Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 11:45:19 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tính trước nguy cơ - Suy ngẫm sau 20 năm Đảng Cộng sản Liên Xô mất Đảng  (Đọc 42199 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #120 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2022, 07:56:24 am »

2. Lừa gạt, chia rẽ và phản bội nhân dân

Nếu nói vấn đề nổi cộm trong công cuộc xây dựng Đảng Cộng sản Liên Xô thời kỳ Brezhnev là lãnh đạo dần dần xa rời, quay lưng lại với tập thể, đặc biệt là quần chúng nhân dân, thì đến thời kỳ Gorbachev, vấn đề này không những ngày càng trầm trọng mà còn tới mức về cơ bản phá hoại Đảng Cộng sản Liên Xô để phục vụ cho mưu cầu tư lợi của một số ít người hoặc một tập thể nhỏ, tạo ra một thế lực phản động dựa vào Gorbachev, Yeltsin theo đuổi mục tiêu chống phá hoạt động của Đảng, chống phá hoạt động của chủ nghĩa xã hội. Vì thế, bọn họ tung ra các chiêu trò mà những phần tử lừa gạt thường sử dụng, lừa gạt và chia rẽ phần lớn đảng viên và quần chúng nhân dân, từng bước dẫn dắt Đảng Cộng sản Liên Xô vào con đường chia rẽ, vào ngõ cụt; và một khi tất cả đã đi vào quỹ đạo, họ sẽ không chút do dự mà xóa bỏ Đảng. Do vậy, khi nội bộ Đảng thịnh hành làn gió lừa gạt, chia rẽ, phản bội thì cơ thể Đảng từ trong ra ngoài tỏa ra một hơi thở của hủ bại và suy vong.


Thực sự cầu thị, trong ngoài như một, quang minh chính đại là phẩm chất nhất quán mà người cộng sản phải giữ gìn, là hình tượng bên ngoài để Đảng lấy được lòng tin ở nhân dân. Thế nhưng những người lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô mà Gorbachev là đại diện chỉ nhằm đạt được mục đích cá nhân mà nghĩ một đằng nói một nẻo, trong ngoài bất nhất, lừa gạt dối trá, mị dân.


Gorbachev biết rõ rằng, những chủ trương của chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo và tính chất, tôn chỉ, mục tiêu của chính đảng giai cấp vô sản không ăn nhập với nguyên tắc xây dựng Đảng, như nước với lửa không thể dung hòa. Vậy nên để lấy được sự tín nhiệm trong và ngoài Đảng, ông ta đã lợi dụng thủ đoạn lừa gạt hai mặt. Ban đầu ông ta hứa sẽ tiến hành cải tổ "trong phạm vi chủ nghĩa xã hội", nói rằng cải tổ là để "hoàn thiện chủ nghĩa xã hội một cách toàn diện và có kế hoạch", là để "phát triển và củng cố chủ nghĩa xã hội một cách mạnh mẽ"1 (Gorbachev: Cải tổ và tư duy mới đối với nước ta và thế giới, Sđd, tr.45), với mục đích khai phá và phát huy tiềm lực của chế độ xã hội còn non trẻ. Sau này, ông nêu ra phải "nhận thức lại" chủ nghĩa xã hội, giải thích lại thế nào là chủ nghĩa xã hội. Trải qua hàng loạt quá trình chuẩn bị, đến tháng 6 năm 1988, Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô triệu tập Hội nghị đại biểu lần thứ 19, cảm thấy thời cơ đã chín muồi, Gorbachev liền thay đổi lời hứa trước kia, công khai chuyển đổi toàn diện công cuộc cải tổ theo hướng "chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo", khiến cho tính chất và phương hướng cải tổ thay đổi hoàn toàn về mặt bản chất.


Tại sao cải tổ tiến hành hơn 3 năm sau mới tiết lộ sự thật, mới đưa ra lá bài chiến lược của bản thân? Gorbachev sau này mới nói rõ nguyên nhân. Ông ta nói trước đây "tất cả đều là những giai đoạn không thể thiếu, bởi vì giả sử vào tháng 4 năm 1985 cũng như tại Đại hội đại biểu (chỉ Đại hội đại biểu lần thứ XXVII Đảng Cộng sản Liên Xô diễn ra vào tháng 2 năm 1986 - chú thích của người dẫn), sau đó là trong Hội nghị toàn thể Ban chấp hành Trung ương tháng 1, tháng 6 năm 1987, tháng 2 năm 1988, cho tới Hội nghị đại biểu Đảng lần này (chỉ Hội nghị đại biểu lần thứ 19 Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô - chú thích của người dân) chúng tôi cũng nêu vấn đề như vậy, thì liệu có người ủng hộ chúng tôi không? Chúng tôi sẽ trở thành bia đõ đạn, rất dễ bị đẩy ra khỏi tầng lớp lãnh đạo"1 (Thuật Thao (biên dịch): Hồi ký Gorbachev, Nxb. Khoa học xã hội - Văn hiến, 2003, quyển thượng, tr.476).


Nhằm xác lập và tiến hành "chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo", Gorbachev đã gồng hết khả năng của mình. Trong số những nhà lãnh đạo của Liên Xô, ông ta nổi tiếng là "nói năng lưu loát, giỏi hùng biện". Ông ta thích dùng những từ ngữ mơ hồ để phát biểu ý kiến, giỏi ngụy biện, chiết trung, biến sai thành đúng khi đưa ra những cái mới cái lạ, đạt được hiệu quả thật giả lẫn lộn, khiến cho người khác không phân biệt được đúng sai, để nhân lúc tư tưởng người ta đang rối bời mà làm đục nước bắt cá, đem những chủ trương của mình áp đặt cho Đảng, áp đặt cho cả xã hội Liên Xô. Nhưng khi không đạt được mục đích sẽ lộ nguyên hình, khống chế quyền phát ngôn, biến không thành có, thậm chí đổi trắng thay đen. Ông ta dùng thủ đoạn chèn ép những người trong và ngoài Đảng có ý kiến với chính sách cải tổ của ông ta.


Ông ta tuyên truyền "dân chủ hóa", "công khai", chủ trương không để lại cho lịch sử bất kỳ một "điểm trống" nào, bề ngoài dường như nhằm cải thiện bầu không khí chính trị của Liên Xô, tăng cường độ minh bạch của xã hội; thực tình ý đồ thực sự của ông ta là cổ vũ cho thế lực chống chủ nghĩa xã hội trong và ngoài nước phủ định lịch sử Liên Xô, phủ định lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô, công kích chủ nghĩa xã hội, khơi gợi xung đột dân tộc và tư tưởng chống cộng, chống Xô. Chỉ có làm như vậy mới quét sạch được trở ngại trên con đường thúc đẩy "chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo" ở Liên Xô của ông ta.


Ông ta ngoài miệng chủ trương "thuyết cách mạng cải tổ", đề ra "cải tổ là một quá trình cách mạng", "cải tổ là một cuộc cách mạng", "là bước nhảy vọt trong quá trình phát triển của chủ nghĩa xã hội, là bước nhảy vọt thực hiện đặc tính bản chất của nó"1 (Gorbachev: Cải tổ và tư duy mới đối với nước ta và thế giới, Sđd, tr.57), phải tiến hành cải tạo một cách căn bản Liên Xô và Đảng Cộng sản Liên Xô, từ đó tạo ra một hình tượng lãnh tụ đầy khí phách mà người ta cần để thay đổi triệt để hiện trạng Liên Xô. Thế nhưng, "thuyết cách mạng cải tổ" của Gorbachev lại có mặt không nói ra ngoài. Ông ta chỉ nói về ý nghĩa cách mạng của cải tổ, mà không nói đến tính nguyên tắc của cải tổ. Ông ta khởi xướng tiến hành cuộc "cải tạo mang tính cách mạng" đối với toàn bộ tòa lâu đài xã hội, thực chất là muốn hủy hoại nền móng của Đảng và Nhà nước, phủ định một cách căn bản chế độ xã hội chủ nghĩa của Liên Xô.


Gorbachev còn đưa ra "thuyết đa nguyên", bề ngoài thấy như là thúc đẩy dân chủ hóa đời sống chính trị, kinh tế và xã hội Liên Xô, mang lại cơ hội và sức sống mới cho nước cho dân; tuy nhiên động cơ thực sự của phương châm "thuyết đa nguyên" chính là phủ định địa vị chỉ đạo của chủ nghĩa Mác - Lênin, phủ định địa vị cầm quyền của Đảng Cộng sản Liên Xô, phủ định địa vị chủ thể của doanh nghiệp công hữu, tiến tới đưa ý thức hệ của giai cấp tư sản lên chiếm vị trí thống trị, xóa bỏ những trở ngại chế độ đế thế lực chống cộng, chống chủ nghĩa xã hội cướp quyền lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, để Liên Xô thực hiện chế độ tư hữu hóa cả gói.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #121 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2022, 07:57:27 am »

"Thuyết đa nguyên" đặt tư tưởng chỉ đạo thuyết nhất nguyên cùng tồn tại với tính đa dạng của các loại quan điểm, ý kiến khác, đặt sự cầm quyền của Đảng Cộng sản song song với việc phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, làm lẫn lộn khái niệm nền kinh tế lấy chế độ công hữu làm chủ thể với khái niệm nền kinh tế với các thành phần kinh tế khác nhau cùng bổ sung hỗ trợ, vì thế tạo nên sự mập mờ khó hiểu, trở thành vũ khí tư tưởng nhằm xóa bỏ Đảng Cộng sản Liên Xô, chôn vùi chủ nghĩa xã hội Liên Xô của Gorbachev.


Tóm lại, các loại khái niệm mới mẻ mà Gorbachev đưa ra bề ngoài có vẻ như là giương cao ngọn cờ "phát triển và sáng tạo" chủ nghĩa Mác, cho nên đã khiến cho rất nhiều người Liên Xô, trong đó có một số nhân vật cao cấp trong Đảng Cộng sản Liên Xô, nhất thời không nhìn ra trong thời kỳ đầu cải tổ, khiến cho âm mưu của ông ta thành công, cứ thế dễ dàng dẫn dắt Đảng Cộng sản Liên Xô, thậm chí là cả Liên Xô đi theo định hướng của ông ta một cách thuận lợi. Đến khi mọi người tỉnh ngộ ra thì những hậu quả tiêu cực mà Gorbachev gây ra đã khó lòng cứu vãn. Trải qua một thời gian dài bị hủy hoại dưới thời Brezhnev và Khrushchev, xét về tổng thể, việc bồi dưỡng lý luận chủ nghĩa Mác cho đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô và nhân dân Liên Xô không cao cố nhiên là nguyên nhân chính, nhưng thủ đoạn lừa gạt hai mặt của Gorbachev vẫn đóng vai trò quan trọng.


Gorbachev về mặt lý luận không chỉ lòe bịp ngôn từ, lấy phiến diện nhìn toàn thể, lén lút tráo trở, láu cá lưu manh, mà còn có tác phong làm việc không nhất quán giữa lời nói và hành động, gió chiều nào xoay chiều đó, láu cá, mưu mô. Boldin từng nhó lại rằng: quan điểm của Gorbachev luôn thay đổi, thích vòng vo, "thường tiến hai bước, sang bên cạnh ba bước, lại lùi một bước", "đối mặt với phái kiên trì chủ nghĩa Mác, ông ta nói phải phấn đấu vì tương lai tươi sáng - chủ nghĩa cộng sản, không lúc nào được xa rời con đường này; với phải thị trường, ông ta lại nói, chỉ có con đường tạo quan hệ phát triển thị trường giống như Áo và Thụy Điển, dân chủ và tự do, mới có thể thành công". "Ông ta giỏi dùng thủ đoạn, bản lĩnh này qua nhiều năm đã đạt tới trình độ thuần thục"1 ([Liên Xô] V. Boldin: Lịch sử thăng trầm của Gorbachev, Sđd, tr.308). Ông ta lúc thì đột nhiên đánh giá cao thành tựu to lớn mà lịch sử Liên Xô đã tạo dựng nên, lúc lại công kích thể chế chính trị Liên Xô những năm 1970 là "thể chế quan liêu tập trung quyền lực", phải được thay thế bằng thể chế "tự do, dân chủ". Tác phong hai mặt của Gorbachev thường khiến cho cấp dưới không kịp thích ứng, "quan điểm 'đa nguyên hóa' của Tổng Bí thư khiến cho người ta không biết phải làm sao cho đúng, thái độ không rõ ràng về tương lai khiến cho nhân sĩ hai phái đều nghi ngờ thành ý của ông ta"2 ([Liên Xô] V. Boldin: Lịch sử thăng trầm của Gorbachev, Sđd, tr.308).


Về tác phong hai mặt điển hình của Gorbachev, Ryzhkov nói rằng: "Rất nhiều người, thậm chí người có chút hiểu biết nhất định về con người Gorbachev, vẫn thường khó mà nắm bắt được những lời nói và hành động của ông ấy, những thay đổi trong chớp mắt của ông ấy"3 (Ryzhkov: Mười năm đại loạn, Sđd, tr.367). Trước khi đảm nhiệm cương vị Tổng thống Liên Xô, ông ta đã từng nhiều lần tuyên bố rằng: "Đảng là tất cả đối với tôi, tôi có thể từ bỏ chức vị Tổng thôhg Liên Xô vì trong trái tim tôi chỉ có Đảng Cộng sản Liên Xô là quan trọng nhất". Nhưng sau khi lên làm Tổng thống, hành vi của ông ta lại trái ngược hoàn toàn với những lời tuyên bố trước đó. Sau khi Liên Xô tan rã, trong cuộc đối thoại với nhà hoạt động xã hội người Nhật Daisaku Ikeda, ông ta nói ông ta cảm thấy vô cùng vinh hạnh là trong những năm cải tổ đã xóa bỏ được những hậu quả do ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản trong nhận thức của mọi người.


Trong nội bộ Đảng, bề ngoài Gorbachev thực hiện "dân chủ", nhưng thực tế là một người độc đoán không chấp nhận bất kì ý kiến hay lời kêu gọi nào bất đồng với ông ta. Quan điểm chính trị mà ông ta phát biểu thường không hài hòa với quan điểm của một số người trong Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô. Rất nhiều đề xướng và hứa hẹn của ông ta nhiều Ủy viên Bộ Chính trị đều chỉ được biết qua báo chí. Ngay cả trong cuộc họp, ông ta "không muốn, không thích và không chịu lắng nghe ý kiến của người khác, chỉ thích ba hoa khoác lác, chỉ một mình ông ta nói trên trời dưới biển, thao thao bất tuyệt, lòe bịp ngôn từ, những tư tưởng cứng nhắc trống rỗng được nói ra như rót mật vào tai"1 (Ryzhkov: Mười năm đại loạn, Sđd, tr.369).


Gorbachev từng bảo đảm rằng sẽ không phạm phải những sai lầm của Brezhnev, tức là một người đảm nhiệm hai vị trí lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Ngày 2 tháng 7 năm 1985, ông ta đưa ra đề xuất Tổng bí thư nên tập trung tinh thần sức lực để nắm công việc của Đảng, và không nên giữ vị trí trong hàng ngũ lãnh đạo Nhà nước, thế nên ông ta thề sẽ không đảm nhiệm chức vụ cao nhất của nhà nước Xôviết là Chủ tịch nước, đề cử Gromyko đảm nhiệm chức vụ này. Nhưng tháng 6 năm 1988, trong Hội nghị đại biểu toàn quốc lần thứ 19 Đảng Cộng sản Liên Xô, lại chính ông ta đưa ra ý kiến Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô kiêm nhiệm vị trí đầu não quốc gia, đưa ra ý kiến "phải đề xuất Bí thư thứ nhất của Đảng ủy đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch Xôviết tương ứng"1 (Ryzhkov: Mười năm đại loạn, Sđd, tr.510). Thực chất của vấn đề lại không nằm ở chỗ Bí thư Đảng ủy có thể kiêm nhiệm Chủ tịch Xôviết hay không, mà làm như vậy cũng không phải không có khả năng, thậm chí có lúc là cần thiết. Vấn đề ở đây là nó phản ánh tác phong thiếu nhất quán và tham vọng quyền lực vô cùng của Gorbachev.


Gorbachev ngoài miệng lớn tiếng rao giảng "dân chủ", trên thực tế thì việc đề bạt cán bộ hoàn toàn do ông ta quyết định. Trước đó, "nhóm Ucraina" của thời kỳ Khrushchev, "nhóm Dnepr" của Brezhnev, đều mang đặc điểm "kết bè kéo cánh" của thời kỳ Liên Xô. Gorbachev thường lấy mức tiêu chuẩn "trung thành" với ông ta để đánh giá và sử dụng cán bộ. Ai đó nếu là "cận thần" của Chernenko, đã từng phản đối ông ta, thì người ấy khó có thể được trọng dụng, Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô cũ Dolgikh đã từng là một trong những người được lựa chọn kế nhiệm chức Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô, Gorbachev vì muốn hạn chế ảnh hưởng của người này, bèn phát động một cuộc chiến ngầm để phản đối ông. Những người như Romanov, Grishin... cũng biến mất khỏi vũ đài chính trị sau khi thất bại trong cuộc tranh chức Tổng Bí thư với Gorbachev. Thậm chí như Ligachev, Shevardnadze, Yakovlev hoặc những người khác, nếu có một thời điểm nào đó xuất hiện nhiều trên báo chí hoặc truyền thông, liền bị Gorbachev nảy sinh lòng đố kị. Theo hồi ức của Boldin, người từng có một thời gian dài phục vụ Gorbachev: "Khi ông ấy biết được có người nào đó nhận được sự ủng hộ hơn mình, ông ấy trở nên mất kiểm soát. Theo kinh nghiệm của tôi, những người đó sẽ sớm gặp rắc rối, Tổng Bí thư - Tổng thống sẽ khiến họ biến mất trên chính trường"1 ([Liên Xô] V. Boldin: Lịch sử thăng trầm của Gorbachev, Sđd, tr.357). Ai cũng biết, những người như Shevardnadze, Aliyev, Yakovlev được trọng dụng đều do trung thành với Gorbachev. Kết quả tất yếu của việc "kéo bè kết phái" là tạo ra một loại "lãnh tụ" và vòng tròn xoay quanh ông ta với chế độ độc tài toàn quyền, chế độ này khiến cho số ít những người lãnh đạo cấp cao có thể lợi dụng quyền lực trong tay mình để mưu cầu lợi ích cá nhân. Nghiêm trọng nhất là sau sự kiện "19 tháng 8", ông ta tự mình đứng ra tuyên bố giải tán Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô mà không thông qua Đại hội đại biểu của Đảng, hay ít nhất là Ban Chấp hành Trung ương, đây đúng là một hành động tùy tiện xưa nay chưa từng thấy! Đây cũng là một sự mỉa mai tuyệt vời đối với nguyên tắc "dân chủ hóa", "công khai hóa" mà bản thân ông ta từng lớn tiếng hô hào, là sự trái ngược rõ ràng với tác phong ưu việt của Đảng Cộng sản Liên Xô thời kỳ đầu.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #122 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2022, 07:58:34 am »

Khi dân chủ trong Đảng bị phá hoại không chỉ làm nảy sinh những vấn đề nghiêm trọng như chủ nghĩa cá nhân độc đoán, chuyên quyền, mà còn khiến cho việc bầu cử dân chủ chỉ còn là hình thức. Đảng Cộng sản là đội tiên phong của giai cấp công nhân, là đại diện trung thành cho lợi ích của số đông nhân dân; về mặt tổ chức phải bảo đảm đại diện của Đảng và của nhân dân phải do số đông đảng viên và nhân dân chọn lựa, đồng thời có thể đảm nhiệm tốt nhiệm vụ đại diện cho lợi ích của nhân dân. Và để làm được điều này, một phần việc quan trọng là bảo đảm rằng số lượng đại biểu công nhân và nông dân chiếm tỉ lệ lớn trên tổng số đại biểu. Thời kỳ Lênin, Xtalin, Đảng Cộng sản Liên Xô đã hết sức coi trọng vấn đề này, nhưng đến thời kỳ Gorbachev, đặc biệt sau khi ông này lên nắm quyền, đại diện của Đảng, của nhân dân trở thành những kẻ quan liêu tư lợi hoặc thành đặc quyền do người của ông ta điều khiển.


Tháng 2 năm 1986, khi Đảng Cộng sản Liên Xô tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ XXVII, có 1.705 đại biểu công nhân trên tổng số 5.000 đại biểu, mà tới lần Đại hội thứ XXVIII vào tháng 7 năm 1990, chỉ có 543 đại biểu công nhân trong tổng số 4.683 đại biểu tham dự, không bằng 1/3 số đại biểu công nhân của kỳ Đại hội trước, chỉ chiếm 11,6% tổng số đại biểu. Đại biểu nông dân cũng chỉ có 225 người. Khoảng 60% số đại biểu là đại biểu nhân dân toàn Liên Xô được lựa chọn trong thời kỳ "dân chủ hóa" của Gorbachev và đại biểu nhân dân do các nước cộng hòa trong Liên bang và nước cộng hòa tự trị lựa chọn ra1 (Tô Quần (biên dịch): Tuyển tập tài liệu văn kiện chính của Đại hội đại biểu lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđd, tr.77-78).


Sau này, khi miêu tả về tình trạng và vấn đề của việc cơ cấu đại biểu trong Đảng trước khi khai mạc Đại hội Đảng lần thứ XXVIII, Gorbachev đã nói: "... trong số đại biểu thì số lượng công nhân ít tới mức đáng thương, số chỉ tiêu đều bị Bí thư của tổ chức Đảng các cấp chiếm hết. Các hội nghị đại biểu, tất nhiên cả đại hội đại biểu, biến thành đại hội cán bộ của Đảng, chủ yếu là đại hội cán bộ Đảng của hai cấp khu, thành phố. Đây cũng chính là kết quả của bầu cử. Trong quá trình bầu cử, cán bộ cơ quan Đảng gây ra áp lực lớn, cũng coi như là tự mình ứng cử rồi trúng cử làm đại biểu". Ngay cả những "đại diện công nhân may mắn trúng cử, tại Hội nghị đại biểu Nga, hay tại Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Liên Xô đều trăn trở"2 (Thuật Thao (biên dịch): Hối ký Gorbachev, Sđd, quyển thượng, tr.640). Ngược lại, "rất nhiều người không có chức vụ, thậm chí đã từng phạm tội ác, tội phạm giết người tù tội cũng xuất hiện trong danh sách ứng cử đại biểu nhân dân. Còn những người chỉ biết nói suông và những người có tâm địa độc ác mang cương lĩnh tranh cử chống Liên Xô, chống Đảng Cộng sản thì nhiều vô kể1 (Ligachev: Cảnh báo, Sđd, tr.89).


Rất nhiều nhân sĩ "anh tài" xuất hiện trong thời kỳ Gorbachev chiếm được những ghế đại biểu này một cách chắc chắn. Ngoài miệng họ nói là đại diện nhân dân, thực tế lại làm những việc tổn hại lợi ích của dân. Viện trưởng Viện nghiên cứu chính trị xã hội, Viện Hàn lâm khoa học Nga Osipov chỉ ra rằng, phái cương lĩnh dân chủ xuất hiện trong thời kỳ Gorbachev cầm quyền mà "đại biểu của phái đó là Popov nói rằng: 'chúng tôi không nghĩ đến nhân dân, chúng tôi cố ý tạo ra trạng thái thiếu sót toàn diện'"2 (Ghi chép tại buổi tọa đàm giữa Lý Thận Minh với nhân sĩ Viện nghiên cứu chính trị xã hội, Viện Hàn lâm khoa học Nga ngày 27 tháng 4 năm 2010).


Trong tầng lớp lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô còn có một nhóm người được Gorbachev cất nhắc lên vị trí lãnh đạo, họ có cùng một giọng điệu y hệt như Gorbachev, đều là dạng người hai mặt, trước mặt một kiểu, sau lưng một kiểu.


Trợ thủ đắc lực của Gorbachev là Yakovlev, năm 1972 khi nhận chức Thứ trưởng thứ nhất Bộ Tuyên truyền, đã từng đăng bài viết "Phản bác chủ nghĩa lịch sử" trên báo Văn học. Ông ta tầm chương trích cú, lên tiếng kịch liệt phê phán cái gọi là trào lưu tư tưởng chống chủ nghĩa Mác xuất hiện trong giới văn học nghệ thuật. Cho tới năm 1989 ông ta vẫn nói "Cho tới giờ tôi vẫn tin tưởng vào lối sống của chủ nghĩa xã hội". Vậy mà trong một trường hợp, cũng chính ông ta lại nói rằng: "Đã đến lúc này, phải nói rằng chủ nghĩa Mác từ lúc mới bắt đầu đã là không tưởng và sai lầm", "chủ nghĩa Mác chẳng có gì khác, mà chính là một loại tôn giáo mới với chiêu bài khoa học... Tôn giáo của chúng ta vốn dĩ là sai lầm, Jesus của chúng ta chỉ là giả tạo"1 (Yakovlev: Lời tựa, rút gọn, lời kết, (bản tiếng Nga), Mátxcơva, 1992, tr.127). Ông ta thậm chí ngang nhiên phủ định toàn bộ học thuyết chủ nghĩa Mác, nói rằng "thực chất, trong toàn bộ luận chứng kinh tế cụ thể mà Mác lấy làm cơ sở xây dựng nên bộ thế giới quan "chủ nghĩa xã hội khoa học" không có lấy một luận chứng nào được chứng thực trong thực tiễn"2 (Yakovlev: Một ly rượu đắng - chủ nghĩa Bônsêvích và phong trào cải tổ của Nga, Sđd, tr.65), cho nên công khai tuyên bố đoạn tuyệt với chủ nghĩa Mác.


Một trợ thủ đắc lực khác của Gorbachev là Shevardnadze cũng đã từng nói về quá trình chuyển biến về mặt tư tưởng chính trị của mình. Năm 1991, khi trả lời câu hỏi của phóng viên Đài truyền hình Pháp ông ta nói rằng: "Chúng tôi đã một thời từng có lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, và cũng tiến hành đấu tranh để thực hiện lý tưởng này. Sau này tôi dần dần nhận thức rằng những điều chúng tôi tin tưởng không thể thực hiện được, buộc phải thay đổi. Một ngày đầu thập kỷ 1990, tôi nói với Gorbachev rằng chế độ của chúng ta đã mục nát rồi, phải phá hủy toàn bộ, đồng thời phải tiến hành cải tạo triệt đê từ trên xuống dưới". Chính vì những nhân vật hai mặt với tín ngưỡng chính trị không kiên định lại nắm công tác lãnh đạo ý thức hệ Đảng Cộng sản Liên Xô trong một thời gian dài này mà tác phong, tư tưởng của Đảng Cộng sản Liên Xô tất yếu phải nảy sinh thoái hóa.


Ngay cả với Yeltsin, Gorbachev thực chất cũng dùng thái độ hai mặt, không thể phủ định rằng giữa Gorbachev với ông ta có mâu thuẫn lớn. Tháng 11 năm 1987, khi Yeltsin bị tước bỏ những chức vụ như Bí thư thứ nhất Thành ủy Mátxcơva, Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô, Gorbachev cũng gật đầu (mặc dù đây không phải là chủ định của ông ta). Sau khi Liên Xô sụp đổ, Gorbachev càng chỉ trích Yeltsin bội tín, hối hận vì khi trước đã không phái ông ta đi nước ngoài làm đại sứ. Tuy nhiên, về mặt ý thức tư tưởng, họ là những người cùng chung quan điểm, thậm chí có thể nói là "tâm đầu ý hợp". Giữa họ thực chất không có sự khác biệt nào. Thế giới quan của hai người đồng nhất, cơ bản giống nhau ở mục đích thay đổi chế độ xã hội của Liên Xô, làm tan vỡ triệt để Đảng Cộng sản. Vì vậy, bọn họ có một kiểu hợp tác và phối hợp lúc công khai, khi bí mật. Sau khi xảy ra sự kiện "19 tháng 8", Gorbachev bắt tay với Yeltsin, cùng diễn cho thế giới xem một "màn kịch kép" "làm tan vỡ Đảng Cộng sản Liên Xô, giải thể Liên Xô".
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #123 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2022, 07:59:31 am »

Trong cuốn Ghi chép của Tổng thống của mình, Yeltsin thẳng thắn nói về mối quan hệ với Gorbachev: "Gorbachev không hề đẩy tôi vào chỗ hoang vu, cũng không phái tôi tới những nơi xa xôi hẻo lánh như những vị tiền nhiệm của ông ấy từng làm. Ngược lại, ông ấy dường như có sự bao dung che chở cho tôi, lưu luyến tôi"; "Tôi từ trước tới nay chưa bao giờ đặt việc đấu tranh với ông ấy làm mục tiêu cho bản thân. Không những thế, ở nhiều phương diện, tôi theo sát ông ấy từng bước, gỡ bỏ từng viên gạch, từng mái ngói của tòa nhà chủ nghĩa cộng sản"1 (Boris Yeltsin: Ghi chép của Tổng thống (bản tiếng Nga), Nxb. Đông Phương, 1995, tr.19).


Ngoài những nhân vật cấp cao như Yakovlev, Shevardnadze, Yeltsin ra, còn có rất nhiều nhân vật "anh tài" xuất hiện ồ ạt trong trào lưu dân chủ hóa. Lĩnh vực chính trị có Sakharov, Popov, v.v..., ở lĩnh vực kinh tế có Gaidar, Yavlinsky, ngoài ra ở lĩnh vực tư tưởng còn có một số nhân vật nổi bật. Những anh tài về chính trị, kinh tế này cũng có người nổi tiếng trong lịch sử vì tư tưởng chống cộng sản, chống chủ nghĩa xã hội như Sakharov; cũng có người nổi danh nhanh chóng xuất thân từ giới trí thức như Yavlinsky, ông này vốn là Phó tiến sĩ Viện nghiên cứu kinh tế, Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, nhờ chấp bút "Kế hoạch 500 ngày" của thời kỳ Liên Xô quá độ sang kinh tế thị trường mà bỗng chốc nổi tiếng. Tháng 7 năm 1990, khi Yeltsin nhậm chức, ông ta trở thành Phó Thủ tướng 38 tuổi của Chính phủ Liên bang Nga. Vì "Kế hoạch 500 ngày" không thực tế, vấp phải sự phản đối kịch liệt mà Yavlinsky tức giận từ chức Phó Thủ tướng.


Những nhân vật "anh tài" này đều có chung thế giới quan, quan điểm về lịch sử với các nhân vật lãnh tụ như Gorbachev. Bọn họ đều chủ trương dân chủ tư bản chủ nghĩa, chủ trương tư hữu hóa và kinh tế thị trường tự do, phủ định thậm chí công kích chủ nghĩa Mác. Chống cộng sản, chống chủ nghĩa xã hội trở thành nền tảng tư tưởng và mục tiêu để họ cùng gắn bó, cũng khiến họ trở thành bè lũ phối hợp với phương Tây để Tây hóa, phân hóa Liên Xô.


Gorbachev không chỉ dùng thủ đoạn lừa gạt hai mặt, mà còn hoàn toàn bỏ qua một bên nguyên tắc tập thể của Đảng, không nghe bất kỳ một ý kiến bất đồng nào với ông ta.

Những ý kiến phản đối cải tổ của ông ta trong nội bộ Đảng hoặc trong xã hội, bất kể đúng sai, nhẹ thì liền chụp mũ là kẻ theo chủ nghĩa giáo điều, "phái bảo thủ", "phái truyền thống" và "kẻ theo chủ nghĩa cơ yếu trong Đảng"; nặng thì bị bức hại về chính trị, cách chức, bãi nhiệm. Khi ông ta mới nhậm chức đã từng đánh giá rất cao Ligachev, nói rằng đây là con người "giàu kinh nghiệm, quả cảm kiên định, rất có nguyên tắc", đồng thời bố trí cho Ligachev làm công tác quản lý chính về tư tưởng, trở thành lãnh đạo số hai trong Đảng và chỉ đứng sau Gorbachev. Vậy mà khi Ligachev hoài nghi, thậm chí bất mãn vì luận điệu cải tổ xa rời định hướng xã hội chủ nghĩa và những hành vi phá hoại nguyên tắc xây dựng Đảng Cộng sản Liên Xô của Gorbachev thì lập tức ông ta thay đổi thái độ, công kích Ligachev là "kẻ theo chủ nghĩa Xtalin sống chết giữ khư khư quan niệm cũ", là "phe bảo thủ" chống đối lại cải tổ, thậm chí là "kẻ thù tiềm ẩn của cải tổ". Dưới sự chỉ đạo của Gorbachev, Ligachev rất nhanh chóng bị đình chỉ công tác lãnh đạo ý thức hệ của Trung ương sau khi xảy ra "Sự kiện Nina Andreeva", chức vụ này sau đó do người nghiêng hẳn theo phe Gorbachev là Yakovlev đảm nhận. Từ đó về sau, Ligachev mất hết chức vụ và quyền lực vốn có trong Đảng.


Dưới sự chèn ép của Gorbachev, những người như Ligachev, Ryzhkov là những người xuất phát từ lòng trung thành với sự nghiệp của Đảng và nhân dân dám đứng lên tranh luận, gần như bị tước đoạt hết quyền tự do phát ngôn vốn có của đảng viên, cán bộ, càng không nói tới quyền phê bình, giám sát đối với lãnh đạo và cơ cấu lãnh đạo của Đảng, bầu không khí dân chủ trong Đảng Cộng sản Liên Xô vô cùng bất bình thường. Khi nội bộ Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô thảo luận về việc nên xóa bỏ hay chỉ sửa đổi Điều 6 Hiên pháp, Gorbachev kiên quyết phản đối những người chỉ đồng ý cho sửa đổi mang tính hình thức, không tán thành ý kiến làm lung lay vị trí căn bản của Đảng Cộng sản Liên Xô như Ligachev. Ông cho rằng những cách nhìn khác này "chẳng qua chỉ là những phương án trị ngọn không trị gốc, không thể giải quyết được vấn đề. Bất kì sự sửa đổi nào trong Điều 6 cũng đều không thể bảo đảm về mặt Hiến pháp để thực hiện chế độ đa đảng, cũng không thể thay đổi được chế độ chính trị hiện hành"1 (Thuật Thao (biên dịch): Hồi ký Gorbachev, Sđd, quyển thượng, tr.577-578). Theo ông ta, chỉ có cách triệt để phế trừ đi con hổ cản đường là Điều 6 Hiến pháp thì đó mới là kế sách trị gốc. Cuối cùng, bất chấp Ligachev kiên trì bảo vệ vai trò tiên phong của Đảng Cộng sản Liên Xô, Kryuchkov kiên trì phản đối biến Đảng thành Đảng nghị viện, Điều 6 Hiên pháp Liên Xô vẫn bị xóa bỏ theo ý kiến của Gorbachev.


Khi trong nội bộ của Đảng không cho phép có những ý kiến bất đồng, thì chính đảng này cũng dần dần mất đi sự gắn kết, sức chiến đấu, khó tránh khỏi đi vào con đường phân hóa và chia rẽ. Sự kiện "19 tháng 8" xảy ra năm 1991, trên thực tế chính là một cuộc tổng bùng phát của các loại mâu thuẫn tích tụ bấy lâu trong và ngoài Đảng Cộng sản Liên Xô thiếu dân chủ, nó cũng tuyên cáo sự chia rẽ nghiêm trọng nhất, có sức hủy diệt nhất trong lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô. Khi Đảng Cộng sản Liên Xô đã trở thành một chính đảng theo chủ nghĩa xét lại chống lại chủ nghĩa Mác, chỉ còn là công cụ để duy trì lợi ích của một số ít cá nhân, khi những người lãnh đạo Đảng không chấp nhận nổi bất kì một ý kiến bất đồng nào, thì việc xuất hiện chia rẽ và đi vào con đường kết thúc cũng là tất yếu của lịch sử.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #124 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2022, 08:00:40 am »

Vào đêm trước khi Gorbachev tuyên bố Đảng Cộng sản Liên Xô giải tán, ông ta có mô tả như sau về tình trạng nội bộ Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô: Đảng Cộng sản Liên Xô phát triển tới một giai đoạn nhất định tất nhiên phải giải thể, "bởi vì nó bao gồm đủ loại đại diện các phe phái tư tưởng chính trị khác nhau. Tôi chủ trương thông qua con đường dân chủ để đạt được điều này - tháng 11 tổ chức Đại hội đại biểu của Đảng, tới lúc đó trong hội nghị sẽ làm rạch ròi, dễ nói dễ bàn. Mô hình cương lĩnh của Đảng mà tôi và những người cùng chí hướng đưa ra, dựa trên một số trưng cầu dân ý, tỉ lệ đảng viên ủng hộ chiếm khoảng 1/3. Còn lại thì mỗi người một kiểu: có người ủng hộ Nina Andreeva và Anpilov, có người ủng hộ Buzgalin và Kosolapov, Zyuganov, Medvedev và Denisov, Lipitski và Rutskoy... Xem ra một bộ phận không nhỏ đã gia nhập nước Nga dân chủ, lập thành đội ngũ với Đảng Dân chủ của Travkin, những người theo chủ nghĩa dân chủ đạo Kito. Sự việc này (chỉ việc ông ta tuyên bố giải thể Đảng Cộng sản Liên Xô - chú thích của người trích dẫn) rốt cuộc cũng đã xảy ra rồi"1 (Thuật Thao (biên dịch): Hồi ký Gorbachev, Sđd, quyển hạ, tr.1369). Gorbachev đẩy trách nhiệm gây chia rẽ Đảng Cộng sản Liên Xô và giải tán Đảng cho người khác, trong khi bản thân ông ta và những kẻ đi theo ông ta mới là chủ mưu. Theo như tiết lộ của Grachev - đã từng là cố vấn và người phát ngôn của Tổng thống Gorbachev, thì ngay từ năm 1985, Yakovlev đã kiến nghị Gorbachev chia Đảng Cộng sản Liên Xô thành hai đảng, Gorbachev không phản đối, ông ta chỉ cảm thấy thời điểm đó còn hơi sớm, cho rằng chỉ khi nào thời cơ chín muồi mới có thể hành động2 (Andrei Grachev (Thuật Thao dịch): Gorbachev - những câu đố, Nxb. Biên dịch Trung ương, 2005, tr.181). Do vậy, nội bộ Đảng Cộng sản Liên Xô chia rẽ, đây chính là kết quả Gorbachev mong muốn được chứng kiên, và cũng là kết quả cho những nỗ lực của ông ta.


Gorbachev còn là một nhà lãnh đạo ham hư vinh, thích thể hiện. Ông ta rất có tài ăn nói, nhưng thường chỉ thích nói vo, văn bản chuẩn bị sẵn chỉ là cho có. Người ta thường cười nhạo phong cách lãnh đạo của ông ta là "bắt đầu bằng lời nói, kết thúc cũng bằng lời nói", làm cho hàng đống nghị quyết thời kỳ đầu cải tổ phải bỏ xó. Ông ta chỉ thao thao hùng biện, thiếu tác phong làm việc thực tế, khiến cho rất nhiều vấn đề của Đảng không được giải quyết, nhiều mâu thuẫn không được khắc phục, nhiều nhiệm vụ không thể hoàn thành.


Ông ta không chỉ quan tâm tới đánh giá của quần chúng và dư luận trong nước đối với bản thân, mà còn đắm chìm trong dư luận của phương Tây đánh giá hình tượng "Vua khai sáng" của ông ta thế nào. Boldin - người đã từng đảm nhiệm chức trợ lý của Gorbachev - đã viết trong cuốn hồi kí Lịch sử thăng trầm của Gorbachev là Gorbachev thường một mình ngồi trong phòng làm việc "đọc to những bình luận của báo chí nước ngoài về cải tổ vĩ đại trên thế giới của ông ta, có lúc ông ta còn đọc mấy tiếng liền những thứ này, cứ thế để thời gian trôi qua mà khối lượng lớn văn kiện giấy tờ đang chờ giải quyết ông ta lại không động đến"1 ([Liên Xô] V. Boldin: Lịch sử thăng trầm của Gorbachev, Sđd, tr.282).


Thế giới phương Tây nắm rõ được nhược điểm háo danh của Gorbachev nên tập trung vào đó để trục lợi, lợi dụng ông ta để thực hiện chiến lược Tây hóa, phân hóa Liên Xô. Ngày 18 tháng 11 năm 1991, trong một lần nói chuyện công khai tại Houston (Mỹ) của nguyên Thủ tướng Anh Margaret Thatcher hơn một năm trước khi hết nhiệm kỳ, khi bàn về vai trò của chiến lược diễn biến hòa bình của phương Tây đối với quá trình tan rã Liên Xô, bà nhắc tới nguyên nhân quan trọng để phương Tây nhắm vào Gorbachev là vì con người này "không đủ cẩn thận, dễ dàng bị lôi kéo, cực kỳ ưa hư vinh. Ông ta có mối quan hệ tốt đẹp với các nhân vật nổi tiếng trong chính giới Liên Xô, vì vậy với sự giúp đỡ của chúng ta, ông ta có thể nắm được quyền lực lớn". Và một khi Gorbachev đã nắm quyền trong tay, "dưới sự giúp đỡ của ông ta, chúng ta có thể thực hiện được ý đồ của chúng ta"2 (http://www.ilTLSOurce.com/shotlist/ITN/1991/ll/22/T22119113). Thực tế đã chứng minh, những tính toán này của phương Tây là chính xác. Gorbachev không phát hiện ra ông ta thực sự đã từng bước trượt vào cái bẫy mà phương Tây đã dựng sẵn cho ông ta theo con đường của họ.


Gorbachev và bè phái của mình đã phá hoại nghiêm trọng tác phong làm việc ưu việt của Đảng Cộng sản Liên Xô, cắt đứt mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng, không chỉ hủy hoại sự gắn kết của Đảng, mà còn thêm một bước phá vỡ nền móng giai cấp và nền móng quần chúng của Đảng, khiến cho mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân xấu tới đỉnh điểm, từ đó gây nên ảnh hưởng xấu tới tình hình kinh tế trong nước, gây mâu thuẫn dân tộc sâu sắc, gây mất lòng tin của dân đối với Đảng. Ryzhkov đã từng đau đớn thốt lên tới năm 1990 là Đảng đã dần đi tới chỗ chết.


Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô Ligachev đau đớn hồi tưởng lại, lúc đó trong Đảng, trong xã hội lan tràn một phong cách làm việc nói một đằng, làm một nẻo, đây chính là nguyên nhân quan trọng gây ra tâm lý xa rời trong nội bộ Đảng. Chủ nhiệm phòng biên tập của một đài truyền hình Mátxcơva - đã từng là một đảng viên của Đảng Cộng sản Liên Xô - nói: tôi đã từng là một đảng viên quang vinh, luôn tích cực tham gia các hoạt động của tổ chức Đảng. Thế nhưng những người như Gorbachev, lấy danh nghĩa cải tổ, thực chất là tranh quyền đoạt lợi, tranh chức Tổng thống, cơ bản không để ý tới nguyện vọng và nhu cầu của số đông đảng viên và quần chúng nhân dân. Bọn họ sớm trở thành tầng lớp quan liêu đặc biệt ở trên cao, những người lãnh đạo Đảng và tác phong Đảng xấu như vậy làm sao có thể khiến chúng tôi bước tiếp cùng họ.


Trong Đảng Cộng sản Liên Xô xuất hiện trào lưu xin ra khỏi Đảng. Năm 1987, số người ra khỏi Đảng là 16.634 người, năm 1988 là 21.217, năm 1990 tăng mạnh tới 1.809.424 người, năm 1991 chỉ trong quý 1, số người ra khỏi Đảng đã tới con số 587.000 người1 ([Liên Xô] Đời sống của Đảng, Kỳ 11, năm 1991). Từ tháng 1 năm 1989 đến tháng 1 năm 1991, chỉ trong vòng hai năm ngắn ngủi, cả nước có tới hơn 2.900.000 đảng viên xin ra khỏi tổ chức Đảng.


Nhà máy sản xuất ô tô lớn nhất Liên Xô là Ural năm 1989 có hơn 9.000 đảng viên, đến tháng 1 năm 1991 chỉ còn lại 1.600 người, trong đó có hơn 300 người chưa nộp đảng phí2 ([Liên Xô] "Thông cáo Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô", Kỳ 6, năm 1991). Khu vực Bryansk năm 1986 có 6.000 đảng viên, đến năm 1989 chỉ còn 750 người, năm 1991 chỉ còn lại 4 người. Theo thống kê không đầy đủ năm 1990, toàn quốc có 1/5 tổ chức Đảng ở nhà máy, 1/2 số tổ đảng giải tán hoặc ngừng hoạt động, sức chiến đấu của Đảng Cộng sản Liên Xô dường như suy yếu đến tận cùng1 ([Liên Xô] "Sổ tay cán bộ công tác của Đảng", Mátxcơva, 1989, tr.589). Nhà máy chế tạo nhôm Krasnoyarsk là nhà máy lớn có tiếng cả nước, nhưng từ sau khi Gorbachev đưa ra đường lối "chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo" tại Hội nghị đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ 19, một số lượng lớn đảng viên xin ra khỏi Đảng, có 900 người giao nộp lại thẻ đảng viên.


Tháng 2 năm 1986 khi diễn ra Đại hội lần thứ XXVII, Đảng Cộng sản Liên Xô có hơn 18 triệu đảng viên, mà cho tới ngày 1 tháng 7 năm 1991, đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô chỉ có 15 triệu người. Những đảng viên còn lại phần lớn đều mất lòng tin vào Đảng.


Cuối năm 1990, Đảng Cộng sản của các nước cộng hòa như Lítva, Látvia, Extônia, Grudia vì mất lòng tin của quần chúng nên đã trở thành đảng đối lập, chức thị trưởng các thành phố lớn như Mátxcơva, Lêningrát cũng rơi vào tay phe đối lập. Đảng Cộng sản Liên Xô rơi vào cuộc khủng hoảng chưa từng có.


Khi con tàu Đảng Cộng sản Liên Xô đang vất vả vật lộn trong giông bão, thì những kẻ tham gia vào quá trình tái cơ cấu, chèo lái con thuyền đi chệch hướng, gây nên những sai lầm nghiêm trọng này lại lần lượt tháo chạy. Tháng 7 năm 1990, tại Đại hội lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô, những người như Yeltsin, Popov, Sobchak tuyên bố ra khỏi Đảng. Ngày 2 tháng 7 năm 1991, Shevardnadze tuyên bố ra khỏi Đảng. Ngày 6 tháng 8, Yakovlev cũng xin ra khỏi Đảng. Và người thuyền trưởng cầm lái con tàu là Gorbachev lúc đó đã là Tổng thống. Ngoài sự tưởng tượng của mọi người, ông ta lại coi chức Tổng bí thư là "một đại phiền toái".


Bản thân ông ta là Tổng Bí thư mà không tích cực thực hiện chức trách của mình, không định kỳ báo cáo công việc với Bộ Chính trị Trung ương Đảng. Có người trong Bộ Chính trị chỉ trích ông, ông ta lại phát cáu, nổi nóng biện hộ rằng "tôi là Tổng thống, không có nghĩa vụ phải bàn bạc thống nhất với Bộ Chính trị tất cả công việc của mình"1 (Tham khảo Thuật Thao (biên dịch): Hồi ký Gorbachev, Sđd, quyển thượng, tr.1316, 1323). Còn khi có người đề cập vấn đề ông ta cùng lúc đảm nhiệm cả hai chức vụ Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô và Tổng thống Liên Xô là không hợp lý, ông ta liền bắt đầu tính chuyện ra khỏi Đảng. Sự kiện "19 tháng 8" đẩy nhanh tốc độ tháo chạy của ông ta. Ông ta tuyên bố từ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Không lâu sau đó Đảng Cộng sản Liên Xô tự tan rã. Con tàu Đảng Cộng sản Liên Xô đã bị nhấn chìm như vậy.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #125 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2022, 08:02:15 am »

3. Đảng rơi vào tình trạng bị một số ít người kiểm soát và trở thành công cụ để họ mưu cầu lợi ích riêng

Khi Đảng Cộng sản Liên Xô không còn là chính đảng mang tính chất mácxít, không còn là đội tiên phong của giai cấp công nhân thì đối tượng mà Đảng phải phục vụ, tôn chỉ mà Đảng phải thực hiện cũng tất yếu có sự thay đổi căn bản. Dưới sự phá hoại của nhóm người trong đó có Gorbachev, Đảng Cộng sản Liên Xô từ chỗ là đảng đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân và đông đảo nhân dân Liên Xô dần dần biến thành công cụ do một số ít người và tập đoàn nhỏ kiểm soát và phục vụ cho lợi ích của họ. Khi Đảng Cộng sản Liên Xô mất đi giá trị có thể lợi dụng, những người được lợi sẽ lạnh lùng xóa bỏ Đảng, kết thúc sinh mệnh của Đảng.


Nhìn lại toàn bộ quá trình Liên Xô tan rã, có ba thế lực được lợi từ "lễ tang" của Đảng Cộng sản Liên Xô. Trước hết là phái cải tổ mà đại diện là Gorbachev. Lực lượng này trước sự kiện "19 tháng 8" năm 1991 lãnh đạo công cuộc cải tổ ở Liên Xô, còn sau sự kiện "19 tháng 8" lại kết hợp với lực lượng Tây hóa, phân hóa Liên Xô là Yeltsin, cùng lật đổ Đảng, làm tan rã Liên Xô. Cải tổ xã hội chủ nghĩa dân chủ nhân đạo mà Gorbachev thực hiện không những đã kết thúc địa vị lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với Liên Xô, cải tạo Đảng Cộng sản Liên Xô thành đảng dân chủ xã hội, mà còn phá hủy chế độ xã hội chủ nghĩa của Liên Xô, dẫn dắt Liên Xô đi theo chủ nghĩa tư bản một cách toàn diện.


Với Gorbachev, ông ta đã cơ bản hoàn thành nhiệm vụ, thực hiện lý tưởng chính trị và mục tiêu dân chủ của ông ta, vì thế ông ta cảm thấy yên tâm và mãn nguyện với kết quả của cải tổ. Ngày 25 tháng 12 năm 1991, trong "Bức thư thông báo tới công dân Liên Xô" tuyên bố từ chức Tổng thống và tuyên bố sự kết thúc của Liên Xô, Gorbachev nói ông ta "không hoài nghi về tính đúng đắn lịch sử của cuộc cải tổ dân chủ bắt đầu từ mùa xuân năm 1985"1 (Thuật Thao (biên dịch): Hồi ký Gorbachev, Sđd, quyển thượng, tr.3). Sau khi Liên Xô tan rã, ông ta đánh giá cải tổ của mình là: "Mở đầu cho cải tổ dân chủ của nước ta, đây là thành công lớn nhất của tòi", "tiến lên theo mục tiêu cải tổ dân chủ tiệm tiến... Chúng ta cuối cùng sẽ thành công, về điểm này, tôi rất lấy làm hạnh phúc!"2 ([Nga] Gorbachev, [Nhật] Daisaku Ikeda: Bài học tinh thần của thế kỷ XX, Sđd, tr.104). Còn về sự tan rã của Đảng Cộng sản Liên Xô, vị Tổng Bí thư này lại không hề xấu hổ hay trách móc bản thân. Một mặt ông ta ra sức đổ lỗi cho những người tạo nên sự kiện "19 tháng 8"; mặt khác còn cho rằng: "Đảng Cộng sản Liên Xô đến một giai đoạn nhất; định phải giải thể, điều này không thể tránh được", "tiếc nuối vì việc Đảng Cộng sản Liên Xô tan rã chẳng có ý nghĩa gì. Nó đã làm hết vai trò lịch sử của nó, nên rời khỏi vũ đài lịch sử"3 (Thuật Thao (biên dịch): Hồi ký Gorbachev, Sđd, quyển hạ, tr.1369).


Phái dân chủ cấp tiến do Yeltsin dẫn đầu là lực lượng được lợi nhiều nhất từ sự sụp đổ của Đảng Cộng sản Liên Xô. Chế độ tư bản chủ nghĩa mà họ ngày đêm mong mỏi không những trở thành hiện thực, mà họ còn được quyền lãnh đạo quốc gia độc lập mới sau khi Liên Xô bị chia tách, trở thành quý tộc chính trị mới trên đống tro tàn của Liên Xô. Theo kết quả một cuộc điều tra của Viện Hàn lâm khoa học Nga: Trong số anh tài của xã hội Nga đến từ tầng lớp quan liêu của Đảng cũ thì tầng lớp lãnh đạo cao nhất chiếm 75%, thủ lĩnh chính đảng chiếm 57,2%, lãnh đạo nghị viện chiếm 60,2%, bộ ngành Chính phủ chiếm 74,3%, lãnh đạo địa phương chiếm 82/3%1 (Tham khảo Trương Thụ Hoa: Diễn biến của "cách mạng" và anh tài chính trị Nga; Hoàng Bình (chủ biên): Cải cách và phát triển của chính trị Trung - Nga, Nxb. Tằn Hoa, 2006, tr.206).


Kẻ được lợi từ việc Đảng Cộng sản Liên Xô mất Đảng, Liên Xô tan rã còn có các nước lớn phương Tây. Từ khi trên thế giới xuất hiện chế độ xã hội chủ nghĩa đến nay, các nước tư bản phương Tây luôn coi việc lật đổ chính quyền xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược đối ngoại. Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, thế giới phương Tây đứng đầu là Mỹ đưa ra các chiến lược Tây hóa, phân hóa đối với Liên Xô, nhưng cho đến cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX mới thành công. Sau khi Liên Xô tan rã, Mỹ lợi dụng cơ hội hiếm có ráo riết tạo dựng thế giới đơn cực do Mỹ đứng đầu, tích cực thúc đẩy chủ nghĩa đơn phương, chủ nghĩa bá quyền, khua chiêng gõ mõ mở đường cho việc phát triển chủ nghĩa tư bản Mỹ.


Khi Gorbachev, Yeltsin liên kết với phương Tây nhằm Tây hóa, phân hóa Liên Xô, lợi ích, nguyện vọng và nhu cầu của đông đảo người dân Liên Xô bị gạt sang một bên, không ai để ý đến, lợi ích căn bản của nhân dân Liên Xô trở thành vật hy sinh lớn nhất của việc Liên Xô mất Đảng, mất nước.


Thực hiện chủ nghĩa xã hội và cuối cùng đi lên chủ nghĩa cộng sản là quy luật phát triển của xã hội loài người mà chủ nghĩa Mác đã nêu ra. Lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với lợi ích căn bản của đông đảo nhân dân Liên Xô. Bao lâu nay, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Đảng Cộng sản Liên Xô lãnh đạo đã nhận được sự ủng hộ chân thành của nhân dân Liên Xô, họ tích cực dân thân vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và giành được thành tựu to lớn. Thế nhưng, thế lực chống cộng sản, chống chủ nghĩa xã hội do Gorbachev đứng đầu đã xuyên tạc và bôi xấu một cách điên cuồng sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội do Đảng Cộng sản Liên Xô lãnh đạo; thành quả của sự nghiệp cách mạng và xây dựng đất nước mà nhân dân Liên Xô trường kỳ gian khổ phấn đấu, thậm chí hiến dâng cả máu và tính mạng của mình để đổi lấy đã bị phá hoại không còn gì. Đảng Cộng sản Liên Xô mà nhân dân Liên Xô suốt một thời gian dài tin cậy và lấy làm chỗ dựa, lãnh đạo Liên Xô giành được thành tựu huy hoàng đó bị miêu tả như một tổ chức tà ác, thậm chí phạm tội, những lãnh tụ của Đảng và Nhà nước như Lênin, Xtalin bị miêu tả thành "ác quỷ", thậm chí "vô lại". Đồng thời, xã hội phương Tây được họ tâng bốc lên, chủ nghĩa tư bản đã trở thành thiên đường trần gian. Dường như Liên Xô chỉ cần thay đổi ngọn cờ thì lập tức có thể bước trên con đường văn minh hạnh phúc. Yeltsin thể hiện rõ ràng: chỉ cần tách ra khỏi Liên Xô, thực hiện chủ nghĩa tư bản, "trong vòng 3 đến 4 năm nước Nga có thể tiến vào hàng ngũ những quốc gia giàu mạnh nhất trên thế giới"1 (Tham khảo Thuật Thao (biên dịch): Hồi ký Gorbachev, Sđd, quyển thượng, tr.628).
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #126 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2022, 08:03:08 am »

Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết (Liên Xô) là do nhân dân các dân tộc trong lãnh thổ Liên Xô tự nguyện hợp thành. Mặc dù giữa một số dân tộc trong Liên bang do các nguyên nhân khác nhau tồn tại mâu thuẫn và vấn đề này khác trong một thời kỳ dài, song quan hệ giữa các dân tộc về tổng thể là hòa hảo; đông đảo nhân dân Liên Xô yêu Tổ quốc của mình, trung thành ủng hộ chế độ xã hội chủ nghĩa, chủ trương bảo vệ, đoàn kết nhân dân các dân tộc Liên Xô và thống nhất đất nước. Ngay cả trong thời kỳ Liên Xô biến đổi, xã hội Liên Xô chao đảo, đời sống nhân dân gặp phải những khó khăn nghiêm trọng, tuyệt đại đa số nhân dân Liên Xô vẫn hy vọng bảo vệ sự toàn vẹn và thống nhất đất nước. Tuy nhiên thế lực chia cắt dân tộc, phần tử cực đoan và thế lực chống chủ nghĩa xã hội trưởng thành, lớn mạnh trong cuộc cải tổ của Gorbachev hoàn toàn không để ý đến nguyện vọng và yêu cầu của đông đảo nhân dân Liên Xô, ép buộc giải thể Liên Xô.


Nền kinh tế công hữu là cơ sở của chính quyền xã hội chủ nghĩa Liên Xô, cũng là tài sản chung do toàn thể nhân dân Liên Xô phấn đấu trong một thời gian dài mới có được. Tuy nhiên cải tổ tư hữu hóa của Gorbachev không những đã xóa bỏ cơ sở kinh tế của chính quyền xã hội chủ nghĩa, chôn vùi thành quả kinh tế của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, mà còn trở thành công cụ làm giàu của số ít người.


Tư hữu hóa nền kinh tế và kinh tế thị trường tự do đã gây ra hậu quả tai hại cho nền kinh tế Liên Xô. Theo thống kê chính thức của Liên Xô, từ năm 1989 đến năm 1991, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Liên Xô là -9,6%, theo thống kê của phương Tây, tỷ lệ giảm 7,7% so với cùng kỳ, trong đó năm 1991 là -13%1 (Tham khảo [Mỹ] David Kotz, Fred Weir: Cuộc cách mạng từ thượng tầng - Sự cáo chung của thể chế Liên Xô, Sđd, tr.102,118).


Cùng với tình hình kinh tế ngày càng xấu đi, Liên Xô đã xuất hiện khủng hoảng tiền tệ, thiếu hụt lương thực, vật giá tăng, nhu yếu phẩm cơ bản của người dân không được bảo đảm. Số liệu điều tra của Viện Nghiên cứu điều tra khoa học nhu cầu thị trường toàn Liên Xô cho thấy, cuối năm 1989, trong số 989 mặt hàng tiêu dùng của nhân dân, số mặt hàng được công khai bày bán và không bị thiếu hụt chỉ chiếm 11%; trong cửa hàng không còn nhìn thấy ti vi, tủ lạnh, máy giặt, phần lớn mặt hàng hóa chất dùng hằng ngày, rất nhiều đồ dùng gia đình, bàn là, dao cạo râu, mỹ phẩm; một số mặt hàng luôn được bày bán như bột giặt, vở học sinh, bút chì, vải vóc... vào năm 1987 nay cũng đều trở nên thiếu hụt1 (Dân từ Yegor Gaidar: Sự tiêu vong của đế quốc - Bài học của nước Nga đương đại", (Vương Tôn Hiền dịch), Nxb. Văn hiến khoa học xã hội, 2008, tr.184). Trong cửa hàng, hàng hóa khan hiếm, hàng vừa đưa lên quầy đã bị tranh nhau mua sạch, cảnh tượng xếp hàng dài mua thực phẩm đã trở nên quen thuộc. Trong bức "thư của một học sinh tiểu học Liên Xô đề ngày 14 tháng 12 năm 1991 viết: "Tuần trước cháu đã trải qua một lần xếp hàng mua thịt đáng sợ. Ngài có biết cháu đã đứng bao nhiêu lâu không? Cháu sợ phải nói với ngài, nhưng cháu đã đứng ở đó đúng 5 tiếng rưỡi đồng hồ. Trước kia chúng cháu cũng phải xếp hàng ở đây (điều này ngài đã biết), nhưng hàng hồi đó không dài như thế này, không phải mua cái gì chúng cháu cũng phải xếp hàng. Nhưng bây giờ chúng cháu mua cái gì cũng phải xếp hàng, từ mua thịt, mua giày cho đến mua diêm và muối. Chúng cháu xếp hàng mua gạo, mua bánh mì, mua dầu..., đó là một danh sách không thể kể hết được... Trước kia cháu chưa từng khóc bao giờ - tính cách của cháu kiền cường, nhưng bây giờ cháu thường xuyên phải khóc. Chúng cháu đã biến thành động vật rồi. Nếu như ngài nhìn thấy những con người thô lỗ, điên cuồng, đói khổ đứng trong những hàng ngũ hoang dại đáng sợ, ngài chắc chắn sẽ chết ngất. Các nước đều đang viện trợ cho chúng ta. Chúng ta đã công khai ăn xin và cam tâm nhận sự trợ giúp. Chúng ta đã quên mất một từ mỹ miều - lòng tự tôn. Cháu cảm thấy xấu hổ vì đất nước của chúng ta"1 (Dẫn từ Yegor Gaidar: Sự tiêu vong của đế quốc - Bài học của nước Nga đương đại'', Sđd, tr.253, 267).
   Chernyaev, trợ lý của Gorbachev miêu tả trong nhật ký cảnh tượng ông gặp ngày 31 tháng 3 năm 1991 khi đi mua bánh mì, ông "cùng với Mikhail Mikhailovich bắt xe đi khắp Mátxcơva, bắt đầu từ khu rừng Balina: cửa hàng bánh mì hoặc là khóa cửa, hoặc là tệ hại đến mức trống không. Cảnh tượng như vậy có lẽ chưa từng xuất hiện trong lịch sử Mátxcơva - ngay cả trong những thời kỳ đói kém nhất"2 (Dẫn từ Yegor Gaidar: Sự tiêu vong của đế quốc - Bài học của nước Nga đương đại'', Sđd, tr.253, 267).


Cùng với khó khăn ngày một tăng của xí nghiệp, người thất nghiệp không ngừng tăng lên, năm 1990 đạt đến 22 triệu người. Không ít công nhân và người làm công ở xí nghiệp nhiều địa phương không hài lòng với thực trạng, đua nhau ra đường bãi công biểu tình. Bắt đầu từ ngày 10 tháng 7 năm 1989, hơn 50 vạn người của các khu sản xuất than Kuzbass, Donbass và Karaganda của Liên Xô lần lượt tiến hành bãi công quy mô lớn, yêu cầu cải thiện điều kiện lao động và điều kiện sống, yêu cầu ổn định vật giá, cải thiện cung ứng thị trường, trao quyền tự chủ kinh tế cho ngành khai thác than, tăng giá than, tăng trợ cấp cho người làm ca đêm và trợ cấp dưỡng lão, kéo dài thời gian nghỉ lễ..., còn thiết lập Ủy ban bãi công. Bãi công diễn ra trong khoảng 2 tuần. Tháng 7 năm 1990, các khu khai thác than lớn còn liên kết tổ chức tập hợp và bãi công. Từ tháng 2 đến tháng 11 năm 1989, cả nước có 1.500 xí nghiệp với 1,4 triệu người bãi công, gây thiệt hại 7-8 tỷ rúp.


Tụ tập trái phép và tội phạm hung hãn, xã hội hỗn loạn. Năm 1988 tổ chức quần chúng hội họp phi chính thức mỗi tháng 194 lần, năm 1989 mỗi tháng đến 400 lần. Năm 1988 có 1.000 tổ chức tội phạm, năm 1989 lên đến 1.600 tổ chức, những vụ án nghiêm trọng tăng vượt 75%.


Mâu thuẫn dân tộc ngày càng gay gắt, tranh chấp và xung đột dân tộc nổi lên. Từ tháng 12 năm 1986 bùng phát sự kiện bạo loạn dân tộc Almaty ở nước Cộng hòa Cadắcxtan, xung đột dân tộc và động loạn trong lãnh thổ Liên Xô đã xuất hiện phản ứng liên hoàn giống như bàn cờ đôminô, ngoài phong trào đòi độc lập của ba nước vùng biển Bantích, lần lượt xảy ra cuộc đấu tranh của người Tatar ở Crưm đòi quay trở lại quê hương, khôi phục nước cộng hòa tự trị, cuộc đấu tranh về vấn đề quy thuộc của khu tự trị Nagorno - Karabakh (Adécbaigian), mâu thuẫn dân tộc phức tạp ở Mônđavia, động loạn dân tộc ở Grudia, v.v... Theo thống kê không đầy đủ, chỉ trong năm 1988 trong hơn 170 thành phố và khu vực ở Liên Xô, có đến hơn 2.600 vụ biểu tình, diễu hành, bạo loạn và xung đột lớn nhỏ khác nhau, số người tham gia lên đến trên 16 triệu người.


Đối lập với tình trạng sống ngày càng xấu đi của nhân dân Liên Xô, Gorbachev lại muốn mưu cầu những điều tốt đẹp đối với bản thân và gia đình, một gia đình sống cuộc sống xa hoa và giàu có. Vừa nhậm chức Tổng Bí thư, Gorbachev liền chỉ thị cấp dưới xây dựng những cơ sở nghỉ mát là những biệt thự hào hoa bên bờ biển, còn tòa biệt thự 6 phòng của Gorbachev trên đồi Lênin càng khiến người khác phải chú ý, người đi đường từ xa đã có thể nhìn thấy, trở thành một điểm du lịch của Mátxcơva.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #127 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2022, 08:04:17 am »

Theo hồi ức của Boldin, Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Chủ nhiệm Văn phòng Gorbachev, từ tháng 1 năm 1991, đã có rất nhiều người thảo luận về những khó khăn mà đất nước phải đối mặt. Đất nước đang ở trong thời kỳ khó khăn cả về chính trị lẫn kinh tế. Có người cảnh báo nền kinh tế  đất nước đang trượt dốc, bản thân Liên bang cũng rất có thể tan vỡ. Tuy nhiên, "Tổng thống đang nghĩ đến việc khác. Ông ta phát cuồng tìm đủ mọi cách nâng cao tỷ lệ ủng hộ vốn dĩ rất thấp của mình, chuẩn bị xuất bản sách mới của mình, giúp vợ của ông ta xuất bản tự truyện. Đã có người bảo đảm trả một khoản tiền lớn cho Raisa vì quyển sách này, công tác xuất bản những tác phẩm khác của họ cũng đang trong quá trình tiến hành. Sách của Raisa sẽ được xuất bản ở Liên Xô, bà thường gọi điện cho tôi hỏi nhà xuất bản nào thích hợp với tác phẩm đầu tay của bà". Tuy "cả gia đình Tổng thống cũng sắp đối mặt với thời kỳ khó khăn, song họ gửi vàng trong ngân hàng. Nhuận bút cho những tác phẩm của Gorbachev cộng thêm phí bản quyền do Cục bản quyền Liên bang trả cho ông ta đã sớm tăng thêm hơn 1 triệu đôla Mỹ trong tài khoản của ông ta. Ông đã từng nhận được rất nhiều quà tặng quý hiếm làm từ vàng, các loại giải thưởng bằng vàng, ngoài ra, ông còn có những tài sản khác. Tôi đã đề cao cảnh giác, rất muốn biết Tổng thống có quan tâm đến vận mệnh của đất nước hay không, có thể dành thời gian để xử lý công việc của đất nước và những khó khăn về kinh tế xã hội mà nhân dân phải đối mặt hay không"1 (V. Boldin: Mười năm chấn động thế giới - Liên Xô tan rã và Gorbachev (tiếng Nga), Nxb. Côn Luân, 1998, tr.4-5).


Tệ hơn thế nữa, nhà cầm quyền lợi dụng thời cơ cải cách tư hữu hóa làm tổn hại của công, làm giàu cho cá nhân, lấy của công làm của riêng, ra sức vơ vét tài sản công hữu, khiến cho thành quả mà mấy thế hệ nhân dân Liên Xô gian khổ phấn đấu tích lũy bỗng chốc biến thành tài sản trong túi của một số ít người. Sau khi Liên Xô tan rã, có trên 60% anh tài trong giới thương mại nước Nga là đến từ giới quan liêu của Đảng Cộng sản Liên Xô. Trong số chủ sở hữu của 100 xí nghiệp tư nhân lớn nhất nước Nga trong giai đoạn năm 1992-1993, anh tài trong chính giới, doanh nhân, giám đốc ngân hàng và gia tộc trước kia chiếm 62%2 ((Mỹ) David Kotz, Fred Weir: Cuộc cách mạng từ thượng tầng - Sự cáo chung của thể chế Liên Xô, Sdd, tr.151).


Chernomyrdin từng đảm nhiệm chức vụ Thủ tướng nước Nga, trong thập kỷ 80 thế kỷ XX từng giữ chức Bộ trưởng Bộ Công nghiệp khí thiên nhiên Liên Xô, năm 1992 sau khi Công ty khí thiên nhiên tư hữu hóa, Chernomyrdin chuyển mình trở thành người có nhiều cổ phần nhất ở Công ty cổ phần khí thiên nhiên, ông nắm giữ trên 40% tài nguyên khí thiên nhiên trên thế giới, là một trong số vài người giàu nhất trên thế giới. Nguyên Bí thư Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Liên Xô Kolkovsky lợi dụng chức vụ của mình thành lập một ngân hàng lớn, biến tài sản vốn thuộc về nhân dân thành tài sản riêng của cá nhân mình.


Các nhà kinh tế nổi tiếng nước Mỹ, trong đó có David Kotz, đã phân tích sâu sắc hiện tượng đặc biệt này. Họ nói: "Một tín đồ Thiên Chúa giáo có thể biến thành người vô thần trong một chốc lát không?", "Tuy lợi ích vật chất của phần tử anh tài Liên Xô đã tăng lên rất nhiều, song, nếu đem so với anh tài của các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây, thì những đặc quyền mà họ được hưởng về vật chất không thể bằng"; "dưới thể chế Liên Xô, sự chênh lệch thu nhập giữa tầng lớp trên và tầng lớp dưới trong xã hội nhỏ hơn rất nhiều sự chênh lệch dưới thể chế tư bản chủ nghĩa", "dưới thể chế Liên Xô, lương của lãnh đạo cao nhất cao gấp 8 lần công nhân bình thường", "thù lao của tổng giám đốc xí nghiệp lớn gấp 4 lần công nhân bình thường". Còn thu nhập của anh tài thượng tầng nước Mỹ gấp 150-400 lần công nhân bình thường. "Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa Liên Xô, tích lũy tài sản vật chất thông qua con đường hợp pháp dường như là không thể. Các lãnh đạo Liên Xô tích lũy tài sản vật chất luôn sợ hãi, lo sợ có một ngày bị người khác phát hiện hoặc bị tố cáo", vì vậy "sự sụp đổ của thể chế Liên Xô", "bắt nguồn từ sự theo đuổi lợi ích cá nhân của bản thân anh tài thống trị"1 ([Mỹ] David Kotz, Fred Weir: Cuộc cách mạng từ thượng tầng - Sự cáo chung của thể chế Liên Xô, Sđd, tr.148-149).


Giai cấp tư sản mới hình thành trong quá trình cải tổ là cơ sở giai cấp làm Liên Xô sụp đổ, làm Liên Xô tan vỡ. Sau này, khi phân tích nguyên nhân Liên Xô giải thể, Ligachev đã vô cùng cảm kích chỉ ra rằng, chúng tôi cho rằng không có nguyên nhân khách quan dẫn đến việc Liên Xô tan rã, cơ bản là nguyên nhân chủ quan. Đầu tiên là sự biến chất của lãnh đạo cấp cao. Họ chủ yếu làm giàu cho gia đình mình, muốn thống trị nhân dân không giới hạn, sau này họ đều trở thành triệu phú, chục triệu phú, thậm chí tỉ phú. Gorbachev, Yeltsin chính là đại diện cho số người này. Những tài sản đó có được là do cướp từ tài sản của nhân dân. Họ mong muốn mãnh liệt được sở hữu tài sản cá nhân, song Đảng và nhân dân thời kỳ đó không cho phép1 (Tham khảo ghi chép buổi trao đổi giữa Lý Thận Minh và Ligachev ngày 28-4-2010).


Zyuganov, lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên bang Nga sau khi Liên Xô tan rã không lâu, cũng chỉ ra rằng, trong xã hội nước Nga đã hình thành "một giai cấp đại tư sản điên cuồng cướp đoạt tài sản của nhân dân và vận chuyển sang phương Tây". Giai cấp tư sản mại bản này "đã nắm giữ ngành công nghiệp cơ bản, lũng đoạn tài nguyên thiên nhiên, ngân hàng, báo chí, truyền hình, phát thanh..., đồng thời nắm chính quyền nhà nước, họ là mầm hại chính khiến nước Nga mất đi địa vị nước mạnh và khiến cho nhân dân nghèo khổ"2 (Tham khảo Ngô Ân Viễn: "Một số vấn đề lý luận trong báo cáo Đại hội lần thứ 7 Đảng Cộng sản Nga của Zyuganov", trích từ Động thái nghiên cứu chủ nghĩa xã hội thế giới, số 62, năm 2000).


Nguyên nhân đầu tiên dẫn đến một loạt những hậu quả kể trên, chính là sự thoái hóa, biến chất của Đảng Cộng sản Liên Xô, Đảng đã mất đi sự ủng hộ của nhân dân đối với Đảng. Gorbachev đã phá hoại hoàn toàn Đảng Cộng sản Liên Xô, khiến cho nhân dân Liên Xô mất đi chỗ dựa vững chắc xứng đáng để tin tưởng và dựa vào, khiến cho đất nước mất đi cơ sở chính quyền vững chắc, cũng khiến cho Đảng Cộng sản Liên Xô kiểu Gorbachev mat đi lòng dân.


Trước khi Đảng Cộng sản Liên Xô sụp đổ không lâu, kết quả điều tra của các tổ chức liên quan cho thấy, có 85% người dân cho rằng Đảng Cộng sản Liên Xô chủ yếu đại diện cho lợi ích của quan chức, cán bộ, nhân viên công tác tại các cơ quan. Khi Đảng Cộng sản Liên Xô không còn là đội tiên phong của giai cấp công nhân Liên Xô, không còn là đại diện cho lợi ích của nhân dân Liên Xô, hơn 40 vạn chi bộ cơ sở Đảng, hơn 80 triệu đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô lúc đó đã không đứng ra để bảo vệ Đảng và Nhà nước, lạnh lùng nhìn Đảng đi đến diệt vong cũng là điều có thể hiểu được.


Hồi tưởng lại sau khi thôi chức, Gorbachev không thể không công nhận: "Mất đi sự ủng hộ của nhân dân tức là mất đi tài nguyên chủ yếu, sẽ xuất hiện nhà mạo hiểm chính trị và nhà đầu cơ. Đây là sai lầm tôi mắc phải, sai lầm chủ yếu". Không, đây không chỉ là "sai lầm", đây là phản bội nhân dân. Gorbachev cuối cùng đã phản bội quần chúng nhân dân. Ông ta lấy danh nghĩa nhân dân, lấy danh nghĩa nhân đạo và dân chủ, làm tổn hại lợi ích căn bản của nhân dân, cuối cùng đứng ở phía đối lập với nhân dân. Chính vì lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô mà đứng đầu là Gorbachev phản bội triệt để nhân dân, cho nên đối với một đảng không đại diện cho lợi ích căn bản của họ, trong giờ phút sinh tử tồn vong của Đảng, nhân dân đã tỏ thái độ vô cảm thờ ơ. Xét ở một ý nghĩa nào đó, chính là sự "sụp đổ" trước tiên của mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng mới dẫn đến sự sụp đổ của Đảng Cộng sản Liên Xô và Liên Xô.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #128 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2022, 07:23:04 am »

Chương V
TẦNG LỚP ĐẶC QUYỀN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN LIÊN XÔ


Tầng lớp đặc quyền là tập thể những kẻ lợi dụng chức quyền để mưu cầu tư lợi được sinh ra vào thời kỳ cuối của Đảng Cộng sản Liên Xô, bởi vì họ nắm trong tay quyền lực trực tiếp, nên còn được gọi là tầng lớp đặc quyền quan liêu. Khởi đầu, kẻ đặc quyền chỉ là cá nhân cá biệt hoặc một số ít người. Đến thời kỳ Brezhnev, đội ngũ những kẻ đặc quyền ngày càng được mở rộng, đặc quyền được hưởng không ngừng tăng lên, đã hình thành một tầng lớp chính trị có ảnh hưởng chính trị rất lớn. Đến thời kỳ Gorbachev, tầng lớp đặc quyền dần dần diễn biến thành phái quyền thế đi con đường tư bản chủ nghĩa treo biển đỏ. Tầng lớp đặc quyền có ảnh hưởng hết sức tiêu cực đối với tiến trình phát triển của Đảng Cộng sản Liên Xô và Liên Xô, cuối cùng trở thành một cơ sở xã hội quan trọng trong sự sụp đổ của Đảng Cộng sản Liên Xô và sự giải thể của Liên Xô.


I. SỰ HÌNH THÀNH VÀ ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA TẦNG LỚP ĐẶC QUYỀN
   
1. Bác bỏ một quan điểm sai lầm

Từ thập niên 30 của thế kỷ XX, chính Trotsky - người từng thất bại trong cuộc đấu tranh quyền lực với Xtalin đã chỉ ra ở Liên Xô đã xuất hiện một "tầng lớp quan liêu", nhưng kết luận này tối đa chỉ là do tức giận chính trị của ông, không có bất kỳ căn cứ khoa học nào. Thập niên 60-70 của thế kỷ XX, một vài người "bất đồng chính kiến" của Liên Xô và các nước Đông Âu cũng cho rằng, Liên Xô ngay từ khi bắt đầu đã tồn tại một tầng lớp đặc quyền. Họ nhìn nhận Liên Xô như một xã hội đối lập về giai cấp, nhìn nhận các cấp cán bộ của Liên Xô như một "giai cấp mới". Giữa thập niên 1970, cuốn sách Hệ thống chính quyền cộng sản do Ota Sik của Tiệp Khắc xuất bản cho rằng, chủ yếu do thể chế tập trung cao độ, ở Liên Xô đã hình thành một tầng lớp đặc quyền. Sau khi Liên Xô giải thể, một vài học giả Nga cũng khẳng định thời kỳ Liên Xô đã tồn tại tầng lớp đặc quyền. Họ đem tầng lớp đặc quyền đánh đồng với tất cả cán bộ của Đảng và Nhà nước, tức được gọi là "Nomenclatyra" (tiếng Nga là номенкдатура, nghĩa gốc là "bảng danh sách", chỉ những cán bộ được ghi danh vào bảng quan chức), đồng thời chú trọng mô tả các loại đặc quyền mà họ được hưởng. Kỳ thực, quan điểm này hoàn toàn không phải là điều gì mới mẻ, gần như là sao chép y nguyên từ các học giả tư sản phương Tây. Chính giới, học giả các nước phương Tây từ đầu đã đưa ra vấn đề gọi là "tầng lớp đặc quyền". Họ phần nhiều xuất phát từ yêu cầu của lập trường giai cấp và đấu tranh ý thức hệ chống Liên Xô, chống cộng sản, thổi phồng vô tội vạ, tuyên truyền ác ý về những mặt tiêu cực của Đảng Cộng sản Liên Xô và Liên Xô, đồng thời kích động nhân dân bất mãn với chế độ xã hội chủ nghĩa.


Thực tế lịch sử đã chứng minh, quan điểm cho rằng Đảng Cộng sản Liên Xô ngay từ khi mới cầm quyền đã tồn tại một tầng lớp đặc quyền và liệt tất cả cán bộ của Đảng Cộng sản Liên Xô là tầng lớp đặc quyền hiển nhiên là sai lầm, thậm chí là có ý đồ khác. Họ không nhìn vào bản chất và đặc trưng của tầng lớp đặc quyền mà phóng đại phạm vi của tầng lớp này. Không phải tất cả cán bộ đều thuộc tầng lớp đặc quyền, tầng lớp đặc quyền chỉ là một bộ phận trong đội ngũ cán bộ, chỉ tập hợp những kẻ lợi dụng chức quyền để mưu cầu lợi ích riêng tư, theo đuổi quyền lợi đặc biệt cho cá nhân, được hình thành trong thời kỳ lịch sử nhất định. Trong đội ngũ cán bộ của Đảng Cộng sản Liên Xô, có một số lượng lớn cán bộ liêm khiết chính trực, một lòng vì việc công, đồng thời luôn dốc sức cho sự nghiệp cách mạng, xây dựng và cải cách chủ nghĩa xã hội. Liệt những người này vào phạm vi tầng lớp đặc quyền là không phù hợp với thực tế thậm chí là có ý đồ khác.


Điều kiện hình thành tầng lớp đặc quyền là đa lĩnh vực, đây là quá trình tích tụ lâu dài, là kết quả của sự biến đổi tổng hợp môi trường chính trị, kinh tế, xã hội.

Thời Lênin, chính quyền Xôviết vừa mới thành lập, đất nước rơi vào tình trạng trăm thứ đổ nát chưa được sửa sang, lại còn phải đấu tranh với phiến loạn trong nước và sự can thiệp vũ trang từ bên ngoài. Trong hoàn cảnh gian khổ như vậy, Đảng Bônsêvích do Lênin đứng đầu là một đội ngũ hừng hực nhuệ khí, tràn đầy nhiệt tình và lý tưởng cách mạng, những đảng viên này gian khó lập nghiệp, một lòng dốc sức cho thắng lợi triệt để của cách mạng và công cuộc khôi phục và xây dựng của đất nước. Vì thế, trong đội ngũ những người cách mạng và những người xây dựng này, không thể hình thành tầng lớp đặc quyền. Tất nhiên, do cơ chế giám sát và kiểm soát không kiện toàn, cũng có khả năng xuất hiện hiện tượng cán bộ, đảng viên cá biệt lợi dụng cơ hội dùng quyền lực có trong tay để mưu cầu tư lợi. Lênin kiên quyết chống hiện tượng này. Trong các tác phẩm của mình, Lênin kịch liệt phê phán tình trạng quan liêu, một trong những mục đích là đề phòng hiện tượng đặc quyền có khả năng sinh sôi, bởi vì đó là môi trường để hình thành tầng lớp đặc quyền. Hồi đó có một câu chuyện đầy tính huyền thoại: Ủy viên nhân dân phụ trách vấn đề lương thực A. Đ. Tsiurupa vì đói quá mà ngất xỉu tại cuộc họp Ủy ban nhân dân. Ủy viên nhân dân có quyền lớn về quản lý, điều phối lương thực lại không để lại cho mình lương thực đủ ăn no, chứng tỏ tinh thần chí công vô tư và cống hiến quên mình của cán bộ đảng viên thời kỳ Lênin lãnh đạo Đảng Bônsêvích. Sự việc này làm Lênin hết sức xúc động. Để bảo đảm sức khỏe cho công bộc của nhân dân, Lênin kiến nghị thành lập "nhà ăn điều dưỡng", nhằm giúp những cán bộ lãnh đạo này được ăn đủ dinh dưỡng. Tháng 1 năm 1924, Lênin bị bệnh rồi qua đời, Hội nghị Ban Chấp hành Đảng Cộng sản Liên bang (Bônsêvích) lập tức đã được tổ chức tại Mátxcơva. Tại Hội nghị, Voroshilov đã đọc "Báo cáo về việc bảo vệ sức khỏe lãnh đạo cấp cao của Đảng". Những người tham dự Hội nghị cho rằng, bảo vệ sức khỏe của lãnh đạo cấp cao là một việc cực kỳ quan trọng. Sau Hội nghị, một cơ quan chuyên trách quản lý vấn đề ăn, ở của các lãnh đạo Nhà nước đã được thành lập một cách nhanh chóng. Ăn tại "nhà ăn điều dưỡng", ở tại "biệt thự sức khỏe", đây tất nhiên không thế coi là tiêu chí của đặc quyền. Mặc dù lúc đó, người như thế nào mới được hưởng những đãi ngộ như vậy, có lúc trở thành một "thước đo" không có cách nào nắm bắt được. Nhưng bất luận thế nào, trong tình hình điều kiện vật chất vô cùng khó khăn lúc đó, để duy trì sức khỏe tối thiểu của lãnh đạo Đảng và Nhà nước mà áp dụng các biện pháp có hạn, đây chưa đủ tạo thành đặc quyền mà chỉ là yêu cầu của công tác và sinh hoạt.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #129 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2022, 07:24:09 am »

Trong thời kỳ Xtalin cầm quyền, đã xác lập thể chế kinh tế chính trị tập trung cao độ, trung tâm của quyền lực chính trị trong tay Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Xtalin đứng ở đỉnh của kim tự tháp quyền lực. Chỉ thị và mệnh lệnh của ông được truyền đạt đến cán bộ các cấp qua phương thức từ trên xuống dưới, mà các cấp cán bộ lại hoàn thành nhiệm vụ thông qua hình thức chịu trách nhiệm từ dưới lên trên. Thể chế này đã tạo ra địa vị quyết định của cấp trên trong xử lý các sự vụ lớn nhỏ, do đó, các cơ quan quyết sách và thực hiện từ trên xuống dưới có được quyền lực tuyệt đối, các cán bộ lớn nhỏ làm việc trong các cơ quan Đảng và Nhà nước có địa vị chi phối trong xã hội, trở thành người có quyền thế. Số rất ít cán bộ trong số họ cũng có khả năng trở thành kẻ đặc quyền. Nhưng phần lớn cán bộ thời kỳ Xtalin cầm quyền là những đảng viên cộng sản đã từng trải qua thử thách của cách mạng. Sự trung thành đối với sự nghiệp chủ nghĩa cộng sản và tác phong phấn đấu gian khổ của họ làm cho họ không thể hình thành một tầng lớp đặc quyền, cho dù trong tay họ có quyền lực rất lớn. Bản thân Xtalin chính là một đại diện tốt nhất. Xét từ tình hình trong nước, thời kỳ này, Liên Xô còn trong thời kỳ đầu xây dựng đất nước, dưới sự cổ vũ nhiệt tình đối với công cuộc xây dựng to lớn, nhân dân cả nước tràn đầy lý tưởng, niềm tin vào chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa tập thể, tiến hành xây dựng đất nước với lòng tin tưởng hoàn toàn. Đồng thời, lúc đó, điều kiện các mặt của Liên Xô còn vô cùng gian khổ, còn chưa có môi trường vật chất để đặc quyền trỗi dậy. Xét từ phương diện khác, các cuộc đấu tranh chính trị trong nội bộ Đảng diễn ra liên tục không ngừng, những cán bộ công tác tại các cơ quan Đảng và Nhà nước thường trở thành đối tượng bị xung đột chính trị, vì thế, họ cẩn thận từng chút một khi thực thi quyền lực, rất sợ sai sót một chút là bị chê trách, ảnh hưởng đến an toàn của chính bản thân; hơn nữa, điều này cũng làm cho những người nắm quyền không thể hình thành tâm lý chính trị ổn định và thống nhất. Xét từ tình hình quốc tế lúc đó Liên Xô đang đối mặt với môi trường khắc nghiệt, đặc biệt là hoàn cảnh chiến tranh sinh tử tồn vong như Chiến tranh thế giới thứ hai, đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô, nhất là cán bộ lãnh đạo của Đảng, đế bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, không tiếc hy sinh tính mạng của cá nhân, hàng lớp người xông ra tiền tuyến. Trong bối cảnh như vậy thì không thể hình thành một tầng lớp cán bộ ổn định, càng không thể hình thành một tầng lớp đặc quyền.


Đến thời kỳ Khrushchev, số lượng cán bộ trong đội ngũ Đảng Cộng sản Liên Xô có tăng nhẹ. Khrushchev đã tiến hành cải cách chính sách cán bộ của Đảng, đưa ra một số biện pháp mới. Căn cứ vào quy định tại Điều 25 của Điều lệ Đảng được thông qua tại Đại hội XXII Đảng Cộng sản Liên Xô, phải tiến hành thay đổi định kỳ mang tính bắt buộc đối với tầng lớp cán bộ, đảng ủy hoặc chi ủy của tổ chức cơ sở Đảng ít nhất 1/2 số lượng vào mỗi lần bầu cử nhiệm kỳ mới, Đảng ủy các nước cộng hòa và tỉnh phải thay đổi ít nhất 1/3 vào mỗi lần bầu cử nhiệm kỳ mới, Ban Chấp hành Trung ương và Đoàn Chủ tịch thay đổi ít nhất 1/4 vào mỗi lần bầu cử nhiệm kỳ mới1 (Tổng hợp Điều lệ Đảng Cộng sản Liên Xô, Nxb. Cầu thị, 1982, tr.209-210). Căn cứ vào quy định đó, khi tiến hành bầu cử tổ chức Đảng ở cơ sở, hằng năm có một loạt bí thư không trúng cử do đã đủ hai nhiệm kỳ, tỷ lệ thay đổi đạt tới 60%2 (Sử cương hưng vong của Đảng Cộng sản Liên Xô, Nxb. Khoa học xã hội Trung Quốc, 2004, tr.479), tổ chức Đảng ở cấp trung và cấp cao mặc dù tỷ lệ thay đổi tương đối thấp, nhưng biến đổi cũng tương đối thường xuyên. Kiểu cải cách chế độ nhiệm kỳ cán bộ này đã tạo ra những cú sốc đối với đội ngũ cán bộ Đảng. Ngoài ra, một vài cải cách mang ý chí chủ quan được đưa ra trong thời kỳ Khrushchev như trao quỵền cho cơ quan Trung ương, tách bạch Đảng ủy Công nghiệp với Đảng ủy Nông nghiệp, cũng khiến cho tầng lớp cán bộ rơi vào tình trạng thay đổi liên tục. Kiểu biến động chức vụ thường xuyên của đội ngũ cán bộ vừa ảnh hưởng đến sự hình thành đội ngũ cán bộ ổn định vừa khiến cho cán bộ rơi vào trạng thái tâm lý căng thẳng kéo dài, không dám ngang nhiên theo đuổi đặc quyền. Trong tình hình nàỵ, những cán bộ theo đuổi và hưởng thụ đặc quyền cũng không thể hình thành một giai cấp lớn mạnh, ổn định được. Biện pháp của Khrushchev mặc dù không thể xóa bỏ sự xuất hiện những người có đặc quyền trong Đảng, nhưng đặc quyền của họ vẫn chịu sự hạn chế nhất định.


Mặc dù như vậy, thời kỳ Khrushchev, trong Đảng Cộng sản Liên Xô đã bắt đầu xuất hiện một đội ngũ những người đặc quyền. Cùng với sự vạch trần và phê phán đối với Xtalin, Đảng Cộng sản Liên Xô đã buông lỏng việc giáo dục tư tưởng đối với cán bộ, làm cho niềm tin chủ nghĩa cộng sản của họ ít nhiều yếu đi, thêm vào đó là vấn đề an toàn cá nhân của cán bộ đã có sự bảo đảm, họ đã dần dần mạnh dạn theo đuổi đặc quyền hơn. Hơn nữa, mặc dù Khrushchev đã tiến hành nhiều cải cách liên quan đến đặc quyền, nhưng ông đã không hề chạm đến thể chế kinh tế chính trị tập trung cao độ cũng như vị trí của Đảng Cộng sản Liên Xô trong thể chế này, ông cũng không hề xây dựng và tăng cường cơ chế giám sát và kiểm soát có hiệu quả trong và ngoài Đảng. Vì thế trong thời kỳ Khrushchev, đội ngũ những người đặc quyền trong Đảng có phần mở rộng, nhưng vẫn chưa thể nói là đã hình thành một tầng lớp đặc quyền.


Vào thập niên 60 thế kỷ XX, trong thời kỳ tranh luận giữa hai Đảng Cộng sản Trung Quốc và Liên Xô, Đảng Cộng sản Trung Quốc từng dùng cụm từ "tầng lớp đặc quyền" để miêu tả một bộ phận người trong Đảng Cộng sản Liên Xô thời kỳ Khrushchev. Trên tờ Nhân dân nhật báo số ra ngày 10 tháng 7 năm 1964, đã đăng lại một bài viết của tờ Tiếng nói của nhân dân của Anbani, chỉ ra một trong những mục đích chính của Khrushchev là "tạo ra một tầng lớp đặc quyền, một lớp 'quý tộc' mới, họ xuất phát từ lợi ích hạn hẹp của mình, ủng hộ đường lối của chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa dân tộc phản chủ nghĩa xã hội, phản cách mạng của Khrushchev và tập đoàn phản bội của ông. Chính sự hình thành một tầng lớp đặc quyền như thế này đã tạo thành nền tảng xã hội để chủ nghĩa xét lại tràn lan tại một vài nước xã hội chủ nghĩa"1 (Nhân dân nhật báo, ngày 10-7-1964). Ngày 14 tháng 7 năm 1964, Nhân dân nhật báo đăng bài viết với nhan đề "Về chủ nghĩa cộng sản giả của Khrushchev và bài học của nó trong lịch sử thế giới - Thư ngỏ trong 9 bài bình luận Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô", trong đó đã dùng cụm từ "tầng lớp đặc quyền" để phê bình một bộ phạn người tồn tại trong Đảng Cộng sản Liên Xô, đặc biệt là trong các tầng lớp lãnh đạo. Bài viết chỉ rõ: "Trong xã hội Liên Xô đã xuất hiện một tầng lớp đặc quyền tư sản... Hiện nay, tầng lớp đặc quyền trong xã hội Liên Xô là do các phần tử thoái hóa, biến chất và phần tử trí thức tư sản trong cán bộ lãnh đạo tại các cơ quan Đảng, Nhà nước và các doanh nghiệp, nông trang tạo thành, đối lập với công nhân, nông dân, đông đảo trí thức và cán bộ Liên Xô"2 (Nhân dân nhật báo, ngày 14-7-1964). Ngày nay nhìn lại, kết luận này có thể có chỗ còn thiếu tính khoa học. Tuy nhiên, từ bối cảnh chính trị của những tranh luận về phong trào cộng sản quốc tế lúc bấy giờ, đặc biệt là xét từ đường lối, chính sách trong và ngoài nước mà Khrushchev tiến hành cũng như hậu quả của nó, hàm ý chính trị phân tích ở trên là rõ ràng, hơn nữa đến nay vẫn khiến người ta thấu hiểu sâu sắc.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM