nhinrathegioi
Thành viên

Bài viết: 1062
|
 |
« Trả lời #160 vào lúc: 20 Tháng Ba, 2022, 07:31:08 am » |
|
1. Lênin, xtalin là những nhà mácxít kiên định
Vladimir Ilich Lenin (Lênin) sinh ngày 22 tháng 4 năm 1870 trong một gia đình trí thức ở Simbirsk. Người bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng từ thời thanh niên. Vì mưu cầu chân lý, Người đã nhiều lần bị bắt giữ, bị lưu đày, sau đó phải lưu vong ở nước ngoài. Sự từng trải cách mạng gian nan đã củng cố vững chắc quyết tâm và ý chí lật đổ chế độ chuyên chế Sa hoàng, phấn đấu không mệt mỏi thực hiện lý tưởng cộng sản chủ nghĩa của Người.
Mùa thu năm 1887, khi Lênin 17 tuổi, Người vào học ở Trường Đại học Kazan, không lâu sau, do một lần tham gia hội phản kháng của sinh viên chống chế độ cảnh sát nên Người bị bắt. Sau khi bị bắt, Người đã từng có đoạn đối thoại với viên Cục trưởng Chi Cục cảnh sát áp giải Người: "Nhóc con, định làm gì? Muốn tạo phản hả? Mày phải biết trước mặt mày là một bức tường". Lênin không ngần ngại trả lời: "Là một bức tường, có điều lại là một bức tường mục, chỉ cần đẩy một cái là đổ sập"1 (Hồi ký Lênin, Nxb. Nhân dân, 1982, t.1, tr.17). Lênin lúc đó quyết tâm lật đổ sự thống trị chuyên chế của Sa hoàng. Sau khi bị bắt giữ mấy ngày, Lênin bị đưa đến một ngôi làng gần Kazan.
Mùa thu năm 1888, nhà đương cục cho phép Lênin cùng gia đình di cư đến Kazan. Trong một căn phòng thuê nhỏ, Người đã kiên trì học tập lý luận chủ nghĩa Mác, nghiên cứu nghiêm túc quyển 1 của bộ Tư bản, tích cực, nhiệt tình tuyên truyền, giảng dạy chủ nghĩa Mác cho các thành viên nhóm chủ nghĩa Mác ở địa phương. Mấy năm sau, Người đã chuyển đến ở tại Samara, rồi đến Peterburg. Một mặt, Người tiếp tục chăm chỉ học tập các tác phẩm của chủ nghĩa Mác, dịch Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản từ tiếng Đức sang tiếng Nga; mặt khác, Người tích cực tham gia hoạt động cách mạng, truyền bá chủ nghĩa Mác. Người còn đi sâu điều tra xã hội Nga, vận dụng chủ nghĩa Mác để phân tích các vấn đề trong xã hội Nga, suy nghĩ về con đường cách mạng của giai cấp vô sản Nga. Người đã hoàn thành sự chuyển đổi tù một thanh niên với bầu nhiệt huyết cách mạng trở thành nhà cách mạng chân chính tự trang bị chủ nghĩa Mác cho mình. Người đã đi vào con đường của nhà cách mạng chuyên nghiệp hướng đến chân lý.
Mùa xuân năm 1893, trong tác phẩm được phát hiện sớm nhất cho đến nay của Người là Biến động kinh tế mới trong đời sống người nông dân, Lênin đã phân tích sâu sắc chủ nghĩa Mác đối với tình hình hiện thực của kinh tế nông dân Nga, đã hé mở hình thức và quá trình phát triển tư bản chủ nghĩa của nông nghiệp Nga, chỉ ra nông dân thôn xã đã phân hóa thành giai cấp tư sản và giai cấp vô sản nông thôn. Xuân hè năm 1894, Người cho ra mắt tác phẩm quan trọng "Người bạn của nhân dân" là gì và họ công kích người Đảng đần chủ xã hội như thế nào? Người đã vận dụng quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác phê phán toàn diện quan điểm duy tâm lịch sử của những người theo chủ nghĩa dân túy, chỉ ra rằng nhân dân là người sáng tạo lịch sử, đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của xã hội giai cấp. Lần đầu tiên Người luận chứng những vấn đề cơ bản của cách mạng Nga, chỉ ra chế độ kinh tế xã hội nước Nga là xã hội giai cấp tư sản, như vậy, "muốn thoát khỏi xã hội này chỉ có một lôi thoát tất yếu sinh ra từ trong bản chất của chế độ tư sản, đó chính là cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản"1 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.1, tr.129). Người còn tin tưởng chắc chắn giai cấp công nhân Nga nhất định sẽ dẫn dắt đông đảo quần chúng lật đổ chế độ chuyên chế, đồng thời cùng kề vai sát cánh với giai cấp vô sản toàn thế giới tiến đến cách mạng cộng sản chủ nghĩa thắng lợi.
Việc lĩnh hội toàn diện thực chất tinh thần chủ nghĩa Mác, kiên trì thế giới quan của chủ nghĩa Mác, vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích xã hội Nga, cách mạng Nga và phong trào cộng sản quốc tế đã xuyên suốt trọn đời tư tưởng của Lênin, đồng thời đã xác lập sự tin tưởng tuyệt đối của Người đối với chủ nghĩa Mác. Lênin cho rằng, lịch sử và hiện tượng xã hội loài người hết sức phức tạp, "chủ nghĩa Mác đã cung cấp một đầu mối có tính chỉ đạo, giúp chúng ta có thể phát hiện được tính quy luật trong cái mớ hỗn độn, lộn xộn khó lường ây. Đầu mối đó chính là lý luận đấu tranh giai cấp"1 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.26, tr.60). Người còn chỉ thêm "nếu người nào chỉ thừa nhận đấu tranh giai cấp thôi, thì người đó chưa phải là nhà mácxít, có thể họ chưa vượt khỏi được phạm vi của tư tưởng tư sản và chính trị tư sản", "chỉ có những ai thừa nhận đấu tranh giai cấp, đồng thời cũng thừa nhận chuyên chính vô sản mới là nhà mácxít", "phải dùng hòn đá thử vàng đỏ để kiểm nghiệm xem có thực sự hiểu biết và thừa nhận chủ nghĩa Mác hay không". Tháng 2 năm 1908, trong tác phẩm triết học quan trọng Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, Lênin chỉ ra rằng "xuất phát từ sự kiến giải được những người theo chủ nghĩa Mác đồng ý cho rằng lý luận mácxít là chân lý khách quan, kết luận duy nhất có thể rút ra là: Tiến lên theo con đường lý luận mácxít, chúng ta sẽ ngày càng tiếp cận với chân lý khách quan (nhưng quyết không thể đến tận cùng); nhưng nếu tiến lên theo bất kỳ con đường nào khác, ngoài sự hỗn loạn và sai lầm ra, chúng ta sẽ chẳng được gì"2 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.18, tr.145).
Lênin không những tin tưởng mà còn kiên quyết bảo vệ chủ nghĩa Mác. Cuộc đời của Người là cả cuộc đời kiên quyết đấu tranh với chủ nghĩa cơ hội muôn hình muôn vẻ, các làn sóng tư tưởng phi mácxít, phản mácxít. Trong đấu tranh, Người bảo vệ chủ nghĩa Mác, phát triển chủ nghĩa Mác. Ra đời trong thời đại chủ nghĩa đế quốc và cách mạng vô sản, chủ nghĩa Lênin sinh ra trong cách mạng của giai cấp vô sản, đồng thời phát triển trong đấu tranh với chủ nghĩa cơ hội Quốc tế II.
Năm 1895, sau khi Ăngghen qua đời, chủ nghĩa xét lại Bernstein dần dần lan truyền trong Đảng Dân chủ xã hội Đức, thậm chí cả trong nội bộ Quốc tế II. Trong khi đang bị lưu đày, do giao thông bất tiện, thông tin bị bưng bít, Lênin không thể nắm bắt tình hình mới kịp thời, nhưng Người đã tìm cách có được tác phẩm của Bernstein. Sau khi đọc xong, Người lập tức chỉ trích chủ nghĩa xét lại là "chủ nghĩa cơ hội và chủ nghĩa khả năng cực đỉnh", tin tưởng rằng "thất bại thảm hại của nó là không còn nghi ngờ gì nữa", đồng thời kiên quyết lao vào cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa xét lại và sự biến dạng của nó ở nước Nga.
Năm 1908 là năm thứ 25 Mác qua đời. Để tưởng nhớ vị lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản thế giới, trong bài Chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa xét lại, Lênin đã mổ xẻ hệ thống lý luận của chủ nghĩa xét lại mà đại biểu là Bernstein, đi sâu vạch trần nền tảng xã hội, nguồn gốc giai cấp, đặc điểm và thực chất của chủ nghĩa xét lại. Người chỉ ra chủ nghĩa xét lại là ''một trường phái phản chủ nghĩa Mác trong nội bộ chủ nghĩa Mác" xuất hiện vào những năm 90 của thế kỷ XIX. Trường phái này "đã thể hiện một cách hoàn chỉnh sự xét lại học thuyết Mác, sửa đổi học thuyết Mác, tức là chủ nghĩa xét lại"1 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.2, tr.2).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
nhinrathegioi
Thành viên

Bài viết: 1062
|
 |
« Trả lời #161 vào lúc: 20 Tháng Ba, 2022, 07:32:08 am » |
|
Trong khi tiếp tục đấu tranh với chủ nghĩa Bernstein, khi di độc của nó chưa gột sạch thì trong nội bộ Quốc tế II lại xuất hiện chủ nghĩa cơ hội mà đại biểu là Karl Kautsky. Họ lấy danh nghĩa nhà mácxít "chính thống", bề ngoài cũng phản đối Bernstein, nhưng trên thực tế lại đi theo con đường cơ hội chủ nghĩa thống nhất với chủ nghĩa xét lại. Họ say mê đấu tranh kinh tế đắm đuối trong đấu tranh nghị viện, mơ tưởng "tiêu diệt" chủ nghĩa tư bản bằng biện pháp hợp pháp. Do những người này xuất hiện với bộ mặt "phái trung dung", Kautsky lại là lãnh tụ của Quốc tế II, nên quan điểm của họ đã mê hoặc không ít người.
Để vứt bỏ "tất cả những thứ cũ kỹ, hoen gỉ, rèn đúc những vũ khí kiểu mới" trong kho vũ khí của Quốc tế II, đồng thời cũng để làm cho giai cấp vô sản không rơi vào "cảnh ngộ nguy hiểm vũ trang không đủ hoặc thậm chí hoàn toàn không có vũ trang" trước cuộc chiến cách mạng mới, trong khoảng tháng 8, tháng 9 năm 1917, Lênin đã viết xong cuốn Nhà nước và cách mạng, trình bày một cách hệ thống học thuyết nhà nước của chủ nghĩa Mác, vạch trần sự ngụy biện phản bác chủ nghĩa Bernstein của Kautsky. Người chỉ thẳng ra rằng trong vấn đề chuyên chính vô sản, Kautsky "không phải phản bác và tiến hành luận chiến với Bernstein, mà trên thực tế đã nhượng bộ Bernstein nhường trận địa lại cho chủ nghĩa cơ hội"1 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.3, tr.193).
Tháng 8 năm 1918, Kautsky lại tung ra cuốn sách nhỏ Chuyên chính vô sản, công kích ác độc con đường Cách mạng Tháng Mười Nga của Lênin. Để vạch trần triệt để hành động phản bội của Kautsky, trong tháng 10, tháng 11 năm đó, Lênin đã viết tác phẩm Cách mạng vô sản và tên phản bội Kautskỵ, vạch trần sâu sắc bộ mặt phản bội giai cấp vô sản của Kautsky, chỉ ra rằng Kautsky đã cắt xén linh hồn cách mạng sinh động của chủ nghĩa Mác, tuyên truyền "dân chủ thuần túy" siêu giai cấp, cổ xúy con đường nghị viện hòa bình, chống cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản. Người nói, Kautsky "miệng nói thừa nhận cách mạng nhưng thực tế thì quay lưng với cách mạng". Nếu "giai cấp công nhân không tiến hành chiến đấu không khoan nhượng để chống lại hành động phản bội này, hành vi thiếu khí tiết, ton hót chủ nghĩa cơ hội, dung tục hóa một cách chưa từng có chủ nghĩa Mác về lý luận này, thì không thể thực hiện đựợc mục đích cách mạng thế giới mà họ phải tiến hành"1 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.3, tr.588-589).
Phê phán của Lênin đối với chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa cơ hội của Quốc tế II, trong chính đảng của giai cấp công nhân các nước lúc bây giờ, có ngọn cờ rõ ràng nhất và thái độ kiên quyết nhất. Cùng với sự bùng nổ Chiến tranh thế giới thứ nhất, phần lớn lãnh tụ Đảng Dân chủ xã hội công khai phản bội chủ nghĩa xã hội, ủng hộ chính phủ của giai cấp tư sản nước mình tham gia vào chiến tranh đế quốc, dẫn đến sự phá sản về tư tưởng, về chính trị của Quốc tế II. Năm 1917, trong Luận cương tháng Tư Lênin đề nghị vứt bỏ cái "áo khoác bẩn thỉu" "Đảng Dân chủ xã hội", khôi phục tên gọi của chính đảng giai cấp vô sản là Đảng Cộng sản. Đây là tuyên ngôn quyết liệt, triệt để của những người mácxít mà đại diện là Lênin đối với chủ nghĩa xét lại và chủ nghĩa cơ hội. Cùng với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản thế giới trở lại quỹ đạo đúng đắn của chủ nghĩa Mác.
Lênin còn đấu tranh kiên quyết với sự xâm nhập của chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa cơ hội quốc tế và các biến thể của nó đối với cách mạng Nga. Chủ nghĩa Lênin đã không ngừng phong phú và phát triển trong đấu tranh.
Thời khắc gian nan có thể thử thách tính kiên định tin tưởng vào chân lý của con người nhất. Một người theo chủ nghĩa Mác trong sự nghiệp cách mạng, khi gặp nghịch cảnh thì bắt buộc phải có niềm tin tất thắng, kiên trì chân lý, dám đấu tranh, khắc phục khó khăn, giành thắng lợi. Lênin chính là điển hình về mặt này.
Ngày 28 tháng 1 năm 1924, trong một lần diễn thuyết, Xtalin đã nói đến một đoạn lịch sử như sau: Từ năm 1909 đến năm 1911, Đảng bị thế lực phản cách mạng đánh bại, rơi vào tình trạng tan rã hoàn toàn. Đây là thời kỳ mà mọi người không tin tưởng vào Đảng; đây là thời kỳ không chỉ có thành phần trí thức mà còn có một bộ phận công nhân đã lần lượt ra khỏi Đảng; đây là thời kỳ mọi người phủ định hoạt động bí mật; đây là thời kỳ chủ nghĩa thủ tiêu, thời kỳ tan vỡ. Lúc đó không chỉ Mensêvích, mà cả Bônsêvích cũng có nhiều tổ chức bè phái và tư tưởng bè phái, đại bộ phận đều rời khỏi phong trào công nhân. Mọi người đều biết, chính trong thời kỳ này đã nảy sinh ra tư tưởng đòi xóa bỏ hoàn toàn các tổ chức bí mật và tổ chức công nhân biến thành đảng Stolypin tự do chủ nghĩa hợp pháp. Xtalin nói: "Lúc đó chỉ có Lênin không bị cuốn theo mà còn giương cao ngọn cờ mang tính Đảng, lấy tinh thần bền bỉ kỳ lạ và kiên trì phi thường để tập hợp được những bộ phận rải rác còn lại của Đảng, công kích mạnh mẽ tất cả các phe phái chống Đảng trong phong trào công nhân, lấy dũng khí và nghị lực phi thường để bảo vệ tính Đảng"1 (Xtalin: Tuyển tập, Sđd, quyển thượng, tr.179). Từ đó có thể thấy rõ tính Đảng kiên trung của Lênin. Không vì thất bại mà nản lòng, không vì trắc trở mà nhụt khí, không vì khó khăn mà rút lui. Niềm tin kiên định này bắt nguồn từ niềm tin kiên định của Người đối với chủ nghĩa Mác, bắt nguồn từ niềm tin tất thắng của Người đối với sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản.
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, đối mặt với sự phản công điên cuống của kẻ thù bên trong và bên ngoài, Lênin càng thể hiện rõ sự bình tĩnh và kiên định mà một lãnh tụ của giai cấp vô sản cần có. Dưới sự lãnh đạo kiên cường của Lenin, Đảng và chính quyền Xô viết đã đập tan sự can thiệp vũ trang của 14 nước và cuộc nổi loạn phản cách mạng trong nước, bảo vệ thắng lợi thành quả cách mạng. Sau khi chiến tranh kết thúc, Đảng đứng trước nhiều nhiệm vụ phức tạp như hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế quốc dân, xử lý mâu thuẫn nghiêm trọng trong nước, v.v... Trước khó khăn, những người Bônsêvích do Lênin đứng đầu vẫn không hề lùi bước, tích cực tìm tòi con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, củng cố chính quyền nhân dân.
Iosif Vissarionovich Stalin (Xtalin) là người theo chủ nghĩa Mác kiệt xuất, kiên định niềm tin cách mạng. Ông sinh ngày 21 tháng 12 năm 1879, tham gia cách mạng rất sớm. Ông không giống Lênin và các nhà cách mạng khác ở chỗ, kinh nghiệm đấu tranh chính trị chủ yếu của Xtalin là ở trong nứớc Nga, đấu tranh tàn khốc đã tôi luyện tính cách kiên cường của Xtalin. Từ năm 1902 đến 1913, ông đã 8 lần bị bắt, 7 lần bị lưu đày, 6 lần trốn thoát trong khi đi lưu đày. Năm 1903 Xtalin quen biết Lênin qua thư từ, sau này dưới sự quan tâm và lãnh đạo của Lênin, ông đã trở thành một trong những lãnh tụ của Đảng Bônsêvích.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
nhinrathegioi
Thành viên

Bài viết: 1062
|
 |
« Trả lời #162 vào lúc: 20 Tháng Ba, 2022, 07:33:03 am » |
|
Sau khi Lênin qua đời, tập thể lãnh đạo Trung ương Đảng cần một người cầm lái mới. Lúc bầy giờ, các ứng cử viên có khả năng là Trotsky, Bukharin, Zinoviev và Xtalin. Đa số đảng viên và người lãnh đạo Đảng thấy Trotsky không có cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội hoàn chỉnh, thậm chí ông này cho rằng không thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô. Bukharin có một bộ phương án và kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng thiếu năng lực tổ chức. Zinoviev thì cả hai mặt tài năng lý luận và tổ chức đều không nổi trội. Mặc dù Xtalin có nhiều khuyết điểm nhưng ông có niềm tin chính trị kiên định và ý chí kiên cường như sắt đá, năng lực tổ chức và khả năng vận dụng tổ chức đều hơn người.
Kể từ ngày tham gia cách mạng cho đến lúc qua đời, Xtalin không hề dao động niềm tin đối với chủ nghĩa cộng sản. Xuất phát điểm và mục đích cầm quyền của ông đều là vì sự lớn mạnh của đất nước và sự giàu có của nhân dân.
Khi Lênin còn sống, ông tích cực ủng hộ đường lối, phương châm và chính sách mácxít của Lênin, có cống hiến to lớn cho thắng lợi Cách mạng Tháng Mười Nga, củng cố và xây dựng chính quyền Xô viết. Sau khi Lênin qua đời, ông là lãnh tụ của Đảng và Nhà nước Liên Xô, lãnh đạo Đảng và nhân dân toàn quốc nỗ lực vượt qua gian khổ, xây dựng nên chế độ cơ bản xã hội chủ nghĩa. Sau đó, ông lại lãnh đạo toàn Đảng và nhân dân toàn quốc anh dũng đấu tranh, xả thân chiến đấu, đánh bại quân xâm lược phát xít, nhanh chóng khôi phục và phát triển kinh tế quốc dân sau chiến tranh. Dưới sự lãnh đạo của Xtalin, Liên Xô từ một nước nông nghiệp với trình độ kinh tế, văn hóa lạc hậu đã trở thành một nước công nghiệp xã hội chủ nghĩa lớn mạnh.
Cũng như Lênin, Xtalin luôn đấu tranh với những khuynh hướng sai lầm trong và ngoài Đảng nhằm bảo vệ tính trong sáng của chủ nghĩa Mác. Trong các tác phẩm quan trọng như Bàn về nền tảng của chủ nghĩa Lênin, Chủ nghĩa Trotsky hay là Chủ nghĩa Lênin?, Bàn về mấy vấn đề của chủ nghĩa Lênin và Bàn về hữu khuynh trong Đảng Cộng sản Liên bang (Bônsêvích) v.v... ông đã phê phán những quan điểm sai lầm của phái đối lập mới và cũ như Trotsky, Zinoviev, Bukharin, v.v... kế thừa và bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin.
Năm 1938, Xtalin đã ra một trong những tác phẩm triết học quan trọng nhất của mình - Bàn về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Đây là lần đầu tiên ra mắt phần 2 chương 4 của sách Giáo trình sơ lược lịch sử Đảng Cộng sản (Bônsêvích) Liên bang. Ý nghĩa của tác phẩm triêt học này là ở chỗ: Dùng ngôn ngữ nôm na, trình bày ngắn gọn một cách hệ thống và toàn diện chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời liên hệ chặt chẽ với thực tế lúc đó, làm cho chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trở thành hệ thống lôgích liên hoàn.
Trong tác phẩm kinh điển có thể gọi là giải thích nguyên lý triết học chủ nghĩa Mác này, Xtalin chỉ rõ: "Chủ nghĩa duy vật biện chứng là thế giới quan của Đảng mácxít - lêninnít". Chủ nghĩa duy vật lịch sử là sự mở rộng nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng để nghiên cứu đời sống xã hội, đem nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng ứng dụng vào các hiện tượng đời sống xã hội, ứng dụng vào nghiên cứu xã hội, ứng dụng vào nghiên cứu lịch sử xã hội"1 (Giáo trình sơ lược lịch sử Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang, Sđd, tr.115-116).
Xtalin còn vận dụng nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chúng để phân tích xã hội loài người, chỉ đạo sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản, ông chỉ rõ: "Từ sự biến đổi về lượng chậm chạp chuyển sang sự biến đổi về chất nhanh chóng và đột xuất đã là quy luật phát triển, thì rất rõ ràng rằng, cách mạng mà giai cấp bị áp bức tiến hành là hiện tượng hoàn toàn tự nhiên và không thể tránh khỏi. Nghĩa là, quá độ từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân thoát khỏi sự áp bức của chủ nghĩa tư bản, không thể thông qua sự biến đổi chậm chạp, thông qua cải lương để thực hiện, mà chỉ có thể thông qua biến đổi chất của chế độ tư bản chủ nghĩa, thông qua cách mạng để thực hiện. Nghĩa là, muốn không phạm sai lầm về chính trị, thì phải làm nhà cách mạng, chứ đừng làm nhà cải lương chủ nghĩa"1 (Giáo trình sơ lược lịch sử Đảng Cộng sản (Bồnsêvích) toàn Liên bang, Sđd, tr.122-123,123).
Xtalin còn chỉ ra rằng: "Đã là phát triển được tiến hành thông qua sự bộc lộ mâu thuẫn nội tại, thông qua việc khắc phục những mâu thuẫn này trên cơ sở sự xung đột giữa các thế lực đối lập của những mâu thuẫn này, thì rất rõ ràng rằng, đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản là hiện tượng hoàn toàn tự nhiên và không thể tránh khỏi. Nghĩa là, đừng che giấu các loại mâu thuẫn của chế độ tư bản chủ nghĩa, mà phải bộc lộ và vạch trần những mâu thuẫn đó, không được dập tắt đấu tranh giai cấp, mà phải tiến hành đấu tranh giai cấp đến cùng. Nghĩa là, nếu không muốn phạm sai lầm về chính trị, thì phải chấp hành chính sách giai cấp không khoan nhượng của giai cấp vô sản, chứ đừng chấp hành chính sách cải lương chủ nghĩạ khoan nhượng lợi ích giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản, đừng chấp hành chính sách thỏa hiệp để chủ nghĩa tư bản "lấn vào" chủ nghĩa xã hội"2 (Giáo trình sơ lược lịch sử Đảng Cộng sản (Bồnsêvích) toàn Liên bang, Sđd, tr.122-123,123).
Trong thực tiễn cách mạng và xây dựng của chủ nghĩa xã hội, Xtalin đã kiên trì và phát triển lý luận về việc chủ nghĩa xã hội trước hết là thắng lợi ở một nước, tiến hành xây dựng ở một nước, đã đề ra phương châm công nghiệp hóa chủ nghĩa xã hội và tập thể hóa nông nghiệp, đã trình bày lý luận về các vấn đề như đấu tranh giai cấp thời kỳ xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước và đảng cầm quyền. Năm 1952, trong cuồn sách Những vấn đề kinh tế xã hội chủ nghĩa của Liên Xô, đã tổng kết toàn diện kinh nghiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội của Liên Xô, luận giải hữu ích nhiều vấn đề quan trọng của kinh tế chính trị học xã hội chủ nghĩa, làm phong phú và phát triển lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học.
Đương nhiên, một số luận điểm của Xtalin đã đi chệch quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, xa rời chủ nghĩa duy vật biện chứng, rơi vào chủ nghĩa siêu hình và giáo điều, thậm chí có lúc rất nghiêm trọng. Nhưng, là một lãnh tụ cách mạng của giai cấp vô sản thế giới, ông có niềm tin kiên định đối với chủ nghĩa cộng sản, cống hiến to lớn của ông cho sự nghiệp cách mạng của Liên Xô và nhân dân thế giới thì ai cũng thấy rõ, không dễ xóa nhòa. Đúng như Mao Trạch Đông từng nói: "Xtalin là một nhà mácxít - lêninnít vĩ đại, nhưng cũng là nhà mácxít - lêninnít phạm một số sai lầm nghiêm trọng mà không tự coi đó là sai lầm"1 (Văn tập Mao Trạch Đông, Nxb. Nhân dân, 1999, q.7, tr.20). Đến ngay cả Khrushchev, một kẻ chống Xtalin điên cuồng, sau này cũng không thể không thừa nhận rằng: "Bất luận hành động của ông ấy (Xtalin) có khuynh hướng chủ quan thế nào chăng nữa, thì vai trò của ông ấy vẫn là tích cực", "trên con đường chính đi lên của lịch sử, ông ấy vẫn là một nhà mácxít, vẫn là một người trung thành với tư tưởng của chủ nghĩa Mác, ông đã dốc toàn lực vì sự thắng lợi của sự nghiệp của giai cấp công nhân và nhân dân lao động"1 (Khrushchev: Hồi ký Khrushchev (tuyển dịch), Nxb. Văn hiến Khoa học xã hội, 2005, tr.186).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
nhinrathegioi
Thành viên

Bài viết: 1062
|
 |
« Trả lời #163 vào lúc: 20 Tháng Ba, 2022, 07:36:01 am » |
|
2. Thế giới quan của Khrushchev và Brezhnev
Nikita Sergeyevich Khrushchev sinh ngày 17 tháng 4 năm 1894 ở thôn Kalinovka, tỉnh Kursk. Cha mẹ ông đều là những nông dân chất phác. Thời trẻ, ông từng là công nhân mỏ ở Ucraina. Năm 1929, trong thời gian học tập ở Học viện Khoa học Công nghiệp Mátxcơva, Khrushchev làm quen với vợ của Xtalin. Xtalin qua vợ mình biết đến Khrushchev, liền bảo Bí thư thứ nhất: Mátxcơva lúc bây giờ là Kaganovich đề bạt Khrushchev. Sau đó, Khrushchev lần lượt giữa chức Bí thư thứ nhất Mátxcơva, Bí thư thứ nhất Trung ương Ucraina. Năm 1939, ông được bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang, trở thành thành viên trong ban lãnh đạo hạt nhân của Trung ương. Thời kỳ Chiến tranh vệ quốc, ông còn làm ủy viên quân sự trong một phương diện quân tiền, tuyên. Sau chiến tranh, Khrushchev lần lượt giữa các chức Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Ucraina, Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang kiêm Bí thư thứ nhất Mátxcơva.
Trong công tác lãnh đạo, mặc dù Khrushchev phạm phải sai lầm nghiêm trọng, bị Xtalin và Trung ương Đảng phê bình nghiêm khắc, nhưng luôn nhận được sự tín nhiệm và trọng dụng của Xtalin. Tháng 10 năm 1952, tại Đại hội lần thứ XIX Đảng Cộng sản Liên Xô được triệu tập trước khi Xtalin qua đời, ông được bầu làm ủy viên Đoàn Chủ tịch Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô kiêm Bí thư Trung ương, trở thành thành viên lãnh đạo hạt nhân trong ủy ban Thường vụ Đoàn Chủ tịch Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô gồm 5 thành viên, vị trí chỉ đứng sau Xtalin, Malenkov và Beria. Sau khi Xtalin qua đời năm 1953, Đảng Cộng sản Liên Xô trong một thời gian dài nhấn mạnh "lãnh đạo tập thể". Nhưng Khrushchev trải qua đấu tranh trong Đảng gay gắt, đã thanh toán Beria, đánh đổ nhiều người như Malenkov, Kaganovich, Molotov..., đã loại bỏ những kẻ "bất đồng" về chính trị. Đến năm 1957 trong Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô lại hình thành cục diện tập quyền cá nhân Khrushchev.
Mặc dù Khrushchev trưởng thành trong thời đại cách mạng đầy sóng gió, được thử thách trong khói lửa Chiến tranh vệ quốc, nhưng về tư tưởng và hành vi thì lại có một mặt khác. Do sự tu dưỡng chủ nghĩa Mác - Lênin quá kém, lại thiên về quyền thuật, vì vậy ông ta thiếu đi niềm tin kiên định đối với chủ nghĩa Mác; về thế giới quan, ông là người theo chủ nghĩa thực dụng.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là thế giới quan của giai cấp vô sản, là cơ sở lý luận của người cộng sản. Học thuyết đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản là quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử mácxít, là lý luận cơ bản để giai cấp vô sản quan sát và giải quyết các vấn đề cách mạng. Thế nhưng điều được Lênin gọi là "sợi dây mang tính chỉ đạo" quan sát quy luật xã hội loài người ây, là "đá thử vàng" để phân biệt chủ nghĩa Mác thật - giả lại trở nên không có nhiều giá trị đối với Khrushchev. Đối với một số vấn đề quan trọng của lý luận chủ nghĩa Mác, Khrushchev từ chỗ biết qua loa đến biết mơ hồ và cuối cùng là xa rời nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác.
Quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác mách bảo chúng ta rằng: Lãnh tụ của giai cấp vô sản giống như người dân thường, cũng có khuyết điểm, khó tránh khỏi phạm sai lầm. Khuyết điểm và sai lầm của lãnh tụ giai cấp vô sản là có thể phê bình được. Chỉ có như vậy mới có thể giúp cán bộ và quần chúng hiểu lãnh tụ của mình hơn, mới có thể duy trì lòng tin của Đảng và giai cấp công nhân đối với lãnh tụ, đặt mỗi vị lãnh tụ vào một vị trí thích đáng. Nhưng quyết không thể chỉ vì khuyết điểm và sai lầm của lãnh tụ mà đứng trên lập trường thù địch, không đi sâu phân tích toàn diện mà phủ định tất cả đối với lãnh tụ, phủ định toàn bộ công lao lịch sử của lãnh tụ. Phải bằng thái độ của chủ nghĩa duy vật lịch sử để đánh giá một cách thực sự cầu thị công - tội, đúng - sai của lãnh tụ, đưa ra kết luận phù hợp với thực tế, thuận theo lòng dân.
Sự đánh giá của Khrushchev đối với Xtalin là hoàn toàn đi ngược lại với nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử. Xtalin là một nhà cách mạng vĩ đại của giai cấp vô sản, là lãnh tụ được phong trào cộng sản quốc tế công nhận, đồng thời cũng có khuyết điểm và sai lầm nghiêm trọng. Đối với một nhân vật lịch sử có tầm ảnh hưởng quan trọng như vậy ở Liên Xô, trong phe các nước xã hội chủ nghĩa và thậm chí trên toàn thế giới, lẽ ra nên xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử mà tiến hành đánh giá toàn diện một cách khách quan, thận trọng cuộc đời và sự nghiệp xã hội chủ nghĩa do ông lãnh đạo. Thế nhưng, Khrushchev xuất phát từ mục đích cá nhân, một cách không bình thường, chưa thông qua thảo luận trong tập thể Ban Chấp hành Trung ương, mà tập kích đột xuất trong Đại hội XX của Đảng Cộng sản Liên Xô, trọng báo cáo bí mật đã mượn có phê bình sai lầm của Xtalin mà phủ nhận hoàn toàn công trạng của Xtalin. Đem mọi sai lầm, kể cả những sai lầm chưa được kiểm chứng, đổ tất cho một mình Xtalin. Ông đối xử với Xtalin bằng thái độ đối xử với kẻ thù, thậm chí còn tấn công thể xác và nhục mạ. Ông không xuất phát từ bối cảnh lịch sử, từ chế độ và thể chế cụ thể để tìm ra nguyên nhân phạm sai lầm của Xtalin, mà quy kết là do phẩm chất cá nhân Xtalin. Đây là chủ nghĩa duy tâm lịch sử điển hình.
Khrushchev phủ định hoàn toàn Xtalin, thực chất là phủ định chuyên chính vô sản, phủ định nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin mà Xtalin đã bảo vệ và phát triển. Chính trong Đại hội XX của Đảng Cộng sản Liên Xô, Khrushchev bắt đầu quay lưng lại với chủ nghĩa Mác - Lênin trong một loạt vấn đề nguyên tắc. Ông ta coi cái gọi là tư tưởng "tam hòa" gồm "chung sống hòa bình", "quá độ hòa bình", "cạnh tranh hộa bình" là đường lối chung của chính sách đối ngoại của nhà nước xã hội chủ nghĩa, cho rằng như vậy là có thể "tấn công mang tính hủy diệt" đối với toàn bộ mối quan hệ của chủ nghĩa tư bản, có thể thực hiện chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới. Nếu đó không phải là âm mưu và lừa dôi thi cũng là điều lố bịch nực cười. Trong điều kiện quốc tế bây giờ vẫn tồn tại giai cấp và đấu tranh giai cấp thì điều đó đã hoàn toàn quay lung với học thuyết đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác.
Tại Đại hội XXII của Đảng Cộng sản Liên Xô năm 1961, Khrushchev lại ngang nhiên đưa ra cái gọi là lý luận "đảng toàn dân" và "nhà nước toàn dân", thay đổi tính chất của Đảng Cộng sản Liên Xô từ chính đảng của giai cấp vô sản thành "đảng toàn dân", từ đó đã thực sự quay lưng với học thuyết về giai cấp và nhà nước của chủ nghĩa Mác. Trong xã hội giai cấp, mọi chính đảng đều mang tính giai cấp, đều là đại biểu của một giai cấp nhất định. Tính chất của bất cứ chính đảng nào đều không thể mang tính toàn dân, cái gọi là "đảng toàn dân" là không hề tồn tại. Nhà nước là công cụ để giai cấp thống trị thực hiện áp bức giai cấp trong xã hội có giai cãp, cái gọi là "nhà nước toàn dân" cũng không hề tồn tại. Chỉ sau khi tất cả các giai cấp bị xóa bỏ triệt để, chính đảng mới theo đó mà mất đi, mới có thể thực hiện nhà nước toàn dân đúng theo ý nghĩa của nó, tức là không có nhà nước.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
nhinrathegioi
Thành viên

Bài viết: 1062
|
 |
« Trả lời #164 vào lúc: 20 Tháng Ba, 2022, 07:36:40 am » |
|
Không còn nghi ngờ gì nữa, sau khi Đảng Cộng sản cầm quyền, vừa phải đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân, đồng thời cũng phải đại diện cho lợi ích của các tầng lớp nhân dân lao động khác, thậm chí còn phải quan tâm đến lợi ích của nhân dân phi lao động khác, việc củng cố cơ sở cầm quyền của đảng, xây dựng một xã hội hài hòa, hòa mục là hoàn toàn cần thiết. Nhưng tính quần chúng và tính rộng rãi của chủ thể lợi ích mà Đảng Cộng sản đại diện thì không thể xóa mờ tính giai cấp của đảng. Ăngghen từng nói, chính đảng công nhân "trừ phi có tính chất của giai cấp công nhân rõ ràng, nếu không thì không thể giành được thành tựu thực sự. Vứt bỏ đi tính chất này thì chỉ là phe phái tôn giáo và lừa dối"1 (Mác - Ăngghen: Toàn tập, Sđd, q.25, tr.522).
Trong Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Liên Xô được thông qua tại Đại hội XXII đã xóa bỏ "chuyên chính vô sản" - tư tưởng cốt lõi của chủ nghĩa Mác, thay vào đó là chủ nghĩa nhân đạo trừu tượng, đồng thời cho rằng Cương lĩnh mới này là "văn kiện của chủ nghĩa nhân đạo cộng sản chân chính", xuyên suốt "tư tưởng hòa bình và tình hữu nghị anh em giữa nhân dân các nước", xã hội tương lai "sẽ là một xã hội tràn đầy hòa bình, lao động, tự do, bình đẳng, bác ái"2 (Văn kiện chính Đại hội đại biểu lần thứ XXII Đảng Cộng sản Liên Xô, Nxb. Nhân dân, 1961, tr.299). Mọi người đều biết trong thời kỳ cách mạng dân chủ tư sản, các nhà cách mạng tư sản đã lấy chủ nghĩa nhân đạo làm vũ khí đấu tranh chống phong kiến, có ý nghĩa tiến bộ, có tác dụng tích cực trong điều kiện lịch sử lúc đó, đương nhiên tính hạn chế lịch sử cũng rất rõ rệt. Trong điều kiện chủ nghĩa xã hội, nêu lại gọi về vong linh của ý thức hệ tư sản, ca ngợi chủ nghĩa nhân đạo trừu tượng không có phân biệt, thậm chí coi chủ nghĩa nhân đạo là cương lĩnh mà Đảng phải thực hiện, coi đó là động lực và mục tiêu phát triển chủ nghĩa xã hội, thì đó là quan điểm lịch sử duy tâm, là bước lùi lớn của lịch sử.
Những lời nói và việc làm trên của Khrushchev đã làm rối loạn tư tưởng của đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô và nhân dân Liên Xô, đã khơi dòng cho Gorbachev đi theo chủ nghĩa duy tâm lịch sử và chủ nghĩa hư vô lịch sử, phủ định hoàn toàn Xtalin và lịch sử của Đảng Cộng sản Liên Xô. Có thể nói, kể từ Khrushchev Đảng Cộng sản Liên Xô dần dần xa rời, đi ngược lại, thậm chí phản bội một số nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác, làm cho Liên Xô bắt đầu đi chệch phương hướng đúng đắn của chủ nghĩa xã hội, đã trở thành cội nguồn lý luận của đường lối "chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo" của Gorbachev, gieo mầm tai họa dân đến Đảng Cộng sản Liên Xô sụp đổ, Liên Xô tan rã.
Ngày 14 tháng 10 năm 1964, trở về Mátxcơva sau kỳ nghỉ, Khrushchev đã chủ trì Hội nghị Đoàn Chủ tịch Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Trong hội nghị, thành viên Đoàn Chủ tịch cũng đã dùng thủ đoạn như khi Khrushchev chống Xtalin trong Báo cáo bí mật với cách tập kích bất ngờ, đã chỉ trích và phê bình kịch liệt những sai phạm trong chính sách đốỉ nội và đối ngoại của Khrushchev, đồng thời ép ông ta đồng ý "tự nguyện nghỉ hưu". Khrushchev đành phải ký vào đơn xin từ chức đã được chuẩn bị sẵn.
Lãnh đạo mới thay thế Khrushchev là Brezhnev. Leonid Ilych Brezhnev sinh ngày 19 tháng 12 năm 1906 trong một gia đình công nhân ở thị trấn Kamensk, Ucraina. Ông đã trải qua thời niên thiếu trong Cách mạng Tháng Mười Nga, hoàn thành việc học tập trong thời kỳ Xtalin, đồng thời làm công tác lãnh đạo quản lý kỹ thuật về nông nghiệp và công nghiệp. Trong Chiến tranh vệ quốc, ông làm lãnh đạo trong quân đội, đã trải qua những năm tháng chiến tranh, sau khi chiến tranh kết thúc liên tục làm công tác lãnh đạo Đảng ở địa phương. Sau khi Khrushchev trở thành lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô, vì ủng hộ Khrushchev mà ông đã thăng quan tiên chức thuận lợi. Năm 1960, ông đảm nhiệm vị trí Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xôviết tối cao Liên Xô; năm 1963, lại làm Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, trở thành nhân vật thứ 2 trong Đảng. Sau khi Khrushchev bị hạ bệ, ông được tiến cử thành Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô.
Brezhnev tuy đã điều chỉnh và sửa chữa một số sai lầm thời Khrushchev, tiến hành cải cách ở một số lĩnh vực, đã đưa ra một số chính sách mới, nhưng do ngày thường ông không đọc sách đọc báo và tu dưỡng chủ nghĩa Mác - Lênin quá kém, không những thiếu niềm tin đối với chủ nghĩa cộng sản, mà năng lực công tác cũng rất kém. Ông ta không thể đưa ra sáng kiến đối với những vấn đề quan trọng. Liên quan đến vấn đề lý luận chủ nghĩa Mác, ông đã sửa chữa ở mức độ nhất định những lệch lạc của Khrushchev, nhưng cơ bản là vẫn đi theo những quan điểm sai lầm của Khrushchev. Hiến pháp mới tháng 10 năm 1977 vẫn đưa vào các khái niệm giả dối "nhà nước toàn dân", "đảng toàn dân", còn cho rằng "Nhà nước Xôviết đã hoàn thành nhiệm vụ chuyên chính vô sản, đã trở thành nhà nước toàn dân", "vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô - đội tiên phong của toàn thể nhân dân đã được tăng cường".
Trong thời kỳ cầm quyền của Brezhnev, tình hình đấu tranh giai cấp trong và ngoài Liên Xô hết sức phức tạp, có lúc rất kịch liệt. Trên trường quốc tế các nước phương Tây đang ra sức tiến hành diễn biến hòa bình và thâm nhập đối với Liên Xô, ở trong nước, Liên Xô cũng xuất hiện cái gọi là "người bất đồng chính kiến". Một số người cầm đầu trong số họ đã trở thành những người đi đầu tích cực hợp tác với các hành vi của phương Tây, sùng bái chế độ tư bản chủ nghĩa, cổ xúy tự do hóa tư sản, làm tổn hại nghiêm trọng hình ảnh chủ nghĩa xã hội. Lúc đó, trong Đảng Cộng sản Liên Xô cuối cùng đã hình thành một tầng lớp đặc quyền. Những người này lợi dụng quyền lực trong tay thực thi đặc quyền, tiêu xài vô tội vạ tiền tài nhà nước, xa rời quần chúng nghiêm trọng, dần dần đứng về phía đối lập với nhân dân. Những kẻ thoái hóa, biến chất ẩn núp trong thể chế bề ngoài nói bảo vệ chủ nghĩa xã hội, có lúc còn hết lời ca ngợi, nhưng trong thâm tâm thì luôn trong hướng thăm dò. Một khi thời cơ đã chín muồi, họ sẽ lộ rõ nguyên hình, công khai chống Đảng Cộng sản, chống chủ nghĩa xã hội. Giống như Gorbachev, Yeltsin, Yakovlev, Shevardnadze..., họ đều trưởng thành trong thời kỳ Brezhnev, sau này trở thành cơ sở xã hội lật đổ Đảng Cộng sản Liên Xô và chế độ xã hội chủ nghĩa Liên Xô.
Lúc bây giờ, tư tưởng cộng sản chủ nghĩa của lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô ngày càng nhạt nhòa. Họ hài lòng với thực trạng, phản đối cải cách, về lý luận thì bảo thủ cứng nhắc, có thái độ giáo điều đối với chủ nghĩa Mác. Brezhnev ở cuối thời kỳ cầm quyền, tuy trên miệng lưỡi vẫn luôn nói Đảng Cộng sản Liên Xô đại diện cho lợi ích của toàn thể nhân dân Liên Xô, vì nhân dân Liên Xô phục vụ, nhưng tất cả đều là những lời nói sáo rỗng, thời thượng. Bản thân Brezhnev là đại diện cao nhất cho giai tầng đặc quyền xa rời quần chúng nhân dân một cách nghiêm trọng. Như vậy, Đảng Cộng sản Liên Xô ngày càng xa rời quần chúng, đồng thời mất đi tính tiên phong của Đảng, từ đó mất đi cơ sở cầm quyền của Đảng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
nhinrathegioi
Thành viên

Bài viết: 1062
|
 |
« Trả lời #165 vào lúc: 20 Tháng Ba, 2022, 07:38:10 am » |
|
3. Gorbachev triệt để vứt bỏ niềm tin đối với chủ nghĩa Mác
Sau khi Brezhnev qua đời, Đảng Cộng sản Liên Xô đã trải qua thời quá độ ngắn dưới sự lãnh đạo của Yuri Andropov và Chernenko. Đến tháng 3 năm 1985, quyền lãnh đạo tối cao được chuyển cho Ban lãnh đạo mới đứng đầu là Gorbachev.
Mikhail Sergeyevich Gorbachev sinh ngày 2 tháng 3 năm 1931 trong một gia đình nông dân ở thành phố Stavropol thuộc vùng biên cương phía bắc Caucasus. Ông tốt nghiệp Đại học Quốc gia Mátxcơva, có thời gian dài làm công tác Đảng. Năm 1966, ông được bầu làm Bí thư thứ nhất Thành ủy Stavropol; năm 1970, làm Bí thư thứ nhất Đảng ủy khu vực biên cương Stavropol, đồng thời chiếm được cảm tình của Brezhnev. Theo sự bố trí của Brezhnev, từ năm 1971 ông là Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, năm 1978 làm Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô phụ trách nông nghiệp, năm 1980 được bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô. Tháng 11 năm 1982, sau khi Brezhnev qua đời, được sự bổ nhiệm của Tổng Bí thư Andropov, ông phụ trách công tác ý thức hệ với tư cách là Ủy viên Bộ Chính trị và Bí thư Trung ương. Tháng 2 năm 1984, sau khi Andropov qua đời, Chernenko làm Tổng Bí thư, Chernenko già yếu thường để Gorbachev thay mình thực hiện chức trách của Tổng Bí thư. Ngày 10 tháng 3 năm 1985, Chernenko mất. Ngày 11 tháng 3, Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô họp Hội nghị toàn thể bất thường, bầu Gorbachev làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô.
Gorbachev xuất thân từ nông dân, con đường quan lộ trên chính trường hanh thông, bước thẳng lên đỉnh cao quyền lực. Một mặt, ông là kẻ được hưởng lợi trong chế độ mà ông gọi là "chủ nghĩa toàn trị"; nhưng mặt khác, chế độ đó lại không để lại cho ông ấn tượng tốt đẹp. Trong ký ức của ông chỉ có hàng đống vấn đề. Xem ra đối với ông, chỉ có đánh đổ triệt để cái chế độ đó mới thực hiện được lý tưởng chính trị trong lòng. Cách nhìn này đã có từ lâu, xuyên suốt tâm can Gorbachev. Tư tưởng mâu thuẫn đó đã trải qua một quá trình chuyến đổi phức tạp.
Thời niên thiếu của Gorbachev đúng vào lúc Liên Xô có những thay đổi to lớn. Theo lời kể của Gorbachev, phong trào "thanh trừng" trong những năm 30 của thế kỷ XX đã lây lan đến cả những thành viên trong gia đình ông. Một người là ông nội Andrey Moiseyevich Gorbachev. Ong từng tham gia Chiến tranh thế giới thứ nhất, trở về quê làm nghề nông sau khi chiến tranh kết thúc. Trong phong trào tập thể hóa nông nghiệp, ông đã cự tuyệt tập thể hóa, chỉ là nông dân cá thể. Mùa xuân năm 1934, ông bị bắt do chưa hoàn thành kế hoạch trồng cây, bị đày đến Irkutsk, sau do cải tạo lao động tốt nên năm 1935 ông được thả tự do. Một người khác là ông ngoại của Gorbachev - Pantelei. Ông là đảng viên Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang, trong những năm 30 của thế kỷ XX, ông làm chủ nhiệm nông trang tập thể ở địa phương. Trong cuộc "đại thanh trừng" năm 1937-1938, ông bị bức hại và bị bắt với lý do ông là người lãnh đạo "tổ chức phản cách mạng Trotsky cánh hữu", sau do chứng cứ không đầy đủ nên ông được thả. Sau khi được thả, ông đã được đối xử tử tế, ông không oán trách chính quyền Xôviết, mà còn nỗ lực làm việc. Năm 1939, ông được bầu lại làm chủ tịch nông trang tập thể. Năm 1953 ông qua đời, hưởng thọ 59 tuổi1 (Tham khảo Thuật Thao (biên dịch): Hđi ký Gorbachev, Sđd, t.1, tr.33, 35-37).
Những vấn đề về chính trị mà ông nội và ông ngoại gặp phải đã để lại bóng đen trong tâm hồn thời niên thiếu của Gorbachev. Sau này trong hồi ký, ông có viết, khi ông ngoại bị bắt, thậm chí là sau khi đã được thả, hàng xóm và trẻ con hàng xóm đều coi ông ấy và gia đình ông ấy như kẻ thù, "tất cả điều đó đều làm cho tôi kinh ngạc, hơn nữa là cả đời không thể nào quên"1 (Tham khảo Thuật Thao (biên dịch): Hồi ký Gorbachev, Sđd, t.1, tr.64, 32). Những việc đó cũng đã ảnh hưởng đến sự trưởng thành của Gorbachev, trở thành vấn đề lịch sử mà ông muốn lý giải khi bước vào đại học. Ông nhớ lại: "Trước khi vào Đảng, tôi đứng trước một vấn đề: Viết trong lý lịch như thế nào về việc ông nội và ông ngoại bị thanh trừng? Ông ngoại Pantelei nói chưa bị xét xử, nhưng lại phải ngồi tù 14 năm. Ông nội Andrey cũng không bị xét xử nhưng bị lưu đày đến Siberia làm khổ sai". Gorbachev đã phải "trình bày một bài dài về toàn bộ quá trình liên quan đến vấn đề của ông nội và ông ngoại tại cuộc họp Đảng ủỵ, sau đó tại cuộc họp Đảng ủy khu Lênin"2 (Tham khảo Thuật Thao (biên dịch): Hồi ký Gorbachev, Sđd, t.1, tr.64, 32). Những thăng trầm của các thành viên trong gia tộc tự nhiên ảnh hưởng đến sự nhận thức của Gorbachev đối với những vấn đề như tập thể hóa nông nghiệp, "đại thanh trừng", v.v. trong thời Xtalin, ảnh hưởng đến sự đánh giá của ông đối với Xtalin và thời đại lúc bấy giờ.
Sau khi tốt nghiệp trung học năm 1950, Gorbachev được tuyển vào khoa Luật trường Đại học Mátxcava, bắt đầu cuộc sống 5 năm đại học. Đây là thời kỳ ầp ủ một sự biến động và bước ngoặt trước và sau sự qua đời của Xtalin. Lúc đó phương Tây ra sức thúc đẩy "diễn biến hòa bình" đối với Liên Xô, lợi dụng phương tiện thông tin đại chúng ngang nhiên tuyên truyền tư tưởng tự do dân chủ và quan niệm giá trị của phương Tây. Bên trong Liên Xô, những mâu thuẫn và vấn đề tích tụ lâu dài ngày càng nhiều, sự bất mãn với hiện thực của một số người tăng lên, họ yêu cầu thay đổi hiện trạng và chủ động tiếp thu tư tưởng và quan niệm của phương Tây.
Trong thời kỳ này, Gorbachev đã đọc những sách mà trước kia không đọc được, bắt đầu tiếp thu quan điểm của phương Tây. Ông còn tham gia các cuộc míttinh của sinh viên, trong míttinh phát biểu ca ngợi tự do dân chủ và công kích những căn bệnh của thời đại với những từ ngữ rất gay gắt. Ông đã nhận xét hệ thống và nội dung giáo dục đại học lúc bây giờ là: "Không khí thời đó là ý thức hệ hóa ở mức cực độ. Cũng như trên cả nước, Giáo trình sơ lược lịch sử Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang của Xtalin được coi là công thức quý báu, thịnh hành khắp nơi, trở thành quy chuẩn của tư tưởng khoa học. Xem ra, mục đích của quá trình dạy học chính là nhằm trói buộc tư tưởng của thanh niên ngay từ khi mới vào học, nhồi nhét một cách cứng nhắc cho họ một mớ chân lý không thể phản bác, khiến họ miễn dịch trước sức quyến rũ của tư duy, phân tích và so sánh độc lập. Sự kìm kẹp về tư tưởng, ở một mức độ nào đó, thể hiện ngay trong bài giảng, việc thảo luận trên lớp và tranh luận trong các dạ hội của học sinh"1 (Tham khảo Thuật Thao (biên dịch): Hồi ký Gorbachev, Sđd, quyển thượng, tr.61-63, 63-64).
Đồng thời, Gorbachev bắt đầu nghi ngờ tính khoa học của chủ nghĩa Mác. Ông từng nói: ''Những tác giả đầu tiên khiến tôi nghi ngờ về tính không thể phản bác của chân lý cuối cùng mà chúng tôi được giáo dục lại chính là Mác, Ăngghen, Lênin, thực sự là như vậy". "Càng đọc kỹ những tác phẩm của các tác giả kinh điển, tôi càng tư duy sâu sắc hơn về (có hay không) tính thống nhất giữa quan niệm của họ về chủ nghĩa xã hội với đời sống thực tế của đất nước chúng ta"2 (Tham khảo Thuật Thao (biên dịch): Hồi ký Gorbachev, Sđd, quyển thượng, tr.61-63, 63-64). "Hiện thực sống động đã hằn sâu vào cả đời đi học của tôi, ngay cả những quan niệm xã hội được tuyên truyền trong sách vở cũng trở nên mờ nhạt, mỏng manh, chạm vào là vỡ trước cuộc sống hiện thực". "Càng nhiều tuổi, tôi càng hiểu rõ hơn về các kiểu lát cắt lịch sử, bởi vậy, nghi vấn của tôi cũng ngày càng lớn hơn". Sau này, ông nói thẳng ra rằng: "Động cơ của việc mong đợi và phát động phong trào cải tổ xuất phát từ 'mong muốn biến hiện thực và lý tưởng trở nên thống nhất với nhau'! Xét lại 'sự biến thể của chủ nghĩa xã hội'! Đây là một kiểu viễn cảnh và kỳ vọng được hình thành ngay trong thế hệ chúng tôi khi còn là sinh viên"1 ([Nga] Gorbachev, [Nhật] Daisaku Ikeda: Bài học tinh thần của thế kỷ XX, Sđd, tr.15, 113-114, 116-117).
Vào thời điểm Đại hội XX của Đảng Cộng sản Liên Xô, Gorbachev 25 tuổi, mới tốt nghiệp đại học không lâu, đang ở vào giai đoạn quan trọng hình thành thế giới quan, nhân sinh quan và giá trị quan. Các lý luận sai lầm mà Khrushchev đưa ra đã để lại dấu ấn sâu sắc với Gorbachev trong quá trình trưởng thành về tư tưởng, đã làm lung lay, thậm chí làm sụp đổ lý tưởng của ông đối với chủ nghĩa cộng sản và niềm tin vào con đường xã hội chủ nghĩa. Với lịch sử gia đình đặc biệt, ông có sự lĩnh hội sâu sắc hơn và chuyển biến tư tưởng nhanh hơn với Báo cáo bí mật của Khrushchev mà trong đó đã phủ nhận hoàn toàn Xtalin, phủ nhận lịch sử của Đảng. Ông nói: "Tôi cũng như nhiều người khác, tán thành niềm kỳ vọng dấy lên trong xã hội ta sau Đại hội XX, cho rằng đây là cơ hội quan trọng của cá nhân tôi và những người cùng trang lứa". "Đối với lịch sử và nền đại chính trị, hậu quả thực tế qua hành vi chính trị của ông ấy (Khrushchev - ND.) có ý nghĩa rất quan trọng... Sự phê phán ấy khiến chủ nghĩa toàn trị mất hết uy tín về đạo đức, khơi dậy niềm hy vọng cải tổ thể chế có vai trò thúc đẩy đối với sự phát triển của quá trình mới trong lĩnh vực chính trị, kinh tế và đời sống tinh thần", "bất kể ý muốn chủ quan của Khrushchev là như thế nào, xét về ý nghĩa, nó như đợt tấn công đầu tiên vào thể chế toàn trị, là đợt thử nghiệm đầu tiên để xã hội ta hướng đến nền dân chủ"1 (Tham khảo Thuật Thao (biên dịch): Hồi ký Gorbachev, Sđd, t.1, tr.97, 99, 103). Tuy nhiên, Báo cáo bí mật vẫn có chỗ khiến Gorbachev bất mãn. Ông cho rằng Khrushchev phủ nhận Xtalin chưa triệt để, chưa xuất phát từ gốc rễ chế độ để phê phán "kẻ theo chủ nghĩa toàn trị" này.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
nhinrathegioi
Thành viên

Bài viết: 1062
|
 |
« Trả lời #166 vào lúc: 20 Tháng Ba, 2022, 07:39:36 am » |
|
Những vấn đề trong thời đại Brezhnev khiến Gorbachev càng kiên định phải kết thúc chủ nghĩa xã hội tại Liên Xô. Mặc dù Brezhnev là người đóng vai trò thúc đẩy quan trọng giúp Gorbachev bước vào Điện Kremlin, nhưng vị Tổng Bí thư này không hề để lại cho ông ấn tượng tốt đẹp nào. Vì vậy, ông quyết tâm phải cải tổ và lật độ chế độ này.
Sau khi Chernenko qua đời, vào đêm trước ngày Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô tiến hành bầu cử, tức là ngày 10 tháng 3 năm 1985, Gorbachev về nhà sau khi họp Bộ Chính trị xong, chia sẻ với vợ những lời đau đáu trong lòng. Căn cứ theo hồi ức của Raisa, khi đó ông nói, "ngày mai sẽ tổ chức Hội nghị Trung ương, có thể sẽ đặt vấn đề để anh làm lãnh đạo Đảng". Nói xong, ông trầm tư rồi lại tự nói với mình: "Công tác nhiều năm tại Stavropol, rồi đến Mátxcơva làm việc 7 năm, vậy mà không giải quyết được vấn đề chín muồi trọng đại nào. Dường như tồn tại một bức tường. Cuộc sống đã đặt ra yêu cầu từ sớm rồi!". Cuối cùng ông nói: "Không, không thể cứ tiếp tục sống như vậy được nữa"2 (Raisa Gorbachev: Hy vọng của tôi (Hồi ký), Sđd, tr.7). Trong hồi ký, Gorbachev cũng đề cập lần nói chuyện trên giữa ông với vợ1 (Tham khảo Thuật Thao (biên dịch): Hồi ký Gorbachev, Sđd, t.1, tr.306). Đoạn bộc bạch nội tâm này cho thấy, đây là con người luôn muốn phá hoại từ bên trong chế độ mà ông căm ghét, cảm thấy bất mãn bởi bản thân nhiều năm không làm nên chuyện gì, không thể chịu đựng cuộc sống dưới chế độ này nữa. Ông cảm thấy thời cơ sắp đến, đã tới lúc phải hành động.
Hành động này chính là việc sau khi trở thành Tổng Bí thư, ông từng bước hủy hoại chế độ xã hội chủ nghĩa, mà việc giương ngọn cờ ''chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo" chính là con đường tốt nhất, vừa có thể lừa dối người khác, vừa đạt được mục tỉêu chính trị của mình. Đối với Gorbachev, "phải cải tạo căn bản toàn bộ tòa nhà xã hội của chúng ta: từ nền tảng kinh tế đến thượng tầng kiến trúc"2 (Gorbachev: "Tư tưởng chủ nghĩa xã hội và thay đổi mang tính cải cách", Báo Sự thật, ngày 26-11-1989. Tham khảo Vưang Chính Tuyền (chủ biên): Đại sự ký Liên Xô - Đông Âu, Sđd, tr.199), "cần phải đập tan ý thức hệ của chủ nghĩa Xtalin và tất cả mọi thứ có liên quan"3 (Bài phát biểu của Gorbachev tại Lítva ngày 11-1-1990, tham khảo Vương Chính Tuyền (chủ biên): Đại sự ký Liên Xô - Đông Ấu, Sđd, tr.229), "mô hình áp đặt lên Đảng và xã hội mấy chục năm qua đã thất bại về chiến lược"4 (Bài phát biểu bế mạc của Gorbachev tại Hội nghị Trưng ương Đảng Cộng sản Liên Xô ngày 26-7-1991, Itar-Tass, điện từ Mátxcơva). Ông cho rằng, lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin tồn tại "tính hạn chế", Lênin "căn bản không có một cương lĩnh hoàn chỉnh về xây dựng chủ nghĩa xã hội", bởi vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin không thể trở thành tư tưởng chỉ đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Liên Xô. Ông còn cho rằng, chủ nghĩa xã hội của Liên Xô là "chủ nghĩa xã hội bị thay hình đổi dạng", là "chủ nghĩa xã hội bị bóp méo" nghiêm trọng5 (Bài phát biểu của Gorbachev tại Đại hội XIX Đảng Cộng sản Liên Xô, ngày 28-6-1988), là chủ nghĩa xã hội "toàn trị", "chuyên chế", "quan liêu". Bởi vậy, nhiệm vụ và mục tiêu của cải tổ chính là lật đổ triệt để chế độ này, thực hiện "chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo" tại Liên Xô.
Nếu như thái độ đối với chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa cộng sản của Gorbachev khi còn đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo còn có phần kiêng kị, che giấu, thì sau khi từ chức ông đã bộc lộ rõ nội tâm của mình.
Từ năm 1993, trong thời gian một năm rưỡi, Gorbachev có nhiều lần đối thoại với nhà hoạt động xã hội Nhật Bản Daisaku Ikeda. Trong đối thoại, ông nói: "Ngay từ thời sinh viên, tôi đã phát hiện hiện thực và lý tưởng của chủ nghĩa xã hội cách nhau cả trăm nghìn dặm"1 ([Nga] Gorbachev, [Nhật] Daisaku Ikeda: Bài học tinh thần của thế kỷ XX, Sđd, tr.116, 384-385). "Về bản chất, ý nghĩa căn bản của cái gọi là chủ nghĩa xã hội mà tôi hiểu, bản thân nó chính là một loại tư tưởng bình đẳng tuyệt đối và hoàn toàn, đặc biệt là bình đẳng về kinh tế. Triệt tiêu giai cấp, khắc phục khoảng cảch giữa lao động trí óc và lao động chân tay, triệt tiêu thị trường cũng như hàng hóa = quan hệ tiền tệ, tất cả những điều này đều là một kết quả về lý luận được suy ra từ tư tưởng bình đẳng tổng thể và 'hoàn toàn' mà Lênin thường nói". "Đối với cá nhân tôi, đã có nhiều năm hoạt động chính trị, vì vậy tôi cũng hiểu rất rõ bình đẳng hoàn toàn và tuyệt đối là điều không thể thực hiện được. Từ đó về sau, quan niệm về chủ nghĩa xã hội của tôi đã thay đổi". Ông còn nói: "Bi kịch của nước Nga chính là ở chỗ tư tưởng đã chết của Tây Âu giai đoạn cuối đời Các Mác đã được nước Nga đầu thế kỷ XX lựa chọn"; chủ nghĩa cộng sản "là một loại khẩu hiệu gần như không thể thực hiện được"2 ([Nga] Gorbachev, [Nhật] Daisaku Ikeda: Bài học tinh thần của thế kỷ XX, Sđd, tr.116, 384-385).
Ngày 14 tháng 12 năm 1991, đêm trước ngày quốc kỳ Liên Xô tại Điện Kremlin bị kéo hạ, Gorbachev nói với phóng viên của tạp chí Time: "Nếu chỉ nói đến công việc của tôi, mục tiêu chính của cả cuộc đời tôi đã thực hiện được. Tôi cảm thấy bình an"1 (Hoàng Hùng, Kỷ Ngọc Tường: Phóng sự 7 năm 'cải tổ' của Liên Xô cũ, Sđd, tr.717). Sau này, Gorbachev còn nói thêm về mục đích sống cũng như cách nhìn về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản2 (Có tài liệu cho biết, trong một bài phát biểu tại một trường đại học ở Ankara, Thổ Nhĩ Kỳ năm 1999, Gorbachev từng nói: "Mục đích của cuộc đời tôi là tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản đã tiến hành nền thống trị độc tài không thể chấp nhận nổi đối với người dân. Vợ tôi đã giúp kiên định niềm tin của tôi về vấn đề này, quan điểm này của bà ấy hình thành sớm hơn tôi. Chỉ khi tôi đã ở vị trí cao, mới có thể phát huy tác dụng lớn nhát. Bởi vậy, vợ tôi muốn tôi không ngừng nỗ lực leo lên vị trí cao. Khi trực tiếp biết đến phương Tây, quyết định của tôi không còn có thể thay đổi được nữa. Tôi phải thanh toán toàn bộ nền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô và Liên Xô, tôi phải thanh toán sự lãnh đạo của tất cả các quốc gia xã hội chủ nghĩa. Lý tưởng của tôi là đi theo con đường của Đảng Dân chủ xã hội". Ông còn nói: "Khi Yeltsin giải tán Liên Xô và tôi rời Điện Kremlin, hàng trăm nhà báo nghĩ rằng tôi sẽ khóc. Tôi đã không khóc, bởi mục đích chính của cuộc đời tôi đã đạt được". Xem thêm: Gorbachev: "Mục đích của cuộc đời tôi chính là tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản", Nghiên cứu chính trị học, số 1 năm 2001. Bản gốc đăng tại tạp chí Dialog của Tiệp Khắc số 146 năm 1999, và được đăng ở báo Ánh sáng của Xlôvakia, số 24 năm 1999, đăng lại ở báo Nước Nga Xôviết, ngày 19-8-2000. Sau khi được đăng tải, một số học giả trong và ngoài nước bày tỏ hoài nghi về tính chân thực của bài báo trên. Nhưng mọi người đều thấy, tư tưởng mà bài báo đề cập hoàn toàn phù hợp với thế giới quan và mọi hành động của Gorbachev. Ngoài ra, một lãnh đạo chủ chốt của sự kiện ngày 19-8 trong một lần nói chuyện nội bộ vào tháng 4-2002, từng khẳng định rõ ràng là có bài phát biểu đó. Ông này cho biết: "Gorbachev không chỉ có một bộ mặt mà có đến ba, bốn bộ mặt. Mấy năm trước, Gorbachev trong bài phát biểu tại Ankara từng nói, mục đích của đời ông ta chính là hủy diệt chính quyền Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản. Bài phát biểu đó đã được đăng báo").
Lãnh tụ của một chính đảng giai cấp vô sản lại mất đi niềm tin với chủ nghĩa Mác, đây là điều khiến người ta phải kinh ngạc. Lãnh tụ như vậy, tất nhiên không thể bảo vệ cho lợi ích của giai cấp vô sản, tất nhiên sẽ phản bội Đảng, phản bội nhân dân, sẽ trở thành kẻ thù của nhân dân, tội đổ của lịch sử!
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
nhinrathegioi
Thành viên

Bài viết: 1062
|
 |
« Trả lời #167 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2022, 07:10:00 am » |
|
II. TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN CỦA TẬP THỂ LÃNH ĐẠO ĐẢNG CỘNG SẢN LIÊN XÔ
Lãnh tụ của cách mạng vô sản và chính đảng giai cấp vô sản, không những phải có niềm tin và sự theo đuổi kiên định với chủ nghĩa Mác, với chủ nghĩa cộng sản, mà còn phải có trình độ lý luận cao về chủ nghĩa Mác, cũng như biết kết hợp, vận dụng với thực tế và phát triển chủ nghĩa Mác.
Nhà lý luận của cách mạng vô sản và chính đảng giai cấp vô sản phải là một nhà lý luận như sau: Họ thực sự hiểu bản chất của chủ nghĩa Mác, có thể liên hệ lý luận với thực tế, căn cứ theo lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác, giải thích và giải quyết chính xác những vấn đề thực tế nảy sinh trong lịch sử, trong cách mạng và trong quá trình xây dựng đất nước mình, phát triển một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác. Tập trung vào sự vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác, tập trung vào tư duy lý luận với các vấn đề thực tế, tập trung vào thực tiễn mới và phát triển mới. Đây phải là thái độ cơ bản của lãnh tự giai cấp vô sản đối với chủ nghĩa Mác, cũng là trách nhiệm mà thời đại trao cho người lãnh tụ.
1. Trình độ lý luận chủ nghĩa Mác của Lênin và Xtalin
Lênin xứng tầm là nhà lý luận vĩ đại của chủ nghĩa Mác. Ông không chỉ nắm vững những quan điểm lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác, mà còn thuận theo trào lưu thời đại, nhu cầu cách mạng cũng như thực tế phát triển, nhìn nhận chủ nghĩa Mác một cách khoa học. Vào giai đoạn giao thời giữa hai thế kỷ XIX và XX, ông đã kết hợp một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác với đặc trưng của thời đại và thực tế cách mạng nước Nga, đưa ra thuyết "thắng lợi ở một nước" của chủ nghĩa xã hội, đưa chủ nghĩa Mác của thời đại tư bản tự do trở thành chủ nghĩa Mác của thời đại đế quốc, tức là giai đoạn chủ nghĩa Lênin.
Năm 1899, trong bài viết "Cương lĩnh của chúng ta", Lênin từng chỉ ra rằng, "chúng ta quyết không nhìn nhận lý luận của chủ nghĩa Mác như điều vĩnh viễn không đổi và thiêng liêng không thể xâm phạm; mà ngược lại, chúng ta tin tưởng sâu sắc rằng: nó chỉ đặt nền tảng cho một môn khoa học, những người đảng xã hội nếu như không muốn lạc hậu với cuộc sống thực tế thì cần phải thúc đẩy môn khoa học này tiến về phía trước trên các lĩnh vực"1 (Lênin: Tuyển tập, Sđd, q.1, tr.274). Người còn nói, đối với những người đảng xã hội của nước Nga, đặc biệt cần tìm tòi, nghiên cứu một cách độc lập lý luận của chủ nghĩa Mác, bởi đó không chỉ là những nguyên lý chỉ đạo tổng thể, mà sự vận dụng cụ thể những nguyên lý này ở Anh khác với ở Pháp, ở Pháp khác với ở Đức, ở Đức lại khác với ở Nga.
Thuyết "thắng lợi ở một nước" và cái gọi là thuyết "chủ nghĩa siêu đế quốc" mà Kautsky của Quốc tế II đưa ra sau khi Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra có sự khác biệt rõ rệt. Kautsky mộng tưởng chỉ cần tư bản tài chính quốc tế hợp lại thành một nhóm độc quyền thống nhất toàn thế giới, thì có thể "loại trừ những mâu thuẫn của chủ nghĩa đế quốc", có thể thực hiện "hòa bình lâu dài". Lênin chỉ ra một cách sắc sảo rằng, "thuyết chủ nghĩa siêu đế quốc là hoàn toàn không tương thích với chủ nghĩa Mác, là che đậy và trì hoãn mâu thuẫn căn bản nhất", đã phủ nhận một cách căn bản lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác, đã hoàn toàn che đậy "tính sâu sắc của những mâu thuẫn của chủ nghĩa đế quốc và tính tất yếu của nguy cơ cách mạng do chủ nghĩa đế quốc sản sinh ra"1 (Lênin: Tuyển tập, Sđd, q.2, tr.580). Lịch sử đã chế nhạo mong muốn đơn phương của Kautsky và cũng kiểm chứng sáng kiến khoa học của Lênin.
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, chính quyền Xôviết mới ra đời phải chịu sự tấn công của kẻ thù trong và ngoài nước, đồng thời cũng phải đối mặt với những thách thức to lớn trong việc khôi phục trật tự, phát triển kinh tế, quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là thực tiễn hoàn toàn mới, chưa có đáp án sẵn trong sách của Mác và Ăngghen. Lênin khắc ghi thái độ của những người sáng tạo ra chủ nghĩa Mác đối với học thuyết của chính mình: Lý luận của họ không phải là giáo điều, mà là kim chỉ nam cho hành động.
Tháng 8 năm 1917, trong tác phẩm Bút ký triết học, Lênin chỉ ra rằng: "Chúng ta không thể yêu cầu Mác hay những người theo chủ nghĩa Mác phải biết hết mọi tình huống cụ thể trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là suy nghĩ ngu ngốc. Chúng ta chỉ biết được phương hướng của con đường đó, chỉ biết được lực lượng giai cấp nào dẫn dắt đi theo con đường đó; còn trong thực tế cụ thể đi như thế nào, chỉ có thể được làm rõ bằng kinh nghiệm của hàng chục triệu người sau khi họ bắt đầu hành động"2 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.32, tr.111).
Tháng 12 năm đó, trong bài viết "Làm thế nào để tổ chức thi đua", Lênin nói: "Tất cả mọi điều hiện nay đểu nằm ở thực tiễn, hiện nay đã đến giai đoạn lịch sử then chốt: lý luận đang biến chuyển thành thực tiễn, lý luận được thực tiễn truyền cho sức sống, được thực tiễn sửa đổi, được thực tiễn kiểm nghiệm; câu nói của Mác 'một bước vận động thực tế quan trọng hơn một tá cương lĩnh' là đặc biệt chính xác"1 (Lênin: Tuyển tập, Sđd, q.3, tr.381).
Tháng 7 năm 1918, trong ''Báo cáo về công tác của Ủy ban nhân dân tại Đại hội đại biểu toàn nước Nga Xô viết lần thứ 5", Lênin chỉ ra rằng: "Đối với nước Nga, thời đại căn cứ vào sách vở để tranh luận về cương lĩnh xã hội chủ nghĩa đã trở thành quá khứ, tôi tin tưởng sâu sắc rằng điều đó đã ra đi không trở lại. Hôm nay chỉ có thể căn cứ theo kinh nghiệm để bàn luận về chủ nghĩa xã hội"2 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.34, tr.466).
Tháng 11 năm 1918, trong "Báo cáo về thái độ của giai cấp vô sản đối với phái dân chủ tiểu tư sản" tại Hội nghị các cán bộ làm công tác Đảng ở Mátxcơva, Lênin nói: "Học thuyết của Mác và Ăngghen không phải là giáo điều để chúng ta học thuộc lòng, nên coi đó là kim chỉ nam cho hành động. Chúng ta luôn nói và tôi cũng cho rằng, hành động của chúng ta là phù hợp, chưa từng rơi vào chủ nghĩa cơ hội, mà chỉ thay đổi sách lược. Điều này quyết không phải là phản bội học thuyết, quyết không thể bị gọi là chủ nghĩa cơ hội"3 (Lênin: Toàn tập, Sđd, q.35, tr.219).
Lênin còn chỉ ra rằng, tinh túy của chủ nghĩa Mác, linh hồn sống của chủ nghĩa Mác là: phân tích cụ thể trước tình huống cụ thể4 (Lênin: Tuyển tập, Sđd, q.4, tr.213).
Đây chính là biểu hiện tập trung của dũng khí lý luận và tinh thần sáng tạo không sợ gian khó, dũng cảm tìm tòi của Lênin. Đây chính là thái độ trịnh trọng của một nhà mácxít vĩ đại đối xử khoa học với học thuyết của Mác và Ăngghen. Chính dưới sự chỉ đạo của tỉnh thần vĩ đại và thái độ khoa học này, Lênin đã dẫn dắt Đảng Bônsêvích và nhân dân khắc phục muôn vàn gian khó, tiến hành thực tiễn vĩ đại. Chính sách cộng sản thời chiến đã phát huy vai trò to lớn nhằm đánh lui sự tấn công ác liệt của kẻ thù cả bên trong lẫn bên ngoài, bảo vệ chính quyền Xôviết non trẻ. Chính sách kinh tế mới, để thích nghi với thay đổi mới, đã kịp thời xoay chuyển cục diện phức tạp trong nước, tích luỹ được những kinh nghiệm quý báu. Đây là lần thử nghiệm đầu tiên của một quốc gia lạc hậu trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, góp kinh nghiệm hữu ích cho việc xây dựng cũng như công cuộc cải cách nhà nước xã hội chủ nghĩa sau này.
Xtalin từng đánh giá Lênin như sau: Có hai phe chủ nghĩa Mác. Những người theo chủ nghĩa Mác giả hiệu là những kẻ theo chủ nghĩa cơ hội, chỉ bề ngoài thừa nhận chủ nghĩa Mác mà không chịu tìm hiểu thực chất tinh thần của chủ nghĩa Mác, càng không muốn thực hành chủ nghĩa Mác; còn những người theo chủ nghĩa Mác chân chính, không những thừa nhận chủ nghĩa Mác, mà đã kết hợp thực tế cách mạng, vận dụng linh hoạt chủ nghĩa Mác. Họ không thỏa mãn với việc giải thích thế giới, mà lấy việc cải tạo thế giới làm mục đích. Người tổ chức và lãnh tụ của phái này là Lênin1 (Xtalin: Tuyển tập, Nxb. Nhân dân, 1979, t.2, tr.129-130). Lênin là nhà lý luận và thực tiễn kiệt xuất của đảng dân chủ xã hội cách mạng2 (Xem thêm Xtalin: Tuyển tập, Sđd, quyển thượng, chú thích 1, tr.20). Chủ nghĩa Lênin không chỉ đã phục sinh cho chủ nghĩa Mác, mà còn phát triển chủ nghĩa Mác thêm một bước nữa trong điều kiện đấu tranh mới giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Đây là toàn bộ chân lý về chủ nghĩa Lênin3 (Xtalin: Tuyển tập, Sđd, quyển thượng, tr.186).
Bukharin cũng từng nói: "Lênin không chỉ là một con người sắt thép, hiểu rõ tính khí của lịch sử, điều khiển lịch sử, chỉ đạo phương hướng để lịch sử băng băng tiến tới. Lênin còn là một nhà tư tưởng vĩ đại nhất"1 (Bukharin: Tuyển tập, Nxb. Nhân dân, 1988, quyển trung, tr.67, 75). "Sở dĩ Lênin giống như chiến lược gia, có thế thực hiện thành công những chuyển biến to lớn này là bởi ông là nhà lý luận vĩ đại nhất, có thể phân tích toàn diện, rõ ràng, so sánh sức mạnh giai cấp của những giai cấp nhầt định, đánh giá họ, khái quát về lý luận, rồi từ những khái quát lý luận đó đưa ra những kết luận tương ứng về thực tiễn và chính sách", "bản thân ông nắm chắc thứ vũ khí vô cùng sắc bén của chủ nghĩa Mác, đồng thời không bao giờ coi chủ nghĩa Mác là một thứ giáo điều xơ cứng bất biến, mà coi đó là công cụ để chỉ rõ phương hướng trong hoàn cảnh nhất định"2 (Bukharin: Tuyển tập, Sđd, quyển thượng, tr.179-181). Ông là nhà lý luận hàng đầu nắm vững phương pháp trừu tượng của Mác3 (Bukharin: Tuyển tập, Nxb. Nhân dân, 1988, quyển trung, tr.67, 75).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
nhinrathegioi
Thành viên

Bài viết: 1062
|
 |
« Trả lời #168 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2022, 07:11:17 am » |
|
Sau khi Lênin qua đời, nước Cộng hòa Xôviết vẫn còn phải đối mặt với tình trạng căng thẳng cả ở trong và ngoài nước, điều này đã đặt ra cho Xtalin, người kế thừa của Lênin, một loạt vấn đề lý luận trọng đại. Khi đó, có một bộ phận người tương đối lớn kiên trì cho rằng, cách mạng xã hội chủ nghĩa có thể giành được thắng lợi trước tiên ở một nước, nhưng không thể xây dựng thành công trong một nước, đặc biệt là ở quốc gia có nền kinh tế văn hóa lạc hậu như nước Nga.
Trotsky, người cổ vũ cho "thuyết cách mạng không ngừng" và "thuyết cách mạng thế giới", căn bản không tin tưởng một quốc gia có thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, cũng không tin tưởng giai cấp công nhân có thể cùng với nông dân hình thành nên liên minh vững chắc. Ông bám vào kết luận cá biệt của những người sáng lập chủ nghĩa Mác, cho rằng "sự phát triển thực sự của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa tại nước Nga chỉ có khả năng thực hiện sau khi giai cấp vô sản giành thắng lợi tại một vài quốc gia châu Âu quan trọng nhất". Ông còn nghiễm nhiên cho rằng, sau khi giai cấp vô sản nắm được chính quyền, giai cấp công nhân và đông đảo quần chúng nông dân sẽ xảy ra "xung đột đổi đầu", "mâu thuẫn mà vị trí chính phủ công nhân đang đứng chỉ có thể được giải quyết khi đặt trong phạm vi quốc tế tức là vũ đài cách mạng thế giới của giai cấp vô sản"1 (Dẫn từ Xtalin: Tuyển tập, Sđd, t.1, tr.290, 283). Ông cho rằng, chỉ có thông qua cách mạng thế giới và dựa vào cách mạng thế giới, mới có thể giải quyết mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và nông dân, và để cuối cùng xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Zinoviev cũng cho rằng, không có sự giúp đỡ của cách mạng thế giới, việc một mình Liên Xô xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội là không thể. "Có thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và củng cố chế độ xã hội chủ nghĩa tại một quốc gia, không phải là nước Mỹ, mà là tại đất nước chúng ta - một đất nước nông dân hay không? Chúng ta không cần tranh luận (về điều đó - ND.), xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội tại một quốc gia là điều không thể2 (Báo Sự thật ngày 23-12-1925, dẫn từ Chu Thượng Văn, Diệp Thư Tông, Vương Ty Đức: Lịch sử hưng vong của Liên Xô, Nxb. Thượng Hải, 1993, tr.137).
Không chỉ có vậy, những người như Trotsky, Zinoviev, Kamenev còn kết bè kéo cánh, hình thành liên minh chính trị, cùng nhau chống lại Xtalin. Đây không còn là tranh luận đơn thuần nữa.
Trong thời điểm nguy cấp này, Xtalin đã phê phán mạnh mẽ kiểu lý luận bi quan "không tin tưởng giai cấp vô sản nước Nga có năng lực, có bản lĩnh" xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Ông chỉ ra rằng, đây là "bóp méo chủ nghĩa Lênin" và "không tin tưởng vào sự nghiệp chủ nghĩa xã hội". Nếu như Đảng không có lý do quả quyết rằng giai cấp vô sản Liên Xô có thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, thì Đảng không còn lý do để tiếp tục cầm quyền, bất luận thế nào cũng nên từ bỏ chính quyền và chuyển sang vị trí của đảng đối lập1 (Xtalin: Tuyển tập, Sđđ, t.1, tr.510, 438).
Ông còn chỉ ra rằng, chủ nghĩa xã hội có thể được xây dựng trong một quốc gia: "Đây chính là khả năng sử dụng sức mạnh nội bộ của nước ta để giải quyết mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và nông dân, chính là dưới sự đồng tình và giúp đỡ của những người vô sản tại quốc gia khác, nhưng không cần thiết phải có sự thắng lợi trước hết của cách mạng vô sản tại các quốc gia khác, giai cấp vô sản có thể giành lấy chính quyền và lợi dụng chính quyền này để xây dựng thành công xã hội xã hội chủ nghĩa tại đất nước mình"2 (Xtalin: Tuyển tập, Sđđ, t.1, tr.510, 438). Nếu không có khả năng này, việc xây dựng chủ nghĩa xã hội chính là công cuộc xây dựng không có tương lai, chính là công cuộc xây dựng không có niềm tin vào việc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Nếu như không tin vào khả năng xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, nếu như không tin rằng nền kỹ thuật lạc hậu của nước ta (Liên Xô) không phải là trở ngại không thể khắc phục trên con đường xây dựng thành công xã hội xã hội chủ nghĩa toàn diện, thì không thể xây dựng chủ nghĩa xã hội. Phủ nhận khả năng này chính là không tin vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, chính là rời xa chủ nghĩa Lênin.
Liên Xô có năng lực một mình xây dựng chủ nghĩa xã hội, đã cho thấy dưới điều kiện đất nước bị chủ nghĩa đế quốc bao vây, nguyện vọng mãnh liệt và quyết tâm kiên cường của người dân Liên Xô trong việc xây dựng đất nước trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa lớn mạnh, cũng đã phản ánh yêu cầu và quy luật khách quan của sự phát triển xã hội Liên Xô, đã thuận theo trào lưu lịch sử. "Thuyết xây dựng thành công ở một nước" đã kiên trì và phát triển "thuyết thắng lợi ở một nước" của Lênin. Đây là cống hiến lý luận nổi bật của Xtalin trong thời đại của ông, với tư cách một nhà cách mạng vô sản vĩ đại, là sự vận dụng và phát triển sáng tạo đối với chủ nghĩa Mác - Lênin, và đã tạo ra ảnh hưởng sâu rộng đối với phong trào cộng sản quốc tế. Sau quá trình đấu tranh tư tưởng và xử lý về tổ chức quyết liệt, học thuyết thắng lợi ở một nước của Lênin đã được bảo vệ và phát triển, tư tưởng chính xác của Xtalin cũng được bảo vệ. Trên nền tảng thống nhất nhận thức tư tưởng, Liên Xô đã mở màn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội quy mô lớn. Dưới sự lãnh đạo của Xtalin, nhân dân Liên Xô nhanh chóng thực hiện công nghiệp hóa đất nước và tập trung hóa nông nghiệp, cơ bản xác lập được quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Tháng 11 năm 1936, Xtalin tuyên bố: "Xã hội Liên Xô chúng ta đã cơ bản thực hiện chủ nghĩa xã hội, đã xây dựng được chế độ xã hội chủ nghĩa, tức là thực hiện được chế độ mà chủ nghĩa Mác gọi là giai đoạn thứ nhất của chủ nghĩa cộng sản hay là giai đoạn đầu. Nói vậy nghĩa là, chúng ta đã cơ bản thực hiện được giai đoạn thứ nhất của chủ nghĩa cộng sản, tức là chủ nghĩa xã hội"1 (Xtalin: Tuyển tập, Sđd, t.2, tr.399). Sau đó, Xtalin còn lãnh đạo nhân dân Liên Xô tiến hành cuộc đấu tranh kiên quyết với thù trong giặc ngoài, giành được thắng lợi vĩ đại trong chiến tranh chống phátxít, đã bảo vệ và làm lớn mạnh quốc gia xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới.
Cần phải chỉ ra rằng, mặc dù tuyên bố Liên Xô đã cơ bản xây dựng được chủ nghĩa xã hội, nhung trình độ lực lượng sản xuất khi đó vẫn còn lạc hậu, đời sống của đông đảo công nhân, nông dân vẫn thấp, một số chỉ số về sản xuất và thu nhập bình quân đầu người thậm chí còn thấp hơn nước Nga trước Cách mạng Tháng Mười Nga. Điều này cho thẩy, chính quyền Xô viết vẫn còn nhiệm vụ nặng nề là phải tiếp tục thúc đẩy sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, cần phát triển han nữa lực lượng sản xuất xã hội chủ nghĩa, nâng cao nhanh và tốt hơn nữa mức sống của quần chúng nhân dân, vì thế, nói chủ nghĩa xã hội "đã được xây dựng" là còn sớm. Điều này cho thấy, nhận thức của Xtalin về một vấn đề lý luận quan trọng "như thế nào là chủ nghĩa xã hội" vẫn còn hạn chế mang tính lịch sử rõ nét. Đương nhiên, dưới tiền đề chế độ cơ bản của chủ nghĩa xã hội đã được xác lập, việc kịp thời tuyên bố Liên Xô đã cơ bản xây dựng được chủ nghĩa xã hội khi đó vẫn có ý nghĩa quan trọng trong việc cổ vũ niềm tin cách mạng của nhân dân Liên Xô và các nước trên thế giới.
Năm 1952, trong cuốn sách Những vấn đề kinh tế xã hội chủ nghĩa của Liên Xô xuất bản những năm cuối đời, Xtalin đã tổng kết có hệ thống những kinh nghiệm của Liên Xô trong hơn 30 năm xây dựng kinh tế - xã hội chủ nghĩa, đã trình bày rõ tính chất của quy luật kinh tế cũng như quy luật cơ bản của chủ nghĩa xã hội, đã luận giải vấn đề sản xuất hàng hóa và quy luật giá trị dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, đã trình bày lý luận về mâu thuẫn vẫn tồn tại giữa quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa với lực lượng sản xuất. Mặc dù những luận giải trong sách không hoán toàn chính xác, nhưng trong điều kiện lịch sử khi đó, việc đưa ra các quan điểm như sản xuất xã hội chủ nghĩa vẫn là sản xuất hàng hóa, quy luật giá trị vẫn phát huy tác dụng, quan hệ sản xuất của chủ nghĩa xã hội và lửc lượng sản xuất vẫn tồn tại mâu thuân là sự cống hiến quan trọng cho lý luận kinh tế chủ nghĩa Mác và có ảnh hưởng to lớn đến thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội của các nước.
Tháng 11 năm 1958, trong bài nói chuyện khi đọc Những vấn đề kinh tế xã hội chủ nghĩa của Liên Xô của Xtalin, Mao Trạch Đông đã khẳng định đầy đủ những cống hiến lý luận của Xtalin. Ông nói, "Xtalin là người đầu tiên viết nên kinh tế chính trị học xã hội chủ nghĩa". " Tôi cho rằng trong cuốn sách Những vấn đề kinh tế xã hội chủ nghĩa của Liên Xô này, mặt đúng là chủ yếu". "Rất nhiều quan điểm trong sách vô cùng có ích với chúng ta, càng đọc càng thấy hứng thú". "Việc nghiên cứu vấn đề kinh tế chính trị học hiện nay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất lớn". Bởi vậy, ông hiệu triệu cán bộ của Đảng "phải chịu khó đọc, đọc nhiều lần", "cán bộ cấp thường vụ tỉnh ủy, thường vụ cấp ủy địa khu trở lên đều phải nghiên cứu, dành ra mấy tháng để tổ chức học tập".
Không thể phủ nhận, mô hình chủ nghĩa xã hội hình thành trong thời đại Xtalin, một mặt, thể hiện được sức sống to lớn, nhưng mặt khác cũng tồn tại những hạn chế, ngay cả khi vẫn còn phát huy tác dụng. Giai đoạn sau thời kỳ cầm quyền của Xtalin, tình hình kinh tế trong nước của Liên Xô vô cùng nghiêm trọng. Đến năm 1950, nền kinh tế Liên Xô mới hồi phục lại trạng thái trước chiến tranh. Trong giai đoạn xây dựng hòa bình hiếm hoi, Xtalin cũng đã bắt đầu tổng kết những bài học kinh nghiệm của Liên Xô trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mùa Thu năm 1952, nửa năm trước khi qua đời, Xtalin đã nhận thức được rằng, với Liên Xô "cải cách là không thể tránh khỏi"1 ("Ryzhkov nói về nguyên nhân giải thể của Liên Xô", chuyên san Nghiên cứu chủ nghĩa xã hội thế giới, số 25, ngày 8-8-2008, tr.3). Nhưng sứ mệnh lịch sử ấy đã không thế được thực hiện khi ông còn sống.
Tóm lại mặc dù Xtalin vẫn còn những hành động giáo điều với chủ nghĩa Mác, thậm chí trên một số vấn đề còn đi ngược lại chủ nghĩa Mác, nhưng trên phương diện kiên trì, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác, ông đã có những cống hiến quan trọng. Ông không hổ danh là nhà lý luận mácxít, là lãnh tụ kiệt xuất của Đảng Cộng sản Liên Xô. Những người theo chủ nghĩa xét lại của Quốc tế II đã từng vui mừng trước sai lầm của phe cánh tả như Bebel. Vì vậy, Lênin đã dùng một câu chuyện ngụ ngôn của Nga để châm biếm những người theo chủ nghĩa xét lại: "Chim ưng có lúc còn bay thấp hơn gà, nhưng gà vĩnh viễn không bao giờ bay cao được như chim ưng"1 (Tham khảo Lênin: Tuyển tập (bản năm 1972), tr.600. So sánh của Lênin có xuất xứ từ một câu truyện ngụ ngôn của Krylov). Xtalin là nhà mácxít vĩ đại, tuy từng có sai lầm, nhưng ông luôn luôn là chim ưng, mà những kẻ theo chủ nghĩa xét lại tấn công, phỉ báng ông, cùng lắm cũng chỉ là đàn gà đứng trên đống phân phía sân sau của phong trào công nhân.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
nhinrathegioi
Thành viên

Bài viết: 1062
|
 |
« Trả lời #169 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2022, 07:12:51 am » |
|
2. Trình độ lý luận của Khrushchev và Brezhnev
Thời trẻ, Khrushchev không được hấp thụ nền giáo dục có hệ thống, đến khi tham gia chính trị cũng không nghiên cứu cẩn thận lý luận chủ nghĩa Mác. Molotov từng đánh giá ông như sau: Khrushchev chưa từng bao giờ hứng thú, cũng chưa từng suy nghĩ thế nào là chủ nghĩa Lênin, chủ nghĩa Mác, không biết một chút gì về lý luận. Mao Trạch Đông cũng từng đánh giá về Khrushchev: "Ông ấy không hiểu về chủ nghĩa Mác - Lênin, dễ bị mắc lừa chủ nghĩa đế quốc"2 (Các bài viết của Mao Trạch Đông sau thành lập nước, Nxb. Văn hiến Trung ương, 1993, t.8, tr.601). Cựu Tổng thống Mỹ Nixon khi nói về Khrushchev lại cho rằng: "Rất khó để tôi tưởng tượng rằng ông ấy trên thực tế đã đọc hết hay chưa ba tập sách dày Tư bản của Mác. Về phương diện này, ông ấy khác với Xtalin. Xtalin đọc nhiều và viết nhiều sách về lý luận chủ nghĩa cộng sản"1 (Nixon: Lãnh tụ, Nxb. Tri thức, 1983, tr.241).
Sau khi Xtalin qua đời, ông để lại một nước Liên Xô hùng mạnh, nhưng đồng thời cũng là một nước Liên Xô tồn tại những vấn đề nghiêm trọng. Sự phát triển của lịch sử không bao giờ có ngoại lệ, luôn yêu cầu những người lãnh đạo đi sau, một mặt phải kế thừa những mặt đúng của người đi trước, mặt khác phải khắc phục những khuyết điểm và vấn đề mà thời đại trước để lại.
Thế nhưng, về những vấn đề lý luận trọng đại liên quan đến sự phát triển của chủ nghĩa xã hội, Khrushchev lại thiếu kiến thức cần có. Khi giải quyết những vấn đề trọng đại liên quan đến vận mệnh của Đảng và đất nước, ông thiếu tư duy lý tính và tầm nhìn sâu rộng, mà luôn xuất phát từ suy nghĩ duy ý chí và cảm xúc nhất thời, thậm chí còn mong đợi thông qua những biện pháp thô lỗ, mạo hiểm để đạt được mục đích, vì vậy, ông chỉ có thể trở thành kẻ phá hoại những nguyên tắc lý luận chủ nghĩa Mác.
Xtalin nhấn mạnh quá mức chế độ sở hữu công đơn nhất. Điều này có lợi cho việc tăng cường nền tảng kinh tế xã - hội chủ nghĩa, củng cố chính quyền xã hội chủ nghĩa, nhưng cũng tồn tại những mâu thuẫn đa tầng nấc giữa chế độ sở hữu công đơn nhất và lực lượng sản xuất thực tế. Lực lượng sản xuất của Liên Xô vừa có sản xuất lớn với trình độ xã hội hóa rất cao, vừa có sản xuất nhỏ, lạc hậu, phân tán. Tính đa tầng nấc của kết cấu lực lượng sản xuất yêu cầu chế độ sở hữu phải đa dạng hóa, yêu cầu về khách quan cho phép tồn tại nền kinh tế sở hữu phi công hữu ở một mức độ nhất định, trong phạm vi nhất định. Xtalin đưa ra hai hình thức sở hữu là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Ở một ý nghĩa nào đó, đây cũng là một loại phát triển, nhưng ông đã bỏ qua tính tất yếu của sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế phi công hữu. Khrushchev không những không thể khắc phục thiếu sót cửa Xtalin, mà ngược lại còn tiến thêm một bước nữa trên nền tảng tìm kiếm nghiên cứu của Xtalin. Ông vẫn dừng lại ở quan niệm "mức độ công hữu càng cao càng tốt". Ông không ngừng hợp nhất các nông trang tập thể quy mô nhỏ thành nông trang tập thể quy mô lớn, rồi biến các nông trang tập thể thành nông trường quốc hữu toàn dân. Có một số nông trang được mở rộng đến mức độ không thể nào quản lý được. Có một số nông trang nghèo khó, làm ăn thua lỗ yêu cầu được chuyển thành nông trường quốc doanh, như vậy vừa gây tổn thất cho quốc gia, vừa làm tăng thêm thói quen ăn nồi cơm chung. Ông đã cho xóa bỏ hợp tác xã thủ công nghiệp, vội vàng để hợp tác xã sở hữu tập thể quá độ sang chế độ sở hữu toàn dân. Về vấn đề giữ hay bỏ đất vườn1 (Tương đương đất phần trăm của Việt Nam (ND.)) và ngành chăn nuôi do các thành viên nông trang tập thể tự sản xuất và kinh doanh lại càng thay đổi nhiều hơn. Vốn là nhằm khuyến khích các thành viên và nhân viên nông trang phát triển ngành nghề phụ của cá nhân đã đạt được những kết quả tích cực, nhưng đến cuối năm 1958, nghề phụ cá nhân lại bị hạn chế, khiến việc sản xuất nghề phụ suy giảm nhanh chóng, dẫn đến tình trạng bất mãn nghiêm trọng của người dân nông thôn, gây tổn thất cho nền kinh tế nông nghiệp.
Trong những năm cuối đời, Xtalin nhìn ra tính hàng hóa của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa, nhưng ông tổng kết, cho rằng đây là do nhu cầu sản xuất và lưu thông giữa hai loại hình doanh nghiệp sở hữu toàn dân và tập thể. Xtalin cho rằng, sản xuất xã hội chủ nghĩa là nền sản xuất hàng hóa đặc thù, với phạm vi hoạt động là sản phẩm tiêu dùng cá nhân, tư liệu sản xuất không phải là hàng hóa. Đại hội XXII của Đảng Cộng sản Liên Xô năm 1961 căn cứ theo báo cáo của Khrushchev đã thông qua "Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Liên Xô", tuy đã đề ra "cần tận dụng đầy đủ mối quan hệ giữa hàng hóa và tiền tệ", nhưng cũng chỉ có một khẩu hiệu đó mà thôi. Dưới tác động của sự nóng vội thực hiện chủ nghĩa xã hội của Khrushchev, Cương lĩnh còn chỉ ra: "Cùng với quá độ tiến tới chế độ sở hữu cộng sản chủ nghĩa toàn dân và chế độ phân phối cộng sản chủ nghĩa, mối quan hệ giữa hàng hòa và tiên tệ về (phương diện) kinh tế sẽ lỗi thời và diệt vong"1 (Văn kiện chính Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ XXII, Sđd, tr.236).
Về cơ chế vận hành kinh tế, thể chế kinh tế kế hoạch mà Xtalin tập trung quá mức được xây dựng trên kết cấu chế độ sở hữu quá đơn nhất. Vào thời đại Xtalin, chưa đặt ra vấn đề coi trọng tận dụng thị trường. Nhưng vào những năm cuối đời, Xtalin nêu ra tính tất yếu của sản xuất và lưu thông hàng hóa, điều này về mặt lôgích đã khẳng định vai trò của thị trường. Tại Đại hội XXII của Đảng Cộng sản Liên Xô, Khrushchev đã biểu dương mạnh mẽ thành tựu của kế hoạch 7 năm từ năm 1955 trở lại. Khi tổng kết kinh nghiệm trong 6 năm qua, ông chỉ biết "kiên trì hoàn thiện công tác kế hoạch và lãnh đạo đối với nền kinh tế quốc dân". Mặc dù, ông đã đề ra "phải cải tiến về căn bản công tác kế hoạch", nhưng cũng chỉ tổng kết thành "nâng cao trách nhiệm của Đảng và cơ quan kinh tế trong việc hoàn thành nghị quyết và chỉ tiêu của Đảng và Chính phủ". Trong báo cáo của ông không hề xuất hiện hình bóng của "thị trường", càng không hề coi trọng vai trò của thị trường.
Về vấn đề giai đoạn phát triển của chủ nghĩa xã hội, Khrushchev không những không thể sửa sai cho Xtalin mà còn đi xa hơn nữa. Năm 1959, ông cho rằng Liên Xô đã bước vào "thời kỳ triển khai toàn diện xây dựng chủ nghĩa cộng sản"; năm 1961 lại tuyên bố Liên Xô phải "cơ bản xây dựng chủ nghĩa cộng sản trong 20 năm". Đây là đánh giá về giai đoạn phát triển xã hội thoát li thực tế nhất trong lịch sử Liên Xô. Thực chất của đánh giá sai lầm này chính là đã phủ nhận trong giai đoạn lịch sử chủ nghĩa xã hội vẫn tồn tại giai cấp, tồn tại những thời điểm diễn ra đấu tranh giai cấp, thậm chí là vô cùng kịch liệt.
Bước tiến nóng vội, cực đoan và duy ý chí cũng khiến Khrushchev khó có thể đột phá được sự ràng buộc của chế độ sở hữu "quy mô lớn, mức độ công hữu cao", chế độ phân phối quân bình chủ nghĩa cũng như thể chế kinh tế kế hoạch. Điều này khiến cải cách kinh tế của ông không có thành tựu gì lớn. Bên cạnh việc phê phán mạnh mẽ Xtalin, ông vừa không thể kiên trì mặt đúng đắn của Xtalin, lại vừa lặp lại những sai lầm của Xtalin, thậm chí còn mắc những lỗi lầm nghiêm trọng hơn Xtalin. Bởi vậy, về lý luận ông không thể có thành tựu gì, chưa nói gì đến khả năng phát triển chủ nghĩa Mác. Trong thời kỳ ông cầm quyền, vấn đề của Liên Xô càng nghiêm trọng hơn, vì vậy việc ông bị phế truất giữa nhiệm kỳ cũng không có gì lạ.
Trong thời đại Brezhnev đã có sự điều chỉnh và sửa chữa một số sai lầm lý luận của Khrushchev, cũng tiến hành một số chính sách mới, khiến kinh tế Liên Xô có sự phát triển nhất định, xã hội cũng tương đối ổn định, đời sống nhân dân cũng được nâng cao. Nhưng Brezhnev không phải là một nhà lý luận có trình độ, trình độ lý luận chủ nghĩa Mác của ông không cao hơn Khrushchev là bao.
Brezhnev mặc nhiên cho rằng, lực lượng sản xuất của Liên Xô đã "phát triển cao độ", quan hệ sản xuất đã "chín muồi cao độ", về chính trị đã "dân chủ cao độ", "các giai cấp, các nhóm xã hội, các dân tộc lớn nhỏ của Liên Xô đã hình thành mối quan hệ mới, hài hòa - quan hệ hợp tác hữu nghị"1 (Tổng tập văn kiện chủ yếu Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ XXIV, Sđd, 1976, tr.105). Lý luận này đã phủ định tính tất yếu của việc Liên Xô phải tiến hành cải cách căn bản. Điều này được phản ánh đầy đủ qua thái độ của ông đối với cải cách "thể chế kinh tế mới" vào cuối những năm 60 thế kỷ XX.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|