Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 10:21:36 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tính trước nguy cơ - Suy ngẫm sau 20 năm Đảng Cộng sản Liên Xô mất Đảng  (Đọc 42166 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #60 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2022, 07:35:58 am »

2. Từ "dân chủ vô điều kiện" đến thủ tiêu chuyên chính vô sản

Gorbachev hoàn toàn kế thừa thuyết "nhà nước toàn dân" của Khrushchev, hơn nữa còn đi xa hơn cả Khrushchev, cổ xúy "loại trừ bất cứ chuyên chính của giai cấp nào". Tại Hội nghị đại biểu lần thứ 19 Đảng Cộng sản Liên Xô tháng 6 năm 1988, ông không những khẳng định đầy đủ thuyết "nhà nước toàn dân" của Khrushchev, mà còn nhấn mạnh, "cần thiết phải làm cho chế độ nhà nước của chúng ta đạt được tính toàn dân hoàn toàn"1 (Báo Sự thật, ngày 29 tháng 6 năm 1988). Ngày 26 tháng 11 năm 1989, trong bài viết "Cải tổ tư tưởng và tính cách mạng của chủ nghĩa xã hội", Gorbachev lại nói, năm đó tuyên bố Liên Xô là "nhà nước của toàn dân", điều này "phải trở thành tiêu chí" trong phát triển dân chủ, nhưng "điều đáng tiếc là, tuy đã tiến hành sáng tạo lý luận mấy chục năm nay, nhưng lại không tiến hành một cải cách nào về cơ chế chính trị". Cũng có nghĩa là, ông cho rằng lý luận "nhà nước toàn dân" của Khrushchev vẫn chưa được thể hiện rõ nét trong thực tiễn, quán triệt vẫn chưa đầy đủ. Tháng 2 năm 1990, trong "Dự thảo Cương lĩnh hành động" do Hội nghị toàn thể Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đưa ra trước Đại hội Đảng lần thứ XXVIII đã dựa vào ý đồ của Gorbachev, đưa ra khái niệm "nhà nước pháp chế toàn dân", khẳng định rằng, "nhà nước pháp chế toàn dân loại trừ bất cứ chuyên chính của giai cấp nào". Thực ra, ở đây ám chỉ phải "bài trừ" chuyên chính vô sản. Có thể thấy rằng, lý luận "nhà nước toàn dân" đang phát triển lên đến đỉnh điểm, Đảng Cộng sản Liên Xô đã phủ định triệt để chuyên chính vô sản. Thế nhưng bài trừ chuyên chính vô sản không tương đương với "loại trừ bất cứ chuyên chính của giai cấp nào", chính quyền nhà nước được xây dựng sau đó trên thực tế chính là mang tính chất giai cấp tư sản.


Cùng với việc cổ xúy "loại trừ bất cứ chuyên chính của giai cấp nào", ông còn ra sức thúc đẩy "dân chủ hóa", tuyên truyền rộng rãi "dân chủ vô điều kiện". Khi Gorbachev mới nhậm chức đã không tiếc sức cổ xúy cho cái gọi là "dân chủ hóa", nhằm vào những tệ nạn thiếu dân chủ trong đời sống chính trị trước kia, đề ra nhiệm vụ truyền bá dân chủ xã hội chủ nghĩa. Điều này vốn dĩ khỏi phải bàn, nhưng cái "dân chủ hóa" mà Gorbachev cổ xúy là chung chung và trừu tượng, hơn nữa ngày càng phiến diện, ngày càng cực đoan. Tại Hội nghị đại biểu lần thứ 19 Đảng Cộng sản Liên Xô tổ chức vào tháng 6 năm 1988, Gorbachev thậm chí còn nêu ra phải thực hiện "dân chủ vô điều kiện". Ông nhấn mạnh, Liên Xô phải "có nền dân chủ với nội dung đầy đủ, vô điều kiện, có nền pháp chế không có ngoại lệ"1 (Hứa Chinh Phàm (chủ biên): Kho tàng lý luận về chủ nghĩa xã hội, Nxb. Bắc Kinh, Nxb. Đại học Nhân dân Trung Quốc, 1998, quyển hạ, tr.851). Ai ai cũng biết, dân chủ là có tính giai cấp rõ ràng, dân chủ là cụ thể, là có điều kiện, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa phải lấy kiên trì nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa xã hội làm tiền đề, quyết không cho phép lợi dụng khẩu hiệu "dân chủ hóa" để chống lại Đáng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đồng thời phát huy dân chủ không thể không tập trung, không thể không nói đến pháp chế và kỷ luật, dân chủ tuyệt đối không thể là "vô điều kiện", nêu không thì sẽ là chủ nghĩa vô chính phủ và dân chủ tuyệt đối. Liên Xô lúc đó đang trong trào lưu "dân chủ hóa", các cuộc tụ tập và biểu tình mang tính chất quần chúng liên tiếp diễn ra, xung đột dân tộc nổ ra với quy mô lớn. Phe đối lập giương ngọn cờ "dân chủ hóa", thực hiện rầm rộ các hoạt động phá hoại chống Đảng Cộng sản, chống chủ nghĩa xã hội. Thực hiện kết hợp "dân chủ vô điều kiện" và "loại trừ bất cứ chuyên chính của giai cấp nào", không thể tránh khỏi dẫn đến chủ nghĩa vô chính phủ tràn lan, dân chủ và pháp chế bị phá hoại, chuyên chính vô sản bị thủ tiêu.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #61 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2022, 07:37:49 am »

3. Từ chế độ Xôviết đến "tam quyền phân lập" và chế độ tổng thống

Xôviết là hình thức quyền lực do nhân dân lao động nước Nga sáng lập ra trong cuộc cách mạng dân chủ tư sản 1905 - 1907. Xôviết thành lập sau Cách mạng Tháng Mười Nga là ca quan quyền lực tối cao của Liên Xô. Điều 1 trong Hiến pháp Xôviết đầu tiên năm 1918 đã quy định: "Toàn bộ chính quyền Trung ương và địa phương đều do Xôviết nắm giữ". Chế độ Xôviết nghị viện và hành chính hợp nhất là hình thức mà Liên Xô thực hiện chuyên chính vô sản. Trong bản Luận cương tháng Tư nổi tiếng, khi nói đến hình thức chính quyền giai cấp vô sản sau thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa, Lênin đã chỉ ra rằng: "Không cần nước cộng hòa theo chế độ nghị viện (từ Xôviết đại diện cho công nhân quay về nước cộng hòa theo chế độ nghị viện là lùi một bước), mà phải là nước cộng hòa Xôviết đại diện cho công nhân, cố nông và nông dân khắp cả nước"1 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.29, tr.115). Sau này, Liên Xô lại đề ra, "từ chủ nghĩa tư bản quá độ lên chủ nghĩa cộng sản, tất nhiên sẽ xảy ra những hình thức chính trị rất phong phú và đa dạng, nhưng tất yếu bản chất là như nhau: đều là chuyên chính vô sản"2 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.31, tr.33). Nói về giai cấp vô sản nước Nga, Xô viết do nhân dân sáng lập ra là loại hình nhà nước tốt nhất, "loại hình dân chủ tối cao mới"1 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.35, tr.61). Lênin còn chỉ ra, Xôviết là cơ quan đồng thời phụ trách cả lập pháp và hành chính. Chế độ nghị viện tư sản phân chia riêng rẽ hai cơ quan này. Các nghị sĩ trong nghị viện bàn bạc sôi nổi, đặt ra các loại nghị quyết và pháp lệnh, nhưng không phụ trách thi hành. Thực chất của nghị viện là một "viện tán dóc". Còn Xôviết là cơ quan đại diện cho tầng lớp công nông, không giống với cơ quan đại diện của giai cấp tư sản, đại diện cho tầng lớp công nông ở Xôviết "phải đích thân làm việc, đích thân thi hành pháp luật do mình thông qua, đích thân kiểm tra kết quả thực tế, đích thân phụ trách trực tiếp cử tri của mình"2 (Lênin: Tuyển tập, Sđd, q.3, tr.152), do đó, chế độ Xôviết "là một bước tiến bộ lớn có ý nghĩa lịch sử trên toàn thế giới trong quá trình phát triển dân chủ"3 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.32, tr.297). Nhưng Lênin không hề cho rằng, chế độ Xôviết đã toàn diện, ngược lại cần không ngừng hoàn thiện và cải cách. Người nói: "Chương mới của lịch sử thế giới - thời đại chuyên chính vô sản đã bắt đầu. Nhưng các hình thức của chế độ Xôviết và chuyên chính vô sản vẫn cần phải dựa vào nhiều nước để cải tiến và hoàn thiện, về mặt này chúng ta vẫn còn rất nhiều rất nhiều việc chưa hoàn thành". "Từ nay về sau, trong phát triển lực lượng sản xuất và văn hóa, mỗi lần chúng ta tiến một bước và nâng cao một bậc đều phải đồng thời cải thiện và cải tạo chế độ Xôviết của chúng ta"4 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.42, tr.247).


Sau khi Lênin mất, thể chế Xôviết đạt được một số cải cách và phát triển, là một bộ máy đại diện cho nhân dân, Xôviết đã phát huy vai trò tích cực rõ nét. Như Hiến pháp năm 1936 đã quy định chế độ bầu cử mới phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và không ghi tên, đã phản ánh dân chủ Xôviết được mở rộng và chế độ Xôviết có tiến bộ. Sau đó, bộ máy quyền lực của Xôviết không ngừng hoàn thiện, như quyền hạn của Xôviết tối cao được mở rộng, quyền lực của Xôviết địa phương được nâng cao, quyền lợi của nhân dân được bảo đảm hơn về pháp luật. Thế nhưng, do cực đoan lấy Đảng thay chính quyền, Xôviết là một tổ chức nhà nước, là một cơ quan quyền lực, vẫn chưa phát huy được vai trò cần có của mình. Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô vẫn ôm quá nhiều chức năng của Xôviết, chưa tôn trọng quyền lập pháp của Xôviết tối cao, trong thực tiễn, cơ quan thi hành hạn chế một cách nghiêm trọng quyền hạn của Xôviết khiến công việc của Xô viết chỉ là hình thức.


Khi Gorbachev lên cầm quyền, nhiều lần yêu cầu phải tiến hành cải cách chế độ của Xôviết, phải phát huy hơn nữa vai trò của Xôviết. Năm 1987, trong cuốn Cải tổ và tư duy mới đối với nước ta và thế giới, ông nhấn mạnh phải "thực hiện cải cách sáng tạo" đối với Xô viết. Năm 1988, tại Hội nghị đại biểu lần thứ 19 Đảng Cộng sản Liên Xô, cùng với việc đưa ra nhiệm vụ cải cách căn bản thể chế chính trị, ông nhấn mạnh tới việc phải cải cách chế độ Xôviết, thậm chí đưa ra khẩu hiệu "tất cả chính quyền thuộc về Xôviết", thực hiện trung tâm quyền lực nhà nước chuyển dịch từ hệ thống Đảng sang hệ thống Xôviết. Hội nghị quyết định thành lập cơ quan quyền lực tối cao nhà nước mới - Đại hội đại biểu nhân dân Liên Xô, thay thế Xôviết tối cao cũ. Thực chất, ý đồ của Gorbachev chủ yếu không phải để cải tổ chế độ Xôviết và tăng cường vai trò của Xôviết. Mục đích chính của ông ta là lấy đó để làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản với nhà nước và lấy Xôviết làm công cụ để thực hiện "dân chủ hóa" và "công khai". Theo Nghị quyết Hội nghị đại biểu lần thứ 19 Đảng Cộng sản Liên Xô, Gorbachev đã áp dụng một loạt các biện pháp cụ thể nhằm làm suy yếu vai trò quyết sách trọng đại của Đảng đối với các lĩnh vực của nhà nước. Vai trò của bộ máy của Đảng và bộ máy của chính quyền bị suy yếu nghiêm trọng. Trong trào lưu "dân chủ hóa", các thế lực chống Đảng Cộng sản, chống chủ nghĩa xã hội lần lượt đoạt lấy quyền lực của Xôviết, hệ thống quản lý nhà nước của Liên Xô rơi vào tình trạng hỗn loạn, nền kinh tế mất kiểm soát và bị phá hoại nghiêm trọng. Trong cục diện này, Gorbachev bèn chính thức đề ra thực hiện chế độ nghị viện "tam quyền phân lập" và xây dựng chế độ Tổng thống của các quốc gia tư sản phương Tây mà từ lâu ông đã nghĩ đến. Ngày 26 tháng 11 năm 1989, trong bài "Tư tưởng xã hội chủ nghĩa và cải tổ mang tính cách mạng", Gorbachev nói, cải cách chính trị phải thực hiện nhân dân tự trị "kết hợp một cách biện chứng với cơ chế dân chủ nghị viện chế độ đại diện". Ông tán thưởng rằng, dân chủ nghị viện có thể "bảo đảm quyền thi hành và quyền lập pháp phân chia rõ ràng, đồng thời bảo đảm tính độc lập của tư pháp". Hội nghị toàn thể tháng 2 của Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô năm 1990 đã đưa ra vấn đề xây dựng chế độ Tổng thống, và trong bản tuyên bố cương lĩnh đã được thông qua, nhấn mạnh: "Tam quyền - quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp phân lập, có ý nghĩa then chốt đối với hiệu quả quản lý". Đại hội đại biểu nhân dân bất thường lần thứ III của Liên Xô vào tháng 3 năm đó đã thông qua nghị quyết xóa bỏ điều lệ về địa vị lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô trong Hiên pháp Liên Xô và thành lập chức vụ Tổng thống của Liên Xô. Gorbachev làm như vậy trước là để thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô đối với Xôviết, sau là thực hiện phi Xôviết hóa", cuối cùng xây dựng chế độ "tam quyền phân lập" của giai cấp tư sản phương Tây. Do đó, chế độ Xôviết theo tư tưởng "lập pháp và hành pháp hợp nhất" của Lênin mấy chục năm đã bị vứt bỏ, chuyên chính vô sản từ nội dung cho đến hình thức bị phủ định hoàn toàn.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #62 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2022, 07:40:01 am »

V. VẤN ĐỀ XÂY DỰNG KINH TẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Lực lượng sản xuất là lực lượng quyết định cuối cùng để xã hội loài người tồn tại và phát triển. Nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản cầm quyền, nhiệm vụ cơ bản của nó là phải phát triển mạnh lực lượng sản xuất, thúc đẩy kinh tế  quốc dân phát triển bền vững, không ngừng nâng cao trình độ đời sống văn hóa và vật chất của nhân dân; đồng thời thích ứng với yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất, không ngừng điều chỉnh quan hệ sản xuất để tạo ra năng suất lao động mới cao hơn. Tại các quốc gia có kinh tế  văn hóa tương đối lạc hậu, càng cần phải coi trọng hơn đến phát triển lực lượng sản xuất, lợi dụng triệt để điểm mạnh của kinh tế thị trường, dốc sức phát triển kinh tế hàng hóa, đồng thời thực hiện cải cách mở cửa, tiếp thu khoa học kỹ thuật tiên tiến và thành tựu văn minh của các nước phát triển, thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển nhanh chóng.


Liên Xô là nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên, kể từ thời Lênin, Xtalin, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô, đã giành được nhiều thành tựu to lớn trong xây dựng kinh tế thể hiện được tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Nhưng từ lâu, do giáo điều, cứng nhắc, không sát thực tế đã quy kết sai lầm chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa thành chế độ công hữu đơn nhất, đồng thời quy kết việc thực hiện chế độ công hữu tư liệu sản xuất thành chế độ sở hữu nhà nước và chế độ sở hữu nông trang tập thể, phủ nhận một cách căn bản tính đa dạng của chế độ sở hữu tư liệu sản xuất do trình độ của lực lượng sản xuất quyết định và tính đa dạng trong hình thức thực hiện chế độ công hữu tư liệu sản xuất của chủ nghĩa xã hội trong một giai đoạn nhất định; đơn thuần coi kinh tế kế hoạch là phương thức sử dụng tài nguyên duy nhất của chủ nghĩa xã hội, phủ định hoàn toàn vai trò của cơ chế thị trường. Điều này đã dẫn đến sự méo mó nghiêm trọng trong kết cấu kinh tế, kiềm chế sản xuất phát triển. Cuối cùng, do quá trình cải cách kinh tế đã đi vào vòng sai lầm "tư hữu hóa" nên chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa đã thay thế chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa.


1. Kết cấu chế độ sở hữu và thuyết quan hệ sản xuất "hoàn toàn phù hợp" với lực lượng sản xuất

Chủ nghĩa Mác cho rằng, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mâu thuẫn cơ bản của xã hội, lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, quan hệ sản xuất phải phù hợp với yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất; chế độ sở hữu tư liệu sản xuất là nền tảng của toàn bộ quan hệ sản xuất, là tiêu chí cơ bản nhất, quan trọng nhất để phân biệt các chế độ xã hội khác nhau. Mác - Ăngghen trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản nói: "Những người cộng sản có thể dùng một câu nói để thể hiện lý luận của mình, thủ tiêu chế độ tư hữu"1 (Mác - Ăngghen: Toàn tập, Sđd, q.4, tr.480). Hai ông nhấn mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa phải "thực hiện công hữu hóa toàn bộ tư liệu sản xuất" và phải "tổ chức sản xuất"2 (Mác - Ăngghen: Toàn tập, Sđd, q.37, tr.443) trên nền tảng này. Những điều mà hai ông nói hiển nhiên là chỉ xã hội xã hội chủ nghĩa đã nhuần nhuyễn. Trong giai đoạn đầu của xã hội xã hội chủ nghĩa, kết cấu chế độ sở hữu tư liệu sản xuất có nên chăng là kết cấu chế độ công hữu đơn nhất và chế độ công hữu rốt cuộc nên làm như thế nào, hai ông vẫn chưa nói rõ ràng. Lênin năm đó cũng chưa trình bày rõ về kết cấu chế độ sở hữu xã hội xã hội chủ nghĩa. Người chỉ chỉ ra rằng, nước Nga Xôviết trong giai đoạn đầu thực hiện chính sách kinh tế mới, tức là giai đoạn quá độ từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội, tồn tại rất nhiều loại chế độ sở hữu. Lênin cho rằng, chế độ sở hữu nhà nước và chế độ sở hữu hợp tác xã là chế độ sở hữu mang tính chất xã hội chủ nghĩa, nhưng Người không hề nói chế độ sở hữu xã hội xã hội chủ nghĩa chỉ có thể có hai hình thức, cũng không nói rõ trong điều kiện chế độ công hữu giữ vai trò chủ đạo trong xã hội xã hội chủ nghĩa thì có cho phép các thành phần sở hữu khác cùng tồn tại hay không.


Như đã nói ở trên, từ năm 1918 đến năm 1929, Liên Xô bắt đầu phong trào công nghiệp hóa đất nước và tập thể hóa nông nghiệp, hầu như đã loại bỏ hết các thành phần kinh tế phi công hữu. Đến năm 1936, theo quy định của Hiến pháp Liên Xô, chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa áp dụng hai hình thức, tức chế độ sở hữu toàn dân quốc doanh và chế độ sở hữu tập thể của nông trang tập thể, cho phép công dân có tài sản cá nhân, chỉ giới hạn ở "thu nhập và tiết kiệm do công dân lao động mà có, nhà ở, nghề phụ gia đình, đồ dùng thường ngày của gia đình, các vật dụng cá nhân sử dụng và hưởng thụ cũng như quyền thừa kế tài sản cá nhân của công dân"1 (Tham khảo Điều 10, Hiến pháp Liên Xô năm 1936). Kinh tế phi công hữu khác đều không có vị trí về mặt pháp luật. Điều này cũng có nghĩa là Liên Xô hình thành chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa đơn nhất: do hai hình thức công hữu cấu thành. Sau này, Xtalin trong bài "Vấn đề kinh tế trong chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô" đã cố định về mặt lý luận đối với haí hình thức công hữu xã hội chủ nghĩa. Ông nói: "Hiện tại ở nước ta đang tồn tại hai hình thức cơ bản của sản xuất xã hội chủ nghĩa: một loại là của nhà nước, tức hình thức toàn dân, một loại là hình thức nông trang tập thể, không thế gọi là hình thức toàn dân được"2 (Xtalin tuyển tập (1934-1952), Sđd, tr.582). Trên thực tế, Xtalin coi chế độ sở hữu toàn dân là hình thức cao cấp của chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa. Sau này, chính lý luận và thực tiễn này đã mô hình hóa và tuyệt đối hóa các vấn đề của chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa, thậm chí còn làm sâu sắc thêm. Ví dụ, cùng với việc năm 1959 Khrushchev tuyên bố Liên Xô bước vào "giai đoạn triển khai toàn diện xây dựng chủ nghĩa cộng sản", "tàn dư kinh tế cá thể" của Liên Xô cũng dần dần bị mai một đi. Khrushchev còn nhiều lần áp dụng biện pháp sáp nhập nông trang tập thể, cải tổ nông trang tập thể kinh tế yếu kém thành các nông trường quốc doanh, biến chế độ sở hữu tập thể thành chế độ sở hữu nhà nước. Kết quả là số lượng nông trang tập thể từ 93.300 nông trang năm 1953 giảm xuống còn 38.300 nông trang năm 1964, tức là giảm xuống hơn một nửa. Còn nông trường quốc doanh từ 4.857 nông trường năm 1953 tăng lên 10.100 nông trường năm 1964, tức là tăng hơn hai lần1 (Lưu Khắc Minh, Kim Huy (chủ biên): 70 năm thể chế kinh tế - chính trị Liên Xô, Nxb. Khoa học xã hội Trung Quốc, 1990, tr.512). Vậy là về hình thức, đặc điểm "nhất đại nhì công" của chế độ sở hữu thời kỳ Khrushchev lãnh đạo càng thể hiện rõ rệt. Sau khi Brezhnev đưa ra lý luận "chủ nghĩa xã hội phát triển", tư tưởng về chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa đơn nhất lại phát triển thêm một bước. Hiên pháp Liên Xô năm 1977 ngoài quy định chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa bao gồm hai hình thức "chế độ sở hữu nhà nước (toàn dân) và chế độ sở hữu hợp tác xã nông trang tập thể" ra, còn đặc biệt nhấn mạnh, chế độ sở hữu nhà nước "là hình thức cơ bản của chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa". Giới nghiên cứu lý luận lúc đó đều phổ biến cho rằng, "đặc điểm của chủ nghĩa xã hội nhuần nhuyễn là xóa bỏ hoàn toàn những tàn dư của thành phần phi xã hội chủ nghĩa trong kinh tế"2 ([Liên Xô] "Vấn đề triết học", kỳ 6, năm 1979). Thế nhưng thực tế chứng minh, kết cấu chế độ sở hữu đơn nhất này không phù hợp với yêu cầu thực tế của xã hội Liên Xô, nó phủ định khả năng nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại, hạn chế vai trò của kinh tế hàng hóa và quan hệ thị trường, ràng buộc sự phát triển của lực lượng sản xuất, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế của Liên Xô.


Do quy luật khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất trong xã hội quyết định nên không thể tránh khỏi tình trạng mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với tính chất khác nhau, sự phát triển không cân đối của các vùng miền, các ngành nghề với thể chế chế độ sở hữu tư liệu sản xuất đồng loạt giống nhau. Nếu không giải quyết kịp thời mâu thuẫn này, quan hệ sở hữu sẽ cản trở lực lượng sản xuất phát triển. Nhưng Đảng Cộng sản Liên Xô phủ nhận sự tồn tại khách quan của mâu thuẫn này. Sau khi Hiến pháp Liên Xô năm 1936 khẳng định kết cấu chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa đơn nhất, thì Đảng Cộng sản Liên Xô lại tuyên bố quan hệ sản xuất của Liên Xô "hoàn toàn phù hợp" với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Năm 1938, Xtalin đã nói trong phần II, chương IV, Giáo trình sơ lược lịch sử Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang do chính ông biên soạn rằng, ở Liên Xô "chế độ công hữu tư liệu sản xuất là nền tảng của quan hệ sản xuất", "ở đây quan hệ sản xuất hoàn toàn thích hợp với tình hình của lực lượng sản xuất"1 (Giáo trình sơ lược lịch sử Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang, Sđd, tr.140). Cách nói như vậy hiển nhiên dẫn đến vấn đề như thế này: Nêu quan hệ sản xuất đã "hoàn toàn thích hợp" với sự phát triển của lực lượng sản xuất, vậy thì còn cần điều chỉnh và cải cách gì nữa trong lĩnh vực kinh tế? Mãi đến năm 1952, Xtalin trong bài "Vấn đề kinh tế  trong chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô" mới tiến hành một số sửa đổi đối với vấn đề trên, một mặt ông vẫn kiên trì nói quan hệ sản xuất của Liên Xô "hoàn toàn thích hợp với sự tăng trưởng của lực lượng sản xuất", mặt khác cũng thừa nhận giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất của Liên Xô vẫn có mâu thuẫn, nhưng nhấn mạnh, hai bên sẽ không "nảy sinh xung đột"1 (Xtalin Tuyển tập (1934-1952), Sđd, tr.611). Nhưng sửa đổi này vẫn chưa giải quyết được vấn đề căn bản. Những luận điểm trên của Xtalin đã trói buộc tư tưởng của mọi người trong thời gian dài, kiềm chế sự cải cách kinh tế, ảnh hưởng tiêu cực nghiêm trọng tới sự phát triển của xã hội Liên Xô.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #63 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2022, 07:41:52 am »

2. Kinh tế kế hoạch với quan hệ tiền - hàng và sự điều tiết thị trường

Mác - Ăngghen đã từng giả thuyết rằng, xã hội xã hội chủ nghĩa không tồn tại sản xuất hàng hóa, sản xuất và phân phối sản phẩm sẽ do nhà nước tổ chức căn cứ theo kế hoạch thống nhất. Trong cuốn Sự phát triển của chủ nghĩa xã hội từ không tưởng tới khoa học, Ăngghen đã nói: "Một khi xã hội chiếm hữu tư liệu sản xuất, thì sản xuất hàng hóa sẽ bị xóa bỏ, và sự thống trị của sản phẩm đối với người sản xuất cũng theo đó mà bị xóa bỏ"2 (Mác - Ăngghen: Tuyển tập, Sđd, q.3, tr.757). Đồng thời, hai ông cho rằng, xã hội xã hội chủ nghĩa phải thực hiện kinh tế kế hoạch. Giả thuyết của hai ông hiển nhiên là chỉ xã hội xã hội chủ nghĩa nhuần nhuyễn trên nền tảng chủ nghĩa tư bản phát triển ở trình độ cao. Lênin cũng đã từng đưa ra tư tưởng nhà nước trực tiếp tổ chức sản xuất và phân phối của cải xã hội cũng như xây dựng kinh tế kế hoạch. Tháng 3 năm 1919, trong "Dự thảo cương lĩnh Đảng Cộng sản Nga (Bônsêvích)" do Lênin soạn thảo đã nói: "Nhiệm vụ hiện tại của chính quyền Xôviết là kiên định tiếp tục lấy phân phối sản phẩm có kế hoạch, có tổ chức thay thế thương mại trong phạm vi cả nước", "Đảng Cộng sản Nga sẽ dốc hết sức, nhanh chóng thực hiện các biện pháp cấp tiến nhất, làm tốt công tác chuẩn bị để xóa bỏ tiền tệ"1 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.36, tr.110-111). Lênin còn nói: "Trong điều kiện sản xuất và phân phối sản phẩm, nếu không có một tổ chức nhà nước với tiêu chuẩn thống nhất, có kế hoạch khiến hàng ngàn, hàng vạn người tuân thủ nghiêm khắc, thì chủ nghĩa xã hội không thể tiếp tục được nữa"2 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.41, tr.199). Nhưng Lênin đã phát hiện ra ngay, không thể làm như vậy được. Khi Người thực hiện chính sách kinh tế mới đã chủ trương lợi dụng quan hệ tiền hàng và điều tiết thị trường để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thế nhưng thời gian thực hiện chinh sách kinh tế mới không lâu, các loại biện pháp cũng không đồng bộ, trên thực tế vẫn chưa hình thành được thể chế kinh tế hoàn chỉnh. Nửa cuối những năm 1920 cho đến đầu những năm 1930, Xtalin và hầu hết giới lý luận của Liên Xô đã lý giải một cách tuyệt đối hóa và phiến diện hóa tư tưởng của Mác - Ăngghen, Lênin về nguyên tắc kế hoạch thực hiện kinh tế xã hội chủ nghĩa, cơ bản phủ định quan hệ tiền hàng, bài xích điều tiết thị trường, nóng vội xây dựng kinh tế kế hoạch toàn diện sau khi kết thúc thời kỳ quá độ. Xtalin rất nhấn mạnh quản lý kế hoạch, cho rằng xã hội xã hội chủ nghĩa phải thực hiện kế hoạch mang tính mệnh lệnh. Tháng 12 năm 1926, ông nói: "Kinh tế xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế thống nhất nhất, tập trung nhất, kinh tế xã hội chủ nghĩa được tiến hành theo kế hoạch"3 (Xtalin: Toàn tập, Sđd, q.9, tr.122). Tháng 12 năm 1927 ông lại nói: "Kế hoạch của chúng ta không phải là kế hoạch chủ quan, không phải là kế hoạch theo ý nghĩ, mà là kế hoạch mang tính mệnh lệnh, các cơ quan lãnh đạo phải thi hành kế hoạch này"4 (Xtalin: Toàn tập, Sđd, q.10, tr.280). Dựa vào tư tưởng chỉ đạo này, từ những năm 30 của thế kỷ XX, Liên Xô bắt đầu hình thành kinh tế kế hoạch tập trung cao độ và thể chế bộ ngành quản lý, đặc điểm chủ yếu của nó là: kế hoạch có hiệu lực pháp luật; kế hoạch có tính rộng rãi, bao gồm mọi thứ; kế hoạch có tính thống nhất quá tập trung; kế hoạch hoàn toàn bài xích điều tiết thị trường. Nói một cách khách quan, thể chế này phát huy vai trò tích cực trong điều kiện lịch sử lúc đó. Trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa với trình độ phát triển kinh tế tương đối thấp, quy mô kinh tế nhỏ và quan hệ giản đơn, trình độ khoa học kỹ thuật không cao, thiếu nhân tài giỏi về quản lý kinh doanh, trong bối cảnh đối mặt với chiến tranh và áp lực về thời gian, thể chế này có thể dựa vào quyền uy của nhà nước và năng lực chỉ huy hành chính của hệ thống chính quyền, nhanh chóng thực hiện "tích lũy nguyên thủy", tập trung có hiệu quả các nguồn nhân lực, vật lực, tài sản để phát triển các khu vực đặc biệt, các bộ ngành đặc biệt và lĩnh vực kỹ thuật đặc biệt, tăng nhanh tốc độ phát triển kinh tế, giải quyết nhiệm vụ kinh tế cấp bách. Lúc đó, tiềm lực kinh tế và quốc phòng Liên Xô sở dĩ có thể tăng trưởng nhanh chóng ít nhiều có liên quan tới năng lực điều tiết vĩ mô tốt của thể chế này, có thể tập trung lực lượng làm việc lớn, bảo đảm tính ưu việt của phát triển trọng điểm. Nhưng thể chế này cũng tồn tại bất cập, trong điều kiện môi trường đã thay đổi, rất khó để thể hiện sức sống và tính hiệu quả của mình, dẫn đến tỷ lệ tăng trưởng kinh tế và lợi ích kinh tế giảm sút.


Trong vấn đề sản xuất hàng hóa và tiển tệ, Xtalin cho rằng, sản xuất hàng hóa và tiền tệ của xã hội xã hội chủ nghĩa sẽ vẫn tồn tại lâu dài, nhưng phải nghiêm ngặt hạn chế. Ông đem sản xuất hàng hóa và tiền tệ liên hệ với chủ nghĩa tư bản, cho rằng sản xuất hàng hóa là "gốc rễ của chủ nghĩa tư bản", là "điều kiện có khả năng làm cho chủ nghĩa tư bản phục hồi (sống lại)"1 (Xtalin: Toàn tập, Sđd, q.11, tr.195-196); rằng tiền tệ là công cụ của kinh tế  giai cấp tư sản, chỉ là "chính quyền Xôviết đã nắm công cụ này trong tay của mình, và làm cho nó thích ứng với lợi ích của chủ nghĩa xã hội"1 (Xtalin: Toàn tập, Sđd, q.13, tr.304). Ông nhấn mạnh, sản xuất hàng hóa trong xã hội xã hội chủ nghĩa là "sản xuất hàng hóa đặc chủng", "phạm vi hoạt động của nó chỉ giới hạn ở hàng tiêu dùng cá nhân"2 (Xtalin tuyển tập (1934-1952), Sđd, tr.583, 648). Bởi vì Xtalin cho rằng tư liệu sản xuất không phải là hàng hóa, do vậy bài trừ đa số sản phẩm của xã hội ra khỏi phạm vi sản xuất hàng hóa. Sau này, Xtalin còn nhấn mạnh, "phải bài trừ các sản phẩm dư thừa trong sản xuất nông trang tập thể ra khỏi hệ thống lưu thông hàng hóa, đưa chúng vào hệ thống trao đổi sản phẩm giữa công nghiệp nhà nước và nông trang tập thể"; phải "từng bước thu nhỏ phạm vi hoạt động của lưu thông hàng hóa, ngược lại phải mở rộng phạm vi hoạt động của trao đổi sản phẩm"3 (Xtalin tuyển tập (1934-1952), Sđd, tr.583, 648). Những quan điểm trên của Xtalin trong một thời gian dài được coi là những giáo điều thiêng liêng bất khả xâm phạm, xây dựng một vùng cấm về lý luận trong cải cách xã hội chủ nghĩa. Sau này, Khrushchev từng đề ra phải "lợi dụng hơn nữa quan hệ tiền hàng", nhưng cải cách của ông từ đầu đến cuối chỉ giới hạn trong phạm vi kinh tế kế hoạch, chỉ là chuyển từ quản lý kế hoạch Trung ương sang quản lý kế hoạch địa phương đối với rất nhiều doanh nghiệp. Thời kỳ Brezhnev cũng như vậy, lúc đó tuy nêu ra "quan hệ tiền hàng ở nước ta có nội dung mới, mang đặc thù xã hội chủ nghĩa", nhưng lại nhấn mạnh, "phải bác bỏ mọi quan điểm sai lầm chủ trương dùng vai trò điều tiết thị trường để thay thế vai trò chủ đạo của kế hoạch tập trung nhà nước". Tất cả các cải cách lúc đó chỉ là một số thí điểm nhằm giảm bớt chỉ tiêu kế hoạch mang tính mệnh lệnh và mở rộng quyền tự chủ của các doanh nghiệp, đồng thời phê bình nghiêm khắc cái gọi là "thị trường xã hội chủ nghĩa". Tất cả những điều này đều cản trở sự điều chỉnh và cải cách đối với thể chế kinh tế kế hoạch, làm cho cải cách kinh tế của Liên Xô từ đầu đến cuối đều né tránh kinh tế hàng hóa và cơ chế thị trường. Thực ra, kinh tế hàng hóa và cơ chế thị trường cũng là một loại biện pháp phát triển kinh tế, chủ nghĩa tư bản có thể sử dụng, chủ nghĩa xã hội cũng có thể sử dụng. Thực tế chứng minh, Đảng Cộng sản Liên Xô đem kế hoạch và thị trường đối lập với nhau, giải pháp bài xích kinh tế hàng hóa và điều tiết thị trường là không hợp lý.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #64 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2022, 07:42:54 am »

3. Sai lầm lý luận về cải cách kinh tế

Mấy chục năm trở lại đây, về cải cách kinh tế  Đảng Cộng sản Liên Xô có ít nhất bốn sai lầm về lý luận, cũng tức là có bốn mối quan hệ chưa làm rõ.

Một là, quan hệ giữa hoàn thiện và cải cách. Ăngghen chỉ ra rằng: "Gọi là 'xã hội xã hội chủ nghĩa' không phải là một thứ nhất thành bất biến, mà giống như bất kỳ các chế độ xã hội khác, xem nó như là một xã hội thường xuyên thay đổi và cải cách"1 (Mác - Ăngghen: Toàn tập, Sđdr q.37, tr.443). Lênin cũng nhiều lần bày tỏ quan điểm tương tự như vậy. Lênin quyết đoán chuyển từ "chủ nghĩa cộng sản thời chiến" sang "chính sách kinh tế mới", đã thể hiện đầy đủ được tư tưởng cải cách. Nhưng sau đó Đảng Cộng sản Liên Xô thiếu nhận thức đối với việc phải tiến hành cải cách trong điều kiện xã hội chủ nghĩa, một mực khẳng định phải "hoàn thiện" thể chế kinh tế vốn có, rất ít khi nói phải "cải cách". Khrushchev trên thực tế đã tiến hành cải cách, nhưng rất nhiều nghị quyết của Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô lúc đó lại dùng những từ ngữ "phát triển hơn nữa" và "hoàn thiện hơn nữa". Brezhnev lại càng chỉ nói "hoàn thiện", không dám nói "cải cách". Thực ra, sau khi xây dựng chế độ cơ bản xã hội chủ nghĩa, quyết không được giữ khư khư nếp cũ, mà còn phải không ngừng cải cách thể chế kinh tế, xóa bỏ những tệ nạn ràng buộc lực lượng sản xuất phát triển và không phù hợp với yêu cầu phát triển sản xuất hiện đại, làm cho nó mãi giữ được sức sống. Cách mạng là giải phóng lực lượng sản xuất, cải cách cũng là giải phóng lực lượng sản xuất, nêu theo nghĩa trên, cải cách là cách mạng lần hai. Chỉ nói phát triển lực lượng sản xuất trong điều kiện xã hội chủ nghĩa, không nói còn phải thông qua cải cách để giải phóng lực lượng sản xuất, điều này là không toàn diện. Trên thực tế, cải cách là con đường tất yếu để giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất trong điều kiện xã hội chủ nghĩa, là động lực để xã hội xã hội chủ nghĩa phát triển, chỉ có thông qua cải cách, tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội mơi được phát huy đầy đủ hơn nữa. Cải cách là vấn đề lớn quyết định vận mệnh của chủ nghĩa xã hội, do đó Đảng Cộng sản cầm quyền phải đặt nó ở vị trí hàng đầu. Đồng thời "cải cách" và "hoàn thiện" không hề mâu thuẫn, mà hoàn toàn thống nhất với nhau. "Cải cách" trong điều kiện xã hội chủ nghĩa chính là quá trình tự mình hoàn thiện của chế độ xã hội chủ nghĩa, nó có lợi cho củng cố và phát triển chủ nghĩa xã hội. Những lý lẽ trên, Đảng Cộng sản Liên Xô ngay từ đầu đã không làm rõ hoàn toàn, do đó không thể tiến hành cải cách hiệu quả, thậm chí nhiều lần đánh mất cơ hội tốt cho cải cách.


Hai là, quan hệ giữa kế hoạch và thị trường. Đã từ lâu, Đảng Cộng sản Liên Xô coi kế hoạch và thị trường đối lập với nhau, luôn coi nhẹ phát triển kinh tế hàng hóa, bài xích điều tiết thị trường, gắn chặt nó với chủ nghĩa tư bản, đồng thời coi nền kinh tế kế hoạch tập trung cao độ là đặc trưng bản chất của chủ nghĩa xã hội. Thực ra, kế hoạch và thị trường đều là biện pháp kinh tế, đều là phương pháp phát triển kinh tế, chỉ cần tốt cho phát triển lực lượng sản xuất, chủ nghĩa tư bản có thể sử dụng, chủ nghĩa xã hội cũng có thể sử dụng, chúng đều không thuộc về phạm trù chế độ cơ bản của xã hội. Kinh tế thị trường là một loại cơ chế vận hành, bản thân nó không có phân biệt gì về tính chất chế độ xã hội. Quyết không được đem kinh tế thị trường đánh đồng với chủ nghĩa tư bản, và đem kinh tế kế hoạch đánh đồng với chủ nghĩa xã hội; chủ nghĩa tư bản cũng có kế hoạch, chủ nghĩa xã hội cũng có thị trường. Kinh tế thị trường trong điều kiện xã hội chủ nghĩa không những không giống với kinh tế thị trường của chủ nghĩa tư bản, mà còn không giống với kinh tế kế hoạch của chủ nghĩa xã hội. Những lý lẽ trên, Đảng Cộng sản Liên Xô ngay từ đầu không làm rõ, do đó, mấy lần thực hiện cải cách đều né tránh phát triển kinh tế hàng hóa và lợi dụng cơ chế thị trường, dẫn đến cải cách thất bại.


Ba là, quan hệ giữa chế độ công hữu làm nền tảng và nhiều loại kinh tế cùng tồn tại. Đã từ lâu, Đảng Cộng sản Liên Xô luôn nhấn mạnh chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa đơn nhất, theo đuổi phiến diện "nhất đại nhì công" của chế độ sở hữu tư liệu sản xuất, phủ định tính tất yếu của nền kinh tế với nhiều chế độ sở hữu, từ đó ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế Liên Xô. Tất nhiên, xã hội xã hội chủ nghĩa phải lấy chế độ công hữu làm nền tảng, chế độ sở hữu nhà nước phải trở thành lực lượng chủ đạo của kinh tế xã hội chủ nghĩa và giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm phương hướng xã hội chủ nghĩa và ổn định phát triển kinh tế. Nhưng đồng thời cũng nên căn cứ vào điều kiện lịch sử là lực lượng sản xuất phát triển chưa đủ, cho phép các thành phần kinh tế với chế độ sở hữu khác cùng tồn tại và phát triển, ví dụ cho phép kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh, xí nghiệp góp vốn và xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cùng tồn tại và phát triển. Sự tồn tại và phát triển của chúng là sự bổ sung tất yếu cho nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, sẽ không ảnh hưởng đến điểm cơ bản là lấy kinh tế  công hữu làm chủ thể. Trong điều kiện xã hội chủ nghĩa, hoạt động của chúng chịu sự ràng buộc của toàn bộ môi trường chính trị và kinh tế của nước xã hội chủ nghĩa, sự tồn tại và phát triển của chúng suy cho cùng có lợi cho phát triển lực lượng sản xuất, có lợi cho phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa, cũng có lợi cho tăng cường kinh tế công hữu. Trong điều kiện nhất định, chỉ có cho phép nền kinh tế với nhiều chế độ sở hữu cùng tồn tại, đồng thời bố trí hợp lý hơn nữa, thì mới có thể thúc đẩy sản xuất, phồn vinh kinh tế, khuấy động thị trường cũng như tạo thuận lợi cho cuộc sống người dân. Do vậy, trong một khoảng thời gian tương đối dài, các nước xã hội chủ nghĩa cùng với việc kiên trì lấy chế độ công hữu làm chủ thể và không thực hiện tư hữu hóa, nên cho phép và cổ vũ nền kinh tế với chế độ sở hữu khác cùng tồn tại và phát triển, không nên thực hiện kinh tế chế độ công hữu đơn nhất. Về mặt này, do Đảng Cộng sản Liên Xô đã mắc phải sai lầm lý luận, nên trên thực tế không hề làm như vậy.


Bốn là, quan hệ giữa xây dựng trong nước và mở cửa đối ngoại. Nước Nga Xô viết trong thời kỳ thực hiện "chính sách kinh tế mới", đã từng đưa kỹ thuật và vốn từ nước ngoài vào. Trong giai đoạn từ khi bắt đầu thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (năm 1928), Liên Xô cũng lợi dụng khủng hoảng kinh tế nổ ra ở thế giới tư bản chủ nghĩa, đã đưa hàng loạt kỹ thuật và thiết bị tiên tiến và một phần vốn thông qua vay tín dụng thương mại vào trong nước, thậm chí mời các chuyên gia nước ngoài đến Liên Xô chỉ đạo kỹ thuật, bao gồm giúp đỡ sửa chữa đường sắt Mátxcơva với quy mô lớn. Nhưng nhìn chung, số lượng những việc đó vẫn ít, phạm vi mở cửa đối ngoại không lớn, nguyên nhân của nó ngoài nhận thức chủ quan ra, còn do các nước đế quốc đã phong tỏa về kinh tế đối với Liên Xô. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cùng với sự hình thành lý luận "Chiến tranh lạnh" của phương Tây và sự đối kháng giữa hai phe, điều kiện mở cửa đối ngoại của Liên Xô càng bị hạn chế Đảng Cộng sản Liên Xô một mực kiên trì lý luận "tổng khủng hoảng" tư bản chủ nghĩa và lý luận "cách mạng thế giới", không thực hiện mở cửa đối ngoại, mà đóng cửa lại để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, Xtalin lại đưa ra luận điểm phiến diện "hai thị trường thế giới song song", làm cho hợp tác quốc tế và giao lưu đối ngoại của Liên Xô bó hẹp trong khu vực Đông Âu. Dĩ nhiên, điều này có liên quan rất lớn với tình hình quốc tế lúc đó, bởi vì hai phe chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa đế quốc đối đầu gay gắt, các quốc gia phương Tây thực hiện bao vây cấm vận đối với các nước xã hội chủ nghĩa. Nhưng Liên Xô sau này vẫn khư khư nếp cũ, do đó làm lỡ mất cơ hội lợi dụng các thành quả mới nhất của cách mạng khoa học kỹ thuật thế giới. Thực ra, cùng với sự biến đổi phát triển của tình hình quốc tế, thế giới ngày càng trở thành thế giới mở. Sự phát triển của toàn cầu hóa kinh tế làm cho kinh tế của các nước hình thành cục diện cùng liên kết với nhau, cùng ảnh hưởng lẫn nhau. Sự phát triển của các nước xã hội chủ nghĩa về cơ bản không thể tách rời thế giới, do đó nên coi mở cửa đối ngoại là một quốc sách quan trọng, làm cho kinh tế trong nước và kinh tế quốc tế cùng liên kết, cùng bổ sung cho nhau. Chủ nghĩa tư bản trải qua mấy trăm năm phát triển, tích lũy được kinh nghiệm phong phú, giành được nhiều thành tựu văn minh. Chủ nghĩa xã hội là một chế độ xã hội mới được xây dựng sau, phải nỗ lực học tập, tiếp thu những thành tựu văn minh tiên tiến của xã hội loài người, trong đó có xã hội tư bản chủ nghĩa và kết hợp với thực tiễn của nước mình để tiến hành sáng tạo mới, mới có thể phát triển nhanh được. Các nước xã hội chủ nghĩa nếu tự cô lập, bế quan tỏa cảng, không tăng cường giao lưu quốc tế không đưa các kinh nghiệm quản lý tiên tiến và vốn từ các nước phát triển vào, thì chỉ có thể ngày càng lạc hậu. Thế nhưng Đảng Cộng sản Liên Xô trong thời gian dài chỉ nhìn thấy vế đối lập và đấu tranh giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, không nhìn thấy vế chủ nghĩa xã hội còn phải học tập, tham khảo và tiến hành hợp tác với chủ nghĩa tư bản; chỉ nhấn mạnh phải phê phán chủ nghĩa tư bản mà quên mất còn có thể lợi dựng chủ nghĩa tư bản.


Nhìn chung, Đảng Cộng sản Liên Xô mấy chục năm trở lại đây rơi vào vòng lý luận sai lầm, luôn luôn xem những thứ không thuộc về chủ nghĩa xã hội là đặc trưng bản chất của chủ nghĩa xã hội để kiên trì đi theo, nhưng lại coi những thứ nảy sinh trong đời sống hiện thực liên quan đến bản chất của chủ nghĩa xã hội là phi chủ nghĩa xã hội để phản đối và phê phán. Đây là một bài học rất lớn.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #65 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2022, 07:44:23 am »

4. Cải cách kinh tế và tư hữu hóa

Liên Xô trong một thời gian dài do thực hiện thể chế kinh tế  kế hoạch tập trung cao độ và mô hình tăng trưởng quảng canh, ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển kinh tế. Cho đến giữa những năm 80 của thế kỷ XX, phát triển kinh tế của Liên Xô xuất hiện hiện tượng đình trệ, khoa học kỹ thuật ngày càng lạc hậu so với phương Tây, kinh tế lãng phí nghiêm trọng, địa vị nước lớn của Liên Xô hết sức nguy cấp. Tháng 3 năm 1985, sau khi Gorbachev lên cầm quyền, đã đề ra "chiến lược gia tăng tốc độ phát triển kinh tế xã hội" (gọi tắt là "chiến lược gia tốc") và nhiệm vụ cải cách căn bản thể chế kinh tế. Tháng 2 năm 1986, Đảng Cộng sản Liên Xô triệu tập Đại hội Đảng lần thứ XXVII, đã xác định phương châm "chiến lược gia tốc" của Gorbachev, xác định, nguyên tắc của cải cách kinh tế và nhiệm vụ của cải cách căn bản thể chế kinh tế hiện hành. Cái gọi là ''chiến lược gia tăng tốc độ phát triển kinh tế xã hội", trên thực tế bao gồm hai tầng ý nghĩa: gia tăng tốc độ phát triển kinh tế và gia tăng cải cách thể chế kinh tế. Nhưng "chiến lược gia tốc" đã xa rời khả năng thực tế của Liên Xô, là chủ nghĩa chủ quan. Trên thực tế, thể chế vận hành và kết cấu kinh tế của Liên Xô lúc đó đã là bệnh nặng khó chữa rồi, trên cơ sở này vẫn yêu cầu phát triển tốc độ cao, kết quả là, không những không thể thực hiện được phát triển tốc độ cao, mà còn làm lỡ việc điều chỉnh kết cấu kinh tế không những không giảm, mà ngược lại, tăng thêm khó khăn cho kinh tế đất nước. Cho đến Đại hội XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô tháng 7 năm 1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Ryzhkov khi đánh giá về chiến lược này nói: "Hiện giờ, rất rõ ràng là, chúng ta tuyên bố chiến lược gia tốc trong tình hình bảo lưu kết cấu sản xuất xã hội cũ đã hình thành mấy chục năm rồi, không tính đến tiềm lực của kết cấu sản xuất này đã chết khô, kết cấu này đã trở thành trở ngại", do đó ông tuyên bố "từ bỏ chiến lược gia tốc"1 (Tổng tập văn kiện chủ yếu Đại hội đại biểu lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđd, tr.196).


Cải cách thể chế kinh tế là bộ phận câu thành quan trọng của "chiến lược gia tốc", sau khi Đại hội XXVII Đảng Cộng sản Liên Xô đề ra ý tưởng tổng thể cho cải cách thể chế kinh tế, tháng 6 năm 1987, Đại hội toàn thể Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô tiến hành thảo luận toàn diện và thông qua "Nguyên tắc cơ bản cải cách căn bản thể chế quản lý kinh tế". Trong báo cáo tại Đại hội, Gorbachev nói, phải "nắm và quản lý thị trường một cách có kế hoạch, theo quy luật thị trường", phải "lợi dụng quan hệ tiền hàng trong thể chế quản lý và làm cho nó thống nhất với tính ưu việt của công tác kế hoạch kinh tế quốc dân"2 (Govbachev: Những phát biểu của về cải tổ (6-1986 - 6-1987), Sđd, tr.370). Đại hội đã đề ra phương án cải cách "ba tự một toàn", tức là trong các xí nghiệp quốc doánh thực hiện "tự bù lỗ", "tự tìm vốn", "tự quản lý" và "hạch toán kinh tế toàn diện", thực chất của nó là để các xí nghiệp quốc doanh tự chủ kinh doanh, lời ăn lỗ chịu. Tháng 7 năm đó, Đảng Cộng sản Liên Xô lại xây dựng và thông qua 11 nghị quyết về cải cách thể chế liên quan đến kế hoạch, giá cả, vay vốn, cung ứng vật tư kỹ thuật, hình thành một phương án cải cách kinh tế.


Phương án này vẫn bảo lưu hai nguyên tắc cơ bản: một là, kiên trì chế độ sở hữu nhà nước, trao quyền kinh doanh cho cấp dưới, làm cho các xí nghiệp thực hiện chế độ hạch toán kinh tế hoàn toàn; hai là, kiên trì nguyên tắc quản lý kế hoạch tập trung, chỉ là phải thay đổi phương pháp quản lý kế hoạch, vận dụng nhiều hơn đòn bẩy kinh tế để quản lý kinh tế. Do đó, mô hình mục tiêu của lần cải cách này có thể gọi là ''hoàn thiện kinh tế kế hoạch". Thế nhưng, phương án cải cách của Gorbachev không hề nhận thức được tính khó khăn, tính lâu dài, tính phức tạp của cải cách thể chế truyền thống, ông chỉ nhìn thấy cái lợi trước mắt, nóng vội thành công, hơi một tý là nói đến "cải cách toàn diện", "cải cách căn bản", nhưng trên thực tế vẫn chưa nhìn thấy hiệu quả rõ rệt. Sau này, Gorbachev chuyển trọng điểm cải cách sang lĩnh vực chính trị, làm cho cải cách kinh tế đứng ở vị trí thứ yếu. Tháng 2 năm 1990, trong Dự thảo Cương lĩnh hành động báo cáo lên Đại hội XXVIII của Đảng được Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô thông qua, đã đề ra "tranh thủ xác lập nền kinh tế kế hoạch - thị trường hiệu quả". Nội dung cơ bản của nó là: phát triển nhiều hình thức sở hữu, cho phép chúng cạnh tranh bình đẳng; kết hợp giữa kế hoạch và thị trường để điều tiết kinh tế; thực hiện chế độ giá linh hoạt, kiện toàn cơ chế thị trường... Tháng 3, sau khi Gorbachev trúng cử Tổng thống, Hội đồng Tổng thống và Hội đồng Liên bang quyết định đẩy nhanh tiến trình quá độ lên kinh tế thị trường, và quyết định sửa cách nói "kinh tế kế hoạch - thị trường" thành "kinh tế thị trường có thể điều tiết". Tháng 7 năm đó, Đảng Cộng sản Liên Xô triệu tập Đại hội XXVIII, xác định phương châm quá độ lên kinh tế thị trường. Sau đó, tháng 8 năm 1990, Gorbachev và Yeltsin cùng quyết định ủy thác cho chuyên gia kinh tế, Viện sĩ Shatalin tổ chức xây dựng kế hoạch cụ thể quá độ lên kinh tế thị trường. Nhóm Shatalin trong không đầy một tháng đã hoàn thành công tác khởi thảo, đưa ra phương án "Quá độ lên kinh tế thị trường - ý tưởng và cương lĩnh" (còn gọi là "Phương án Shatalin" hoặc "Kế hoạch 500 ngày"). Phương án chủ trương thực hiện tư hữu hóa (trong Phương án gọi là "phi quốc hữu hóa"), nhào nặn nên chủ thể thị trường, cho rằng thực hiện tư hữu hóa không những đặt nền móng cho việc vận dụng cơ chế thị trường mà còn bảo đảm cho các hoạt động phát triển doanh nghiệp, và trên nền tảng này cải thiện tình hình kinh tế của đất nước, đồng thời quy định trong vòng khoảng 500 ngày hoàn thành quá độ lên kinh tế thị trường. "Phương án Shatalin" trên thực tế là căn bản xóa bỏ cơ sở kinh tế xã hội chủ nghĩa, thay đổi tính chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Sau khi phương án này được công bố đã bị rất nhiều người phê bình, Chính phủ Liên Xô cũng bày tỏ không thể chấp nhận. Mâu thuẫn tranh luận giữa hai bên nghiêm trọng, khó mà hòa giải được. Cuối cùng, Gorbachev tiếp thu chủ trương cơ bản của "Phương án Shatalin", bày tỏ "chúng ta phải thực hiện tư hữu hóa chế độ sở hữu", đồng thời lấy danh nghĩa Tổng thống đề xuất với Xô viết tối cao "Phương châm cơ bản ổn định kinh tế quốc dân và quá độ lên kinh tế thị trường" (gọi là "Phương án Tổng thống"). Ngày 18 tháng 10 năm 1990, Xôviết tối cao thông qua Phương châm cơ bản. Trong Phương châm nói, để hình thành kinh tế thị trường "cần phải giải phóng nhanh nhất phần lớn các xí nghiệp thoát khỏi chế độ nhà nước bao cấp, thực hiện tư hữu hóa"1 (Gorbachev: "Phương châm cơ bản ổn định kinh tế quốc dân và quá độ lên kinh tế thị trường", báo Sự thật, ngày 18 tháng 10 năm 1990). Cũng có thể nói rằng, cần phải xây dựng kinh tế thị trường trên nền tảng chế độ tư hữu. Như vậy phương châm Liên Xô quá độ lên kinh tế thị trường từ lúc đề ra đến xác lập cuối cùng, mất không đến một năm, trong thời gian đó trải qua quá trình từ "kinh tế kế hoạch - thị trường", "kinh tế  thị trường có thể điều tiết" cho đến "kinh tế thị trường". Trong đó, những điều phản ánh không chỉ là sự thay đổi về cách đề cập và tên gọi, quan trọng hơn là tính chất của cải cách có thay đổi, thay đổi từ cải cách kinh tế xã hội chủ nghĩa thành xóa bỏ chế độ cơ bản xã hội chủ nghĩa, về mặt cải cách chế độ sở hữu, xây dựng phương án "kinh tế kế hoạch - thị trường" và "kinh tế thị trường có thể điều tiết", chỉ đề ra phải phát triển nhiều hình thức sở hữu, chủ trương các hình thức sở hữu bình đẳng lẫn nhau; nhưng lại xây dựng "Phương án kinh tế thị trường" (tức "Phương án Shatalin" và "Phương án Tổng thống"), đề xuất rõ ràng thực hiện tư hữu hóa. Hiển nhiên, xây dựng kinh tế thị trường trên nền tảng tư hữu hóa, điều đó có nghĩa là, Liên Xô quá độ lên kinh tế thị trường về thiên hướng chế độ xã hội là mang tính chất tư bản chủ nghĩa. Tư hữu hóa mà Gorbachev chấp nhận, không những đặt nền móng về kinh tế cho chế độ kinh tế tư bản chủ nghĩa của Liên Xô, mà còn đặt nền móng về kinh tế cho những biến đổi mạnh mẽ có tính tai nạn của Liên Xô sau này.


Ngày 1 tháng 7 năm 1991, Xôviết tối cao thông qua "Luật tư hữu hóa". Căn cứ vào sự suy đoán của chính phủ lúc đó: đến cuối năm 1992, những xí nghiệp thuộc liên minh sẽ có 40% - 50% thoát li khỏi sự khống chế của nhà nước, đến năm 1995, con số này sẽ đạt 60% - 70%. Pháp luật quy định, xí nghiệp quốc doanh có thể trở thành xí nghiệp cho thuê hoặc xí nghiệp tập thể, công ty cổ phần, có thể bán đấu thầu hoặc đấu giá1 (Tham khảo Hoàng Hùng, Kỷ Ngọc Tường: Phóng sự 7 năm 'cải tổ' của Liên Xô cũ, Sđd, tr.552). Tháng 7 năm 1991, Gorbachev viết thư cho lãnh đạo bảy nước phương Tây nói, trong hai năm đầu sẽ bán 80% xí nghiệp quy mô vừa và nhỏ cho tư nhân, sau đó, sẽ thực hiện kinh doanh tư nhân các xí nghiệp quy mô lớn1 (Tham khảo Giang Lưu, Trần Chi Hoa: Suy nghĩ về lịch sử diễn biến của Liên Xô, Nxb. Khoa học xã hội Trung Quốc, 1994, tr.106). Có thể thấy rằng, nêu Liên Xô không sụp đổ, tiến trình "phi quốc hữu hóa" và "tư hữu hóa" do Gorbachev thực hiện cũng sẽ tiếp tục, chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa sẽ nhanh chóng thay thế chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa tư bản sống lại là xu thế tất yếu.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #66 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2022, 07:35:47 am »

VI. VẤN ĐỀ THỜI ĐẠI, ĐẶC TRƯNG THỜI ĐẠI VÀ QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI

Vấn đề thời đại liên quan đến chính đảng giai cấp vô sản có thể nắm vững được phương hướng phát triển của thế giới và điều kiện môi trường trong và ngoài nước mà mình đang gặp phải hay không, liên quan đến có chế định được chiến lược và sách lược phát triển cách mạng và xây dựng, cũng như chính sách trong và ngoài nước hay không. Lênin nói, chỉ có "trước hết nên cân nhắc đến những đặc trưng cơ bản khác nhau của những thời đại khác nhau (chứ không phải những sự kiện lịch sử cá biệt ở những quốc gia cá biệt), chúng ta mới có thể xây dựng đúng đắn sách lược của mình; chỉ có hiểu được đặc trưng cơ bản của một thời đại nào đó, thì mới có thể trên cơ sở đó tính đến những đặc điểm cụ thể hơn của quốc gia này hay quốc gia kia"2 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.26, tr.143). Thời đại là một quá trình lịch sử, không phải là bất biến, mà là một quá trình vô cùng phức tạp và không ngừng biến đổi, phát triển. Trong quá trình lịch sử, có thế xuất hiện nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, trong mỗi một giai đoạn, một số mâu thuẫn cơ bản quyết định tính chất và đặc trưng cơ bản của thời đại vẫn tồn tại, nhưng hình thức biểu hiện của một số mâu thuẫn này, quan hệ lẫn nhau giữa chúng và mâu thuẫn chủ yếu giữ vai trò chủ đạo đều có thể thay đổi, do đó nội hàm của thời đại có thể phát triển, chủ đề của thời đại có thể thay đổi. Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, bởi vì xuất hiện và phát triển sự độc quyền, thế giới từ thời đại chủ nghĩa tư bản tự do bước vào thời đại chủ nghĩa đế quốc. Sau đó, nửa đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản ở vào giai đoạn biến động lớn, trải qua hai cuộc chiến tranh thế giới, chiến tranh dẫn đến cách mạng, chiến tranh và cách mạng đan xen nhau tạo nên chủ đề của thời đại. Nửa cuối thế kỷ XX, tình hình thế giới có biến đổi mới, triển khai cách mạng khoa học kỹ thuật mới, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển; kết cấu kinh tế tư bản chủ nghĩa có nhiều biến đổi lớn, năng lực tự điều tiết được tăng cường; thực lực kinh tế và thực lực tổng hợp trở thành điều kiện quan trọng nhất giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh giữa các nước lớn, chạy đua vũ trang và đe dọa chiến tranh trở thành nhân tố ràng buộc lớn nhất cho phát triển của thế giới, đặc biệt là phát triển kinh tế tranh thủ và gìn giữ hòa bình trở thành yêu cầu chung của đông đảo các quốc gia và các tầng lớp trong xã hội, đã cho thấy rõ nhân tố chiến tranh và cách mạng dần dần suy yếu, hòa bình và phát triển dần nâng lên thành chủ đề của thời đại. Trong tình hình này, bất kỳ một quốc gia và dân tộc nào cũng đều phải dốc hết sức để thích ứng và thỏa mãn với các cơ hội và thách thức do thay đổi này mang đến, nếu không thì sẽ không theo kịp bước tiến của thời đại, lạc hậu với trào lưu phát triển của lịch sử.


Đảng Cộng sản Liên Xô cũng trải qua một quá trình quanh co trong vấn đề thời đại, đặc trưng thời đại và quan hệ đối ngoại. Đảng Bônsêvích với Lênin là đại diện đã nghiên cứu và phân tích sâu sắc về thời đại đế quốc chủ nghĩa, rút ra một loạt các kết luận quan trọng, cung cấp một cơ sở lý luận vững chắc cho việc xây dựng phương châm chiến lược đối nội và đối ngoại đúng đắn, mặc dù trong khi thực hiện có xuất hiện khác biệt nhưng đã kịp thời sửa chữa. Trong một thời gian dài, Đảng Cộng sản Liên Xô kiên trì lý luận "tổng khủng hoảng tư bản chủ nghĩa", từ đầu đến cuối coi chiến tranh và cách mạng là trào lưu chủ yếu của thế giới, vẫn chưa kịp thời điều chỉnh chiến lược đối ngoại phù hợp với thay đổi của đặc trưng thời đại và sự chuyển biến của chủ đề thời đại. Gorbachev đề ra "tư duy mới" trong quan hệ đối ngoại, nhưng lại đi theo một cực đoan khác. Ông bán đứng chiến lược đối ngoại xã hội chủ nghĩa của Liên Xô, thuận theo yêu cầu "diễn biến hòa bình" của thế lực chống chủ nghĩa xã hội ở phương Tây, điều này trở thành một trong những nguyên nhân quan trọng cuối cùng dẫn đến Liên Xô mất Đảng, mất nước.


1. Thời đại đế quốc chủ nghĩa và thuyết "cách mạng thế giới"

Sau khi Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra năm 1914, phong trào cách mạng vô sản phải cấp thiết trả lời một loạt các vấn đề mới của thời đại đế quốc chủ nghĩa, đặc biệt là các vấn đề chiến tranh, hòa bình và cách mạng. Lênin đã nghiên cứu hệ thống và trình bày toàn diện về vấn đề này. Lấy tác phẩm Chủ nghĩa đế quốc - giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản của Lênin xuất bản năm 1916 làm tiêu chí, hình thành nên lý luận Mác - Lênin về chủ nghĩa đế quốc và thời đại đế quốc chủ nghĩa. Lênin phân tích kỹ lưỡng đặc trưng cơ bản của thời đại đế quốc chủ nghĩa, đồng thời chỉ ra rằng, thời đại đế quốc chủ nghĩa là thời đại lớn trong lịch sử, cả quá trình phát triển của thời đại đế quốc chủ nghĩa không phải một đường thẳng, mà là phát triển theo hình sóng, có tính phức tạp và tính quanh co. Lênin nói: "Ở đây là nói đến thời đại lịch sử lớn. Mỗi một thời đại đều có, mà nhìn chung sẽ có, những sự vận động cá biệt, cục bộ, có lúc tiến, có lúc lùi; đều có, mà nhìn chung sẽ có, tình trạng vận động lệch hướng với hình thức thông thường và tốc độ thông thường"1 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.26, tr.143). Trong cuốn sách này và các tác phẩm khác của ông, Lênin đã trả lời một loạt câu hỏi về thời đại đế quốc chủ nghĩa và cách mạng thế giới, hơn nữa chỉ đạo Đảng Bônsêvích giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Mười Nga và củng cố chính quyền Xôviết.


Lênin cho rằng, chủ nghĩa đế quốc là chủ nghĩa tư bản độc quyền, ký sinh hoặc hủ bại, giãy chết. Nhìn từ góc độ thay đổi hình thái xã hội, chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản, là giai đoạn lịch sử mà chủ nghĩa tư bản quá độ sang chủ nghĩa xã hội. Dưới sự ảnh hưởng bởi áp lực trong và ngoài nước, chủ nghĩa tư bản độc quyền sẽ là sự chuẩn bị vật chất đầy đủ nhất chuyển sang chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước, là giai đoạn trước của chủ nghĩa xã hội, do đó, điều kiện vật chất cho cách mạng xã hội chủ nghĩa thời kỳ đế quốc chủ nghĩa đã chín muồi. Lênin cho rằng, sau khi bước vào thời đại đế quốc chủ nghĩa, giai cấp tư sản từ giai cấp đi lên, tiên tiến trở thành giai cấp đi xuống, suy đồi, chết từ bên trong, phản động, như vậy tất nhiên làm cho mâu thuẫn của nước đó đạt đến mức độ gay gắt. Ngoài ra, đặc trưng quan trọng của chủ nghĩa đế quốc là nguồn vốn xuất ra nhiều, đồng thời dẫn đến các cường quốc tư bản chủ nghĩa lớn hoàn tất phân chia thế giới, do đó, sự tranh giành giữa các đế quốc nhằm cướp đoạt và phân chia thuộc địa, tranh giành bá quyền thế giới là điều không thể tránh khỏi, dẫn đến mâu thuẫn bên ngoài trở nên gay gắt, chiến tranh không thể tránh khỏi, chiến tranh sẽ dẫn đến cách mạng. Do đó, điều kiện cách mạng giai cấp vô sản thế giới trong thời đại đế quốc chủ nghĩa đã chín muồi, "chủ nghĩa đế quốc là đêm trước của cách mạng vô sản"1 (Lênin: Tuyển tập, Sđd, q.2, tr.582).


Đồng thời, Lênin căn cứ vào tình hình thực tế của các cường quốc tư bản chủ nghĩa trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, đã khái quát tư tưởng của Mác - Ăngghen về sự phát triển chính trị, kinh tế không cân bằng của chủ nghĩa tư bản thành quy luật không cân bằng và rút ra kết luận: cách mạng vô sản thời đại đế quốc chủ nghĩa không thể đồng thời nổ ra và giành được thắng lợi ở tất cả các nước, cho rằng nó trước tiên sẽ giành được thắng lợi ở một nước hoặc một vài nước. Chính dưới sự chí đạo của "thuyết thắng lợi ở một nước", Đảng Bônsêvích đã lãnh đạo Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga giành thắng lợi.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #67 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2022, 07:36:43 am »

Trong mối quan hệ giữa cách mạng một nước và cách mạng thế giới, đặc biệt là với cách mạng châu Âu, Lênin trước tiên kiên trì tư tưởng cách mạng Nga là một bộ phận của cách mạng thế giới và cách mạng châu Âu, đồng thời cho rằng, cách mạng Nga tất yếu sẽ thúc đẩy cách mạng thế giới phát triển. Người nói, cách mạng thế giới đã do "người Nga bắt đầu, người Đức, người Pháp, người Anh sẽ hoàn thành, chủ nghĩa xã hội nhất định sẽ thắng lợi"2 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.33, tr.279). Người tin tưởng rằng, không lâu sau Cách mạng Tháng Mười Nga, châu Âu lập tức sẽ xuất hiện cao trào cách mạng. Người xác định coi việc xây dựng "nước cộng hòa Xôviết thế giới", ít nhất là "nước cộng hòa Xôviết châu Âu" là mục tiêu của cách mạng thế giới. Người cho rằng, trong tình hình lúc đó, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng các nước là xây dựng Đảng Cộng sản của các nước, phản đối phe hữu và phe trung của xã hội dân chủ, phát động cách mạng, tranh thủ xây dựng chuyên chính vô sản. Để lãnh đạo cách mạng thế giới, thúc đẩy xây dựng và phát triển Đảng Cộng sản của các nước, tháng 3 năm 1919, Người sáng lập ra Quốc tế Cộng sản. Tại Đại hội đại biểu lần thứ nhất Quốc tế Cộng sản, Người nói: "Thắng lợi của giai cấp vô sản toàn thế giới là có bảo đảm, sự thành lập nước Cộng hòa Xôviết quốc tế là không xa"1 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.35, tr.503). Tháng 5 năm 1919, Người lại chỉ ra: "Cách mạng vô sản thế giới ngày càng gần"2 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.36, tr.378). Tháng 11 Người lại nói: "Cách mạng xã hội hiện giờ ở châu Âu không phải là trưởng thành từng ngày nữa mà là trưởng thành từng giờ, tình hình ở nước Mỹ và nước Anh cũng vậy"3 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.37, tr.318). Hiển nhiên, theo Lênin, thắng lợi của cách mạng thế giới đã ở ngay trước mắt, "thắng lợi trên toàn thế giới của chủ nghĩa cộng sản đã không còn xa nữa"4 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.36, tr.177). Những phán đoán suy luận trên của Lênin không hề ngẫu nhiên. Chiến tranh thế giới thứ nhất từ năm 1914 đến năm 1918 đã bộc lộ đầy đủ mâu thuẫn nội tại và nguy cơ nghiêm trọng của chủ nghĩa tư bản thế giới, tạo điều kiện thuận lợi cho giai cấp vô sản các nước đánh đổ sự thống trị của giai cấp tư sản. Lúc đó, chiến tranh và cách mạng là trào lưu chính của thế giới, phong trào công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ, phong trào độc lập dân tộc ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa lên xuống không ngừng. Cách mạng Tháng Mười Nga trước tiên phá vỡ mắt xích mỏng yếu trong dây chuyền chủ nghĩa đế quốc, giành được thắng lợi vĩ đại. Tiếp theo đó còn có cách mạng Phần Lan và cách mạng Đức năm 1918, cách mạng Hunggari năm 1919 và khởi nghĩa tháng 9 của Bungari, khởi nghĩa tháng 10 ở Hamburg, Đức và khởi nghĩa tháng 11 ở Ba Lan năm 1923. Mặc dù hàng loạt các cuộc cách mạng sau này đều chưa thành công, nhưng tình hình "cách mạng thế giới" không hề hư cấu. Chiến lược "cách mạng thế giới" theo chủ trương của Lênin chủ yếu là "kêu gọi cách mạng" chứ không phải "xuất khẩu cách mạng" vũ lực.


Từ sau khi trình bày đúng đắn về xu thế phát triển của thời đại đế quốc chủ nghĩa, rồi lãnh đạo thành công thắng lợi Cách mạng Tháng Mười Nga, Lênin đã đánh giá quá lạc quan về tình hình cách mạng thế giới, đánh giá không đầy đủ về năng lực tự điều tiết, năng lực phục hồi kinh tế của chủ nghĩa tư bản sau này. Xuất hiện tình hình như vậy trong bối cảnh lịch sử lúc đó là có thể hiểu được. Bất luận do hạn chế về điều kiện lịch sử hay là người lãnh đạo cách mạng đứng trước tình thế cách mạng chưa từng có, nhìn từ góc độ trách nhiệm lịch sử, kêu gọi cách mạng các nước, giành được thắng lợi cách mạng tất cả, thì sự xuất hiện của những vấn đề trên đây là khó tránh khỏi.


Nhưng Lênin vẫn là một nhà lý luận theo chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử vĩ đại, Người đã điều chỉnh thích hợp chiến lược, sách lược của nước Nga Xô viết. Tháng 3 năm 1918, Nga cùng với nước Đức ký "Hòa ước Brest", trong điều kiện hy sinh phần lãnh thổ rộng lớn để giành được thời cơ hòa bình đáng quý. Không lâu sau đó, lại giành được thắng lợi trong chống lại sự can thiệp vũ trang từ bên ngoài. Sau đó, Nga lại kịp thời điều chỉnh chiến lược đối ngoại, chủ động liên lạc với các nước phương Tây, bắt đầu thực thi chính sách ngoại giao hòa bình và đặt trọng điểm chiến lược vào xây dựng trong nước và khôi phục kinh tế. Do đó, nước Nga Xôviết đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hàng loạt nước tư bản chủ nghĩa, đồng thời tăng cường liên hệ kinh tế với nhau, bắt đầu bước vào thời kỳ mới "chung sống hòa bình" với các nước tư bản chủ nghĩa. Lịch sử chứng minh, sự chuyển biến chiến lược này của nước Nga Xô viết là đúng đắn.


Trên cơ sở quan điểm "thời đại đế quốc chủ nghĩa" của Lênin, Xtalin đã nêu ra quan điểm "thời đại đế quốc chủ nghĩa và cách mạng vô sản", ông cho rằng, Cách mạng Tháng Mười Nga là mở đầu cho thời đại đế quốc chủ nghĩa và cách mạng vô sản, "chủ nghĩa Lênin là chủ nghĩa Mác của thời đại đế quốc chủ nghĩa và cách mạng vô sản". Sau khi Xtalin lên cầm quyền, đã kế thừa chiến lược đối nội và đối ngoại của Lênin. Lúc đó, Liên Xô tập trung lực lượng tiến hành cách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội trong nước, thực hiện chiến lược "vượt lên", phát triển kinh tế quốc dân với tốc độ cao. Về mặt quan hệ đối ngoại, Liên Xô cũng lựa chọn thái độ thiết thực, tranh thủ cải thiện quan hệ với các nước tư bản chủ nghĩa, thiết lập quan hệ ngoại giao bình thường. Đến năm 1925, ngoài nước Mỹ, các nước tư bản chủ nghĩa lớn trên thế giới đều công nhận Liên Xô. Năm 1933, nước Mỹ cũng thay đổi chính sách kiềm chế, thiết lập quan hệ ngoại giao với Liên Xô. Liên Xô bước trên con đường "chung sống hòa bình" với các nước tư bản chủ nghĩa.


Đồng thời, Xtalin vẫn kiên trì mục tiêu chiến lược "cách mạng thế giới". Tháng 4 năm 1924, Xtalin nhấn mạnh phải "giành được thắng lợi hoàn toàn tức thắng lợi cuối cùng của chủ nghĩa xã hội", "chỉ dựa vào lực lượng của một quốc gia" là không được, "ít nhất phải có thắng lợi cách mạng trong vài nước"; do đó, "cách mạng giành được thắng lợi ở một nước không nên xem mình là độc lập tự tại, mà nên xem là trợ lực và công cụ để tăng tốc thắng lợi của giai cấp vô sản các nước khác"; nhiệm vụ trọng đại của Liên Xô là phải "phát triển và viện trợ cách mạng nước khác"1 (Xtalin: Toàn tập, Sđd, q.6, tr.95). Nên thừa nhận rằng, Xtalin đã có cống hiến to lớn trong việc thúc đẩy và chi viện cho cách mạng các nước.


Nhưng trong khi thực hiện chiến lược "cách mạng thế giới"', Xtalin cũng đã mắc phải sai lầm, chủ yếu là sai lầm chủ nghĩa đảng lớn và chủ nghĩa sôvanh nước lớn. Bởi vì lúc đó Liên Xô là nước xã hội chủ nghĩa duy nhất trên thế giới, rất dễ coi kinh nghiệm của một nước là quy luật phổ biến của chủ nghĩa xã hội. Xtalin giải thích máy móc về kinh nghiệm lịch sử của cách mạng Nga và Đảng Cộng sản Liên Xô, nâng một số nguyên tắc mà nước Nga giành được thắng lợi cách mạng trong điều kiện lịch sử đặc biệt thành quy luật phổ biến, cho rằng con đường mà Liên Xô đi qua cũng đương nhiên là con đường mà các nước khác phải đi. Liên Xô trở thành từ đồng nghĩa của chủ nghĩa xã hội, sách lược lý luận của Đảng Cộng sản Liên Xô trở thành chân lý đúng với tất cả các nước. Cùng với sự mở rộng nhận thức này, Đảng Cộng sản Liên Xô trở thành hóa thân của chân lý, từ đó trở thành đảng anh cả, bất kỳ đảng nào khác đều phải nghe theo. Ví dụ, Đảng Cộng sản Liên Xô lợi dụng vai trò đặc biệt của mình trong Quốc tế Cộng sản, thông qua Quốc tế Cộng sản để kiểm soát các đảng khác, trên thực tế hình thành quan hệ lãnh đạo và bị lãnh đạo, chế độ tập trung dân chủ trên thực tế bị chế độ tập quyền cao độ thay thế, quan hệ đảng thông thường và nguyên tắc quốc tế chủ nghĩa bị phá hoại trói buộc sức sống của các đảng các nước. Sau này, Xtalin cũng có nhận thức về vấn đề này, do đó đồng ý và thúc đẩy giải tán Quốc tế Cộng sản. Đêm ngày 20 tháng 4 năm 1941, khi hội kiến với lãnh đạo Đảng, chính quyền, quân đội Liên Xô như Molotov, Kalinin, Voroshilov, Mikoyan và Chủ tịch Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản Dimitrov, Xtalin nói: "Quốc tế Cộng sản không cần thiết phải tiếp tục tồn tại"; "Đảng Cộng sản các nước phải trở thành Đảng hoàn toàn độc lập, chứ không phải chi bộ dưới Quốc tế Cộng sản". Ngày 21 tháng 5 năm 1943, trong Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang, Xtalin lại nói: Kinh nghiệm cho thấy, bất luận trong thời đại Mác, Lênin hay là hiện tại, từ một trung tâm quốc tế lãnh đạo phong trào công nhân của các nước trên thế giới là không thể được"1 (Tham khảo Lý Đông Lãng: "Xtalin và sự giải tán của Quốc tế Cộng sản", Bách niên triều, kỳ 7 năm 2003). Đây là một nhận thức tỉnh táo và đáng quý. Thế nhưng, nhận thức được điều này và quán triệt điều này trên thực tế lại là hai việc khác nhau. Đêm trước của Chiến tranh thế giới thứ hai, để tăng cường quốc phòng, bảo vệ thành quả xã hội chủ nghĩa của Liên Xô, Liên Xô tăng cường thực hiện thay đổi biên giới bên ngoài, mở rộng diện tích lãnh thổ, từ năm 1939 đến năm 1940, liên tục chiếm lĩnh các vùng Tây Bêlarút, Tây Ucraina của Ba Lan, Bessarabia của Rumani và một bộ phận lãnh thổ của Phần Lan, đồng thời nhập ba nước Lítva, Látvia, Extônia vào bản đồ Liên Xô. Sau chiến tranh, Đảng Cộng sản Liên Xô lại dựa vào "Cục Tình báo Đảng Cộng sản và Đảng Công nhân" để kiểm soát các đảng anh em ở Trung và Đông Âu, mở rộng mô hình Liên Xô, nếu không nghe theo thì sẽ "bị nguyền rủa". Điều này trên thực tế là lặp lại khuynh hướng sai lầm thời kỳ "Quốc tế Cộng sản". Việc phát động phong trào phê phán Nam Tư, phê phán Tito, đồng thời khai trừ Đảng Cộng sản Nam Tư ra khỏi Cục Tình báo năm 1948, là một biểu hiện nổi bật. Tất cả những điều này đều đi ngược lại chân lý mà Xtalin nhận thức, đem lại nguy hại nghiêm trọng cho phong trào cộng sản quốc tế và cách mạng thế giới.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #68 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2022, 07:38:33 am »

2. "Thuyết tổng khủng hoảng tư bản chủ nghĩa" và ảnh hưởng của nó

Xtalin đã phát huy thêm một bước "thuyết chủ nghĩa đế quốc" của Lênin, nêu ra "thuyết tổng khủng hoảng tư bản chủ nghĩa", thể hiện rõ hơn thời đại đế quốc chủ nghĩa là thời đại cách mạng vô sản. Thuyết tổng khủng hoảng tư bản chủ nghĩa nhằm vào "thuyết chủ nghĩa tư bản ổn định" được nêu ra vào thời kỳ giữa và cuối những năm 1920, khi các nước tư bản chủ nghĩa tương đối phồn vinh về kinh tế, tương đối ổn định về chính trị. Xtalin cho rằng: "Thành tựu của tư bản là không vững chắc, trong tiến trình chủ nghĩa tư bản "khôi phục sức khỏe" ẩn chứa tiền đề yếu kém, hủ bại và tan rã trong nội bộ"1 (Xtalin: Toàn tập, Sđd, q.7, tr.47). Loại ổn định này của chủ nghĩa tư bản là "ổn định cục bộ hay ổn định tạm thời"2 (Xtalin: Toàn tập, Sđd, q.7, tr.219). Trong ổn định này có ẩn chứa nguy cơ mới. Trong báo cáo tại Đại hội lần thứ XV Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang năm 1927, ông đã chỉ ra rằng: "Chính trong tình hình này đã nảy sinh khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản thế giới sâu sắc nhất, gay gắt nhất, khủng hoảng này thai nghén một cuộc chiến tranh mới và đe dọa sự tồn tại của ổn định"3 (Xtalin: Toàn tập, Sđđ, q.10, tr.234). Tiếp đó, tháng 12 năm 1928, Xtalin khẳng định rõ ràng kết luận của Đại hội VI Quốc tế Cộng sản: "Thời kỳ này tất yếu sẽ trải qua sự phát triển hơn nữa mâu thuẫn trong bản thân ổn định của chủ nghĩa tư bản chuyển sang sự lung lay trong ổn định của chủ nghĩa tư bản và tới mức gay gắt của tổng khủng hoảng tư bản chủ nghĩa"4 (Xtalin: Toàn tập, Sđd, q.11, tr.255). Đây là lần đầu tiên ông nhắc đến khái niệm "tổng khủng hoảng tư bản chủ nghĩa". Cùng với cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới của chủ nghĩa tư bản những năm 1930, Xtalin tăng cường nhận thức: đối với tổng khủng hoảng tư bản chủ nghĩa, tiến hành hệ thống hóa, lý luận hóa tư tưởng tổng khủng hoảng tư bản chủ nghĩa. Thuyết tổng khủng hoảng tư bản chủ nghĩa có ảnh hưởng lớn đối với chiến lược đối ngoại của Liên Xô.


Xtalin nhấn mạnh, tổng khủng hoảng tư bản chủ nghĩa không phải chỉ là hiện tượng riêng ở một quốc gia tư bản chủ nghĩa cá biệt, cũng không phải khủng hoảng kinh tế hay khủng hoảng chính trị cụ thể nào đó của chủ nghĩa tư bản đang phát triển, mà là khủng hoảng toàn diện sâu sắc, không thể khắc phục được trong hệ thống tư bản chủ nghĩa thế giới. Nó bao gồm khủng hoảng chính trị, khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng xã hội và từ đó nảy sinh khủng hoảng cách mạng trong hệ thống thực dân đế quốc chủ nghĩa và nội bộ các quốc gia đế quốc chủ nghĩa. Tổng khủng hoảng tư bản chủ nghĩa là tiến trình lịch sử do nền kinh tế chính trị của chủ nghĩa tư bản phát triển không cân đối dẫn đến mâu thuẫn gay gắt trong thế giới tư bản chủ nghĩa, dẫn đến cách mạng thế giới và chiến tranh. Khủng hoảng kinh tế của chủ nghĩa tư bản là căn nguyên và cơ sở của tống khủng hoảng. Chiến tranh đế quốc chủ nghĩa và cách mạng vô sản là kết quả tất yếu của sự phát triển tổng khủng hoảng. Xtalin cho rằng, "tổng khủng hoảng tư bản chủ nghĩa, có thể phân làm hai giai đoạn: bắt đầu từ Chiến tranh thế giới thứ nhất đến trước Chiến tranh thế giới thứ hai là giai đoạn thứ nhất, kết quả của tổng khủng hoảng giai đoạn này là nước Nga tách ra khỏi hệ thống kinh tế - chính trị thế giới tư bản chủ nghĩa, xây dựng một nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên, mở đầu một thời đại mới cách mạng vô sản thế giới; từ giai đoạn đầu sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đặc biệt là từ sau khi các quốc gia dân chủ nhân dân ở các nước châu Á, châu Âu tách ra khỏi hệ thống tư bản chủ nghĩa, là bắt đầu giai đoạn hai của tổng khủng hoảng tư bản chủ nghĩa. Trong giai đoạn hai này, các nước xã hội chủ nghĩa ở châu Á, châu Âu ra đời sau chiến tranh và Liên Xô liên kết thành phe xã hội chủ nghĩa đối lập với phe tư bản chủ nghĩa, "tình hình này quyết định tổng khủng hoảng của hệ thống tư bản chủ nghĩa thế giới sâu sắc hơn"1 (Xtalin tuyển tập (1934-1952), Sđd, tr.593, 616). Xtalin cho rằng, khủng hoảng của hai giai đoạn này không phải là khủng hoảng tồn tại biệt lập mà là hai giai đoạn phát triển tất yếu có tính liên tục. Thời kỳ tổng khủng hoảng tư bản chủ nghĩa là thời kỳ lịch sử quan trọng trong phát triển chính trị quốc tế, là thời kỳ mà kinh tế chính trị tư bản chủ nghĩa phát triển không cân đối dẫn đến các loại mâu thuẫn ngày càng gay gắt, là thời kỳ mà tính ký sinh, tính hủ bại của chủ nghĩa tư bản ngày càng bộc lộ ra ngoài, là thời kỳ lịch sử mà chế độ tư bản chủ nghĩa diệt vong nhanh chóng và hệ thống tư bản chủ nghĩa đối mặt với sự sụp đổ. Do đó, các nước xã hội chủ nghĩa phải lấy Liên Xô làm trung tâm, liên hợp nhân dân các nước tạo thành phe chống lại chủ nghĩa đế quốc, đồng thời đối đầu, đối kháng với phe đế quốc chủ nghĩa do Mỹ làm trung tâm; đồng thời, Liên Xô và các nưởc xã hội chủ nghĩa khác phải ủng hộ mạnh mẽ cho đảng cộng sản ở các nước tư bản chủ nghĩa, chờ đợi thời cơ lật đổ chủ nghĩa tư bản. Đồng thời, Xtalin lại đưa ra luận điểm "hai thị trường thế giới song song". Ông nói: "Hậu quả kinh tế mà hai phe đối lập tồn tại gây ra là thị trường thế giới thống nhất đã giải tán, do đó hiện tại có hai thị trường thế giới đối lập với nhau tồn tại song song"1 (Xtalin tuyển tập (1934-1952), Sđd, tr.594). Xtalin gọi hợp tác kinh tế khu vực giữa các nước xã hội chủ nghĩa lúc đó là "thị trường thế giới", đồng thời đem nó "đối lập" với thị trường thế giới của chủ nghĩa tư bản, từ đó ảnh hưởng đến sự phát triển hơn nữa của kinh tế Liên Xô.


Khrushchev đã vứt bỏ nguyên tắc chủ nghĩa xã hội khoa học mà Xtalin đã kiên trì theo đuối, nhưng lại kế thừa lý luận "tổng khủng hoảng" của Xtalin. Ông cho rằng, nửa cuối của những năm 1950, so sánh lực lượng có sự thay đổi có lợi cho chủ nghĩa xã hội, "tổng khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản" bước vào giai đoạn thứ ba. Đặc trưng chủ yếu của nó là khủng hoảng lần này không phải xảy ra trong tình hình chiến tranh thế giới, mà phát sinh trong điều kiện môi trường hòa bình và sự đối kháng lẫn nhau của hai hệ thống đối lập1 (A. Anikir: Lịch sử ngoại giao, Hiệu sách tam liên Đời sống - Đọc sách - Tri thức mới, 1983, q.5, tr.24; chuyển dẫn "Sự sụp đổ của siêu cường - phân tích nguyên nhân Liên Xô sụp đổ", Nxb. Văn hiến Khoa học xã hội, 2001, tr.175).


Brezhnev tiếp tục kiên trì lý luận "tổng khủng hoảng". Tại các đại hội đại biểu của Đảng ông đều nói "tổng khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản". Năm 1966, trong báo cáo tại Đại hội lần thứ XXIII Đảng Cộng sản Liên Xô Brezhnev nói, đặc điểm tình hình quốc tế lúc này là "tổng khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản tiếp tục trầm trọng và sâu sắc"2 (Tổng tập văn kiện chủ yếu Đại hội đại biểu lần thứ XXIII Đảng Cộng sản Liên Xô, Hiệu sách tam liên Đời sống - Đọc sách - Tri thức mới, 1978, tr.11). Năm 1971, trong báo cáo tại Đại hội lần thứ XXIV Đảng Cộng sản Liên Xô, ông nói: "Tổng khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản đang tiếp tục sâu sắc"3 (Tổng tập văn kiện chủ yếu Đại hội đại biểu lần thứ XXIV Đảng Cộng sản Liên Xô, Hiệu sách tam liên Đời sống - Đọc sách - Tri thức mới, 1976, tr.30). Năm 1976, trong báo cáo tại Đại hội lần thứ XXV Đảng Cộng sản Liên Xô, ông nói: "Những năm gần đây, thế giới tư bản chủ nghĩa đã nổ ra khủng hoảng kinh tế... độ gay gắt và độ sâu của cuộc khủng hoảng này chỉ có thể so sánh được với cuộc khủng hoảng đầu những năm 1930"4 (Tổng tập văn kiện chủ yếu Đại hội đại biểu lần thứ XXV Đảng Cộng sản Liên Xô, Hiệu sách tam liên Đời sống - Đọc sách - Tri thức mới, 1977, tr.42). Năm 1981, trong báo cáo tại Đại hội lần thứ XXVI Đảng Cộng sản Liên Xô Brezhnev còn nói: "Trong những năm gần đây, tổng khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản càng nghiêm trọng hơn", "nó đang phải chịu đựng suy thoái kinh tế lần thứ ba trong 10 năm trở lại đây"5 (Tổng tập văn kiện chủ yếu Đại hội đại biểu lần thứ XXVI Đảng Cộng sản Liên Xô, Hiệu sách tam liên Đời sống - Đọc sách - Tri thức mới, 1982, tr.28).


Thuyết tổng khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản, từ những năm 1930 đến đầu những năm 1950, đóng vai trò tích cực trong việc củng cố Liên Xô, xây dựng và bảo vệ phe xã hội chủ nghĩa. Thế nhưng thuyết tổng khủng hoảng của tư bản chủ nghĩa có tính phiến diện cực lớn và rõ ràng. Thứ nhất, nó coi nhẹ tính khúc khuỷu của sự phát triển của khủng hoảng chủ nghĩa tư bản. Mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của sản xuất và sự chiếm hữu tư nhân tư liệu sản xuất là mâu thuẫn cơ bản trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, mâu thuẫn này trong một điều kiện nhất định, tất yếu sẽ dẫn đến khủng hoảng kinh tế. Nhưng khủng hoảng này không phát triển theo đường thẳng mà phát triển quanh co và theo hình sóng. Trong điều kiện nhất định, mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản có thể được hóa giải, lực lượng sản xuất có thể phát triển. Thuyết tổng khùng hoảng một mực khẳng định khủng hoảng tư bản chủ nghĩa không ngừng sâu sắc và nghiêm trọng hơn, hiển nhiên không phù hợp với thực tế khách quan của sự phát triển của chủ nghĩa tư bản. Thứ hai, nó chưa đánh giá đầy đủ về việc sự phát triển sâu sắc của cách mạng khoa học kỹ thuật sau chiến tranh đã thúc đẩy lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển nhanh chóng và xu thế phát triển của toàn cầu hóa kinh tế. Thuyết tổng khủng hoảng chỉ nói đến mâu thuẫn và khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản thế giới, quên mất nó vẫn còn khả năng tự điều tiết và sức sống nhầt định. Thứ ba, thuyết tổng khủng hoảng đã coi nhẹ và sổ toẹt thời đại là một quá trình lịch sử vô cùng phức tạp không ngừng phát triển và thay đổi, không nhìn ra được sự thay đổi của đặc trung thời đại và tình hình quốc tế cũng như sự chuyển đổi của chủ đề thời đại, khư khư thuyết "không thể tránh khỏi chiến tranh", "hai thị trường thế giới song song", căn bản không xét tới chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội có quan hệ vừa đối lập vừa tương hỗ lẫn nhau, có quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau.


Thuyết tổng khủng hoảng tư bản chủ nghĩa trong một thời gian dài là nền tảng lý luận trong chiến lược đối ngoại của Đảng Cộng sản Liên Xô, ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc xây dựng phương châm chính sách đối ngoại đúng đắn của Đảng Cộng sản Liên Xô. Không những Quốc tế Cộng sản trong những năm 1930 dựa vào chỉ đạo của lý luận này, dẫn đến chiến lược, sách lược mang màu sắc "tả" khuynh, gây ảnh hưởng tiêu cực nghiêm trọng cho phong trào cộng sản quốc tế; mà hơn nữa, lý luận này trở thành tư tưởng chỉ đạo trong chính sách đối ngoại của Liên Xô, ảnh hưởng trực tiếp đến sự đánh giá cơ bản đối với tình hình chiến lược quốc tế, đặc biệt là từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đã đánh giá không đầy đủ về tình hình mới, xu thế mới trong sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, trên thực tế là loại bỏ Liên Xô ra khỏi dòng chảy toàn cầu hóa kinh tế  tạo nên cục diện bế quan tỏa cảng, tự mình cô lập với hệ thống kinh tế quốc tế ảnh hưởng tới sự phát triển của kinh tế và nâng cao mức sống của người dân Liên Xô, và cũng gây những ảnh hưởng tiêu cực đối với các nước xã hội chủ nghĩa.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #69 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2022, 07:40:28 am »

3. "Thuyết thời đại mới" và mở rộng tranh bá

Khrushchev cho rằng, tiếp tục khái quát thời đại hiện nay thành thời đại chủ nghĩa đế quốc và cách mạng vô sản đã "không phù hợp với thực tế đương đại"1 (Tham khảo Ngô Lãnh Tây: 10 năm luận chiến, Nxb. Văn hiến Trung ương, 1999, tr.378), và đã đề ra "thuyết thời đại mới", cho rằng "thời đại của chúng ta với nội dung chủ yếu là quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội kể từ Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại, là thời đại đấu tranh giữa hai hệ thống xã hội đối lập nhau, là thời đại cách mạng xã hội chủ nghĩa và cách mạng giải phóng dân tộc, là thời đại chủ nghĩa đế quốc bị sụp đổ và hệ thống chủ nghĩa thực dân bị xóa bỏ, là thời đại mà ngày càng có nhiều người dân đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản giành thắng lợi trên phạm vi toàn thế giới", "trong thời đại ngày nay, nội dung chủ yếu và phương hướng chủ yếu quyết định sự phát triển của lịch sử xã hội loài người đã không còn là chủ nghĩa đế quốc, mà là hệ thống xã hội chủ nghĩa trên toàn thế giới, là tất cả lực lượng tiến bộ chống chủ nghĩa đế quốc, tranh thủ cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với xã hội", "vấn đề căn bản của thời đại ngày nay là tranh thủ giành lấy dân chủ, hòa bình và chủ nghĩa xã hội"1 (Tham khảo Luận bàn về đường lối phong trào cộng sản chủ nghĩa quốc tế, Nxb. Nhân dân, 1965, tr.537-541). Thực ra, "thuyết thời đại mới" này thực chất không hề xa rời luận điểm "chủ nghĩa đế quốc và thời đại cách mạng vô sản", chỉ có điều về mặt biểu đạt có phần hơi lủng củng. Nhưng Khrushchev đã lấy quan điểm thời đại này làm chỉ đạo, đã điều chỉnh chiến lược đối ngoại thời Xtalin, đề ra lý luận "ba hòa", đó là "chung sống hòa bình", "cạnh tranh hòa bình", "quá độ hòa bình", cổ xúy cho việc trong thế giới ngày nay phải tranh thủ thực hiện thế giới "ba không" "không có vũ khí, không có quân đội, không có chiến tranh".


Việc đề ra lý luận "ba hòa", lúc đó tuy có một ý nghĩa tích cực nhất định, nhưng tồn tại những hạn chế và sai lầm nghiêm trọng, có tác dụng tiêu cực rất lớn: một là, mở rộng vô hạn phạm vi thích hợp của "chung sống hòa bình", trói buộc và hạn chế phong trào cách mạng các nước; hai là, đánh giá thấp mức độ gay gắt của mâu thuẫn và đối lập cơ bản của hai hệ thống lớn là chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, có quá nhiều hoang tưởng không thực tế về các nước phương Tây; ba là, quá huênh hoang rằng chiến tranh là có thể tránh được, cho rằng chỉ cần thông qua cắt giảm quân sự toàn diện, triệt để là có thể ngăn chặn được chiến tranh, thực hiện thế giới "ba không".


Dưới sự che đậy của "ba hòa", "ba không", một mặt, Khrushchev cổ xúy hai nước Liên Xô và Mỹ đóng vai trò quyết định trong các công việc quốc tế, ý đồ thực hiện "Liên Xô, Mỹ hợp tác, chi phối thế giới"; mặt khác, lại có ý đồ mở rộng phạm vi thế lực của Liên Xô, tranh giành bá quyền thế giới với Mỹ. Cục diện Liên Xô và Mỹ tranh giành bá quyền bắt đầu từ thời Khrushchev lên cầm quyền. Khrushchev đã từng rêu rao rằng phải "chôn vùi chủ nghĩa tư bản", sau đó lại thừa nhận với nhà tư bản Mỹ "tôi không làm được điều này, chủ nghĩa tư bản quá lớn". Năm 1962, đầu tiên là bí mật vận chuyển tên lửa vào Cu Ba, sau đó, dưới áp lực của Mỹ đã lặng lẽ rút lui tên lửa, làm trò cười cho thế giới.


Nói tóm lại, lý luận "ba hòa" và "ba không" của Khruhchev đã có ảnh hưởng tiêu cực nghiêm trọng đối với lĩnh vực tư tưởng và chiến lược ngoại giao của Liên Xô, sau này trên thực tế trở thành nguồn gốc tư tưởng quan trọng của ngoại giao "tư duy mới" của Gorbachev.


Thời kỳ Brezhnev lên cầm quyền, Đảng Cộng sản Liên Xô tiếp tục cổ xúy "quan điểm thời đại mới", về mặt ngoại giao đưa ra một loạt các quan điểm sai lầm.

Một là, nhấn mạnh thuyết "tiến công" của chủ nghĩa xã hội. Đảng Cộng sản Liên Xô cho rằng, chủ nghĩa tư bản đã thối nát, suy thoái, "thế giới tư bản chủ nghĩa đầy ắp nguy cơ, đã không còn sức lực để tranh đua chính diện với chủ nghĩa xã hội, sợi dây xích của chủ nghĩa đế quốc sắp bị tháo rời từng mắt xích một". Đồng thời, Đảng Cộng sản Liên Xô đánh giá quá cao sức mạnh của Liên Xô, cho rằng, chủ nghĩa xã hội đã chiếm được ưu thế trên thế giới. Tháng 5 năm 1970, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô lúc đó, Grechko, phát biểu: "Trong 25 năm qua, thực lực kinh tế và thực lực chính trị của Liên Xô đã tăng lên gấp nhiều lần", "bây giờ không phải là chủ nghĩa đế quốc, mà là chủ nghĩa xã hội nắm quyền chủ động lịch sử, chủ nghĩa xã hội đang ở vào giai đoạn tiến công trong lịch sử"1 (Tham khảo Chủ nghĩa tư bản ở Liên Xô sống lại (1953-1973), Hiệu sách tam liên Đời sống - Đọc sách - Tri thức mới, 1975, tr.479). Chính dưới sự chỉ đạo của các tư tưởng trên, Liên Xô bề ngoài nhấn mạnh "hòa hoãn", phải thực hiện "chung sống hòa bình" với phương Tây, trên thực tế là gia tăng mở rộng phạm vi thế lực, tranh giành bá quyền thế giới với Mỹ, đồng thời áp dụng tư thái tiến công áp sát từng bước.


Hai là, cổ xúy thuyết "tương quan lợi ích", nhúng tay sâu vào các công việc của thế giới thứ ba. Đảng Cộng sản Liên Xô tuyên bố tình hình ở bất cứ khu vực nào trên thế giới đều "chạm tới lợi ích của Liên Xô", không thể không quan tâm, bất cứ nơi nào trên thế giới, chỉ cần có liên quan tới lợi ích của Liên Xô thì Liên Xô sẽ nhúng tay vào. Trong báo cáo tại Đại hội lần thứ XXV Đảng Cộng sản Liên Xô, Brezhnev tuyên bố: "Hiện nay, trong khi xây dựng chính sách đối ngoại của chúng ta, có lẽ không một tình hình nào ở một góc nào trên trái đất là không suy ngẫm bằng một phương thức nào đó"2 (Tổng tập văn kiện chủ yếu Đại hội đại biểu lần thứ XXV Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđd, tr.14). Chính dưới sự chỉ đạo tư tưởng này, Liên Xô tiến hành gia tăng thẩm thấu vào thế giới thứ ba, thông qua viện trợ kinh tế và viện trợ quân sự, can dự và nhúng tay vào công việc của các khu vực trên. Những năm 70 của thế kỷ XX, Liên Xô phái những nhân viên quân sự vào nội chiến ở Ănggôla, chỉ huy Cuba vào Êtiôpia xung đột biên giới với Xômali, cuối cùng điều động 80.000 quân trực tiếp xâm nhập và chiếm Ápganixtan. Cho đến năm 1983, Liên Xô đã lập được 31 cơ sở hải quân, không quân ở khu vực thế giới thứ ba3 (Tham khảo Giang Lưu, Trần Chi Hoa: Suy ngẫm lịch sử diễn biến Liên Xô, Nxb. Khoa học xã hội Trung Quốc, 1994, tr.344; Trần Chi Hoa: Liên Xô thời kỳ Brezhnev, Nxb. Khoa học xã hội Trung Quốc, 1998, tr.307). Tất cả những điều này đều là những điểm quan trọng để Liên Xô thực hiện chiến lược "mở rộng ra ngoài" của mình.


Ba là, đề ra thuyết "đại gia đình xã hội chủ nghĩa", nhằm khống chế các quốc gia Trung và Đông Âu. Liên Xô coi các quốc gia Trung và Đông Âu thuộc phạm vi thế lực của mình, đồng thời gia tăng khống chế, với mưu đồ lấy đây làm chỗ dựa, thực hiện chiến lược "mở rộng tranh bá", đưa ra "chủ nghĩa Brezhnev", trong đó vừa bao gồm thuyết "đại gia đình xã hội chủ nghĩa", vừa bao gồm thuyết "chủ quyền có hạn", thuyết "quy luật phổ biến", thuyết "chuyên chính quốc tế". Ví dụ báo Sự thật - tờ báo của Cơ quan Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô lúc đó đăng bài nói: "Mỗi một Đảng Cộng sản không những chịu trách nhiệm về nhân dân của nước mình, mà còn phải chịu trách nhiệm với tất cả các nước xã hội chủ nghĩa, với toàn bộ phong trào cộng sản"; "chủ quyền của mỗi quốc gia xã hội chủ nghĩa không thể đối lập với lợi ích của thế giới xã hội chủ nghĩa, với lợi ích của phong trào cách mạng thế giới"1 ("Chủ quyền của nước xã hội chủ nghĩa và nghĩa vụ của chủ nghĩa quốc tế", báo Sự thật, ngày 26 tháng 9 năm 1968). Điều này có nghĩa là, Đảng Cộng sản Liên Xô cho rằng "lợi ích của đại gia đình xã hội chủ nghĩa" là "chủ quyền tối cao", mà chủ quyền của một nước là có hạn. Lại ví dụ, Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô lúc đó Mazurov nói, "sự phát triển của lịch sử" đề ra nhiệm vụ biến "chuyên chính của một nước" thành "chuyên chính quốc tế", "đấy là bản thân cuộc sống" đề ra "yêu cầu nhiệm vụ chung"2 (Báo cáo chúc mừng Cách mạng Tháng Mười Nga của Mazurov, ngày 6 tháng 11 năm 1968; tham khảo Hạ Ích Hiên: Lịch sử ngoại giao Trung Quốc - thời kỳ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Nxb. Nhân dân Hà Nam, 1988, tr.363-364). Điều này có nghĩa là, ai đi ngược lại "quy luật phổ biến" mà Đảng Cộng sản Liên Xô đã xác định thì Liên Xô sẽ thực hiện "chuyên chính quốc tế" với người đó. Lại lấy ví dụ, tại Đại hội lần thứ XXIV Đảng Cộng sản Liên Xô, Brezhnev khi nhắc tới việc đưa quân sang Tiệp Khắc có nói: "Biên giới của đại gia đình xã hội chủ nghĩa là không thể phá hỏng và không thể bị lay chuyển"1 (Tổng tập văn kiện chủ yếu Đại hội đại biểu lần thứ XXIV Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđd, tr.27-28). Điều này có nghĩa là, Liên Xô cho rằng các nước anh em thuộc vào bên trong biên giới của "đại gia đình xã hội chủ nghĩa", tự mình có quyền sử dụng vũ lực.


Trong thời kỳ Brezhnev, Đảng Cộng sản Liên Xô một mực thực hiện chiến lược mở rộng tranh bá, đến đâu cũng nhúng tay vào, mở rộng pham vi thế lực, gấp rút chạy đua vũ trang, tranh giành bá quyền thế giới với Mỹ. Những năm 1970, chi phí cho quân đội của Liên Xô liên tục gia tăng với biên độ lớn, năm 1971 là 74 tỷ USD, năm 1973 tăng đến 86 tỷ USD, năm 1975 lại tăng lên đến 102,3 tỷ USD. Thực lực kinh tế của Liên Xô kém xa Mỹ, nhưng tỷ trọng chi cho quân đội trong tổng sản phẩm quốc nội của Liên Xô lại rõ ràng cao hơn Mỹ, tỷ trọng này năm 1975 của Liên Xô là 9%, của Mỹ năm 1977 là 5,4%. Liên Xô ra sức tăng cường binh lực, từ 3.310.000 người năm 1965 tăng lên 4.270.000 người năm 1976, nhưng trong cùng thời kỳ đó, tổng binh lực của Mỹ từ 2.660.000 người giảm xuống còn 2.080.000 người, quân đội của Liên Xô nhiều hơn của Mỹ 2.000.000 người2 (Tham khảo Giang Lưu, Trần Chi Hoa: Suy ngẫm lịch sử diễn biến Liên Xô, Sđd, tr.342-343). Liên Xô làm như vậy đã lãng phí một lượng lớn tài nguyên, tổn thương nặng nề nguyên khí quốc gia, không những là gánh nặng về kinh tế, mà trên quốc tế còn rơi vào địa vị cô lập. Đồng thời, một loạt các cách làm sai lầm đã phá vỡ nghiêm trọng quan hệ bình thường giữa các đảng anh em và các nước anh em, giẫm đạp lên nguyên tắc chủ quyền quốc gia đã được quan hệ quốc tế công nhận, không những làm bại hoại danh dự của chủ nghĩa xã hội mà còn dẫn đến sự chia rẽ của phong trào cộng sản quốc tế và phe xã hội chủ nghĩa.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM