Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:12:28 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tính trước nguy cơ - Suy ngẫm sau 20 năm Đảng Cộng sản Liên Xô mất Đảng  (Đọc 42011 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #130 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2022, 07:25:35 am »

2. Sự hình thành tầng lớp đặc quyền

Đến thời kỳ Brezhnev cầm quyền, cùng với những thay đổi phát triển của môi trường chính trị, kinh tế và tư tưởng văn hóa, số lượng những người đặc quyền trong nội bộ Đảng Cộng sản Liên Xô không ngừng phình ra, một tâm lý văn hóa, chính trị tương đối thống nhất cũng dần dần hình thành trong họ, cuối cùng đã hình thành một tầng lớp đặc quyền trong Đảng Cộng sản Liên Xô. Sự xuất hiện của tầng lớp đặc quyền này liên quan trực tiếp đến đường lối, chính sách mà người lãnh đạo tối cao Đảng Cộng sản Liên Xô là Brezhnev thực hiện rộng rãi cũng như phong cách cầm quyền của cá nhân ông.


Thứ nhất, thời kỳ Brezhnev chỉ đơn thuần theo đuổi sự ổn định của đội ngũ cán bộ. Chính sách cán bộ của Khrushchev làm đội ngũ cán bộ không ổn định, dẫn đến sự phản đối của số đông cán bộ đối với ông, đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến Khrushchev bị mất chức. Brezhnev đã rút ra được bài học này từ Khrushchev. Ông theo đuổi sự ổn định của đội ngũ cán bộ, đồng thời từ đó tăng cường địa vị cầm quyền của mình. Đại hội lần thứ XXIII của Đảng Cộng sản Liên Xô tiến hành sửa đổi Điều lệ Đảng, đã xóa bỏ Điều 25 của Điều lệ, chỉ là tiến hành bổ sung Điều 24 của Điều lệ như sau: "Khi bầu cử tất cả các cơ quan Đảng (từ tổ chức cơ sở đến Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô), phải tuân thủ nguyên tắc các thành viên của cơ quan Đảng phải thường xuyên đổi mới, lãnh đạo Đảng phải đổi mới"1 (Tổng tập văn kiện chủ yếu Đại hội đại biểu lần thứ XXIII Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđd, tr.329). Mặc dù coi việc "thường xuyên đổi mới" đội ngũ cán bộ là điều khoản được giữ lại, nhưng việc này vẫn chưa được nghiêm túc thực hiện trong thực tiễn. Trong thời kỳ Brezhnev cầm quyền, ông hết sức thận trọng khi xử lý vấn đề cán bộ, không dễ dàng thay đổi một cán bộ nào. Suslov, người phụ trách công tác ý thức hệ của Đảng Cộng sản Liên Xô lâu năm đã từng chỉ ra: "Sự ổn định của đội ngũ cán bộ là bảo đảm của thành công". Brezhnev đã coi đó là công thức. Brezhnev thậm chí còn cho rằng trong thời kỳ ông lãnh đạo, tất cả cán bộ địa phương thông thường ngồi trên vị trí của mình không có bất cứ biến động nào là điều vinh dự. Brezhnev theo đuổi một cách phiến diện sự ổn định của đội ngũ cán bộ Đảng, còn việc cải cách cơ quan Đảng và Nhà nước theo hướng giảm bớt nhân viên dư thừa, nâng cao hiệu quả hành chính lại không bao giờ được đưa vào chương trình nghị sự. Hơn nữa, thời kỳ này đã hình thành chế độ trọn đời trên thực tế của cán bộ lãnh đạo, những cán bộ cao cấp như Brezhnev, Suslov đều cứ ngồi mãi trên ghế của mình. Vì thế sau khi Brezhnev cầm quyền, trong Đảng Cộng sản Liên Xô dần dần hình thành một đội ngũ cán bộ ngày càng lão hóa. Theo chính sách cán bộ của Brezhnev, tầng lớp lãnh đạo của Liên Xô thay đổi ít nhất, tại Đại hội XXIII Đảng Cộng sản Liên Xô, Ủy viên Trung ương trúng cử liên nhiệm, nhiều nhiệm kỳ chiếm đến 79,4%, cao hơn nhiều so với tỷ lệ 49,6% của Đại hội XXII; tại Đại hội XXV, trừ những Ủy viên Trung ương đã qua đời, tỷ lệ trúng cử liên nhiệm, nhiều nhiệm kỳ đạt đến 90%. Tất cả 11 Ủy viên Bộ Chính trị tại Đại hội XXIII đều tiếp tục tái cử, trong số 15 Ủy viên Bộ Chính trị tại Đại hội XXIV có đến 11 người tiếp tục cương vị của mình tại Đại hội XXV, còn trong 16 Ủy viên Bộ Chính trị tại Đại hội XXV cũng còn 11 người tiếp tục tái cử tại Đại hội XXVI. Trong thời kỳ diễn ra hai nhiệm kỳ Đại hội đại biểu Đảng cấp Khu 1978 - 1981, trong 156 Bí thư Khu ủy chỉ có 5 người bị thay đổi1 (Tham khảo Vương Chính Tuyền (chủ biên): Từ Lênin đến Gorbachev - Diễn biến thể chế chính trị Liên Xô, Nxb. Đại học Nhân dân Trung Quốc, 1989, tr.304-306). Có học giả còn tính toán ra được tỷ lệ tái cử của các ủy viên Trung ương tại Đại hội đại biểu Đảng, đồng thời so sánh với thời kỳ Xtalin và Khrushchev: Đại hội XXIII: 79,4%; Đại hội XXIV: 76,5%; Đại hội XXV: 83,4%; Đại hội XXVI: 89%. Còn thời kỳ Xtalin và Khrushchev là: Đại hội XVII: 22,5%; Đại hội XVIII: 46,5%; Đại hội XIX: 64%; Đại hội XX: 62,4%; Đại hội XXII: 49/6%1 (Hình Quảng Trình: 70 năm quyết sách tầng cao của Liên Xô, Nxb. Tri thức Thế giới, 1998, q.4, tr.335). Từ năm 1965 đến 1984, "việc thay đổi cán bộ tầng cao nhất của chính quyền giảm xuống đến giới hạn thấp nhất": Nhiệm kỳ của đa số Ủy viên Bộ Chính trị vượt qua 15 năm, nhiệm kỳ của ủy viên Ban Chấp hành Trung ương cũng phần lớn trên 12 năm, nhiệm kỳ của một vài Ủy viên Trung ương kéo dài tận 25 - 34 năm2 (A. N. Sakharov: Lịch sử nước Nga thế kỷ XX, bản tiếng Nga, Mátxcơva, 1996, tr.580-581). Đến mùa xuân năm 1978, tuổi đời bình quân của 58 Bộ trưởng và Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng được bổ nhiệm năm 1966 đã đạt 70 tuổi, trong thời gian đó chỉ có 12 người về hưu hoặc điều chuyển công tác. Đến năm 1979, trong 23 Bí thư Trung ương và lãnh đạo các Ban Trung ương được bổ nhiệm năm 1966 chỉ có 6 người chuyển đi. Như vậy, tất đã hình thành một đội ngũ cán bộ ổn định nhưng dần dần lão hóa. Đội ngũ cán bộ ổn định này là nhân tố chủ yếu nhất để tạo thành tầng lớp đặc quyền.


Chính sách đơn thuần chỉ theo đuổi sự ổn định của đội ngũ cán bộ mà Brezhnev áp dụng có cả kết quả tích cực và hậu quả tiêu cực. Từ ý nghĩa tích cực mà nói, khi cán bộ các cấp đảm nhận một chức vụ ổn định trong một thời gian dài, họ có thể suy nghĩ đến các vấn đề lâu dài trong công tác tại địa phương hoặc các bộ ngành, đề ra kế hoạch công tác dài hạn, điều này tránh được một cách có hiệu quả việc cán bộ muốn nhanh chóng cầu lợi, chỉ nghĩ đến lợi ích trước mắt mà coi nhẹ các hành vi để lại hậu quả lâu dài trên cương vị công tác của mình. Đồng thời, cán bộ, đảng viên không cần bỏ ra nhiều tâm trí để bảo đảm chức vị của bản thân, cũng làm cho họ bỏ ra nhiều sức lực hơn vào trong công việc. Tuy nhiên, chủ yếu hơn vẫn là ảnh hưởng tiêu cực của chính sách này, chính chính sách này của Brezhnev phù hợp với tâm lý của các cán bộ. Lãnh đạo lớn nhỏ bắt đầu thích Brezhnev, ông không thích thay đổi, họ cũng không muốn thay đổi, đặc biệt là không muốn điều chuyển chức vụ của họ từ cao xuống thấp"1 (V. I. Sukhanov: Thế hệ Gennady Ziuganov và Liên Xô, bản tiếng Nga, Mátxcơva, 1999, tr.198). Nhiều cán bộ vì địa vị ổn định nên không có cảm giác cảnh giác, đồng thời cũng đã mất đi tinh thần trách nhiệm và cầu tiến mà một cán bộ Đảng Cộng sản cần có. Đối với họ, nếu đã không cần lo lắng về vấn đề chức vị của bản thân, thì cần gì phải hao tâm tổn lực theo đuổi những thành tựu trong công việc nữa? Đồng thời, khi họ đã không có áp lực, tất nhiên sẽ buông lỏng những ràng buộc đối với bản thân, bắt đầu xa rời quần chúng, theo đuổi đặc quyền không nên có. Đây chính là tâm lý cán bộ không lành mạnh do chính sách đội ngũ cán bộ đơn thuần ổn định gây nên. Sự xuất hiện đặc trưng tâm lý chính trị này trong đội ngũ cán bộ tất nhiên thúc đẩy sự hình thành tầng lớp đặc quyền.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #131 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2022, 07:27:15 am »

Thứ hai, Brezhnev không chỉ dốc sức ổn định đội ngũ cán bộ Đảng và Nhà nước, mà còn không ngừng mở rộng đội ngũ cán bộ Đảng và Nhà nước. Vốn dĩ, trong bối cảnh xã hội mà trình độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa không ngừng được nâng cao, kết cấu xã hội ngày càng phức tạp thì cần phải lập ra nhiều cơ quan quản lý hơn nữa và tăng thêm nhiều nhân viên quản lý hơn nữa, đây là xu thế bình thường của sự phát triển xã hội hiện đại. Nhưng đây không phải là nguyên nhân chủ yếu để đội ngũ cán bộ thời kỳ Brezhnev không ngừng được mở rộng. Nguyên nhân chính để mở rộng đội ngũ cán bộ thời kỳ này là ở chỗ, do thể chế kinh tế chính trị tập trung cao độ không thay đổi khiến cho xã hội được quốc gia hóa toàn diện, hơn nữa, hiện tượng không xác định rõ ranh giới giữa Đảng và chính quyền ngày càng nghiêm trọng. Đến cuối thập niên 1970, đã có hơn 20 cơ quan cấp Ban của Đảng Cộng sản Liên Xô, trong đó, phần lớn là trùng với cơ quan Chính phủ, thậm chí đến tên gọi của cơ quan cũng đều giống y như nhau. Ngoài ra, Đảng Cộng sản Liên Xô luôn ôm đồm mọi việc, vì muốn khống chế xã hội với kết cấu ngày càng phức tạp, thì bắt buộc phải không ngừng tăng thêm cơ quan quản lý xã hội của Đảng, đồng thời cũng không ngừng tăng thêm nhân viên quản lý của các cơ quan. Vấn đề then chốt nhất là tư tưởng của Brezhnev bảo thủ, cứng nhắc, hiện tượng cơ quan Đảng và Nhà nước ngày càng phình ra, nhân viên dư thừa ngày càng nhiều, nhìn mà như không thấy, chưa từng suy nghĩ đến việc phải tiến hành cải cách đối với vấn đề này. Lênin từ lâu đã từng đưa ra kiến nghị tinh giản hệ thống các cơ quan: "Phải xóa bỏ đến mức có thể các loại ủy ban hiện có (9/10 số ủy ban này là thừa, mà đặc trưng của nó là sau khi xóa bỏ xong, chẳng bao lâu lại thay hình đổi dạng để phục hồi), đồng thời ngăn chặn thành lập ủy ban mới"1 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.34, tr.152). Nhưng những người như Brezhnev đã sớm quên mất lời dạy này của Lênin. Theo thống kê, tổng số các Bộ trưởng của Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết từ 29 người vào năm 1965 tăng lên 160 người vào giữa thập niên 1980, tổng số nhân viên tại cơ quan hành chính là 18 triệu người2 (A. N. Sakharov: Lịch sử nước Nga thế kỷ XX, Sdd, tr.581), chỉ tính số cán bộ làm việc tại các cơ quan Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đã hơn 500.000 người; số cán bộ lãnh đạo cấp Bộ trưởng tại 64 bộ và hơn 20 ủy ban Nhà nước cũng như cơ quan trực thuộc có đến hơn 800 người, Bộ Công nghiệp luyện kim đen có 1 bộ trưởng, 3 thứ trưởng thứ nhất, 15 thứ trưởng1 (Giang Lưu, Trần Chi Hoa (chủ biên): Suy ngẫm về lịch sử diễn biến của Liên Xô, Sđd, tr.51). Từ năm 1971 đến năm 1975, nhân viên công tác tại các cơ quan đã tăng lên gần 22%; sau thời kỳ cầm quyền của Brezhnev, cơ quan hành chính Nhà nước hằng năm tăng bình quân từ 300.000 đến 500.000 người2 (Tham khảo Vương Chính Tuyền (chủ biên): Từ Lênin đến Gorbachev - Diễn biến thể chế chính trị Liên Xô, Sđd, tr.169).


Đương nhiên, việc mở rộng đội ngũ cán bộ Đảng và Nhà nước không có mối liên hệ tất yếu với sự hình thành tầng lớp đặc quyền, nhưng mọi người đều biết, cán bộ Đảng và Nhà nước là nguồn gốc chủ yếu của tầng lớp đặc quyền, những người hưởng thụ và theo đuổi đặc quyền trong đội ngũ cán bộ không ngừng được mở rộng ấy cũng không ngừng tăng lên, những người đặc quyền cũng dần dần từ số ít mở rộng thành một tầng lớp xã hội. Vì thế sự mở rộng đội ngũ cán bộ Đảng và Nhà nước của Liên Xô trên thực tế đã tạo điều kiện tiền đề quan trọng cho sự hình thành tầng lớp đặc quyền.


Thứ ba, trong thời kỳ Brezhnev, cơ chế kiểm tra, giám sát trong nội bộ Đảng Cộng sản Liên Xô đối với đảng viên và cán bộ Đảng không ngừng yếu đi, cho dù tồn tại một vài quy định, cũng chỉ là hình thức. Điều này đã tạo môi trường chính trị thích hợp để cán bộ Đảng dùng quyền lực mưu cầu tư lợi, sử dụng quyền lực của mình tùy tiện, thậm chí ngang ngược bất cần, từ đó biến thành những kẻ đặc quyền. Ngoài ra, trong thời kỳ Brezhnev cầm quyền, việc giáo dục tư tưởng trong Đảng cũng không ngừng bị suy yếu, thêm vào đó đảng viên thời kỳ này ở trong môi trường hòa bình, xa rời những thử thách khắc nghiệt của chiến tranh và cách mạng, vì thế niềm tin, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa của nhiều đảng viên và cán bộ Đảng ngày càng phai nhạt, thậm chí mất đi, tư tưởng chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa hưởng lạc tương đối thịnh hành trong Đảng, từ đó khiến cho hiện tượng theo đuổi đặc quyền trong đội ngũ cán bộ Đảng và Nhà nước ngày càng nghiêm trọng. Trong tình hình này, một lượng lớn cán bộ đã trở thành những thành viên của tầng lớp đặc quyền mà chúng ta vừa nói.


Thứ tư, những hành vi như theo đuổi lạc thú, lạm dụng quyền lực, tham ô hối lộ của một số lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là Brezhnev, đã thúc đẩy sự hình thành tầng lớp đặc quyền. Sau khi trở thành Tổng Bí thư, Brezhnev thở dài mà nói: "Cuối cùng đã đến được ngày hôm nay". Khi mẹ của ông từ quê lên thăm ông, ông tự hào dẫn mẹ mình đi ngắm những vật dụng gia đình tinh xảo đẹp mắt, biệt thự xa hoa của ông, dáng vẻ hết sức mãn nguyện. "Cách sống và ngôn ngữ, hành vi của Brezhnev đã ảnh hưởng đến những người xung quanh ông, đến tất cả tầng lớp trên của Đảng"1 (Tham khảo S. S. Akopov: Lịch sử nước Nga 1953-1996, bản tiếng Nga, Mátxcơva, 1997, tr.227). Brezhnev đã lợi dụng chức vụ và quyền lực của mình để thụ hưởng những đặc quyền mà không ai sánh được. Ông nổi tiếng là đam mê đi săn, sống ở biệt thự xa hoa và sưu tầm những xe hạng sang cao cấp. Brezhnev còn thích những quà tặng cao cấp, quà tặng mà ông nhận có thể nói là "không đếm xuể"2 ([Liên Xô] V. Boldin: Lịch sử thăng trầm của Gorbachev, Sđd, tr.34). Đây vốn không thuộc tài sản cá nhân, đáng lẽ phải nộp cho quốc gia, nhưng Brezhnev lại thu phần lớn tặng phẩm đó làm của riêng. Cháu gái Brezhnev trong hồi ức về ông nội mình đã từng nhắc đến những chiếc xe hơi cao cấp mà ông sưu tầm được, tổng số lên đến hơn trăm chiếc. Đây đa phần đều là tặng phẩm của lãnh đạo nước ngoài. Quà cưới mà ông tặng cho con gái mình Galina là một chiếc xe hơi hiệu Skoda. Đây chính là tặng phẩm của Tổng thống Tiệp Khắc. Những món đồ này cho đến sau khi Brezhnev qua đời mới bị Andropov tịch thu. Brezhnev cho rằng: "'Kinh tế bóng' và các hành vi cướp đoạt các thiết bị công cộng, hối lộ của cán bộ đều là bình thường"1 (S. S. Akopov: Lịch sử nước Nga 1953-1996, Sđd, tr.236). Không ai không biết việc Brezhnev dung túng và bao che cho các hành vi tham ô của những thân tín của mình như Selokhov, Madunov, Aliyev và Kunayev cũng như những người họ hàng của ông. Cuối thập niên 1970, Andropov chuẩn bị triển khai cuộc đấu tranh chống tham nhũng, nhưng lại vấp phải sự phản đối của Brezhnev. Ông không cho phép Andropov điều tra những hành vi tham nhũng nghiêm trọng trong Bộ Nội vụ của Selokhov. Khi Andropov đưa báo cáo phản ánh tình trạng tham nhũng trong nước cho ông, ông rất không vui, thay đổi ngay quan hệ thân thiết bấy lâu nay với Andropov, không gặp mặt Andropov trong 3 tháng, thậm chí từ chối nghe điện thoại của Andropov. Chỉ sau khi Andropov sửa nội dung báo cáo thành thông báo tin vui bình an không có chuyện gì, Brezhnev mới khôi phục quan hệ tốt đẹp với ông2 (Roy Medvedev (Nga): Andropov mà mọi người chưa biết đến, Nxb. Tân Hoa, 2001, tr.217-218). Brezhnev và những người thân tín một mặt không ngừng tăng thêm các loại đặc quyền, mặt khác chỉ ngăn chặn ở mức thấp nhất việc theo đuổi đặc quyền của các cấp cán bộ, có lúc thậm chí còn mặc kệ và khuyến khích, kết quả tất yếu là những quan chức của Đảng và Nhà nước thụ hưởng đặc quyền càng ngày càng nhiều, đặc quyền mà họ được hưởng cũng đủ loại, điều này càng khuyến khích sự hình thành tầng lớp đặc quyền. Raisa Gorbachev nhớ lại nói: "Năm 1978 sau khi vào Mátxcơva, tôi có nhiều phát hiện, một trong số đó chính là: một vài lãnh đạo nhà nước, bao gồm lãnh đạo Đảng, ngoài việc sở hữu biệt thự nhà nước được cung cấp, còn xây dựng biệt thự tư nhân, đồng thời xây dựng biệt thự tư nhân cho cả con cháu. Kiểu xa hoa và bạo gan này khiến cho tôi vô cùng kinh ngạc"1 (Raisa Gorbachev: Hy vọng của tôi - Hồi ký Raisa Gorbachev, Nxb. Công nhân Trung Quốc, 2000, tr.140). Mặc dù vợ chồng Gorbachev cũng thuộc tầng lớp đặc quyền, nhưng họ lúc đó mới công tác ở Trung ương, tất cả đặc quyền mà họ hưởng so với những người như Brezhnev vẫn còn dưới một bậc. Có thể nói, sự theo đuổi cuộc sống đặc quyền của người lãnh đạo tối cao mà đứng đầu là Brezhnev đã có vai trò "tâm gương" cho sự phát triển hiện tượng tham nhũng trong Đảng. Điều này có mối quan hệ trực tiếp với sự hình thành tầng lớp đặc quyền.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #132 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2022, 07:28:19 am »

Tóm lại, mảnh đất sinh trưởng thuận lợi nhất cho sự hình thành tầng lớp đặc quyền đã được tạo ra vào thời kỳ Brezhnev. Giống như nhà lịch sử nổi tiếng Roy Medvedev từng nói: "Thời kỳ Brezhnev khiến cho lý luận nomenklatura2 ("Nomenklatura": Chỉ tầng lớp cán bộ không có trình độ, sống lâu lên lão làng (tiếng Nga: номенкдатура) (ND)) như là một loại "giai cấp mới" trở nên có sức sống, nói cách khác, những kẻ bất tài, quan liêu, mờ nhạt vô nguyên tắc, không cá tính tại các cơ quan quản lý đã có thêm sức mạnh trong thời kỳ Brezhnev"3 (Roy Medvedev: Cá nhân và thời đại - Chân dung chính trị Brezhnev, bản tiếng Nga, Nxb. Tin tức Mátxcơva, 1991, tr.158-159). Học giả nổi tiếng Arbatov cũng cho rằng: "Vào những năm tháng trì trệ, chính điều này cuối cùng đã làm cho những cán bộ phụ trách và những người đảm nhận chức vụ cao cấp hình thành một giai cấp đặc biệt (cán bộ tại các nước Cộng hòa, các khu, các quận lại hình thành 'tầng lớp nhỏ' của mình)"1 (Arbatov: Nội tình chính trị của Liên Xô: Chứng kiến của người biết chuyện, Nxb. Tân Hoa, 1998, tr.309).


Xác định số lượng cụ thể của tầng lớp đặc quyền Đảng Cộng sản Liên Xô là một việc khó khăn. Theo tính toán của các học giả phương Tây, số lượng của tầng lớp đặc quyền Đảng Cộng sản Liên Xô khoảng 1.000.000 người, thêm cả người nhà của họ vào là khoảng 4.000.000 người. Căn cứ theo tính toán của học giả Nga sau khi Liên Xô giải thể, thời kỳ Brezhnev, số lượng người của tầng lớp đặc quyền khoảng 500.000 - 700.000 người, tính cả người nhà của họ là khoảng hơn 3.000.000 người, chiếm khoảng 1,5% dân số toàn quốc. Bất luận căn cứ của những tính toán này là gì thì tính khoa học của nó vẫn cần đi sâu phân tích, nghiên cứu hơn nữa. Nhưng có một điểm phải khẳng định, những kẻ theo đuổi và thụ hưởng đặc quyền, kể cả trong thời kỳ Brezhnev, cũng chỉ là một bộ phận rất nhỏ trong đội ngũ cán bộ. Do đó, khi bàn về sự hình thành tầng lớp đặc quyền của Đảng Cộng sản Liên Xô, cần nhấn mạnh bốn điểm sau:


Một là, "tầng lớp đặc quyền" chỉ là cách gọi một bộ phận các phần tử thoái hóa, biến chất, lấy quyền lực để mưu cầu lợi ích cá nhân trong đội ngũ cán bộ Đảng Cộng sản Liên Xô lúc bấy giờ. Phương Tây gọi tất cả các cấp cán bộ lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô lúc bây giờ là tầng lớp đặc quyền, hoàn toàn là cố ý, tuyên truyền xuyên tạc ác ý nhằm bôi xấu và lật đổ Đảng Cộng sản Liên Xô. Còn đông đảo cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Liên Xô lúc đó về tổng thể vẫn liêm khiết vì cái chung, dũng cảm cống hiến, kiên định đi theo con đường xã hội chủ nghĩa.


Hai là, cần phân biệt một cách rõ ràng yêu cầu công tác của các cấp lãnh đạo và đãi ngộ sinh hoạt hợp lý với "đặc quyền".


Ba là, cần phân biệt một cách rõ ràng sự chênh lệch hợp lý trong lĩnh vực phân phối với "đặc quyền". Lúc bấy giờ, mặc dù trong Đảng Cộng sản Liên Xô và trong xã hội Liên Xô tồn tại tầng lớp đặc quyền và hiện tượng đặc quyền nghiêm trọng, nhưng chủ nghĩa bình quân "nồi cơm lớn" trong lĩnh vực phân phối của Liên Xô cũng song song tồn tại.


Bốn là, không thể chỉ chú ý đến hiện tượng "đặc quyền" tồn tại trong lĩnh vực phân phối, mà còn phải chú ý hơn đến biểu hiện của "đặc quyền" trong lĩnh vực khác, như trên các phương diện hoạch định chính sách, bổ nhiệm cán bộ, nhận hối lộ làm trái với luật pháp, mưu cầu lợi ích cá nhân cho bản thân và nhóm của mình, đồng thời trốn tránh sự giám sát của kỷ luật Đảng và quy định của pháp luật. Những điều này có ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng, dẫn đến việc phá hoại quan hệ giữa Đảng và quần chúng, từ đó làm cho tôn chi và tính chất của Đảng thoái hóa, biến chất.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #133 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2022, 07:29:53 am »

3. Đặc trưng cơ bản của tầng lớp đặc quyền

Xét từ sự câu thành của tổ chức và thành viên, tầng lớp đặc quyền có những đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất, tầng lớp đặc quyền chủ yếu xuất phát từ đội ngũ cán bộ Đảng và Nhà nước, bởi vì chỉ có họ mới nắm giữ quyền lực, mới có khả năng lợi dụng quyền lực mưu cầu lợi ích cá nhân, mới có điều kiện hưởng thụ những quyền lợi không đáng được hưởng thụ. Đặc trưng bên ngoài này của tầng lớp đặc quyền đã thể hiện mối liên hệ mật thiết giữa họ với đội ngũ cán bộ Đảng Cộng sản Liên Xô, cũng rất dễ làm cho quần chúng nhân dân đánh đồng tầng lớp đặc quyền với toàn bộ đội ngũ cán bộ Đảng Cộng sản Liên Xô làm một. Tuy nhiên, như trên đã nói, đây là một chỗ hiểu lầm rất lớn về nhận thức. Vì thế chúng ta cần phải nhấn mạnh lại rằng, tuyệt đại đa số cán bộ Đảng và Nhà nước Liên Xô không thuộc tầng lớp đặc quyền, đây chính là sự khác biệt cơ bản về quan điểm giữa chúng ta với rất nhiều học giả phương Tây.


Thứ hai, tầng lớp đặc quyền có tính kế thừa và tính ăn bám. Một bộ phận tương đối trong số này tự sinh sôi nảy nở trong chính tầng lớp đặc quyền. Một học giả Liên Xô đã chỉ ra: 'Trong những năm 1970-1980, những nhân vật tinh hoa cấp cao của Nhà nước trên thực tế đã dừng việc bổ sung nhân viên từ phía dưới, trở nên càng ngày càng khép kín, thực chất là thay đổi bên trong tầng lớp"1 (A. K. Sokurov: Giáo trình lịch sử Liên Xô (1941-1991), Sđd, tr.295). Nhìn từ bên ngoài, địa vị, thân phận của tầng lớp đặc quyền và những đặc quyền liên quan là không thể kế thừa, nhưng con cái của tầng lớp đặc quyền có thể dựa vào địa vị đặc quyền của bố mẹ mình để trở thành một thành viên của tầng lớp đặc quyền. Ví dụ, họ có thể tránh những quy trình bình thường để dễ dàng bước vào những trường đại học danh tiếng, sau khi tốt nghiệp lại tìm một công việc tốt, hoặc được Nhà nước cử đi nước ngoài "đào tạo nâng cao", từ đó đặt nấc thang để bước vào tầng lớp đặc quyền, v.v... Những ví dụ về việc này nhiều vô kể: Con trai của Brezhnev là Yuri làm Thứ trưởng Bộ Ngoại thương, con rể Churbanov vốn không học hành gì cũng nhanh chóng trở thành Thứ trưởng thứ nhất Bộ Nội vụ, đồng thời được trao tặng quân hàm Thượng tướng; con trai của Mikoyan cũng rất nhanh chóng trở thành Tổng Biên tập tạp chí Mỹ La tinh; con trai của Gromyko sau một thời gian công tác tại Viện Nghiên cứu Mỹ và Canada thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, được đề bạt làm Tham tán Công sứ Đại sứ quán Liên Xô tại Mỹ, sau đó lại được bổ nhiệm làm Viện trưởng Viện Nghiên cứu châu Phi thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô. Sự thăng tiến của những con ông cháu cha này chủ yếu vì thân phận và quan hệ của họ, chứ không phải vì họ có tài năng gì nổi bật. Trong số họ có người còn là con em nhà quyền quý vô học, bất tài. Con trai của Brezhnev là một kẻ bợm rượu, thường xuyên tiến hành đàm phán những thương vụ quan trọng trong lúc nửa tỉnh nửa say, có lúc thậm chí không thể không đeo kính râm để che giấu đi trạng thái say của mình. Từ đó có thể thấy, sự cấu thành của tầng lớp này, trên một ý nghĩa nhất định, là "di truyền". Như một người biết rõ sự việc đã nói: "Họ sinh hoạt, chữa bệnh, nghỉ dưỡng một cách cô lập, trong tầng lớp này thường hình thành quan hệ gia tộc, thị tộc của mình - phải biết rằng con em của tầng lớp này cùng lớn lên, quen biết nhau, thường kết hôn với nhau. Không chỉ như vậy, trong thời kỳ trì trệ, đã bước được một bước đi lôgích dưới đây: Mưu đồ thiết lập chế độ giao quyền, hoặc gọi là chế độ kế thừa đặc quyền. Cũng chính là thông qua việc thiết lập quy chế giáo dục chuyên thu nạp những con ông cháu cha này, sau đó thông qua một bộ quy chế bổ nhiệm và đề bạt chức vụ để đạt được mục đích kế thừa quyền lực"1 (Arbatov: Nội tình chính trị của Liên Xô: Chứng kiến của người biết chuyện, Sđd, tr.309-310). Còn có một số người đơn thuần chỉ thông qua các quan hệ huyết thống của tầng lớp đặc quyền để làm cán bộ lãnh đạo. Như vậy đã dần dần hình thành một cơ chế sinh trưởng trong nội bộ tầng lớp đặc quyền. Tình hình này khiến cho những kẻ đặc quyền dễ dàng bảo vệ lẫn nhau, bao bọc cho nhau, xuất hiện hiện tượng quan bênh quan.


Có một ví dụ thực tế phản ánh rất rõ hiện tượng quan bênh quan trong nội bộ tầng lớp đặc quyền. Năm 1980, một nhân viên điều tra tình cờ mua được một lô những lon cá trích đóng hộp, sau khi mở ra mới phát hiện bên trong lại là sốt trứng cá rất đắt. Cá trích vì sao lại có thể biến thành sốt trứng cá? Sau khi tiến hành vất vả điều tra, cuối cùng đã làm rõ được vấn đề. Hóa ra, một loạt quan chức Bộ Ngư nghiệp Liên Xô và một công ty nào đó đã đạt được giao dịch bí mật, để sốt trứng cá có giá cả đắt đỏ được sản xuất tại hai nơi là Sochi và Astrakhan đựng vào những lon có dán mác cá trích rồi vận chuyển ra nước ngoài, được công ty phương Tây mua lại với giá mua cá trích, sau đó lại bán ra với giá sốt trứng cá. Những quan chức tham gia vào giao dịch này của phía Liên Xô chia nhau khoản gọi là "lợi nhuận" trong doanh thu to lớn của công ty phương Tây, rồi gửi vào Ngân hàng Thụy Sĩ. Hoạt động mua rẻ bán đắt này đã kéo dài 10 năm. Sau khi điều tra làm rõ, hoạt động này đã gây tổn thất hàng triệu đôla cho Liên Xô, liên quan đến các quan chức cao cấp như Thứ trưởng Bộ Ngư nghiệp, Phó Cục trưởng Cục Quản lý tiêu thụ sản xuất cũng như Bộ Ngoại thương, Bộ Công nghiệp thực phẩm, Hạm đội Thái Bình Dương, nhân viên quản lý các nhà hàng tại Mátxcơva và những thành phố khác, tất cả là hơn 300 người. Người phụ trách phân phối những đồ hộp này lại là Thị trưởng thành phố Sochi - ông Volokov, còn người trực tiếp quản lý thành phố này lại là Bí thư thứ nhất Khu ủy biên cương Krasnodar - ông Maidunov, Ủy viên Trưng ương Đảng Cộng sản Liên Xô, thân tín của Brezhnev. Ông không chỉ có mối liên hệ trực tiếp đến vụ án này, mà còn bằng mọi cách bênh vực cho Volokov. Sau khi báo Văn học đăng thông tin Volokov bị bắt, Maidunov hết sức căng thẳng, nhiều lần chạy đến Mátxcơva cầu cứu Brezhnev. Vì tình tiết quan trọng, Chủ tịch KGB Andropov đã đích thân báo cáo lại toàn bộ diễn biến của sự việc với Brezhnev. Sau khi Brezhnev nhìn thấy chứng cứ đã hết sức rõ ràng, chắc chắn, bèn hỏi: "Theo đồng chí thì xử lý thế nào?". Andropov trả lời: "Giao việc xét xử Maidunov cho Tòa án". Brezhnev nói: "Vậy không được, hiện nay ở Krasnodar, chúng ta không có người đáng tin cậy, hay là cứ điều ông ấy đến địa phương khác trước đã". Về sau, mặc dù bị bãi miễn hết tất cả các chức vụ, nhưng Maidunov lại được điều đến Mátxcơva, đảm nhiệm chức Thứ trưởng Bộ Lương thực, thực phẩm, đồng thời dọn đến ở một căn hộ sang trọng tại Mátxcơva. Câu chuyện này vì thế mà được đánh một dấu hỏi to tướng!
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #134 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2022, 07:31:01 am »

Thứ ba, tuyệt đại đa số thành viên của tầng lớp đặc quyền có các loại kiến thức chuyên môn. Họ "đa số có trình độ văn hóa tương đối cao, được giáo dục đẳng cấp cao, có chức danh kỹ thuật chuyên môn cao, thường xuyên đi thăm các nước phương Tây"1 (Trần Chi Hoa (chủ biên): Liên Xô thời Brezhnev, Nxb. Khoa học xã hội Trung Quốc, 1998, tr.15). Đặc trưng này tất nhiên không chứng tỏ những người đặc quyền đều hết sức ham học, trình độ văn hóa đều rất cao. Ngược lại, cũng có nhiều người giành được "học vị" trong những hoàn cảnh không bình thường. Bằng cấp, học vị cao là điều kiện quan trọng để họ bước lên vị trí quyền lực, cũng là một minh chứng quan trọng để họ ổn định địa vị của bản thân, thể hiện năng lực cầm quyền của mình.


Xét từ ý thức tư tưởng chính trị, tầng lớp đặc quyền có những đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất, chỉ nghĩ đến lợi ích riêng của cá nhân và nhóm, dần dần xa rời, quay lưng, thậm chí cuối cùng phản bội lại lợi ích cơ bản của đông đảo quần chúng nhân dân. Mới đầu, họ chủ trương duy trì hiện trạng, không nghĩ đến cải cách, còn cản trở cải cách. Họ quản lý và bảo vệ quyền lợi của bản thân mình một cách cảnh giác, không cho phép người khác được động đến. Muốn lợi ích của bản thân mình không bị tổn hại, cách tốt nhất chính là duy trì trật tự và tình trạng hiện có không thay đổi. Như vậy, tầng lớp đặc quyền rất tự nhiên đã trở thành đại diện của thế lực bảo thủ, suy nghĩ của họ là: "Các anh đừng động chạm đến chúng tôi, chúng tôi cũng không động chạm đến các anh", mục đích của họ là làm cho tất cả đều giống như ngày trước1 (T. A. Notikina (chủ biên): Sa lầy - Phân tích sự trì trệ, bản tiếng Nga, Mátxcơva, 1991, tr.654). Đặc trưng này trong thời kỳ Brezhnev là điển hình nhất, về sau, cùng, với sự "lớn mạnh" từng bước của tầng lớp này, họ đã không hài lòng với số tài sản ít ỏi mà mình cướp đoạt được, bèn xé toạc mặt nạ "trật tự xã hội chủ nghĩa hiện hữu", giương ngọn cờ "cải tổ", bằng mọi hình thức và thủ đoạn, tiến hành tư hữu hóa trọn gói, nuốt chửng tài sản nhà nước thành của riêng, triệt để đi lên con đường tư bản chủ nghĩa. Đặc trưng này nổi bật trong thời kỳ Gorbachev.


Thứ hai, sùng bái quyền lực, lạm dụng quyền lực, độc đoán chuyên quyền, coi thường dân chủ. Xét từ góc độ của họ mà nói, tất cả đặc quyền của họ đều do quyền lực đem lại, chỉ cần có địa vị quyền lực, họ có thể đạt được những thứ mà họ muốn đạt được. Đặc biệt cần chỉ ra rằng, họ có quyền sử dụng quyền lực mà họ không đáng có, từ đó dẫn đến sự biến dạng của quyền lực, biến chuyển chức quyền bình thường đang nắm giữ thành đặc quyền quan liêu, làm cho quyền lực trở thành công cụ để giành lấy các loại đặc quyền. Mọi người đều biết, chính Gorbachev đã sử dụng nhiều quyền lực không đáng thuộc về ông ta, bao gồm quyền độc đoán chuyên quyền bổ nhiệm cán bộ, quyền đưa ra nhiều biện pháp không sát thực tế mà không thông qua điều tra nghiên cứu và không thông qua sự đồng ý của tập thể lãnh đạo, v.v... Sau khi lên nắm quyền, lúc đầu, Gorbachev đã lấy danh nghĩa cải tổ dẹp bỏ một loạt cán bộ, bổ nhiệm một loạt những người ủng hộ mình. Chỉ trong thời gian ngắn từ khi lên nắm quyền vào tháng 3 năm 1985 đến khi Đại hội XXVII Đảng Cộng sản Liên Xô được tổ chức vào tháng 2 năm 1986, Gorbachev liên tiếp tiến hành những thay đổi nhân sự quan trọng, trong 12 Ủy viên Bộ Chính trị của Đại hội XXVII Đảng Cộng sản Liên Xô, chỉ có 4 người là Ủy viên Bộ Chính trị của Đại hội XXVI, trong đó còn bao gồm chính ông và Gromyko - người tiến cử ông vào vị trí lãnh đạo cao nhất. Trong thời gian đó, cán bộ lãnh đạo cấp cao ở các địa phương, các ban, ngành cũng được tiến hành thay đổi với quy mô lớn. Gorbachev thay đổi cán bộ với tốc độ nhanh, phạm vi rộng là điều mà những người lãnh đạo trước ông là Khrushchev và Brezhnev đều mong muốn nhưng chưa đạt được. Tiêu chuẩn bổ nhiệm cán bộ của ông không hề xét đến thành tích trước đây của họ như thế nào, mà chỉ xem xét thái độ của họ đối với ông ta, mục đích là mở rộng thế lực chính trị của bản thân, tăng cường quyền lực của ông ta. Ông ta coi việc bổ nhiệm cán bộ cao cấp là đặc quyền của mình, vứt bỏ quy trình dân chủ trong bổ nhiệm cán bộ sang một bên. Vì thế tư tưởng "quan bản vị'' trong tầng lớp đặc quyền rất phổ biến. Mọi người vì mong muốn thăng chức mà làm mọi thủ đoạn, thậm chí hiện tượng mua quan bán chức cũng trở nên quen mắt.


Thứ ba, không coi trọng việc tu dưỡng tư tưởng, lý luận, ngày càng phai nhạt, thậm chí cuối cùng còn quay lưng lại niềm tin chủ nghĩa Mác và lý tưởng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. "Những người này đã không còn là những nhà cách mạng của giai cấp vô sản năm nào, chủ nghĩa Mác đối với họ chỉ còn là những lời nói đầu môi, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội đã nhạt nhòa trong đầu óc của họ". Bề ngoài họ xuất hiện với diện mạo của người cách mạng và người lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội, đóng vai những người bảo vệ lợi ích nhân dân và lợi ích quốc gia, nhưng trên thực tế họ đã không còn niềm tin vào chủ nghĩa Mác, vào lý tưởng xã hội chủ nghĩa, chi chú ý đến việc bảo vệ đặc quyền của bản thân. Căn cứ vào thông tin liên quan cho thấy, thập niên 1970, trong các hoạt động của các nhà lãnh đạo cấp cao Đảng Cộng sản Liên Xô về cơ bản không có bất cứ thông tin ghi chép lại nào về việc học tập các kiệt tác của chủ nghĩa Mác. Những lãnh đạo cấp cao đã thế tình trạng học tập lý luận của đội ngũ cán bộ khác đủ biết là thế nào.


Xét từ tác phong công việc và sinh hoạt, có thể thấy, tầng lớp đặc quyền có những đặc trung cơ bản sau:

Thứ nhất, trong công việc cái gì cho qua được thì cho qua, đãi bôi xong chuyện, che đậy mâu thuẫn, giả tạo thái bình. Đến cuối thập niên 70, đầu thập niên 80 thế kỷ XX, trên các mặt của xã hội Liên Xô đã xuất hiện một loạt các vấn đề rõ rệt dễ thấy, nhưng tầng lớp đặc quyền lại coi như không nhìn thấy. Nghị quyết Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô ngày 3 tháng 1 năm 1980 đã vẽ ra một cảnh tượng thiên hạ thái bình, không đề cập bất cứ vấn đề nào mà đất nước đang gặp phải. Trung ương đã như vậy, các cấp địa phương và các ban, ngành cũng như vậy mà làm, có thể nói là trên làm sao, dưới làm vậy.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #135 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2022, 07:32:17 am »

Thứ hai, trong cuộc sống thì tham lam vô độ, chạy theo lạc thú, thậm chí hối lộ và nhận hối lộ, sa đọa, biến chất. Họ lợi dụng quyền lực của bản thân, nỗ lực sắp xếp một môi trường sống xa xỉ cho cá nhân. Họ có thể giành được "tiền trợ cấp đặc biệt" dưới nhiều hình thức như vật chất, tiền bạc hoặc giấy tờ thay thế vật chất; mức "trợ cấp" này thường vượt quá thu nhập tiền lương bình thường của họ. Họ có "tiền nhuận bút" đặc biệt, trong đó bao gồm một vài nhuận bút mức cao nhờ phát biểu, nói chuyện. Họ còn lợi dụng các cơ hội xuất ngoại, lấy khoản trợ cấp lớn mà Nhà nước phát cho để mua những sản phẩm cao cấp không mua được ở trong nước, đồng thời đem chúng đến chợ đen ở Mátxcơva bán lại với giá cao. Trong các đoàn đại biểu đi công tác ra nước ngoài, từ Đại sứ đến văn thư cấp thấp nhất đều thường xuyên vận chuyển hàng hóa trị giá vài nghìn bảng Anh về nước1 (Tham khảo A. Shevchenko: Đoạn tuyệt với Mátxcơva, Nxb. Tri thức thế giới, 1986, tr.276). Họ chưa từng quý trọng tài sản quốc gia, thông qua giao dịch quyền - tiền để vơ đầy túi tham, hoàn toàn yên tâm mà hoang phí tài sản xã hội do nhân dân làm ra. Những thu nhập bí mật này đã kéo rộng khoảng cách thu nhập giữa tầng lớp đặc quyền với quần chúng lao động, cũng làm rộng ra vết nứt giữa họ với quần chúng lao động Liên Xô. Căn cứ vào số liệu đã có, trong thời kỳ Brezhnev, khoảng cách thu nhập giữa cán bộ Đảng và Nhà nước với quần chúng nhân dân của Liên Xô lên tới 30 - 44 lần2 (Hề Quảng Khánh: "Cùng bàn về một nguyên nhân Liên Xô tan rã", Vấn đề chủ nghĩa xã hội thế giới đương đại, số 2-2001, tr.30). Shevchenko - nhà ngoại giao cấp cao của Liên Xô chạy trốn đến phương Tây - đã mô tả cuộc sống của tầng lớp đặc quyền như sau: "Họ (chỉ tầng lớp đặc quyền) muốn chiếm đoạt những thứ này, nhưng lại mưu đồ mô tả bản thân mình như đang đấu tranh với những thứ này. Họ phê phán cách sống của tầng lớp tư sản, nhưng bản thân lại một lòng một dạ chạy theo cách sống đó; họ chỉ trích chủ nghĩa tiêu thụ là sự phản ánh của tư tưởng dung tục, là kết quả độc hại của ảnh hưởng phương Tây, nhưng những người hưởng thụ đặc quyền lại hết sức coi trọng việc hưởng thụ các đồ tiêu dùng và vật chất của phương Tây"1 (Hề Quảng Khánh: "Cũng bàn về một nguyên nhân Liên Xô tan rã", Tlđđ, tr.19), về mặt này, Gorbachev cũng thể hiện rất nổi bật. Theo hồi ức của Boldin, Gorbachev thường xuyên nhận được những huy chương bằng vàng, bạc và bạch kim có trọng lượng kha khá, tiền xu sưu tập được chế tác bằng kim loại quý; trong tài khoản ngân hàng cá nhân có mấy triệu đôla Mỹ; dựa theo sở thích của cá nhân, xây dựng dinh thự Tổng Bí thư mới ở nhiều thắng cảnh, các địa điểm nghỉ dưỡng; trên đồi Lênin ở Mátxcơva chuyên xây dựng nhà ở sang trọng, chi phí xây dựng lên tới hàng trăm triệu rúp. Trong khi trước đó, các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô chưa bao giờ xây nhà ở mới cho bản thân mình. Thậm chí ngay trước đêm Liên Xô giải thể, Gorbachev vẫn còn khẩn trương lên kế hoạch cải tạo một căn hộ khép kín bao gồm phòng bếp, nhà ăn, phòng khách, phòng nghỉ, hai phòng ngủ, văn phòng và các phòng khác, về sau vì xảy ra sự kiện "19 tháng 8" nên kế hoạch xây dựng đổ sộ này đành phải dừng lại2 (Mã Duy Tiên: "'Năm Andropov' với 'Thời đại Gorbachev': Cải tổ và chống tham nhũng", in trong Lý Thận Minh (chủ biên): Năm 2006: Báo cáo theo dõi nghiên cứu chủ nghĩa xã hội thế giới, Nxb. Văn hiến Khoa học xã hội, 2007, tr.292). Boldin còn nói Gorbachev xây dựng nhà ở và biệt thự xa hoa cho mình và người nhà, sắm sửa đồ nội thất tinh xảo, thiết bị và đồ dùng cao cấp nhất, dùng nguyên liệu ngoại nhập để trang trí, thể hiện sở thích đặc biệt, liên tục sửa sang lại nhà ở cho bản thân, tới tận khi thôi chức3 (V. Boldin: 10 năm chấn động thế giới: Liên Xô tan rã và Gorbachev, Sđd, tr.198).


Thứ ba, về tác phong, là phái hai mặt điển hình. Yeltsin và Gorbachev đều là đại diện điển hình chơi trò "hai mặt". Để giành quyền lãnh đạo cao nhất nước Cộng hòa Liên bang Nga, khi Yeltsin làm Tổng thống Nga, ông đã giả vờ giương cao ngọn cờ "chống đặc quyền" để lừa bịp quần chúng. Ông ta còn cố làm ra vẻ, không ngồi xe riêng mà ngồi xe buýt đi làm. Tuy nhiên, kiểu giả vờ không hề thông minh này hoàn toàn không thể che đậy được hàng loạt đặc quyền mà ông ta hưởng thụ. Ngay khi bắt đầu "cải tổ", Gorbachev đã đưa ra khẩu hiệu "dân chủ hóa" và "công khai". Ông ta ngoài mặt kêu gọi phát huy dân chủ quan trọng thế nào, nhiều lần nhấn mạnh dân chủ hóa là "đặc trưng của thời đại", nói những thứ như "không có dân chủ thực sự thì về căn bản là không thể nào có chủ nghĩa xã hội", còn trong hành động thì cơ bản không màng gì đến dân chủ, không nghe nổi những ý kiến bất đồng, thường xuyên coi mình là chuẩn, độc đoán chuyên quyền, thiếu tác phong dân chủ tối thiểu. Boldin, người từng là trợ lý thân cận của ông ta nói: Gorbachev phát biểu ý kiến của mình ở mọi nơi, chế độ phát ngôn hài hòa trong Bộ Chính trị đã bị phá vỡ, rất nhiều đề xướng và cam kết của ông ta các Ủy viên Bộ Chính trị chỉ được biết qua báo chí, có lúc ép buộc các ủy viên bày tỏ thái độ, thậm chí yêu cầu họ tuyên thệ trung thành với Tổng Bí thư. Boldin còn cho biết, thái độ của Gorbachev với người khác rất thô lỗ, thiếu lịch sự, thường xuyên làm cho những người giao tiếp hay nói chuyện với ông ta cảm thấy khó chịu và cảm thấy bị tổn thương. Đến sau thời kỳ "cải tổ", nguyên tắc lãnh đạo tập càng thể bị phá hoại hơn, Bộ Chính trị không họp mấy tháng liền, việc gì cũng do một mình ông ta quyết định1 ([Liên Xô] V. Boldin: Lịch sử thăng trầm của Gorbachev, Sđd, tr.137, 206, 207, 229). Ryzhkov nói, ông ta "luôn thích nói một là một, hai là hai"2 (Ryzhkov: 10 năm đại loạn, Sđd, tr.305)... Medvedev cũng nói Gorbachev "vô cùng độc đoán", "các hội nghị ông chủ trì đều thiếu tác phong dân chủ", "mỗi khi nghe thấy ý kiến phản đối hoặc lời lẽ phê bình, ông ta thường thiếu kiềm chế"1 (Medvedev: Năm cuối cùng của Liên Xô, Sđd, tr.285). Đối với các vấn đề gọi là "công khai" cũng vậy. Đầu lưỡi ông ta nói nào là "công khai rộng rãi", "công khai triệt để" và "công khai ở mức độ cao nhất", nhưng hành động lại hoàn toàn ngược lại. Ryzhkov, giữ chức Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng lúc đó, đã kể lại một sự việc: Lúc đó để công khai các sự việc chính trị, ông đã từng làm chương trình truyền hình "Tin tức Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô'', đưa các vấn đề thảo luận tại Hội đồng Bộ trưởng và các phát biểu của những người tham dự Hội nghị, mà Trung ương Đảng và Bộ Chính trị từ trước đến nay chưa từng đưa tin, cho quần chúng nhân dân biết. Ông nói: "Lúc đó tôi có ấn tượng như thế này, Gorbachev mặc dù đề xướng công khai nhưng bản thân lại sợ nhất công khai, sợ lộ bộ mặt thật, sợ không ngụy trang được. Kỳ lạ là sau khi chương trình được lên truyền hình lần đầu, ông ta đã nói với tôi một cách rất bất mãn rằng: "Ông cởi hết quần áo ra trước ống kính truyền hình như thế này sao?!""2 (Ryzhkov: 10 năm đại loạn, Sđd, tr.296-297).
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #136 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2022, 07:34:20 am »

II. SỰ XÂM THỰC CỦA TẦNG LỚP ĐẶC QUYỀN ĐỐI VỚI ĐẢNG

1. Đã gây tổn hại nghiêm trọng đến thanh danh của Đảng Cộng sản Liên Xô

Sự xuất hiện của tầng lớp đặc quyền đã phá hoại nghiêm trọng thanh danh của Đảng Cộng sản Liên Xô.

Trước hết, Liên Xô là nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trong lịch sử thế giới do Đảng Cộng sản lãnh đạo, trong Đảng Cộng sản Liên Xô - lực lượng lãnh đạo của nhà nước xã hội chủ nghĩa này - đã xuất hiện một tầng lớp đặc quyền, gây tổn hại nghiêm trọng cho thanh danh Đảng Cộng sản Liên Xô và nhà nước xã hội chủ nghĩa Liên Xô. Nhìn từ góc độ tư tưởng, Đảng Cộng sản là chính đảng vô sản dưới sự chỉ đạo của tư tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, lý tưởng của nó là xóa bỏ giàu nghèo không đồng đều nghiêm trọng và chủ nghĩa cá nhân cực đoan trong xã hội tư bản chủ nghĩa, xây dựng một nhà nước xã hội chủ nghĩa công bằng, chính nghĩa, cuối cùng thực hiện chủ nghĩa cộng sản. Khi người ta nhìn thấy những cửa hàng bán những đồ xa xỉ, những chiếc xe hơi cao cấp vút lượn trên đường, những biệt thự sang trọng được bảo vệ nghiêm ngặt đến mức chỉ có thể đứng nhìn từ xa, liệu có ai không hoài nghi về sự bình đẳng của chủ nghĩa xã hội! Đối với quần chúng nhân dân, cho dù báo chí, tạp chí chính thống liên tục tuyên truyền về lý tưởng tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, tung hô hình tượng huy hoàng của những người cộng sản Liên Xô, nhưng vì những điều tai nghe mắt thấy về tầng lớp đặc quyền từ trong những người cộng sản, có ai còn tin vào những tuyên truyền này nữa!


Thứ hai, sự tồn tại của tầng lớp đặc quyền đã cung cấp những tư liệu tốt nhất cho những kẻ chống cộng, chống Liên Xô của phương Tây đê bôi nhọ Đảng Cộng sản Liên Xô, bôi nhọ chủ nghĩa xã hội Liên Xô. Vào thập niên 70, 80 của thế kỷ XX, các bài viết miêu tả về tầng lớp đặc quyền trên báo và tạp chí của các nước phương Tây liên tục xuất hiện, những tác phẩm nghiên cứu về tầng lớp đặc quyền của Đảng Cộng sản Liên Xô cũng đủ loại. Xuất phát từ nhu cầu đấu tranh ý thức hệ, một vài người trong chính giới, học giả không tiếc sức lực bẻ cong sự thật, phóng đại đặc quyền, ra sức tuyên truyền về tầng lớp đặc quyền trong xã hội Liên Xô, nhằm đạt được mục đích bôi xấu hình ảnh Đảng và Nhà nước Liên Xô. Chính do sự tồn tại khách quan của tầng lớp đặc quyền của Đảng Cộng sản Liên Xô đã làm cho uy tín của Đảng Cộng sản Liên Xô và chủ nghĩa xã hội Liên Xô trong lòng dân chúng phương Tây bị tổn hại nặng nề. Đồng thời những bài viết, những quyển sách này lưu truyền trong xã hội Liên Xô thông qua các kênh, đã làm gia tăng thái độ phản cảm của dân chúng đối với tầng lớp đặc quyền đương quyền và sự thiếu tin cậy của họ đối với Đảng Cộng sản Liên Xô, cũng khiến cho đảng viên mất đi niềm tin đối với chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.


2. Đã tạo ra hố ngăn cách lớn giữa Đảng với quần chúng nhân dân

Các hành vi của tầng lớp đặc quyền xa rời quần chúng một cách nghiêm trọng, dân chúng bình thường nhìn họ với con mắt khác, coi họ là loại người khác biệt. Nhóm người trong tầng lớp đặc quyền thường được gọi là "chúng", từ đó đã làm quan hệ giữa Đảng với quần chúng càng ngày càng xa, hình thành hố ngăn cách lớn giữa Đảng với quần chúng. Lâu dần, trong con mắt của quần chúng nhân dân, tầng lớp đặc quyền bị đánh đồng với Đảng và Chính phủ Liên Xô, Đảng và Chính phủ Liên Xô không còn là đại biểu của nhân dân lao động, mà đã trở thành đại biểu của tầng lớp đặc quyền được hưởng lợi ích ở trên cao, hố ngăn cách giữa quần chúng nhân dân với Đảng và Chính phủ càng ngày càng sâu. Trong hoàn cảnh nhất định, nhiều quần chúng thậm chí trở thành người chống lại Đảng và Nhà nước. Tháng 11 năm 1991, Yeltsin tuyên bố cấm Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản Nga hoạt động và giải tán các tổ chức trong phạm vi Liên bang Nga, phản ứng của quần chúng đối với việc này cũng bình thường. Điều này không những có liên quan tới một loạt các nhân tố hiện thực, mà còn liên quan tới tầng lớp đặc quyền trong nội bộ Đảng Cộng sản Liên Xô do lịch sử hình thành, đây là một biểu hiện tâm lý bất mãn đối với Đảng Cộng sản Liên Xô tích tụ lâu ngày trong quần chúng.


3. Đã làm tổn hại tác phong Đảng và không khí xã hội

Sự hình thành của tầng lớp đặc quyền làm cho tác phong của Đảng Cộng sản Liên Xô và không khí xã hội Liên Xô bị tổn hại nghiêm trọng. Từ lâu, việc xây dựng tác phong Đảng Cộng sản Liên Xô đã được làm không nghiêm, đặc biệt là ở thời kỳ Brezhnev. Sự sao nhãng trong việc xây dựng tác phong Đảng làm cho yêu cầu đối với chính bản thân mình của đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô bị hạ thấp, điều này đồng thời cũng trở thành một nhân tố thúc đẩy sự hình thành tầng lớp đặc quyền trong Đảng. Sau khi tầng lớp đặc quyền hình thành, những hành vi như xa rời quần chứng, lấy của công làm của riêng, tham ô hủ bại của họ rất nhanh chóng đã hình thành, ảnh hưởng chí mạng đến tác phong trong Đảng, mặc dù Đảng Cộng sản Liên Xô có số lượng đảng viên rất lớn, nhưng trong số đó những người thực sự tin tưởng vào chủ nghĩa cộng sản, nguyện làm công bộc của nhân dân lại càng ngày càng ít. Thời kỳ Brezhnev công tác phát triển đảng được tiến hành một cách ồ ạt, nhưng rất nhiều người muốn vào Đảng với động cơ không trong sáng. Như vậy, dưới ảnh hương của tầng lớp đặc quyền, Đảng Cộng sản Liên Xô thời kỳ này đã dần dần trở thành một chính đảng xa rời quần chúng.


Tác phong bất chính của tầng lớp đặc quyền trong Đảng không chỉ gây ô nhiễm toàn Đảng, mà còn gây ô nhiễm toàn xã hội, làm cho tham ô hủ bại, đút lót, nhận hối lộ trở thành trào lưu thịnh hành trong xã hội, một số quần chúng thất vọng cũng đành trôi theo dòng nước, tạo nên tình trạng trên làm sao, dưới làm vậy, không khí xã hội ngày càng sa sút. Một học giả người Nga không phải không có căn cứ khi đã chỉ ra rằng: "Cuối thập niên 1970, đặc biệt là đầu thập niên 1980, báo cáo chỉ tiêu láo, làm dối làm trá, ăn cắp của công, đút lót, hối lộ trên thực tế đã trở thành hiện tượng phổ biến chung".


Do sự băng hoại của nề nếp xã hội, tỷ lệ phạm tội của Liên Xô liên tục tăng, nhiều người coi việc giành được của cải, tài sản là mục đích duy nhất, mà không để ý đến tính hợp pháp và phi pháp của thủ đoạn. Dựa theo số liệu thống kê, trong 10 năm từ (1973-1983), tổng số vụ phạm tội xuất hiện hằng năm của Liên Xô tăng gần 2 lần, trong đó, phạm tội bạo lực quan trọng của cá nhân tăng 58%, cướp giật tăng 2 lần, còn các vụ án liên quan đến trộm cướp và hối lộ tăng 3 lần. Điều này chứng tỏ rằng, hiện tượng nhận hối lộ liên quan trực tiếp với tầng lớp đặc quyền ngày càng nghiêm trọng, hiện tượng dùng vũ lực để giành lấy tài sản, của cải cũng ngày càng nghiêm trọng. Đây đều là biểu hiện điển hình của sự băng hoại nề nếp xã hội.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #137 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2022, 07:35:27 am »

4. Tầng lớp đặc quyền ngăn cản và lợi dụng cải cách

Thông thường, bản thân đặc quyền chính là một chất ăn mòn, nó khiến cho những kẻ có đặc quyền chỉ say sưa hưởng thụ, hài lòng với hiện trạng mà không suy tính đến tiến bộ và cải cách. Mà khi công cuộc cải cách được triển khai, tầng lớp đặc quyền lại lợi dụng cải cách, bóp méo cải cách, âm mưu lợi dụng cải cách chiếm đoạt tài sản quốc gia. Chính vì tầng lớp đặc quyền chỉ sợ mất đi đặc quyền của bản thân nên họ đã ra sức cản trở cải cách hoặc lợi dụng cải cách, làm cho việc hoàn thiện, cải cách chế độ xã hội chủ nghĩa trở thành triều đại đẩy mạnh tư hữu hóa thỏa mãn những dục vọng cá nhân, từ đó thay đổi và hủy diệt chế độ xã hội chủ nghĩa. Nếu phát triển theo lộ trình "thể chế kinh tế mới" của Kosygin, kết quả lôgích của nó sẽ là phương thức mệnh lệnh hành chính thoát khỏi đời sống kinh tế, điều này tất nhiên là điều mà tầng lớp đặc quyền quan liêu không muốn nhìn thấy. Vì thế, cơ quan quản lý kinh tế của Đảng Cộng sản Liên Xô "ngày càng phản đối tiến hành bất kỳ cải cách cơ cấu nào. Những cơ quan quan liêu này bề ngoài ủng hộ nhưng bên trong lại phản đối cải cách, quản lý có hạn của Brezhnev và Kosygin được thông qua năm 1965, không chịu quán triệt, suốt cả thập niên 1970 cho đến đầu thập niên 1980, họ luôn áp dụng sách lược đối đầu tiêu cực này"1 ([Mỹ] Stephen Cohen: Xem lại kinh nghiệm Liên Xô - Chính trị và lịch sử từ năm 1917 đến nay, Nxb. Đông Phương, 1987, tr.162). Mục đích của những kẻ đặc quyền này chính là giữ nguyên vẹn thể chế mệnh lệnh hành chính, từ đó bảo vệ đặc quyền và lợi ích vốn có của bản thân mình. "Lực lượng quan liêu bảo thủ không chịu từ bỏ phương thức lãnh đạo bằng mệnh lệnh hành chính, họ từng bước, từng bước cản trở thực hiện cải cách kinh tế"2 ([Nga] Zhuravlyov (chủ biên): Bài toán khó của lịch sử - Nghiên cứu, suy ngẫm và quan điểm mới đối với những sự kiện và sự thật quan trọng, bản tiếng Nga, Mátxcơva, 1991, tr.241). Dưới sự cản trở của tầng lớp đặc quyền quan liêu, cải cách "thể chế kinh tế mới" của Kosygin cuối cùng đã kết thúc trong thất bại. Kosygin mặc dù thất vọng, nhưng ông không vì thế mà từ bỏ nỗ lực tiếp tục cải cách. Đến cuối thập niên 1970, ông thực sự không thể chịu đựng được một loạt vấn đề nghiêm trọng tồn tại trong nền kinh tế Liên Xô, nên lại vạch kế hoạch cho cải cách. Năm 1979, ông và trợ lý của mình đã khởi thảo một bản báo cáo về cải cách kinh tế, đã phân tích những vấn đề nghiêm trọng tồn tại trong nền kinh tế Liên Xô, đã chỉ ra tính cần thiết của cải cách mang tính cơ cấu. Nhưng bản báo cáo này một lần nữa lại gây ra sự bất mãn và gặp phải sự cản trở của tầng lớp đặc quyền quan liêu và bản thân Brezhnev. Kết quả là, "người khởi thảo bản báo cáo Kirillin bị xóa bỏ hết chức vụ, còn bản báo cáo cũng bị niêm phong hơn 10 năm"3 ([Nga] R. G. Pikhoya: Lịch sử chính quyền Liên Xô (1945-1991), Nxb. Đông Phương, 2006, tr.409).


Con đường cải cách không bằng phẳng của Kosygin ít nhất đã chứng minh vấn đề trên hai phương diện: thứ nhất, để giữ lợi ích vẫn có của bản thân mình không bị xâm phạm, tầng lớp đặc quyền Đảng Cộng sản Liên Xô thường ra sức cản trở cải cách; thứ hai, không phải tất cả cán bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô đều trở thành tầng lớp đặc quyền, những cán bộ hết lòng hết sức vì lợi ích của Đảng và Nhà nước như Kosygin, Kirillin vẫn còn tồn tại, đáng tiếc là trong đội ngũ cán bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô, họ lại không chiếm ưu thế.


Xét từ góc độ tâm lý học, khi một người hài lòng với hoàn cảnh của mình, tâm lý trơ ì sẽ xuất hiện, lúc này anh ta sẽ dần dần mất đi tinh thần tiến thủ cơ bản, chứ đừng nói đến lý tưởng vĩ đại gì gì đó! Điều mà anh ta muốn chỉ là làm thế nào để củng cố tất cả mọi thứ mình hiện có, đồng thời hưởng được nhiều đặc quyền hơn nữa. Tầng lớp đặc quyền quan liêu thông thường đều ngồi yên hưởng lạc. Họ xa rời nỗi khổ của quần chúng nhân dân, đương nhiên cũng sẽ không ý thức được tính cần thiết của cải cách. Ngoài ra, do tầng lớp đặc quyền là những người được hưởng lợi vốn có trong xã hội, nên họ ra sức bảo vệ lợi ích mà bản thân đã có được, chứ không chịu tiến hành cải cách. Đồng thời, do tầng lớp đặc quyền đều là cán bộ Đảng Cộng sản Liên Xô nắm giữ quyền lực, ý chí của họ thường trở thành ý chí của Đảng và Nhà nước, từ đó dẫn đến việc hình thành phong cách bảo thủ trong thời kỳ Brezhnev. Trong suốt 18 năm Brezhnev cầm quyền, xã hội Liên Xô dần dần rơi vào trì trệ. Căn nguyên lớn nhất tạo ra cục diện trì trệ này chính là thể chế kinh tế chính trị tập trung cao độ. Nhưng tại sao lại không cải cách thể chế này? Bởi vì muốn tiến hành cải cách thể chế này, trước hết phải giảm bớt quyền lực, do đó tác động trực tiếp đến lợi ích của tầng lớp đặc quyền, mà đây lại là điều mà tầng lớp đặc quyền không thể cho phép. Xuất phát từ lợi ích của bản thân, tầng lớp đặc quyền quan liêu chỉ chú ý bảo vệ quyền lực và đặc quyền của bản thân, ngoài ra, họ chẳng hề quan tâm đến bất kỳ sự việc nào. Thế nên, thập niên 1970 mặc dù Đảng và Chính phủ Liên Xô thông qua rất nhiều quyết sách thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, đồng thời xét về nội dung, những quyết sách này phần lớn là hợp thời, nhưng phần lớn lại không được quán triệt thực hiện thực sự, điều này có quan hệ trực tiếp với thái độ qua loa, tắc trách mà tầng lớp đặc quyền quan liêu áp dụng. Thập niên 1970, xã hội Liên Xô tương đối bình lặng, nhưng kiểu bình lặng này "là trì trệ bình lặng, lúc đó vấn đề chưa được giải quyết mà bị gác lại, rủi ro không ngừng tích tụ lại"1 (Roy Medvedev: Cá nhân và thời đại - Chân dung chính trị Brezhnev, Sđd, tr.13). Vào thập niên 60, 70 của thế kỷ XX, khi cuộc Cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ ba lan rộng trên toàn thế giới, địa vị bá quyền của Mỹ bị giảm sút, chính là thời kỳ rất tốt cho cải cách của Liên Xô. Có thể nói, chính vì sự bảo thủ của tầng lớp đặc quyền mà Brezhnev là đại diện đã khiến Liên Xô bỏ lỡ mất cơ hội tốt cho cải cách.


Tình hình về sau đã chứng minh, khi tầng lớp đặc quyền đối mặt với trào lưu cải cách thập niên 1980, họ lại ồ ạt đầu cơ cải cách, về chính trị, kinh tế, xã hội đều biểu hiện thành "phái cấp tiến" cực đoan. Họ lợi dụng cơ hội cải cách, ra sức thổi phồng tư hữu hóa, biến tài sản thuộc sở hữu nhà nước thành tài sản tự, xoay người một cái đã biến thành đại gia. Để giữ chắc khối tài sản kếch sù mà mình cướp đoạt được và giữ địa vị đặc quyền, họ thường trở thành tầng lớp tiên phong đạp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong mắt họ, "cải tổ" đã thành từ đồng nghĩa với việc thay đổi triều đại, nhanh chóng vơ vét của cải cho bản thân.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #138 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2022, 07:32:21 am »

III. TẦNG LỚP ĐẶC QUYỀN VÀ SỰ SỤP ĐỔ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN LIÊN XÔ

1. Sự thay đổi về tư tưởng và lập trường của tầng lớp đặc quyền

Như trên đã phân tích, sau khi tầng lớp đặc quyền hình thành, tư tưởng và lập trường của họ cũng định hình theo. Đặc trưng lớn nhất của họ là duy trì hiện trạng. Để bảo vệ lợi ích đã có của bản thân, tầng lớp đặc quyền chỉ lo sợ quyền lực của họ bị đe dọa, vì thế ngăn trở bất kỳ cuộc cải cách nào có ý đồ thay đổi hiện trạng. Đặc trưng này của tầng lớp đặc quyền được biểu hiện hết sức rõ rệt vào thời kỳ của Brezhnev. Sau khi Brezhnev qua đời, đặc trưng này của họ tiếp tục được kéo dài. Sau khi Andropov lên cầm quyền, ông đã nhanh chóng thể hiện phong cách chính trị với ý chí cải cách đầy kiên quyết, đả kích tham nhũng hủ bại, tăng cường kỷ luật lao động, tiến hành khoán tập thể trong nông nghiệp và thử nghiệm tăng cường quyền tự chủ cho doanh nghiệp trong công nghiệp. Các biện pháp cải cách này của Andropov đã đụng đến lợi ích của một bộ phận trong tầng lớp đặc quyền, vì thế dẫn đến sự phản đối của họ. Andropov lại ốm đau liên miên, cơ thể suy nhược, nên chưa kịp triển khai kế hoạch to lớn này đã qua đời vào tháng 2 năm 1984, thời gian cầm quyền chỉ vẻn vẹn 1 năm 4 tháng. Sự ra đi của Andropov là mất mát to lớn đối với sự nghiệp cải cách của Liên Xô, nhưng đối với tầng lớp đặc quyền lại là một chuyện đáng ăn mừng, bởi vì điều này có nghĩa là đời sống đặc quyền của họ lại có thể tiếp tục. Vị Tổng Bí thư lên nắm quyền sau Andropov lại là Chernenko - một người vừa không có tài cán, vừa tuổi cao nhiều bệnh, mục tiêu chính trị của ông là duy trì hiện trạng, điều này lại vô tình trùng khớp với ý nguyện của tầng lớp đặc quyền. Tuy vậy, Chernenko cũng chỉ nắm giữ chức vụ Tổng Bí thư trong 13 tháng, đến tháng 3 năm 1985 lâm bệnh rồi qua đời, kế nhiệm là Gorbachev trẻ tuổi. Đối với tầng lớp đặc quyền, thời kỳ Gorbachev là một thời kỳ thay đổi quan trọng.


Sau khi Gorbachev lên nắm quyền, đặc biệt là sau khi ông đưa ra con đường "chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo", tư tưởng và lập trường của tầng lớp đặc quyền dần dần thay đổi. Nếu nói trước đây họ sẽ tìm trăm phương nghìn kế để duy trì hiện trạng, phản đối cải cách để bảo vệ lợi ích đã có của mình, thì hiện tại ngày càng có nhiều kẻ đặc quyền bắt đầu nghĩ đến việc đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Bởi vì chỉ có chuyển quyền lực trong tay thành tư bản, họ mới có thể một lần vất vả mà chiếm hữu được nó mãi mãi. Không chỉ chiếm hữu, mà còn có thể gia tăng giá trị, hơn nữa chuyển được tài sản cho con cháu. Cái gọi là "cải tổ" mà Gorbachev tiến hành đã đưa đến khả năng cho tầng lớp đặc quyền, còn nguyện vọng này của tầng lớp đặc quyền ngược lại lại trở thành điều kiện để Gorbachev tiến hành con đường của mình. Nói cách khác, tầng lớp đặc quyền đã trở thành cơ sở vật chất và lực lượng xã hội để Gorbachev thực hiện con đường tư bản chủ nghĩa.


Tất nhiên, diễn biến của tư tưởng và lập trường của tầng lớp đặc quyền có cả một quá trình. Sau khi Gorbachev lên cầm quyền, rất nhanh chóng đã bày tỏ chí hướng tiến hành "cải tổ" thể chế kinh tế hiện hành. Cải tổ kinh tế của ông khi bắt đầu mặc dù không đưa ra khái niệm kinh tế thị trường hiện đại, nhưng dồn sức vào mở rộng quyền lực của doanh, nghiệp, làm giảm bớt quyền lực kinh tế của cơ quan quản lý hành chính các cấp, nhằm loại bỏ sự trói buộc của thể chế mệnh lệnh hành chính đối với sự vận hành của nền kinh tế. Nguyên tắc và biện pháp như vậy tất nhiên sẽ làm suy giảm sức kiếm soát của tầng lớp đặc quyền đối với doanh nghiệp, đồng nghĩa với việc làm địa vị quyền lực của họ bị suy yếu. Nếu tiến hành cải cách thực sự, có nghĩa là thay đổi cơ quan quản lý vốn có và phân phối lại tài nguyên xã hội, điều này có thể làm lợi ích vốn có của tầng lớp đặc quyền bị đe dọa.


Vốn dĩ, Gorbachev dự định thông qua cải tổ trong lĩnh vực kinh tế để nhanh chóng bồi dưỡng lực lượng chính trị mới trung thành với mình, tức là bồi dưỡng một tầng lớp đặc quyền mới thay thế tầng lớp đặc quyền hiện có. Kết quả là, do sự phản kháng của tầng lớp đặc quyền vốn có nền tảng xã hội vững vàng, đặc biệt là bởi vì bản thân Gorbachev cũng là một phần tử của tầng lớp đặc quyền, nên ý đồ này chưa kịp thực hiện thì cải tổ kinh tế đã thất bại.


Thế là, bắt đầu từ năm 1988, tư tưởng và lập trường của những vị lãnh đạo chủ chốt; mà đại diện là Gorbachev, Yeltsin đã dần dần thay đổi. Họ bắt đầu nghiêng về khuynh hướng thay đổi triệt để "hiện trạng". Tuy nhiên, khuynh hướng mà họ nghiêng theo không phải là cải cách theo hướng xã hội chủ nghĩa nữa, mà là nghiêng theo "thay đổi phương hướng", cũng tức là thông qua thay đổi để đi lên con đường tư bản chủ nghĩa. Gorbachev ra sức thúc đẩy cải tổ chính trị, đặc biệt đã đưa ra cái gọi là "con đường xã hội chủ nghĩa dân chủ nhân đạo", đây chính là tiêu chí và biểu hiện của chuyển biến này.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #139 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2022, 07:33:04 am »

Trước tình hình này, tầng lớp đặc quyền trong Đảng bắt đầu suy nghĩ về lối thoát mới. Trước hết, họ biết, đặc quyền của họ đã không thể tồn tại với cái mặt nạ cũ, muốn tiếp tục duy trì những đặc quyền này, bắt buộc phải làm cho đặc quyền của bản thân thay hình đổi dạng. Những kẻ đặc quyền nhận ra, chế độ tư bản chủ nghĩa là chế độ thích hợp nhất để che đậy đặc quyền của họ, họ âm mưu lợi dụng trực tiếp một loạt nguyên tắc về quyền bảo hộ tư hữu của chủ nghĩa tư bản, nhằm làm cho lợi ích và đặc quyền vốn có của bản thân vẫn có thể tiếp tục, dùng sự thay đổi của chế độ xã hội để đổi lấy "tính hợp pháp" của đặc quyền cá nhân. Tiếp theo, trong khuôn khổ lòng tin, quan niệm và chế độ tương ứng của chủ nghĩa xã hội vốn có, số lượng tài sản kếch sù mà tầng lớp đặc quyền cướp đoạt được về nguyên tắc đều là của nhân dân, là tài sản công hữu, chứ không phải là của cá nhân họ; chế độ xã hội vốn có trói buộc hành vi của họ, làm sự cướp đoạt quyền lực và tài sản của họ cũng không thể không có giới hạn. Thập niên 80 là thời kỳ xã hội hỗn loạn và bất đồng quan điểm, họ vừa ra sức làm cho chiếm hữu của họ được tư hữu hóa một cách hợp pháp, đồng thời cũng để hợp pháp hóa hành vi chiếm đoạt tài sản nhà nước của họ. Thực hiện mục tiêu này chỉ có một con đường, đó chính là thúc đẩy thay đổi chế độ chính trị, từ bỏ chủ nghĩa xã hội, đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, tầng lớp đặc quyền không ngần ngại gỡ bỏ mặt nạ Đảng Cộng sản và chủ nghĩa xã hội, chủ trương đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Hơn nữa, cùng với tiến hành cải tổ chính trị, tầng lớp đặc quyền cũng nhận ra rằng, một loạt nguyên tắc và chính sách vốn có của chủ nghĩa xã hội Liên Xô và Đảng Cộng sản Liên Xô đã dần mất đi sức hấp dẫn trong lòng quần chúng nhân dân, đối với cá nhân họ mà nói, cái gọi là tin tưởng vốn luôn ở cửa miệng họ và vòng hào quang người cộng sản mang trên người họ đều đã mất đi giá trị lợi dụng, thế là họ đành vứt những thứ này sang một bên, đi tìm kiếm tư tưởng và chế độ mới có thể duy trì đặc quyền vốn có của họ và giành được những đặc quyền mới. Cuối cùng, diễn biến tư tưởng này của tầng lớp đặc quyền cũng là một quá trình. Cùng với những vấn đề càng ngày càng nghiêm trọng mà cải tổ của Gorbachev mang lại, địa vị của tầng lớp đặc quyền không ngừng thay đổi, những người chủ trương đi con đường tư bản chủ nghĩa trong số họ cũng ngày càng đông. Cùng với sự thay đổi không ngừng của tình hình, đặc biệt là sự hỗn loạn của tình hình kinh tế, các kênh để tầng lớp đặc quyền đang nắm giữ quyền lực của Đảng Cộng sản Liên Xô lợi dụng chức quyền mưu cầu lợi ích cũng càng ngày càng nhiều. Cùng với sự gia tăng không ngừng của tài sản cá nhân, nỗi lo lắng của tầng lớp đặc quyền đối với tài sản và địa vị của bản thân cũng ngày càng tăng. Họ rất sợ những lợi ích mà họ giành được trong tình cảnh hỗn loạn này có thể bị truy cứu theo kỷ luật của Đảng Cộng sản Liên Xô và nguyên tắc công bằng của chủ nghĩa xá hội Liên Xô. Đồng thời, bản tính tham lam của họ cũng khiến họ quyết định hoàn toàn không chịu dừng ở đó, thậm chí còn hy vọng làm cho địa vị quyền lực và tài sản vật chất của bản thân tiếp tục tăng lên. Thế là, tầng lớp đặc quyền tích cực tìm cách giữ vững những tài sản này. Họ đã chuyển hướng sang con đường tư bản chủ nghĩa. "Rất nhiều thành viên của tập đoàn đặc quyền hiển nhiên đã không còn tin vào ý thức hệ chính thống, xuất phát từ lợi ích cá nhân, khi xã hội này đối mặt với thời khắc then chốt nên đi về đâu, thì họ đã hướng về chủ nghĩa tư bản. Quá độ lên chủ nghĩa tư bản làm cho họ không chỉ có thể quản lý tư liệu sản xuất, mà còn có thể có được tư liệu sản xuất, hơn nữa có thể công khai tích lũy tài sản cá nhân kếch sù. Ngoài việc nâng cao đời sống vật chất tuyệt đối và tương đối của họ ra, họ còn có thể trực tiếp chuyển địa vị của bản thân cho con cháu, không cần phải dựa vào mạng lưới quan hệ cá nhân như trong chế độ cũ nữa"1 ([Mỹ] David Kotz: "Liên Xô: Quá độ từ chủ nghĩa xã hội cải tổ sang chủ nghĩa tư bản", Trào lưu tư tưởng đương đại số 2, 1994). Kết quả điều tra xã hội cũng đã chứng minh cho những thay đổi tư tưởng và lập trường chính trị của tầng lớp đặc quyền quan liêu. Một bản điều tra vào tháng 6 năm 1991 cho thấy, trong đội ngũ cán bộ cao cấp Đảng Cộng sản Liên Xô, 76,7% đã nhận thấy nên đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, chỉ có 12,3% ủng hộ cải cách dân chủ dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, số người giữ thái độ khẳng định đối với mô hình chủ nghĩa xã hội trước cải tổ chỉ có 9,6%1 ([Mỹ] Tham khảo David Kotz: "Nguyên nhân tan rã của Liên Xô", Trào lưu tư tưởng đương đại, số 5, 2000). Theo quan sát của học giả người Mỹ David Kotz, "Trừ thị trưởng thành phố Saint Peterburg là Anatoly Sobchak ra, tất cả những người ủng hộ chủ nghĩa tư bản trước đây đều là quan chức cao cấp trong tập đoàn đặc quyền chính trị kinh tế". Còn Yeltsin chính là "lãnh tụ của những người coi chủ nghĩa tư bản là lối thoát tốt nhất của bản thân trong tập đoàn đặc quyền cũ"2 (Trên đây đều tham khảo [Mỹ] David Kotz: "Liên Xô: Quá độ từ chủ nghĩa xã hội cải tổ sang chủ nghĩa tư bản", Trào lưu tư tưởng đương đại, số 2, 1994).


Thời kỳ Brezhnev có một bộ phận phần tử đặc quyền hướng đến chế độ tư bản chủ nghĩa về tư tưởng, nhưng họ rốt cuộc cũng chỉ là số rất ít người trong tầng lớp đặc quyền; đến thời kỳ Gorbachev cầm quyền, trong bối cảnh càng ngày càng hỗn loạn, trong tập thể có thế mạnh nắm giữ quyền lực của tầng lớp đặc quyền, ngày càng nhiều người chủ trương từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa mô hình Liên Xô, đi theo con đường tư bản chủ nghĩa mô hình phương Tây. Nhưng một điều hết sức rõ ràng là, sự thay đổi tư tưởng và lập trường của tầng lớp đặc quyền hoàn toàn không phải là vì tiền đồ của đất nước và lợi ích của nhân dân, mà là để bảo vệ lợi ích vốn có của bản thân họ và tiếp tục giành lấy lợi ích lớn hơn nữa, vì thế kiểu thay đổi này của tầng lớp đặc quyền chỉ có thể gây nguy hại cho sự phát triển lành mạnh của Đảng Cộng sản Liên Xô và Nhà nước Xôviết.


Mấy chục năm trước, sau khi thất bại trong cuộc đấu tranh quyền lực với Xtalin, Trotsky đã từng đưa ra một vần đề nghiêm túc: trong thể chế lúc đó ở Liên Xô đã hình thành một tầng lớp quan liêu; họ không thể thỏa mãn đặc quyền về tiêu dùng, luôn ra sức trở thành người hữu sản tức là giai cấp tư sản; họ còn ra sức giữ đặc quyền của mình cho con cháu. Phân tích của Trotsky hiển nhiên nói quá sự thực, không thích hợp với Liên Xô thời kỳ Xtalin, nhưng nếu chúng ta xem đó là một lời tiên tri, thì thực sự thời kỳ Gorbachev lại không may đã ứng nghiệm với lời tiên tri này. Chính dưới sự dẫn dắt của tầng lớp đặc quyền Đảng Cộng sản Liên Xô, công cuộc cải tổ của Liên Xô đã đổi hướng, không thể không đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM