Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:06:30 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tính trước nguy cơ - Suy ngẫm sau 20 năm Đảng Cộng sản Liên Xô mất Đảng  (Đọc 42040 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #110 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2022, 08:03:49 am »

II. TÁC PHONG ĐẢNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN LIÊN XÔ THỜI KỲ KHRUSHCHEV VÀ BREZHNEV


1. Tính chất giai cấp vô sản của Đảng bắt đầu bị bóp méo

Sự thoái hóa về tính chất của Đảng Cộng sản Liên Xô bắt đầu từ thời kỳ Khrushchev. Khrushchev mượn cớ trong điều kiện chủ nghĩa xã hội không tồn tại đấu tranh giai cấp, nêu ra lý luận như "đảng toàn dân", làm lung lay cơ sở giai cấp của Đảng Cộng sản Liên Xô, phủ định nguyên tắc xây dựng đảng của chủ nghĩa Mác.


Như đã đề cập ở trên, khoa học mácxít - lêninnít đã nói rõ quan hệ giữa đảng với quần chúng: Đảng Cộng sản là đội tiên phong của giai cấp vô sản, giai cấp vô sản là cơ sở giai cấp của Đảng; hàng triệu quần chúng nhân dân là cơ sở quần chúng khi Đảng theo đuổi sự nghiệp cách mạng và xây dựng, là quân đồng minh và người xây dựng mà Đảng dựa vào. Đảng không chỉ phải lãnh đạo và dẫn dắt giai cấp vô sản, mà còn phải trải qua sự nghiệp chung là xây dựng chủ nghĩa xã hội do giai cấp vô sản đoàn kết và dẫn dắt toàn thể nhân dân lao động thực hiện và phát triển. Đảng phải dám và có khả năng dẫn dắt và hướng dẫn quần chúng tiến lên. Ngay cả trong quá trình nỗ lực phấn đấu vì sự nghiệp chung, giai cấp vô sản và đông đảo quần chúng nhân dân đã xây dựng được môi liên hệ máu thịt, song cơ sở giai cấp của chính đảng giai cấp vô sản trước sau chỉ có một, đó là giai cấp công nhân, quyết không thế đánh đồng cơ sở giai cấp của Đảng với cơ sở quần chúng thông thường của Đảng.


Sai lầm căn bản của Khrushchev là đã lẫn lộn giới hạn của cơ sở giai cấp và cơ sở quần chúng, nâng cái vốn dĩ là cơ sở quần chúng của Đảng lên thành cơ sở giai cấp của Đảng. Ông mượn có trong điều kiện chủ nghĩa xã hội, giai cấp bóc lột đã bị tiêu diệt, trong xã hội Liên Xô ngoài một số rất ít phần tử tội phạm, chỉ tồn tại toàn thể nhân dân trên cơ sở lợi ích căn bản thống nhất, tức là liên minh chính trị do giai cấp công nhân, nông dân lao động và phần từ trí thức tạo thành, do đó, Đảng Cộng sản Liên Xô không còn là chính đảng của một giai cấp nào đó, mà đã biến thành "đảng toàn dân" đại diện cho lợi ích của toàn thể nhân dân Liên Xô, Đảng Cộng sản Liên Xô trở thành "tổ chức chính trị toàn dân".


Ngày 18 tháng 10 năm 1961, tại báo cáo "Về Cương lĩnh Đảng Cộng sản Liên Xô", Khrushchev đã chỉ ra: "Đảng của chúng ta, đảng mácxít - lêninnít ra đời là chính đảng của giai cấp công nhân đã trở thành Đảng của toàn thể nhân dân"1 (Đảng Cộng sản Liên Xô: Văn kiện chủ yếu của Đại hội đại biểu lần thứ XXII Đảng Cộng sản Liên Xô, Nxb. Nhân dân, 1961, tr.339). Điều lệ Đảng Cộng sản Liên Xô cũng quy định: "Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Liên Xô đã tiêu diệt được giai cấp bóc lột, hình thành và củng cố sự nhất trí về đạo nghĩa và chính trị trong xã hội Xôviết. Chủ nghĩa xã hội đã giành thắng lợi hoàn toàn và cuối cùng. Đảng Cộng sản, Đảng của giai cấp công nhân, hiện nay đã trở thành Đảng của toàn thể nhân dân Liên Xô"1 (Đảng Cộng sản Liên Xô: Văn kiện chủ yếu của Đại hội đại biểu lần thứ XXII Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđd, tr.449).


"Đảng toàn dân" của Khrushchev không thể đứng vững. Xét từ góc độ lý luận, không thể có "đảng toàn dân". Chính đảng là công cụ của đấu tranh giai cấp. Mọi chính đảng đều có tính giai cấp, đều đại diện cho lợi ích căn bản của giai cấp nhất định, chính đảng là đại biểu tập trung của giai cấp. Từ trước đến nay chưa có chính đảng phi giai cấp, siêu giai cấp. Hai tư '''toàn dân" và "chính đảng" không thể liên kết với nhau. Nếu có chính đảng, không thể nói là của toàn dân, bởi chính đảng chính là đại biểu tập trung của một giai cấp nào đó; nếu là đảng toàn dân, chính đảng phải tiêu vong. Do đó "đảng toàn dân" là một khái niệm giả tạo, là một mệnh đề ngụy biện.


Trong lịch sử phong trào xã hội chủ nghĩa trên thế giới, người đầu tiên đưa ra tư tưởng "đảng toàn dân" là Bernstein. Năm 1879 ông cùng với Höchberg và Schramm (tức nhóm ba người Zurich) viết một bài, chủ trương cải tạo Đảng Dân chủ xã hội Đức từ "đảng công nhân phiến diện" thành "đảng toàn diện" của "tất cả những người giàu tinh thần nhân ái". Để phê bình quan điểm sai lầm của "nhóm ba người Zurich", Mác - Ăngghen đã viết một bức "thông cáo". Họ đề xuất những người không tán thành tính chất giai cấp vô sản của Đảng "nên ra khỏi Đảng, ít nhất cũng nên từ bỏ chức vụ mà họ muốn", không như vậy, nghĩa là Đảng "tự bán mình"2 (Mác - Ăngghen: Tuyển tập, Sđd, q.3, tr.679-680).


Song một số người, trong đó có Bernstein, vẫn kiên trì quan điểm sai lầm của mình, sau khi Ăngghen qua đời, họ càng mạnh mẽ hơn trước, công khai tuyên bố "đảng đã trở thành đảng của nhân dân, nhiệm vụ của đảng không phải là hoàn thành sứ mệnh cách mạng xã hội và đánh đổ nhà nước hiện đại, mà là dùng chủ nghĩa xã hội "thâm nhập" vào nhà nước hiện đại". Song như Liebknecht đã bình luận: "Nếu như luận điểm của Bernstein là đúng, như vậy chúng ta có thể chôn cương lĩnh của chúng ta, chôn vùi toàn bộ quá khứ của chúng ta và Đảng Dân chủ xã hội của chúng ta, như vậy chúng ta không còn là một chính đảng của giai cấp công nhân nữa"1 ([Đức] Merlin: Lịch sử Đảng dân chủ xã hội Đức, Hiệu sách tam liên Đời sống - Đọc sách - Tri thức mới, 1961, q.4, tr.347). Sau đó đại bộ phận chính đảng trong Quốc tế II đã tiếp thu những chủ trương của Bernstein, lần lượt tuyên bố mình là "chính đảng toàn dân". Đây là lần đầu tiên trong lịch sử của chủ nghĩa xã hội thế giới xuất hiện sự xét lại đối với học thuyết xây dựng đảng của chủ nghĩa Mác. Sự lan tràn của tư tưởng sai lầm như chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa cơ hội mà đại diện là Bernstein và Cautsky đã hủy hoại toàn bộ sự nghiệp cách mạng và thành quả vĩ đại của giai cấp vô sản quốc tế do Mác, Ăngghen đích thân sáng lập. Cùng với sự tan vỡ của Quốc tế II, lý luận "chính đảng toàn dân" cũng hứng chịu sự thất bại toàn diện trong thực tiễn.


Lênin đã kiên quyết bảo vệ học thuyết xây dựng đảng của chủ nghĩa Mác. Người triển khai cuộc đấu tranh kiên quyết với chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa cơ hội, Người phê phán nghiêm khắc "chính đảng siêu giai cấp", "chính đảng phi giai cấp" dưới bất cứ hình thức nào. Lênin chỉ rõ: "Công nhân giác ngộ sẽ vĩnh viễn phản đối mọi tư tưởng về chính đảng siêu giai cấp, phản đối mọi hành động xóa bỏ ranh giới giữa công nhân làm thuê và tiểu chủ"1 (Lênin: Tuyển tập, Sđd, q.21, tr.249, 278). "Thử thành lập một chính đảng 'siêu giai cấp', thử làm cho nông dân và công nhân liên kết thành một chính đảng, thử coi 'phần tử tri thức lao động' không hề tồn tại như một giai cấp đơn độc... ngoài việc làm cho con người bi quan thất vọng, suy yếu lực lượng, nhận thức mơ hồ, thì không thể đem đến bất cứ kết quả nào khác"2 (Lênin: Tuyển tập, Sđd, q.21, tr.249, 278).
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #111 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2022, 08:05:30 am »

Khrushchev nêu ra "đảng toàn dân" trong quốc gia xã hội chủ nghĩa, có quan hệ ở một mức độ nhất định với lý luận của những người thuộc chủ nghĩa xét lại của Quốc tế II. Thực chất của nó ở chỗ phủ nhận quan điểm giai cấp và học thuyết đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác vẫn phù hợp với xã hội xã hội chủ nghĩa, phủ nhận nguyên lý cơ bản của quan điểm duy vật lịch sử này đối với nhận thức đúng đắn của những người cộng sản cầm quyền rằng hiện tượng đấu tranh phức tạp giữa chủ nghĩa xã hội với các thế lực thù địch vẫn còn ý nghĩa chỉ đạo.


Quan điểm giai cấp, học thuyết đấu tranh giai cấp và lý luận chuyên chính vô sản là nội dung cốt lõi của quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã chỉ ra nguyên lý cơ bản như sau: kể từ khi chế độ công hữu nguyên thủy giải thể cho đến nay, toàn bộ lịch sử của xã hội loài người đều là lịch sử đấu tranh giai cấp, tức là lịch sử đấu tranh giữa giai cấp bị bóc lột và giai cấp bóc lột, giai cấp bị thống trị và giai cấp thống trị trong các giai đoạn phát triển của xã hội. Đấu tranh giai cấp là biểu hiện của mâu thuẫn xã hội cơ bản trong xã hội có giai cấp, là động lực trực tiếp của sự phát triển trong xã hội có các giai cấp đối lập.


Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản tất sẽ tạo nên chuyên chính vô sản. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, nhiệm vụ hàng đầu là dùng bạo lực giành chính quyền, tiến lên thành giai cấp thống trị, thực hiện chuyên chính vô sản, sau đó từng bước giành lấy toàn bộ tư bản của giai cấp tư sản, thực hiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, ra sức phát triển lực lượng sản xuất xã hội, cuối cùng thực hiện chủ nghĩa cộng sản. Quan điểm giai cấp và phương pháp phân tích giai cấp của Mác - Ăngghen được Lênin cho là chìa khóa để hiểu toàn bộ lịch sử và hiện tượng của xã hội có giai cấp và là một sợi dây cương mang tính chỉ đạo; có thể kiên trì chuyên chính vô sản hay không cũng được Lênin coi là "đá thử vàng" để đánh giá chủ nghĩa Mác thật giả.


Trong điều kiện chủ nghĩa xã hội do Đảng Cộng sản cầm quyền, quan điểm giai cấp và phương pháp phân tích giai cấp của chủ nghĩa Mác liệu có lỗi thời? Học thuyết đấu tranh giai cấp và lý luận chuyên chính vô sản của chủ nghĩa Mác có còn là chân lý khoa học? Đối với vấn đề này, Lênin, Xtalin đã đưa ra câu trả lời chắc chắn.


Thời kỳ Lênin, nước Nga Xô viết trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội tồn tại cuộc đấu tranh giai cấp phức tạp và gay gắt. Chính quyền Xôviết và sự nghiệp xã hội chủ nghĩa vừa phái chịu sự uy hiếp của thế lực thù địch bên ngoài can thiệp, vừa có sự phá hoại của phần tử phản cách mạng nổi loạn trong nước. Do đó, tháng 12 năm 1917, trong bài viết "Những người bị sự phá hoại của cái cũ làm cho khiếp sợ và những người đấu tranh vì cái mới", Lênin đã chỉ rõ: "Chúng ta từ trước đến nay đều biết, và cũng nói đi nói lại nhiều lần, chủ nghĩa xã hội là không thể 'thực thi'; chủ nghĩa xã hội trưởng thành lên từ trong tiến trình đấu tranh giai cấp và nội chiêh kịch liệt nhất, gay gắt nhất, một mất một còn"1 (Lênin: Tuyển tập, Sđd, q.33, tr.197).


Xtalin đã kế thừa tư tưởng của Lênin là thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tất yếu tồn tại đấu tranh giai cấp quyết liệt. Tháng 1 năm 1934, trong "Báo cáo tổng kết về công tác của Trung ương Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang tại Đại hội đại biểu lần thứ XVII của Đảng", Xtalin đã chỉ rõ, tiến lên xã hội xã hội chủ nghĩa vô giai cấp, "là không thể dựa trên phương thức gọi là tự diễn ra. Điều đó buộc phải do toàn thể người lao động cùng nỗ lực, dùng các biện pháp như tăng cường cơ quan chuyên chính vô sản, triển khai đấu tranh giai cấp, tiêu diệt giai cấp, tiêu diệt tàn dư của giai cấp tư bản chủ nghĩa, giành được và xây dựng nên trong cuộc đấu tranh với kẻ thù trong ngoài nước"1 (Xtalin: Tuyển tập, Sđđ, quyển hạ, tr.332). Thời kỳ đó có quan điểm cho rằng xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa vô giai cấp có thể không cần phải cố gắng là có thể thực hiện được một cách tự giác, vì thế có thể làm suy yếu đấu tranh giai cấp, có thế làm suy yếu chuyên chính vô sản, hơn nữa có thể căn bản thủ tiêu nhà nước. Xtalin cho rằng đây là quan điểm hồ đồ. Ông nói: "quan niệm hồ đồ và những tâm lý này giống hệt như quan điểm của phần tử hữu khuynh mà chúng ta biết", "nếu như quan điểm hồ đồ và tâm lý phi Bônsêvích này nắm được Đảng của chúng ta và đại bộ phận đảng viên của chúng ta, thì Đảng của chúng ta sẽ bị phân tán mà giải trừ vũ trang"2 (Xtalin: Tuyển tập, Sđđ, quyển hạ, tr.332).


Cùng với việc xây dựng cơ sở kinh tế xã hội chủ nghĩa, giai cấp bóc lột ở Liên Xô bị tiêu diệt, Xtalin tuyên bố Liên Xô tiến vào thời kỳ xã hội chủ nghĩa. Trước sự thay đổi của liên minh chính trị hữu nghị hỗ trợ lẫn nhau trên cơ sở lợi ích căn bản giống nhau của giai cấp công nhân, nông dân và phần tử trí thức, Xtalin vẫn kiên trì học thuyết đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản. Ông chỉ rõ, tính chất của nhà nước Liên Xô vẫn là chuyên chính giai cấp công nhân lấy liên minh công nông làm cơ sở, do giai cấp công nhân lãnh đạo (thông qua đội tiên phong của mình). Đối với dư luận chỉ trích Dự thảo Hiến pháp mới của Liên Xô bỏ qua chuyên chính giai cấp công nhân, ông chỉ rõ, Dự thảo Hiến pháp mới "đã bảo lưu chế độ chuyên chính giai cấp công nhân, đồng thời cũng luôn bảo lưu địa vị lãnh đạo hiện tại của Đảng Cộng sản Liên Xô"1 (Xtalin: Tuyển tập, Sđd, quyển hạ, tr.408). Ông còn nói tiếp: "Nếu như nhà phê bình đáng kính cho rằng đây là khuyết điểm của Dự thảo Hiên pháp, thì chỉ có thể cảm thấy đáng tiếc vì điều này. Bônsêvích chúng ta lại cho rằng đây là ưu điểm của Dự thảo Hiến pháp"2 (Xtalin: Tuyển tập, Sđd, quyển hạ, tr.408).


Đương nhiên, cùng với việc kiên trì học thuyết đấu tranh giai cấp và nguyên tắc chuyên chính vô sản của chủ nghĩa Mác, trong điều kiện lịch sử phức tạp, do quá để ý đến tầm quan trọng của hình thức đấu tranh giai cấp, trong các cuộc vận động chính trị như "đại thanh trừng" đã phạm phải những sai lầm như khuếch đại hóa đấu tranh giai cấp. Song cũng không thể vì thế mà cho rằng đây là kết quả của việc Xtalin kiên trì nguyên tắc lý luận chủ nghĩa Mác, từ đó phủ định mặt đúng đắn của ông.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #112 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2022, 08:06:05 am »

Sau Đại hội lần thứ XX Đảng Cộng sản Liên Xô, Liên Xô bắt đầu sửa chữa những sai lầm trong thời kỳ Xtalin, bao gồm cả những sai lầm của thời kỳ "đại thanh trừng", còn có ý định tìm ra căn nguyên về mặt tư tưởng, lý luận của những sai lầm này. Thời kỳ đó tập trung phê phán quan điểm của Xtalin rằng "trong điều kiện chủ nghĩa xã hội, cuộc đấu tranh giai cấp ngày càng quyết liệt". Phải nói rằng quan điểm này có mặt không đúng. Cùng với sự diệt vong của giai cấp bóc lột, trong điều kiện chủ nghĩa xã hội, tuy vẫn tồn tại cuộc đấu tranh giữa các giai cấp với nhau, song phần lớn là mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân trên cơ sở lợi ích căn bản thống nhất, hơn nữa đấu tranh giai cấp cũng không phải trong bất cứ điều kiện, bất cứ tình hình nào cũng đều ngày càng quyết liệt. Do đó, không thể đơn giản hóa, tuyệt đối hóa học thuyết đấu tranh giai cấp trong điều kiện chủ nghĩa xã hội, vừa không thể thu hẹp, vừa không thể mở rộng.


Khrushchev đã không nghiêm túc phê phán những sai lầm của Xtalin trong việc khuếch đại hóa đấu tranh giai cấp, mà mượn cớ phê phán sai lầm của Xtalin, phủ định xã hội Liên Xô vẫn tồn tại đấu tranh giai cấp. Ông tuyên dương Liên Xô đã tiêu diệt giai cấp đối đầu trong nước, do đó cũng không còn đấu tranh giai cấp, từ đó phủ định cơ sở giai cấp của Đảng Cộng sản Liên Xô và chức năng Nhà nước của chuyên chính vô sản.


Ngày 6 tháng 11 năm 1957, trong phát biểu nhân dịp chào mừng 40 năm ngày Cách mạng Tháng Mười Nga, Khrushchev nói, hiện nay Liên Xô đã trở thành xã hội thống nhất về mặt chính trị và mặt tinh thần, đã không còn giai cấp bóc lột, do đó, giai cấp áp bức bóc lột của nhà nước Xôviết buổi ban đầu và các hoạt động đối đầu còn sót lại, chức năng trấn áp hoạt động khôi phục trật tự của chủ nghĩa tư bản của giai cấp thống trị bị lật đổ, sau khi giai cấp bóc lột trong nước bị tiêu diệt và quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa được củng cố, đã dần dần biến mất1 (Khrushchev: "Bốn mươi năm Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại", Báo cáo tại Lễ chào mừng của Xôviết tối cao Liên Xô, ngày 6 tháng 11 năm 1957, Nxb. Nhân dân, 1957, tr.40). Ngày 14 tháng 11 cùng năm đó, ông lại nói trong cuộc gặp các phóng viên báo chí, ở Liên Xô hiện nay không còn đấu tranh giai cấp và cơ sở xã hội cho các hoạt động thù địch.


Cơ sở giai cấp của Đảng trong bất cứ thời điểm nào, bao gồm cả trong điều kiện chủ nghĩa xã hội, đều không thể thay đổi. Chỉ khi Đảng toàn tâm, toàn ý dựa vào giai cấp công nhân, mới có thể bảo đảm tính tiên tiến và tính cách mạng của mình, mới có thể giành được sự ủng hộ trung thành và sự giúp đỡ rộng rãi của đông đảo nhân dân, mới có thể dẫn dắt và đoàn kết đông đảo quần chúng thực hiện lý tưởng và mục tiêu chung. Ngược lại, nếu Đảng Cộng sản vứt bỏ cơ sở giai cấp của mình thì sẽ mất đi tính tiên tiến, không những giai cấp công nhân không thể bảo vệ được Đảng, ngay cả quần chúng mà Đảng có liên hệ cũng sẽ bỏ rơi Đảng. Mở rộng cơ sở giai cấp của Đảng thành tất cả các giai cấp trong xã hội trong đó có cả nông dân, xét về biểu hiện dường như có thể khiến cơ sở giai cấp của Đảng càng thêm vững chắc, song đã làm lệch lạc cơ sở xây dựng Đảng. Cơ sở không vững chắc sẽ gây ra biến động khôn lường. Đảng Cộng sản phải phát huy vai trò là đội tiên phong của toàn thể nhân dân, phải coi kiên trì tính giai cấp của Đảng làm tiền đề và cơ sở.


Thực tế, Liên Xô trong điều kiện chủ nghĩa xã hội không những tồn tại điều kiện xã hội phân hóa giai cấp, mà còn ở trong sự bao vây của thế giới tư bản chủ nghĩa. Các quốc gia phương Tây không ngừng đưa giá trị quan của phương Tây vào Liên Xô, thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình", nhằm mục đích liên kết thế lực phản động trong nội bộ Liên Xô để Tây hóa, phân hóa Liên Xô, phá vỡ cơ sở quần chúng và ý thức hệ của chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Liên Xô. Do đó, trong lĩnh vực ý thức hệ của Liên Xô luôn tồn tại cuộc đấu tranh giữa Tây hóa và phản Tây hóa, phân hóa và phản phân hóa, mục tiêu của thế lực chống lại Đảng Cộng sản, chống lại chủ nghĩa xã hội chính là phải kết thúc sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô. Mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Liên Xô tuy không phải là đấu tranh giai cấp, song mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội vẫn đang tồn tại, khi mạnh mẽ, khi bình lặng. Cho rằng cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội Liên Xô đã dập tắt là một sự hoang tưởng.


Khi Khrushchev trình bày trong Báo cáo Đại hội lần thứ XXI Đảng Cộng sản Liên Xô "hiện nay trên thế giới không có lực lượng nào có thể khôi phục chủ nghĩa tư bản và tiêu diệt chủ nghĩa xã hội trên đất nước chúng ta. Nguy cơ chủ nghĩa tư bản ngóc đầu dậy ở Liên Xô đã không còn nữa", thì thế giới phương Tây không ngừng mở rộng "diễn biến hòa bình" đối với Liên Xô, tạo thành sự so sánh rõ rệt với sự lạc quan và tự tin mù quáng của Khrushchev. Tâm lý mất cảnh giác sai lầm đến thời kỳ Gorbachev đã diễn biến thành thế lực phản động phương Tây và thế lực phản động trong nước cùng một giuộc, trong ngoài cấu kết làm tan vỡ Đảng Cộng sản Liên Xô, làm sụp đổ Liên Xô. Sự sụp đổ của Liên Xô đã nói lên một thực tế rằng, quan điểm giai cấp và phương pháp phân tích giai cấp luôn là chìa khóa để nhà nước xã hội chủ nghĩa quan sát cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa xã hội và các thế lực thù địch, phủ định triệt để học thuyết đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác sẽ gây ra hậu quả cực kỳ nghiêm trọng.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #113 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2022, 07:37:04 am »

2. Quan hệ máu thịt giữa Đảng và quần chúng bắt đầu rạn nứt, thậm chí bị xé rách

Thời kỳ Khrushchev cầm quyền còn tồn tại hiện tượng nhìn nhận chủ nghĩa Mác một cách xa rời thực tế.

Sau khi Xtalin qua đời, Ban lãnh đạo mới do Malenkov đứng đầu thử nghiệm mở cuộc tấn công mới vào thể chế quản lý tập trung cao độ, mục đích là phát huy tác phong học tập thực sự cầu thị. Ví như đối với hiện tượng sùng bái cá nhân, ngày 10 tháng 3 năm 1953, Malenkov đã chủ trì Hội nghị Đoàn chủ tịch Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, lần đầu tiên sử dụng cụm từ "sùng bái cá nhân", chỉ rõ khi đất nước đối mặt với nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, "chúng ta phải ngăn chặn chính sách sùng bái cá nhân"1 (Báo Sự thật, ngày 10 tháng 6 năm 1953); đồng thời đưa ra nguyên tắc lãnh đạo tập thể. Về mặt lý luận kinh tế , đối với việc một thời kỳ dài nhấn mạnh một cách phiến diện "tư liệu sản xuất, tức là nguyên tắc ưu tiên tăng trưởng công nghiệp nặng", tạo nên cục diện nông nghiệp, công nghiệp nhẹ lạc hậu, Malenkov công khai thể hiện phải dùng "tốc độ như phát triển công nghiệp nặng để phát triển lương thực và công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng"1 (Malenkov: "Phát biểu tại Hội nghị lần thứ V Xôviết tối cao Liên Xô", trích từ Đảng viên cộng sản, số 12, năm 1953). Thời gian đã chứng minh, những biện pháp này tương đối phù hợp với thực tế phát triển xã hội ở Liên Xô thời kỳ đỏ, đã sửa chữa được sai lầm lý luận xa rời thực tiễn thời kỳ trước đó.


Tuy nhiên, do cách làm xa rời thực tế của chủ nghĩa giáo điều, những việc làm này của Malenkov rất nhanh chóng đã bị lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô do Khrushchev đứng đầu cho rằng "xa rời" chủ nghĩa Mác. Tại Hội nghị toàn thể Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô tháng 1 năm 1955, Khrushchev chỉ trích một số người trong đó có Malenkov "đã hồ đồ trong vấn đề phát triển công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ ở nước ta. Những nhà lý luận đáng thương này đã hiểu sai quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội và giải thích một cách đơn giản về nó, họ định dùng những quy luật này để chứng minh, đến một giai đoạn nào đó trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển công nghiệp nặng dường như không còn là nhiệm vụ chủ yếu nữa, mà thay vào đó là công nghiệp nhẹ, thậm chí phải ưu tiên phát triển công nghiệp nhẹ so với các ngành công nghiệp khác"2 (Tuyển tập phát ngôn của Khrushchev, Nxb. Tri thức thế giới, 1965, q.4, tr.11). Dường như để bảo vệ tính thuần khiết của lý luận chủ nghĩa Mác, Khrushchev gọi quan điểm phát triển công nghiệp nhẹ nhanh hơn một chút của Malenkov "là một cách nhìn nhận cực kỳ sai lầm, đi ngược lại chủ nghĩa Mác"3 (Báo Sự thật, ngày 3-2-1955). Rất nhanh chóng, những người như Malenkov bị mất chức với tội danh "tập đoàn chống Đảng".


Khrushchev luôn luôn trích dẫn những phát ngôn của Mác, Lênin, Xtalin về ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, đồng thời cho rằng phải kiên định thực hiện đường lối đúng đắn duy nhất là phát triển công nghiệp nặng, thậm chí "trong tương lai cũng vẫn phải kiên quyết thực hiện đường lối này"1 (Tuyển tập phát ngôn của Khrushchev, Nxb. Tri thức thế giới, 1965, q.4, tr.11).


Chiến lược kinh tế "ưu tiên phát triển công nghiệp nặng" dường như được coi như một luật lệ vàng không thể thay đổi của chủ nghĩa Mác. Khrushchev căn bản không tính đến tình hình thực tế ở Liên Xô khi đó. Tác phong chủ nghĩa giáo điều xa rời thực tế này đạt đến mức độ lố bịch buồn cười. Tuy nhiên, các thế hệ lãnh đạo của Liên Xô sau đó cũng không thay đổi nguyên lý này, từ đó khiến cho cơ cấu kinh tế quốc dân phát triển một cách dị dạng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc nâng cao mức sống của nhân dân.


Theo Khrushchev, tuy xã hội Liên Xô đã tiêu diệt được giai cấp bóc lột, nhân dân Liên Xô đã trở thành một liên minh chính trị, Đảng Cộng sản Liên Xô là đảng của toàn thể nhân dân Liên Xô, chức năng của chuyên chính vô sản Liên Xô đã mất đi, do đó so với luận điểm nền "chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản" ở "giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa" trong tác phẩm Phê phán Cương lĩnh Gotha của Mác2 (Mác - Ăngghen: Tuyển tập, Nxb. Nhân dân, 1995, q.3, tr.314), nêu ra một cách giáo điều, nếu như "chủ nghĩa xã hội đã hoàn toàn và cuối cùng giành thắng lợi ở Liên Xô", vậy thì trên cơ sở đã xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, Liên Xô quá độ lên chủ nghĩa cộng sản đã trở thành tất yếu lịch sử.


Năm 1959, trong Đại hội lần thứ XXI Đảng Cộng sản Liên Xô Khrushchev cho rằng Liên Xô đã bước vào "thời kỳ triển khai toàn diện xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa". Năm 1961 tại Đại hội lần thứ XXII Đảng Cộng sản Liên Xô, Khrushchev cho rằng, cương lĩnh mới của Đảng Cộng sản Liên Xô là "cương lĩnh xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa", cương lĩnh "đã quy định nhiệm vụ chủ yếu và giai đoạn căn bản xây dựng chủ nghĩa cộng sản", nêu rõ "trong vòng 20 năm chúng ta sẽ cơ bản xây dựng thành công xã hội cộng sản chủ nghĩa"1 (Đảng Cộng sản Liên Xô: Tổng hợp tư liệu văn kiện chủ yếu Đại hội đại biểu lần thứ XXII Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđd, tr.165, 304, 406). Cương lĩnh còn giải thích cặn kẽ quy hoạch cụ thể và thời gian biểu của việc xây dựng thành công xã hội cộng sản chủ nghĩa: Trong vòng 10 năm gần nhất (1961-1970), về sản phẩm lương thực tính theo bình quân dân số vượt qua nước Mỹ, kết thúc 10 năm tiếp theo (1971-1980), xây dựng cơ sở kỹ thuật vật chất của chủ nghĩa cộng sản, bảo đảm toàn thể nhân dân có tài sản vật chất và văn hóa phong phú, từ phân phối theo lao động quá độ sang phân phối theo nhu cầu, còn chuyên chính vô sản sẽ thông qua nhà nước toàn dân chuyển thành xã hội cộng sản chủ nghĩa tự trị, như vậy Liên Xô sẽ căn bản xây dựng thành công xã hội cộng sản chủ nghĩa. Khrushchev thậm chí còn tuyên bố: "Thế hệ người Liên Xô hiện nay sẽ sống trong xã hội cộng sản chủ nghĩa!"2 (Đảng Cộng sản Liên Xô: Tổng hợp tư liệu văn kiện chủ yếu Đại hội đại biểu lần thứ XXII Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđd, tr.165, 304, 406).


Khrushchev đề xướng Liên Xô triển khai toàn diện xây dựng chủ nghĩa cộng sản, đây là biểu hiện của chủ nghĩa chủ quan và luận điểm duy ý chí xa rời thực tế xã hội Liên Xô, đi ngược lại quy luật phát triển xã hội. Ông đánh giá quá cao trình độ phát triển của xã hội Liên Xô, từ đó khiến tư tưởng vượt giai đoạn, vội vàng quá độ phát triển thành những bước đi vội vã. Thực tế đã chứng minh, chủ nghĩa cộng sản mà Khrushchev nói đến chẳng qua là chủ nghĩa cộng sản giả kiểu khoai tây nấu thịt bò, căn bản không phải là tư tưởng khoa học của chủ nghĩa Mác, hơn nữa hoàn toàn xa rời tình hình đất nước thời kỳ đó. Cho đến khi Khrushchev "mất chức", "chủ nghĩa cộng sản" của ông vẫn là "lầu son gác tía" hư vô.


Loại lý luận không tưởng phủ định nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác dẫn đến xa rời thực tế ấy, có kết quả tất yếu là khiến cho nhân dân Liên Xô cảm thấy mình bị lừa, khuynh hướng không đồng lòng, muốn rời bỏ Đảng Cộng sản của người dân Liên Xô ngày càng tăng lên, khoảng cách tình cảm giữa Đảng Cộng sản Liên Xô và nhân dân ngày càng lớn, ngày càng sâu. Ký ức về sự ảnh hưởng này vẫn còn kéo dài đến nước Nga ngày nay.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #114 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2022, 07:38:21 am »

Năm 2007, cuốn sách tham khảo lịch sử dành cho giáo viên Lịch sử nước Nga hiện đại (1945-2006) mà Tổng thống Putin rất quan tâm đã viết, trong số các thế hệ lãnh đạo Liên Xô sau khi Lênin qua đời, Khrushchev là nhà không tưởng xuất sắc nhất. Chỉ cần hồi tưởng lại sự kiện này cũng đủ thấy: Trong Cương lĩnh Đảng Cộng sản Liên Xô được Đại hội lần thứ XXII của Đảng thông qua năm 1961 đã nêu ra khẩu hiệu "thế hệ người Liên Xô hiện nay sẽ sống trong xã hội cộng sản chủ nghĩa", điều này quyết định Cương lĩnh yêu cầu trong 20 năm, tức là đến trước năm 1980, "ở Liên Xô cơ bản xây dựng thành công xã hội cộng sản chủ nghĩa". "Bởi những tuyên bố không thể thực hiện, những lời hứa không có căn cứ, những luận điệu mê hoặc lòng người mà cả xã hội cảm thấy tinh thần mệt mỏi"1 (Tham khảo A. Filipov: Lịch sử nước Nga hiện đại (1945-2006), Sđđ, tr.151).


Đến cuối thời kỳ Brezhnev cầm quyền, đúng như nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô Ligachev đã nói, tác phong giáo điều của lý luận xa rời thực tế gần như đã chi phối xu thế chủ yếu của sự phát triển xã hội và chính trị2 (Tham khảo Ligachev: Bí mật của Gorbachev, Sđd, tr.127).


Do không quán triệt kết hợp chủ nghĩa Mác với tình hình thực tế trong nước và tất cả xuất phát từ thực tế những lý luận cứng nhắc về các vấn đề lớn như giai đoạn phát triển xã hội, kinh tế  hàng hóa xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy cách mạng thế giới, v.v... vẫn không thể có đột phá, điều này cản trở những tiến bộ lớn hơn của xã hội.


Những tác phong xấu trong Đảng như chủ nghĩa quan liêu, chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa giấy tờ ngày càng nghiêm trọng. Aphanasayev, nguyên Tổng biên tập báo Sự thật, cơ quan ngôn luận của Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, đã từng nhiều lần tham gia vào công tác dự thảo các văn kiện quan trọng của Đảng thời kỳ Brezhnev. Ông nói, những báo cáo tổng kết mà Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô trình bày tại Đại hội Đại biểu của Đảng, phương thức, phương pháp và trật tự của dự thảo đã được định hình sẵn. Mở đầu: luôn luôn là "nguy cơ tổng thể của chủ nghĩa tư bản"...; Phần thứ hai: tình hình trong nước, bắt đầu là "thành tựu to lớn" và "khuyết điểm cá biệt"...; Phần thứ ba: tán dương sự đoàn kết "vững chắc như bàn thạch" giữa Đảng và nhân dân..., trong khi ai cũng biết, tình hình thực tế khác xa với những điều tốt đẹp này1 (Tham khảo Aphanasayev: Ghi chép của Tổng biên tập báo "Sự thật", Nxb. Đông Phương, 1993, tr.92).


Lý luận xa rời thực tế và tư tưởng cứng nhắc khiến lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô không nhìn thấy tình hình phát triển của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật thế giới đang ngày càng phát triển. Trong những năm 1960 - 1970, thế giới tư bản chủ nghĩa đã bước vào thời kỳ mới công nghệ điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học; phương thức phát triển theo chiều rộng dựa vào năng lực sản xuất và số lượng nhân viên đế đạt được mục tiêu tăng trưởng đã nhường chỗ cho phương thức phát triển theo chiều sâu khiến cho các chỉ tiêu như vật lực, nhân lực, năng lượng tiêu hao thấp nhất. Còn lãnh đạo cấp cao của Đảng Cộng sản Liên Xô xét về tư tưởng chỉ đạo vẫn thiếu sự hiểu biết, đánh giá chưa đúng mức đối với sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật thế giới. Viện sĩ Arbatov, Viện trưởng Viện nghiên cứu Mỹ và Canada thuộc Viện Khoa học xã hội Liên Xô, từng đảm nhiệm vai trò cố vấn của Gorbachev, đã ngớ ngẩn cho rằng, giới học thuật Liên Xô đánh giá cao vai trò của máy tính điện tử trong lĩnh vực quản lý là "sai lầm nghiêm trọng". Tháng 5 năm 1975, trong cuốn Kinh tế kế hoạch ông viết: 'Việc đánh giá quá cao đối với máy tính điện tử trong lĩnh vực quản lý những năm qua đã tạo nên 'cơn sốt điện tử', đây cơ cấu tổ chức, phương pháp quyết sách, 'nhân tố con người'... trong quản lý xuống hàng thứ yếu". Đồng thời cho rằng, "kết quả phân tích từ kinh nghiệm trong nước và thế giới khiến tôi rút ra kết luận: hệ thống quản lý tự động hóa chỉ là một thành phần của cơ chế quản lý tổ chức hóa". Thời kỳ đó Liên Xô đã đầu tư mấy chục tỷ rúp cho phát triển hệ thống quản lý tự động hóa, song lại ngày càng xem nhẹ hệ thống quản lý tự động hóa, bởi nó đã bị tuyên bố là 'thành phần phụ' của cơ cấu quản lý, kết quả là đầu tư với số lượng lớn không đạt được hiệu quả! Trong khi Mỹ đã thực hiện tin học hóa rất nhanh, còn Liên Xô trở nên lạc hậu, lạc hậu hơn rất nhiều so với các nước phát triển1 (Ligachev: Cảnh báo, bản tiếng Nga, Mátxcơva, 1998, tr.80).


Dưới sự chỉ đạo của lý luận "chủ nghĩa xã hội phát triển" của Brezhnev, giới lý luận của Liên Xô xuất hiện hiện tượng trì trệ. Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô Ligachev tiết lộ về tình hình này như sau: "Một số nhà khoa học xã hội nổi tiếng đương thời tập trụng toàn lực đi luận chứng cái gọi là lý luận 'chủ nghĩa xã hội phát triển', mà hoàn toàn xem nhẹ những vấn đề chủ yếu của 30 năm cuối cùng của thế kỷ XX - thời kỳ mới của cách mạng khoa học kỹ thuật"1 (Ligachev: Bí mật của Gorbachev, Sđd, tr.14). Kết quả là đất nước không thể chuyển sang thời kỳ mới, dừng lại trước ngưỡng cửa của thế kỷ mới. Các nước phát triển trong những năm 1970 đã hoàn thành thời kỳ quá độ này, trong khi đó Liên Xô lại mất đi cơ hội. Đặc biệt ở cuối thời kỳ cầm quyền của Brezhnev, do tình trạng sức khỏe không tốt, ông đã không còn sức lực để tiến hành những đột phá và sáng tạo về lý luận. Brezhnev thường hay dẫn lời của Lênin nói rằng, có rất nhiều người thích cải cách toàn bộ, kết quả chuốc lấy đại họa mà trước đây chưa từng gặp, từ đó thể hiện quan điểm bảo thủ thực sự không muốn tiến hành cải cách đối với trật tự sẵn có.


Công tác xây dựng tác phong Đảng thời kỳ này xuất hiện tình trạng nhiệm vụ mà Đảng đảm nhiệm không phù hợp với kỳ vọng của quần chúng, làm tổn hại nghiêm trọng quan hệ giữa Đảng với quần chúng và quan hệ giữa cán bộ với quần chúng, trong xã hội đã nảy sinh lực li tâm và lực phá hoại nhất định.


Đồng thời với chủ nghĩa giáo điều xa rời thực tế không ngừng phát triển, tác phong quan liêu trong Đảng càng tràn lan thêm. Điều này trước tiên thể hiện ở sự xuất hiện bộ máy quan liêu. Đầu năm 1954, cả nước có 6,516 triệu nhân viên quản lý hành chính, bình quân cứ 7 công nhân viên chức lại có 1 nhân viên quản lý hành chính2 (Tuyển tập nghị quyết về các vấn đề kinh tế của Đảng Cộng sản Liên Xô và Chính phủ Liên Xô, Nxb. Đại học Nhân dân Trung Quốc, 1983, tr.151). Tuy có một thời kỳ Khrushchev ra sức tinh giản bộ máy, chỉ 46 cơ quan chủ quản của Liên Xô, đã xóa bỏ 200 tổng cục quản lý, tinh giản 450 nghìn nhân viên quản lý, nhưng đến năm 1963, bộ máy quan liêu không những không được giảm thiểu như hy vọng, ngược lại còn phình ra gấp ba lần3 (Roy Medvedev: Những năm tháng cầm quyền của Khrushchev, Nxb. Nhân dân Cát Lâm, 1981, tr.104).


Nhiệm vụ tinh giản cơ cấu đến sau năm 1965 vẫn chưa hoàn thành. Đến đầu thập kỷ 1980, cơ cấu tổng thể vẫn chưa giảm, ngược lại còn tăng, từ đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả giải quyết công việc: trách nhiệm giữa các bộ, ngành không rõ ràng, đùn đẩy lẫn nhau, đổ lỗi cho nhau.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #115 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2022, 07:39:58 am »

Sự thịnh hành của chủ nghĩa quan liêu và tác phong xấu của cán bộ như không muốn tiến bộ, ham hưởng thụ, lười lao động có quan hệ mật thiết với nhau. Rất nhiều người vào Đảng Cộng sản không phải để hiến thân vì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, vì lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, mà vì muốn giành được chút chức quyền; giành nhiều lợi ích cho cá nhân và tập đoàn nhỏ trở thành mục tiêu theo đuổi lớn nhất. Hiện tượng ưu tiên người thân quen trong đề bạt cán bộ và lơ là công tác chính trị tư tưởng của Đảng dẫn đến một số người có phẩm chất đạo đức kém tham gia vào cơ quan nhà nước. Những người này lợi dụng địa vị của mình để mưu cầu lợi ích cá nhân, làm trò xấu xa để mưu lợi, tham lam bất chấp pháp luật, phá hoại nghiêm trọng pháp chế xã hội chủ nghĩa. Cục trưởng Cục Cán bộ của Bộ Nội vụ Liên Xô Anikiyev thừa nhận, ngay cả trong nội bộ của những cơ quan như thế này, những năm gần đây đã có vài nghìn nhân viên công tác bị cách chức hoặc bị xử phạt hình sự vì tội vi phạm pháp luật, nhận hối lộ1 (Báo Lao động (Liên Xô), ngày 28 tháng 5 năm 1987).


Bên cạnh đó, tác phong xấu sùng bái cá nhân cũng tiếp tục phát triển. Tác phong đảng tốt đẹp phản đối sùng bái cá nhân thời kỳ Lênin dần dần mất đi. Khrushchev một mặt ra sức thực hiện sùng bái cá nhân đối với Xtalin, đồng thời lại thực hiện sùng bái cá nhân đối với bản thân ông ta. Trên khắp cả nước đâu đâu cũng có thể đọc được những thứ liên quan đến Khrushchev - "người theo chủ nghĩa Lênin vĩ đại" và "chiến sĩ hòa bình vĩ đại", "trang đầu tiên của sách giáo khoa dạy chữ và rất nhiều giáo trình trung, tiểu học khác đều có hình ảnh của ông... Ảnh và hình họa của lãnh tụ quốc gia gần như mỗi ngày đều xuất hiện trên báo chí. Trên màn ảnh thậm chí còn xuất hiện bộ phim như 'Nikita Sergeyevich thân yêu' (tên của Khrushchev - ND.)"1 (Tham khảo A. Filipov: Lịch sử nước Nga hiện đại (1945-2006), Sđđ, tr.151). Tất cả những điều này đã làm ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của quần chúng, phá hoại tác phong của Đảng Cộng sản Liên Xô.


Đến thời kỳ Brezhnev, hiện tượng sùng bái cá nhân trong nội bộ Đảng Cộng sản Liên Xô lại lan rộng hơn, so với thời kỳ Xtalin còn nghiêm trọng hơn. Có một lần báo Sự thật trong 3 bài xã luận không nhắc đến tên Brezhnev, liền bị Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô chỉ trích. Sùng bái cá nhân đã làm bại hoại nghiêm trọng không khí dân chủ trong Đảng, cũng tất yếu làm ảnh hưởng đến tác phong công tác, quan hệ giữa Đảng với quần chúng, và thành quả của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hay ở chỗ nguyên các Ủy viên Bộ Chính trị Shevardnadze, Aliyev, Yakovlev đều hết lời ca tụng Brezhnev. Shevardnadze từng phát biểu tại Đại hội lần thứ XXV Đảng Cộng sản Liên Xô: "Đầy kinh nghiệm, tư tưởng khoáng đạt và coi trọng hiệu quả thực tế giàu nhân tính và tính giai cấp không dung hòa, coi trọng pháp luật và có tính nguyên tắc, có khả năng đánh thức tâm linh con người... Tất cả những phẩm chất này và nhiều phẩm chất khác chính là cái chúng ta nên học tập ở Brezhnev"2 (Aphanasayev: Ghi chép của Tổng biên tập báo "Sự thật", Sđd, tr.70-71). Sau này, ông lại xu nịnh gọi Brezhnev là "nhà lãnh đạo anh minh, nhà cách mạng kiểu Lênin vĩ đại".


Trong những năm tháng cầm quyền ngắn ngủi của mình, Andropov bắt đầu tiến hành "chỉnh đốn" nhằm điều chỉnh những tác phong không tốt trong Đảng. Ông phê phán gay gắt những tác phong thời kỳ Brezhnev như kỷ luật lao động lỏng lẻo, tác phong xã hội bại hoại, chủ nghĩa quan liêu trong Đảng, giả dối, tham lam, coi thường pháp luật, lời nói không đi đối với việc làm, ca tụng công đức, yêu cầu "cần phải chống kiên quyết hơn nữa bất kỳ hiện tượng vi phạm kỷ luật Đảng, kỷ luật Nhà nước và kỷ luật lao động nào"1 (Tuyển tập phát ngôn của Andropov, Nxb.Tân Hoa, 1984, tr.388), đã ban hành một loạt pháp lệnh và nghị quyết nhằm chỉnh đốn kỷ luật, tăng cường giám sát, đồng thời tập hợp thành quy chế buộc các cơ quan hữu quan thực hiện. Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô Ligachev cho rằng, Andropov chỉnh đốn kỷ luật xuất phát từ nhận thức đối với "chủ nghĩa xã hội cần tiến hành sự thay đổi sâu sắc và thực chất" để cải tạo thể chế chính trị2 (Ligachev: cảnh báo, Sđd, tr.60, 59).


Đồng thời Andropov cũng bắt đầu việc chỉnh đốn đội ngũ cán bộ đã bị gián đoạn trong nhiều năm ở thời kỳ Brezhnev, chỉnh đốn những cán bộ không xứng đáng, xử lý một loạt vụ án tham ô, nhận hối lộ gây ảnh hưởng lớn. Như trường hợp Bí thư thứ nhất Đảng ủy khu vực biên giới Krasnodar, Medunov và Bộ trưởng Bộ nội Vụ Chính phủ Liên Xô Schelokov do vi phạm kỷ luật, trước tiên bị cách chức, sau đó bị khai trừ khỏi Ban Chấp hành Trung ương. Rất nhiều cán bộ công tác trong lĩnh vực chính trị và kinh tế  của Đảng không xứng đáng đều bị cách chức. Chỉ đến cuối năm 1983, đã thay đổi gần 20% Bí thư thứ nhất tỉnh ủy, 22% thành viên Hội đồng bộ trưởng, và một phần lớn cán bộ lãnh đạo cao cấp của cơ quan Trung ương3 (Ligachev: cảnh báo, Sđd, tr.60, 59). Song ông cũng chỉ cầm quyền được một năm, không thể thay đổi căn bản tác phong Đảng đang ngày một suy thoái.


Ở thời kỳ Brezhnev, sự phát triển của lý luận xa rời thực tế cứng nhắc bảo thủ và sùng bái cá nhân không những làm cho quan hệ giữa Đảng và quần chúng bị phá hoại nghiêm trọng, mà những xu hướng như chủ nghĩa quan liêu, tham nhũng, đặc quyền còn rất thịnh hành. Những vấn đề này khiến cho cầu nối quan hệ giữa Đảng và quần chúng ngày càng yếu, uy tín của Đảng ngày càng thấp. Mọi người đã không còn tin vào những gì được trình bày trên bục giảng. Không ít quần chúng đã mất niềm tin chính trị đối với bộ máy chính trị, quan chức trong Đảng của Liên Xô. Xu hướng tốt đẹp đồng tâm đồng đức giữa Đảng với quần chúng mà chủ nghĩa xã hội Liên Xô gây dựng trong nhiều năm đã mất hết.


Sự xuất hiện những hiện tưạng như "Người trong đêm", "Văn hóa nhà bếp" là một trong những biểu hiện nổi bật của việc mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng thời kỳ Brezhnev bị bóp méo. Nguyên nhân xuất hiện vấn đề này là ở nhiều phương diện, như công tác tuyên truyền giáo dục tư tưởng của Đảng chưa giải thích và hướng dẫn một cách kịp thời và có hiệu quả những vấn đề đảng viên và quần chúng quan tâm rộng rãi, những lời nói, hành động "vượt rào" mà cơ quan an ninh của Liên Xô nghiêm túc giám sát và trừng phạt. Nhưng những hiện tượng này cũng phản ánh sức ép về chính trị, sự áp đặt về tư tưởng, lại thêm sự tập quyền quá mức của toàn bộ thể chế quản lý xã hội, dẫn đến ý kiến của quần chúng về các vấn đề xã hội không tìm được kênh phản ánh, công tác của Đảng và chính phủ cũng không tìm thấy sự chỉ đạo từ ý kiến của nhân dân, do đó không nắm được lòng dân. Ý Đảng và lòng dân rất tự nhiên sẽ không thể kết nối được với nhau.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #116 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2022, 07:40:31 am »

Thái độ của thanh niên từ trước tới nay luôn là thước đo tinh thần của xã hội. Ngày 5 tháng 11 năm 1968, Ủy ban An ninh quốc gia Liên Xô đã trình lên Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô báo cáo về tinh thần của học sinh, thanh niên, tuy có thành phần quá khích, song ở một mức độ tương đối lớn đã toát lên thái độ của thanh niên, thậm chí của quần chúng trong xã hội Liên Xô đối với Đảng Cộng sản Liên Xô. Trong phần "Sinh viên và Đảng" của bản báo cáo này cho rằng, "số đông quần chúng học sinh tự đối lập với Đảng ở nhiều phương diện", có "tâm lý né tránh" đối với Đảng Cộng sản Liên Xô.


Báo cáo đã phác họa nên rất nhiều hình tượng của Đảng trong sinh viên đương thời: "Đảng không còn là hóa thân của những gì quang minh nhất, tiên tiến nhất", "rất hiếm thấy những đảng viên Cộng sản thực sự có nguyên tắc", "trong các cuộc nói chuyện, sinh viên không khách khí gọi Đảng là 'cái phao màu hồng'", "danh từ "Ban Chấp hành Trung ương lêninnít" nổi tiếng chỉ có thể tạo ra sự giễu cợt và phẫn nộ", "Đảng viên cộng sản vừa có thể là tên bợm rượu, vừa có thể là con quỷ dâm đãng, cũng có thể là kẻ vô nguyên tắc", "Đảng ở giai đoạn hiện nay là bàn đạp để tiện cho việc thăng quan tiến chức, chứ không hề là tổ chức gồm những phần tử ưu tú nhất được liên kết lại bởi quan điểm tư tưởng nào".


Ngược lại, thanh niên có một tình cảm tốt đẹp khác thường với Mỹ và mù quáng hướng theo Mỹ. Phần "Sinh viên với phương Tây" của Báo cáo đã chỉ rõ: "Nhân dân Mỹ là nhân dân thông minh, vì thế ở đó không có Đảng Cộng sản", "cuộc sống của những người thất nghiệp ở đó còn tốt đẹp hơn cuộc sống của kỹ sư ở ta"1 (Tham khảo Thẩm Chi Hoa (chủ biên): Tuyển tập các ví dụ thực tế về lịch sử Liên Xô, Nxb. Văn hiến khoa học xã hội, 2002, q.31, tr.149, 150, 152, 157).


Sự xa rời trong quan hệ giữa Đảng với quần chúng dẫn đến sự suy yếu trong vai trò tiên phong và sức chiến đấu của Đảng, ý thức làm chủ của quần chúng ngày càng nhạt đi. So với "thập kỷ 1930 rực lửa" thời kỳ đông đảo quần chúng tích cực tham gia xây dựng chủ nghĩa xã hội, thì nhiệt tình lao động và xây dựng của nhân dân Liên Xô đã bị suy thoái. Như báo Sự thật chỉ ra trong một bại viết: "Tình hình này dẫn đến hậu quả là, trên thực tế đã làm suy yếu yếu tố kích thích quần chúng lao động tích cực sản xuất, khiến cho họ ngày càng không quan tâm đến thành quả sản xuất của công xưởng"1 (Báo Sự thật, ngày 27 tháng 6 năm 1987). Tình trạng này còn biểu hiện ở hiện tượng bãi công, đình công ngày càng nghiêm trọng. Năm 1965, tình trạng này gây ra thiệt hại khoảng 3 tỷ rúp, năm 1972 khoảng 4 tỷ rúp. Công nhân trốn việc, trộm vật liệu còn khiến cho chất lượng sản phẩm giảm. Năm 1961, chỉ riêng ngành thương mại, tổng giá trị sản phẩm kém chất lượng đã lên đến 2,03 tỷ rúp, năm 1974 lên đến 4 tỷ rúp2 (Báo Sự thật, ngày 28 tháng 8 năm 1973).


Cần phải thấy rằng, tác phong tốt đẹp của Đảng Cộng sản Liên Xô do Lênin, Xtalin gây dựng tuy bị phá hoại nghiêm trọng ở thời kỳ Khrushchev, Brezhnev, song chủ yếu là vấn đề làm thế nào hoàn thiện sự lãnh đạo của Đảng và chính phủ, cải tiến công tác của Đảng và chính phủ, làm thế nào khôi phục và phát huy tác phong tốt đẹp của Đảng, làm mật thiết hơn nữa quan hệ giữa Đảng với quần chúng. Tính chất, tôn chỉ của Đảng Cộng sản Liên Xô thời kỳ đó vẫn chưa có sự thay đổi về bản chất, đông đảo quần chúng nhân dân và đảng viên cộng sản vẫn trung thành ủng hộ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Cũng chính vì vậy, mặc dù sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô tồn tại vấn đề này khác, song về tổng thể vẫn giành được những thành tựu to lớn. Đảng Cộng sản Liên Xô thực sự rơi vào thảm họa, rơi vào hố sâu là thời kỳ Gorbachev cầm quyền.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #117 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2022, 07:42:17 am »

III. TÁC PHONG ĐẢNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN LIÊN XÔ THỜI KỲ GORBACHEV
   

1. Đi ngược hoàn toàn với tính chất chính đảng mácxít - lêninnít

Đảng Cộng sản Liên Xô dưới sự lãnh đạo của Gorbachev hoàn toàn đi ngược lại nguyên tắc xây dựng Đảng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Nếu như nói Khrushchev chưa kịp cải tạo triệt để Đảng Cộng sản Liên Xô đã bị phe đối lập trong Đảng đánh đổ, thì Gorbachev không những đã hoàn thành việc chuyển biến thành "đảng toàn dân", mà còn trong những phương diện như tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu phấn đấu, nguyên tắc tổ chức, địa vị và vai trò của Đảng, đã hoàn toàn cải tạo Đảng thành Đảng Dân chủ xã hội Tây Âu. Mục tiêu cơ bản để hoàn thành quá trình này chính là Đại hội lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô tháng 7 năm 1990. Tuyên bố mang tính cương lĩnh "đi lên chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo" và Điều lệ của Đảng Cộng sản Liên Xô, đánh dấu các phương diện như tính chất, địa vị và vai trò của Đảng Cộng sản Liên Xô đã có những thay đổi căn bản, Đảng Cộng sản Liên Xô hoàn toàn biến đổi thành đảng dân chủ xã hội.


Gorbachev đã áp dụng nhiều biện pháp để lật đổ Đảng Cộng sản Liên Xô, trong đó một vũ khí về tư tưởng lý luận là triệt để xóa bỏ quan điểm giai cấp và học thuyết chuyên chính vô sản của chủ nghĩa Mác, xóa bỏ nền tảng tư tưởng lý luận đã nâng đõ Đảng Cộng sản Liên Xô. Để đạt được mục đích đó, Gorbachev đã áp dụng sách lược từng bước một, phủ định dần dần.


Đại hội lần thứ XXVII Đảng Cộng sản Liên Xô không nói xã hội xã hội chủ nghĩa vẫn tồn tại đấu tranh giai cấp, song lại đề cập "cuộc đấu tranh quyết liệt của hai loại thế giới quan trên vũ đài quốc tế", đồng thời coi "phản đối ý thức hệ tư sản" là một nhiệm vụ quan trọng trong giáo dục tư tưởng, nêu ra phải bồi dưỡng người Liên Xô "xuất phát từ lập trường giai cấp rõ ràng để đánh giá hiện tượng xã hội". Tuy nhiên, cùng với việc đưa ra cái gọi là "tư duy mới" trong chính trị quốc tế "giá trị của toàn nhân loại cao hơn tất cả", tức là cao hơn tất cả giai cấp, tất cả dân tộc, tất cả quốc gia, quan hệ quốc tế được nhân đạo hóa, phi ý thức hệ hóa đã dần thay thế cho quan điểm giai cấp và lập trường nguyên tắc của chủ nghĩa Mác về quan hệ quốc tế", loại bỏ sự đối kháng giữa hai hệ thống xã hội lớn là chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, thực hiện "nhất thể hóa" hai hệ thống xã hội lớn, trở thành cương lĩnh ngoại giao của chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo.


Đối với các vấn đề trong nước của Liên Xô, càng bỏ qua quan điểm giai cấp và học thuyết chuyên chính vô sản của chủ nghĩa Mác. Trước tình hình đấu tranh giai cấp nghiêm trọng ở trong nước với mục đích lật đổ chính quyền Đảng Cộng sản Liên Xô và chế độ xã hội chủ nghĩa, Đại hội lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô không những không nói xã hội Liên Xô vẫn tồn tại đấu tranh giai cấp, hoàn toàn bỏ qua nhiệm vụ "phản đối cuộc đấu tranh với ý thức hệ của giai cấp tư sản" trong giáo dục tư tưởng, mà còn phủ định sự cần thiết tiến hành chuyên chính vô sản ở Liên Xô, vu cáo "các tập đoàn cao cấp của Đảng và Nhà nước lợi dụng danh nghĩa chuyên chính vô sản thực hiện chuyên chế", tuyên bố phải "loại bỏ chuyên chính độc tài của bất kỳ thể chế quản lý giai cấp, chính đảng, tập đoàn nào".


Gorbachev còn kế thừa tư tưởng của Khrushchev, tiếp tục phủ định cơ sở giai cấp của Đảng Cộng sản Liên Xô, cải tạo Đảng Cộng sản Liên Xô từ đội tiên phong của giai cấp vô sản thành "đảng toàn dân" đại diện cho toàn thể nhân dân. Đại hội lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô quy định, Đảng Cộng sản Liên Xô là "tổ chức chính trị" "liên hợp công dân Liên Xô một cách có nguyên tắc", là một "tổ chức chính trị, chính đảng của toàn dân" "phản ánh lợi ích của toàn thể nhân dân"1 (Tô Quần (biên dịch): Tuyển tập tư liệu văn kiện chủ yếu của Đại hội Đại biểu lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô, Nxb. Nhân dân, 1991, tr.41, 44, 128-129,146). Coi Đảng Cộng sản Liên Xô là một "tổ chức chính trị xã hội tự trị", "liên minh tự nguyện của đảng viên cộng sản trí đồng đạo hợp", "tổ chức chính trị của toàn dân", không những làm mờ đi bản chất giai cấp của chính đảng của giai cấp vô sản của Đảng Cộng sản Liên Xô, mà còn giết chết tính tiên tiến của Đảng, đánh đồng Đảng Cộng sản Liên Xô với tổ chức quần chúng thông thường. Bởi lẽ Gorbachev biết rõ, chỉ cần giết chết tính giai cấp của Đảng Cộng sản, làm mờ đi cơ sở giai cấp và cơ sở quần chúng của Đảng Cộng sản là có thể đường đường chính chính cải tạo Đảng Cộng sản Liên Xô thành Đảng dân chu xã hội, tiến tới lấy chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo làm tư tưởng chỉ đạo và mục tiêu phấn đấu của Đảng Cộng sản Liên Xô.


Về tư tưởng chỉ đạo của đảng, Đại hội lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô nêu rõ: "Đảng Cộng sản Liên Xô kiên quyết xóa bỏ sự lũng đoạn về chính trị và ý thức hệ, xóa bỏ cách làm của cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan quản lý kinh tế"2 (Tô Quần (biên dịch): Tuyển tập tư liệu văn kiện chủ yếu của Đại hội Đại biểu lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđd, tr.146, 41), cũng tức là xóa bỏ địa vị lãnh đạo của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với Đảng và Nhà nước, thay vào đó là "chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo".


Về mục tiêu phấn đấu của Đảng, Đại hội lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô nêu rõ, Đảng Cộng sản Liên Xô phải "hiến thân vì toàn nhân loại và lý tưởng nhân đạo chủ nghĩa", Đảng Cộng sản Liên Xô "lẩy thiết lập chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo trong nước, bảo đảm điều kiện phát triển tự do toàn diện của con người làm mục tiêu của mình"3 (Tô Quần (biên dịch): Tuyển tập tư liệu văn kiện chủ yếu của Đại hội Đại biểu lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđd, tr.146, 41).


Về nguyên tắc tổ chức, Gorbachev bỏ qua nguyên tắc chế độ tập trung dân chủ của Đảng Cộng sản, chủ trương cái gọi là "nhất trí dân chủ". Trong báo cáo tại Đại hội XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô, ông cho rằng, "nguyên tắc này của Lênin trên thực tế bị chế độ tập trung quan liêu thay thế, nó đã hình thành nên "kỷ luật cấp bậc như trong doanh trại quân đội", hình thành nên cơ chế quan liêu, mệnh lệnh hành chính, là một loại cường quyền của chủ nghĩa quan liêu. Vì thế ông nêu rõ Đảng Cộng sản Liên Xô phải "kiên quyết xóa bỏ chế độ tập trung dân chủ một cách cứng nhắc được hình thành trong điều kiện thể chế mệnh lệnh hành chính", phải "kiên trì nguyên tắc dân chủ"1 (Tô Quần (biên dịch): Tuyển tập tư liệu văn kiện chủ yếu của Đại hội Đại biểu lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđđ, tr.128, 31, 44).
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #118 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2022, 07:43:10 am »

Như chúng ta đều biết, Lênin không chỉ coi trọng xây dựng Đảng trong lĩnh vực tư tưởng, mà còn rất coi trọng xây dựng Đảng trong lính vực tổ chức, yêu cầu mọi đảng viên phải tham gia vào một tổ chức cơ sở của Đảng và chịu sự lãnh đạo và giám sát của tổ chức cơ sở Đảng. Điều lệ Đảng được thông qua tại Đại hội lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô lại nêu, phàm là "công dân Liên Xô tròn 18 tuổi thừa nhận cương lĩnh của Đảng và thực hiện điều lệ Đảng, công tác trong một tổ chức cơ sở của Đảng và ủng hộ Đảng về vật chất', đều "có thể trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô"2 (Tô Quần (biên dịch): Tuyển tập tư liệu văn kiện chủ yếu của Đại hội Đại biểu lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđđ, tr.128, 31, 44). Nghĩa là, chỉ cần một người thể hiện mong muốn gia nhập Đảng với bất kỳ tổ chức cơ sở nào, mà đảng viên của tổ chức cơ sở Đảng đó không phản đối nguyện vọng gia nhập Đảng của người đó, thì thân phận đảng viên đã được xác lập. Điều này biêh Đảng thành một tổ chức chính trị thông thường "chỉ cần có nguyện vọng, ai cũng có thể tham gia". Rõ ràng, Đảng như vậy không thể có sức chiến đấu, cũng không thể trở thành đội tiên phong của giai cấp vô sản. Trước sự tấn công của thế lực phản động, không thể triển khai cuộc đấu tranh quyết liệt. Việc Đảng Cộng sản Liên Xô tan vỡ đã chứng minh điều này.


Nguyên tắc cụ thể của chế độ tập trung dân chủ cũng bị phá hoại nghiêm trọng, về "thiểu số phục tùng đa số, tuy ở Điều lệ Đảng được thông qua tại Đại hội lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô vẫn giữ lại về mặt câu chữ, song Gorbachev lại nhấn mạnh "thiểu số có quyền kiên trì quan điểm của mình, bao gồm quyền kiên trì quan điểm của bản thân trên công cụ ngôn luận của Đảng"1 (Tô Quần (biên dịch): Tuyển tập tư liệu văn kiện chủ yếu của Đại hội Đại biểu lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđd, tr.129, 150-151, 45), nghĩa là yêu cầu "xóa bỏ sự thống trị của đa số". Điều lệ Đảng được thông qua tại Đại hội lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô nói càng rõ: "Số" ít người có quyền bảo vệ lập trường của bản thân tại các hội nghị như hội nghị đảng viên, hội nghị đại biểu, đại hội đại biểu, hội nghị của cơ quan thực hiện và giám sát, đưa ra báo cáo bổ sung, nêu rõ ý kiến của mình trong bản ghi chép, yêu cầu tổ chức hoặc cơ quan cấp trên của mình thẩm tra lại các vấn đề tranh luận"2 (Tô Quần (biên dịch): Tuyển tập tư liệu văn kiện chủ yếu của Đại hội Đại biểu lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđd, tr.129, 150-151, 45). Không những thế số ít người hoàn toàn có quyền kiên trì lập trường của bản thân, trong đó bao gồm thông qua báo chí và cơ quan tuyên truyền của Đảng tìm sự ủng hộ của dư luận trong Đảng và chứng minh quan điểm của minh là đúng đắn. Như vậy, "thiểu số phục tùng đa số cũng đã biến thành một câu vô nghĩa.


Về "cá nhân phục tùng tổ chức", theo Gorbachev điều này là xâm phạm tự do của cá nhân. Vì thế, "nêu một số đảng viên có quan điểm không giống với lập trường của đa số đảng viên, họ có thể tự do thảo luận và tuyên truyền quan điểm của mình, thậm chí công khai những quan điểm đó tại Đại hội đại biểu của Đảng"3 (Tô Quần (biên dịch): Tuyển tập tư liệu văn kiện chủ yếu của Đại hội Đại biểu lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđd, tr.129, 150-151, 45). Điều lệ Đảng được thông qua tại Đại hội lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô nhấn mạnh, phải cho phép đảng viên tiến hành liên hệ ngành dọc dựa trên một cương lĩnh, lợi ích, chủ trương nào đó, tổ chức các loại câu lạc bộ, hội thảo lý luận, trung tâm biện luận, diễn đàn, hội đồng, triển khai hoạt động, quyết định lập trường của bản thân đối với những vấn đề này1 (Tô Quần (biên dịch): Tuyển tập tư liệu văn kiện chủ yếu của Đại hội Đại biểu lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđd, tr.152, 154-155). Điều này trên thực tế là cho phép sự tồn tại hợp pháp của các tổ chức phe phái trong Đảng.


Về "cấp dưới phục tùng cấp trên", Gorbachev cho rằng, đây là "cơ cấu quan liêu đẳng cấp" điển hình, phải ra sức xóa bỏ. Điều lệ Đảng thông qua tại Đại hội lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô quy định, tổ chức Đảng các cấp "độc lập trong sinh hoạt chi bộ và hoạt động nội bộ". Khái quát lại, tính độc lập này biểu hiện ở hai phương diện: nghị quyết của tổ chức Đảng cấp dưới "chỉ cần không đi ngược lại mục tiêu mang tính cương lĩnh của Đảng, và trong phạm vi quyền hạn được Điều lệ Đảng cho phép, tổ chức cấp trên không được xóa bỏ"; những nghị quyết của tổ chức Đảng cấp trên liên quan đến tổ chức Đảng cấp dưới, phải được sự đồng ý của tổ chức cấp dưới mới được thông qua. Ví dụ Nghị quyết của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô liên quan đến các nước cộng hòa trong Liên bang, nếu Trung ương các nước cộng hòa trong Liên bang không đồng ý, có quyền phản đối thực hiện2 (Tô Quần (biên dịch): Tuyển tập tư liệu văn kiện chủ yếu của Đại hội Đại biểu lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđd, tr.152, 154-155). Điều này có nghĩa tổ chức cấp trên đã cơ bản mất đi chức năng lãnh đạo đối với tổ chức cấp dưới.


Về "toàn Đảng phục tùng Trung ương" lại càng không được phép. Vì theo Gorbachev, đây là biểu hiện của chế độ đẳng cấp siêu tập trung, phấn dân chủ và khắt khe của Đảng kiểu Xtalin cực quyền mới, nó làm cho mỗi đảng viên không thể khôi phục tính tôn trọng và tính tự do trong Đảng của mình/ bài xích nguyên tắc sáng tạo và tính tích cực của cấp dưới, biến Đảng thành phần phụ của các cơ quan của Đảng, tạo thành cường quyền quan liêu và không khí cứng nhắc trong sinh hoạt nội bộ Đảng. Do đó, Điều lệ Đảng được thông qua tại Đại hội lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô nhấn mạnh tính dân chủ, chủ động của tổ chức và quyền lợi của đảng viên bình thường. Hơn nữa, khi tổ chức cấp trên cơ bản mất đi chức năng lãnh đạo đối với tổ chức cấp dưới, thì không có chuyện toàn Đảng phục tùng Trung ương.


Gorbachev không những xóa bỏ toàn diện nguyên tắc xây dựng đảng của chủ nghĩa Mác, nghiêm trọng hơn, ông chủ trương xóa bỏ địa vị cầm quyền của Đảng Cộng sản Liên Xô. Vì theo ông, chuyên chính vô sản có nghĩa là chuyên chế của một giai cấp đối với toàn thể nhân dân, là đội tiên phong của giai cấp vô sản, Đảng Cộng sản Liên Xô cầm quyền chính là sự lũng đoạn và độc tài đối với quyền lực quốc gia. Bởi vậy, phải thực hiện chính trị dân chủ hóa, Đảng Cộng sản Liên Xô phải chủ động chấm dứt chuyên chính của một đảng, thực hiện chế độ đa đảng và dân chủ nghị viện trong cạnh tranh đa đảng mưu cầu địa vị chính trị và xã hội của mình. Cũng có nghĩa phải biến Đảng Cộng sản Liên Xô thành đảng nghị viện đứng ra tổ chức nghị viện và bầu Tổng thống.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #119 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2022, 07:43:57 am »

Hội nghị toàn thể của Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô tháng 2 năm 1990 cho rằng: "Đảng Cộng sản Liên Xô sẽ thực hiện chính sách của mình trong phạm vi tiến trình dân chủ, đồng thời đấu tranh để bảo vệ địa vị cầm quyền của mình, giành được phiêu trong bầu cử để giành sự ủy thác của nhân dân, lập cơ quan lãnh đạo ở Trung ương, ở các nước cộng hòa và các địa phương"; "Đảng không giành lấy toàn quyền của chính quyền nhà nước", "Đảng không theo đuổi đặc quyền và địa vị đặc biệt của mình quy định trong Hiến pháp Liên Xô. Xuất phát từ điểm này, Đảng cho rằng phải thông qua lập pháp để kiến nghị quy trình, trình lên Đại hội đại biểu nhân dân Liên Xô kiến nghị liên quan đến điều 6 Luật cơ bản của nhà nước"1 (Trung tâm Biên tập tư liệu, Ban Liên lạc đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (biên tập): Văn kiện Hội nghị toàn thể tháng 2 Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô (từ ngày 5 - 7-2-1990), Sđd, tr.41-42). Theo đề nghị của Hội nghị toàn thể tháng 2, ngày 14 tháng 3 năm 1990, Đại hội đại biểu nhân dân Liên Xô đã thông qua "Về lập chức danh Tổng thống Liên Xô và Hiến pháp Liên Xô bổ sung, sửa đổi (Luật cơ bản)", đã xóa bỏ điều 6 về "địa vị lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô" trong Hiến pháp Liên Xô, cho rằng "công dân Liên Xô có quyền liên kết thành chính đảng", Đảng Cộng sản Liên Xô mất đi địa vị cầm quyền trong pháp luật.


Đại hội lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô căn cứ thực tế Đảng đã quyết định xóa bỏ địa vị cầm quyền, trực tiếp xóa bỏ các cách nói Đảng là "lực lượng lãnh đạo" hoặc "hạt nhân" lãnh đạo của xã hội Liên Xô, cho rằng "mấy chục năm nay, Đảng Cộng sản Liên Xô chỉ phục vụ cho thể chế quan liêu độc đoán, Đảng Cộng sản Liên Xô "chuẩn bị tiến hành cạnh tranh và hợp tác công khai với các chính đảng và phong trào khác", "bất cứ đảng cộng sản nào cũng không được đứng trên các đảng khác, không thể đem ý chí của mình áp đặt cho đảng khác". Gorbachev tuyên bố rõ ràng: "Đảng ủng hộ việc sửa đổi điều 6 và điều 7 của Hiến pháp Liên Xô, quyết định không tiếp tục thay thế cơ quan nhà nước, không tiếp tục thực hiện chức năng quản lý hành chính". Đảng "cố gắng bảo vệ địa vị của đảng cầm quyền trong phạm vi bầu cử", Đảng Cộng sản Liên Xô "đóng vai trò là đảng nghị viện"2 (Tô Quần (biên dịch): Tuyển tập tư liệu văn kiện chủ yếu của Đại hội Đại biểu lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđd, tr.35, 37, 41).


Đại hội lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô còn tiến hành diễn giải và quy định cụ thể về việc Đảng Cộng sản Liên Xô làm thế nào để chuyển thành đảng nghị viện. Tuyên bố mang tính cương lĩnh được thông qua tại Đại hội nêu rõ, Đảng "sẽ giải quyết vấn đề phát triển xã hội, bảo vệ quyền lãnh đạo chính trị trong cuộc cạnh tranh tự do với lực lượng chính trị xã hội khác bằng hành động thực tế và lập trường mang tính xây dựng của mình". Điều lệ Đảng được thông qua tại đại hội nêu rõ, "Đảng Cộng sản Liên Xô thông qua bầu cử tự do Xôviết của đại biểu nhân dân và các hình thức khác thể hiện ý chí của công dân Liên Xô, giành địa vị lãnh đạo chính trị trong xã hội", "nhiệm vụ của Đảng chỉ là "tổ chức đưa ra và công bổ" cương lĩnh tranh cử của mình, giới thiệu đảng viên cộng sản vào danh sách bầu cử, giúp họ tổ chức hoạt động tranh cử"1 (Tô Quần (biên dịch): Tuyển tập tư liệu văn kiện chủ yếu của Đại hội Đại biểu lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđd, tr.128, 130).


Cương lĩnh hành động được thông qua tại Đại hội lần thứ XXVIII còn tuyên bố rõ ràng: "Tính đến ý nghĩa của việc triển khai hoạt động tranh cử theo khu dân cư ngày càng lớn", bởi vậy chức năng chính trị của Đảng phải biểu hiện là "cố gắng giành thắng lợi trong cuộc bầu cử ở cơ quan quyền lực các cấp, đồng thời trong trường hợp thắng lợi, thiết lập cơ quan thực hiện tương ứng, tiến hành hoạt động nghị viện, hoàn thành cương lĩnh tranh cử của mình"2 (Tô Quần (biên dịch): Tuyển tập tư liệu văn kiện chủ yếu của Đại hội Đại biểu lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđd, tr.128, 130).


Về quan hệ giữa Đảng và đoàn thể quần chúng, Đảng Cộng sản Liên Xô không còn là lãnh đạo, mà chỉ là một "người hợp tác" bình đẳng. Đại hội lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô nêu rõ: "quan hệ giữa Đảng và Công đoàn đang thay đổi, họ đã từng phục tùng theo những chỉ thị của thủ trưởng hành chính của Đảng, trong nhiều xí nghiệp trở thành một vật phụ thuộc của hành chính, thời đại đó đã qua rồi", "quan hệ giữa Đảng với Công đoàn, với các tổ chức công nhân khác sẽ được xây dựng trên cơ sở đối tác và đồng chí, Đảng ủy không bao giờ can thiệp vào công việc nội bộ của Công đoàn". Cũng có nghĩa, Công đoàn là một đoàn thể xã hội độc lập. Về quan hệ với tổ chức thanh niên, Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Liên Xô cho rằng, Đoàn thanh niên Cộng sản không còn là trợ thủ của Đảng, mà là một "tổ chức chính trị xã hội độc lập", "Đoàn thanh niên Cộng sản của tổ chức Đảng phải biết xây dựng quan hệ liên minh chính trị của mình"1 (Tô Quần (biên dịch): Tuyển tập tư liệu văn kiện chủ yếu của Đại hội Đại biểu lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđd, tr.39-40, 132). Điều này có nghĩa, Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội liên hiệp phụ nữ và các đoàn thể quần chúng khác không còn chịu sự lãnh đạo của Đảng, các tổ chức đó với Đảng chỉ là quan hệ đối tác. Nói cách khác, tán thành chủ trương của Đảng thì hợp tác với Đảng; không tán thành chủ trương của Đảng thì có thể xa rời, thậm chí chống lại Đảng.


Tóm lại, trong vòng mấy năm ngắn ngủi theo tư tưởng xây dựng Đảng dân chủ xã hội nhân đạo, Gorbachev từng bước cải tạo Đảng Cộng sản Liên Xô thành một đảng cải lương tư sản từ tính chất, mục tiêu đến cương lĩnh, hình thức tổ chức của Đảng. Thời kỳ đó tên của Đảng Cộng sản Liên Xô tuy không thay đổi, song tính chất, tôn chỉ và những nguyên tắc xây dựng Đảng quan trọng khác đã thay đổi căn bản. Việc Đảng đối mặt với sự tan rã chỉ còn là vấn đề thời gian.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM