Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:58:53 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tính trước nguy cơ - Suy ngẫm sau 20 năm Đảng Cộng sản Liên Xô mất Đảng  (Đọc 42032 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #40 vào lúc: 19 Tháng Hai, 2022, 08:09:45 am »

2. Sự phát triển của Đảng và Nhà nước từ ổn định từng bước chuyển sang trì trệ

Sau khi Khrushchev bị hạ bệ, Đảng Cộng sản Liên Xô bắt đầu thời kỳ Brezhnev là người lãnh đạo tối cao suốt 18 năm. Đây là thời kỳ sức mạnh tổng hợp quốc gia Liên Xô cường thịnh nhất. Trên phạm vi quốc tế là thời kỳ đặc trưng thời đại có sự chuyển biến trọng đại. Nhưng Đảng Cộng sản Liên Xô đã không lợi dụng thời cơ này, đuổi kịp bước tiến của thời đại, kiên quyết cải cách, tiến cùng thời đại. Mặc dù cũng tiến hành một số cải cách, đề xuất một số suy nghĩ mới, nhưng chủ nghĩa giáo điều về tư tưởng và dẫm chân tại chỗ trong thực tiễn thường xuyên chiếm ưu thế, do đó làm cho Đảng mất đi tính tiên tiến của mình, trở nên uế oải, rất ít sức sống. Đến thời kỳ đầu những năm 1980, bất kể Đảng Cộng sản Liên Xô hay Liên Xô dưới sự lãnh đạo của Đảng đều đã đi đến bờ vực của khủng hoảng.


Phải thấy rằng, thời kỳ đầu Brezhnev cầm quyền, bộ mặt tinh thần của Đảng Cộng sản Liên Xô vẫn khá tốt. Đảng Cộng sản Liên Xô đã điều chỉnh chính sách, uốn nắn kiểu cải cách cẩu thả thời kỳ Khrushchev. Tháng 11 năm 1964, Brezhnev vừa lên cầm quyền một tháng, đã triệu tập Hội nghị toàn thể Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, quyết định bãi bỏ cái gọi là "Đảng công nghiệp" và "Đảng nông nghiệp", "các Khu vực và Khu biên cương vốn bị chia làm tổ chức đảng công nghiệp và tổ chức đảng nông nghiệp được phục hồi tổ chức đảng Khu vực, Khu biên cương thống nhất", "cải tổ Đảng ủy Cục quản lý sản xuất nông trang tập thể và nông trường quốc doanh thành Đảng ủy khu"1 (Tổng tập văn kiện Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô thời kỳ Brezhnev (11-1964 - 2-1976), Thương vụ ân thư quán, 1978, tr.12). Tại Hội nghị toàn thể Trung ương tháng 9 năm 1965 lại quyết định khôi phục "tổ chức quản lý công nghiệp theo nguyên tắc ban, ngành". Căn cứ vào đó, Ủy ban Kinh tế quốc dân tối cao Liên Xô và Ủy ban Kinh tế quốc dân của các nước cộng hòa và khu kinh tế bị xóa bỏ, xây dựng lại hệ thống lãnh đạo ban ngành Trung ương. Tiếp theo, tại Đại hội XXIII của Đảng năm 1966, lại thông qua sửa đổi Điều lệ Đảng bãi bỏ quy định cứng của Khrushchev năm 1961 là phải thay đổi số người nhất định trong bầu cử nhiệm kỳ Đảng ủy các cấp2 (Điều lệ Đảng được Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô thông qua quy định, mỗi lần bầu cử định kỳ Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và Đoàn Chủ tịch thay đổi ít nhất 1/4; Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và Khu vực các nước cộng hòa Liên bang thay đổi ít nhất 1/3; Ủy viên của Thành ủy, Khu ủy và Đảng ủy tổ chức cơ sở các cấp thay đổi ít nhất: 1/2). Lúc bấy giờ, xuất phát điểm của quy định cứng nhắc này có thể là tích cực, nhưng trong thực tiễn xuất hiện tình hình có hàng loạt bí thư trong mỗi lần bầu cử cơ sở, bất kể có xứng đáng hay không đều phải rút lui, tỷ lệ thay đổi hơn 60%. Điều đó không có lợi cho sự ổn định của tổ chức cơ sở. Trong một số trường hợp, Brezhnev còn uốn nắn cách làm của Khrushchev phủ định toàn bộ Xtalin; cố gắng giữ thái độ tương đối công minh, khách quan đối với đánh giá Xtalin, đồng thời, nhằm vào sai lầm của Xtalin, nhấn mạnh lãnh đạo tập thể trong Đảng và tăng cường pháp chế dân chủ. Việc điều chỉnh chính sách thời kỳ đầu Brezhnev lên cầm quyền, và sự phát triển kinh tế mức độ nhất định xuất hiện nhờ thúc đẩy một loạt biện pháp cải cách kinh tế đã làm cho trong và ngoài Đảng xuất hiện không khí lạc quan, đoàn kết ổn định.


Nhưng những người lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô cũng vì vậy mà trở nên tự mãn. Họ coi ổn định là mục đích, coi duy trì hiện trạng là biện pháp thực hành ổn định. Tình hình đó rất nổi bật sau thời kỳ giữa những năm 1970. Điều đó làm cho thể chế chính trị, kinh tế  tập trung cao độ đó không được cải cách mà từng bước phát triển thành cứng nhắc, làm cho sự phát triển của Đảng và Nhà nước từ ổn định từng bước chuyển sang trì trệ. Điều đó chủ yếu biểu hiện ở mấy mặt dưới đây:


Thứ nhất, Đảng Cộng sản Liên Xô đình chỉ cải cách "thể chế kinh tế mới" bắt đầu chưa được bao lâu.

Cải cách "thể chế kinh tế mới" từ năm 1965 do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Kosygin chủ trì, tuy chưa thể đụng chạm đến thể chế kinh tế kế hoạch tập trung cao độ, nhưng do áp dụng phương châm "thúc đẩy từng bước" (lời của Brezhnev) và đã thực hành một loạt biện pháp cải cách phù hợp với thực tế nên đạt được hiệu quả rất tốt. Như Ryzhkov, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô trước khi Liên Xô giải thể, đã nói: "Cải cách kinh tế năm 1965 đã thúc đẩy rõ rệt nền kinh tế quốc dân nhàn rỗi. Chỉ trong thời kỳ kế hoạch 5 năm lần thứ tám, sản xuất công nghiệp tăng 50%, năng suất lao động nâng cao 1/3, tốc độ tăng trưởng hàng tiêu dùng cuối cùng cũng đuổi kịp tốc độ tăng trưởng tư liệu sản xuất, trong khi tốc độ tăng trưởng tư liệu sản xuất vẫn luôn ở vào địa vị phát triển ưu tiên"1 (Ryzhkov: Mười năm đại loạn, Nxb. Biên dịch Trung ương, 1998, tr.41). Nhưng đến đầu những năm 1970, lãnh đạo Liên Xô cuối cùng chấm dứt cải cách.


Thứ hai, quyền lực của Đảng Cộng sản Liên Xô tập trung hơn và đội ngũ cán bộ lão hóa nghiêm trọng.

Mục đích ban đầu của Brezhnev khi khôi phục thể chế ban, ngành là nhằm ngăn chặn chủ nghĩa địa phương và tình trạng vô trật tự về quản lý, phát huy tính tích cực và quyền tự chủ của địa phương và doanh nghiệp. Nhưng sau một thời gian, xuất hiện tình hình tập quyền Trung ương mạnh hơn. Bộ máy nhà nước Trung ương không ngừng tăng thêm, số nhân viên không ngừng phình ra. Số bộ toàn liên bang và bộ liên bang kiêm nước cộng hòa từ 29 bộ (năm 1965) tăng lên 55 bộ (năm 1967), rồi tăng lên 64 bộ vào năm 1982, còn có hơn 20 Ủy ban nhà nước và cơ quan trực thuộc cấp bộ. Chỉ riêng cán bộ lãnh đạo cấp bộ trưởng, thứ trưởng đã hơn 800 người2 (Giang Lưu, Trần Chi Hoa (chủ biên): Suy ngẫm lịch sử diễn biến của Liên Xô, Sđđ, tr.51). Một biểu hiện quan trọng của tập trung quyền lực là Đảng và chính quyền là một, và Đảng làm thay chính quyền. Đây là vấn đề tồn tại lâu dài của Đảng Cộng sản Liên Xô.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #41 vào lúc: 19 Tháng Hai, 2022, 08:10:29 am »

Những người lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô mặc dù ngoài miệng thường xuyên nêu rõ phải thay đổi tình trạng này, nhưng vấn đề vẫn không được giải quyết. Hiện tượng bộ máy của Đảng và chính quyền trùng lắp ngày càng nghiêm trọng. Thời kỳ sau khi Brezhnev lên cầm quyền, đơn vị cấp ban của Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô tăng lên đến 20 đơn vị, tăng gấp đôi so với năm 1948 thời kỳ Xtalin. Tên gọi của rất nhiều ban của Trung ương Đảng cũng cơ bản giống với Chính phủ. Tập trung quyền lực tất nhiên dẫn đến chuyên quyền, độc đoán cá nhân, mà tăng cường chuyên quyền, độc đoán cá nhân lại thúc đẩy tập trung thêm quyền lực. Thời kỳ đầu cầm quyền, Brezhnev tương đối coi trọng lãnh đạo tập thể, trong Bộ Chính trị hình thành cái gọi là "cỗ xe tam mã" gồm Brezhnev, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Kosygin và Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xôviết tối cao Liên Xô Podgorny (tháng 12-1965 đảm nhiệm chức vụ này). Thời kỳ này, lãnh đạo tập thể của Bộ Chính trị Trung ương vẫn vận hành khá tốt. Hội nghị Bộ Chính trị, Ban Bí thư đều tổ chức định kỳ, thảo luận tập thể các vấn đề quan trọng trong chính sách đối nội, đối  ngoại của Đảng và nhà nước. Giới truyền thông khi nói đến Đảng, bao giờ cũng nói "Ủy ban Trung ương Đảng", "Bộ Chính trị Trung ương" hay "Ban Bí thư Trung ương", rất ít nêu bật cá nhân. Khoảng từ giữa những năm 1970 trở đi, Brezhnev dần dần bồi dưỡng và đề bạt một loạt những người thân tín và không ngừng mở rộng quyền lực của mình. "Cỗ xe tam mã" bắt đầu tan rã, lãnh đạo tập thể trở nên hữu danh vô thực. Năm 1977, Brezhnev thay thế Podgorny và kiêm nhiệm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xôviết tối cao Liên Xô, thực quyền của Kosygin cũng không ngừng bị suy yếu. Như vậy Brezhnev thâu tóm cả đại quyền Đảng, chính quyền, quân đội toàn quốc. Chuyên quyền, độc đoán cá nhân đã bóp chết quyết sách dân chủ hóa, thúc đẩy thể chế chính trị cứng nhắc hơn.


Việc Brezhnev bãi bỏ quy định cứng về thay thế cán bộ thời kỳ Khrushchev, nhấn mạnh phương châm đội ngũ cán bộ ổn định, đã phát huy vai trò tích cực trong thời kỳ đầu ông cầm quyền. Lức bây giờ, đội ngũ cán bộ ổn định có lợi cho sự ổn định của toàn Đảng và toàn quốc. Nhưng Brezhnev nhấn mạnh thái quá sự ổn định, coi thường việc điều động bình thường và thay thế cũ - mới của đội ngũ cán bộ, nhất là việc thường xuyên thu hút cán bộ ưu tú trẻ, khỏe, bổ sung vào Ban lãnh đạo. Vì vậy, cuối thời kỳ Brezhnev cầm quyền, cán bộ liên tiếp giữ chức vụ lâu dài, tuổi tác già đi nghiêm trọng, dẫn đến hiện tượng chế độ suốt đời trên thực tế. Tình hình này thể hiện rất rõ ở tầng lãnh đạo cao nhất của Đảng, kể cả tầng lãnh đạo của Đảng cấp nước cộng hòa liên bang. Từ Đại hội XXIII đến Đại hội XXVI, tỷ lệ liên tục giữ chức vụ của người lãnh đạo cao cấp Trung ương Đảng từng khóa nâng cao. Tỷ lệ liên tục giữ chức vụ Ủy viên Trung ương được Đại hội XXV Đảng Cộng sản Liên Xô bầu ra năm 1976 chiếm 83,4%, nếu không tính Ủy viên Trung ương qua đời thì tỷ lệ liên tục giữ chức vụ đạt 90%. Thành viên Bộ Chính trị Trung ương và Ban Bí thư Trung ương được Đại hội XXVI Đảng Cộng sản Liên Xô năm 1981 bầu ra là những nhân vật của Đại hội XXV. Từ năm 1965 đến năm 1984, nhiệm kỳ của phần lớn Ủy viên Bộ Chính trị là trên 15 năm, Ủy viên Trung ương trên 12 năm. Nhiệm kỳ Ủy viên Trung ương dài nhất đến 25 năm1 (V. P. Dimitrenko (chủ biên): Lịch sử nước Nga thế kỷ XX, bản tiếng Nga, Mátxcơva, 1996, tr.581). Con số dưới đây có thể cho thấy hiện tượng già đi nghiêm trọng của cán bộ lãnh đạo: Năm 1964 khi Brezhnev giữ chức Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, tuổi bình quân của Ủy viên Đoàn Chủ tịch Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Ủy viên dự khuyết, Bí thư Ban Bí thư và thành viên Đoàn Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Liên Xô lần lượt là 61 tuổi, 52,8 tuổi, 54,1 tuổi và 55,1 tuổi. Sau khi bước vào những năm 1980, tuổi bình quân của các chức danh này tăng lên lần lượt là 70,1 tuổi, 62,5 tuổi, 64 tuổi và 68,1 tuổi2 (Hồng Quân: Tấm bia lớn và lời cảnh báo - chủ nghĩa xã hội thế kỷ XX, Nxb. Thế giới đương đại, 2002, tr.309). Sự lão hóa của cán bộ lãnh đạo, nhất là sự lão hóa của cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng đã gây ảnh hưởng tiêu cực nặng nề đối với cơ chế quyết sách tầng cao của Đảng. Nó làm cho Đảng Cộng sản Liên Xô từng bước mất đi khí thế, sức sống và tinh thần tìm tòi sáng tạo không ngừng.


Thứ ba, hiện tượng tham nhũng trong cán bộ lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô không ngừng phát triển.

Hiện tượng tham nhũng trong cán bộ lãnh đạo đến cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980 đã đến mức khá nghiêm trọng. Xuất hiện tình trạng này trước hết là do trong và ngoài Đảng thiếu cơ chế giám sát thực sự chứ không phải là hình thức và biện pháp chống tham nhũng thiết thực, đồng thời còn do cán bộ thoái hóa, biến chất về tư tưởng. Công tác ổn định lâu dài đội ngũ cán bộ và giáo dục tư tưởng chính trị của Đảng đi vào hình thức, làm cho khá đông cán bộ lãnh đạo trong công tác không những ngày càng hài lòng với hiện trạng, không chịu suy nghĩ cải cách, mà còn có tư tưởng không ngừng nảy sinh dục vọng tham nhũng, an nhàn, theo đuổi hưởng thụ. Quan niệm chủ nghĩa tập thể, chủ nghĩa xã hội và lý tưởng cộng sản chủ nghĩa ngày càng mờ nhạt trong đầu óc của họ. Họ không thỏa mãn với các loại đãi ngộ đặc thù theo Chính phủ quy định, còn muốn lợi dụng chức quyền trong tay, thông qua các thủ đoạn tham ô, hối lộ, giở trò bịp bợm, kinh doanh phi pháp, thậm chí ngang nhiên ăn cắp để đục khoét tài sản của Nhà nước và tập thể.


Cuối thời kỳ Brezhnev cầm quyền, nội bộ Đảng Cộng sản Liên Xô cuối cùng đã hình thành một "tầng lớp đặc quyền". Thành viên của nó chủ yếu là bộ máy Đảng, chính quyền, quân đội các cấp, đoàn thể quần chúng và doanh nghiệp, cán bộ lãnh đạo nông trang, trước tiên là cán bộ lãnh đạo cao cấp và một bộ phận phần tử trí thức cao cấp đương quyền. Đặc trung chủ yếu của các thành viên "tầng lớp đặc quyền" này là: Thứ nhất, họ nắm giữ quyền lãnh đạo tuyệt đối của bộ máy lãnh đạo Đảng, chính quyền, quân đội Trung ương và địa phương cũng như doanh nghiệp, nông trang. Thứ hai, đa số họ được giáo dục cao cấp, trình độ văn hóa tương đối cao, có chức danh kỹ thuật chuyên nghiệp cao cấp, và có cơ hội đi thăm các nước phương Tây. Thứ ba, đa số họ là những người giáo điều theo lối bảo thủ, không muốn tiến thủ về tư tưởng; về công tác là những người quan liêu xa rời thực tế, xa rời quần chúng. Thứ tư, họ bề ngoài ủng hộ chủ nghĩa xã hội, hầu như cũng làm việc vì chủ nghĩa xã hội, nhưng trong lòng họ lại hướng về lối sống tư bản chủ nghĩa. Bất kể về tác phong tư tưởng và tác phong công tác, hay tác phong sinh hoạt, "tầng lớp đặc quyền" đều xa rời đông đảo quần chúng nghiêm trọng, làm cho uy tín của Đảng Cộng sản và chủ nghĩa xã hội bị hạ thấp nghiêm trọng. Họ không còn là đại diện cho lợi ích căn bản của quần chúng nhân dân nữa.


Cần nêu ra rằng, trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo thời kỳ này cũng không thiếu những người tôn trọng kỷ cương, pháp luật, công minh chính trực, liêm khiết và tận tụy công tác. Họ tuy cũng được hưởng một số đãi ngộ đặc thù mà Chính phủ quy định, nhưng không nên liệt vào "tầng lớp đặc quyền". Ngoài ra, cán bộ bình thường và người lãnh đạo doanh nghiệp nông trang bình thường không có bao nhiêu đặc quyền, cũng không nên đưa vào tầng lớp này.


"Tầng lớp đặc quyền" không phải hoàn toàn nhất trí về mặt quan điểm chính trị. Trong đó có một bộ phận người không chỉ theo đuổi lối sống phương Tây, mà còn hướng về chế độ tư bản chủ nghĩa. Họ không thỏa mãn với quản lý tư liệu sản xuất, còn mong muốn có thể có tư liệu sản xuất, công khai tích lũy của cái cá nhân kếch xù, đồng thời đem những của cải đó và cả địa vị của mình trực tiếp chuyển cho đời sau. Bộ phận người này chỉ cần gặp được "khí hậu" thích hợp thì sẽ rất nhanh lựa chọn chủ nghĩa tư bản. Họ là bộ phận hợp thành quan trọng của nền tảng xã hội của Liên Xô diễn biến về sau. Một bộ phận người khác trong "tầng lớp đặc quyền" về chủ quan không muốn đi con đường tư bản chủ nghĩa, chỉ muốn duy trì hiện trạng, giữ gìn lợi ích có được của mình, sống thoải mái dưới thể chế hiện tại. Vì vậy họ phản đối bất cứ cải cách nào làm lung lay thể chế này. Chính sự nỗ lực duy trì hiện trạng này làm cho đất nước rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng, cuối cùng dẫn đến sự "sụp đổ" của Liên Xô.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #42 vào lúc: 19 Tháng Hai, 2022, 08:11:16 am »

3. Căn nguyên tư tưởng của trì trệ - chủ nghĩa giáo điều không ngừng nảy nở

Giữa những năm 60-70 thế kỷ XX, cùng với sự khởi đầu của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật thế giới và sự phát triển và tương đối ổn định của kinh tế chính trị các nước tư bản phát triển, cũng như sự tan rã của hệ thống thực dân tư bản chủ nghĩa và sự nổi lên của thế giới thứ ba, chủ đề thời đại với đặc trung cách mạng và chiến tranh dần dần được thay thế bởi chủ đề thời đại với đặc trưng hòa bình và phát triển.


Trong nước Liên Xô, do kinh tế quốc dân và sự nghiệp văn hóa giáo dục phát triển, cơ cấu giai cấp và cơ cấu xã hội cũng có thay đổi. Sự thay đổi này đòi hỏi một cơ chế mới thích ứng với nó, gồm cải cách thể chế quản lý, thay đổi chế độ phân phối về cơ bản có tính chất bình quân chủ nghĩa, điều chỉnh hơn nữa quan hệ dân tộc, nhất là mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa và quan tâm đến yêu cầu hợp lý của phần tử trí thức về mặt vật chất và tinh thần nào đó mà họ nệu ra để thể hiện giá trị của mình... Tập đoàn lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô do Brezhnev đứng đầu đã không nhìn thấy sự thay đổi mới diễn ra trong các nước tư bản chủ nghĩa, cũng không nhìn thấy những thay đổi mới diễn ra trong nước. Họ càng không nhìn thấy trong tình hình mới nói trên, thể chế chính trị, kinh tế xã hội chủ nghĩa truyền thống của Liên Xô ở mức độ rất lớn đã mất đi sức sống của thời kỳ nó hình thành. Ngược lại, họ vẫn khư khư ôm chặt quan điểm xã hội chủ nghĩa những năm 20-30 thế kỷ XX, coi toàn bộ đặc trưng của mô hình chủ nghĩa xã hội hình thành trong thời kỳ này là đặc trưng bản chất của chủ nghĩa xã hội và là giáo điều thiêng liêng không thể xâm phạm. Chính dưới sự chỉ đạo của chủ nghĩa giáo điều này, họ không những xóa bỏ các biện pháp cải cách của thời kỳ đầu cầm quyền, mà về sau cũng dứt khoát không dùng từ "cải cách", thay vào đó bằng từ "hoàn thiện". Không những thế, những người lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô còn tổ chức phê phán "kinh tế thị trường xã hội" trong phạm vi cả nước, đến nỗi nhà kinh tế học nổi tiếng, giáo sư Evsei Liberman không thể không công khai tự phê bình vì "thổi phổng không thích đáng tác dụng của lợi nhuận", ngoài ra một số học giả chủ trương lợi dụng cơ chế thị trường cũng bị điều xuống cơ sở, hoặc biến mất khỏi giới lý luận1 (Tham khảo Trần Chi Hoa (chủ biên): Liên Xô thời kỳ Brezhnev, Nxb. Khoa học xã hội Trung Quốc, 1998, tr.69). Chính những điều này đã làm cho thể chế kế hoạch tập trung cao độ càng được tăng cường, đông cứng thêm và tuyệt đối hóa.


Chủ nghĩa giáo điều của Đảng Cộng sản Liên Xô được phản ánh trên cái gọi là lý luận "chủ nghĩa xã hội phát triển". Năm 1967, tại đại lễ kỷ niệm 50 năm Cách mạng Tháng Mười Nga, Brezhnev lần đầu tiên nêu ra lý luận này. Năm 1977, Đảng Cộng sản Liên Xô lại đưa lý luận này vào Hiến pháp mới của Liên Xô. Hầu như tất cả báo chí Liên Xô đều ra sức tuyên truyền lý luận này. Lý luận "chủ nghĩa xã hội phát triển" so với tư tưởng "20 năm xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản" do Khrushchev đề ra, tuy là một bước tiến nho nhỏ, nhưng về thực chất, nó vẫn là một thứ lý luận bỏ qua giai đoạn, không có khác biệt bản chất với quan điểm liên quan của Khrushchev, thậm chí cả của Xtalin. Brezhnev thường xuyên cất cao giọng hát "quá độ sang chủ nghĩa cộng sản" trong mọi trường hợp. Cái tử huyệt của lý luận "chủ nghĩa xã hội phát triển" không chỉ nằm ở chỗ nó là sự không tưởng của việc bỏ qua giai đoạn phát triển lịch sử, mà còn ở chỗ nó là một thứ triết học suy diễn của chủ nghĩa giáo điều. Các trình bày và luận chứng đối với "chủ nghĩa xã hội phát triển" lúc bấy giờ đều xuất phát từ lý luận thuần trừu tượng, xa rời thực tế một cách nghiêm trọng, lẩn tránh các loại mâu thuẫn và vấn đề xuất hiện trong đời sống hiện thực. Vì vậy, lý luận này chỉ có thể làm đông cứng thể chế truyền thống.


Liên Xô mở rộng chiến lược đối với thế giới thứ ba trong thời kỳ Brezhnev, một mặt dĩ nhiên là xuất phát từ tư tưởng bá quyền của họ đã có từ lâu, nhưng mặt khác cũng phản ánh tư tưởng giáo điều của Đảng Cộng sản Liên Xô. Những người lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô không nhìn thấy được do sự chuyển đổi của chủ đề thời đại nên hình thức đấu tranh "chiến tranh dẫn đến cách mạng, cách mạng ngăn chặn chiến tranh" trước kia đã được chủ nghĩa xã hội thay thế bằng hình thức đấu tranh lấy phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội của mình để lôi kéo nhân dân các nước đi con đường xã hội chủ nghĩa. Tập đoàn lãnh đạo Brezhnev vẫn cố thủ quan niệm và giáo điều vốn có, cho rằng Đảng Cộng sản Liên Xô cần phải "ra sức ủng hộ nhân dân các nước đang đấu tranh cho giải phóng của mình, tranh thủ không chút chần chừ làm cho tất cả các nước và nhân dân thuộc địa giành được độc lập", giúp họ "tiến hành cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân mới"1 (Gromyko: Lịch sử chính sách đối ngoại của Liên Xô, Nxb. Đại học Nhân dân Trung Quốc, 1989, tr.451), v.v... Chính lý luận giáo điều này đã thúc đẩy lãnh đạo Liên Xô phất ngọn cờ "chi viện cách mạng thế giới" và "chủ nghĩa quốc tế", mở rộng bừa bãi ở khắp thế giới thứ ba, từ đó không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển của nước mình, mà còn làm xấu đi hình ảnh của các nước xã hội chủ nghĩa.


Thời kỳ Brezhnev cầm quyền, một số nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu để thích ứng với sự phát triển mới của tình hình trong và ngoài nước, kết hợp tình hình của nước mình đã tiến hành cải cách ở mức độ khác nhau, trong đó có nước đã đạt được thành tích rõ rệt. Như cải cách của Hunggari tiến hành dưới sự lãnh đạo của Kadar vào thời kỳ cuối những năm 1960 đến cuối những năm 1970 đạt được thành quả nổi bật. Nhưng theo các nhà lãnh đạo Liên Xô, cải cách như thế là "xa rời kinh điển, đi ngược đạo lý". Họ không những không nghiên cứu nghiêm chỉnh kinh nghiệm của các đảng anh em, từ đó rút ra những gợi ý nào đó, mà còn chèn ép đối với cải cách của một số nước Đông Âu. Điều đó thể hiện nổi bật ở cuộc trấn áp vũ trang "mùa xuân Praha" Tiệp Khắc. Hành động này không chỉ là biểu hiện của chủ nghĩa nước lớn và chủ nghĩa đảng lớn của Brezhnev và Ban lãnh đạo của ông, mà cũng là phản ánh của chủ nghĩa giáo điều về tư tưởng của lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô, thậm chí có thể nói là sự phản bội đối với chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa quốc tế vô sản.


Chủ nghĩa giáo điều của Đảng Cộng sản Liên Xô biểu hiện nổi bật và nghiêm trọng nhất ở thời kỳ cầm quyền của Brezhnev. Chính, tư tưởng giáo điều này đã đẩy Đảng và Nhà nước Liên Xô đến bờ vực của khủng hoảng.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #43 vào lúc: 19 Tháng Hai, 2022, 08:12:53 am »

IV. KHỦNG HOẢNG VÀ THẤT BẠI DIỆT VONG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN LIÊN XÔ

Brezhnev lâm bệnh, qua đời tháng 11 năm 1982. Hai vị Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô sau đó là Andropov và Chernenko sau khi cầm quyền tổng cộng không đến 3 năm cũng kế tiếp qua đời. Họ không thể xoay chuyển được tình thế đang xuống dốc của Đảng Cộng sản Liên Xô. Tháng 3 năm 1985, Mikhail Gorbachev chỉ 54 tuổi, có kinh nghiệm công tác cơ sở và công tác Trung ương Đảng thời gian dài được bầu làm Tổng Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Rõ ràng là Gorbachev tiếp nhận một di sản lịch sử nặng nề. Đảng Cộng sản Liên Xô đang thai nghén khủng hoảng sâu sắc và đứng trước thử thách sống chết mất còn. Mặc dù vậy, Đảng Cộng sản Liên Xô lúc bấy giờ vẫn kiên trì phương hướng xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, và còn có thực lực tương đối. Trong tình hình đó, nếu Đảng Cộng sản Liên Xô do Gorbachev đứng đầu vạch ra và thực hiện được một đường lối chính trị tư tưởng kiên trì chủ nghĩa xã hội, tiến hành cải cách triệt để đối với Đảng thì Đảng Cộng sản Liên Xô và Liên Xô dưới sự lãnh đạo của Đảng hoàn toàn có thể chấn hưng. Nhưng lịch sử hơn 6 năm cầm quyền chứng tỏ Gorbachev không hoàn thành trọng trách lịch sử đó. Ông không chỉ xuyên tạc tính chất, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu phấn đấu và nguyên tắc tổ chức của Đảng, mà còn tự động từ bỏ địa vị lãnh đạo của Đảng, cuối cùng đưa Đảng đến diệt vong.


1. Khuynh hướng sai lầm thời kỳ đẩu cải tổ

Không phải từ khi Gorbachev cầm quyền Liên Xô bắt đầu rời khỏi con đường xã hội chủ nghĩa. Đảng Cộng sản Liên Xô thoái hóa, biến chất và thất bại diệt vong dưới sự lãnh đạo của Gorbachev là cả một quá trình. Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô Ligachev cho rằng, cải tổ thời kỳ Gorbachev có thể chia làm hai giai đoạn: Những năm 1985-1988 là giai đoạn thứ nhất, lúc bấy giờ Đảng đứng trước vấn đề con đường xã hội chủ nghĩa đi như thế nào. Những năm 1989-1991 là giai đoạn thứ hai, lúc này Đảng đi chệch phương hướng xã hội chủ nghĩa, rơi vào khủng hoảng1 (Phát biểu của Ligachev tại cuộc họp báo ngày 27-5-1992). Quan điểm này về cơ bản phù hợp với tình hình lịch sử. Tiêu chí cụ thể của hai giai đoạn này là Hội nghị đại biểu lần thứ 19 Đảng Cộng sản Liên Xô triệu tập tháng 6 năm 1988. Song, trước Hội nghị đại biểu lần này, khuynh hướng sai lầm của Đảng đã xuất hiện và bắt đầu phát triển. Những khuynh hướng sai lầm này làm cho trong Đảng, trước hết là trong tầng lớp lãnh đạo cao nhất của Đảng, xuất hiện bất đồng ý kiến quan trọng, điều đó cũng gây nên tình trạng hỗn loạn tư tưởng trong Đảng.


"Chiến lược tăng tốc phát triển kinh tế xã hội đất nước" (tức cái gọi là "chiến lược tăng tốc") được đề ra tại Hội nghị toàn thể của Đảng tháng 4 năm 1985 và được Đại hội XXVII của Đảng tháng 2 năm 1986 chính thức thông qua tuy bị thất bại, nhưng nó vẫn là cải tổ tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng và trong phạm vi xã hội chủ nghĩa, mục tiêu là "hoàn thiện chủ nghĩa xã hội". Vấn đề ở chỗ, Gorbachev không nhận thức đúng đắn nguyên nhân thất bại của "chiến lược tăng tốc", mà kết tội thất bại toàn bộ là do trở lực của "bộ máy quan liêu" các cấp. Ông sai lầm khi coi mấy triệu cán bộ lãnh đạo các cấp của Đảng đều là "lực lượng cản trở" cải tổ. Vì vậy, ông thay đổi chức vụ của hàng loạt cán bộ có kinh nghiệm, được thử thách, đồng thời đề bạt một loạt cán bộ thê đội 2, thê đội 3 lên cương vị lãnh đạo. Cần nêu lên rằng, trong đội ngũ cán bộ của Đảng lúc bây giờ, quả thực có một loạt người bảo thủ, hài lòng với hiện trạng, nhưng không phải là tất cả, vả lại, tình hình của mỗi người cũng không giống nhau. Nếu không phân biệt rõ mà nhất loạt thay đổi thì không những làm cho công tác của Đảng mất đi tính kế thừa cần có, mà còn làm tổn thương một số cán bộ có năng lực công tác khá, giỏi, chỉ nêu lên một số quan điểm bất đồng đối với cải tổ. Ngoài ra, một số cán bộ mới đề bạt, do thiếu kinh nghiệm chính trị thường tỏ ra mềm yếu và bị động trong đấu tranh với khuynh hướng sai lầm trong và ngoài Đảng.


Ngày 25 tháng 2 năm 1986, Đảng Cộng sản Liên Xô triệu tập Đại hội đại biểu lần thứ XXVII. Đây là Đại hội đại biểu đầu tiên sau khi Gorbachev lên cầm quyền. Trong tâm trí của Gorbachev, nó có quan hệ thừa kế nào đó với Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô. Trong hồi ký, ông viết một cách thâm thúy: "Ngày giờ khai mạc Đại hội đại biểu (ngày 25 tháng 2) không cố ý lựa chọn, nhưng (có ý vị tượng trưng) nó rất trùng hợp với ngày kỷ niệm 30 năm Đại hội XX"1 (Gorbachev: Hồi ký (bản dịch), Nxb. Văn hiến Khoa học xã hội, 2003, tr.343). Có điều nói chung, phương châm của Đại hội vẫn giữ phương hướng xã hội chủ nghĩa. Vấn đề ở chỗ, Đại hội XXVII chính thức nêu lên khẩu hiệu "dân chủ hóa", "công khai"', "đa nguyên hóa dư luận" và coi chúng là đột phá khẩu gạt bỏ "cơ chế cản trở" cải tổ. Đại hội cho rằng, "tăng cường dân chủ hóa" và "mở rộng tính công khai" hơn nữa là biện pháp quan trọng cải tiến sự lãnh đạo của Đảng và hoàn thiện thể chế chính trị.


Để thể hiện hành động thực tế "dân chủ hóa" và "công khai", tháng 2 năm 1986 Gorbachev ra lệnh thả tội phạm chính trị Anatoli Sharansky. Tháng 12 cùng năm lại cho phép "người bất đồng chính kiến" nổi tiếng Andrei Sakharov đang bị lưu đày ở thành phố Gorki trở về Mátxcơva. Phải nói rằng, lúc bấy giờ đưa ra "dân chủ hóa" và "công khai" vẫn còn có giới hạn chính trị. Tiền đề của nó là "hoàn thiện chế độ xã hội chủ nghĩa", tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô là hình thức cao nhất của tổ chức chính trị và hạt nhân của thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa. Nhưng chẳng bao lâu, nhất là sau Hội nghị toàn thể của Đảng vào tháng Giêng năm 1987, giới hạn này dần dần trở nên lu mờ. Tại Hội nghị toàn thể lần này, Gorbachev đề xướng thực hành "tính công khai mức độ lớn nhất", nhấn mạnh "xã hội Liên Xô không nên có vùng cấm không được phê bình, điều này cũng hoàn toàn áp dụng đối với phương tiện dư luận"1 (Gorbachev: Những bài phát biểu về cải tổ (6-1986 - 6-1987), Nxb. Nhân dân, 1987, tr.151, 153). Sau đó, hầu như ở mỗi lần hội nghị, ông đều lớn tiếng nói đến "dân chủ hóa", "công khai" và "đa nguyên hóa dư luận". Trong phát biểu "Cải tổ và tư duy mới" vào tháng 11 năm 1987, ông nói rất tập trung về những điều đó, yêu cầu rõ ràng "làm cho tính công khai mở cửa sáng choang"2 (Gorbachev: Cải tổ và tư duy mới đối với nước ta và thế giới, Nxb. Tân Hoa, 1987, tr.88). Tháng 1 năm 1988, khi tiếp những người lãnh đạo khối công tác ý thức hệ của Đảng, ông thậm chí nói: "Chúng ta chủ trương tính công khai không hề bảo lưu và không chút hạn chế"3 (Hoàng Hùng, Kỷ Ngọc Tường: Phóng sự 7 năm "cải tổ" của Liên Xô cũ, Nxb. Hồng Kỳ, 1992, tr.72).
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #44 vào lúc: 19 Tháng Hai, 2022, 08:13:45 am »

Hậu quả tiêu cực của việc tiến hành "dân chủ hóa", "công khai" và "đa nguyên hóa dư luận" có mấy điểm dưới đây:

Thứ nhất, Đảng từng bước mất đi sự kiếm soát đối với giới trí thức, giới lý luận và giới báo chí. Theo Ligachev thổ lộ trong hồi ký của ông, Alexander Yakovlev sau khi đảm nhiệm vị trí lãnh đạo lĩnh vực ý thức hệ của Đảng, đã biến những chủ bút của báo chí truyền thông chủ yếu thành những nhân vật tiêu biểu của phái tự do, "còn Gorbachev thì một mắt nhắm một mắt mở đối với những việc đó"4 (Tham khảo [Mỹ] David Kotz/ Fred Weir: Cuộc cách mạng từ thượng tầng - Sự cáo chung của thể chế Liên Xô, Nxb. Đại học nhân dân Trung Quốc, 2002, tr.88). Vì thế xuất hiện rất nhiều bài viết chống lại sự lãnh đạo của Đảng và chủ nghĩa xã hội trên báo chí trong cả nước. Gorbachev khuyến khích điều đó, nói: "Hãy để cho ngôn luận của chúng ta đa dạng hóa hơn! Để cho toàn xã hội đều tham gia"1 (Hoàng Hùng, Kỷ Ngọc Tường: Phóng sự 7 năm "cải tổ" của Liên Xô củ, Sđd, tr.56). Thực ra, cái gọi là đa nguyên hóa dư luận chẳng qua là đa nguyên hóa dư luận chống chủ nghĩa xã hội mà thôi. Sau khi đăng bài viết nổi tiếng của Nina Andreeva "Chúng ta không thể từ bỏ nguyên tắc", việc Gorbachev lập tức chỉ thị cho báo Sự thật đăng bài của Ban biên tập công kích bài này là một chứng minh.


Thứ hai, các "tổ chức phi chính thức" như măng mọc mùa xuân, tới tấp xuất hiện. Trong thành viên của các tổ chức đó có không ít đảng viên cộng sản. Theo một bài xã luận của báo Sự thật ước tính, đến hết tháng 12 năm 1987, có hơn 3 vạn các loại tổ chức như thế trong cả nước2 (Tham khảo Vương Chính Tuyển (chủ biên): Đại sự ký Liên Xô - Đông Âu, Sđd, tr.54). Họ có cương lĩnh, có tổ chức, có quần chúng, còn có sách xuất bản. Không ít tổ chức nêu ra khẩu hiệu chống Liên Xô, chống chủ nghĩa xã hội.


Thứ ba, làn sóng phủ định cả gói lịch sử Đảng và Nhà nước Xôviết lan rộng thêm. Tiếp theo sau phê phán lý luận cứng nhắc và xã hội "trì trệ" của thời kỳ Brezhnev, tiến tới phê phán gay gắt Xtalin, điều đó trên thực tế là sự phủ định toàn bộ chế độ xã hội chủ nghĩa Liên Xô. Quy mô phê phán lớn, diện liên quan rộng, làm cho phê phán Xtalin thời kỳ Khrushchev thua kém xa. Đầu tháng 6 năm 1988, báo Tin tức công khai đăng bài nói giáo trình lịch sử Liên Xô là ''điều dối trá lưu truyền đời đời". Trong tình hình đó, không thể nào giảng dạy lịch sử ở trường tiểu học, trung học Liên Xô, đến nỗi ngành giáo dục phải bỏ thi theo giáo trình này. Không chỉ có thế, có những bài viết thậm chí trực tiếp phỉ báng Lênin và Cách mạng Tháng Mười Nga. Mùa hè năm 1988, tạp chí Thế giới mới đăng bài viết của nhà kinh tế học Vasily Selyunin chỉ trích Gorbachev đã sai lầm khi cho rằng sự bóp méo chủ nghĩa xã hội Liên Xô bắt đầu từ Xtalin. Tác giả nêu ra: "Áp bức của Xtalin sớm có tiếng chuông báo trước của phương pháp luận đó, mà phương pháp luận thô thiển đó, người đầu têu chính là Lênin". Thế là trong giới báo chí truyền thống của phái tự do nổi lên một trào lưu mới, tuyên bố nước Nga trước cách mạng đã phát triển theo dân chủ tư bản chủ nghĩa kiểu phương Tây, sau đó bị Bônsêvích nắm quyền cản trở, thực nghiệm xã hội chủ nghĩa rồi dẫn dắt nó vào con đường sai lầm. Điều đó chẳng khác gì nói, nếu có thể lật đổ ách thống trị của Đảng Cộng sản Liên Xô thì nước Nga sẽ trở lại với cái gọi là "văn minh trạng thái bình thường" trước cuộc cách mạng của nó1 (Tham khảo [Mỹ] David Kotz, Fred Weir: Cuộc cách mạng từ thượng tầng - Sự cáo chung của thể chế Liên Xô, Sđd, tr.91).


Hậu quả tiêu cực của việc thi hành "dân chủ hóa", "công khai" chỉ bắt đầu lộ ra ở thời kỳ đầu cải tổ, trong mấy năm sau đó, theo đà Gorbachev không ngừng nhượng bộ phái dân chủ, ngày càng phát triển và nghiêm trọng hơn, cuối cùng trở thành nhân tố quan trọng thúc đẩy Đảng Cộng sản Liên Xô sụp đổ.


Nhà sử học nổi tiếng Roy Medvedev khi nói đến bài học thi hành "dân chủ hóa", "công khai" có nói, "dân chủ hóa", "công khai" đã mở đường cho các loại ngôn luận xuất hiện, nhưng tất cả những ngôn luận mới xuất hiện đều nhằm vào Đảng Cộng sản, nhằm vào lịch sử Liên Xô và bản thân Gorbachev. Đảng Cộng sản Liên Xô dùng trận địa dư luận của mình cung cấp diễn đàn cho các thế lực chống cộng sản, chống chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, mặc dù Gorbachev nhiều lần tuyên bố mình kiên trì lựa chọn chủ nghĩa xã hội, nhưng cải tổ của ông không mang lại sức sống mới cho chủ nghĩa xã hội, không có bất kỳ cống hiến nào cho tư tưởng xã hội chủ nghĩa tiến lên phía trước. Đồng thời, ông còn từng bước thụt lùi về mặt chính sách trong đối nội, đối ngoại1 (Một cuộc nói chuyện ngày 31-1-2002 của Roy Medvedev). Sự phân tích này có thể nói là đi đúng vào vấn đề.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #45 vào lúc: 19 Tháng Hai, 2022, 08:15:42 am »

2. Một đường lối cải tổ xa rời chủ nghĩa Mác: Chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo

Xét cải tổ kinh tế chưa thấy hiệu quả, Đảng Cộng sản Liên Xô quyết định tiến hành cải tổ lĩnh vực chính trị. Tháng 6 năm 1988, Đảng Cộng sản Liên Xô tổ chức Hội nghị đại biểu lần thứ 19. Hội nghị này là thời điểm bắt đầu bước ngoặt phương hướng cải tổ của Gorbachev, cũng là thời điểm Đảng Cộng sản Liên Xô bắt đầu tự suy yếu tiến tới tự động từ bỏ quyền lãnh đạo. Trước đó, Gorbachev về cơ bản tiến hành cải tổ trong phạm vi xã hội chủ nghĩa, và còn nhấn mạnh Đảng Cộng sản Liên Xô phải trở thành lực lượng lãnh đạo của cải tổ; sau đó, cải tổ dần dần chuyển hướng, cho đến cuối cùng đã từ bỏ sự lãnh đạo của Đảng và phương hướng xã hội chủ nghĩa.


Nội dung chủ yếu của Hội nghị đại biểu lần này là thảo luận vấn đề cải tổ thể chế chính trị. Trong báo cáo tại Hội nghị, Gorbachev nhấn mạnh: "Hiện nay chúng ta đang đứng trước rất nhiều vấn đề phức tạp. Nhưng vấn đề nào là then chốt? Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô cho rằng, then chốt là thể chế chính trị của chúng ta". "Cải tổ thể chế chính trị là sự bảo đảm cực kỳ quan trọng cho cải tổ không thể đảo ngược". Vì vậy toàn Đảng phải đặt nhiệm vụ này vào "vị trí hàng đầu của mọi công tác". Õng cho rằng, phương châm chủ yếu của cải tổ thể chế chính trị đã không chỉ là vấn đề đề xướng "dân chủ hóa", "công khai" và "đa nguyên hóa dư luận", mà là phải vứt bỏ tư tưởng Đảng Cộng sản Liên Xô là hạt nhân của thể chế chính trị Liên Xô, chuyển trung tâm quyền lực của Nhà nước từ Đảng sang Xôviết. Ông nói: "Bất cứ vấn đề quốc gia, vấn đề kinh tế hoặc vấn đề xã hội nào không có Xô viết tham gia thì không thể được giải quyết". Chỉ có như vậy mới có thể "làm cho chế độ nhà nước của chúng ta hoàn toàn phù hợp với khái niệm nhà nước toàn dân này", "để thực hiện kết luận nước ta từng bước chuyển biến thành nhà nước toàn dân được đưa ra từ thời kỳ đầu những năm 1960"1 (Gorbachev: Báo cáo tại Hội nghị đại biểu lần thứ 19 Đảng Cộng sản Liên Xô, Nxb. Mátxcơva, 1989, tr.3, 43, 55, 56). Về thực chất của cải tổ này, Gorbachev viết trong hồi ký của ông: "Nếu muốn nói một cách khái quát ý nghĩa của cải tổ chính trị, nó cấu tứ như thế nào, thực thi như thế nào, thì có thể nói đó chính là giao quyền lực từ trong tay Đảng Cộng sản độc quyền, thao túng sang tay Xôviết, (cơ quan) theo Hiến pháp vốn đại diện cho nhân dân, được chọn ra thông qua bầu cử tự do"2 (Gorbachev: Hồi ký (bản dịch), Sđd, tr.506). Hội nghị đề ra khẩu hiệu "tất cả chính quyền thuộc về Xôviết". Đó vốn là khẩu hiệu của Đảng Bônsêvích thời kỳ Cách mạng Tháng Mười Nga, bởi vì Xô viết lúc bấy giờ đã ở dưới sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện khẩu hiệu này có nghĩa là đoạt quyền từ trong tay chính phủ lâm thời của giai cấp tư sản. Tình hình hiện tại hoàn toàn khác với lúc bầy giờ, phỏng theo khẩu hiệu trước đây là làm lẫn lộn giữa việc phân chia đúng đắn chức năng Đảng, chính quyền và thay đổi tình trạng Đảng ôm đồm tất cả với kiên trì vai trò lãnh đạo của Đảng. Mặc dù xét văn kiện của Hội nghị lần này, Đảng Cộng sản Liên Xô vẫn chưa chuẩn bị thực hành ngay thể chế đa đảng, nhưng đã đi bước đầu tiên. Một nội dung quan trọng khác của Hội nghị đại biểu lần thứ 19 là khái quát mới đối với mục tiêu cải tổ của Đảng, lần đầu tiên chính thức đề ra khẩu hiệu "chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo". Trước đó, Đảng Cộng sản Liên Xô vẫn coi "hoàn thiện có kế hoạch chủ nghĩa xã hội" được Đại hội XXVII năm 1986 đặt ra là phương châm cơ bản của cải tổ. Cách nêu bây giờ đã làm thay đổi có tính căn bản. Mặc dù tư tưởng này vẫn chưa kịp trình bày có hệ thống ở Hội nghị đại biểu, nhưng đầu mối của bước ngoặt đã có thể nhìn thấy rõ. Dư luận phương Tây khi bình luận Hội nghị lần này, nêu ra một cách nhạy cảm, mục tiêu cải tổ Hội nghị đề ra là muốn "xây dựng lại một cách căn bản" "lâu đài cộng sản chủ nghĩa Liên Xô"1 (Báo The Courier (Ôxtrâylia), ngày 3-7-1988).


Sau Hội nghị đại biểu lần thứ 19, Đảng Cộng sản Liên Xô bắt đầu thoái hóa, biến chất thêm một bước theo đường lối "chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo". Tháng 11 năm 1989, Gorbachev cho đăng bài viết nhan đề "Tư tưởng xã hội chủ nghĩa và biến đổi mang tính cách mạng". Bài viết này phản ánh sự thay đổi quan trọng của tư tưởng cải tổ của tác giả, có thể nói là tiêu chí rõ nét trong quá trình thoái hóa, biến chất tư tưởng của Gorbachev. Bài viết nêu lên rõ ràng "phải căn bản cải tạo toàn bộ lâu đài xã hội chủ nghĩa: từ cơ sở kinh tế đến kiến trúc thượng tầng", lần đầu tiên chính diện khẳng định học thuyết "tam quyền phân lập" của giai cấp tư sản, yêu cầu đưa vào chế độ dân chủ nghị viện của các nước tư bản. Bài viết còn cho rằng "tính chất chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa đã thay đổi quan trọng", "chủ nghĩa xã hội là người thể hiện và người bảo vệ dân chủ nói chung và lý tưởng toàn nhân loại cùng giá trị quan của nó", và bày tỏ phải nghiên cứu đầy đủ và vận dụng "kinh nghiệm phong phú và nhiều mặt" của Đảng Dân chủ xã hội. Ông nêu rõ, Liên Xô phải xây dựng "không chỉ là chủ nghĩa xã hội nhân đạo mà còn là chủ nghĩa xã hội dân chủ"2 (Gorbachev: "Tư tưởng xã hội chủ nghĩa và thay đổi mang tính cách mạng", báo Sự thật (Liên Xô), ngày 26-11-1989). Nguyên đại sứ Mỹ tại Mátxcơva Matlock tận mắt thấy Đảng Cộng sản Liên Xô mất đảng và Liên Xô giải thể đã viết trong hồi ký của ông: "Tôi đã đọc bài viết này, hai năm qua, từ diễn văn kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1987 và quyển sách Cải tổ và tư duy mới đối với nước ta và thế giới, tư tưởng của Gorbachev thay đổi lớn làm tôi xúc động sâu sắc. Bài viết một mặt bày tỏ kiên trì "chủ nghĩa xã hội", nhưng mặt khác, Gorbachev xác định ranh giới mới cho nội hàm của từ này, nội dung và lời nói đó thuộc về 'chủ nghĩa xã hội' của Lênin và Xtalin, thì thà nói đến gần dân chủ xã hội phương Tây hơn"1 ([Mỹ] Little Jack, F. Matlock: Ghi chép trải nghiệm bản thăn vềsự giải thể của Liên Xô, Nxb. Tri thức thế giới, 1996, tr.335).


Sự thay đổi tư tưởng này của Gorbachev cũng liên quan đến đại biến động của Đông Âu. Đông Âu đại biến động cũng làm cho ông ta cảm thẩy khích lệ, được gợi mở, làm cho ông nhận thức sâu hơn tính tất yếu của thực hành "chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo". Sau Hội nghị đại biểu lần thứ 19, Đảng Cộng sản Liên Xô nhanh chóng áp dụng một loạt cái gọi là hành động thực tế "tất cả chính quyền thuộc về Xôviết". Tại Hội nghị toàn thể tháng 7 và Hội nghị toàn thể tháng 8 của Trung ương Đảng tiến hành cải tổ lớn đối với bộ máy của Đảng ở Trung ương và địa phương. Hơn 20 cơ quan cấp ban của Trung ương Đảng vốn có cắt giảm xuống còn 9. Đương nhiên vấn đề không phải ở chỗ cắt giảm bộ máy, thực chất của nó là ở chỗ xóa bỏ quan hệ lãnh đạo tổ chức của Đảng đối với cơ quan nhà nước. Trước sức ép của phái dân chủ trong Đảng, Đảng từng bước, từng bước nhượng bộ trên vấn đề thực hành chế độ đa đảng. Theo cựu Đại sứ Matlock tiết lộ, năm 1989 Gorbachev cùng đồng lõa Yakovlev và Shevardnadze "kết thúc vấn đề độc tài chuyên chính hợp pháp của Đảng Cộng sản, hòng giành được sự ủng hộ của Bộ Chính trị, nhưng không thành"2 ([Mỹ] Little Jack, F. Matlock: Ghi chép trải nghiệm bản thăn vềsự giải thể của Liên Xô, Nxb. Tri thức thế giới, 1996, tr. 364).
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #46 vào lúc: 19 Tháng Hai, 2022, 08:16:39 am »

Ngày 13 tháng 1 năm 1990, trong phát biểu tại Đại hội phần tử tích cực của Đảng Cộng sản Lítva, Gorbachev nói: "Nếu chế độ đa đảng ra đời và phù hợp với lợi ích xã hội, tôi thấy không phải là bi kịch"1 (Đường Tu Triết, Tôn Nhuận Ngọc: Ghi chép điện Kremlin đổi chủ, Nxb. Tân Hoa, 1990, tr.87).


Hội nghị toàn thể tháng 2 năm 1990 Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô là một Hội nghị quan trọng trong quá trình thực hành chế độ đa đảng. Đại biểu phái dân chủ tích cực chủ trương thực hành chế độ đa đảng. Yeltsin phát biểu rằng cần phải "từ kiên trì đảng theo chế độ một đảng quá độ chuyển sang đảng cho phép chế độ đa đảng và sẵn sàng cùng hành động với chính đảng khác trên cơ sở luật chính đảng và tổ chức xã hội"2 (Văn kiện Hội nghị toàn thể tháng 2 Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô (từ ngày 5 đến ngày 7- 2-1990), Nxb. Tri thức thế giới, 1990, tr.87). Gorbachev giữ thái độ đồng ý chiều theo tiếng gọi đó của phái dân chủ. Ông nói trong báo cáo Hội nghị, địa vị của Đảng "không nên thông qua Hiến pháp để cưỡng ép hợp pháp hóa. Không nói cũng rõ, Đảng Cộng sản Liên Xô sẵn sàng đấu tranh giành địa vị của đảng cầm quyền, nhưng điều đó sẽ tiến hành chặt chẽ trong phạm vi tiến trình dân chủ, loại bỏ bất cứ quyền ưu tiên nào về luật pháp và chính trị''3 (Văn kiện Hội nghị toàn thể tháng 2 Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô (từ ngày 5 đến ngày 7-2-1990), Nxb. Tri thức thế giới, 1990, tr.4), từ đó bày tỏ rõ ràng phải sửa đổi Hiến pháp Liên Xô, bãi bỏ quy định trọng Điều 6 về địa vị lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô. Trong dự thảo cương lĩnh hành động "Đi lên chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo" của Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô được Hội nghị toàn thể thông qua trình lên Đại hội XXVIII nêu rõ: "Đảng cho rằng cần phải thông qua trình tự kiến nghị lập pháp, đệ trình những kiến nghị liên quan đến Điều 6 Luật cơ bản của Nhà nước lên Đại hội Đại biểu nhân dân Liên Xô".


Hội nghị toàn thể lần này còn thảo luận vấn đề cải tổ bản thân Đảng, trong đó chủ yếu là vấn đề chế độ tập trung dân chủ. Tại hội nghị, Yeltsin phát biểu, ra sức hô hào "từ bỏ nguyên tắc chế độ tập trung dân chủ, thay vào đó là nguyên tắc dân chủ rộng rãi". Ligachev bày tỏ một cách mâu thuẫn gay gắt, "phản đối biến Đảng ta thành một tổ chức rời rạc, biến thành câu lạc bộ chính trị"1 (Văn kiện Hội nghị toàn thể tháng 2 Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô (từ ngày 5 đến ngày 7-2-1990), Sđd, tr.42, 87, 160, 4). Gorbachev tuy không rõ ràng đồng ý bãi bỏ chế độ tập trung dân chủ, nhưng từ phát biểu của ông có thể thấy khuynh hướng của ông. Ông nói, "việc đổi mới của Đảng cần tiến hành dân chủ hóa sâu sắc, toàn diện, nhận thức lại nguyên tắc chế độ tập trung dân chủ, và đặt trọng điểm vào dân chủ hóa và quyền lợi của đảng viên quần chúng"2 (Văn kiện Hội nghị toàn thể tháng 2 Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô (từ ngày 5 đến ngày 7-2-1990), Sđd, tr.42, 87, 160, 4).


Theo tinh thần của Hội nghị toàn thể tháng 2, Hội nghị toàn thể tháng 3 Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô thông qua "Kiến nghị sửa đổi và bổ sung Hiến pháp Liên Xô (Điều 6 và Điều 7) về vấn đề thể chế chính trị" và quyết định trình lên Đại hội Đại biểu nhân dân Liên Xô lần thứ ba xét duyệt. Đại hội Đại biểu nhân dân Liên Xô lần thứ ba được tổ chức cùng tháng căn cứ kiến nghị của Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, đã thông qua "Về thiết lập chức vị Tổng thống và Luật sửa đổi bổ sung Hiên pháp Liên Xô (Luật cơ bản)", quyết định "thiết lập chức vị Tổng thống Liên bang nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết", đồng thời còn quyết định xóa đi trong "Lời nói đầu" dòng chữ "Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản - đội tiên phong của toàn thể nhân dân đã tăng cường", trong Điều 6 sửa lại câu "Đảng Cộng sản Liên Xô là lực lượng lãnh đạo và là hạt nhân của chế độ chính trị, nhà nước và xã hội Liên Xô" thành câu "Đảng Cộng sản Liên Xô, các chính đảng khác và công đoàn, đoàn thanh niên, đoàn thế xã hội và phong trào quần chúng khác thông qua đại biểu của mình bầu vào Xôviết đại biểu nhân dân và các hình thức khác tham gia vạch ra chính sách của nhà nước Xôviết, công việc quản lý nhà nước và xã hội"1 (Tư liệu về vấn đề Liên Xô, Nxb. Phương Đông, 1990, tr.493-494), từ đó thủ tiêu địa vị lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô đối với nhà nước và xã hội về mặt luật pháp. Quyết định này gây chấn động rất lớn ở trong và ngoài nước. Như một học giả Tây Đức nêu ra, "đây là sự phản bội có tính quyết định đối với nguyên tắc quan trọng nhất của chủ nghĩa Lênin". Tại đại hội, Gorbachev được bầu làm Tổng thống Liên Xô đầu tiên với đa số phiêu 59,2%.


Tháng 7 năm 1990, Đảng Cộng sản Liên Xô tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ XXVIII. Đây là Đại hội đại biểu cuối cùng trong lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô. Đại hội trải qua tranh luận quyết liệt của lực lượng các phái, đã thông qua tuyên bố có tính cương lĩnh "Tiến tới chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo" và một số nghị quyết khác. Từ đó, đường lối chính trị "chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo" cuối cùng được xác lập trong Đảng Cộng sản Liên Xô; chế độ đa đảng và thể chế dân chủ nghị viện tư sản và cả ý thức hệ đa nguyên hóa cũng chính thức trở thành phương châm chỉ đạo hành động của Đảng.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #47 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2022, 07:22:12 am »

3. Sự chia rẽ và rệu rã của tổ chức Đảng

Trước Đại hội XVIII, nội bộ Đảng Cộng sản Liên Xô đã hình thành ba phái lớn chủ yếu: "phái cương lĩnh mácxít" do Ligachev đứng đầu, tức gọi là "phái truyền thống"; "phái cương lĩnh dân chủ" do Yeltsin đứng đầu, tức gọi là "phái dân chủ"; phái chủ lưu do Tổng Bí thư Gorbachev đứng đầu, bề ngoài là phái trung gian! Hai phái trước đối lập rõ ràng, phái chủ lưu thì có lúc dao động giữa hai phái trước. Nhưng do phái dân chủ và phái chủ lưu cơ bản nhất trí về mục tiêu của "chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo", do đó phái chủ lưu không ngừng nghiêng về phái dân chủ trong tiến trình cải tổ. Phái chủ lưu đôi lúc cũng tỏ ra tư thế cứng rắn chút ít đối với phái dân chủ, nhưng đó chỉ là nhu cầu về sách lược nhất thời, nói tóm lại là lùi từng bước đối với phái dân chủ cho đến cuối cùng hoàn toàn đầu hàng phái dân chủ.


Theo đà phát triển của cải tổ, cuộc đấu tranh giữa ba phái ngày càng diễn ra quyết liệt. Trước hết là đấu tranh giữa phái dân chủ và phái truyền thống. Sau Hội nghị đại biểu lần thứ 19, mâu thuẫn giữa Ligachev và Yakovlev trong Bộ Chính trị công khai hóa, gần như xuất hiện cái gọi là "cục diện hai trung ương cùng tồn tại": một bên là Ligachev, Gromyko và Solornensev; bên kia là những người như Yakovlev,... Tại Hội nghị toàn thể tháng 9 năm 1988, Trung ương đã bãi miễn chức vụ Ủy viên Bộ Chính trị của Gromyko và Solomensev, còn Ligachev bắt đầu được phân công quản lý nông nghiệp, không còn giữ chức vụ người thứ hai của Đảng; Yakovlev được phân công quản lý công việc quốc tế, ngoài ra bầu thêm Vadim Medvedev có khuynh hướng tư tưởng phái dân chủ rõ nét làm Ủy viên Bộ Chính trị, phụ trách ý thức hệ. Đây là nhượng bộ rất lớn của Gorbachev đối với phái dân chủ. Rõ ràng là điều đó đã mở rộng ảnh hưởng của phái dân chủ trong Đảng, làm sâu sắc thêm sự chia rẽ của Đảng.


Trong thời gian chuẩn bị Đại hội XXVIII, ba phái trong Đảng đều đưa ra cương lĩnh của mình. Cục diện chia rẽ của Đảng ngày càng rõ rệt.

Tại Đại hội XXVIII của Đảng, ngoài thảo luận và thông qua tuyên bố có tính cương lĩnh "Chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo", còn thảo luận lại vấn đề cải tổ bản thân Đảng. Trong thảo luận, các phái tiến hành đấu tranh quyết liệt. Để đánh vào phái truyền thống và giữ địa vị Tổng Bí thư của mình, Gorbachev ra sức nhượng bộ phái dân chủ: hết sức tiếp thu cách nêu quan điểm của phái dân chủ trong văn kiện, đồng thời cho phép đại biểu của họ phát biểu tại Đại hội. Trong phát biểu tại Đại hội, Yeltsin một lần nữa nhấn mạnh rằng, lối thoát căn bản của Đảng là "thực hành chế độ đa đảng" đồng thời vứt bỏ chế độ tập trung dân chủ. Vì vậy ông cho rằng nên cho phép tiến hành hoạt động phe phái trong Đảng, "cần phải cố định lại các phái cương lĩnh hiện có trong Đảng Cộng sản Liên Xô về mặt tổ chức, để cho mỗi đảng viên cộng sản có thời gian tự mình đưa ra quyết định chính trị"; đồng thời cần phải "đổi tên Đảng", nên gọi là "Đảng xã hội chủ nghĩa dân chủ"; "đảng viên từ bỏ mọi chức năng nhà nước, nên xóa bỏ tổ chức đảng cơ sở trong quân đội, hệ thống an ninh quốc gia và cơ quan nhà nước; ở đơn vị sản xuất vận mệnh của tổ chức đảng cơ sở nên do tập thể lao động và đảng viên tự quyết định... Như vậy sẽ xuất hiện một chính đảng kiểu nghị viện"1 (Tổng tập tư liệu văn kiện chủ yếu Đại hội đại biểu lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô, Nxb. Nhân dân, 1991, tr.459).


Trước khi Đại hội bỏ phiếu bầu Ủy viên Trung ương, Yeltsin đọc tuyên bố trước mọi người xin ra khỏi Đảng. Ông nói: "Xét thấy tôi đã được bầu làm Chủ tịch Xôviết tối cao Liên bang Nga, chịu trách nhiệm to lớn đối với nhân dân và nước Nga, nghĩ đến xã hội sẽ quá độ sang chế độ đa đảng, tôi không thể chỉ thực hiện nghị quyết của Đảng Cộng sản Liên Xô... Vì vậy, tôi, theo lời hứa trong thời gian tranh cử, tuyên bố rút lui khỏi Đảng Cộng sản Liên Xô"2 (Bản thảo tốc ký Đại hội đại biểu lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô từ ngày 2 đến ngày 13-7-1990 (bản tiếng Nga), trích dẫn tờ 1.500 ngày đối kháng chính trị Gorbachev - Yeltsin, Nxb. Tân Hoa, 1993, tr.184-185). Với sự đi đầu của Yeltsin, một loạt phần tử phái dân chủ nổi tiếng, kể cả Popov và Sobchak đều tuyên bố xin ra khỏi Đảng. Họ ở ngoài Đảng phất lá cờ chống Đảng, ngang vai phải lứa với Đảng Cộng sản Liên Xô, hòng lấy đó để chia rẽ và làm tan rã Đảng Cộng sản Liên Xô.


Phái dân chủ không những tiến hành hoạt động bè phái có tổ chức trong Đảng, mà còn cùng một giuộc với các nhân vật tai mắt của phái cấp tiến ngoài Đảng chống Đảng, chống chủ nghĩa xã hội, công khai phản đối sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô. Trong các loại "đoàn thể phi chính thức" đều có đông đảo đảng viên cộng sản tham gia. Như khi "Mặt trận nhân dân" Extônia thành lập tháng 10 năm 1988, trong thành viên của nó có 22% là đảng viên cộng sản; phái dân chủ ở hai thành phố Mátxcơva và Lêningrát cùng với phái cấp tiến ngoài Đảng tổ chức "Liên minh dân chủ", công khai tuyên bố mình là "đảng chính trị đối lập". Phái dân chủ còn lợi dụng Đại hội đại biểu nhân dân Liên Xô làm trận địa đấu tranh với Đảng Cộng sản Liên Xô. Tháng 7 năm 1989, khoảng 300 đại biểu nhân dân Liên Xô thành lập cái gọi là "Đoàn đại biểu xuyên khu vực", Yeltsin và "người bất đồng chính kiến" nổi tiếng Sakharov được bầu làm Chủ tịch. Như vậy trong cơ quan lập pháp của Liên Xô lần đầu tiên xuất hiện một tổ chức (phái) đối lập chính thức. Tại Đại hội đại biểu nhân dân Liên Xô lần thứ hai tháng 12, họ ra tuyên bố phản đối Đảng Cộng sản là "lũng đoạn chính quyền" và "can thiệp trực tiếp vào kinh tế", phản đối "các nước cộng hòa dân tộc phục tùng Trung ương". Trước thềm Đại hội, năm thành viên "Đoàn đại biểu xuyên khu vực", trong đó có Yeltsin, công khai kêu gọi tiến hành bãi công cảnh cáo trong toàn quốc, kịch liệt yêu cầu đưa vấn đề sửa đổi Hiên pháp vào chương trình Đại hội. Tháng 5 năm 1990, Yeltsin được bầu làm Chủ tịch Xôviết tối cao Liên bang Nga, nắm giữ quyền lãnh đạo của nước cộng hòa lớn nhất Liên Xô. Trước đó không lâu, trong cuộc bầu cử Xôviết ở thành phố Lêningrát và Mátxcơva, phái cấp tiến tiếp tục giành được thắng lợi, nhân vật quan trọng của phái dân chủ Sobchak và Popov lần lượt đảm nhận chức vụ thị trưởng của hai thành phố. Quyền lực của Đảng Cộng sản Liên Xô ở một nước cộng hòa liên bang lớn nhất và hai thành phố lớn nhất rơi vào tay người khác, không những làm suy yếu sự thống trị của Đảng Cộng sản Liên Xô, mà còn làm trầm trọng hơn khủng hoảng chia rẽ trong Đảng.


Sự chia rẽ của Đảng không chỉ biểu hiện ở sự bất đồng về đường lối, phương châm, mà còn biểu hiện ở sự phân biệt dân tộc. Được khuyến khích bởi phương châm "dân chủ hóa", "công khai"' và "chế độ đa đảng" của Gorbachev, tinh thần dân tộc chủ nghĩa của các nước cộng hòa trong Liên Xô không ngừng lên cao, khuynh hướng ly khai dân tộc ngày càng nghiêm trọng. Phái dân chủ trong Đảng lợi dụng tình thế này, cùng với những kẻ theo chủ nghĩa dân tộc ly khai, tiến hành hoạt động chia rẽ Đảng. Về mặt này, vấn đề nổi bật nhất là mấy nước cộng hòa ven biển Bantích. Tháng 12 năm 1989, Đại hội XX Đảng Cộng sản Lítva thông qua quyết định tách khỏi Đảng Cộng sản Liên Xô. Ba tháng sau, Đảng Cộng sản Extônia theo gót Đảng Cộng sản Lítva cũng tuyên bố tách khỏi Đảng Cộng sản Liên Xô và tách ra làm hai chính đảng. Lại một tháng sau, Đảng Cộng sản Látvia cũng xảy ra chia rẽ. Tiếp theo sau đảng các nước ven biển Bantích, đảng của một số nước cộng hòa khác cũng xuất hiện tình hình tương tự. Đảng Cộng sản Liên Xô đứng trước mối đe dọa bị liên bang hóa. Gorbachev tuy cũng từng tỏ thái độ cứng rắn về vấn đề đối xử với chủ nghĩa dân tộc, nhưng phương châm chung là nhượng bộ và thỏa hiệp. Biểu hiện rõ nhất của nhượng bộ là Bộ Chính trị Trung ương được Đại hội XXVIII bầu ra đã thu hút tất cả 15 Bí thư thứ nhất của Đảng các nước cộng hòa liên bang. Trong một lần nói chuyện, Ligachev cho rằng: "Quyết định của Đại hội XXVIII cho phép người lãnh đạo tất cả các nước cộng hòa liên bang đều trở thành Ủy viên Bộ Chính trị là sai lầm, đáng lẽ giám sát họ, kết quả lại để cho họ vào Bộ Chính trị, điều đó làm suy yếu nghiêm trọng vai trò giám sát của Đảng". Thực ra, vấn đề ở chỗ không chỉ làm suy yếu vai trò giám sát của Đảng, mà còn chứng tỏ Đảng Cộng sản Liên Xô không còn là một đảng thống nhất nữa.


Sau Đại hội XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô xuất hiện một cao trào xin ra khỏi Đảng. Không chỉ những nhân vật tiêu biểu của phái dân chủ, mà cả khá đông đảng viên bình thường tuyên bố ra khỏi Đảng. Chỉ trong 2 năm, từ tháng 1 năm 1989 đến tháng 1 năm 1991, số đảng viên từ 19,48 triệu giảm xuống còn 16,51 triệu người1 (Trần Chi Hoa (chủ biên): Cương yếu lịch sử thịnh suy của Liên Xô, Nxb. Khoa học xã hội Trung Quốc, 2004, tr.764, 765). Ở Mátxcơva, từ Đại hội XXVIII đến tháng 7 năm 1997, từ 1,135 triệu đảng viên chỉ còn lại 800 nghìn đảng viên, 300 nghìn đảng viên ra khỏi Đảng (trong đó gần 50% là công nhân, 23% là trí thức, 17% là người về hưu)2 (Ngụy Trạch Hoán: Nhìn thấu thịnh suy của Đảng Cộng sản Liên Xô, Nxb. Nhân dân Quảng Đông, 1998, tr.283-284). Tổ chức cơ sở đảng cũng xuất hiện hiện tượng tê liệt. Theo thống kê chưa đầy đủ, đến năm 1990, cả nước có 1/5 tổ chức đảng phân xưởng và 12 tổ đảng giải tán hoặc cơ bản ngừng hoạt động3 (Trần Chi Hoa (chủ biên): Cương yếu lịch sử thịnh suy của Liên Xô, Nxb. Khoa học xã hội Trung Quốc, 2004, tr.764, 765). Tình hình này chứng tỏ lực lượng và uy tín của Đảng Cộng sản Liên Xô xuống thấp vô cùng.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #48 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2022, 07:27:45 am »

4. Kết cục cuối cùng: Mất Đảng

Bắt đầu từ đầu năm 1991, tư tưởng của Gorbachev chuyển nhanh sang tả. Thế lực của phái dân chủ trong Đảng theo đó phình ra rất nhanh. Tiến trình thoái hóa, biến chất của Đảng được đẩy nhanh hơn. Ngày 23 tháng 4, Gorbachev bỏ qua Trưng ương Đảng Cộng sản Liên Xô và Xôviết tối cao Liên Xô, trực tiếp gặp gỡ lãnh đạo 9 nước cộng hòa liên bang gồm Liên bang Nga, Ucraina, Bêlarút, Adécbaigian và 5 nước Trung Ả..., ra tuyên bố "về ổn định tình hình trong nước" (tức cái gọi là Tuyên bố "9+1") đề ra phải nhanh chóng ký Hiệp ước liên minh mới và thông qua Hiến pháp mới trong nửa năm sau khi ký Hiệp ước, bầu cử lại nghị viện mới và thành lập chính phủ trung ương mới. Liên minh mới thành lập sẽ đổi tên là "Liên minh các nước cộng hòa chủ quyền Xôviết", từ bỏ chủ nghĩa xã hội phản ánh tính chất nhà nước liên minh, làm nổi bật "chủ quyền" của nước cộng hòa. Tuyên bố còn bày tỏ, 6 nước cộng hòa khác chưa tham gia cuộc gặp "có quyền độc lập giải quyết vấn đề gia nhập Hiệp ước liên minh". Điều đó có nghĩa là thừa nhận địa vị độc lập của các nước đó. Tuyên bố "9+1" là sự phản bội công khai của Gorbachev đối với Nhà nước Liên bang Xôviết và chủ nghĩa xã hội, là sự chà đạp thô bạo lên quyết định chung toàn dân tiến hành hơn một tháng trước đó1 (Ngày 17-3-1991 đã diễn ra cuộc trưng cầu dân ý trên toàn Liên bang Nga. Trong 185,6 triệu công dân có quyền bỏ phiếu, có 85% số người tham gia bỏ phiếu, trong đó 76,4% số phiếu tán thành giữ Liên bang xã hội chủ nghĩa Xôviết, 21,7% phản đối, gần 2% số phiếu trắng. Sáu nước cộng hòa là Grudia, Lítva, Mônđavia, Látvia, Ácmênia và Extônia từ chối tiến hành bỏ phiếu. Tham khảo A.s. Barsenkov (Nga) và A.I. Vidovin (Nga): Lịch sử nước Nga giai đoạn 1938-2002, bản tiếng Nga, Mátxcơva, 2003, tr.373).


Ngày hôm sau sau khi ra Tuyên bố "9+1", Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô họp Hội nghị toàn thể tháng 4 năm 1991. Tại Hội nghị diễn ra tranh luận gay gắt về vấn đề Hiệp ước liên minh mới. Một số ủy viên phái truyền thống nghiêm khắc phê bình Gorbachev bó tay bất lực về vấn đề khắc phục khủng hoảng trước mắt của Đảng, đồng thời nhượng bộ quá nhiều phái đối lập, yêu cầu ông ta từ chức Tổng Bí thư. Kết quả, được sự ủng hộ của phái dân chủ, Gorbachev vẫn giữ được chức vụ của mình.


Sau Hội nghị toàn thể tháng 4, Gorbachev tăng cường hợp tác hơn nữa với Yeltsin, sự chia rẽ của Đảng và khủng hoảng trong - ngoài sâu sắc hơn. Ngày 12 tháng 6, Liên bang Nga tổ chức bầu cử Tổng thống lần đầu tiên. Đảng Cộng sản Nga đưa ra ứng cử viên Ryzhkov đọ sức với Yeltsin. Nhưng Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô do Gorbachev đứng đầu chưa tích cực ủng hộ Ryzhkov tranh cử, mà lại đưa ra ứng cử viên Pakatin ít tiếng tăm tham gia bầu cử. Giới truyền thông cộng sản Nga ra sức ủng hộ Ryzhkov, nhưng báo Sự thật của Đảng Cộng sản Liên Xô thì án binh bất động, giữ "đường lối trung gian", do đó phân tán phiếu bầu của Đảng Cộng sản, làm cho Yeltsin thắng cử. Dư luận rộng rãi cho rằng, Yeltsin trúng cử Tổng thống, chức vụ quan trọng có tính quyết định này là nhờ có sự ủng hộ của Gorbachev và Đảng Cộng sản Liên Xô. Tháng 7, sau nhiều năm theo đuôi Gorbachev, Shevardnadze tuyên bố ra khỏi Đảng, cùng Yakovlev công khai đứng về phía đối lập với Đảng Cộng sản Liên Xô. Đồng thời, Phó Tổng thống Liên bang Nga Rutskoy lại lôi kéo một nhóm người trong Đảng tổ chức "phái dân chủ của những người cộng sản Nga" độc lập.


Biện pháp đầu tiên sau khi Yeltsin được bầu làm Tổng thống Liên bang Nga là ngày 20 tháng 7 ban bố cái gọi là mệnh lệnh "phi đảng hóa", tuyên bố đình chỉ hoạt động của các chính đảng trong cơ quan nhà nước các cấp, đoàn thể quần chúng và doanh nghiệp cơ sở, mục đích của nó đã được phơi bày, lộ rõ. Là Tổng thống Liên Xô, Gorbachev hoàn toàn có quyền xóa bỏ mệnh lệnh chống cộng đó của Yeltsin. Nhưng ngoài Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và Trung ương Đảng Cộng sản Nga ra tuyên bố lên án mệnh lệnh đó ra, bản thân Gorbachev không ban bố lệnh Tổng thống tuyên bố mệnh lệnh của Yeltsin vô hiệu, cũng không công khai bày tỏ phản đối. Chỉ có người phát ngôn báo chí của ông là Ignatenko nói mấy câu trong cuộc họp báo ngày 23 tháng 7: "Khi đất nước ta đi đến nhất trí, ban bố mệnh lệnh này dẫn đến bất ổn, nó sẽ gây nên căng thẳng và đối kháng...". Ngày 4 tháng 8, Gorbachev lên đường đi Crưm nghỉ mát. Trước lúc lên đường, ban bố mệnh lệnh áp dụng biện pháp khẩn cấp tăng cường sản xuất hàng tiêu dùng, nhưng vẫn không nói đến một chữ đối với mệnh lệnh "phi đảng hóa" của Yeltsin1 (Trên đây tham khảo Đường Tu Triết, Tôn Nhuận Ngọc: Ghi chép điện Kremlin đổi chủ, Sđd, tr.308-309).


Ngày 19 tháng 8, một loạt lãnh đạo Đảng, chính quyền, quân đội do Phó Tổng thống Liên Xô Yanayev đứng đầu nhân cơ hội Gorbachev đi nghỉ ở ngoài, tuyên bố thành lập "Ủy ban tình trạng khẩn cấp" nhằm bảo lưu Liên Xô, đồng thời ngăn cản phái dân chủ lên cầm quyền, kết quả bị thất bại. Đó là sự kiện "19 tháng 8" làm chấn động kinh hoàng trong và ngoài Liên Xô. Về bối cảnh và diễn biến của biến cố, đã có không ít tường thuật (mặc dù có những chi tiết đến nay vẫn chưa sáng tỏ), nhưng đánh giá biến cố này, nhất là quan điểm về vai trò của Gorbachev trong biến cố vẫn chưa thật thống nhất. Dù thế nào chăng nữa, đối với động cơ người tổ chức biến cố và những hy sinh của họ nhằm bảo toàn Liên Xô xã hội chủ nghĩa, rõ ràng là nên khẳng định. Nguyên nhân biến cố thất bại tương đối phức tạp. Qua một số cuộc trao đối nội bộ của những người tổ chức sự kiện và tư liệu liên quan khác, có thể thấy mấy nguyên nhân chủ yếu dưới đây.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #49 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2022, 07:28:51 am »

Thứ nhất, Tổng Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô Gorbachev áp dụng lập trường trước là lừng chừng, sau là phản bội. Rất nhiều tài liệu cho thấy, trước khi sự việc xảy ra, Gorbachev biết được kế hoạch biến cố. Thậm chí trước mấy tháng ông gợi ý cho người tổ chức chuẩn bị hành động. Nhưng khi người tổ chức quyết định trước khi ra tay hành động cử người đến nơi nghỉ dưỡng Crưm gặp Gorbachev, thái độ của ông ta là "các anh muốn làm gì thì làm", đã không tỏ ra đồng ý, cũng không tỏ ra phản đối. Hiển nhiên, Gorbachev tính toán, bất kể người khởi sự giành được thắng lợi hay bị thất bại, ông đều có thể ở địa vị của "người thắng lợi", vả lại cũng không đắc tội với phái dân chủ. Sự việc trái với mong muốn, là sau khi biến cố thất bại, Yeltsin quyết không chịu thua ông ta, mà là cực lực lên án và dấy binh hỏi tội ông ta. Lúc này, bộ mặt thật của Gorbachev hoàn toàn phơi bày. Trong phát biểu trên truyền hình ngày 22 tháng 8, ông chửi bới kẻ gây sự, đồng thời bội phần ca ngợi Yeltsin. Ông nói: "Tôi hiện giờ khi đang nói chuyện trước mặt các bạn, đã có đầy đủ căn cứ nói rằng, chính biến đã phá sản. Các nhà âm mưu đã tính nhầm..., các nhà mạo hiểm đã bị bắt và sẽ bị trừng phạt... Có người không chỉ gánh lấy rủi ro mất địa vị và tự do bản thân, mà còn thường xuyên đứng trước nguy hiểm tính mạng, nhưng họ vẫn đứng trong hàng ngũ bảo vệ Hiên pháp, luật pháp và nhân quyền, tôi phải cảm ơn họ. Trước tiên tôi phải nêu ra vai trò kiệt xuất của Tổng thống Nga Yeltsin, ông là hạt nhân ngăn chặn âm mưu và chuyên chính"1 ("Tuyên bố của Gorbachev trên truyền hình Trung ương Liên Xô ngày 22-8-1991", trích dẫn từ 1.500 ngày đối kháng chính trị Gorbachev - Yeltsin, Sđd, tr.319-320). Phản bội công khai của Gorbachev chứng tỏ Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đã từ bỏ chống đối phái dân chủ. Trong tình hình đó, đòi hỏi đông đảo đảng viên bình thường và tổ chức đảng cơ sở ra tay hành động là không hiện thực, càng không nên chỉ trích họ quá nhiều. Bởi vì trong tình hình người lãnh đạo Đảng đã hoàn toàn xa rời quần chúng, quần chúng căn bản không thể ảnh hưởng đến quyết sách của Đảng.


Thứ hai, người tổ chức sự kiện do dự, dao động và ý kiến nội bộ không thống nhất. Điều đó, ở mức độ nhất định, có liên quan đến nguyên nhân nói trên. Họ sai lầm khi cho rằng Gorbachev sẽ đứng lên ủng hộ hành động của họ. Về sau, trong một cuộc trò chuyện, Kryuchkov có nói, lúc đó chúng ta "có ảo tưởng đối với Gorbachev, hy vọng ông ta có thể cải tà quy chính". Yanayev cũng nói, "sai lầm của chúng ta ở chỗ, một mặt muốn cứu vãn nhà nước, ngăn cản ký Hiệp ước liên minh mới, đồng thời lại muốn giữ Tổng thống". Tất nhiên, hành động của bản thân người tổ chức không kiên quyết và nội bộ không nhất trí cũng là một nguyên nhân. Học giả Nga, người từng "bất đồng chính kiến" trước đây A. A. Zinoviev, trong tác phẩm gần đây của ông nêu rõ: "Phần tử phiến loạn không phải trẻ con 3 tuổi, họ nên hiểu họ đang làm gì. Giả sử ý đồ của họ là thật sự nghiêm chỉnh, thì việc đầu tiên họ nên làm là bắt tất cả phần tử tích cực của "phái dân chủ" - trước tiên là Yeltsin. Họ nên hiểu rằng, trong nước đang tiến hành một cuộc chiến tranh hủy diệt toàn bộ Liên Xô, nên dùng phương thức phù hợp với hiện thực này để hành động; nhưng họ sợ làm như thế thậm chí họ không dám thừa nhận sự thật phũ phàng này"1 (A. A. Zinoviev: Bi kịch của chủ nghĩa cộng sản Nga, Sđd, tr.73).


Thứ ba, trong toàn bộ quá trình biến cố này, Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô vẫn ở trạng thái tiêu cực, không trực tiếp hoặc gián tiếp bày tỏ ủng hộ hay đồng tình đối với biến cố. Trong ba ngày, từ khi bắt đầu cuộc biến cố đến khi thất bại, người ta không nghe thấy tiếng nói của Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Đến ngày 21 tháng 8 khi biến cố thất bại đã rõ kết cục, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô lại vội vã lên án người tổ chức biến cố. Họ nêu ra trong tuyên bố: "Không cho phép lợi dụng quyền lực phi thường lâm thời để xác lập chế độ độc đoán, thành lập chính quyền vi phạm Hiên pháp và có ý đồ lợi dụng cách làm vũ lực", và yêu cầu triệu tập Hội nghị toàn thể Trung ương có Gorbachev tham gia. Thậm chí ngay cả Yakovlev, phần tử không ăn cánh của Đảng này cũng cho rằng, Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô chưa thể kịp thời đứng lên ủng hộ Ủy ban tình trạng khẩn cấp chứng tỏ họ "nhát gan".


Thứ tư, người tổ chức biến cố không hoàn toàn kiểm soát giới báo chí truyền thông. Mặc dù Ủy ban tình trạng khẩn cấp ra lệnh hạn chế hoạt động truyền thông, chỉ cho phép số ít báo chí trung ương xuất bản, nhưng công tác kiểm soát dư luận không làm triệt để. Trên thực tế trong thời gian biến cố, các tổ chức truyền thông như hãng Thông tấn Nga TASS, Điện tín quốc tế v.v... vẫn không ngừng hoạt động. Yeltsin vẫn đặt điện đài trong tòa nhà chính phủ Nga. Họ ra sức phát tán tin tức và dư luận có lợi cho "phái dân chủ", gây ảnh hưởng rất lớn đối với quần chúng.


Thứ năm, hoàn toàn ngược với tâm trạng của người tổ chức biến cố, phần tử chống Đảng, chống chủ nghĩa xã hội do Yeltsin đúng đầu lại kiên định quyết đoán, đoàn kết nhất trí tiến hành đánh trả. Khi phân tích nguyên nhân của Đảng Cộng sản Liên Xô sụp đổ, vạch trần và phê phán hành vi phản bội của Gorbachev tất nhiên là chủ yếu hàng đầu, nhưng cũng không thể không chú ý vai trò phá hoại của Yeltsin. Là một người biến chất và phần tử không ăn cánh giai cấp trong tầng lớp lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô, Yeltsin đã đóng vai trò mà người khác khó làm nổi trong toàn bộ quá trình Đảng Cộng sản Liên Xô sụp đổ.


Thứ sáu, khi xảy ra sự kiện "19 tháng 8", ảnh hưởng và uy tín của Đảng Cộng sản Liên Xô trong ngoài Đảng đã xuống thấp chưa từng có. Mặc dù nó vẫn giữ được sức mạnh cứng nhất định, nếu muốn nói, còn có thể đọ sức một phen với phái dân chủ nhưng sức mạnh mềm của nó đã giảm sút đáng kể. Theo các cuộc điều tra dân ý, trước năm 1988, tỷ lệ tín nhiệm của quần chúng đối với Đảng Cộng sản Liên Xô khoảng 70%, đến năm 1990 giảm xuống còn khoảng 20%, đến đầu năm 1991 tiếp tục giảm xuống còn mười mấy phần trăm"1 (Tân Hoa Xã: Đại sự thế kỷ: Liên Xô giải thể, tr.62). Tất nhiên, nguyên nhân sự kiện "19 tháng 8" thất bại còn có một số mặt khác, ở đây không trình bày thêm chi tiết.


Sau sự kiện "19 tháng 8" thất bại, phần tử chống cộng, chống chủ nghĩa xã hội do Yeltsin đứng đầu dấy lên làn sóng chống cộng quy mô lớn. Ngày 23 tháng 8, khi Gorbachev gặp gỡ các nghị sĩ Liên bang Nga, Yeltsin công kích và chỉ trích kịch liệt đối với Gorbachev và Đảng Cộng sản Liên Xô, và tuyên bố trước mặt mọi người, nói: "Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản Nga đã tham gia "đảo chính", cho nên bây giờ tôi ký sắc lệnh của Tổng thống Liên bang Nga tạm ngừng hoạt động của Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản Nga trên lãnh thổ Liên bang Nga". Gorbachev đứng bên cạnh định ngăn cản, ấp a ấp úng nói với Yeltsin: "Chờ một chút, chờ một chút Boris Nikolayevich Yeltsin! Ông nên làm phái dân chủ triệt để, như thế tất cả phái dân chủ và những người có tư tưởng lành mạnh mới đi theo ông". Nhưng Yeltsin hùng hổ ký mệnh lệnh này tại chỗ1 (Đường Tu Triết, Tôn Nhuận Ngọc: Ghi chép điện Kremlin đổi chủ, Sđd, tr.337-338). A. Chemyaev, trợ lý thân tín của Gorbachev viết rất đồng tình trong hồi ký của ông: "Dưới sự xúi giục của con người Yeltsin, Gorbachev bị lăng nhục rất thậm tệ ở Nghị viện Nga, điều đó trở thành một trang sỉ nhục trong lịch sử Nghị viện Nga"2 (Chernyaev: Sáu năm bên cạnh Gorbachev, Nxb. Tri thức thế giới, 2001, tr.584). Thực ra, điều đó sao lại không phải là một trang sỉ nhục trong cuộc đời của Gorbachev được? Chiều hôm đó, theo mệnh lệnh của Gorbachev, Yeltsin và Popov Thị trưởng thành phố Mátxcơva ký, tòa nhà văn phòng của Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô bị niêm phong. Lá cờ trên đỉnh tòa nhà rơi xuống trong tiếng hô vang cuống nhiệt của đám phần tử chống cộng, mặt trước tòa nhà treo lên lá cờ ba màu đỏ trắng xanh của thời Sa hoàng3 (Vĩ Chính Cương (chủ biên): Phóng sự Liên Xô giải thể, Ban Biên tập thời sự tham khảo Tân Hoa Xã, 1992, tr.326). Ngày 24 tháng 8, để vạch rõ ranh giới với Đảng Cộng sản Liên Xô, Gorbachev công khai ra tuyên bố chủ động từ chức Tổng Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, đồng thời tuyên bố, do Bộ Chính trị và Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô không kiên quyết phản đối đảo chính, yêu cầu Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô tự giải tán, Đảng Cộng sản của các nước cộng hòa và tổ chức đảng địa phương tự quyết định tiền đồ của mình. Ngày hôm sau, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô ra tuyên bố tiếp nhận quỵết định tự giải tán Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Đồng thời, tất cả cơ quan của Đảng Cộng sản Liên Xô bị giải tán, toàn bộ tài sản, hồ sơ, v.v... của Đảng được chuyển cho các ban, ngành hữu quan Liên bang Nga quản lý, các vật kỷ niệm lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô bị hủy hoại và gỡ bỏ. Trước lễ kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga, tức ngày 5 tháng 11, Yeltsin một lần nữa ra lệnh, hoàn toàn đình chỉ hoạt động của Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản Nga trong lãnh thổ Liên bang Nga. Đến đây, Đảng Cộng sản Liên Xô trải qua chặng đường 93 năm khúc khuỷu, từng có 20 triệu đảng viên, cuối cùng sụp đổ.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM