Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:15:20 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tính trước nguy cơ - Suy ngẫm sau 20 năm Đảng Cộng sản Liên Xô mất Đảng  (Đọc 42114 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #50 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2022, 07:29:58 am »

Chương II
LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ PHƯƠNG CHÂM CHỈ ĐẠO
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN LIÊN XÔ


Lý luận vô cùng quan trọng đối với một chính đảng. Lênin đã từng nói, không có lý luận, Đảng sẽ mất đi quyền sinh tồn, hơn nữa sớm muộn sẽ không thể tránh khỏi sự phá sản về chính trị. Người còn nói: "Không có lý luận cách mạng thì sẽ không có phong trào cách mạng". "Không có lý luận cách mạng, sẽ không có chính đảng xã hội chủ nghĩa vững mạnh". "Đảng chỉ có lấy lý luận tiên tiến làm kim chỉ nam thì mới có thể thực hiện được vai trò chiến sĩ tiên tiến"1 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.6, tr.23-24). Chúng ta đã biết, Mác - Ăngghen sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử, lần đầu tiên làm rõ được bản chất của đời sống xã hội, quá trình khách quan và quy luật thông thường của phát triển xã hội, làm cho nghiên cứu về lịch sử xã hội của loài người được xây dựng trên một nền tảng khoa học chân chính, cung cấp quan điểm lịch sử khoa học cho giai cấp vô sản, trở thành nền tảng lý luận cho giai cấp vô sản cũng như toàn bộ hoạt động của chính đảng. Đảng Cộng sản Liên Xô khi mới thành lập đã lấy chủ nghĩa duy vật lịch sử làm kim chỉ nam đế xây dựng đường lối, phương châm và chính sách của Đảng. Lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô khi quán triệt thực hiện các nguyên lý chủ nghĩa duy vật lịch sử để xây dựng các lý luận cơ bản đã đem thành công gắn với vấn đề, kinh nghiệm gắn với bài học, vừa có những mặt đúng đắn, lại vừa có những sai lầm nghiêm trọng, đã trải qua một quá trình diễn biến.


Những sai lầm trong lý luận cơ bản của Đảng Cộng sản Liên Xô giai đoạn trước khi mất Đảng chủ yếu là: không kiên trì thế giới quan và phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử, không vận dụng các quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, cơ sở kinh tế và kiến trúc thượng tầng, đời sống vật chất và đời sống tinh thần, tồn tại xã hội và ý thức xã hội của chủ nghĩa duy vật lịch sử cũng như nguyên lý quần chúng nhân dân là động lực thúc đẩy lịch sử để nhận thức, làm rõ và nắm bắt các quy luật phát triển của xã hội, dựa vào các quy luật này để thúc đẩy xã hội phát triển và biến đổi. Chẳng hạn như, về tư tưởng chỉ đạo của Đảng Cộng sản, địa vị và tính chất của Đảng Cộng sản, giai đoạn phát triển của xã hội xã hội chủ nghĩa, đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản, về xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa cũng như lý luận về thời đại, đặc trưng thời đại và quan hệ đối ngoại, Đảng Cộng sản Liên Xô đã mắc phải sai lầm "tả" khuynh và "hữu" khuynh của chủ nghĩa duy tâm lịch sử xa rời thực tế. Sai lầm "tả" khuynh chủ yếu biểu hiện ở chủ nghĩa giáo điều, bảo thủ cứng nhắc, dẫm chân tại chỗ, không thể tiến cùng thời đại; sai lầm "hữu" khuynh chủ yếu biểu hiện ở chỗ chiều theo đòi hỏi của giai cấp tư sản, khuất phục trước áp lực của chủ nghĩa đế quốc, xa rời chủ nghĩa Mác - Lênin. Phải chỉ ra rằng, những sai lầm "tả" khuynh và "hữu" khuynh mà Đảng Cộng sản Liên Xô mắc phải có tính chất căn bản khác nhau, mức độ cũng khác nhau, do đó hậu quả và ảnh hưởng của nó cũng khác nhau. Sai lầm "hữu" khuynh của Đảng Cộng sản Liên Xô chủ yếu bắt đầu từ khi Khrushchev lên cầm quyền, đến thời Gorbachev thì lên tới đỉnh điểm, dẫn tới vứt bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và phương hướng xã hội chủ nghĩa, dẫn đến Đảng Cộng sản Liên Xô bị mất Đảng và Liên Xô tan rã, bài học vô cùng sâu sắc.


I. VẤN ĐỀ TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN

Bất kỳ một chính đảng nào cũng đều hoạt động dưới sự chỉ đạo và chi phối của lý luận tư tưởng nhất định. Nội dung của tư tưởng chỉ đạo quyết định tính chất và tôn chỉ của chính đảng đó. Tư tưởng chỉ đạo của Đảng Cộng sản là chủ nghĩa Mác. Chủ nghĩa Mác làm sáng tỏ quy luật thông thường nhất của phát triển tự nhiên, xã hội và tư duy, phản ánh tính phổ biến và tính chung nhất của cách mạng và xây dựng của các nước, nguyên lý cơ bản của nó là chân lý được đúc kết từ thực tế khách quan và được kiểm nghiệm nhiều lần, là lý luận khoa học để những người cộng sản nhận thức thế giới và cải tạo thế giới. Đồng thời, chủ nghĩa Mác là khoa học phát triển, nó không khép lại chân lý, cũng không cố định bất biến. Chủ nghĩa Mác phải tiến cùng thời đại. Bởi vì xã hội loài người không ngừng thay đổi, phát triển, cách mạng và công cuộc xây dựng của các nước do có tính đặc thù và tính cá biệt nên không giống nhau, phải căn cứ vào những kinh nghiệm thực tiễn và những thay đổi, phát triển của đặc trưng thời đại mà làm cho nguyên lý của chủ nghĩa Mác phong phú và phát triển hơn nữa, không ngừng sáng tạo lý luận mới có thể giữ vững được sức sống dồi dào và trở thành vũ khí tư tưởng mạnh mẽ thực sự. Ăngghen nhấn mạnh rằng: "Lý luận của chúng ta là lý luận đang phát triển, chứ không phải là những giáo điều học thuộc lòng và lặp đi lặp lại một cách máy móc"1 (Mác - Ăngghen: Tuyển tập, Sđd, q.4, tr.681). Do đó, Đảng Cộng sản phải kiên trì và phát triển chủ nghĩa Mác, phải phát triển trong sự kiên trì và kiên trì trong sự phát triển, như vậy mới có thể luôn đại diện được cho lợi ích căn bản của đông đảo nhân dân, mới có thể bảo đảm được tính tiên tiến của Đảng Cộng sản, mãi mãi đứng trên thế chiến thắng, vấn đề tư tưởng chỉ đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô trải qua quá trình từ vận dụng và phát triển một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác, sản sinh ra chủ nghĩa Lênin, cho đến cơ bản kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin, rồi đến xa rời và vứt bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #51 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2022, 07:31:27 am »

1. Từ vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác cho đến sai lầm giáo điều chủ nghĩa nghiêm trọng

Lênin luôn kiên trì lấy chủ nghĩa Mác làm tư tưởng chỉ đạo. Lênin chỉ ra rằng: "Chỉ có lý luận mácxít cách mạng mới có thể trở thành ngọn cờ của phong trào giai cấp công nhân''1 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.4, tr.155). "Chỉ có những Đảng lấy lý luận tiên tiến làm kim chỉ nam thì mới có thể thực hiện được vai trò người chiến sĩ tiên tiến"2 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.6, tr.24). "Thế giới quan giai cấp vô sản nghiêm túc chỉ có một, đó chính là chủ nghĩa Mác"3 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.10, tr.271). Đồng thời, Lênin cũng rất chú trọng kết hợp nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác với đặc trưng thời đại và tình hình nước mình, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác trong thực tiễn. Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười Nga là thành quả vĩ đại của sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác mà Lênin đã xuất phát từ thực tế của nước Nga trong thời đại đế quốc chủ nghĩa.


Từ sau khi Lênin mất đến năm 1927, Trung ương Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang đã tiến hành ba lần đấu tranh quyết liệt với phái đối lập Trotsky, phái đối lập "mới" và phái đối lập "liên hợp". Trong những cuộc đấu tranh trên, Xtalin giương cao ngọn cờ chủ nghĩa Lênin, đăng tác phẩm Bàn về nền tảng của chủ nghĩa Lênin, trình bày hệ thống nguyên lý cơ bản lêninnít. Từ đó Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang tự xưng là Đảng lêninnít và tư tưởng chỉ đạo của Đảng là chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa Lênin, gọi tắt là chủ nghĩa Mác - Lênin. Năm 1934, trong báo cáo tại Đại hội lần thứ XVII Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang, Xtalin nhấn mạnh: Đảng của chúng ta "là Đảng mácxít, là Đảng lêninnít. Bởi vì trong công việc của mình, Đảng tuân theo học thuyết của Mác, Ăngghen, Lênin"1 (Xtalin: Toàn tập, Sđd, q.13, tr.332). Năm 1939, trong báo cáo sửa đổi Điều lệ Đảng tại Đại hội XVIII Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang, Zhdanov nói: "Cương lĩnh, sách lược, nguyên tắc tổ chức của Đảng chúng ta được xây dựng trên nền tảng vững chắc như đá hoa cương của chủ nghĩa Mác - Lênin". Trong thời gian gần 30 năm lãnh đạo Đảng và nhà nước, Xtalin cơ bản kiên trì và bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt là đã làm phong phú và phát triển lý luận: chủ nghĩa xã hội có thể giành được thắng lợi trước ở một nước và một số nguyên lý cơ bản về chủ nghĩa xã hội của Lênin, bảo đảm chắc chắn Liên Xô dưới sự bao vây của chủ nghĩa tư bản đã xây dựng lên chế độ cơ bản xã hội chủ nghĩa, và trong cuộc chiến tranh vệ quốc đã giành được thắng lợi trước phátxít Đức, thúc đẩy sự nghiệp tiến bộ của thế giới phát triển. Trong phần kết luận cuốn Giáo trình sơ lược lịch sử Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang, Xtalin đã từng viết: "Lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là giáo điều, mà là kim chỉ nam hành động", chủ nghĩa Mác "đã là một môn khoa học thì sẽ không và không thể dẫm chân tại chỗ, mà sẽ không ngừng phát triển và không ngừng hoàn thiện". Ông còn nói: "Nhất định không thể xem lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin như là một tổng tập giáo điều, một cẩm nang giáo lý, tôn giáo"2 (Xtalin: Tuyển tập, Sđd, quyển hạ, tr.615-616). Nhưng trên thực tế Xtalin và Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang không hoàn toàn làm được như vậy. Tình hình này bắt đầu xuất hiện từ những năm 30 của thế kỷ XX, đến thời kỳ cuối của Xtalin thì dần trở nên nghiêm trọng.


Tất cả mọi người đều biết, sùng bái cá nhân đối với Xtalin đạt đến đỉnh điểm từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Lúc đó, Xtalin không những một mình nắm giữ quyền hành trong Đảng, mà còn nắm độc quyền giải thích đối với chủ nghĩa Mác - Lênin. Những lời nói của Xtalin trở thành một tiêu chuẩn duy nhất để phân biệt chân lý và sai lầm, tất cả các kết luận của Xtalin đều được coi là giáo điều thiêng liêng không thể xâm phạm, người khác chỉ có thể học tập và lĩnh hội hoặc luận chứng các kết luận của Xtalin. Một số luận điểm không khoa học của Xtalin như lý luận chủ nghĩa xã hội đã "xây dựng thành công" và quá độ sang chủ nghĩa cộng sản, lý luận cùng với thắng lợi của xây dựng chủ nghĩa xã hội, "đấu tranh giai cấp ngày càng gay gắt", lý luận quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất "hoàn toàn phù hợp" và lý luận "tổng khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản" không ngừng sâu sắc, đã trói buộc giới lý luận. Trong thời gian đó có một số quan điểm lý luận có ý nghĩa sáng tạo lại gặp phải sự phê phán không đáng có. Ví dụ vào giữa những năm 1940, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban kế hoạch Nhà nước Liên Xô Andreyevich đề ra quan điểm: sự lãnh đạo quá tập trung đối với kinh tế quốc dân tất yếu nảy sinh chủ nghĩa quan liêu và lãng phí về kinh tế xã hội xã hội chủ nghĩa nên coi trọng vai trò điều tiết của quy luật giá trị. Nhưng quan điểm của ông gặp phải sự phê phán nghiêm khắc, sau này ông cũng bị hành hình trong "Vụ án Lêningrát". Năm 1948, Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế và chính trị thế giới, Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, nhà kinh tế học Varga đưa ra quan điểm chủ nghĩa tư bản sau chiến tranh có sự phát triển nhất định, cũng bị phê phán nghiêm khắc, nói ông đã né tránh vấn đề căn bản là tổng khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản sâu sắc thêm một bước. Kết quả là tạp chí do Varga chủ biên đã bị đình bản, viện nghiên cứu của ông cũng bị giải tán. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Trung ương Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang đề xướng tổ chức buổi thảo luận và phê phán các vấn đề về triết học, sinh vật học, sinh lý học, ngôn ngữ học, chính trị kinh tế học. Trong các lĩnh vực đã xuất hiện hiện tượng dùng mệnh lệnh hành chính thay thế thảo luận chuyên môn, áp đặt các ý kiến khác nhau. Lúc đỏ, một quyển sách giáo khoa, một bộ phim, một vở kịch, một bộ tiểu thuyết, cũng đều do Trung ương Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang trực tiếp nhúng tay, can dự vào hoặc thẩm định, thậm chí đưa ra nghị quyết riêng. Kết quả là cả giới lý luận đều bị bao phủ bởi chủ nghĩa giáo điều nghiêm trọng, mất đi ý thức và tinh thần sáng tạo.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #52 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2022, 07:32:14 am »

2. Từ xa rời chủ nghĩa Mác cho đến vứt bỏ hoàn toàn chủ nghĩa Mác

Năm 1953 sau khi Xtalin qua đời, Khrushchev nhậm chức Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng Cộng sản Xô viết vào tháng 9 năm đó. Mặc dù ông ta luôn miệng tuyên bố lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm tư tưởng chỉ đạo, ví dụ như trong Báo cáo sửa đổi Điều lệ Đảng năm 1952, ông nói: "Các hoạt động của Đảng chúng ta lấy lý luận cách mạng mácxít, lêninnít làm kim chỉ nam". Trong "Điều lệ Đảng Cộng sản Liên Xô" năm 1961 nhấn mạnh: "Tất cả hoạt động của Đảng Cộng sản Liên Xô đều tuân theo học thuyết chủ nghĩa Mác - Lênin". Nhưng trên thực tế không hề như vậy. Tư tưởng chỉ đạo của Khrushchev đã bắt đầu xa rời nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Một mặt, ông kéo dài sai lầm chủ nghĩa giáo điều thời kỳ Xtalin, cố giữ những giáo điều theo mô hình của chủ nghĩa xã hội trước đây. Ví dụ, tháng 8 năm 1953, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Malenkov căn cứ theo tình hình thực tế Liên Xô, đề ra chủ trương "tăng tốc phát triển công nghiệp nhẹ", trong khi đó, Khrushchev lại khư khư giáo điều ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, không những phủ định mà còn tăng cường phê phán, khiển trách rằng đây là một "kiên giải sai lầm cực đoan, phản lại chủ nghĩa Mác - Lênin", là "sự sống lại của hữu khuynh". Tháng 2 năm 1955, thành viên Đoàn chủ tịch Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô Molotov đã đưa ra ý kiến tương đối thực tế về các giai đoạn phát triển xã hội của Liên Xô, cho rằng Liên Xô sau chiến tranh chỉ là "đã xây dựng được nền tảng của xã hội xã hội chủ nghĩa", nhưng Khrushchev và những người khác vẫn kiên trì thuyết chủ nghĩa xã hội "đã xầy dựng thành công", phê phán nghiêm khắc Molotov, nhấn mạnh "Liên Xô đã xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và đang dần dần quá độ lên chủ nghĩa cộng sản", đây là "vấn đề Đảng đã giải quyết xong từ lâu", ý kiến của Molotov "có thể làm cho đảng viên và toàn thể nhân dân Liên Xô lạc mất phương hướng", buộc Molotov phải công khai nhận lỗi. Mặt khác, dưới ngọn cờ phản đối sùng bái cá nhân, ông làm rầm rộ việc "phi Xtalin hóa". Ông không dùng quan điểm chủ nghĩa duy vật lịch sử, khách quan, công bằng, toàn diện để đánh giá Xtalin, không khẳng định vị trí lịch sử xứng đáng của Xtalin, mà dùng chủ nghĩa duy tâm lịch sử nói Xtalin chẳng chỗ nào đúng cả, thậm chí nguyền rủa, bôi nhọ một cách cay độc, trên thực tế phủ định hoàn toàn Xtalin. Đồng thời lấy quan điểm duy tâm của chủ nghĩa nhân đạo siêu giai cấp thay thế chủ nghĩa Mác - Lênin làm tư tưởng chỉ đạo trong Đảng, lấy "tất cả vì con người, tất cả vì hạnh phúc của con người" làm mục tiêu mang tính cương lĩnh trong Đảng, đề ra quan điểm lý luận sai lầm, nào là "thế giới ba không" (không có vũ khí, không có quân đội, không có chiến tranh), "Đảng toàn dân", "Nhà nước toàn dân", từ đó dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng về đường lối, phương châm, chính sách của Đảng.


Sau khi Brezhnev lên làm Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, tuy ông liên tục tuyên bố "Đảng chúng ta mãi mãi giương cao ngọn cờ bách chiến bách thắng của lý luận cách mạng mácxít, lêninnít"1 (Tổng tập văn kiện chủ yếu Đại hội đại biểu lần thứ XXIII Đảng Cộng sản Liên Xô, Hiệu sách tam liên Đời sống - Đọc sách - Tri thức mới, 1978, tr.109-110), "Đảng chúng ta là Đảng của chủ nghĩa cộng sản khoa học, trước sau như một tuân theo khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin - là khoa học tiên tiến nhất, cách mạng nhất thời nay, và phải dốc hết sức để làm cho Đảng phát triển hơn nữa"2 (Tổng tập văn kiện chủ yếu Đại hội Đại biểu lần thứ XXIV Đảng Cộng sản Liên Xô, Hiệu sách tam liên Đời sống - Đọc sách - Tri thức mới, 1976, tr. 135-136), nhưng trên thực tế vẫn tiếp tục vấp phải sai lầm giáo điều chủ nghĩa. Ví dụ tương đối điển hình là việc phê phán cái gọi là "lý luận chủ nghĩa xã hội thị trường", cho rằng "chủ nghĩa xã hội thị trường" là đi ngược lại lý luận của chủ nghĩa xã hội, là "thủ đoạn mà tư bản độc quyền và chủ nghĩa xét lại của nó toan tính cản trở sự phát triển và củng cố hơn nữa chủ nghĩa xã hội", mục đích của nó là "xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, xóa bỏ đặc trưng cơ bản và tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội", đồng thời nhấn mạnh, "quy hoạch mang tính mệnh lệnh đóng vai trò chủ đạo trong công tác lãnh đạo kinh tế nhà nước", "cạnh tranh là hình thức phát triển kinh tế không dung hòa với chủ nghĩa xã hội". Những phê phán như vậy trên thực tế là bảo vệ thể chế kinh tế kế hoạch tập trung cao độ, bài trừ mọi khả năng lợi dụng quan hệ tiền - hàng và điều tiết thị trường. Chủ nghĩa giáo điều trong tư tưởng chỉ đạo làm cho Liên Xô rơi vào tình trạng trì trệ, không phát triển trong giai đoạn cuối thời kỳ Brezhnev cầm quyền.


Tháng 3 năm 1985, không lâu sau khi Gorbachev lên làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô, tư tưởng chỉ đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô có sự biến đổi về chất. Gorbachev đề ra "tư duy mới về cải tổ" trên lĩnh vực chính trị, thể hiện rõ rệt thành hai phương diện có liên hệ với nhau.


Một là, cổ xúỵ "đa nguyên luận", phủ định vai trò chỉ đạo của chủ nghĩa Mác - Lênin. Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc lần thứ 19 của Đảng Cộng sản Liên Xô, Gorbachev đưa "dân chủ hóa", "công khai" và "đa nguyên luận" vào "ba đề xướng mang tính cách mạng", gọi "đa nguyên luận" là nơi quy tụ cuối cùng của lôgích phát triển "dân chủ hóa" và "công khai". Cũng chính vì cổ xúy "đa nguyên luận" nên không thể tránh khỏi dẫn đến phủ định vai trò chỉ đạo của chủ nghĩa Mác - Lênin trong lĩnh vực ý thức hệ thực hiện tự do hóa tư sản. Hàng loạt lời nói và hành động dưới đây của Gorbachev có thể chứng minh điều đó.


Thuyết "đa nguyên luận" này thể hiện đầu tiên ở chỗ cổ xúy gạt bỏ "hạn chế ý thức hệ", phản đối "độc quyền tinh thần". Tháng 2 năm 1990, trong "Dự thảo Cương lĩnh hành động" do toàn thể Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đưa ra trước Đại hội lần thứ XXVIII của Đảng, nhấn mạnh: "Kiên quyết gạt bỏ những hạn chế ý thức hệ đối với các quan điểm và tư tưởng khác". Cũng có nghĩa là, Đảng Cộng sản Liên Xô chủ trương vứt bỏ vai trò chỉ đạo của chủ nghĩa Mác - Lênin, gạt bỏ những hạn chế và đấu tranh đối với các trào lưu phi chủ nghĩa mácxít và phản lại chủ nghĩa xã hội. Tiếp đó, "đa nguyên luận" thể hiện ở chỗ để các công cụ dư luận hoàn toàn độc lập, gạt bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong lĩnh vực ý thức hệ. Ngày 11 tháng 1 năm 1990, phát biểu tại Cộng hòa Lítva, Gorbachev nói: "Tôi kiên quyết phản đối sự chiếm đoạt dưới bất cứ hình thức nào đối với công cụ dư luận, kiên quyết phản đối sự độc quyền dưới bất kỳ hình thức nào đối với công cụ dư luận". Cuối cùng, "đa nguyên luận" còn biểu hiện ở chỗ trực tiếp đả kích và phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin. Ngày 2 tháng 7 năm 1990, trong Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô, Gorbachev khi nói đến chủ nghĩa Mác - Lênin đã nhấn mạnh, phải cân nhắc tới "tính hạn chế của tất cả các lý luận", có nghĩa là chủ nghĩa Mác - Lênin cũng có "tính hạn chế". Nói toạc ra, ông ta không chỉ phủ định vai trò chỉ đạo của chủ nghĩa Mác - Lênin mà còn phủ định cả bản thân chủ nghĩa Mác - Lênin.


Hai là, cùng với việc phủ định vai trò chỉ đạo của chủ nghĩa Mác - Lênin, đề ra cái gọi là "chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo" dựa trên hạt nhân là tư tưởng chủ nghĩa nhân đạo và chủ nghĩa dân chủ xã hội trừu tượng, lấy đó làm tư tưởng chỉ đạo trong Đảng. Cái gọi là "chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo" là lý luận sai lầm, đối lập với chủ nghĩa xã hội khoa học. Nó kế thừa lý luận của chủ nghĩa cơ hội của Quốc tếu, trên thực tế là phiên bản hiện đại của chủ nghĩa xã hội dân chủ của Quốc tế II, cũng là một biến tướng của chủ nghĩa xã hội dân chủ đương đại ở Liên Xô. Nó không những có hệ thống lý luận thống nhất, mà còn có cương lĩnh hành động toàn diện. Điều này hoàn toàn không ăn khớp với chủ nghĩa Mác - Lênin. Gorbachev dùng cái trước thay thế cái sau để làm tư tưởng chỉ đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô. Kết quả, một là, phá vỡ nền tảng lý luận của Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa, làm cho Đảng Cộng sản Liên Xô giải trừ vũ trang, mất đi tính tiên tiến nên có; hai là, phá vỡ sự bảo đảm ý thức hệ của quốc gia liên minh đa dân tộc, dẫn đến chủ nghĩa chia rẽ dân tộc ngày càng phình to. Đây chính là nguyên nhân căn bản dẫn đến Đảng Cộng sản Liên Xô bại vong và Liên Xô tan rã.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #53 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2022, 07:33:46 am »

II. VỀ VẤN ĐỀ VAI TRÒ VÀ TÍNH CHẤT CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN

Đảng Cộng sản là hạt nhân lãnh đạo vững chắc của sự nghiệp xã hội chủ nghĩa, không có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, sự nghiệp xã hội chủ nghĩa chỉ là nói suông. Cùng với việc kiên trì vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, cũng cần phải không ngừng hoàn thiện và cải tiến sự lãnh đạo của Đảng.


Sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi, Lênin nhiều lần nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với chính quyền nhà nước, cho rằng Đảng là lực lượng lãnh đạo trong "thể chế chuyên chính vô sản". Lênin nói: "Tất cả mọi công tác kinh tế, chính trị của chính quyền nhà nước đều do Đảng Cộng sản, đội tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo"1 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.42, tr.370), "Đảng quản lý và lãnh đạo cả đất nước", Đảng "phải lãnh đạo bộ máy chính quyền to lớn"2 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.4, tr.306). Những tư tưởng trên của Lênin sau này luôn được Đảng Cộng sản Liên Xô kế thừa và kiên trì. Tháng 1 năm 1926, trong cuôn Bàn luận một vài vấn đề về chủ nghĩa Lênin, Xtalin nhấn mạnh "Đảng là lực lượng lãnh đạo chủ yếu của thể chế chuyên chính vô sản", "Sự lãnh đạo của Đảng là điều chủ yếu trong chuyên chính vô sản"3 (Xtalin: Toàn tập, Sđd, q.8, tr.35, 46). Hiến pháp Liên Xô năm 1936 càng khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong lập pháp, quy định rõ ràng Đảng Cộng sản Liên Xô là "hạt nhân lãnh đạo của tất cả các đoàn thể xã hội quần chúng lao động và cơ quan nhà nước". Sau khi Khrushchev lên cầm quyền, Đảng Cộng sản Liên Xô vẫn nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của Đảng. Trong phần "Lời tựa" của Điều lệ Đảng đã được Đại hội XXII Đảng Cộng sản Liên Xô thông qua năm 1961 chỉ ra, "Đảng Cộng sản Liên Xô là lực lượng lãnh đạo và lực lượng chỉ đạo của xã hội Xôviết"4 (Tổng tập Điều lệ Đảng Cộng sản Liên Xô, Nxb, Cầu thực, 1982, tr.201). Hiên pháp Liên Xô năm 1977 chỉ ra: "Đảng Cộng sản Liên Xô là lực lượng lãnh đạo và lực lượng chỉ đạo của xã hội Liên Xô, là hạt nhân của thể chế chính trị xã hội cũng như tất cả cơ quan nhà nước và đoàn thể xã hội Liên Xô". Vài chục năm nay, Đảng Cộng sản Liên Xô tuy kiên trì và nhấn mạnh vị trí lãnh đạo và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nhưng trong thực tiễn lại nhấn mạnh "một Đảng duy nhất tồn tại", xuất hiện thiên hướng "lấy Đảng thay cho chính quyền", không coi trọng hoàn thiện và cải tiến sự lãnh đạo của Đảng. Bắt đầu từ Khrushchev, Đảng Cộng sản Liên Xô lại có ý định thay đổi tính chất của Đảng Cộng sản, đề ra lý luận "Đảng toàn dân". Đến thời kỳ Gorbachev, Đảng Cộng sản Liên Xô càng đi theo con đường sai lầm, cổ xúy chế độ đa đảng, gạt bỏ vị trí lãnh đạo của Đảng, biến Đảng trở thành "Đảng nghị viện", từ đó làm cho Đảng Cộng sản Liên Xô nhanh chóng bại vong.


1. Từ chủ trương "hợp tác đa đảng" đến nhấn mạnh "Đảng Cộng sản Nga là chính đảng hợp pháp duy nhất trong nước"

Sau khi cách mạng vô sản thắng lợi, rốt cuộc nên xây dựng một chế độ chính đảng như thế nào? Theo chế độ đa đảng hay chế độ một đảng? Về vấn đề này, Mác và Ăngghen năm đó không nói cụ thể. Đối với điều này, Đảng Cộng sản Liên Xô cũng có một quá trình, tìm tòi cả trong nhận thức và thực tiễn. Trong quá trình này xuất hiện trắc trở và thất bại là điều không hề lạ lẫm. Chỉ cần không xa rời tôn chỉ của Đảng, nhất định sẽ đi từ không hoàn thiện đến hoàn thiện, từ không thành thục đến thành thục. Lúc đầu, Lênin có tư tưởng hợp tác đa đảng. Tháng 4 năm 1917, Lênin đề ra: "Tiếp cận và liên kết với tập đoàn và phe phái thực sự đứng trên lập trường của chủ nghĩa quốc tế là điều cần thiết"1 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.29, tr.421). Tháng 9 năm đó, Lênin lại nói: phải "thực hiện liên minh với những đảng viên cách mạng xã hội cánh tả, chỉ có liên minh này mới có thể làm cho chúng ta xây dựng và củng cố chính quyền nước Nga"2 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.32, tr.260). Sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi, Lênin nói trong một hội nghị: "Chúng ta đã từng mời mọi người đều tham gia chính quyền", "chúng ta sẵn sàng xây dựng chính quyền liên hợp Xôviết"3 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.33, tr.31). Dĩ nhiên, điều kiện để làm việc này là các chính đảng khác phải phục tùng sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích, bảo vệ chủ nghĩa xã hội. Lênin nói, chúng ta "đồng ý cùng với phái thiểu số của Xôviết cùng nắm chính quyền, nhưng phái thiểu số này phải thành tâm thành ý phục tùng đa số, đồng thời thực thi cương lĩnh đi lên chủ nghĩa xã hội"1 (Lênin: Toàn tập, Sđdr q.33, tr.71).


Dựa vào chủ trương của Lênin, Đảng Bônsêvích lúc đầu đã từng thực hiện cùng nắm chính quyền với Đảng Cách mạng xã hội cánh tả. Nhưng thời gian này không lâu, chỉ duy trì được hơnm nửa năm một chút. Sở dĩ như vậy, chủ yếu có hai nguyên nhân. Một là, đấu tranh giai cấp gay gắt và phức tạp, dẫn đến sự rạn nứt trong hợp tác hai đảng. Hai là, nhận thức chủ quan có thay đổi. Cùng với sự phát triển của tình hình, chủ trương của Lênin lúc đầu là "cùng nhau nắm chính quyền" chuyển sang "một đảng nắm chính quyền". Tháng 7 năm 1919, khi có người trách Đảng Bônsêvích là "một đảng chuyên chính", Lênin nói: "Đúng vậy, là một đảng chuyên chính! Chúng ta kiên trì một đảng chuyên chính, hơn nữa chúng ta quyết không rời xa cơ sở này"2 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.37, tr. 125-126). Tháng 3 năm 1922, Nghị quyết Đại hội lần thứ XI Đảng Cộng sản (Bônsêvích) Nga nhấn mạnh: "Đảng Cộng sản (Bônsêvích) Nga là chính đảng hợp pháp duy nhất trong nước"3 (Tổng tập Nghị quyết Đại hội đại biểu, Hội nghị đại biểu và Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđd, t.2, tr.173).


Thực ra, Đảng Cách mạng xã hội cánh tả lúc đó đã xuất hiện chia rẽ. Tháng 9 năm 1918, ở nước Nga xuâì: hiện hai chính đảng mới: một là, "Đảng Những người cộng sản cách mạng" có 2.800 thành viên; hai là, "Đảng Những người cộng sản phái dân túy" có 3.000 thành viên. Cả hai đảng đều tuyên bố bảo vệ chính quyền Xôviết, sẵn sàng tiếp tục hợp tác với Đảng Bônsêvích lúc đó cho rằng, đã là mục tiêu giống nhau thì không cần lập đảng riêng. Tháng 7 năm 1920, Đại hội đại biểu lần thứ II Quốc tế Cộng sản đã quy định: "Mỗi một quốc gia chi cần có một Đảng Cộng sản thống nhất". Tháng 7 năm 1926, Nghị quyết Hội nghị liên tịch Ban Chấp hành Trung ương và Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang chỉ rõ rằng, trong điều kiện chuyên chính vô sản "không thể cho phép hai hoặc một vài chính đảng cùng tồn tại"1 (Tổng tập Nghị quyết Đại hội đại biểu, Hội nghị đại biểu và Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđd, t.3, tr.170). Kết quả là vài chính đảng bảo vệ chính quyền Xôviết cũng gia nhập vào Đảng Bônsêvích. Thế là cuối cùng hình thành nên cục diện chính trị Đảng Cộng sản là chính đảng hợp pháp duy nhất ở trong nước.


Mặc dù vậy, Lênin chưa bao giờ nói chế độ một đảng là quy luật phổ biến của chủ nghĩa xã hội, chưa bao giờ nói xã hội xã hội chủ nghĩa chỉ có thể có "một đảng duy nhất tồn tại". Sau đó, người đưa ra luận chứng lý luận là Xtalin. Trong báo cáo về bản dự thảo Hiến pháp năm 1936, Xtalin nói: "Mấy đảng, cũng có thể nói là tự do chính đảng, trong xã hội đối kháng giai cấp mà lợi ích không thể điều hòa được mới có thể tồn tại"; "ở Liên Xô đã không còn các nhà tư bản, địa chủ, phú nông nữa rồi", do đó, "ở Liên Xô chỉ có một đảng có thể tồn tại, đây chính là Đảng Cộng sản dũng cảm và triệt để bảo vệ lợi ích của công nông"2 (Xtalin tuyển tập (1934-1952), Sđđ, tr.100). Như vậy nghĩa là, Xtalin cho rằng, trong điều kiện xã hội chủ nghĩa chỉ có thể có "một đảng duy nhất tồn tại". Thế nhưng, Liên Xô làm như vậy là có vấn đề. Một đảng cầm quyền hoặc "một đảng duy nhất tồn tại" trong thời gian dài, không có bất cứ một chính đảng nào khác (đại diện cho lợi ích và ý kiến của các tầng lớp lao động khác nhau) tham chính và giám sát, trên thực tế là nguyên nhân quan trọng dẫn đến tập trung quyền lực cao độ và thiếu dân chủ trong chính trị ở Liên Xô. Andropov trong một báo cáo năm 1982 nói "xã hội xã hội chủ nghĩa không có mảnh đất để hình thành nên chính đảng xã hội chủ nghĩa đối địch", nhưng có thể có vài chính đảng cùng tồn tại; "trong một nước xã hội chủ nghĩa có nhiều chính đảng cùng tồn tại, mỗi một đảng đều có nền tảng xã hội và lợi ích đặc thù của mình, nhưng một điểm vô cùng quan trọng, đó là tất cả các đảng đều phải lấy chủ nghĩa xã hội làm điểm tựa"1 (Tuyển tập các phát biểu của Andropov, Nxb. Tân Hoa, 1984, tr.367-368). Nhận thức này hiển nhiên đã có tiến bộ rất lớn so với trước kia.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #54 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2022, 07:35:04 am »

2. Từ nhấn mạnh sự lãnh đạo của Đảng cho đến chức năng của Đảng và chính quyền không tách rời

Trong tình hình "một đảng duy nhất tồn tại" - Đảng Cộng sản Liên Xô, cùng với việc nhấn mạnh và kiên trì địa vị lãnh đạo và vai trò lãnh đạo của Đảng, làm thế nào xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa Đảng với các cơ quan chính quyền là vấn đề từ trước đến nay chưa từng gặp phải. Lênin và Đảng Bônsêvích đã trình bày rất nhiều tư tưởng hay và đưa ra nghị quyết đúng đắn về việc xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa Đảng và chính quyền, cho rằng sự lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền chủ yếu là quyết định phương hướng, xây dựng phương châm, đưa ra nhiệm vụ, lựa chọn cán bộ và giám sát, kiểm tra công việc để bảo đảm thực hiện quán triệt đường lối, phương châm của Đảng. Lênin đã từng nhấn mạnh: "Cần phải vạch rất rõ ràng chức trách của Đảng (và Trung ương Đảng) với chính quyền Xôviết", nhiệm vụ của Đảng "là lãnh đạo tổng thể đối với công việc của tất cả các cơ quan nhà nước, không phải là làm quá nhiều, quá không bình thường như hiện nay, thường là can dự vụn vặt"2 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.43, tr.64). Nhưng những quy định và bài phát biểu của người lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô thường xuất hiện tình trạng tự mâu thuẫn. Ví dụ, Lênin, một mặt, đề ra phải phân biệt rạch ròi chức trách của Đảng và chính quyền nhà nước, nâng cao tinh thần trách nhiệm và tính chủ động của cơ quan Xôviết; mặt khác, lại nhấn mạnh "bất kỳ một cơ quan nhà nước nào nếu không có chỉ thị của Trung ương Đảng, đều không được quyết định bất kỳ một vấn đề chính trị hay vấn đề tổ chức quan trọng nào"1 (Lênin: Tuyển tập, Sđd, q.4, tr.157). Xtalin một mặt chủ trương thực hiện lãnh đạo chính trị tổng thể đối với cơ quan Xôviết và các tổ chức quần chúng như công đoàn, chỉ thị của Đảng nên được quán triệt thực hiện thông qua các đảng viên của cơ quan nhà nước và các tổ chức quần chúng; mặt khác, lại cho rằng cơ quan chính quyền và cơ quan quản lý "thông qua bất cứ một nghị quyết quan trọng nào đều bắt buộc phải có sự chỉ thị hữu quan của Đảng"2 (Xtalin: Toàn tập, Sđd, q.10, tr.93). Bởi vì lý luận về quan hệ giữa Đảng và chính quyền của Đảng Cộng sản Liên Xô rất không hoàn thiện, trong thực tiễn, chức năng của Đảng và cơ quan nhà nước ngày càng lẫn lộn, địa vị thực tế của cơ quan nhà nước không ngừng suy giảm, chức năng không ngừng suy yếu, các chức năng và nhiệm vụ thuộc về cơ quan nhà nước bị tập trung phần lớn vào cơ quan lãnh đạo của Đảng một cách không thỏa đáng. Cơ quan lãnh đạo của Đảng trên tất cả các cấp bậc đều là chủ thể của quyền lực, là người lãnh đạo trực tiếp của cơ quan quyền lực nhà nước, cơ quan hành chính, cơ quan tư pháp. Còn các cơ quan quyền lực nhà nước, cơ quan hành chính và cơ quan tư pháp chỉ là trên hình thức hoặc trở thành bộ máy thi hành của cơ quan lãnh đạo của Đảng. Kết quả là, vấn đề tách biệt chức năng của Đảng và chính quyền không giải quyết được trong thời gian dài. Từ đó không những ảnh hưởng đến việc Đảng phát huy vai trò lãnh đạo chính trị trên các vấn đề trọng đại của quốc gia, mà còn ảnh hưởng đến tính tích cực của các ban, ngành chính phủ.


3. Từ không tách rời chức năng của Đảng và chính quyền cho đến vứt bỏ địa vị lãnh đạo của Đảng

Năm 1985, giai đoạn đầu khi Gorbachev cầm quyền, Đảng Cộng sản Liên Xô vẫn nói rằng, kiên trì nguyền tắc lãnh đạo của Đảng. Trong "Bản sửa đổi Cương lĩnh Đảng Cộng sản Liên Xô" được Đại hội lần thứ XXVII Đảng Cộng sản Liên Xô thông qua năm 1986 chỉ rõ, Đảng Cộng sản "là lực lượng lãnh đạo và lực lượng chỉ đạo của xã hội chúng ta", "là hạt nhân của thể chế chính trị xã hội Liên Xô"1 (Tổng tập văn kiện chủ yếu Đại hội đại biêỉi lần thứ XXVII Đảng Cộng sản Liên Xô, Nxb. Nhân dân, 1987, tr.365, 396). Nhưng sau năm 1987, Gorbachev chĩa mũi nhọn cải tổ vào Đảng Cộng sản Liên Xô, từng bước phủ định vị trí lãnh đạo của Đảng cộng sản Liên Xô. Bởi thế Gorbachev lần lượt áp dụng các bước đi trên các phương diện sau.


Một là, cải tổ bộ máy lãnh đạo của Đảng, làm suy yếu Ban Bí thư và Bộ Chính trị. Tháng 9 năm 1988, Đại hội toàn thể Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đưa ra quyết định thành lập 6 ủy ban phân quản các mặt xây dựng Đảng, ý thức hệ, kinh tế, quốc tế, pháp luật, nông nghiệp để thay thế công việc của Ban Bí thư, đồng thời vô hiệu hóa Bộ Chính trị. Sáu ủy ban này trên thực tế chỉ có tác dụng là cơ quan tư vấn. Nguyên Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô Ligachev khi bình luận về điều này, nói rằng Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô "tự động chôn Ban Bí thư"; sau đó, "Hội nghị Ban Bí thư đành tự động dừng lại, Đảng đã mất đi bộ tư lệnh lãnh đạo chiến lược"2 (Ya. Ligachev: Bí mật của Gorbachev, Nxb. Nhân dân Cát Lâm, 1992, tr.117). Trợ lý của nguyên Tổng thống Gorbachev, Boldin nói: "Bắt đầu từ năm 1989, Ban Bí thư từ một bộ máy có sức ảnh hưởng đã trở thành một trụ sở diễn đàn"; "vai trò của Bộ Chính trị bắt đầu suy yếu, hội nghị ngày càng ít đi... có lúc đến vài tháng cũng không triệu tập một hội nghị nào... Điều này trên thực tế là đang chôn bộ máy cường quyền độc nhất vô nhị ở trong nước, chính quyền ngày càng tê liệt"1 ([Liên Xô] V. Boldin: Lịch sử thăng trầm của Gorbachev, Sđd, tr.198, 228). Có thể thấy, cơ quan Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô từ sau năm 1989 đã chỉ còn là trên hình thức, không những không còn là trung tâm quyết sách lớn của quốc gia, mà còn mất đi sức ảnh hưởng đối với đại sự quốc gia.


Hai là, thực hiện "cải tổ thể chế chính trị", từng bước vứt bỏ sự lãnh đạo của Đảng. Tại Hội nghị đại biểu lần thứ 19 Đảng Cộng sản Liên Xô năm 1988, Gorbachev đề ra, cần phải "cải tổ căn bản" thể chế chính trị hiện có, thực hiện "nghị viện dân chủ", làm cho "tất cả mọi quyền lực thuộc về Xôviết". Sau đó, tại Hội nghị toàn thế Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô tháng 2 năm 1990, Gorbachev đề ra phải thực hiện chế độ tổng thống, trên thực tế là muốn xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đoạt lấy quyền quyết sách đối với những việc trọng đại quốc gia của Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Trong "Bản thảo cương ỉĩnh Đảng Cộng sản Liên Xô" ngày 20 tháng 7 năm 1991 có viết, trước kia "Đảng lũng đoạn chính quyền", bây giờ "phải làm cho Đảng 'phi quốc gia hóa', làm cho Đảng trở thành một tổ chức chính trị độc lập". Thực hiện chế độ tổng thống, trên thực tế là một hành động "cướp quyền" của Gorbachev đối với Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Có tài liệu chứng minh, trước đêm diễn ra Đại hội toàn thể Đảng Cộng sản Liên Xô tháng 2 năm 1990, Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô lúc đó, Yakovlev, đã từng khẩn cấp nói với Gorbachev: "Trở ngại chủ yếu đối với cải tổ cũng như toàn bộ chính sách của chúng ta là Bộ Chính trị, tiếp đó là Hội nghị toàn thể Trung ương, nếu đồng chí vẫn tiếp tục lần lữa mãi, không đoạt quyền, vậy thì tất cả sẽ chấm dứt". Vì thế, ông ta kiến nghị cần phải lập tức xây dựng chế độ Tổng thống, "như vậy đồng chí có thể tập trung quyền lực vào trong tay mình, từ đó không những làm cho Bộ Chính trị mà còn làm cho Xôviết tối cao mất đi quyền bính thực sự"1 (Chemyaev: Sáu năm bên cạnh Gorbachev, Sđd, tr.393). Gorbachev đã làm như vậy thật.


Ba là, sửa đổi Hiến pháp, xóa bỏ địa vị lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô do Hiến pháp quy định. Tháng 2 năm 1990, trong Hội nghị toàn thể Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Gorbachev đã đề xuất bỏ Điều 6 trong Hiên pháp Liên Xô quy định Đảng Cộng sản Liên Xô là lực lượng lãnh đạo của xã hội và hạt nhân thể chế chính trị. Sau đó, Đại hội đại biểu nhân dân Liên Xô thông qua nghị quyết, sửa đổi Hiến pháp tương ứng. Sau đó, Đảng Cộng sản Liên Xô mất đi địa vị lãnh đạo được pháp luật quy định. Từ ngày 26 tháng 4 năm 1991, Gorbachev đã thản nhiên công bố trong bài phát biểu bế mạc Đại hội toàn thể Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô rằng, Đảng Cộng sản Liên Xô "đã vứt bỏ một cách có ý thức sự độc quyền đối với chính quyền mấy chục năm qua".


Phải chỉ ra rằng, trước kia, Đảng Cộng sản Liên Xô thực hiện "lấy Đảng thay thế chính quyền" là vấn đề thuộc về phương pháp, phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Nhưng Gorbachev vứt bỏ sự lãnh đạo của Đảng, thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô được pháp luật quy định lại là phạm sai lầm căn bản nhất, cốt lõi nhất. Thực tế chứng minh, vứt bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, tức là vứt bỏ sự nghiệp cách mạng vô sản do Đảng Cộng sản lãnh đạo, tức là xa rời nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #55 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2022, 07:35:56 am »

4. Từ hình thức tối cao của tổ chức giai cấp công nhân cho đến "Đảng Nghị viện"

Đảng Cộng sản là chính đảng của giai cấp công nhân, nhưng lại không giống với giai cấp công nhân, cũng không giống với các tổ chức khác của giai cấp công nhân. Lênin nhấn mạnh: "Đảng là tầng lớp giác ngộ tiên tiến của giai cấp, là đội tiên phong của giai cấp"1 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.24, tr.38). Xtalin cũng nhiều lần chỉ ra, Đảng là đội quân tiên tiến của giai cấp công nhân, Đảng là đội quân có tổ chức của giai cấp công nhân, Đảng là hình thức cao nhất của tổ chức giai cấp của giai cấp vô sản, Đảng phải duy trì tính giai cấp của mình, thể hiện đầy đủ tính tiên tiến của mình. Những suy luận khoa học của họ được Cương lĩnh và Điều lệ Đảng Cộng sản Liên Xô công nhận trong một thời gian dài.


Đảng Cộng sản Liên Xô trong một thời gian dài đã thể hiện thiết thực tính giai cấp và tính tiên tiến của Đảng. Chủ trương, cương lĩnh và sách lược chiến lược của Đảng Bônsêvích trước và sau Cách mạng Tháng Mười Nga đã tuân theo nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Sau đó, Đảng Cộng sản Liên Xô đã lãnh đạo nhân dân Liên Xô thực hiện công nghiệp hóa đất nước, tập thể hóa nông nghiệp, xây dựng chế độ cơ bản của chủ nghĩa xã hội, từ một đất nước nông nghiệp lạc hậu nhanh chóng xây dựng thành một nước xã hội chủ nghĩa vững mạnh. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô trở thành chủ lực chiến thắng sự xâm lược của phátxít Hitler, cứu vãn văn minh của châu Âu và nhân loại, đồng thời thúc đẩy phong trào chủ nghĩa xã hội của thế giới phát triển mạnh mẽ. Thực tế chứng minh, Đảng Cộng sản Liên Xô thực sự đại diện cho phương hướng tiến lên của phát triển xã hội, đại diện cho yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất tiên tiến, đại diện cho lợi ích căn bản của đông đảo quần chúng nhân dân, xứng đáng là hình thức tối cao của tổ chức giai cấp công nhân, vì vậy nhận được sự ủng hộ và bảo vệ của đa số quần chúng.


Nhưng Đảng Cộng sản Liên Xô đã mắc phải sai lầm nghiêm trọng trong việc làm thế nào để duy trì được tính giai cấp và tính tiên tiến của Đảng. Trong thời kỳ Xtalin, do mắc sai lầm lý luận cứng nhắc và chủ nghĩa giáo điều, dẫn đến Đảng Cộng sản Liên Xô đã mất đi tính tiên tiến trong tư tưởng và hành động, những hạn chế và cực đoan trong cơ chế vận hành của Đảng cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức sống của Đảng. Đảng Cộng sản Liên Xô không những nhận thức không rõ ràng về vấn đề này, mà còn chưa tập trung xóa bỏ nó đi, cứ để mặc nó phát triển trong môi trường cầm quyền. Chế độ tổ chức cơ bản của Đảng do Điều lệ Đảng quy định chỉ là hình thức, thậm chí nhiều năm không triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, đã phá vỡ nền tảng của cơ chế dân chủ trong Đảng; về chế độ tập trung dân chủ, đã quá nhấn mạnh tập trung, kiềm chế dân chủ; về phương diện thể chế lãnh đạo của Đảng, chủ nghĩa quan liêu, chủ nghĩa hình thức ngày càng nghiêm trọng, những người lãnh đạo tổ chức Đảng các cấp đều thực hiện chuyên quyền cá nhân với mức độ khác nhau; cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ, chế độ tuyển cử cán bộ lãnh đạo đã biến thành chế độ bổ nhiệm từ trên xuống dưới, và trên thực tế hình thành chế độ chức vụ cán bộ lãnh đạo suốt đời; không coi trọng công tác giám sát trong Đảng, hiện tượng tham nhũng nghiêm trọng.


Đặc biệt, Đảng Cộng sản Liên Xô vẫn chưa tỉnh táo nhận thấy rằng xã hội xã hội chủ nghĩa vẫn là xã hội giai cấp, vẫn tồn tại đấu tranh giai cấp, và tuyên bố tính chất của Đảng đã thay đổi rồi, đã trở thành "tổ chức chính trị toàn dân", trở thành cái gọi là "Đảng toàn dân". Đảng Cộng sản Liên Xô chưa nhìn trước được Đảng Cộng sản có nguy cơ thoái hóa, biến chất. Phương Tây lại thực hiện "diễn biến hòa bình", nhằm dùng tư tưởng và giá trị quan của giai cấp tư sản ảnh hưởng đến các nước xã hội chủ nghĩa. Tất cả những điều này đều sẽ phản ánh vào trong Đảng Cộng sản, khiến trong Đảng xuất hiện những trào lưu và phe phái khác nhau, xuất hiện những phần tử thoái hóa, biến chất, xuất hiện tầng lớp đặc quyền xa rời quần chúng nhân dân. Một khi những người này trở thành "người kế nhiệm", nắm được quyền lãnh đạo, Đảng Cộng sản có khả năng biến chất, biến thành chính đảng của giai cấp tư sản. Đảng Cộng sản Liên Xô tuy trước đây đã từng có nhiều cuộc đấu tranh gay gắt trong Đảng, thanh trừng một số phần tử không cùng cánh, nhưng vẫn chưa đánh giá đầy đủ về tính nguy hiểm của khả năng biến chất trong Đảng. Đảng Cộng sản Liên Xô về mặt lý luận vẫn chưa đưa ra được quan điểm tư tưởng về khả năng biến chất trong Đảng Cộng sản, trong thực tiễn cũng vẫn chưa áp dụng được bất kỳ biện pháp hữu hiệu nào nhằm phòng ngừa biến chất trong Đảng, đặc biệt là thiếu quy định nghiêm khắc và trình tự dân chủ cần thiết trong việc bồi dưỡng và lựa chọn "người kế nhiệm". Tất cả những điều này đã để lại những hiểm họa của sự biến chất sau này của Đảng Cộng sản Liên Xô.


Sau khi Gorbachev lên cầm quyền, kế thừa tư tưởng lý luận "Đảng toàn dân" của Khrushchev, cơ bản không nhắc tới tính giai cấp của Đảng Cộng sản Liên Xô. Lúc đầu, Gorbachev nhấn mạnh Đảng Cộng sản Liên Xô là một "tổ chức tự trị". Tháng 2 năm 1986, trong Báo cáo tại Đại hội lần thứ XXVII Đảng Cộng sản Liên Xô, Gorbachev nói: Đảng Cộng sản Liên Xô là "hình thức tối cao của tổ chức tự trị chính trị xã hội"1 (Tổng tập văn kiện chủ yếu Đại hội đại biểu lần thứ XXVII Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđd, tr.74). Tháng 2 năm 1990, trong "Dự thảo Cương lĩnh hành động" do Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đưa ra trước Đại hội lần thứ XXVIII lại nói: Đảng Cộng sản Liên Xô "là hình thức tối cao của tổ chức tự trị chính trị của xã hội tự trị". Đồng thời tuyên bố Đảng Cộng sản Liên Xô không còn một mình nắm giữ quyền lãnh đạo đất nước, không mưu cầu địa vị đặc biệt trong đời sống chính trị của đất nước; Liên Xô sẽ phát triển theo hướng đa nguyên hóa chính trị, chuẩn bị thi hành chế độ đa đảng. Dưới sự thúc đẩy không tiếc sức của Gorbachev, Đại hội lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô tháng 7 năm 1990 đã thông qua Cương lĩnh, Điều lệ và một loạt các văn kiện khác, đánh dấu sự chuyển đổi trọng đại của Đảng Cộng sản Liên Xô, tính chất của Đảng Cộng sản Liên Xô thay đổi. Tư tưởng chỉ đạo và mục tiêu phấn đấu của Đảng Cộng sản Liên Xô đã thay đổi, không nêu lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm chỉ đạo nữa, mà nêu phải phấn đấu vì "chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo"; tính chất giai cấp của Đảng Cộng sản Liên Xô đã thay đổi, không nêu Đảng Cộng sản Liên Xô "vẫn là chính đảng của giai cấp công nhân", chỉ nêu Đảng Cộng sản Liên Xô là "tổ chức chính trị" "liên kết công dân Liên Xô theo nguyên tắc tự nguyện"; địa vị của Đảng Cộng sản Liên Xô đã thay đổi, không nêu địa vị lãnh đạo và vai trò tiên phong của Đảng, mà nhấn mạnh vứt bỏ "độc quyền chính trị", "Đảng Cộng sản Liên Xô phát huy vai trò Đảng Nghị viện", Đảng Cộng sản Liên Xô cùng các chính đảng khác, các đoàn thể chính trị xã hội có mối quan hệ đối tác hợp tác cạnh tranh bình đẳng. Đồng thời nguyên tắc tổ chức của Đảng Cộng sản Liên Xô cũng thay đổi, mặc dù bình thường vẫn nhắc tới "chế độ tập trung dân chủ", nhưng không coi đó là nguyên tắc tổ chức của Đảng, hơn nữa nhấn mạnh trong Đảng cho phép tổ chức các hoạt động theo chiều ngang, cho phép đảng viên có thể liên kết lại "theo sở thích và vấn đề"1 (Tổng tập văn kiện chủ yếu Đại hội đại biểu lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđd, tr.148-154). Tóm lại, trải qua bước chuyển ngoặt Đại hội lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô, tính chất của Đảng Cộng sản Liên Xô đã thay đổi triệt để, Đảng Cộng sản Liên Xô không còn là đội tiên phong của giai cấp công nhân, cũng không còn đại diện cho lợi ích của đông đảo nhân dân, mà trở thành "Đảng xã hội chủ nghĩa dân chủ nhân đạo", "Đảng Nghị viện". Đây là kết quả của việc Gorbachev tiến hành cái gọi là "cải tổ triệt để" trong Đảng.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #56 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2022, 07:27:20 am »

III. VẤN ĐỀ GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Nhận thức đúng về chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là nhận thức đúng về tính lâu dài của xã hội xã hội chủ nghĩa và đánh giá đúng xã hội xã hội chủ nghĩa hiện đang phát triển ở giai đoạn nào là tiền đề của việc xây dựng đúng đắn mục tiêu, phương châm, chính sách trong xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng như điều chỉnh, cải cách thể chế hiện có. Đảng Cộng sản Liên Xô mặc dù kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa trong thời gian dài, đồng thời lấy chủ nghĩa cộng sản làm mục tiêu phấn đấu, nhưng vì thiếu nhận thức tỉnh táo về tình hình trong nước nên quan điểm về vấn đề giai đoạn phát triển của xã hội xã hội chủ nghĩa đã trải qua quá trình quanh co.


1. Từ xã hội xã hội chủ nghĩa là một giai đoạn quá độ "rất dài" cho đến giai đoạn quá độ "ngắn ngủi"

Giai đoạn đầu sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi, Lênin chỉ ra rằng, xã hội nước Nga Xôviết ở vào thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội, thời kỳ này sẽ rất dài, phức tạp, phải trải qua rất nhiều giai đoạn. Sau đó, dựa vào kinh nghiệm thực tiễn xã hội chủ nghĩa của nước Nga, cho rằng xã hội xã hội chủ nghĩa sẽ là một quá trình từ thấp đến cao, từ không hoàn thiện đến tương đối hoàn thiện, từ không phát triển đến tương đối phát triển. Thế nhưng thời kỳ quá độ này rốt cuộc là bao lâu, vì mất sớm nên Lênin chưa kịp kết hợp lý luận với thực tiễn để giải đáp vấn đề này. Xtalin lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô giành được nhiều thành tựu vĩ đại, đã có cống hiến quan trọng cho lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa xã hội, nhưng Xtalin đã coi nhẹ tính lâu dài và tính giai đoạn trong phát triển chủ nghĩa xã hội, đưa ra quá sớm khẩu hiệu quá độ lên chủ nghĩa cộng sản. Tháng 1 năm 1933, Xtalin đã tuyên bố trong "Tổng kết kế hoạch 5 năm lần thứ nhất": Liện Xô đã "từ một nước nông nghiệp chuyển thành một nước công nghiệp", "cơ sở kinh tế của xã hội xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô đã xây dựng xong"1 (Xtalin: Toàn tập, Sđd, q.13, tr.164,192, 288-289). Tháng 1 năm 1934, Xtalin trong Báo cáo tổng kết tại Đại hội lần thứ XVII Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang đã tuyên bố "Liên Xô đã xây dựng xong nền tảng xã hội xã hội chủ nghĩa, việc còn lại chỉ là xây dựng kiến trúc thượng tầng của nó, việc này chắc chắn sẽ dễ hơn nhiều so với xây dựng thành công nền tảng xã hội xã hội chủ nghĩa"2 (Xtalin: Toàn tập, Sđd, q.13, tr.164,192, 288-289). Tháng 11 năm 1936, Xtalin đã tuyên bố chính thức trong báo cáo "Về Dự thảo Hiên pháp Liên Xô": "Xã hội Liên Xô về cơ bản đã thực hiện được chủ nghĩa xã hội, đã thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa, tức là đã thực hiện được chế độ mà các nhà mácxít gọi là giai đoạn đầu hoặc giai đoạn thấp của chủ nghĩa cộng sản. Điều này có nghĩa là chúng ta về cơ bản đã thực hiện được giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản, tức chủ nghĩa xã hội"3 (Xtalin tuyển tập (1934-1952), Sđd, tr.90). Hiển nhiên, tuyên bố chủ nghĩa xã hội cơ bản xây dựng xong, có nghĩa là thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội đã kết thúc, về mặt lý luận coi chủ nghĩa xã hội như là một thời kỳ quá độ ngắn ngủi. Đây là tư tưởng vượt lên trên giai đoạn phát triển của xã hội. Xtalin sở dĩ tuyên bố chủ nghĩa xã hội về cơ bản đã xây dựng xong bởi vì ông nhìn vấn đề chủ yếu từ góc độ quan hệ sản xuất: ông chỉ nhìn thấy năm 1936 đã đạt được mục tiêu trong nền kinh tế quốc dân chỉ có chế độ sở hữu toàn dân và chế độ sở hữu nông trang tập thể, nên cho rằng về cơ bản đã thực hiện được chủ nghĩa xã hội, mà đã coi nhẹ trình độ phát triển của lực lượng sản xuất xã hội. Lấy đó làm căn cứ để xây dựng chiến lược phát triển kinh tế  - văn hóa - xã hội thì sẽ không thể đáp ứng được yêu cầu về trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển, mà ngược lại sẽ cản trở kinh tế quốc dân tăng trưởng, đặc biệt là ảnh hưởng đến mức sinh hoạt của người dân.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #57 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2022, 07:29:13 am »

2. Từ "xây dựng xong chủ nghĩa xã hội" cho đến "triển khai toàn diện xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa"

Năm 1936 Xtalin tuyên bố xây dựng xong chủ nghĩa xã hội, lúc đó bất luận nhìn từ góc độ phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, hay nhìn từ trình độ phát triển cơ sở kinh tế và chế độ chính trị, chủ nghĩa xã hội của Liên Xô vẫn là một chủ nghĩa xã hội chỉ vừa mới cất bước, trình độ rất thấp, chưa trưởng thành, còn cách quá xa so với chủ nghĩa xã hội mà Mác và Lênin tưởng tượng. Lênin năm đó nhấn mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa phải đạt được năng suất lao động cao, nhưng năng suất lao động của Liên Xô năm đó vẫn lạc hậu hơn rat nhiều so với các quốc gia tư bản chủ nghĩa phát triển phương Tây. Theo thống kê của Ủy ban thống kê nhà nước Liên Xô, trong giai đoạn cuối của kế hoạch 5 năm lần thứ hai, năng suất lao động xã hội của Liên Xô chỉ bằng 40% của Mỹ, lượng khai thác than của một công nhân Liên Xô năm 1936 chỉ tương đương với 42,8% lượng khai thác than của một công nhân Mỹ năm 1929, những ngành nghề khác lại càng thấp hơn, ví dụ như sản xuất thép 37%, sản xuất máy móc 41,4%, dệt bông 37,3%1 (Marcus: "Đấu tranh vì hiệu quả sản xuất lao động xã hội chủ nghĩa", [Liên Xô] Bônsêvích, kỳ 3, năm 1939). Trong tình hình này, không những không thể nói đã "xây dựng xong" chủ nghĩa xã hội, càng không thể đưa ra nhiệm vụ quá độ lên chủ nghĩa cộng sản. Nhưng Xtalin cho rằng, dưới chế độ xã hội chủ nghĩa của Liên Xô lúc đó, quan hệ sản xuất hoàn toàn thích hợp với tính chất của lực lượng sản xuất, "do đó ở Liên Xô không có khủng hoảng kinh tế cũng không có tình hình lực lượng sản xuất bị phá vỡ"2 (Xtalin: Tuyển tập, Sđd, quyển hạ, tr.445). Tháng 3 năm 1939, Nghị quyết Đại hội lần thứ XVIII Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang lại để ra: "giai đoạn phát triển mới của Liên Xô trong kế hoạch 5 năm lần thứ ba, tức là giai đoạn hoàn thành xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa vô giai cấp và từ chủ nghĩa xã hội dần dần quá độ lên chủ nghĩa cộng sản"3 (Tổng tập Nghị quyết Đại hội đại biểu, Hội nghị đại biểu và Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđd, t.5, tr. 10-11).


Nhưng Xtalin vẫn còn khá thận trọng trong vấn đề quá độ lên chủ nghĩa cộng sản, ông chưa bao giờ đưa ra một thời gian biểu cụ thể cho việc quá độ lên chủ nghĩa cộng sản. Trong báo cáo tại Đại hội lần thứ XVIII Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang, Xtalin nói: "Chỉ có vượt được các nước tư bản chủ nghĩa chủ yếu về kinh tế mới có thể hy vọng nước chúng ta có hàng tiêu dùng dồi dào, sản phẩm phong phú, chúng ta mới có thể từ giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản quá độ lên giai đoạn 2 của chủ nghĩa cộng sản"4 (Xtalin tuyển tập (1934-1952), Sđd, tr.225). Tháng 5 năm 1952, trong cuốn Những vấn đề kinh tế của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Xtalin đã nhấn mạnh, để quá độ lên chủ nghĩa cộng sản cần phải có 3 điều kiện cơ bản1 (Ba điều kiện cơ bản: không ngừng tăng trưởng trong sản xuất toàn xã hội, từ chế độ sở hữu nông trang tập thể nâng cao thành chế độ sở hữu toàn dân, đồng thời chế độ trao đổi hàng hóa thay thế lưu thông hàng hóa, phát triển văn hóa - xã hội thành phát triển toàn diện đáp ứng toàn bộ các thành viên trong xã hội), cần phải quá độ từ từ, đồng thời phải nghĩ rằng việc này không hề đơn giản, "xã hội cần phải trải qua một loạt cải tổ về kinh tế và cải tổ về văn hóa", là "việc đa dạng, phức tạp, cần phải thay đổi rất lớn về kinh tế"2 (Xtalin tuyển tập (1934-1952), Sđd, tr.624-627). Mặc dù vậy, Điều 1 Điều lệ Đảng Cộng sản Liên Xô được thông qua tại Đại hội đại biểu lần thứ XIX Đảng Cộng sản Liên Xô tháng 10 năm 1952 vẫn đề ra: "Hiện tại, nhiệm vụ chủ yếu của Đảng Cộng sản Liên Xô là từ chủ nghĩa xã hội dần dần quá độ lên chủ nghĩa cộng sản, cuối cùng xây dựng nên xã hội cộng sản chủ nghĩa"3 (Tổng tập Điều lệ Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđd, tr.155).


Sau khi Khrushchev lên cầm quyền, không những không sửa đổi tư tưởng "vượt lên giai đoạn" của Xtalin, mà ngược lại phát triển tư tưởng này hơn nữa. Đại hội đại biểu lần thứ XX Đảng Cộng sản Liên Xô năm 1956 nhấn mạnh, Liên Xô đã xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và đang từng bước quá độ lên chủ nghĩa cộng sản. Tháng 1 năm 1959, trong Báo cáo tại Đại hội lần thứ XXI Đảng Cộng sản Liên Xô, Khrushchev một lần nữa nêu ra rằng, chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã giành được "thắng lợi hoàn toàn và triệt để", Liên Xô đã bước vào "thời kỳ mới, quan trọng - thời kỳ triển khai toàn diện xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa"; "xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa trở thành nhiệm vụ thực tế trực tiếp của Đảng và nhân dân"4 (Tài liệu Đại hội đại biểu bất thường lần thứ XXI Đảng Cộng sản Liên Xô, Nxb. Nhân dân, Bắc Kinh, 1960, tr.22, 120, 131).


Tháng 10 năm 1961, trong Báo cáo tổng kết tại Đại hội lần thứ XXII Đảng Cộng sản Liên Xô, Khrushchev lại nêu rằng, Liên Xô phải "trong vòng 20 năm xây dựng cơ bản xong xã hội cộng sản chủ nghĩa". Thời gian cụ thể là: trong vòng 10 năm đầu, tức là từ năm 1961 đến năm 1970, sản lượng sản phẩm tính theo bình quân đầu người của Liên Xô phải vượt qua Mỹ; trong 10 năm tiếp theo, tức là từ năm 1971 đến hết năm 1980, Liên Xô sẽ xây dựng được cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa cộng sản, bảo đảm toàn thể nhân dân có được tài sản văn hóa, vật chất dồi dào, từ phân phối theo lao động quá độ lên phân phối theo nhu cầu. Khrushchev tuyên bố: "Thế hệ người Liên Xô này của chúng ta sẽ sống dưới chế độ cộng sản chủ nghĩa"1 (Tổng tập văn kiện chủ yếu Đại hội đại biểu lần thứ XXII Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđd, tr.406).


Khẩu hiệu "20 năm xây dựng cơ bản xong chủ nghĩa cộng sản" của Khrushchev hoàn toàn chỉ là không tưởng, là sản phẩm của chủ nghĩa chủ quan, đưa tư tưởng vượt lên giai đoạn, quá độ nóng vội phát triển lên đến đỉnh điểm.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #58 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2022, 07:30:27 am »

3. Từ "chủ nghĩa xã hội phát triển" đến vứt bỏ hoàn toàn chủ nghĩa xã hội

Sau khi lên cầm quyền, Brezhnev đã từng điều chỉnh, sửa đổi và bổ sung quan điểm cực đoan vượt lên giai đoạn, quá độ nóng vội của Khrushchev và đưa ra lý luận "chủ nghĩa xã hội phát triển". Phải nói rằng, lý luận này có ý nghĩa tích cực nhất định lúc đó. Nó thừa nhận tính lâu dài của chủ nghĩa xã hội, từ đó phủ định quan điểm truyền thống trước kia cho rằng chủ nghĩa xã hội chỉ là một "giai đoạn ngắn ngủi", cho rằng xã hội xã hội chủ nghĩa phải trải qua mấy giai đoạn phát triển; từ đó phủ nhận quan điểm truyền thống trước kia cho rằng thời kỳ xã hội chủ nghĩa không cần phải chia thành các giai đoạn; quan điểm đó cho rằng Liên Xô năm 1936 chỉ là đã xây dựng xong cơ sở của chủ nghĩa xã hội, vẫn chưa thể bắt đầu quá độ lên chủ nghĩa cộng sản, từ đó phủ định quan điểm của Xtalin năm đó đề ra quá độ lên chủ nghĩa cộng sản quá sớm; cho rằng hoàn thiện, phát triển xã hội xã hội chủ nghĩa là một nhiệm vụ lâu dài, từ đó phủ định khẩu hiệu sai lầm "20 năm xây dựng cơ bản xong chủ nghĩa cộng sản" của Khrushchev.


Nhưng lý luận "chủ nghĩa xã hội phát triển" vẫn có tính khuếch trương và không sát với thực tế. Nó khẳng định Liên Xô đã xây dựng xong "xã hội xã hội chủ nghĩa phát triển", tuyên bố xã hội có "lực lượng sản xuất xã hội phát triển cao độ", có "cơ sở vật chất - kỹ thuật vững mạnh", có "quan hệ xã hội chín muồi", "thể hiện dân chủ sâu sắc nhất"... Đảng Cộng sản Liên Xô miêu tả "xã hội xã hội chủ nghĩa phát triển" hoàn thiện, hoàn mỹ như vậy, hiển nhiên đã tách rời với hiện thực của Liên Xô, đã đánh giá quá cao trình độ phát triển của xã hội Liên Xô, từ đó che lấp mọi mâu thuẫn và nguy cơ tồn tại thực tế lúc đó. Đặc biệt là lý luận này nhấn mạnh Liên Xô đang "xây dựng chủ nghĩa cộng sản", quá độ sang chủ nghĩa cộng sản, bởi vì "hoàn thiện chủ nghĩa xã hội phát triển đồng thời cũng là quá độ sang chủ nghĩa cộng sản". Cách nói này hiển nhiên vẫn chưa thoát khỏi quan điểm sai lầm vượt lên giai đoạn, quá độ nóng vội.


Tháng 11 năm 1982, Andropov kế nhiệm chức Tổng Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Tuy chỉ cầm quyền có một năm ba tháng, nhưng ông đã hướng vào thuyết "xây dựng thành công" chủ nghĩa xã hội phát triển của Brezhnev và đề ra thuyết "khởi điểm" chủ nghĩa xã hội phát triển. Nếu theo cách nhìn của Brezhnev, Liên Xô trong giai đoạn cuối của thập niên 1960 đã xây dựng xong "xã hội xã hội chủ nghĩa phát triển" tương đối hoàn thiện và trưởng thành, nhưng Andropov 15 năm sau lại nhấn mạnh, Liên Xô vẫn ở vào "mốc khởi điểm của giai đoạn lịch sử lâu dài" của chủ nghĩa xã hội phát triển. Đây là sự điều chỉnh và sửa đổi lớn đối với lý luận cơ bản của Brezhnev, không những chứng minh nhận thức của lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô về giai đoạn phát triển của chủ nghĩa xã hội đã tiến lên một bước, mà còn nói rõ sự đánh giá của họ về hiện thực xã hội Liên Xô đã lùi xuống một bước. Mặc dù vậy, thuyết "khởi điểm" của Andropov vẫn chưa thoát khỏi sai lầm nói bừa về vượt lên giai đoạn, quá độ nóng vội, bởi vì nó vẫn cho rằng Liên Xô đã là "xã hội xã hội chủ nghĩa phát triển", đồng thời nhấn mạnh phải "từng bước quá độ lên chủ nghĩa cộng sản"1 (Tuyển tập các phát biểu của Andropov, Sđd, tr.439).


Từ khi Xtalin lên cầm quyền cho đến nay, các thế hệ lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô trong mấy chục năm lãnh đạo nhân dân Liên Xô tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, về lý luận luôn tồn tại tư tưởng vượt lên giai đoạn, quá độ nóng vội. Điều này ảnh hưởng lớn đến thể chế chính trị và thể chế kinh tế của Liên Xô, gây ra sự tổn hại nghiêm trọng cho sự nghiệp xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô.


Một là, thúc đẩy sự hình thành và củng cố đối với thể chế chính trị tập trung cao độ, trong tình hình điều kiện về các mặt vẫn chưa đầy đủ, tuyên bố chủ nghĩa xã hội đã "xây dựng xong", đồng thời đề ra phải "quá độ" lên chủ nghĩa cộng sản, điều này tất nhiên làm cho nhiều quy luật kinh tế khó phát huy tác dụng. Do đó Đảng Cộng sản Liên Xô phải nhờ đến mệnh lệnh hành chính, và thông qua tăng cường lãnh đạo tập trung để thúc đẩy "quá độ". Thể chế chính trị tập trung cao độ của Đảng Cộng sản Liên Xô chính là dần được hình thành trong bối cảnh này. Sự phát triển đồng bộ của hai thứ này hiển nhiên không phải là một sự trùng hợp mà có mối liên hệ nội tại. Sau này, những bất cập trong thể chế chính trị tập trung cao độ của Liên Xô ngày càng bộc lộ, hơn nữa biểu hiện ngày càng nghiêm trọng, nhưng từ đầu đến cuối không được điều chỉnh và sửa đổi hiệu quả, ngược lại ngày càng khư khư bảo thủ, ngày càng trở nên xơ cứng. Tình hình này có mối quan hệ nhất định với việc Đảng Cộng sản Liên Xô từ đầu đến cuối chưa thể sửa đổi được tư tưởng vượt lên giai đoạn và quá độ nóng vội.


Hai là, bài xích quan hệ tiền hàng và điều tiết thị trường. Ai ai cũng biết, chủ nghĩa cộng sản là thực hiện xã hội lý tưởng "làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu", lúc đó không tồn tại hàng hóa và tiền tệ, cũng không có điều tiết thị trường. Đảng Cộng sản Liên Xô về mặt lý luận đã luôn nhấn mạnh phải "quá độ lên chủ nghĩa cộng sản", vậy thì trong cuộc sống thực tế tất nhiên cũng phải hạn chế và bài xích quan hệ tiền hàng và điều tiết thị trường. Năm 1952, Xtalin nhấn mạnh, phải "dùng biện pháp quá độ dần dần làm cho chế độ trao đổi sản phẩm thay thế lưu thông hàng hóa"; ai chủ trương mở rộng lưu thông hàng hóa, tức là cản trở Liên Xô "tiến lên chủ nghĩa cộng sản", "lưu thông hàng hóa không dung hòa với tiền đồ của chủ nghĩa xã hội quá độ lên chủ nghĩa cộng sản". Xtalin còn nói, thu hẹp "phạm vi hoạt động của lưu thông hàng hóa, tức là làm cho chủ nghĩa xã hội dễ dàng quá độ lên chủ nghĩa cộng sản"1 (Xtalin tuyển tập (1934-1952), Sđd, tr.624, 646, 648). Tất cả những điều này đều ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển hơn nữa của kinh tế Liên Xô.


Thứ ba, thúc đẩy phát triển khuynh hướng "nhất đại nhì công"2 (Nhất đại nhì công: Một là, quy mô lớn; hai là, công hữu hóa (ND.)) của chế độ sở hữu. Xtalin đã đưa ra ba "điều kiện tiên quyết" cho chủ nghĩa xã hội "quá độ lên chủ nghĩa cộng sản", một trong số đó là "nâng cao trình độ sở hữu nông trang tập thể lên thành trình độ sở hữu toàn dân". Vì vậy, để thúc đẩy quá độ lên chủ nghĩa cộng sản, Liên Xô thường xuyên áp dụng các biện pháp hành chính, chuyển chế độ sở hữu tập thể thành chế độ sở hữu toàn dân, đồng thời phủ định quá sớm vai trò tích cực của lao động cá thể, hạn chế ngành nghề phụ cá nhân phát triển. Khrushchev năm đó đã làm như vậy. Cùng với việc Khrushchev đưa ra khẩu hiệu "20 năm cơ bản xây dựng xong chủ nghĩa cộng sản", Liên Xô đã áp dụng biện pháp hợp nhất quy mô lớn đối với các nông trang tập thể, đồng thời chuyển một loạt nông trang tập thể thành nông trường quốc doanh, kết quả đã làm tổn hại nghiêm trọng đến nền kinh tế quốc dân.


Thứ tư, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của các nước xã hội chủ nghĩa khác. Khi Đảng Cộng sản Liên Xô nhân rộng mô hình Liên Xô ra các nước xã hội chủ nghĩa khác, trên thực tế cũng bao gồm cả lý luận và thực tiễn của vượt lên giai đoạn và quá độ nóng vội. Ví dụ, năm đó Khrushchev nhấn mạnh, tất cả các nước xã hội chủ nghĩa "sẽ cơ bản cùng quá độ lên xã hội cộng sản chủ nghĩa". Dưới ảnh hưởng của Liên Xô, một số nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào những năm 1970 cũng lần lượt tuyên bố theo Liên Xô, họ cũng đang xây dựng "xã hội xã hội chủ nghĩa phát triển", hơn nữa tiền đề "dần quá độ lên chủ nghĩa cộng sản" đang được hình thành, kết cục rơi vào con đường lầm lạc, mất đi phương hướng đúng đắn.


Tóm lại, quan điểm lý luận vượt lên giai đoạn, quá độ nóng vội kéo dài mấy chục năm đã thống trị xã hội Liên Xô, đã trở thành một loại giáo điều. Ảnh hưởng của quan điểm lý luận này là nghiêm trọng, nguy hại cũng rất lớn. Nó tràn đầy ảo tưởng, xa rời thực tế, nói quá hiện thực, che đậy mâu thuẫn, trở thành vật cản nghiêm trọng của cải cách và sáng tạo, cản trở sự phát triển của sự nghiệp xã hội chủ nghĩa. Người ta tự nhiên rút ra được kết luận như thế này: Xã hội Liên Xô đã rất phát triển và thành thục, vậy thì còn phải cải cách làm gì nữa? Liên Xô đã quá độ lên chủ nghĩa cộng sản, vậy thì làm sao còn có thể ra sức phát triển kinh tế hàng hóa và quan hệ thị trường?


Giai đoạn đầu Gorbachev lên cầm quyền, về cơ bản vẫn tiếp tục quan điểm về chủ nghĩa xã hội mà Đảng Cộng sản Liên Xô đề ra. Tháng 3 năm 1986, trong báo cáo tại Đại hội lần thứ XXVII Đảng Cộng sản Liên Xô, Gorbachev nói: "Phát triển và củng cố chủ nghĩa xã hội, hoàn thiện chủ nghĩa xã hội một cách có kế hoạch và toàn diện, làm cho xã hội Liên Xô tiếp tục tiến lên chủ nghĩa cộng sản, vẫn là nhiệm vụ cơ bản của Đảng"1 (Tổng tập văn kiện chủ yếu Đại hội đại biểu lần thứ XXVII Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđđ, tr.123). Nhưng không lâu, dưới ngọn cờ "hoàn thiện chủ nghĩa xã hội", Gorbachev phát động một cuộc "cải tổ căn bản" toàn diện, đã thay đổi căn bản nhận thức về chủ nghĩa xã hội. Tháng 1 năm 1987, trong Hội nghị toàn thể Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, ông đã đề ra, phải nhận thức lại từ đầu về các vấn đề chủ nghĩa xã hội. Trong quá trình nhận thức lại từ đầu chủ nghĩa xã hội, ông đã sửa đổi quan niệm về chủ nghĩa xã hội, làm nổi bật lên chủ nghĩa nhân đạo và cái gọi là "dân chủ" siêu giai cấp, đưa nó trở thành tiêu chí đánh giá chủ nghĩa xã hội, từ đó phủ định hoàn toàn đặc trưng bản chất của chủ nghĩa xã hội khoa học. Tháng 6 năm 1988, trong Hội nghị đại biểu lần thứ 19 Đảng Cộng sản Liên Xô, Gorbachev đã nói rõ ràng rằng nhiệm vụ và mục tiêu của Đảng Cộng sản Liên Xô là thực hiện "chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo". Điều này cho thấy ông muốn thay đổi ngọn cờ, về căn bản vứt bỏ chủ nghĩa xã hội khoa học, dẫn đến sự hạ bệ của Đảng Cộng sản Liên Xô và sự hủy diệt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #59 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2022, 07:33:28 am »

IV. VẤN ĐỀ ĐẤU TRANH GIAI CẤP VÀ CHUYÊN CHÍNH VÔ SẢN

Vấn đề căn bản trong cách mạng vô sản là vấn đề chính quyền nhà nước, cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản tất yếu sẽ dẫn đến chuyên chính vô sản. Chỉ có xây dựng và kiên trì chuyên chính vô sản mới có thể quá độ từ xã hội tư bản chủ nghĩa lên xã hội xã hội chủ nghĩa. Thủ tiêu hoặc lật đổ chuyên chính vô sản, tất nhiên sẽ từ chủ nghĩa xã hội lùi về chủ nghĩa tư bản. Đảng Cộng sản cầm quyền phải nhìn nhận đúng đắn về đấu tranh giữa giai cấp với giai cấp trọng điều kiện chủ nghĩa xã hội, kiên trì thực hiện chuyên chính vô sản, phát huy đầy đủ tính dân chủ trong đông đảo quần chúng lao động. Chỉ có như vậy, sự nghiệp xã hội chủ nghĩa mới có thể không ngừng tiến lên. Mấy chục năm trở lại đấy, tư tưởng lý luận về mặt này của Đảng Cộng sản Liên Xô trải qua những thay đổi quanh co, từ kiên trì đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác và lý luận chuyên chính vô sản cho đến nhấn mạnh đấu tranh giai cấp ngày càng gay gắt, tiếp theo đó lại đề ra "thuyết dập tắt đấu tranh giai cấp", "thuyết nhà nước toàn dân", cuối cùng lại cổ xúy "dân chủ không bị hạn chế", "dân chủ vô điều kiện", vứt bỏ triệt để chuyên chính vô sản, từ đó dẫn đến sự biến chất căn bản của chính quyền nhà nước xã hội chủ nghĩa.


1. Từ "đấu tranh giai cấp ngày càng gay gắt" đến "thuyết dập tắt đấu tranh giai cấp"

Trong khi lãnh đạo Đảng Bônsêvích và đấu tranh cách mạng ở nước Nga, Lênin rất coi trọng vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác về đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản. Người nhấn mạnh chỉ rõ: "Chủ nghĩa Mác cung cấp cho chúng ta một sợi dây mang tính chỉ đạo, làm cho chúng ta có thể phát hiện ra quy luật trong một trạng thái không phân biệt được, một mớ hỗn độn. Sợi dây này chính là lý luận đấu tranh giai cấp"1 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.26, tr.60). Người còn nhấn mạnh: "Chỉ có những người thừa nhận đấu tranh giai cấp, đồng thời thừa nhận chuyên chính vô sản, mới là những nhà mácxít". Đây là hòn đá thử vàng để đo xem có phải thực sự hiểu và thừa nhận chủ nghĩa Mác hay không2 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q,31, tr.32-33, 84).


Chính quyền Xôviết thành lập sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi là nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên trên thế giới. Trước và sau đó, Lênin đã tổng kết những kinh nghiệm trong cách mạng Nga và xây dựng chủ nghĩa xã hội, trình bày được tính tất yếu, thực chất, nhiệm vụ và quan hệ giữa dân chủ và chuyên chính trong chuyên chính vô sản, làm phong phú và phát triển học thuyết nhà nước của chủ nghĩa Mác. Lênin nói: "Tiến lên phía trước, tức là tiến lên chủ nghĩa cộng sản, phải trải qua chuyên chính vô sản, không thể đi con đường khác được". Tất nhiên, "từ chủ nghĩa tư bản quá độ lên chủ nghĩa cộng sản đương nhiên không thể không nảy sinh những hình thức chính trị phong phú và đa dạng, nhung bản chất phải là như nhau, là chuyên chính vô sản"3 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q,31, tr.32-33, 84). Lênin cho rằng, chuyên chính vô sản có hai nhiệm vụ lớn: một là, trấn áp sự phản kháng của giai cấp bóc lột, phòng ngừa sự xâm lược từ bên ngoài; hai là, bảo đảm hoàn thành thắng lợi công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ thứ hai này còn quan trọng hom, khó khăn hơn nhiệm vụ thứ nhất, "bởi vì xét cho cùng, cội nguồn sâu xa nhất cần thiết để chiến thắng giai cấp tư sản, sự bảo đảm duy nhất không gì có thể phá vỡ nổi cho sự chiến thắng này chỉ có thể là phương thức sản xuất xã hội mới cao hơn, chỉ có thể dùng đại sản xuất của chủ nghĩa xã hội thay thế cho sản xuất của chủ nghĩa tư bản và tiểu tư sản"1 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.37, tr.15). Chính theo ý nghĩa này, Lênin nhiều lần chỉ ra: "Thực chất của chuyên chính vô sản không chỉ ở bạo lực, và cũng không phải chủ yếu là bạo lực"2 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.36, tr.375).


Điều đáng tiếc là, sau khi Lênin mất, Đảng Cộng sản Liên Xô đã không thể lĩnh hội, quán triệt lý luận của Lênin về đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản một cách sâu sắc toàn diện, đầu tiên là nhấn mạnh cùng với thắng lợi của xây dựng chủ nghĩa xã hội, "đấu tranh giai cấp ngày càng gay gắt", tạo nên sai lầm đấu tranh giai cấp ngày một lan rộng, sau đó lại tuyên bố đấu tranh giai cấp đã bị dập tắt, cổ xúy thuyết "nhà nước toàn dân", vứt bỏ vũ khí sắc bén chuyên chính, vô sản.


Trong quá trình lãnh đạo Liên Xô xây dựng chủ nghĩa xã hội, Xtalin kế thừa tư tưởng đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản của Lênin và còn phát huy thêm. Nhưng cùng với việc kiên trì chuyên chính vô sản, lại đưa ra luận điểm sai lầm "đấu tranh giai cấp ngày càng gay gắt", nhấn mạnh phải thông qua "đấu tranh giai cấp tàn khốc để tiêu diệt giai cấp", phải thông qua "tăng cường chính quyền nhà nước với mức độ cao nhất" để tiêu diệt nhà nước3 (Xtalin: Toàn tập, Sđd, q.12, tr.31), tạo nên sự chênh lệch nghiêm trọng trong thực tiễn. Tháng 7 năm 1928, Xtalin nói trong Hội nghị toàn thể Trung ương Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang: "Cùng với tiến triển của chúng ta, sự phản kháng của các phần tử tư bản chủ nghĩa sẽ mạnh mẽ hơn, đấu tranh giai cấp sẽ gay gắt hơn", "tiến lên chủ nghĩa xã hội không thể không dẫn đến sự phản kháng của các phần tử bóc lột, mà sự phản kháng của các phần tử bóc lột không thể không dẫn đến sự gay gắt trong đấu tranh giai cấp"4 (Xtalin: Toàn tập, Sđd, q.11, tr.149-150). Năm 1933, một mặt ông nói giai cấp giãy chết chỉ còn lại "tàn dư cuối cùng", một mặt lại nói "chỉ có tăng cường cao nhất chính quyền nhà nước mới có thể thủ tiêu triệt để tàn dư của giai cấp giãy chết"1 (Xtalin: Toàn tập, Sđd, q.13, tr.190). Tháng 3 năm 1937, tại Hội nghị toàn thể Trung ương Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang, Xtalin lại nhấn mạnh: tiến triển của chúng ta càng lớn, thắng lợi càng nhiều, tàn dư của giai cấp bóc lột bị đánh tan càng thêm hung ác, bọn chúng sẽ càng phải áp dụng các hình thức đấu tranh sắc bén hơn, bọn chúng càng làm tổn hại nhà nước Xôviết, bọn chúng càng phải nắm chắc các thủ đoạn đấu tranh tuyệt vọng nhất để làm điểm tựa cuối cùng2 (Xtalin tuyển tập (1934-1952), Sđd, tr.129).


Quan điểm đấu tranh giai cấp sai lầm tất nhiên sẽ dẫn đến tính toán sai lầm về hình thức đấu tranh giai cấp. Trong phong trào "đại thanh trừng", cùng với việc trấn áp các phần tử phản cách mạng, những mâu thuẫn trong nội bộ đông đảo nhân dân và khác biệt tư tưởng trong nội bộ Đảng cũng bị coi là đấu tranh địch ta, từ đó làm cho một loạt cán bộ Đảng, chính quyền và quần chúng vô tội bị bắt nhầm, giết nhầm. Như vậy, không những tạo thành vấn đề xã hội cực kỳ nghiêm trọng, mà còn tổn hại tới thanh danh của chuyên chính vô sản và chủ nghĩa xã hội, trở thành "cái gậy" quan trọng cho các thế lực chống cộng, chống chủ nghĩa xã hội, chống Đảng Cộng sản Liên Xô.


Sau khi Khrushchev lên nắm chính quyền đã phê phán quan điểm sai lầm của Xtalin về "đấu tranh giai cấp ngày càng gay gắt", đồng thời triển khai công tác "sửa sai" và "khôi phục danh dự". Nhưng Khrushchev lại đi một con đường cực đoan khác, về mặt lý luận tuyến bố "thuyết dập tắt đấu tranh giai cấp", phủ định nguy cơ chủ nghĩa tư bản sống lại. Ngày 6 tháng 11 năm 1957, trong báo cáo tại lễ míttinh Kỷ niệm 40 năm Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi, Khrushchev nói, hiện nay, Liên Xô đã trở thành xã hội "đoàn kết về tinh thần và chính trị", chức năng trấn áp ban đầu của nhà nước Xô viết "dần dần biến mất"1 (Các câu nói của Khrushchev, Nxb. Tri thức thế giới, 1965, t.7, tr.222-223,247). Ngày 14 tháng 11 năm đó, khi gặp mặt phóng viên Shapiro của hãng UPI, Khrushchev lại nói: "Liên Xô không có giai cấp và tầng lớp đối địch nhau. Xã hội chúng tôi là xã hội xã hội chủ nghĩa đoàn kết nhất trí"2 (Các câu nói của Khrushchev, Nxb. Tri thức thế giới, 1965, t.7, tr.222-223,247). Tháng 1 năm 1959, trong báo cáo tại Đại hội lần thứ XXI Đảng Cộng sản Liên Xô, Khrushchev một lần nữa nhấn mạnh: "Nguy cơ chủ nghĩa tư bản sống lại tại Liên Xô đã không còn nữa. Điều này có nghĩa là, chủ nghĩa xã hội không những giành được thắng lợi hoàn toàn, mà còn giành được thắng lợi triệt để"3 (Tài liệu Đại hội đại biểu bất thường lần thứ XXI Đảng Cộng sản Liên Xô, tr.120).


Năm 1961, trên nền tảng "thuyết dập tắt đấu tranh giai cấp", Khrushchev lại đưa ra lý luận "nhà nước toàn dân", cho rằng "chuyên chính vô sản đã không còn cần thiết ở Liên Xô nữa. Là một nhà nước được sinh ra từ nhà nước chuyên chính vô sản, trong giai đoạn mới, tức giai đoạn hiện nay, Liên Xô đã trở thành nhà nước toàn dân"4 (Văn kiện chủ yếu Đại hội đại biểu lần thứ XXII Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđd, tr.245). Lý luận "nhà nước toàn dân" là cơ bản sai lầm, nó không những đi ngược lại lý luận cơ bản và phương pháp phân tích giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin, mà còn không phù hợp với tình hình thực tế của Liên Xô lúc đó. Liên Xô lúc đó, giai cấp bóc lột tuy đã bị tiêu diệt, nhưng vẫn tồn tại những phần tử chống cộng, chống chủ nghĩa xã hội và các phần tử bóc lột mới, tham ô, trộm cắp; đấu tranh với bọn chúng trên thực tế cũng là đấu tranh giai cấp, là một loại đấu tranh giai cấp hình thức đặc biệt. Đồng thời, các quốc gia phương Tây thúc đẩy chiến lược "diễn biến hòa bình", hoặc phái các gián điệp, hoặc mua chuộc nội tuyến, mưu đồ lật đổ chính quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Liên Xô lãnh đạo, đây càng là một loại đấu tranh giai cấp. Hai tình huống này đều phải vận dụng biện pháp chuyên chính để đối phó. Đấu tranh giai cấp vẫn tiếp tục tồn tại, nguy cơ chủ nghĩa tư bản sống lại ở Liên Xô cũng vẫn tồn tại, trong tình hình này, làm sao có thể nói đến "nhà nước toàn dân" được?


Sau khi Brezhnev lên cầm quyền đã có một số điều chỉnh và sửa đổi đối với quan điểm sai lầm của Khrushchev, có ý định thống nhất "nhà nước toàn dân" và chuyên chính vô sản với nhau. Ngày 1 tháng 11 năm 1964, Khrushchev vừa bị hạ bệ, Ban biên tập báo Sự thật đăng bài viết, nói: "Nhà nước toàn dân và chuyên chính vô sản không mâu thuẫn với nhau, cũng không đối lập với nhau, đó là sự tiếp nối của lịch sử tự nhiên". Sau này, Đảng Cộng sản Liên Xô lại nhấn mạnh, "nhà nước toàn dân" vẫn có tính giai cấp, nó "tiếp tục sự nghiệp của chuyên chính vô sản"1 (Tổng tập văn kiện Hội nghị toàn thể Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô thời kỳ Brezhnev, Nhà in sách Thương mại, 1978, tr.183). Mặc dù như vậy, hậu quả tiêu cực của lý luận "nhà nước toàn dân" vẫn khó mà triệt tiêu đi được. Bởi vì "nhà nước toàn dân" lưu hành trong thời gian dài, dẫn đến đông đảo cán bộ và quần chúng nhân dân không có bất cứ quan niệm nào về đấu tranh giai cấp, cũng mất đi sự cảnh giác về việc chủ nghĩa tư bản có thể sống lại. Cuối cùng, khi các thế lực chống cộng, chống chủ nghĩa xã hội phát động tấn công kịch liệt Đảng Cộng sản Liên Xô, Đảng Cộng sản Liên Xô không những không vận dụng được vũ khí sắc bén chuyên chính vô sản để tiến hành phản công, mà ngược lại dần dần lùi bước, đem chính quyền nhà nước dâng cho thế lực thù địch.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM