Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:08:49 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tính trước nguy cơ - Suy ngẫm sau 20 năm Đảng Cộng sản Liên Xô mất Đảng  (Đọc 42066 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #150 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2022, 07:52:59 am »

3. Phân tích về đường lối cán bộ của Đảng Cộng sản Liên Xô

Vấn đề trong đường lối cán bộ của Đảng Cộng sản Liên Xô không phải là vấn đề về mặt lý luận và tư tưởng chỉ đạo, cũng không phải là vấn đề về quy định của pháp luật và điều lệ, mà là vấn đề trong thực tiễn, vấn đề trong công tác. Nói một đằng, làm một nẻo là đặc trưng của những vấn đề này. Chúng có gốc rễ văn hóa xã hội và gốc rễ chế độ sâu xa.


Nước Nga trước Cách mạng Tháng Mười là một nước trải qua thời kỳ dài của sự thống trị chuyên chế dưới chế độ phong kiến, kinh tế tư bản chủ nghĩa không phát triển, lực lượng giai cấp tư sản vô cùng non yếu. Trong tầng lớp dân cư, nông dân chiếm đa số. Ở nông thôn thực thi chế độ công hữu đất đai lâu đời, nông dân đã quen với việc đề cao chủ nghĩa tập thể, quen với việc chịu sự quản lý của một thủ lĩnh, không có ý thức dân chủ. Đại đa số dân cư mù chữ, thiếu hiểu biết đối với thế giới bên ngoài, không quan tâm tới chính trị. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, Lênin đã từng vạch ra một chế độ dân chủ rất tốt, nhưng vì những hạn chế của điều kiện lịch sử nên chưa thể thực hiện được. Trong tác phẩm Nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xôviết, Lênin viết: "Mục đích của chúng ta là cần phải thu hút toàn bộ dân nghèo tham gia vào quản lý một cách thực tế tất cả những bước đi để thực hiện nhiệm vụ này - càng đa dạng hóa càng tốt - nên được lưu lại một cách kỹ càng, tiếp tục nghiền cứu thêm, hệ thống hóa nó, dùng kinh nghiệm nhiều mặt để kiểm chứng, đồng thời biến nó thành quy định pháp luật"1 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.34, tr.184). Thế nhưng không lâu sau, Lênin phát hiện ra do trình độ văn hóa thấp, nhiệm vụ thu hút toàn bộ dân nghèo tham gia vào quản lý một cách thực tế là không thể thực hiện được. "Tuy rằng theo quy định trong cương lĩnh Đảng, Xôviết là cơ quan thực hiện quản lý thông qua người lao động, nhưng trên thực tế là cơ quan mà tầng lớp tiên tiến của giai cấp vô sản thực hiện quản lý cho người lao động chứ không phải thực hiện quản lý thông qua quần chúng lao động"2 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.36, tr.155). Cho đến những năm cuối đời, Lênin chưa bao giờ hài lòng với cách làm việc của các cơ quan nhà nước. Trong tác phẩm Thà ít mà tốt, Lênin nói: "Tình trạng các cơ quan nhà nước của chúng ta, tuy không khiến người ta ghét nhưng vô cùng đáng buồn"3 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.43, tr.378, 385), "Quan liêu không chỉ tồn tại trong các cơ quan Xôviết mà còn tồn tại trong cả các cơ quan của Đảng"4 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.43, tr.378, 385). Người nhắc nhở toàn Đảng cần chú ý: "Những nhược điểm này bắt nguồn từ quá khứ, có những điều thuộc về quá khứ tuy đã bị đánh đổ nhưng vẫn chưa bị tiêu diệt, vẫn chưa đi đến giai đoạn sắp biến thành văn hóa cổ"1 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.43, tr.378). Qua 70 năm xây dựng, cơ cấu xã hội Liên Xô đã có sự thay đổi to lớn, trình độ văn hóa của người dân cũng được nâng cao rất nhiều, nhưng những thứ đó đã ăn sâu vào lòng người, những ảnh hưởng từ văn hóa của xã hội cũ vốn đã trở thành tập quán lại chưa hoàn toàn mất đi, vẫn còn ảnh hưởng đến hành vi của con người.


Chế độ bổ nhiệm trên thực tế đã sinh ra quan hệ dựa dẫm cá nhân giữa cán bộ cấp trên và cấp dưới, khiến cho cán bộ thoát khỏi sự giám sát của quần chúng nhân dân. Vậy là, "công bộc của xã hội" trở thành "chủ nhân của xã hội", "con cái" của nhân dân trở thành "cha mẹ" của nhân dân. Theo quy định của pháp luật, tại Liên Xô, phương thức tạo ra nguồn cán bộ lãnh đạo các cấp có hai dạng, một là bầu cử, hai là bổ nhiệm. Trong Đảng Cộng sản, trong các đoàn thể xã hội và các cơ quan Xô viết thực hiện chế độ bầu cử, trong cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp và tổ chức thực hiện chế độ bổ nhiệm. Nhưng trên thực tế, chế độ bầu cử chỉ là hình thức, thực chất không khác với chế độ bổ nhiệm là mấy. Dưới chế độ này, việc bổ nhiệm hay miễn nhiệm và phân bổ cán bộ phụ thuộc hoàn toàn vào sự yêu ghét của lãnh đạo cấp trên. Dù là "chọn người quen thân" hay "chọn người hiền tài" đều lấy sự yêu ghét của lãnh đạo làm tiêu chuẩn: "thân" là thân với lãnh đạo, "hiền" là lãnh đạo cho rằng hiền. Như thế trong Đảng xuất hiện hai dạng cán bộ: một loại là dạng "vâng vâng dạ dạ", răm rắp nghe theo lãnh đạo, không dám xử lý vấn đề cụ thể dựa trên tình hình cụ thể, càng không dám phát huy tính năng động chủ quan, không có bất cứ sự sáng tạo nào trong công việc. "Không cần lập công, chỉ cần không sai" là tâm lý chung của dạng người này. Như vậy mới có thể giữ gìn vị trí, thậm chí có thể thăng tiến. Quan hệ huyết thống của những cán bộ này dẫn đến sự thoái hóa về năng lực của cán bộ, thế hệ sau thua kém thế hệ trước. Một loại cán bộ khác áp dụng hình thức hai mặt để đối phó với lãnh đạo. Họ trước mặt một kiểu, sau lưng một kiểu, trong khi họp thế này, sau khi họp thế khác, nói một đằng, làm một nẻo. Khi lãnh đạo còn tại vị, họ tỏ ra rất nghe lời, thậm chí còn a dua nịnh bợ lãnh đạo; một khi lãnh đạo qua đời hoặc thôi giữ chức vụ, họ liền trở mặt coi như không quen biết, trở thành những người đi đầu trong việc công kích lãnh đạo cũ. Khrushchev chính là điển hình của loại người này. Năm 1952, trong đêm trước ngày Xtalin qua đời, tại Đại hội đại biểu lần thứ XIX của Đảng Cộng sản Liên Xô, Khrushchev vẫn còn ca ngợi Xtalin là "lãnh tụ và người thầy mà chúng ta kính trọng'", là "thiên tài", coi sự lãnh đạo của Xtalin là "sự lãnh đạo anh minh", gọi các tác phẩm nổi tiếng của Xtalin là "cống hiến vô giá đối với lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin". Thế mà sau khi Xtalin qua đời không lâu, ông ta "quên" ngay những lời mình đã nói, mắng Xtalin là "kẻ độc tài khét tiếng nhất trong lịch sử nước Nga", "Ivan bạo chúa", "thằng ngu", "tên cướp"... Đương nhiên, trong nội bộ Đảng Cộng sản Liên Xô cũng có nhiều cán bộ chân chính, ưu tú, nhưng họ mãi không được trọng dụng, thậm chí còn phải chịu đựng áp lực tinh thần rất lớn. Những hiện tượng này cho thấy các vấn đề nghiêm trọng tồn tại trong đường lối cán bộ của Đảng Cộng sản Liên Xô.


Đường lối cán bộ được quyết định bởi đường lối chính trị, phục vụ cho đường lối chính trị. Nguyên nhân của các vấn đề về đường lối cán bộ nằm ở đường lối chính trị, ở thể chế chính trị. Nguyên nhân chủ yếu của việc Đảng Cộng sản Liên Xô rút lui khỏi vũ đài chính trị là sai lầm về tư tưởng chỉ đạo và đường lối chính trị, còn sai lầm trong đường lối cán bộ chỉ đóng vai trò phụ trợ.


Đảng Cộng sản Liên Xô là chính đảng của giai cấp công nhân đầu tiên nắm quyền trên thế giới, Liên Xô là nước xã hội chủ nghĩa đầu tiền trên thế giới. Chính quyền Xôviết vừa thành lập đã phải đối mặt với môi trường sinh tồn khắc nghiệt. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, môi trường sinh tồn được cải thiện rất nhiều nhưng vẫn nằm trong vòng vây của chủ nghĩa tư bản. Dù là về chính trị và kinh tế hay về quân sự và văn hóa, Liên Xô vẫn không mạnh bằng các nước tư bản chủ nghĩa; đối với Liên Xô luôn tồn tại mối nguy hiểm bởi sự phục hổi của chủ nghĩa tư bản. Vì vậy, "đuổi kịp và vượt qua các nước tư bản chủ nghĩa phát triển nhất", "ngăn chặn sự phục hồi của chủ nghĩa tư bản" luôn là việc lớn hàng đầu mà các đời lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô phải suy nghĩ. Đế đạt được mục đích này, phải thực hiện thể chế chính trị tập trung cao độ trên cơ sở dân chủ để đem nguồn nhân lực, vật lực và tài lực có hạn tập trưng vào những nơi cẩn thiết, để phòng tránh sự chia rẽ trong nội bộ đội ngũ có thể khiến cho địch lợi dụng thời cơ phá hoại việc thực hiện mục tiêu. Biện pháp quan trọng để duy trì thể chế chính trị tập trung cao độ chính là thực thi chế độ bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo các cấp, chỉ có chế độ bổ nhiệm mới có thể bảo đảm cho việc quán triệt chấp hành đường lối chính trị mà Trung ương đã đề ra.


Cuối thời kỳ nắm quyền của Gorbachev, trong nội bộ Đảng xảy ra chia rẽ, trước hết là vì đường lối chính trị của Đảng Cộng sản Liên Xô có sự thay đổi, từ cải tổ kinh tế chuyển sang cải tổ chính trị, rồi chuyển sang cải tổ Đảng. Để quán triệt chủ trương "dân chủ hóa" và "công khai", Gorbachev ngang nhiên đi ngược lại quy định trong Điều lệ Đảng được thông qua tại Đại hội lần thứ XXVII của Đảng Cộng sản Liên Xô do chính ông ta chủ trì, nhân nhượng các hoạt động bè phái, dung túng cho sự phát triển của xu hướng tự do hóa tư sản. Điều lệ Đảng quy định rõ ràng: "Quy định về việc Đảng Cộng sản Liên Xô không thể bị phá hoại là sự nhất trí về mặt tư tưởng và tổ chức, là sự đoàn kết vững chắc như bàn thạch của đội ngũ, là kỷ luật tự giác cao độ của tất cả các đảng viên cộng sản. Bất kỳ biểu hiện nào của hoạt động bè phái và tập đoàn đều không phù hợp với tính đảng mácxít - lêninnít, không phù hợp để tồn tại trong Đảng"1 (Tổng tập tư liệu văn kiện chủ yếu Đại hội đại biểu lần thứ XXVII Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđd, tr.404). Tuy nhiên, khi "Phe Cương lĩnh dân chủ" do Yeltsin đứng đầu, cùng với các phe phái khác tiến hành hoạt động khắp nơi trong nước, đôi đầu với Trung ương, Gorbachev lại để cho chúng tự do phát triển; khi trên những công cụ tuyên truyền của Đảng xuất hiện những bài viết phê phán chủ nghĩa Mác - Lênin, ông ta lại coi như không thấy, thỏa hiệp, nhượng bộ. Cuối cùng, chính ông ta đã phải chấp nhận những quan điểm chống cộng, chống chủ nghĩa xã hội, chống chủ nghĩa Mác - Lênin, và trở thành người đào mồ chôn Đảng Cộng sản Liên Xô.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #151 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2022, 07:53:45 am »

III. VẤN ĐỀ TRONG CÔNG TÁC TỔ CHỨC CƠ SỞ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN LIÊN XÔ

Tổ chức cơ sở của Đảng Cộng sản Liên Xô là nền tảng tổ chức của Đảng Cộng sản Liên Xô, là phân đoạn cuối cùng trong việc thực hiện cương lĩnh và đường lối chính trị cũng như các nghị quyết của Đảng Cộng sản Liên Xô, là người trực tiếp thực hiện việc liên kết Đảng Cộng sản Liên Xô với quần chúng nhân dân, là người tổ chức và người dẫn đầu quần chúng, là tế bào và "sợi dây thần kinh" của Đảng Cộng sản Liên Xô. Hình tượng của Đảng Cộng sản Liên Xô trên rất nhiều phương diện đều được thể hiện thông qua tổ chức cơ sở của nó.


Đảng Cộng sản Liên Xô có han 400.000 tổ chức cơ sở, phân bố tại các khu vực tập trung dân cư trên toàn quốc như nhà máy, hầm mỏ, nông trường quốc doanh, nông trang tập thể, bộ đội, cơ quan, trường học và các đơn vị nghiên cứu. Cho đến tháng 1 năm 1986, Đảng Cộng sản Liên Xô có 19.410.000 đảng viên. Họ tham gia các tổ chức tầng lớp ngành nghề, tiếp nhận công việc mà tổ chức đảng phân cho họ.


1. Địa vị của tổ chức cơ sở Đảng Cộng sản Liên Xô

Địa vị của tổ chức cơ sở được quyết định bởi những nhiệm vụ mà nó đảm nhiệm.

Điều lệ Đảng được Đại hội đại biểu Đảng đã thông qua có những quy định khác nhau về nhiệm vụ của tổ chức cơ sở của Đảng Cộng sản Liên Xô, xu thế chung là trong các điều lệ Đảng được thông qua càng về sau thì nhiệm vụ được quy định càng nhiều, càng phức tạp, chỉ có điều lệ Đảng mà Đại hội đại biểu lần thứ XXVIII thông qua là ngoại lệ. Nhưng có một số nhiệm vụ mà dường như tất cả các điều lệ Đảng đều có là: (1) Phát triển đảng viên mới; (2) Tổ chức cho các đảng viên học tập chủ nghĩa Mác - Lênin và nghị quyết của tổ chức đảng các cấp, giáo dục kỷ luật Đảng và giáo dục đạo đức đảng viên; (3) Thực hiện kỷ luật của Đảng, xử lý các đảng viên vi phạm kỷ luật; (4) Tuyển chọn và tiến cử lên tổ chức đảng cấp cao hơn các cán bộ của Đảng; (5) Giúp đỡ thủ trưởng hành chính làm tốt công tác chính trị tư tưởng, thực hiện việc giám sát đối với công tác của thủ trưởng hành chính; (6) Động viên và tổ chức quần chúng hoàn thành công tác và kế hoạch sản xuâì; phát huy vai trò làm gương, đi đầu trong công tác và sản xuất.


Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ XXVIII diễn ra trong bối cảnh địa vị lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô lung lay sắp đổ, là Đại hội đại biểu cuối cùng của Đảng Cộng sản Liên Xô. Điều lệ Đảng được thông qua tại Đại hội đại biểu lần này có những sửa đổi quan trọng về nhiệm vụ của tổ chức cơ sở, khẳng định địa vị độc lập của tổ chức cơ sở: (1) Quyền tự mình thành lập tổ chức cơ sở. Trong trường hợp không ít hơn 3 đảng viên, hội nghị của họ được tự quyết định thành lập tổ chức cơ sở, chỉ cần đăng ký với Đảng ủy cấp trên, không cần được phê chuẩn; (2) Tự mình quyết định hoạt động của mình. Bao gồm tiếp nhận đảng viên mới và đình chỉ đảng tịch Đảng Cộng sản Liên Xô, xác định cơ cấu, phương châm và phương pháp công tác, thời gian và quy trình hội họp, hành động chính trị, hoạt động tài chính và kinh tế của tổ chức, thiết lập quan hệ với Xôviết; (3) Có quyền triệu hồi những đảng viên cộng sản do họ đăng ký hoặc do họ tiến cử ở bất kỳ tổ chức thuộc bất kỳ cấp nào mà không cần thông qua sự đồng ý của Đảng ủy cấp trên; (4) Không còn quyền giám sát đối với lãnh đạo hành chính trong đơn vị của mình1 (Tham khảo Tổng tập tư liệu văn kiện chủ yếu Đại hội đại biểu lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđd, tr.152-153). Căn cứ theo quy định trong Điều lệ cuối cùng này của Đảng Cộng sản Liên Xô, trên thực tế, tổ chức cơ sở Đảng đã thoát khỏi sự kiểm soát của Đảng Cộng sản Liên Xô, hoàn toàn dựa vào "tinh tự giác" tiếp nhận "sự lãnh đạo" của Đảng Cộng sản Liên Xô. Kiểu quy định thả nổi của Điều lệ Đảng tại Đại hội đại biểu lần thứ XXVIII của Đảng Cộng sản Liên Xô đối với tổ chức cơ sở Đảng làm cho tổ chức cơ sở Đảng trở thành vô nghĩa, Tổ chức cơ sở Đảng là tế bào của Đảng, sự sống còn của Đảng thể hiện ở sức sống của tổ chức cơ sở Đảng. Khi tổ chức cơ sở Đảng vững mạnh thì việc quán triệt nghị quyết của Đảng Cộng sản Liên Xô khá thuận lợi; nếu ngược lại thì nghị quyết của Đảng sẽ gặp trở ngại trong quá trình thực hiện. Trong thời kỳ cuối dưới sự lãnh đạo của Gorbachev, Đảng Cộng sản Liên Xô mất đi sức hiệu triệu và sức hội tụ đối với toàn Đảng và toàn dân, trước hết là vì nghị quyết của Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đã mất đi sự ủng hộ của quần chúng, đồng thời cũng xa rời và yếu kém, không đủ khả năng liên kết với các tổ chức cơ sở Đảng.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #152 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2022, 07:54:25 am »

2. Vấn đề tổ chức cơ sở Đảng Cộng sản Liên Xô

Từ trước tới nay đều tồn tại vấn đề về tổ chức cơ sở Đảng, nhưng kể từ sau khi Xtalin mất, đặc biệt là sau Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ XX, các vấn đề trở nên ngày càng nghiêm trọng, ngày càng nổi bật. Chủ yếu biểu hiện ở một vài phương diện sau:

Thứ nhất, tổ chức rời rạc, kỷ luật lỏng lẻo, khả năng động viên và tổ chức đảng viên giảm dần, vai trò tiên phong mất dần. Một hậu quả tiêu cực của việc Khrushchev chống lại Xtalin chính là phần lớn đảng viên cộng sản Liên Xô và quảng đại quần chúng sinh ra hoài nghi về tính chân lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tính khả thi của chủ nghĩa cộng sản, tính đúng đắn của sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, danh dự của đảng viên cộng sản bị dao động, sự nhiệt tình quên mình dần dần nguội lạnh, vai trò gương mẫu, tiên phong của đảng viên cộng sản dần dần nhạt nhòa. Vai trò thân thiện, vai trò khích lệ và vai trò ràng buộc của tổ chức cơ sở đối với đảng viên cộng sản cũng giảm đi rất nhiều, vai trò "pháo đài chiến đấu" cũng khó thể hiện. Có những đảng viên cộng sản không phải vì muốn thực hiện lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản mà xin gia nhập Đảng, mà là nhận thấy vị trí cầm quyền của Đảng và danh dự của đảng viên cộng sản giúp ích cho tiền đồ của bản thân nên mới xin vào Đảng. Sau khi vào Đảng, nhận thấy đã đạt được mục đích của mình rồi, thì họ lại không nghiêm khắc với bản thân, khiến bản thân bị hạ thấp chỉ như một người dân bình thường. Những người này là những người dễ dàng dao động nhất. Đảng viên cộng sản không phát huy được vai trò xứng đáng. Có những đảng viên cộng sản mang tư tưởng cá nhân chủ nghĩa nghiêm trọng, hoàn toàn quên mất nghĩa vụ của một đảng viên cộng sản. Đặc biệt là sau khi Gorbachev lên nắm quyền, tổ chức cơ sở Đảng hoàn toàn tê liệt, phần lớn đảng viên đề nghị được rút ra khỏi Đảng, có đảng viên tuy không ra khỏi Đảng nhưng cũng không chấp nhận sự lãnh đạo của Đảng nữa, không hoàn thành nhiệm vụ mà tổ chức đảng giao cho, không tham gia hoạt động của tổ chức đảng.


Thứ hai, chủ nghĩa quan liêu trong tác phong và đơn giản hóa trong công tác của người lãnh đạo tổ chức cơ sở Đảng, xa rời quần chúng nghiêm trọng, vai trò đoàn kết và lãnh đạo quần chúng ngày càng yêu kém. Rất nhiều người lãnh đạo tổ chức cơ sở Đảng chỉ biết truyền đạt một cách rập khuôn chỉ thị của lãnh đạo cấp trên, không có khả năng liên hệ thực tế một cách sáng tạo; chỉ biết nói về chính trị một cách sáo rỗng mà không tự nguyện giúp đỡ quần chúng giải quyết những vấn đề mà họ gặp phải trong cuộc sống thực tế. Quần chúng không còn tin tưởng ở họ, sức hội tụ của tổ chức cơ sở Đảng rất kém. Khách quan mà nói, tổ chức cơ sở Đảng không có quyền lãnh đạo nghiệp vụ trong đơn vị của nó, chỉ là trợ thủ giúp đỡ người lãnh đạo hành chính hoàn thành kế hoạch và nhiệm vụ hành chính, một số lãnh đạo hành chính giao cho tổ chức cơ sở Đảng đi "làm công tác tư tưởng" đối với tất cả những vấn đề khó khăn liên quan đến lợi ích quần chúng, khiến cho người lãnh đạo tổ chức cơ sở Đảng thiếu đi sự nhiệt tình đối với công việc của mình.


Báo Sự thật ngày 11 tháng 4 năm 1980 đã đăng tin: một người phụ nữ ở tỉnh Penza phản ánh với tòa soạn, nhà ở của cô ây đã bị lũ cuốn trôi. Các ban, ngành liên quan đã chuyển người phụ nữ này đến ở tạm tại một tầng hầm ở gần đó. Sau đó, phòng ở vẫn không được sửa chữa, mà còn bị dỡ bỏ, và người phụ nữ này bị lãng quên hoàn toàn. Cô ấy khiếu nại khắp nơi trong suốt hai năm, tìm đến tất cả tổ chức đảng từ cơ sở cho đến Tỉnh ủy nhưng vấn đề vẫn không được giải quyết. Có một số lãnh đạo tổ chức cơ sở Đảng đã dọa dẫm, thậm chí là xử phạt, kỷ luật những đảng viên và quần chúng dám nói lời thật, dám đưa ra ý kiến đối với người lãnh đạo. Báo Công nghiệp xã hội chủ nghĩa ngày 5 tháng 9 năm 1986 lại đăng tin: một chủ nhiệm phân xưởng của Công ty Năng lượng công nghiệp hóa học Liên Xô từ chối ký tên trên văn kiện vì phát hiện ra một dự án xây dựng bất hợp pháp. Tổng giám đốc đã đe dọa ông ta: "Ông không trốn được, kiểu gì thì cũng phải ký tên, nếu không, vị trí của ông không giữ được. Chúng tôi sẽ họp Đảng ủy, bày tỏ sự không tín nhiệm ông, vậy là ông đi đứt". Một vị kỹ sư chỉ trích vị tổng giám đốc không khiêm tôn, lạm dụng chức quyền lại bị cho là "bôi nhọ danh dự cá nhân, vu khống người khác"; vạch trần một hiện tượng vi phạm biên chế - kỷ luật tài vụ nghiêm trọng bị kêu là "cản trở công việc"; phê bình lãnh đạo bảo thủ, không thay đổi tác phong làm việc cũ bị nói thành "làm tổn hại đến uy tín của lãnh đạo". Những lời này đều được ghi chép lại, làm chứng cứ để xử phạt vị kỹ sư trên. Sau đó, người kỹ sư đã bị sa thải, tước bỏ chức vụ Đảng ủy viên vì "phát tán tin đồn vô căn cứ, lăng nhục đảng viên cộng sản thuộc Cục Quản lý, cũng như có những hành động làm bại hoại danh dự của Đảng ủy".


Những ví dụ kiểu này vẫn còn rất nhiều. Tổ chức đảng như vậy làm sao có thể giành được sự tín nhiệm của quần chúng?

Thứ ba, chủ nghĩa hình thức về học tập trong nội bộ Đảng, hội nghị Đảng không giải quyết được các vấn đề thực tế, hiệu quả giáo dục và quản lý đảng viên rất thấp. Nửa cuối giai đoạn nắm quyền của Gorbachev, tổ chức cơ sở Đảng đã hoàn toàn tê liệt. Mà trước đó, tổ chức cơ sở Đảng Cộng sản Liên Xô thường tổ chức cho đảng viên học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, học tập nghị quyết của Đảng Cộng sản Liên Xô, nhưng những hoạt động kiểu này chỉ là để chấp hành quy định, thực hiện sự chỉ đạo của lãnh đạo cấp trên, mang tính chất đối phó, căn bản không giải quyết vấn đề thực tế. Tại rất nhiều kỳ đại hội, đảng viên chỉ có thể nói suông, nói tốt, nói những lời trau chuốt, không cho phép nêu lên ý kiến phê bình. Một công nhân điện của Nhà máy dệt may 1-5 ở thành phố Vladimir đã viết thư gửi đến báo Sự thật, phản ánh lãnh đạo nhà máy của họ không quan tâm đến quần chúng, điều kiện sinh hoạt hằng ngày rất kém, khu nội trú rất lạnh, kỷ luật rời rạc, hiện tượng nghiện rượu không chấm dứt. Anh ta đã trình bày tất cả trong Hội nghị đảng viên, nhưng không những không nhận được sự ủng hộ mà còn bị giám đốc nhà máy khiển trách, còn có người đe dọa sẽ xử phạt anh ta. Hội nghị đảng viên kiểu này chỉ làm giảm đi tính tích cực ở đảng viên. Ở thành phố Lipetsk có một vị phó giám đốc nhà máy, tác phong làm việc rất thô bạo, "gào thét, đe dọa, mắng mỏ bằng những lời thô thiển" là cách giao tiếp chủ yếu của ông ta với công nhân. Ông ta còn thường xuyên nghiện rượu. Đảng ủy thông qua quyết định khai trừ Đảng đối với ông ta. Tuy nhiên, người lãnh đạo đương nhiệm muốn giữ ông ta lại, đại đa số Đảng ủy viên chủ trương nghiêm khắc kỷ luật ông ta. Phó Bí thư Đảng ủy chủ trì hội nghị vội vàng tuyên bố ngừng họp, tuyên bố "cuộc họp lần sau tiếp tục thảo luận". Cách làm bao che ngang nhiên đối với những cán bộ có vấn đề  nghiêm trọng kiểu này đã dẫn đến sự bất mãn của đảng viên và quần chúng, làm tổn hại đến uy tín của tổ chức đảng.


Giai đoạn cuối thời kỳ cầm quyền của Gorbachev, nghị quyết của Trung ương Đảng Cộng sản thay đổi xoành xoạch, một nghị quyết vẫn chưa được truyền đạt hoàn tất, thì nghị quyết mới đã được đưa ra, ý kiến của những lãnh đạo ở Trung ương công khai cho thấy sự chia rẽ, khiến cho tổ chức cơ sở Đảng không biết làm thế nào. Có tổ chức cơ sở Đảng cũng phân thành một số bè phái, căn bản không có cách nào để triển khai công việc. Rất nhiều đảng viên lạnh nhạt đối với tổ chức cơ sở Đảng, có những đảng viên dứt khoát ra khỏi tổ chức đảng. Cũng có số ít đảng viên gia nhập vào các tổ chức chống cộng, trở thành lực lượng nòng cốt chống cộng, chống chủ nghĩa xã hội, trở thành một phần tử trong lực lượng làm sụp đổ Đảng Cộng sản Liên Xô.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #153 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2022, 07:55:47 am »

3. Mổ xẻ vấn đề của tổ chức cơ sở Đảng Cộng sản Liên Xô

Vấn đề biểu hiện ở hạ tầng, nhưng gốc rễ của vấn đề nằm ở thượng tầng, chủ yếu là tại Trung ương.

Thời kỳ Lênin, Xtalin lãnh đạo, vai trò pháo đài chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng Cộng sản Liên Xô và vai trò gương mẫu đi đầu của đảng viên cộng sản rất nổi bật. Trong cuộc chiến chống lại can thiệp vũ trang từ bên ngoài và nội chiến, trong hoạt động lao động nghĩa vụ ngày thứ bảy và thi đua lao động xã hội chủ nghĩa, trong Chiến tranh vệ quốc vĩ đại và cuộc chiến khôi phục kinh tế sau đó, biểu hiện của tổ chức cơ sở Đảng và rất nhiều đảng viên đều vô cùng xuất sắc. Trong những năm này, dưới hoàn cảnh như vậy, điều kiện sinh tồn của Đảng vô cùng gian nan, một số người ích kỷ không dám hoặc không muốn xin vào Đảng, tố chất của đảng viên tương đối cao. Lúc đó điều kiện vào Đảng vô cùng khắt khe: Điều lệ Đảng thông qua tại Đại hội đại biểu lần thứ VIII của Đảng (năm 1919) đã thêm một chương về "đảng viên dự bị", quy định về việc khảo sát: "Hễ cứ là người tự nguyện vào Đảng thì đều bắt buộc phải trải qua thời kỳ dự bị"; Điều lệ Đảng thông qua tại Đại hội đại biểu lần thứ XI của Đảng (năm 1922) quy định, thủ tục tiếp nhận đảng viên dự bị trở thành đảng viên chính thức chia làm 3 loại, loại thứ nhất là lính hồng quân xuất thân từ công nhân và nông dân, loại thứ hai là nông dân và thợ thủ công không bóc lột người khác, loại thứ ba là những người khác (như công nhân, viên chức). Loại một và hai vào Đảng nhất thiết phải được 3 cán bộ đảng viên có 3 năm tuổi Đảng trở lên giới thiệu, loại thứ ba vào Đảng nhất thiết phải được 5 cán bộ đảng viên có 5 năm tuổi Đảng trở lên giới thiệu. Người giới thiệu phải có trách nhiệm với người được giới thiệu, nếu như giới thiệu khinh suất, phải chịu kỷ luật của Đảng, thậm chí còn bị khai trừ ra khỏi Đảng. Những loại người gia nhập Đảng khác nhau thì thời gian dự bị của họ cũng khác, loại thứ nhất là nửa năm, loại thứ 3 là hai năm. Cho nên, những phần tử đầu cơ khi đó muốn trà trộn vào Đảng là không hề dễ dàng. Lúc đó Đảng trong sạch, những đảng viên không hợp lệ đều bị đào thải kịp thời, đội ngũ trong Đảng khá trong sạch. Ngoại trừ thực hiện nghiêm ngặt kỷ luật Đảng, trong Đảng còn thực hiện những hoạt động đăng ký mới, thay đổi thẻ Đảng, hoạt động làm trong sạch Đảng với quy mô lớn diễn ra 3 lần, lần lượt vào các năm 1921,1929 và 1933 - 1934. Trong hoạt động làm trong sạch Đảng với quy mô lớn cũng từng xuất hiện hiện tượng mở rộng hóa, điều này cũng đã làm tổn hại nghiêm trọng một số đảng viên cộng sản. Thế nhưng, các hoạt động làm trong sạch Đảng này vẫn có tác động tích cực trong việc duy trì sức chiến đấu của tổ chức đảng cơ sở, duy trì tính tiên tiến của đảng viên. Tuy nhiên, Đại hội đại biểu lần thứ XVIII của Đảng đã quyết định sau này không thực hiện hoạt động này nữa, điều này đã kéo theo vấn đề thuộc một phương diện khác.


Lênin đặc biệt nhấn mạnh việc cần duy trì tính trong sạch của Đảng. Lênin đã nhiều lần nêu lên vấn đề này. Người nói: "Sức mạnh và quyền lực của Ban Chấp hành Trung ương, tính kiên định và tính trong sạch của Đảng là có thực"1 (Lênin văn cảo, Nxb. Nhân dân, 1977, q.1, tr.210). "Trên thế giới chỉ có Đảng cầm quyền như chúng ta đây, tức là chính đảng của giai cấp công nhân cách mạng, mới không theo đuổi việc gia tăng số lượng đảng viên mà chú ý nâng cao chất lượng đảng viên và "làm trong sạch" "những người lẫn vào trong Đảng"2 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.37, tr.215). "Cần phải thanh trừ ra khỏi Đảng những phần tử gian dối, phần tử quan liêu, những phần tử không trung thành và những đảng viên cộng sản không kiên định, cùng với những phần tử tuy "thay đầu đổi mặt" nhưng trong lòng vẫn giữ nguyên tư tưởng Mensêvích"3 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.42, tr.147).


Vai trò của tổ chức cơ sở Đảng bắt đầu giảm sút từ Đại hội Đảng lần thứ XX. Trong Đại hội lần này, Khrushchev có báo cáo bí mật phản đối sự sùng bái cá nhân. Từ đó trở đi thần tượng trong suy nghĩ của đảng viên đã sụp đổ, quyền uy của Đảng bắt đầu bị dao động, tổ chức đảng cấp dưới đối với tổ chức đảng cấp trên, đảng viên đội với người lãnh đạo Đảng đã không còn kiểu nói gì nghe nấy nữa, bắt đầu độc lập suy nghĩ, bắt đầu đưa ra ý kiến không đồng tình. Tình trạng này dẫn tới hai loại kết quả: một loại là tích cực, thể hiện ở chỗ tính chủ động và tính tích cực của đảng viên được phát huy; loại còn lại là tiêu cực, thể hiện ở chỗ đảng viên không còn tín nhiệm đối với lãnh đạo cấp trên, và trào lưu tư tưởng vô chính phủ xuất hiện tràn lan. Còn một số đảng viên mất phương hướng, mù tịt không biết làm thế nào, cho nên lúc đó mới nói "một thế hệ sụp đổ". Đến thời kỳ Gorbachev, lịch sử của Đảng hoàn toàn bị xóa sạch, trên báo chí của Đảng đã xuất hiện những trang công khai phê bình chủ nghĩa Mác - Lên in, hoạt động bè phái trong Đảng nhận được sự bao che, lãnh đạo Đảng bị nghi ngờ, tổ chức cơ sở Đảng bị tê liệt hoàn toàn.


Xóa sạch lịch sử Đảng, làm tổn hại đến uy tín của Đảng; bôi nhọ lịch sử của người tiền nhiệm nhằm tôn thêm và làm nổi bật sự "anh minh đúng đắn" của mình dần dần trở thành thói quen xấu của các đời lãnh đạo, bắt đầu từ Khrushchev. Kể từ sau khi Khrushchev cầm quyền, mỗi đời lãnh đạo Đảng sau khi lên nắm quyền đều phê phán người tiền nhiệm của ông ta, điều này chắc chắn sẽ khiến cho đông đảo đảng viên và quần chúng nhân dân nảy sinh nghi ngờ đối với lịch sử của Đảng, mất lòng tin đối với người lãnh đạo Đảng. Khrushchev phê bình Xtalin, Brezhnev phê bình Khrushchev, Gorbachev lại phê bình toàn bộ lịch sử Đảng, cái gọi là "không để lại chỗ trống" trên thực tế chính là phủ định hoàn toàn công lao, thành tích của Đảng và lịch sử huy hoàng của Đảng. Xtalin đảm nhiệm công tác lãnh đạo chủ yếu của Đảng gần 30 năm, Khrushchev cầm quyền 11 năm, Brezhnev cũng lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô 18 năm, đây là ba vị lãnh đạo có thời gian cầm quyền lâu nhất trong lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô, thời gian mà ba người cầm quyền cộng lại cũng gần 60 năm, chiếm 78% thời gian tồn tại của Liên Xô. Trong thời gian họ đương nhiệm, xã hội Liên bang Xôviết thu được những tiến bộ rất lớn, từ một nước nông - công nghiệp trở thành một quốc gia hiện đại hóa mạnh mẽ, sức mạnh tổng hợp của quốc gia đứng thứ hai thế giới. Trong thời gian họ cầm quyền cũng phạm phải những sai lầm mang tính chất khác nhau ở những mức độ khác nhau. Phân tích những sai lầm này nhằm rút ra bài học kinh nghiệm và làm tốt hơn là điều cần thiết và phải làm. Tuy nhiên, phải có thái độ thận trọng và khách quan. Bởi vì họ là những người gánh vác trách nhiệm chủ yếu của Đảng, Đảng Cộng sản Liên Xô - Đảng cầm quyền duy nhất của cả nước, tất cả thành tựu và vấn đề của quốc gia đều gắn liền với tên tuổi của họ. Vì vậy, khi phê bình sai lầm của họ, nhất định phải đặc biệt phân tích một cách nghiêm túc, khách quan, phân rõ dòng chính và dòng phụ, phân biệt rõ hoàn cảnh lịch sử và trách nhiệm cá nhân, còn cần căn cứ theo tình hình trong nước và quốc tế để áp dụng phương pháp xác đáng nhất. Bởi vì họ là những người chịu trách nhiệm chủ yếu của Đảng, rất nhiều sai lầm của họ được quán triệt trên cả nước thông qua nghị quyết của Đảng, cá nhân họ cũng xuất hiện với tư cách là đại diện của Đảng, cho nên khi phê bình sai lầm của họ, nếu không thể nghiêm khắc phân rõ trách nhiệm thì sẽ biến thành phê bình sự lãnh đạo của Đảng, bêu xấu danh dự của Đảng, làm tổn hại đến uy tín của Đảng, bôi nhọ lịch sử Đảng. Việc vận động "dân chủ hóa", "công khai" của Gorbachev, trên thực tế là sao chép câu chữ của Lênin rồi ngụy trang thành vận động tự do hóa tư sản. Ông ta căn bản phủ định tư tưởng chỉ đạo - chủ nghĩa Mác - Lênin, căn bản phủ định chế độ xã hội chủ nghĩa của Liên bang Xôviết, căn bản phủ định cương lĩnh, đường lối và chính sách đối nội và đối ngoại của Đảng Cộng sản Liên Xô, đồng thời lại tuyên dương thành tựu của chủ nghĩa tư bản một cách vội vàng, tuyên truyền chủ nghĩa xã hội không bằng chủ nghĩa tư bản một cách thiếu căn cứ, kêu gọi học tập chủ nghĩa tư bản mà không chọn lọc. Từ lập trường này, việc phê bình những "sai lầm" trong quá khứ chỉ có thể dẫn đến chỗ phủ định hoàn toàn sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, phủ định hoàn toàn lịch sử của chủ nghĩa xã hội trong thực tiễn Liên Xô, chỉ có thể dẫn đến con đường tư bản chủ nghĩa. Trải qua sự phê bình và tuyên truyền như vậy, rất nhiều người, đặc biệt là thanh niên, không còn tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, không còn tin vào chủ nghĩa xã hội, không còn tin vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản nữa, chuyển sang phương thức hoạt động của chủ nghĩa tư bản và chế độ xã hội của chủ nghĩa tư bản. Với tình hình này, tổ chức cơ sở Đảng căn bản không có cách nào để triển khai công việc.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #154 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2022, 07:58:45 am »

Quyết sách của Trung ương có nhiều thay đổi, hạt nhân lãnh đạo Trung ương không đoàn kết, tổ chức cơ sở Đảng mất phương hướng. Đây lại là một nguyên nhân quan trọng phá tan hoặc làm tổn hại đến tính chiến đẩu của tổ chức cơ sở Đảng. Tình trạng trên chủ yếu xuất hiện ở thời Khrushchev và thời Gorbachev.


Khrushchev phê phán tệ sùng bái cá nhân trong Đảng, khéo léo phân Đảng thành Đảng công nghiệp và Đảng nông nghiệp, điều này đã gây nên sự hỗn loạn rất lớn trong tư tưởng đảng viên, ảnh hưởng đến công việc của tổ chức cơ sở Đảng. Ông ta thực hiện chế độ thay đổi cán bộ Đảng luân phiên theo định kỳ, ảnh hưởng xấu đến tính tích cực của cán bộ tổ chức cơ sở Đảng.


Tháng 10 năm 1962, Đại hội đại biểu lần thứ XXII Đảng Cộng sản Liên Xô do Khrushchev chủ trì được tổ chức. Đại hội quyết định thực hiện chế độ nhiệm kỳ đối với vị trí lãnh đạo trong Đảng, và có những sửa đổi tương ứng đối với Điều lệ Đảng. Điều 25 của Điều lệ Đảng sau khi sửa đổi quy định: "Khi bầu cơ quan lãnh đạo của Đảng, cần tuân thủ nguyên tắc thường xuyên thay đổi thành viên cơ quan, đồng thời cũng duy trì tính kế thừa của lãnh đạo". Mỗi lần tiến hành bầu cử, thành viên của chuyên khu ủy, thành ủy, khu ủy, Đảng ủy hoặc chi ủy của tổ chức cơ sở đảng ít nhất phải thay đổi một nửa. Đồng thời, Điều 56 quy định: "Để thực hiện công việc thường nhật, tổ chức cơ sở Đảng, tổ chức đảng nhà ntáy chọn ra chi ủy, số ủy viên do đại hội toàn thể của Đảng 597 quy định, nhiệm kỳ một năm"1 (Tham khảo Tuyển tập Điều lệ Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđd, tr.209-210, 218-219). Điều này chứng tỏ, thành viên của tổ chức cơ sở Đảng mỗi năm đều cần thay ít nhất một nửa. Một số thành viên tổ chức cơ sở tuổi đời chưa cao, do hết nhiệm kỳ phải từ bỏ chức vụ của mình. Theo thống kê, số lượng thay đổi bí thư tổ chức cơ sở Đảng mỗi năm là 60%. Trong số những bí thư không trúng cử, có 2/3 không phải vì năng lực làm việc không đạt, mà là vì mãn khóa theo quy định. Như vậy, số lượng bí thư có kinh nghiệm trong tổ chức cơ sở đảng giảm rất nhiều. Chế độ thay đổi định kỳ này làm cho các cán bộ của tổ chức cơ sở đảng lo lắng không yên. Hoạt động của tổ chức cơ sở Đảng đại đa số không phải chuyên trách, vốn dĩ không có sức hấp dẫn, rất nhiều đảng viên chỉ dựa vào tinh thần Đảng để thực hiện nghĩa vụ của mình. Sau khi thực hiện chế độ thay đổi luân phiên định kỳ, họ càng nản lòng thoái chí, tư tưởng "làm cho qua chuyện" thường tồn tại trong các thành viên của tổ chức cơ sở Đảng. Trong tình trạng này, họ rất khó để chuyên tâm làm tốt các công việc của tổ chức cơ sở đảng.


Thời Gorbachev, đường lối tư tưởng, đường lối chính trị và đường lối tổ chức của Trung ương Đảng ở trong tình trạng lộn xộn, nghị quyết Đảng liên tục thay đổi, các phe phái mọc lên khắp mọi nơi trong nội bộ Đảng, tổ chức cơ sở đảng và rất nhiều đảng viên không biết phải làm thế nào.


Hội nghị đại biểu lần thứ 19 của Đảng Cộng sản Liên Xô được tổ chức năm 1988 là bước ngoặt dẫn tới sự suy vong của Đảng Cộng sản Liên Xô. Trong tình trạng cải tổ thể chế kinh tế không thu được hiệu quả rõ rệt, Hội nghị này quyết định thực hiện cải tổ thể chế chính trị, đầu tiên là cải tổ từ bản thân Đảng Nội dung cải tổ bao gồm: (1) Trong chỉ đạo tư tưởng cần "từ bỏ sự độc quyền về chính trị và ý thức hệ", tức là từ bỏ địa vị lãnh đạo của Đảng Cộng sản và địa vị chỉ đạo của chủ nghĩa Mác - Lênin; (2) Trong Hiến pháp, loại bỏ quy định về vai trò hạt nhân của Đảng Cộng sản trong thể chế chính trị, biên Đảng Cộng sản từ một đảng lãnh đạo thành "đảng nghị viện"; (3) Trong Đảng, xoá bỏ chế độ tập trung dân chủ, thay đổi chế độ liên bang và chế độ tự trị; (4) Cái gọi là "trả lại quyền lực cho Xôviết"; (5) Tiếp cận nguyên tắc "tam quyền phân lập" của phương Tây, theo chế độ tổng thống, loại bỏ sự lãnh đạo của Bộ Chính trị Trung ương. Kết quả là cải tổ thể chế chính trị đã dẫn đến sự chia rẽ, gây rối loạn nội bộ Đảng và xã hội Liên Xô. Các cuộc chiến dư luận, cuộc chiến pháp lý, đấu tranh giữa các đảng phái, giữa các dân tộc, các cuộc biểu tình liên tục diễn ra và ngày càng sôi sục. Tuyên bố mang tính cương lĩnh thông qua tại Đại hội đại biểu lần thứ XXVIII của Đảng Cộng sản Liên Xô đã miêu tả tình hình trong nước như sau: "Đảng đang trải qua thời kỳ chuyển đổi phức tạp. Từ bỏ vai trò hạt nhân vốn có của thể chế mệnh lệnh hành chính làm cho Đảng mang tính chất của một tổ chức chính trị xã hội, dẫn đến mâu thuẫn gay gắt hơn bao giờ hết, tính tích cực của nhiều tổ chức đảng giảm sút, ý kiến và lập trường phân hóa thành hai cực, ý kiến phê phán Đảng ngày càng nhiều. Trong nước đang nhanh chóng hình thành nhiều loại đoàn thể và phong trào chính trị xã hội"1 (Tổng tập tư liệu văn kiện chủ yếu Đại hội đại biểu lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđd, tr.114-115). Điều được gợi là "tính tích cực của nhiều tổ chức đảng giảm sút" ở đây trước hết chỉ tính tích cực của các tổ chức cơ sở đảng giảm sút.


Nội bộ Đảng Cộng sản Liên Xô, đặc biệt là giữa các lãnh đạo cấp cao, phân thành nhiều bè phái. Các phe phái bảo thủ cho rằng cải tổ đã chôn vùi nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội, họ bắt đầu phấn khích kể từ giai đoạn trước đó, khi cải tổ không mấy hiệu quả; phe tự do tư sản chủ trương Tây hóa cả gói, thế lực phe này không ngừng tăng lên; cái gọi là "phe dân chủ" muôn màu muôn vẻ biến thành hiện tượng gây chú ý trong đời sống xã hội Liên Xô; phong trào dân tộc chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ, trào lưu tư tưởng sôvanh chủ nghĩa và dân tộc chủ nghĩa ngày càng sôi nổi; "phe cách mạng dân chủ" do Gorbachev đứng đầu hoàn toàn xa rời chủ nghĩa xã hội khoa học, cho ra đòi đường lối "chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo". Chia bè kéo cánh ở cấp trên dẫn tới chia bè kéo cánh ở cấp dưới, đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự tê liệt của tổ chức cơ sở Đảng.


Trong công tác tiếp nhận đảng viên mới, coi trọng sự gia tăng số lượng đảng viên mà coi nhẹ sự giảm sút chất lượng đảng viên cũng là một nguyên nhân quan trọng dẫn tới sự yếu kém của các tổ chức cơ sở Đảng. Năm 1937, Liên Xô tuyên bố về căn bản đã xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, giai cấp bóc lột trong nước đã bị tiêu diệt, chỉ còn giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức với các lợi ích thống nhất. Năm 1939, Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang lần thứ XVIII quyết định xóa bỏ quy định phân loại tiếp nhận đảng viên mới, đồng thời, tuyên bố sẽ không tiến hành hoạt động làm trong sạch Đảng quy mô lớn, nới lỏng yêu cầu đối với người giới thiệu người vào Đảng. Số lượng đảng viên tăng lên nhanh chóng. Thời điểm Đại hội đại biểu lần thứ XVIII của Đảng năm 1939 có 2.877.666 đảng viên; tới Đại hội đại biểu lần thứ XIX của Đảng năm 1952 có 6.882.154 đảng viên; đầu năm 1986 khi Liên Xô cải tổ, Đảng Cộng sản Liên Xô đã có tới 19,41 triệu đảng viên, gấp 6,75 lần số đảng viên thời điểm Đại hội lần thứ XVIII, gấp 2,82 lần số đảng viên thời điểm Đại hội lần thứ XIX. Cùng lúc đó, số người ra khỏi Đảng giảm mạnh. Một số đảng viền không đủ tư cách vẫn còn trong Đảng, trực tiếp ảnh hưởng tới việc phát huy vai trò của tổ chức cơ sở Đảng.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #155 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2022, 08:01:21 am »

IV. VẤN ĐỀ GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG

Giám sát của Đảng là chỉ việc kiểm tra, đôn đốc công việc và hành vi xã hội đối với các cấp lãnh đạo Đảng, các cán bộ và toàn thể đảng viên, làm cho họ tuân thủ pháp luật Nhà nước và kỷ luật Đảng; uốn nắn hiện tượng vi phạm pháp luật, kỷ luật, xử lý hành vi vi phạm pháp luật, kỷ luật. Giám sát của Đảng là một vấn đề quan trọng trong công tác xây dựng đảng, để đoàn kết nhân dân cả nước, bảo đảm thực hiện các nghị quyết, chính sách, phương châm, cương lĩnh, đường lối của Đảng.


1. Lý luận về giám sát của Đảng Cộng sản Liên Xô

Lý luận về giám sát của Đảng Cộng sản Liên Xô do Lênin đề ra. Sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, đảng Bônsêvích trở thành đảng cầm quyền. Nhiều tàn dư của chế độ cũ còn tồn tại trong hệ thống nhà nước Liên Xô, thói xấu quan liêu ngấm sâu vào các cán bộ đảng, Lênin rất lo lắng về điều này. Người đã đưa ra hàng loạt kiến nghị về cải cách hệ thống nhà nước, tăng cường giám sát của Đảng.


Thứ nhất, đối tượng chủ yếu của giám sát là các cấp lãnh đạo Đảng, nhằm ngăn chặn quan liêu hóa quyền lực. Từ khi nhà nước Liên Xô mới thành lập chưa lâu, Lênin đã chỉ ra: "Hiện nay chúng ta càng cần kiên trì chủ trương có một chính quyền tuyệt đối cứng rắn, chủ trương trong một quá trình công tác nhất định, trong một thời kỳ nhất định thực hiện chức năng chấp hành thuần túy, thực hiện độc tài cá nhân, thì càng cần phải có nhiều hình thức, phương pháp giám sát đa dạng từ dưới lên trên, nhằm xóa bỏ những tệ nạn có thể nảy sinh trong chính quyền Xôviết, không ngừng diệt trừ mầm mống chủ nghĩa quan liêu"1 (Lênin: Toàn tập, Sđd, t.34, tr.186). Để đề phòng đảng viên cộng sản trở nên quan liêu, Lênin đưa ra những biện pháp sau: "(1) Không chỉ đợi bầu cử mà bất cứ lúc nào cũng có thể thay thế cán bộ; (2) Lương bổng không được cao hơn lương công nhân; (3) Ngay lập tức trao cho mọi người chức năng kiểm tra, giám sát, làm cho tất cả mọi người tạm trở thành 'quan liêu', do đó làm cho không ai có thể biến thành 'quan liêu'"2 (Lênin: Toàn tập, Sđd, t.31, tr.105).


Thứ hai, trong những ngày tháng cuối đời, Lênin càng quan tâm hơn đến vấn đề giám sát của Đảng. Ngay cả khi trên giường bệnh, mỗi ngày Người vẫn dành vài phút nói về Đảng và bộ máy nhà nước. Người rất lo lắng về tình trạng của Đảng, của bộ máy nhà nước lúc đó. Người kiến nghị cải tổ Viện Kiểm sát công nông, hợp nhất Ủy ban Giám sát Trung ương với Viện Kiểm sát công nông nhằm nâng cao uy tín của Viện này, đồng thời chỉ rõ: "Cần có một số ủy viên Ủy ban Giám sát Trung ương tham dự mỗi lần họp của Bộ Chính trị, phải hình thành một tập thể liên kết chặt chẽ. Tập thể này phải bất chấp tình cảm riêng tư, phải chú ý không để cho uy tín của bất cứ người nào, dù là Tổng Bí thư hay là ủy viên Trung ương nào, cản trở họ trong việc chất vấn, thẩm tra văn kiện, nhằm hiểu tuyệt đối tình hình và làm cho các công việc tuân thủ nghiêm ngặt đúng theo quy định"3 (Lênin: Toàn tập, Sđd, t.43, tr.377), "Ủy viên giám sát Trung ương, dưới sự lãnh đạo của Đoàn chủ tịch Ủy ban mình, phải thường xuyên kiểm tra tất cả những văn kiện của Bộ Chính trị. Đồng thời họ phải phân phối một cách xác đáng thời gian làm việc kiểm tra của mình để kiểm tra chế độ làm việc của các cơ quan chúng ta (từ cơ quan chi nhánh nhỏ nhất đến cơ quan nhà nước cao nhất)"1 (Lênin: Toàn tập, Sđd, t.43, tr.384-385, 374, 382).


Thứ ba, phải nâng cao tố chất của ủy viên giám sát và nhân viên công tác của Ủy ban Giám sát. Lênin đặc biệt coi trọng phẩm chất chính trị và năng lực làm việc của ủy viên giám sát. Người đề nghị Đại hội đại biểu '"chọn ra khoảng 75 đến 100 (đây đương nhiên con số đại thể) ủy viên mới của Ủy ban Giám sát Trung ương từ công nhân, nông dân. Những người được chọn này cũng cần phải được Đảng kiểm tra tư cách giống như các ủy viên Trung ương vì họ cũng được hưởng tất cả quyền lợi như ủy viên Trung ương"2 (Lênin: Toàn tập, Sđd, t.43, tr.384-385, 374, 382).


Lênin còn yêu cầu phải cắt giảm nhân viên công tác trong Viện Kiểm sát công nông, nâng cao chất lượng cán bộ ở đây. Người yêu cầu những người làm việc trong Viện Kiểm sát công nông cần phải đáp ứng những điều kiện sau: "Thứ nhất, họ phải được đề cử bởi một số đảng viên cộng sản; thứ hai, họ phải thi kiểm tra kiêh thức về cơ quan nhà nước chúng ta; thứ ba, họ phải thi kiểm tra kiến thức về lý luận cơ bản, khoa học quản lý, chế độ làm việc của cơ quan nhà nước chúng ta; thứ tư, họ phải phối hợp làm việc với ủy viên giám sát Trung ương và Ban thư ký của Viện đó, để chúng ta có thể tin vào tất cả mọi công việc của cơ quan"3 (Lênin: Toàn tập, Sđd, t.43, tr.384-385, 374, 382).


Căn cứ vào những kiến nghị của Lênin, Đại hội đại biểu lần thứ XII của Đảng Cộng sản (Bônsêvích) Nga đã thông qua nghị quyết "Về nhiệm vụ của Viện Kiểm sát công nông và Ủy ban Giám sát Trung ương". Nghị quyết chỉ rõ, Viện Kiểm sát công nông và Ủy ban Giám sát Trung ương "cân kết hợp với nhau" về mặt tổ chức, cùng hoàn thành nhiệm vụ được giao trong việc cải tiến cách làm việc của bộ máy nhà nước.


Thứ tư, Lênin rất quan tâm đến ý kiến của quần chúng ngoài Đảng. Người nói: "Khi đánh giá con người, khi phát hiện người "lẫn vào trong Đảng", "cậy chức ủy viên", "quan liêu hóa", thì ý kiến của quần chúng giai cấp vô sản ngoài Đảng và ý kiến của quần chúng nông dân ngoài Đảng trong nhiều trường hợp là vô cùng quý báu"1 (Lênin: Toàn tập, Sđd, t.42, tr.145-146).


Thứ năm, Lênin rất coi trọng vai trò giám sát của pháp luật. Người viết: "Không nên sợ tòa án (tòa án của chúng ta là của giai cấp vô sản) và tính công khai, mà phải xét xử công khai kiểu tác phong lề mề, chỉ có như vậy chúng ta mới có thể thật sự trị được căn bệnh này"2 (Lênin: Toàn tập, Sđd, t.52, tr.149). Ngày 18 tháng 3 năm 1922, trong bức thư gửi các Ủy viên Bộ Chính trị, Lênin đề nghị: ''Cần nhấn mạnh với các tỉnh ủy rằng, bất kỳ người nào có ý đồ "gây ảnh hưởng" với tòa án để "giảm nhẹ" tội của đảng viên cộng sản, Trung ương sẽ khai trừ ra khỏi Đảng"3 (Lênin: Toàn tập, Sđd, t.43, tr.53).
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #156 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2022, 08:02:19 am »

2. Chế độ giám sát của Đảng Cộng sản Liên Xô

Tháng 7 năm 1917, trước khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, Đại hội đại biểu lần thứ VI của Đảng Công nhân dân chủ xã hội Nga đã thông qua Điều lệ Đảng, trong đó quy định Đại hội đại biểu của Đảng bầu ra Ủy ban Giám sát. Chức trách của ủy ban này là: "Kiểm tra Phòng Kế toán của Trung ương Đảng và tất cả các công việc khác, báo cáo với Đại hội đại biểu lần sau"1 (Tuyển tập Điều lệ Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđđ, tr.16, 34). Năm 1920, Đại hội đại biểu toàn Nga lần thứ IX của Đảng Cộng sản (Bônsêvích) Nga quyết định thành lập Ủy ban Giám sát Trung ương và lập các tổ giám sát chuyên trách ở các tỉnh ủy, khu ủy Đảng, Ủy ban Giám sát Trung ương do Đại hội đại biểu của Đảng bầu ra, các tổ, bộ giám sát chuyên trách ở các tỉnh, khu do Hội nghị đại biểu của tỉnh, khu bầu. Đại hội đại biểu lần thứ X của Đảng Cộng sản (Bônsêvích) Nga năm 1921 thông qua nghị quyết quy định chức năng của Ủy ban Giám sát. Đại hội đại biểu lần này đã lần đầu tiên bầu ra Ủy ban Giám sát Trung ương. Đại hội đại biểu lần thứ XI của Đảng Cộng sản (Bônsêvích) Nga năm 1922 đã thông qua điều lệ chi tiết về cơ cấu tổ chức, quyền lợi và nghĩa vụ của Ủy ban Giám sát Trung ương. Đây cũng là đại hội cuối cùng mà Lênin tham gia. Dưới sự lãnh đạo của Lênin, Đảng Cộng sản (Bônsêvích) Nga đã thiết lập hệ thống giám sát trong Đảng tương đối hoàn chỉnh.


Cơ quan giám sát trong Đảng Cộng sản Liên Xô gồm hai ủy ban: Ủy ban Kiểm tra và Ủy ban Giám sát. Căn cứ Điều 28 "Điều lệ Đảng Cộng sản (Bônsêvích) Nga" (do Hội nghị đại biểu toàn quốc lần thứ 11 thông qua tháng 8 năm 1922), "Ủy ban Kiểm tra Trung ương gồm 3 người, ủy viên phải có trên 10 năm tuổi đảng, Ủy ban Kiểm tra Trung ương kiểm tra: (1) các cơ quan Trung ương Đảng có xử lý công việc nhanh chóng và chính xác hay không, Ban Bí thư Trung ương Đảng có tiến hành công tác bình thường hay không; (2) Phòng Kế toán và các công việc khác của Trung ương Đảng"2 (Tuyển tập Điều lệ Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđđ, tr.16, 34). Điều lệ này đã có chương 10 riêng về "Ủy ban Giám sát". Chương này quy định: "Để giúp củng cố sự thống nhất và uy tín của Đảng ở Trung ương, các khu và các tỉnh, Đại hội đại biểu Đảng, Hội nghị đại biểu các khu, tỉnh bầu ra Ủy ban Giám sát giám sát. Ủy ban Giám sát các cấp báo cáo công việc với cơ quan bầu ra mình", "Ủy ban Giám sát các cấp có quyền tham gia tất cả các hội nghị của Đảng ủy cùng cấp và các hội nghị, đại hội khác của tổ chức đảng cùng cấp, có quyền phát ngôn". "Nghị quyết của Ủy ban Giám sát các cấp các đảng ủy cùng cấp không được bãi bỏ, nhưng phải sau khi được Đảng ủy đồng ý mới có hiệu lực và được Đảng ủy thực thi". "Khi Đảng ủy cùng cấp không đạt được thỏa thuận, vần đề giao cho hội nghị đại biểu đảng cùng cấp hoặc hoặc Ủy ban Giám sát cấp trên giải quyết"1 (Tuyển tập Điều lệ Đảng Cộnọ sản Liên Xô, Sđd, tr.39-40, 90). Ủy viên giám sát Trung ương phải có từ 10 năm tuổi đảng trở lên, ủy viên giám sát khu, tỉnh phải là người vào Đảng trước Cách mạng tháng Hai. Về sau, quy định về chức năng của Ủy ban Kiểm tra và Ủy ban Giám sát trong Điều lệ Đảng Cộng sản Liên Xô có một số thay đổi, nhưng nội dung cơ bản vẫn là những điểm này.


Điều lệ Đảng được thông qua tại Đại hội đại biểu lần thứ XVIII của Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang đã đổi Ủy ban Giám sát Trung ương do Đại hội đại biểu bầu thành Ủy ban Giám sát Trung ương do Ban Chấp hành Trung ương lập ra, chức trách của ủy ban cũng thu hẹp tương ling. Những chức trách đó là: "(1) Giám sát tình hình thực hiện các nghị quyết của Đảng và của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang của tổ chức đảng, các Xôviết và các cơ quan kinh tế; (2) Kiểm tra công tác tổ chức đảng địa phương các cấp; (3) Xử lý kỷ luật những đảng viên phá hoại cương lĩnh, điều lệ Đảng và vi phạm kỷ luật Đảng"2 (Tuyển tập Điều lệ Đảng Cộnọ sản Liên Xô, Sđd, tr.39-40, 90).


Điều lệ Đảng được Đại hội đại biểu lần thứ XIX Đảng Cộng sản Liên Xô thông qua đã thu hẹp hơn nữa quyền hạn của Ủy ban Giám sát: hủy bỏ điều quy định giám sát tình hình thực hiện nghị quyết của Trung ương và kiểm tra công tác của các tổ chức đảng ở địa phương, bổ sung các điều về thụ lý các khiếu nại về các quyết định kỷ luật trong Đảng và cử các đại diện toàn quyền thường trú tại các nước cộng hòa trong Liên bang, các tỉnh và khu vực biên giới. Quyền hạn của Ủy ban Giám sát tập trung vào giám sát tình hình chấp hành kỷ luật của Đảng.


Điều lệ Đảng được thông qua tại Đại hội đại biểu lần thứ XXVIII Đảng Cộng sản Liên Xô, về hình thức đã rất đề cao vị trí của Ủy ban Giám sát, sửa đổi quy định Ủy ban Giám sát do Ban Chấp hành Trung ương lập ra thành Ủy ban Giám sát Trung ương và Chủ tịch Ủy ban Giám sát Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô do Đại hội đại biểu của Đảng bầu. Đại hội đại biểu đã thông qua ''Điều lệ Ủy ban Giám sát Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô". Điều lệ đó đã làm nổi bật quyền giám sát của Ủy ban Giám sát Trung ương đối với Ban Chấp hành Trung ương. Chủ tịch và Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Trung ương có quyền được tham gia các hội nghị của Bộ Chính trị, các ủy viên giám sát Trung ương có quyền tham gia các hội nghị toàn thể Trung ương và các hội nghị khác và có quyền phát ngôn, "Ủy viên Ủy ban Giám sát Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô có quyền sử dụng tất cả các văn kiện của Đảng"1 (Tổng tập văn kiện Đại hội đại biểu lẫn thứ XXVIII của Đảng Cộng sản Liên Xô, Sđd, tr.188-189). Nhưng điều lệ này sau đó chỉ nằm trên giấy, bởi nó chưa kịp thực hiện thì Đảng Cộng sản Liên Xô đã sụp đổ.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #157 vào lúc: 20 Tháng Ba, 2022, 07:26:21 am »

3. Những vấn đề trong công tác giám sát

Thứ nhất, "bệnh nhìn xuống" của cơ quan giám sát. Tất cả các cơ quan giám sát đều mắc phải bệnh thường gặp là chỉ nhìn xuống dưới mà không nhìn lên trên, chỉ giám sát cấp dưới mà không giám sát cấp trên. Đây là một căn bệnh thường thấy của Đảng Cộng sản Liên Xô, là một căn bệnh chết người. Lênin khi sinh thời cũng không có biện pháp nào có thể trị được căn bệnh này. Những sai lầm của Xtalin sau khi ông mất mới có người phê bình. Sai lầm của Khrushchev, cũng phải đến khi ông rút lui mới được tiết lộ, mà cách ông rút lui cũng không theo quy trình dân chủ thông thường, không qua sự giám sát của Ủy ban Giám sát mà do một nhóm người nhân lúc ông không có mặt ở thủ đô, phát động "đảo chính cung đình" lật đổ ông. Phương thuốc của Gorbachev càng không thể chấp nhận được, không những không chữa được bệnh cho Đảng Cộng sản Liên Xô, mà ông còn làm cho Đảng này chết.


Về cuối đời, Lênin suy nghĩ nhiều nhất là vấn đề chính quyền nhà nước và vấn đề quyền lãnh đạo của Đảng. Khi Lênin còn sống, trong Đảng không có một một chức vụ nào ban cho người lãnh đạo nào đó có đặc quyền, Lênin trở thành hạt nhân lãnh đạo nhờ sức thu hút của cá nhân mình. Khi Người cảm thấy mình không còn sống được bao lâu, Người lập ra chức "Tổng Bí thư" và trao "quyền lực vô hạn" ấy cho một người, đề phòng khi Người ra đi, Đảng vì mất người đứng đầu mà bị tê liệt và chia rẽ. Thế nhưng, khi phát hiện ra con người nắm giữ "quyền lực vô hạn" này có thể sẽ sử dụng quyền lực không phù hợp, Người lại muốn đề nghị bãi bỏ. Nhưng bức thư Người đề nghị thay chức Tổng Bí thư của Xtalin, Người không cho đọc tại Đại hội đại biểu lần thứ XII của Đảng, phải đợi đến khi Người mất mới được công bố. Nếu như Đại hội đại biểu lần thứ XII của Đảng tuyên đọc bức thư đó, có lẽ nhờ vào uy tín của Lênin mà có thể bãi miễn Xtalin. Nhưng sau khi bãi miễn Xtalin thì kết quả sẽ ra sao? Thực ra Lênin chưa tính tới. Hai kiến nghị khác của Lênin là mở rộng Ban Chấp hành Trung ương và cải tổ Viện Kiểm sát công nông đều đã được thực hiện, nhưng hiệu quả không tốt như Người mong muốn. Bởi vì những biện pháp của Người không hạn chế được con người nắm "quyền lực vô hạn". Chính là Xtalin đã sử dụng quyền lực trong tay chiến thắng phe đối lập hết keo này đến keo khác. Quyền lực không tập trung không được, quyền lực tập trung mà dùng không tốt thì cũng sinh ra vấn đề, đó là sự lựa chọn lưỡng nan mà Lênin gặp phải.


Thứ hai, chủ nghĩa quan liêu của cơ quan giám sát. Cơ quan giám sát dù có giám sát cấp dưới, kết quả cũng không lý tưởng. Cơ quan giám sát là để khắc phục chủ nghĩa quan liêu, nhưng bản thân cơ quan giám sát cũng bị nhiễm bệnh quan liêu. Một là, công việc giám sát không liên hệ thực tế, không kiểm tra tình hình thực hiện nghị quyết của Đảng, của Chính phủ và đảng ủy địa phương mà tập trung tinh lực vào công văn, đề án, báo cáo tổng kết, khiến việc kiểm tra làm lấy lệ. Hai là, chỉ quan tâm đến tình hình hoàn thành nhiệm vụ có thời hạn, không quan tâm đến những nhiệm vụ không thời hạn hay thời hạn dài, bất kể tầm quan trọng của những nhiệm vụ này như thế nào. Ba là, việc kiểm tra thiếu tính mục tiêu, chỉ chọn những việc dễ để kiểm tra. Bốn là, có khi không chú ý tái sự thống nhất giữa quá trình làm việc và kết quả công việc, một số cán bộ lãnh đạo chỉ giỏi báo cáo trên giấy tờ thì được đánh giá tốt. Năm là, đôi khi kiểm tra quá tràn lan, phá vỡ trật tự làm việc thông thường, lãng phí sức người, sức của và tiền bạc, đã gây phản cảm cho các đơn vị được kiểm tra.


Thứ ba, vai trò giám sát của hội nghị Đảng không được phát huy đầy đủ. Hội nghị Đảng là biện pháp giám sát quan trọng. Theo quy định của Điều lệ Đảng, các cơ quan lãnh đạo và người lãnh đạo cơ quan đó phải định kỳ báo cáo công tác với đại hội đại biểu, hội nghị đại biểu, hội nghị đảng viên nơi bầu ra mình, tiếp nhận sự phê bình và giám sát. Thế nhưng, những hội nghị như thế đã thành những hội báo cáo, hội nghị chỉ thị của người lãnh đạo; đảng viên hoặc đại biểu đảng viên rất ít nêu ý kiến phê bình, dù có nêu ý kiến phê bình thi cũng rất uyển chuyển, nhẹ nhàng. Trong cuốn Những vấn đề trong công tác của cơ quan Đảng và Nhà nước, Chernenko đã đề cập việc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Ucraina phê bình tổ chức đảng của Bộ Công trình lắp đặt và xây dựng chuyên nghiệp quốc gia: "Trong cơ quan Bộ chưa làm mọi người hài lòng về việc giám sát và kiểm tra tình hình thực hiện nghị quyết của Hội đồng Bộ và thực hiện nghĩa vụ xã hội chủ nghĩa. Đại hội đảng viên có lúc làm lấy lệ, ít có lợi cho việc động viên đảng viên hoàn thành nhiệm vụ cụ thệ, phê bình và tự phê bình có khi làm qua loa, đại khái. Nhiều quyết định của Thường vụ Đảng ủy và nghị quyết của Đại hội đảng viên tồn tại những khuyết điểm như đúng sai không rõ, biện pháp bất lực; không quy định trách nhiệm cá nhân cho đảng viên về việc thực hiện các nghị quyết. Hội đồng Bộ dựa vào tổ chức đảng thì làm rất kém"1 (Chernenko: Những vấn đề trong công tác của cơ quan Đảng và Nhà nước, Công ty Dịch thuật xuất bản đối ngoại Trung Quốc, 1984, tr.269). Có những cán bộ lãnh đạo chưa từng báo cáo công việc với Hội nghị đã bầu ra mình, lại có những cán bộ có thái độ thô bạo với người phê bình mình, đe dọa kỷ luật, khai trừ công chức, v.v...


Thứ tư, quần chúng giám sát không đến nơi đến chôn. Với một nước xã hội chủ nghĩa, tất cả quyền lực đều thuộc về nhân dân, nhân dân là người chủ của đất nước. Người chủ thực hiện giám sát những đây tớ của mình là thiên chức của họ. Theo quy định của Hiên pháp, Xôviết là cơ quan quyền lực nhà nước, có quyền giám sát tất cả các cơ quan nhà nước và nhân viên công chức, kiểm tra tình hình họ tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Nhưng Xô viết làm việc dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy, nên trên thực tế Xôviết không thể giám sát được các thành viên Đảng ủy cùng cấp. Ở Liên Xô, ngoài thông qua Xôviết, Công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản, Hội Phụ nữ và tổ chức khu tập thể cũng như các kênh khiếu nại... để giám sát các lãnh đạo ra, quần chúng nhân dân còn lập ra hệ thống cơ quan giám sát chuyên trách như Ủy ban Giám sát nhân dân, tổ giám sát, trạm giám sát.


Theo "Luật Giám sát nhân dân"' do Xôviết tối cao Liên Xô ban hành tháng 11 năm 1979, cơ quan giám sát nhân dân là tổ chức thống nhất giữa giám sát nhà nước và giám sát xã hội. Ủy ban Giám sát nhân dân các cấp là cơ quan nhà nước, do Xôviết cùng cấp bầu ra và báo cáo công tác với Xôviết, chịu sự lãnh đạo của Xôviết, các tổ giám sát nhân dân của các thôn và trấn, các tổ giám sát nhân dân trong doanh nghiệp, nông trang tập thể, các cơ quan, bộ đội và các trạm giám sát nhân dân do tập thể lao động bầu ra là các tổ chức xã hội và quần chúng. Các thành viên cơ quan giám sát nhân dân một nửa là đại biểu của nhân dân, nửa còn lại là những người làm công tác đảng, đại diện chính quyền, phần tử tích cực của Công đoàn, phần tử tích cực của Đoàn thanh niên Cộng sản, công nhân, nông trang viên của nông trang tập thể. Khi Gorbachev lên nắm quyền, Liên Xô có cả thảy hơn 10 triệu giám sát viên nhân dân, ngoài ra còn có hon 400.000 người là giám sát viên ngoại biên và phần tử tích cực. Nhiệm vụ chủ yếu của cơ quan giám sát nhân dân là: giám sát tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của đất nước; đấu tranh chống chủ nghĩa quan liêu và các hành vi vi phạm pháp luật, kỷ luật; hỗ trợ cải tiến công tác của các cơ quan nhà nước. Ủy ban giám sát nhân dân có quyền cảnh cáo, phê bình, phê bình nghiêm khắc đối với những nhân viên công chức mắc sai phạm, xử lý giáng chức hoặc miễn chức đối với những người vi phạm pháp luật và kỷ luật; các tổ giám sát nhân dân có thế áp dụng các biện pháp giáo đục, không được áp dụng các biện pháp cưỡng chế của nhà nước. Đối với những cán bộ phải xử phạt hình sự, Ủy ban Giám sát nhân dân chỉ có thể chuyển hồ sơ cho cơ quan kiểm sát xử lý.


Thứ năm, thiếu sự giám sát pháp luật. Thời Xtalin, cơ quan thanh trừng có quyền xét xử. Cơ quan này chỉ phục tùng một thủ trưởng hành chính, vừa mất đi sự giám sát của pháp luật, lại vừa mất đi sự giám sát của Đảng và nhân dân. Một lượng lớn án oan, án giả thời đó đã gây hại rất lớn đến sự nghiệp và uy tín của Đảng, để lại di chứng một thời khó xóa bỏ. Thời kỳ Khruschev và Brezhnev, quyền xét xử của cơ quan cảnh sát đã bị xóa bỏ, địa vị chấp pháp độc lập của cơ quan tư pháp được xác định. Thế nhưng, những cơ quan này vẫn bị can thiệp bởi một số lãnh đạo Đảng, làm cho một số cán bộ Đảng và chính quyền vi phạm pháp luật, phạm tội vẫn ngang nhiên ngoài vòng pháp luật. Ví dụ, con rể của Brezhnev là Yuri Churbanov, trong thời gian giữ chức Thứ trưởng Bộ Nội vụ Liên Xô đã tham nhũng 650.000 rúp, chỉ sau khi Brezhnev chết mới bị phanh phui và trừng phạt. Thêm một ví dụ nữa, năm 1975, báo Văn học từng tiết lộ một công ty xây dựng ở thành phố Kuybyshev xây một tòa nhà lớn để chuyên phục vụ các nhân vật cấp cao và khách quan trọng. Lãnh đạo khách sạn này đã ép nhân viên phục vụ phải ngủ với các quan chức này. Người bị hại kêu cứu cấp trên nhung không có kết quả.


Thứ sáu, sự giám sát của dư luận có hạn. Ở một số nước, giới báo chí được gọi là "vua không vương miện", có thể thấy vai trò giám sát của nó là rất lớn. Ở Liên Xô, vai trò giám sát của báo chí cũng được công nhận. Báo chí thường xuyên đưa tin thư của quần chúng và những bài phỏng vấn của phóng viên, tiết lộ những hành vi tham nhũng và tác phong quan liêu của một số cán bộ lãnh đạo. Một số tờ báo như báo Sự thật, báo Văn học... còn có chuyên mục "Giám sát". Thế nhưng ở Liên Xô, phương tiện truyền thông đại chúng đều là "'tiếng nói của Đảng", chỉ có thể nói những gì mà lãnh đạo Đảng cho phép nói. Vì vậy, trên báo chí ở Liên Xô rất khó tìm thấy những tin tức phê bình các cán bộ cấp cao. Thỉnh thoảng chúng ta cũng có thể nhìn thấy một vài tin tức phê bình cán bộ cấp cao, thì chắc chắn người đó đã bị xử lý kỷ luật rồi, việc công bố như vậy cũng phải được sự phê duyệt của tổ chức Đảng. Ví dụ, từ năm 1964 đến năm 1977, tờ Sự thật của Liên Xô lần lượt đăng những tài liệu liên quan đến việc tham nhũng, nhận hổi lộ của lãnh đạo chủ chốt của Cộng hòa Adécbaigian, Cộng hòa Grudia, Cộng hòa Kiếcghidia, Cộng hòa Udơbêkixtan và Cộng hòa Ácmênia, nhưng những thông tin này đểu được đăng sau khi người này đã bị mất chức.


Ngoài ra còn có các hình thức giám sát khác như giám sát hành chính, giám sát đơn thư khiêu kiện, giám sát kỹ thuật, v.v... Tất cả những hình thức và biện pháp này đều phát huy tác dụng nhất định, có đóng góp nhất định vào việc trừng trị tham nhũng, phòng ngừa quan liêu. Tuy nhiên, do còn lẫn lộn giữa "chủ" và "đầy tớ" nên tác dụng của các hình thức này rất hạn chế. Vì Đảng quản cán bộ, nên ở Liên Xô, cán bộ thật sự bị quần chúng nhân dân bãi miễn là rất ít.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #158 vào lúc: 20 Tháng Ba, 2022, 07:27:01 am »

4. Mổ xẻ những vấn đề trong giám sát

Vấn đề giám sát thực chất là vấn đề quyền lợi dân chủ. Giám sát bất lực, thực chất là sự thiếu dân chủ; giám sát của quần chúng nhân dân không đến nơi đến chốn, thực chất là quyền lợi dân chủ của nhân dân không đến nơi đến chốn. Chỉ có dùng quyền lực mới có thể hạn chế được lạm dụng quyền lực, chỉ có dân chủ nhân dân mới có thể phòng chống được bệnh quan liêu.


Dân chủ là một chế độ chính trị xã hội, là sản phẩm của xã hội phát triển đến một giai đoạn lịch sử nào đó, nó sinh ra cùng với sự tiến bộ của xã hội, cũng tiêu vong cùng với sự tiến bộ của xã hội. Trong tác phẩm lịch sử nổi tiếng Nhà nước và cách mạng, Lênin đã phân tích kỹ ba hình thức dân chủ: dân chủ của xã hội tư bản chủ nghĩa - dân chủ của một số ít người; dân chủ của xã hội xã hội chủ nghĩa - dân chủ của nhiều người; dân chủ của xã hội cộng sản chủ nghĩa - dân chủ của tất cả mọi người. Một khi dân chủ toàn dân được thực hiện, chế độ dân chủ sẽ bước vào một giai đoạn cao nhất, dân chủ mang ý nghĩa hiện đại sẽ tiêu vong. Lênin đã từng cho rằng, dưới chính quyền Xôviết, phải để tất cả mọi người quản lý đất nước, làm cho tất cả mọi người đều trở thành "quan liêu", như vậy bất kỳ ai cũng không thể thành quan liêu được. Thế nhưng, từ thực tiễn, Lênin nhận thức rằng, "do trình độ văn hóa thấp như vậy", những ý tưởng của Người không thể thực hiện được. Ở nước Nga Xôviết, không phải quần chúng lao động tự quản lý đất nước, mà do đội tiên phong của giai cấp vô sản quản lý đất nước cho quần chúng lao động. Thành viên của đội tiên phong tốt xấu không đồng đều. Điều này có cả điều kiện khách quan và điều kiện chủ quan sinh ra chủ nghĩa quan liêu.


"Văn hóa" mà Lênin nói ở đây không chỉ mang nghĩa hẹp của "kiến thức văn hóa" mà còn chỉ văn minh của toàn xã hội, bao gồm văn minh vật chất, văn minh chính trị và văn minh tinh thần. Trong bài "Bàn về cách mạng nước ta", Lênin cũng sử dụng nghĩa rộng này của từ "văn hóa". Trong bài nàỵ, Lênin viết: "Đã thiết lập chủ nghĩa xã hội, cần phải có trình độ văn hóa nhất định (mặc dù không ai nói ra được 'trình độ văn hóa nhất định' ở đây là như thế nào, bởi vì điều này ở các nước Tây Âu đều khác nhau), tại sao chúng ta không thế dùng biện pháp cách mạng để đạt được tiền đề trình độ nhất định này trước, sau đó đuổi kịp nhân dân các nước khác trên cơ sở chính quyền công nông và chế độ Xôviết?"1 (Lênin: Toàn tập, Sđd, t.43, tr.371-372).


Cơ sở vật chất tồn tại của chế độ quan liêu chính là sự tồn tại chênh lệch lợi ích. Chỉ cần tồn tại sự chênh lệch lợi ích, người ta sẽ sinh ra tham vọng theo đuổi lợi ích nhiều hơn. "Làm nghề gì ăn nghề ấy", người ta luôn dựa vào địa vị của mình, lợi dụng ưu thế của mình để tìm kiếm nhiều lợi ích hơn. Mác đã từng nói: "Thủ tiêu chế độ quan liêu chỉ có trên thực tế lợi ích phổ biến chứ không phải trong điều kiện trở thành lợi ích đặc biệt về tư tưởng, về khái niệm trừu tượng mới có khả năng; mà điều này cũng chỉ có khi trên thực tế lợi ích đặc biệt trở thành lợi ích phổ biến mới có khả năng"2 (Chủ nghĩa quan liêu - kẻ thù lớn nhất, Nhà sách tam liên Đời sống - Đọc sách - Tri thức mới, 1989, tr.119).


Chênh lệch lợi ích chỉ mất đi khi tài sản vật chất dồi dào, lao động không còn là kế mưu sinh mà trở thành nhu cầu hàng đầu của cuộc sống con người thì mới thực hiện được. Thời kỳ Công xã Pari đã thực hiện chế độ tiền lương bình đẳng giữa xã viên công xã với công nhân. Nhưng thời gian tồn tại của Công xã Pari không lâu, chế độ này chưa được thực tiễn kiểm nghiệm. Thời kỳ đầu của Xôviết cũng thực hiện chế độ nhân viên công chức nhà nước hưởng lương bình quân của công nhân, nhưng sau một thời gian ngắn cũng đã thay đổi. Ban đầu thực hiện chế độ lương cao đối với các quan chức cũ, sau đó cán bộ, đảng viên cộng sản cũng đều áp dụng chế độ lương cao. Ngoài tiền lương, các cán bộ các cấp khác nhau cũng hưởng những đãi ngộ về vật chất khác nhau, cán bộ cấp cao được rất nhiều đặc quyền. Một số người tham lam đã lợi dụng quyền lực trong tay để vơ vét những lợi ích phi pháp.


Ngày 21 tháng 9 năm 1890, trong bức thư gửi Bloch, Ăngghen viết: "Theo chủ nghĩa duy vật lịch sử, nhân tố quyết định trong quá trình lịch sử suy cho cùng là sản xuất và tái sản xuất cuộc sống"1 (Tuyển tập thư tín Mác - Ăngghen, Nxb. Nhân dân, 1962, tr.466). Chủ nghĩa tư bản có thể ngóc đầu dậy ở Liên Xô xã hội chủ nghĩa, suy cho cùng là ở đó có đất sống cho chủ nghĩa tư bản. Vì vậy, các nước xã hội chủ nghĩa chỉ có cách tạo ra năng suất lao động và lực lượng sản xuất cao hơn chủ nghĩa tư bản mới có thể xóa bỏ mối nguy chủ nghĩa tư bản ngóc đầu dậy. Nhưng yếu tố kinh tế  không phải là yếu tố quyết định duy nhất, chủ nghĩa tư bản có thể ngóc đầu dậy ở Liên Xô còn do những yếu tố khác, trong đó hàng loạt những tập đoàn lợi ích của những kẻ theo đuổi lợi ích cá nhân, nắm quyền lãnh đạo Đảng và Nhà nước là lực lượng nòng cốt phục hổi chủ nghĩa tư bản ở Liên Xô, mà Gorbachev và Yeltsin chính là những nhân vật đại diện chủ yếu của những tập đoàn này.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #159 vào lúc: 20 Tháng Ba, 2022, 07:30:06 am »

Chương VII
TẬP THỂ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN LIÊN XÔ


Lênin từng chỉ rõ: Trong xã hội giai cấp, quần chúng chia thành giai cấp, giai cấp thường do chính đảng lãnh đạo. Chính đảng này thường là tập thể tương đối ổn định, được cấu thành bởi những nhân vật lãnh tụ có uy tín nhất, có ảnh hưởng nhất, có kinh nghiệm nhất và được lựa chọn đảm nhận chức vụ quan trọng nhất đứng ra chủ trì1 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.4, tr.151). Điều này thể hiện rõ quy luật xuất hiện lãnh tụ, cũng chỉ rõ bản chất của lãnh tụ.


Lãnh tụ của giai cấp vô sản là nhân vật và tập thể lãnh đạo của giai cấp vô sản tiên tiến, dựa vào tổ chức chính trị của mình tức chính đảng giai cấp vô sản, tiến hành đấu tranh giai cấp chống chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa phong kiến và mọi thế lực phản động trong thời đại loài người bước vào xã hội tư bản chủ nghĩa và cách mạng vô sản. Trong lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền và nắm chính quyền, xây dựng chủ nghĩa xã hội, chính đảng giai cấp vô sản cần có một tập thể lãnh đạo kiên định lòng tin vào chủ nghĩa cộng sản, có trình độ lý luận sâu sắc và năng lực lãnh đạo ưu việt.


Nguyên nhân căn bản của Đảng Cộng sản Liên Xô diệt vong, Liên Xô tan rã là ở nội bộ Đảng Cộng sản Liên Xô, vấn đề chủ yếu của Đảng Cộng sản Liên Xô là ở tập thể lãnh đạo của Đảng. Dọc theo lịch sử của Đảng Cộng sản Liên Xô, có thể thấy được hai loại lãnh tụ. Một loại là nhà mácxít chân chính mà đại biểu là Lênin và Xtalin. Họ có niềm tin kiên định đối với chủ nghĩa cộng sản, kiên trì và phát triển chủ nghĩa Mác, dẫn dắt Đảng Bônsêvích trưởng thành, lớn mạnh, trở thành tổ chức cộng sản lớn mạnh nhất trên thế giới, đưa nước Nga lạc hậu phát triển lớn mạnh, trở thành nước xã hội chủ nghĩa cường thịnh nhất trên thế giới. Kiểu thứ hai mà đại biểu là Khrushchev và Gorbachev, họ bắt đầu từ thoái hóa, biến chất thế giới quan, từng bước mất đi niềm tin vào chủ nghĩa Mác, gây ra tổn thất không thể cứu vãn cho giai cấp vô sản và sự nghiệp xã hội chủ nghĩa. Bề ngoài họ tỏ ra tin tưởng chủ nghĩa Mác, trên thực tế họ quay lưng, phản bội chủ nghĩa Mác. Họ đã tước bỏ tính chất đội tiên phong của giai cấp công nhân, vứt bỏ chuyên chính vô sản, vứt bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, không còn kiên trì tư tưởng chỉ đạo của chủ nghĩa Mác, mục tiêu cao cả của chủ nghĩa cộng sản, tôn chỉ căn bản vì nhân dân phục vụ và nguyên tắc tổ chức tập trung dân chủ, cuối cùng đã công khai từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa, kết cục đã tạo ra bi kịch lịch sử mất đảng, mất nước.


I. NIỀM TIN CỦA TẬP THỂ LÃNH ĐẠO ĐẢNG CỘNG SẢN LIÊN XÔ

Lãnh tụ của giai cấp vô sản trước hết phải có niềm tin kiên định đối với chủ nghĩa Mác, kiên trì thế giới quan của giai cấp vô sản, trung thành bảo vệ lợi ích của giai cấp vô sản.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM