấp xã hội xã hội chủ nghĩa. Tháng 3 năm 1937, Xtalin lại nói: "Cần phải đập tan và vứt bỏ lý luận thối nát cho rằng, theo mỗi bước tiến của chúng ta, đấu tranh giai cấp của chúng ta ở đây hầu như sẽ ngày càng chùng lại, theo mỗi thắng lợi của chúng ta, kẻ thù giai cấp hầu như sẽ ngày càng thuần phục... Ngược lại, tiến triển của chúng ta càng lớn, thắng lợi càng nhiều, tàn dư của giai cấp bóc lột bị đánh bại cũng sẽ ngày càng hung ác hơn, bọn chúng càng phải dùng các hình thức đấu tranh gay gắt hơn, bọn chúng càng phải làm tổn hại đến nhà nước Xô viết, bọn chúng càng phải nắm lấy thủ đoạn đấu tranh giai cấp tuyệt vọng nhất để vùng vẫy cuối cùng"1 (Xtalin văn tuyển (1934-1952), Sđd, tr.128-129). Thời kỳ cuối những năm 1930, nhất là những năm 1937- 1938, phong trào "đại thanh trừng" tiến hành trong phạm vi toàn quốc diễn ra dưới sự chỉ đạo của lý luận này. Trong phong trào này, rất nhiều nhà lãnh đạo ưu tú và phần tử trí thức nổi tiếng của Đảng, chính quyền, quân đội cũng bị "đại thanh trừng", về số người bị hại trong phong trào "đại thanh trừng", hiện nay có cách nói khác nhau. Tương đối quyền uy và tin cậy là con số của Ủy ban an ninh quốc gia Liên Xô công bố ngày 13 tháng 2 năm 1990: "Những năm 1930-1953, có hơn 3.778.000 người bị xét xử tội 'phản cách mạng', trong đó có 786.000 người bị xử tử"2 (Tham khảo Vương Chính Tuyền (chủ biên): Đại sự ký Liên Xô - Đông Âu, Nxb. Đại học Nhân dân Trung Quốc, 1990, tr.247). Ngoài ra, trước và sau Chiến tranh vệ quốc, có hơn mười dân tộc thiểu số bị lưu đày tập thể vì người lãnh đạo của họ bị tình nghi "cấu kết với địch", đó cũng được coi là một bộ phận của phong trào "đại thanh trừng".


Thứ năm, sủng bái cá nhân thịnh hành, dân chủ trong và ngoài Đảng không được phát huy xứng đáng. Thời kỳ cuối những năm 1920, việc sùng bái cá nhân Xtalin đã bắt đầu xuất hiện, về sau dần dần phát triển. Đến 1936, khi thông qua Hiến pháp mới của Nhà nước và tuyên bố đã xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, việc sùng bái cá nhân này được đẩy lên khá cao. Thắng lợi của Chiến tranh vệ quốc năm 1945 làm cho sùng bái cá nhân một lần nữa leo thang. Sùng bái cá nhân kèm theo sự phá hoại nguyên tắc tập trung dân chủ, độc đoán chuyên quyền cá nhân thay thế dân chủ và pháp chế. Phong trào "đại thanh trừng" là biểu hiện nổi bật của việc vi phạm dân chủ và pháp chế. Liên quan đến tệ sùng bái cá nhân là nhiều cuộc đấu tranh quan trọng xảy ra trong nội bộ Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang đều không phải thông qua phương thức dân chủ, mà là thông qua thủ đoạn không bình thường, đấu tranh tàn khốc, đả kích phũ phàng để giải quyết.


Những vấn đề trên đây đã gây ảnh hưởng tiêu cực nghiêm trọng đối với sự phát triển của lịch sử Đảng và Nhà nước sau này, nhưng lúc bây giờ vẫn không phải là xu hướng chủ yếu trong tiến trình lịch sử của Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #37 vào lúc: 19 Tháng Hai, 2022, 08:03:36 am »

III. SỰ MỞ ĐẦU VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN LIÊN XÔ THOÁI HÓA, BIẾN CHẤT


1. Đại hội XX của Đảng khởi đầu cho Đảng Cộng sản Liên Xô thoái hóa, biến chất

Mặc dù thời kỳ Xtalin cầm quyền, Đảng Cộng sản Liên Xô đã xuất hiện mầm mống của những nhân tố tiêu cực nói trên, nhưng đó không phải là xu hướng chủ yếu lúc bấy giờ. Đảng Cộng sản Liên Xô thoái hóa, biến chất bắt đầu từ thời kỳ Khrushchev cầm quyền. Tiêu chí chủ yếu của nó là Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô. Học giả Nga Kosolapov cho rằng: "Đảng Cộng sản Liên Xô đã trải qua một quá trình thoái hóa, biến chất từ từ. Quá trình này bắt đầu từ năm 1956 khi Khrushchev đọc "Báo cáo bí mật" tại Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô". "Khrushchev hướng tất cả lực lượng của Đảng vào việc vạch trần sùng bái cá nhân Xtalin, hơn nữa, sự vạch trần đó không khách quan ở nhiều mặt, thậm chí còn phỉ báng con đường mà Đảng và Nhà nước đã đi từ Cách mạng Tháng Mười Nga đến nay, điều đó không chỉ phá hoại và làm tan rã phong trào cộng sản quốc tế, mà còn làm cho tất cả phần tử chống Liên Xô vui mừng trước tai họa. Vì vậy, phê phán của Khrushchev đối với Xtalin đã giáng một đòn vào toàn Đảng, động chạm đến mọi mặt, đến Lênin, lý luận và và thực tiễn chủ nghĩa cộng sản khoa học. Từ đó về sau, cụm từ "chủ nghĩa Xtalin" đã trở thành vũ khí của phái chống đối và phản cách mạng công kích chủ nghĩa xã hội Liên Xô"1 ([Nga] Kosolapov: "Con đường bùn lầy do tan băng - Sau 40 năm nhìn lại Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô", Đối thoại, số 4 năm 1996. Xem thêm Lý Hưng Canh: Vết xe đi trước - Tổng hợp các quan điểm của Nga về vấn đề đại biến của Liên Xô, Nxb. Nhân dân, 2003, tr.98-99).


Vấn đề chủ yếu nhất ở Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô là vạch trần và phê phán Xtalin. Ngày cuối cùng của Đại hội, Khrushchev đã đọc "Báo cáo bí mật" dài 4 tiếng đồng hồ với nhan đề "Về sùng bái cá nhân và hậu quả của nó" trước các đại biểu. Báo cáo này không được đưa vào chương trình chính thức của Đại hội. Trước khi triệu tập Đại hội XX, Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô có ý kiến khác nhau đối với một báo cáo như thế ở Đại hội. Có một số lãnh đạo bày tỏ phản đối, trong khi một số lãnh đạo khác do Khrushchev làm đại diện thì cho rằng cần phải làm như thế. Thậm chí, Khrushchev nêu ra, nếu Trung ương không đồng ý thì ông lấy danh nghĩa cá nhân để đọc báo cáo này. Có thể thấy, Khrushchev đã có âm mưu kiếm chác vốn liếng chính trị cho cá nhân mình từ lâu. Cuối cùng, Trung ương Đảng đi đến thỏa hiệp: không đọc báo cáo này ở hội nghị chính thức mà là ở phiên hội nghị phi chính thức. Đại biểu các Đảng nước ngoài tham dự Đại hội (ngoài lãnh đạo Đảng Ba Lan là Bierut và lãnh đạo đảng Hunggari là Rákosi) đều không được mời dự phiên hội nghị nội bộ này.


Trong báo cáo bí mật, Khrushchev với chiêu trò khuếch đại, xúc xiểm, thậm chí nói bóng nói gió đã tiến hành vạch trần toàn diện và phê phán gay gắt các sai lầm mà Xtalin phạm phải trong thời kỳ cầm quyền. Trong đó nói đến cuộc đàn áp đại quy mô trong phong trào "đại thanh trừng", vấn đề lơ là, khinh địch và chỉ huy sơ suất trong thời kỳ chiến tranh chống phátxít, và cả việc buộc di dời mười mấy dân tộc thiểu số; ngoài ra còn vạch ra rất nhiều sai lầm của Xtalin trên các mặt xây dựng kinh tế và chính sách đối ngoại. Báo cáo đặc biệt lên án Xtalin vi phạm pháp chế độc đoán chuyên quyền cá nhân và ca tụng mình quá đáng. Báo cáo này khi được công bố công khai đã rất nhanh gây chấn động dữ dội ở trong, ngoài Đảng và trong, ngoài nước.


Báo cáo bí mật đã giáng một đòn mạnh mẽ vào Xtalin, nhưng không và cũng không thể đưa ra đánh giá toàn diện và công bằng đối với Xtalin, không nêu ra một cách đúng đắn địa vị của Xtalin trong lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô, Liên Xô và phong trào cộng sản quốc tế, cũng không phân tích lịch sử, công minh chính trực đối với những sai lầm của Xtalin. Có người nói, nhiệm vụ của báo cáo chủ yếu là vạch trần và phê phán. Cách nói như thế chỉ có thể nói là một lối thoát cho Khrushchev. Bởi vì người bị báo cáo vạch trần và phê phán là Xtalin, một nhân vật quan trọng như thế hơn nữa lại ở Đại hội Đảng trang nghiêm. Trong tình hình đó, nếu không đồng thời đánh giá toàn diện công bằng đối với Xtalin, thì chí ít là vô cùng sơ suất và vô trách nhiệm, hậu quả của nó nghiêm trọng.


Rất nhiều tình hình nêu trong báo cáo là không phù hợp thực tế hoặc bị khuếch đại, thổi phổng. Chẳng hạn như báo cáo bóng gió ám chỉ vụ Sergey M. Kirov bị giết năm 1934 là được vạch kế hoạch đằng sau tấm màn Xtalin, về sau qua chính thức điều tra, đã chúng minh là vô căn cứ. Chẳng hạn như thất bại của chiến dịch Kharkov năm 1942 cũng không phải như trong báo cáo nói do chỉ huy sai lầm của Xtalin gây ra. Gần đây còn có một số tác phẩm tương đối công minh, chính trực, khách quan nói đến việc bắt buộc di dời một số dân tộc thiểu số nào đó trong chiến tranh vệ quốc lúc bây giờ là thực sự cần thiết1 (Tham khảo [Nga] Pekhanov: Tại sao Xtalin lưu đày một số dân tộc - Người Tatar ở Crưm, người Chechnya và Ingushetiya?, bản tiếng Nga, Mátxcơva, 1999; Sukhodeyev: Thống soái Xtalin, bản tiếng Nga, Mátxcơva, 2002; [Nga] Karpov: Đại nguyên soái Xtalin, Nxb. Văn hiến Khoa học xã hội, 2005). Còn có rất nhiều dẫn chứng như vậy. Báo cáo phê phán Xtalin không nắm lấy điểm chủ chốt, không liên hệ sai lầm của Xtalin với các nhân tố thể chế chính trị, kinh tế tập trung cao độ và sinh hoạt trong Đảng không kiện toàn, cũng không phân tích được rằng cơ sở kinh tế - xã hội và nguồn gốc nhận thức của sùng bái cá nhân là một hiện tượng xã hộ, mà chỉ quy kết sai lầm là tính cách và phẩm chất cá nhân của Xtalin.


Ngoài ra, cách công bố báo cáo này cũng có vấn đề. Báo cáo chủ yếu phản ánh ý đồ của cá nhân Khrushchev. Nó không được chuẩn bị đầy đủ trong Đảng, cũng không được tập thể lãnh đạo Đảng thảo luận. Nó là một đòn bất ngờ đối với toàn thể đại biểu tham dự đại hội. Đến nay nước Nga vẫn có người đặt nghi vấn đối với tính hợp pháp của báo cáo, cũng có nghĩa là nó có phải đại diện ý kiến của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô lúc bấy giờ hay không2 (Hồ sơ lưu trữ (Nga), ngày 17-4-2003).
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #38 vào lúc: 19 Tháng Hai, 2022, 08:07:05 am »

Sau khi báo cáo bí mật được công bố, các nước đế quốc tỏ ra vui mừng hớn hở, coi đó là một quả bom nguyên tử chính trị, nhân tố dấy lên một làn sóng chống cộng, chống chủ nghĩa xã hội có tính thế giới. Tập đoàn thống trị nước Mỹ coi việc Đảng Cộng sản Liên Xô chống lại Xtalin là hành động "phù hợp với mục đích chưa từng có của chúng ta"1 (Phát biểu trên đài phát thanh ngày 11-6-1956 của giám đốc Sở tuyên truyền quốc tế Mỹ), tuyên bố phải lợi dụng báo cáo bí mật của Khrushchev "làm vũ khí để triệt tiêu uy tín và ảnh hưởng của phong trào cộng sản chủ nghĩa"2 ("Khủng hoảng của đảng cộng sản", xã luận của New York Times, ngày 23-6-1956). Giai cấp tư sản phương Tây lợi dụng các loại báo chí truyền thông phát động tuyên truyền chống Liên Xô, chống cộng sản mạnh mẽ, miêu tả Xtalin là "kẻ cuồng điên giết người", nói Liên Xô xã hội chủ nghĩa là một "trại tập trung khổng lồ", thậm chí đánh dấu ngang bằng giữa chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa phátxít. Việc tuyên truyền đó tuy tỏ ra rất vụng về, nhưng rõ ràng là có ảnh hưởng đến một số quần chúng phổ thông không hiểu lịch sử và tình hình thực tế. Báo cáo bí mật đã gây hỗn loạn tư tưởng rất lớn trong nội bộ phong trào cộng sản quốc tế. Nó là đòn đánh bất ngờ đối với các đảng anh em nước ngoài, làm cho công tác của các đảng anh em rơi vào bị động rất lớn. Đó cũng là một phản ánh của tư tưởng chủ nghĩa đảng lớn của Đảng Cộng sản Liên Xô. Một số đảng anh em, chủ yếu là một số đảng cầm quyền ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, trong tình hình thiếu chuẩn bị tư tưởng, không làm tốt công tác trước, bỗng chốc bật nắp, các loại mâu thuẫn trong ngoài đảng đều bộc lộ ra trong thời gian ngắn. Sự kiện Ba Lan và sự kiện Hunggari làm cho thế giới kinh hoàng xảy ra trong bối cảnh này. Không nên nghi ngờ, bật nắp về mặt khách quan có mặt tích cực của nó, nhưng hậu quả tiêu cực từ đó gây nên là cực kỳ nghiêm trọng. Trước tiên, nó biểu hiện ở phong trào cộng sản quốc tế xuất hiện sự chia rẽ, nhất là nó dẫn đến cuộc luận chiến giữa hai đảng Trung Quốc và Liên Xô. Sau đó xuất hiện khủng hoảng niềm tin và khủng hoảng tín nhiệm đối với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản và đối với đảng cộng sản trong phạm vi thế giới. Đảng viên của một số đảng cộng sản các nước phương Tây tới tâp xin ra khỏi Đảng, chỉ riêng trong Đảng Cộng sản Italia có 200 nghìn người xin ra khỏi Đảng. Điều đó làm suy yếu rất nhiều lực lượng của chủ nghĩa xã hội thế giới, từ đó làm cho phong trào cộng sản quốc tế rơi vào thoái trào.


Mao Trạch Đông từng nói, việc Khrushchev vạch trần và phê phán sùng bái cá nhân "đã bật nắp, lại còn gây họa"1 (Ngô Lãnh Tây: Hồi ức về Mao Chủ tịch, Nxb. Tân Hoa, 1995, tr.4), nghĩa là vừa có mặt tích cực, lại vừa có mặt tiêu cực. Quả thật, bật nắp sùng bái cá nhân giúp ích cho giải phóng tư tưởng, điều chỉnh chính sách, đúc rút kinh nghiệm, cải tiến công tác. Như bài viết của Ban biên tập Nhân dân nhật báo năm đó viết: "Tự phê bình dũng cảm đó của Đảng Cộng sản Liên Xô đối với những sai lầm đã trải qua của mình thể hiện tính nguyên tắc cao độ trong sinh hoạt đảng và sức sống vĩ đại của chủ nghĩa Mác - Lênin". "Sau phê phán gay gắt này ở Đại hội đại biểu lần thứ XX Đảng Cộng sản Liên Xô, mọi nhân tố tích cực bị chính sách nào đó trước đây chèn ép nghiêm trọng nhất định sẽ được khuấy động rộng rãi"2 ("Kinh nghiệm lịch sử về chuyên chính vô sản", Nhân dân nhật báo, ngày 5-6-1956). Mao Trạch Đông đã phân tích sâu sắc việc vạch trần và phê phán của Khrushchev đối với sùng bái cá nhân Xtalin, đặc biệt nhấn mạnh hai bài học kinh nghiệm quan trọng. Thứ nhất, bài trừ mê tín cho rằng Liên Xô, Đảng Cộng sản Liên Xô và Xtalin tất cả đều đúng, có lợi cho chống chủ nghĩa giáo điều, không nên rập khuôn tất cả của Liên Xô nữa, nên suy nghĩ bằng đầu óc của mình, nên kết hợp nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin với thực tế cụ thể của cách mạng và xây dựng Trung Quốc, tìm tòi con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc. Thứ hai, thời kỳ cuối đời của Xtalin rơi vào sùng bái cá nhân, vi phạm chế độ tập trung dân chủ, vi phạm chế độ lãnh đạo tập thể và cá nhân phụ trách kết hợp với nhau trong đời sống chính trị của Đảng và Nhà nước. Trung Quốc cũng cần phải đề phòng xảy ra tình trạng đề cao cá nhân và sùng bái cá nhân, cần phải xây dựng chế độ nhất định để bảo đảm quán triệt thực thi đường lối quần chúng và lãnh đạo tập thể1 (Phòng Nghiên cứu văn hiến Trung ương Trung Quốc (biên soạn): Truyện Mao Trạch Đông (1949-1976), Nxb. Văn hiến Trung ương, 2003, tr.498-504). Cho đến nay, mặt tích cực đó vẫn có ý nghĩa hiện thực quan trọng đối với xây dựng hiện đại hóa đất nước, xây dựng Đảng và nâng cao năng lực cầm quyền. Nhưng phải nói rằng, báo cáo bí mật của Khrushchev và phê phán của ông đối với Xtalin lúc bấy giờ gây tác dụng tiêu cực là chủ yếu, hơn nữa là nghiêm trọng, bất kể đối với Đảng Cộng sản Liên Xô, đối với Liên Xô hay đối với phong trào cộng sản quốc tế.


Khi đề cập vấn đề Xtalin sau Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô, Mao Trạch Đông nêu rõ công tội của Xtalin nên là "ba - bảy", công bẩy phần, tội ba phần. Ông nói: "Trong đấu tranh nhằm thực hiện phương châm của Lênin, có công lao lãnh đạo mạnh mẽ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, trong đó có công lao không thể xóa nhòa của Xtalin", "Sau khi Lênin qua đời, Xtalin là nhân vật lãnh đạo chủ yếu của Đảng vầ Nhà nước đã vận dụng và phát triển một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin"2 (Phòng Nghiên cứu văn hiến Trung ương Trung Quốc (biên soạn): Truyện Mao Trạch Đông (1949-1976), Sđd, tr.501). Ông còn nói: "Xtalin mắc phải sai lầm nghiêm trọng, nhưng đồng chí cũng có thành tích vĩ đại. Đồng chí đã vi phạm nguyên tắc mácxít về mặt nào đó, nhưng đồng chí vẫn là nhà mácxít vĩ đại"3 (Phòng Nghiên cứu văn hiến Trung ương Trung Quốc (biên soạn): Truyện Mao Trạch Đông (1949-1976), Sđd, tr.498). Sự đánh giá có tính nguyên tắc của Mao Trạch Đông đối với Xtalin đã phản ánh thái độ khoa học của chủ nghĩa duy vật lịch sử của những người cộng sản Trung Quốc.


Ở trong Liên Xô, ảnh hưởng tiêu cực của Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô gây ra càng to lớn hơn. Để quán triệt tinh thần của Đại hội, Đảng Cộng sản Liên Xô đã phát động phong trào phê phán Xtalin trong phạm vi cả nước, đồng thời lơ là việc khống chế đối với công tác chính trị tư tưởng và lĩnh vực ý thức hệ, hơn nữa, giữ thái độ ủng hộ trên thực tế đối với cái gọi là trào lưu tư tưởng "tan băng" đã xuất đầu lộ diện trước Đại hội XX. Phải thừa nhận rằng, trào lưu tư tưởng "tan băng" này xuất hiện trước tiên ở lĩnh vực văn nghệ, có tác dụng thúc đẩỵ, làm phong phú sáng tác văn nghệ và làm sôi động nghiên cứu khoa học xã hội, phản ánh yêu cầu chính đáng của một bộ phận trí thức đối với cải cách thể chế và chính sách văn hóa. Nhưng do thiếu sự chỉ đạo đúng đắn, trong một khoảng thời gian các loại tác phẩm tốt xấu lẫn lộn tới tấp xuất hiện, có thể nói là vàng thau lẫn lộn. Một số tác phẩm có khuynh hướng mang màu sắc chống cộng, chống chủ nghĩa xã hội rõ rệt và vi phạm nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #39 vào lúc: 19 Tháng Hai, 2022, 08:07:53 am »

Ảnh hưởng tiêu cực mà Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô gây ra trong và ngoài nước và ý kiến bất đồng xuất hiện trong nội bộ Đảng Cộng sản Liên Xô nằm ngoài dự đoán của Khrushchev. Trong tình hình đó, Khrushchev không thể không áp dụng phương châm "thu hồi", hạ giọng phê phán Xtalin, thậm chí bắt đầu ca tụng Xtalin, hòng làm dịu mâu thuẫn mọi mặt. Trong một số phát biểu công khai, Khrushchev nhấn mạnh rằng không thể vì sai lầm của Xtalin mà phủ định chủ nghĩa Mác - Lenin, cho rằng nếu làm như vậy, thì dù cho ông không phải là "nhà phỉ báng nổi tiếng bất hảo" cũng là "người lặn trong vũng bùn xét lại"1 ("Phát biểu của Khrushchev tại lễ kỷ niệm 40 năm Cách mạng Tháng Mười Nga", xem Ngôn luận của Khrushchev, Nxb. Tri thức thế giới, 1965, t.7, tr.208). Nhưng ảnh hưởng tiêu cực do Đại hội XX Đảng Cộng sản Liện Xô phê phán Xtalin gây ra đã không thể nào cứu vãn.


Vì nhu cầu của đấu tranh trong Đảng, cũng vì nhu cầu xây dựng thói sùng bái cá nhân cho mình, Khrushchev lại một lần nữa dấy lên cao trào phê phán Xtalin ở Đại hội XXII Đảng Cộng sản Liên Xô năm 1961, giọng điệu cơ bản vẫn là quy kết vấn đề vào phẩm chất cá nhân, có khác là ngôn luận phê phán tại Đại hội lần này đều công khai phát biểu trên báo chí. Đại hội còn quyết định di dời thi hài của Xtalin ra khỏi lăng. Sau đại hội, khắp nơi trên đất nước Liên Xô đâu đâu cũng xuất hiện tình trạng đập phá bia kỷ niệm và tượng đài kỷ niệm của Xtalin. Trào lưu tư tưởng tự do hóa tư sản một lần nữa lan tràn.


Về cơ bản mà nói, hậu quả nghiêm trọng của việc Khrushchev chống Xtalin mang lại chủ yếu ở chỗ: đi đối với phê phán sai lầm của Xtalin, đã phủ định toàn bộ lịch sử của Đảng Cộng sản Liên Xô thời kỳ Xtalin, vứt bỏ niềm tin kiên định và lòng trung thành vô hạn của Xtalin đối với chủ nghĩa Mác - Lênin, nhất là vứt bỏ tinh thần cách mạng của Xtalin quyết không thỏa hiệp với kẻ thù giai cấp trong và ngoài nước. Đúng như Mao Trạch Đông nói: "từ đó Đảng Cộng sản Liên Xô mất đi con dao Xtalin". Đồng thời, một loạt thanh niên không am hiểu truyền thống cách mạng của Đảng và một số lập trường cách mạng không kiên định bắt đầu trưởng thành dưới ảnh hưởng của tinh thần Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô và tư tưởng Khrushchev, về sau họ được gọi là "con đẻ của Đại hội XX". Chính lớp người này trở thành lực lượng nòng cốt sau thời kỳ giữa những năm 1980 thúc đẩy Liên Xô diễn biến và chôn vùi chế độ xã hội chủ nghĩa Liên Xô.


Điều đáng chú ý là sau khi Liên Xô giải thể, nhất là những năm gần đây, đánh giá của xã hội Nga và giới học thuật đối với Xtalin đã có những thay đổi rõ rệt, ngày càng có nhiều người bắt đầu khẳng định cống hiến của Xtalin đối với lịch sử Liên Xô. Trước hết phải nhắc đến Tổng thống Putin. Ông khác với những người tiền nhiệm, trong rất nhiều trường hợp ông khẳng định và ca ngợi công lao thành tích lịch sử của Xtalin. Như trong phát biểu năm 2002, ông nói: "Xtalin là một người độc tài, điều đó không nên nghi ngờ. Nhưng vấn đề ở chỗ, chính dưới sự lãnh đạo của ông, Liên Xô mới giành được thắng lợi trong Chiến tranh vệ quốc vĩ đại, thắng lợi này gắn liền với tên tuổi của ông ở mức độ rất lớn. Coi thường hiện thực này là ngu xuẩn"1 (Putin trả lời phỏng vấn trước chuyến thăm Ba Lan tháng 1-2002). Học giả Nga luận bàn về mặt này càng làm cho người ta chú ý. Giáo sư triết học Zinoviev, nguyên là "nhà bất đồng chính kiến" từng bị Xtalin bức hại, trong cuốn sách Bi kịch của chủ nghĩa cộng sản Nga của mình đã viết: "Nhân tố chủ yếu của thắng lợi (chiến tranh vệ quốc) theo tôi thấy là vì có sự lãnh đạo của chế độ xã hội chủ nghĩa Xôviết và Xtalin. Chính vì có nhân tố trên, tố chất của con người mới có thể trở thành nhân tố quan trọng nhất giành được thắng lợi chiến tranh. Sự lãnh đạo của Xtalin đối với nhà nước và lý tưởng cộng sản chủ nghĩa mà nói là đáng được tin cậy"2 (A.A. Zinoviev: Bi kịch của chủ nghĩa cộng sản Nga, Nxb. Tân Hoa, 2004, tr.181-182). Một "nhà bất đồng chính kiến" khác, nhà văn nổi tiếng Karpov năm 1941 vì phản đối Xtalin mà bị xử phạt lao dịch 5 năm, cũng nói trong cuốn sách Đại nguyên soái Xtalin của ông: "Xtalin không phải là thiên thần, nhưng rõ ràng ông là một nhà chiến lược vĩ đại"; "không phải Xtalin tạo dựng chế độ khủng bố, đó là đặt điều nói xấu"3 (Xem Lý Thận Minh (chủ biên): Theo dõi nghiên cứu chủ nghĩa xã hội thế giới, Nxb. Văn hiến Khoa học xã hội, 2006, tr.55). Gần đây một tác phẩm mang màu sắc chính thống nhất định, xuất bản ở Nga là Lịch sử nước Nga hiện đại (1945-2006) nêu rõ, theo kết quả thăm dò dân ý của Quỹ dư luận xã hội Nga năm 2006, có 47% người Nga có đánh giá mặt tích cực đối với Xtalin1 (Người đánh giá mặt trái chiếm 29%, 24% người còn lại tỏ ra khó trả lời). Họ cho rằng Xtalin là "nhà lãnh đạo thành công nhất Liên Xô. Chính thời kỳ ông lãnh đạo đã giành được thắng lợi của Chiến tranh vệ quốc vĩ đại - chiến tranh lớn nhất trong lịch sử loài người; đã thực hiện công nghiệp hóa kinh tế và cách mạng văn hóa, kết quả đó làm cho không chỉ tỷ lệ dân số được giáo dục cấp cao nâng cao nhanh chóng, mà còn xây dựng thể chế giáo dục tốt nhất trên thế giới; Liên Xô bước vào hàng ngũ các nước tiên tiến trên lĩnh vực phát triển khoa học; đã xóa bỏ hiện tượng thất nghiệp trên thực tế"2 (Filipov: Lịch sử nước Nga hiện đại (1945-2006), Sđd, tr.76). Xu thế thay đổi đánh giá đối với Xtalin nói trên có liên quan đến bối cảnh nước Nga đang nỗ lực tranh thủ khôi phục địa vị cường quốc, đồng thời cũng là kết quả suy ngẫm lại đối với chủ nghĩa hư vô lịch sử thời kỳ Gorbachev và thời kỳ Yeltsin.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM