Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:15:53 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tính trước nguy cơ - Suy ngẫm sau 20 năm Đảng Cộng sản Liên Xô mất Đảng  (Đọc 41990 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #190 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2022, 10:43:31 am »

Ba là, trong quan hệ đối ngoại, phiến diện cổ xúy cho "chung sống hòa bình" và "thi đua hòa bình", tạo cơ hội cho phương Tây diễn biến hòa bình ở Liên Xô. Thời Lênin, Xtalin, phương Đông và phương Tây hình thành hai thế giới song song cách biệt, đối kháng. Hình thành cục diện như vậy, chủ yếu là kết quả do việc các nước đế quốc chủ nghĩa thực hiện thù địch, phong tỏa, thậm chí can thiệp vũ trang vào các nước xã hội chủ nghĩa trong thời gian dài, họ phải chịu trách nhiệm chủ yếu trước cục diện thế giới căng thẳng. Thế nhưng, trong bối cảnh các nước phương Tây không đưa ra bất cứ lời hứa hoặc nhượng bộ nào, Khrushchev tại Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô năm 1956 đã đơn phương đề ra các nước xã hội chủ nghĩa không được đối kháng với các nước tư bản chủ nghĩa, hai loại hình thái xã hội phải thực hiện "chung sống hòa bình", "thi đua hòa bình".


Mấu chốt của vấn đề không ở chỗ các nước xã hội chủ nghĩa cần hay không cần hòa bình, có cùng với các nước tư bản chủ nghĩa thực hiện "'chung sống hòa bình", "thi đua hòa bình" hay không, mà ở chỗ lúc đó có điều kiện và khả năng thực hiện mong muốn này hay không. Trong bối cảnh các nước phương Tây đã khởi động và tăng cường thúc đẩy diễn biến hòa bình đối với Liên Xô, Khrushchev đề ra, "chung sống hòa bình" và "thi đua hòa bình" chẳng qua là một ảo tưởng. Khi ảo tưởng trở thành thực tiễn không sát với thực tế nảy sinh nguy hại cũng khó tránh.


Mặc dù Khrushchev sau khi vấp ngã và rút ra được bài học, có phần siết lại, nhưng đường lối ngoại giao này có vai trò to lớn trong việc làm tan rã vũ trang tư tưởng của Đảng Cộng sản Liên Xô, từ đó thiếu phòng bị cần thiết đối với phương Tây, tiến tới tạo bước đột phá cho thế lực thù địch tăng cường thúc đẩy chiến lược diễn biến hòa bình.


Bốn là, lý luận khủng bố hạt nhân của Khrushchev, phủ nhận sự tồn tại của mâu thuẫn giai cấp quốc tế trong điều kiện vũ khí hạt nhân, cổ xúy hợp tác giai cấp quốc tế sau này trở thành căn cứ lý luận quan trọng "tư duy mới" về quan hệ đối ngoại của Gorbachev. Khrushchev đưa ra một lý do quan trọng mà các quốc gia của hai chế độ xã hội phải "chung sống hòa bình", "thi đua hòa bình", đó là sự xuất hiện của vũ khí hạt nhân đã thay đổi quan hệ quốc tế, thay đổi quy luật đấu tranh giai cấp. Đây là cốt lõi lý luận của Khrushchev trong vấn đề quốc tế. Ông ta cho rằng, sau khi vũ khí hạt nhân xuất hiện, đã không còn sự khác biệt giữa chiến tranh chính nghĩa và chiến tranh phi nghĩa. "Bom nguyên tử không phân biệt chủ nghĩa đế quốc, nhân dân lao động ở nơi mà nó oanh kích, do đó tiêu diệt một nhà tư bản độc quyền, cũng sẽ tiêu diệt hàng triệu công nhân". Trong tình hình đó, dân tộc bị áp bức và nhân dân bị áp bức sẽ phải từ bỏ cách mạng. "Bất kỳ một cuộc chiến tranh cục bộ nhỏ nào đều có thể trở thành một đốm lửa thổi bùng lên chiến tranh thế giới"; "hiện tại, bất cứ chiến tranh nào, cho dù bắt đầu bằng chiến tranh phổ thông, chiến tranh phi hạt nhân, cũng sẽ trở thành tên lửa mang tính hủy diệt - chiến tranh hạt nhân". Như vậy, "chúng ta sẽ hủy hoại 'con tàu Noah' của mình - trái đất". Tức là đứng trước sự uy hiếp, đe dọa vũ khí hạt nhân của chủ nghĩa đế quốc, nhân dân cách mạng thế giới và các nước xã hội chủ nghĩa chỉ có thể lựa chọn khuất phục, không thể chống lại bởi vì chiến tranh hạt nhân sẽ dẫn đến sự hủy diệt của loài người, "nếu như mất đầu thì nguyên tắc còn có ích gì nữa?"


Lý luận khủng bố hạt nhân của Khrushchev sau này được Gorbachev trực tiếp vận dụng làm cơ sở lý luận "tư duy mới" về quan hệ quốc tế. Gorbachev lấy sự xuất hiện của vũ khí hạt nhân làm lý do, chủ trương đặt cái gọi là "lợi ích toàn nhân loại" lên vị trí hàng đầu. Dưới sự chỉ đạo của tư tưởng "lợi ích toàn nhân loại cao hơn tất cả", ông ta đã từ bỏ quan điểm giai cấp và phương pháp phân tích giai cấp của chủ nghĩa Mác, hủy bỏ triệt để vũ trang tư tưởng của Đảng Cộng sản Liên Xô với phương Tây, không những tự mình trở thành tù binh của diễn biến hòa bình phương Tây, mà dưới sự ép sát từng bước của thế lực thù địch phương Tây, dưới tác động của các nhân tố trong và ngoài, Đảng Cộng sản Liên Xô và Liên Xô từng bước đi đến tan rã và hủy diệt.


Năm là, đi ngược lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, đã thai nghén và đào tạo một loạt lực lượng "nội ứng" cho diễn biến hòa bình phương Tây. Bắt đầu từ Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô, Khrushchev liên tục đưa ra những lý luận sai lầm như "chung sống hòa bình", "thi đua hòa bình", "quá độ hòa bình" cùng với "nhà nước toàn dân", "đảng toàn dân". Những lý luận trên đi ngược lại nguyên lý căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhiều mặt, lại thêm sự phối hợp của trào lưu tư tưởng "tan băng" hung hăng ngang ngược, tác dụng tiêu cực của nó hết sức nghiêm trọng, thậm chí ảnh hưởng đến cả một thế hệ thanh niên của Liên Xô. Rất nhiều thanh niên không hề hiểu rõ truyền thống cách mạng của Đang Cộng sản Liên Xô, thiếu sự tôi luyện về thực tế cách mạng, hiểu mơ hồ về nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, chưa xây dựng được lý tưởng kiên định về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Những thanh niên này trưởng thành dưới ảnh hưởng mạnh mẽ của Khrushchev và Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô cùng với trào lưu tư tưởng "tan băng", sau này, họ bị gọi là "con đẻ của Đại hội XX", hoặc gọi là "thế hệ những năm 1960". Gorbachev đã nhiều lần nói mình là "con đẻ của Đại hội XX", thuộc về cái gọi là "thế hệ những năm 1960". Cũng chính những phần tử côt cán trong số những "con đẻ của Đại hội XX" như Gorbachev, Yeltsin, Yakovlev, trong cuộc chiến tranh khốc liệt ở Liên Xô sau những năm 80 của thế kỷ XX, đóng vai trò "người đại diện" của chủ nghĩa tư bản phương Tây, đóng vai trò là "con ngựa thành Troy" khi Đảng Cộng sản Liên Xô và nội bộ chính quyền nhà nước đón diễn biến hòa bình của phương Tây, là "người đào huyệt" cho Đảng Cộng sản Liên Xô và chế độ xã hội chủ nghĩa Liên Xô.


Tóm lại, thời kỳ Khrushchev, Đảng Cộng sản Liên Xô đã phạm sai lầm nghiêm trọng trong ứng phó với diễn biến hòa bình, bài học vô cùng sâu sắc.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #191 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2022, 10:44:15 am »

3. Những thành quả và mất mát của Đảng Cộng sản Liên Xô trong ứng phó với diễn biến hòa bình thời kỳ Brezhnev

Xét về tổng thể, về phương diện kiềm chế sự tấn công của ý thức hệ phương Tây, phòng chống sự biến chất của Đảng và xã hội, nhận thức của Đảng Cộng sản Liên Xô thời kỳ Brezhnev tỉnh táo hơn nhiều so với thời kỳ Khrushchev, tính cảnh giác mạnh hơn trước, tính chủ động công tác về phương diện này cũng được nâng cao hơn trước. Điều này đầu tiên thể hiện ở chỗ có nhận thức tương đối cao về tính sắc bén trong đối kháng giữa hai loại chế độ và hai loại ý thức hệ, đặc biệt là sau sự kiện "mùa xuân Praha" xảy ra ở Tiệp Khắc năm 1968. Sau khi tình hình trong nước Ba Lan trở nên xấu đi vào cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ XX, lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô tăng cường hơn sự kiểm soát trong lĩnh vực ý thức hệ, các ban, ngành hữu quan đả kích mạnh mẽ "khuynh hướng phản cách mạng" của "công đoàn đoàn kết". Ngoài ra, Đảng Cộng sản Liên Xô có sự nhận thức và cảnh giác nhất định đối với âm mưu chiến lược của các thế lực phương Tây lợi dụng chủ nghĩa dân chủ làm mâu thuẫn và xung đột trong nước, phân hóa tan rã Liên Xô. Năm 1972, trong Nghị quyết về việc chuẩn bị chào mừng 50 năm thành lập Liên Xô, Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô yêu cầu tổ chức Đảng các cấp "kiên quyết vạch trần những nhà tư tưởng chống cộng, những kẻ theo chủ nghĩa cơ hội tả hữu khuynh, chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa sô-vanh", đề phòng thế lực phương Tây lợi dụng chủ nghĩa dân tộc để phá hoại chế độ xã hội chủ nghĩa Liên Xô.


Trong thời kỳ Brezhnev, thế lực chống cộng phương Tây lợi dụng hơn nữa cái gọi là "dân chủ", "nhân quyền" để tấn công Liên Xô, can thiệp vào công việc nội bộ của Liên Xô. Chính sự nhúng tay của các thế lực phương Tây, bắt đầu từ sau những năm 60 của thế kỷ XX, "người bất đồng chính kiến" ở Liên Xô bắt đầu hoạt động ở nhiều nơi, trong đó có nhiều người trên thực tế hoạt động phá hoại chống cộng, chống chủ nghĩa xã hội. Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô tương đối coi trọng vấn đề này, đồng thời đã áp dụng những biện pháp đối phó nhất định. Ví dụ, sau khi con gái của Xtalin, bà Alliluyeva Svetlana chạy sang phương Tây, xuất bản cuốn hồi ký vạch trần mặt xấu trong giới lãnh đạo Liên Xô, đã nảy sinh những ảnh hưởng tiêu cực trong và ngoài Liên Xô. Về việc này, Đảng Cộng sản Liên Xô đã áp dụng một loạt các biện pháp cụ thể. Lại ví dụ, sau khi nhà vật lý học nổi tiếng Sakharov của Liên Xô - người được mệnh danh là "cha đẻ của bom khinh khí" trở thành "người bất đồng chính kiến", phương Tây có nhiều bài viết về ông này.


Để phòng ngừa hiện tượng Sakharov lan rộng, tạp chí Người cộng sản đăng bài xã luận, chỉ trích Sakharov "liên kết với kẻ thù không đội trời chung với hòa bình và an ninh thế giới", ngoài ra còn động viên hơn 40 viện sĩ hàn lâm và hơn 30 tác giả cùng đăng thư ngỏ, công kích Sakharov "xuyên tạc hiện thực Liên Xô và rắp tâm chỉ trích chế độ xã hội chủ nghĩa", trở thành "công cụ tuyên truyền của kẻ thù chống lại Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác". Cùng với đó, Liên Xô còn giao thiệp ngoại giao nhiều năm với Mỹ về vấn đề nhân quyền, kiên quyết chống lại âm mưu núp dưới bức màn "bảo vệ nhân quyền" đề can thiệp vào nội bộ Liên Xô.


Phải chỉ ra rằng, Andropov khi đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch Ủy ban An ninh quốc gia, thái độ của ông về đấu tranh giữa hai chế độ xã hội, hai ý thức hệ Đông - Tây tương đối rõ ràng, phân tích cũng khá thấu đáo. Mùa xuân năm 1976, trong khi mọi người đang say sưa với sự hòa dịu giữa phương Đông và phương Tây, Andropov trong một lần báo cáo đã nhắc nhở: "Chúng ta phải cảnh giác chú ý với âm mưu quỷ kế của kẻ thù đối với chủ nghĩa xã hội, kịp thời vạch trần và ngăn chặn những biện pháp nhằm lật đổ nền tảng chính trị, kinh tế, ý thức hệ xã hội chủ nghĩa". Mùa thu năm 1977, Andropov lại sắc sảo chỉ ra rằng: "Kẻ thù của chủ nghĩa xã hội hiện nay vẫn chưa từ bỏ âm mưu lật đổ chế độ mới hoặc vật cản trên con đường tiến bước của nó, cho dù chúng không thể sử dụng vũ lực để tiêu diệt chế độ này. Bọn chúng tạo ra các hoạt động gián điệp và hoạt động phá hoại trong lĩnh vực chính trị và kinh tế cũng như các cơ quan đặc biệt, trong đó bao gồm đấu tranh chống chủ nghĩa xã hội trong lĩnh vực đặc biệt nhằm phá hoại ý thức hệ". Ông cảnh báo rõ ràng: Những cơ quan đặc biệt của chủ nghĩa đế quốc "cố gắng hết sức để phá hoại, làm lung lay lòng tin vào chủ nghĩa cộng sản của người dân Liên Xô, đem quan điểm và đạo đức hoàn toàn không ăn khớp với chủ nghĩa xã hội áp đặt lên chúng ta, hòng làm thay đổi chính trị và xã hội ở Liên Xô theo hướng có lợi cho chủ nghĩa đế quốc". Tháng 2 năm 1979, Andropov phát biểu tại Hội nghị Ủy ban An ninh quốc gia Liên Xô, chủ đề là "Hoạt động phá hoại ý thức hệ là vũ khí có độc của chủ nghĩa đế quốc", trong đó hai lần nhấn mạnh tính nguy hại của "hoạt động phá hoại ý thức hệ" của chủ nghĩa đế quốc. Ông nói, tình hình thế giới đã hòa dịu, "đấu tranh ý thức hệ của hai chế độ đối lập nhau ngày càng sâu sắc, hoạt động phá hoại ý thức hệ của chủ nghĩa đế quốc càng được tăng cường", trong điều kiện như vậy, Đảng Cộng sản Liên Xô "càng phải nâng cao hơn nữa tính cảnh giác chính trị, làm cho các biện pháp đập tan hành động phá hoại ý thức hệ ngày càng có hiệu quả"1 (Tham khảo Tuyển tập phát biểu của Andropov, Sđd, tr.258, 259, 339).


Trong thời kỳ Brezhnev, mặc dù xã hội Liên Xô xét về tổng thể tương đối ổn định, các biện pháp ứng phó với diễn biến hòa bình thu được hiệu quả nhất định, nhưng chỗ đứng của lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô không cao, chỉ hạn chế ở những biện pháp hành chính mang tính sự vụ, không xuất phát từ chiến lược đấu tranh lâu dài, lại thêm đánh giá về "tính chín muồi" của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô quá cao, đặc biệt là thiếu nhận thức cần có và hành động tất yếu đối với cải cách thể chế truyền thống, do đó vô cùng yếu ớt trước những biện pháp áp dụng trong chiến lược diễn biến hòa bình của phương Tây. Đồng thời, Đảng và xã hội Liên Xô lại tích tụ nhiều thứ tiêu cực, những thứ này rất dễ bị thế lực thù địch trong và ngoài nước lợi dụng, trở thành nhân tố phá hoại làm sụp đổ Đảng Cộng sản Liên Xô, làm rối loạn xã hội Liên Xô, lật đổ triệt để chủ nghĩa xã hội Liên Xô.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #192 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2022, 10:44:45 am »

Những thứ tiêu cực độc hại này chủ yếu biểu hiện ở những điểm dưới đây.

Một là, hiệu quả trong giáo dục chính trị tư tưởng rất ít, rất nhiều cán bộ đảng viên đánh mất lý tưởng niềm tin.

Trong thời Brezhnev, Đảng Cộng sản Liên Xô đã bỏ ra rất nhiều công sức nhằm tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng. Tổ chức Đảng các cấp và bộ ban ngành mở trường Đảng và trường cán bộ nhiều không đếm được, chuyên đào tạo cán bộ Đảng và nhân tài quản lý trên các lĩnh vực. Mỗi lần sau Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng và Hội nghị toàn thể Trung ương, tinh thần hội nghị đều được truyền đạt nhanh chóng, đồng thời tổ chức học tập trong phạm vi toàn Đảng. Nhưng hiệu quả của những công việc này rất ít, tố chất chính trị và trình độ đạo đức của đội ngũ cán bộ không hề nâng cao rõ rệt. Rất nhiều người trong văn phòng, trong hội nghị nói một đằng, trên bàn ăn, nơi vui chơi giải trí lại nói một nẻo. Xuất hiện nhiều "người hai mặt", chứng tỏ đội ngũ cán bộ của Đảng bắt đầu thoái hóa. Vấn đề trong lĩnh vực ý thức hệ ngày càng nhiều. Không những vậy, lý tưởng niềm tin của một số lãnh đạo cũng tê liệt rồi. Ví dụ, cháu gái của Brezhnev, là Lyubov Yakolema, trong cuốn hồi ký Thế giới đánh mất sau lưng tôi được viết sau khi chuyển đến Mỹ năm 1990 đã nói, đến sau những năm 1960, Brezhnev "đã không còn tin vào sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin hay tiền đồ của chủ nghĩa cộng sản". Ông nói với em trai: "Thế nào là chủ nghĩa cộng sản, đây đều là những lời nói suông để đánh lừa nhân dân"1 (Trích dẫn từ Đồng Lạc Sơn: Đọc nhầm văn hóa, Nxb. Khoa học xã hội Trung Quốc, 1997, tr. 88).


Hai là, sự lãnh đạm về chính trị của thanh niên tăng lên, thế hệ bất cần đời dần dần hình thành.

Một bản báo cáo điều tra năm 1968 của KGB cho thấy, lúc đó rất nhiều sinh viên "thiếu hứng thú đối với việc tham gia các hoạt động chính trị, xã hội", học sinh "tham gia diễu hành ngày lễ không phải là tự nguyện". Có một số người không muốn học chủ nghĩa Mác - Lenin, cho rằng "lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời", nhưng lại "thích đài phát thanh phương Tây hơn", đặc biệt là đài "Tiếng nói Hoa Kỳ" và "Làn sóng nước Pháp". Trong số các thanh niên nghe đài phát thanh phương Tây, trên 1/3 đã hình thành "quan điểm đối lập về tư tưởng". Rất nhiều sinh viên "hoàn toàn xa lạ với Đảng", cho rằng "đảng viên cộng sản chân chính là không có". Sau sự kiện Tiệp Khắc, một số sinh viên có hứng thú đối với vấn đề "đảng đối lập", cho rằng thành lập đảng đối lập là biện pháp giải quyết vấn đề, còn có người cho rằng sự kiện Tiệp Khắc có khả năng tái diễn ở Liên Xô. Một số thanh niên có biểu hiện "bất hảo" về mặt chính trị đã thành lập những tổ chức kỳ lạ như "Đảng thanh niên Nazi", "Hội chữ thập kỵ sĩ", "Đế quốc thứ tư". Một số thanh niên đã thành lập các loại tổ chức nhỏ, đoàn thể nhỏ như câu lạc bộ, tổ liên hợp sáng tác, đăng những bài viết không tốt về chính trị. Còn có một số người kết thành bè nhóm lưu manh, khẩu hiệu lấy tư tưởng "Hippy" làm nền tảng, "đấu tranh cho dân chủ của tự do và xã hội". Năm 1976, trong báo cáo liên quan của những tổ chức trên gửi cho Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô nhắc đến, "trong rất nhiều cơ quan trinh sát của các nước đế quốc chuyên thành lập bộ phận nhắm đến thanh niên các nước xã hội chủ nghĩa", "thanh niên Liên Xô bị kẻ thù coi như là một đối tượng cực kỳ quan trọng làm tan rã về mặt tư tưởng". Hiện tượng này cho thấy, là tương lai của Đảng và đất nước, một bộ phận khá lớn thanh niên Liên Xô đã không còn niềm tin chủ nghĩa xã hội tất thắng nữa. Công tác thanh niên của Đảng Cộng sản Liên Xô thất bại nghiêm trọng.


Ba là, không có biện pháp hữu hiệu ngăn cấn sự thẩm thấu của văn hóa tư tưởng thế giới phương Tây, sự phản kích lại thế tiến công của ý thức hệ thế lực thù địch là có hạn.

Theo thống kê của KGB năm đó, những năm 1960 - 1970, đài phát thanh vô tuyến điện của phương Tây phát ở Liên Xô lúc nhiều nhất lên tới 41 kênh, mỗi ngày phát tổng cộng 253 giờ, trong 12 chuyên mục có tới 7 chuyên mục dành riêng cho thanh niên. Trong quá trình tiến hành thâm nhập vào thanh niên Liên Xô, những thanh niên du học, tu nghiệp tiến sĩ, hoặc du lịch nước ngoài đã trở thành mục tiêu chủ yếu để các nước phương Tây làm "sụp đổ về tư tưởng", về mặt này, các kênh như giao lưu học thuật, giao lưu học sinh chiếm vị trí quan trọng. Tiếp xúc và liên hệ thư từ kín với người nước ngoài cũng có ảnh hưởng rất lớn đối với một số thanh niên Liên Xô hình thành "tư tưởng thù địch". Do sự tuyên truyền có hại của phương Tây, ở nhiều thanh niên Liên Xô còn xuất hiện những hành vi bất hảo về phương diện tôn giáo, một số người còn có hành vi phản xã hội rõ rệt. Lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô lúc đó đã phát hiện ra những vấn đề này, nhưng không tìm ra được phương pháp giải quyết hữu hiệu, trong nhiều trường hợp áp dụng thái độ buông xuôi. Ngoài ra, dưới sự ủng hộ của một số thế lực phương Tây, những tác phẩm của "người bất đồng chính kiến" như Solzhenitsyn, Sakharov và hồi ký của những người lưu vong chính trị được lưu truyền rộng rãi trong thế giới ngầm, tạo ra ảnh hưởng lớn trong xã hội, đặc biệt là trong giới trí thức và thanh niên, học sinh, làm nhiễu loạn nghiêm trọng trong Đảng và lòng dân, mối nguy hại lớn của nó ngay lập tức thể hiện toàn bộ dưới thời Gorbachev.


Bốn là, sách lược trong đấu tranh ngoại giao về vấn đề nhân quyền chưa thỏa đáng, trả giá nặng nề trong thỏa hiệp với phương Tây.

Ngay trong thời kỳ Khrushchev, Liên Xô đã đề xướng tổ chức Hội nghị an ninh và hợp tác châu Âu. Sau khi Brezhnev lên cầm quyền gia tăng hơn nữa mức độ khỏi xướng an ninh châu Âu. Trải qua nhiều năm đấu tranh, Liên Xô và Mỹ cuối cùng đã ký văn kiện tối hậu của Hội nghị an ninh và hợp tác châu Âu vào tháng 8 năm 1975. Trong quá trình này, nhân quyền trở thành tiêu điểm của vấn đề. Lúc đó, để khiến phương Tây thừa nhận biên giới sau chiến tranh, thực hiện cố định hóa hệ thống Yalta, Liên Xô đã chấp nhận những chủ trương của phương Tây về chủ nghĩa nhân đạo và hợp tác trên các phương diện khác, đồng ý "giao lưu tự do" giữa nhân dân, tổ chức, cơ quan với các nước tham gia hội nghị. Sau hội nghị, các nước phương Tây rất coi trọng những quy định về "nhân quyền", "tự do" trong Hiệp định Henxinki, thường xuyên lợi dụng những điều khoản của nó để gia tăng áp lực lên Liên Xô và các nước Đông Âu, Liên Xô không còn cách nào, nhượng bộ từng bước, không còn dám áp dụng bất cứ hành động nào đối với "người bất đồng chính kiến" của nước mình. Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến "người bất đồng chính kiến" Liên Xô trở thành tai họa. Sau khi Liên Xô giải thể, nhiều chuyên gia đều cho rằng, những thỏa hiệp quan trọng trong vấn đề nhân quyền với phương Tây là một thất bại trong cuộc đời chính trị của Brezhnev, cũng là một sai lầm nghiêm trọng trong ngoại giao của Liên Xô.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #193 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2022, 07:31:39 am »

III. SỰ THỎA HIỆP VÀ ĐÓN NHẬN THẾ TlẾN CÔNG DIỄN BIẾN HÒA BÌNH CỦA PHƯƠNG TÂY THỜI KỲ GORBACHEV

Tháng 3 năm 1985, khi Gorbachev lên làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô, Liên Xô có rất nhiều vấn đề cần phải giải quyết, quan hệ dân tộc và chính sách đối ngoại cũng cần phải điều chỉnh hợp lý. Đảng Cộng sản Liên Xô hô hào cải tổ, nhân dân mong đợi cải tổ. Đáng buồn là, Gorbachev không phải là người theo chủ nghĩa Mác chín muồi về tư tưởng, kiên định về chính trị, cũng không phải nhà cải tổ nhìn xa trông rộng, đa mưu túc trí. Công cuộc cải cách mà ông ta phát động, từ tư tưởng chỉ đạo cho đến mục tiêu cuối cùng, từ phương thức hành động đến biện pháp thực thi, từ đầu đến cuối đều là mâu thuẫn với nhau, hỗn loạn không có trật tự. Đường lối "chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo" mà ông đề xướng không những không "đổi mới toàn diện" trong Đảng, nhà nước, xã hội, quan hệ dân tộc, không làm cho địa vị quốc tế và tình hình của Liên Xô được cải thiện căn bản, mà ngược lại đã mở cánh cửa thuận lợi cho phương Tây thúc đẩy diễn biến hòa bình.


Các nước phương Tây nắm chắc cơ hội Liên Xô tiến hành cải tổ, lợi dụng nhược điểm của Gorbachev, trù tính cẩn thận, dần dần áp sát, tấn công toàn diện trong diễn biến hòa bình trên các mặt chính trị, kinh tế, dân tộc, ngoại giao. Đứng trước tình hình trên, tập đoàn lãnh đạo Gorbachev không những không có bất cứ cảnh giác nào, không có bất cứ sự phản kháng nào, ngược lại còn lựa chọn thái độ thỏa hiệp và đón nhận, phối hợp với diễn biến hòa bình của phương Tây, từng bước từng bước dẫn Liên Xô đến con đường hủy diệt. Trong cả quá trình phương Tây phát động tiến công diễn biến hòa bình đối với Liên Xô, Gorbachev trên thực tế đóng vai trò "nội ứng", về mặt tư tưởng, "tư duy mới chính trị quốc tế" và "phi ý thức hệ hóa quan hệ quốc tế" mà Gorbachev tán dương khiến Đảng Cộng sản Liên Xô và xã hội Liên Xô buông lỏng cảnh giác đối với âm mưu diễn biến hòa bình của phương Tây; "dân chủ hóa" và "công khai" mà ông ta tán dương đã tạo điều kiện chính trị và môi trường dư luận cho sách lược diễn biến hòa bình của phương Tây đối với Liên Xô; ông ta núp dưới bóng xóa bỏ "lỗ hổng lịch sử", xuyên tạc một cách ác ý lịch sử của Đảng và Nhà nước, bật đèn xanh cho thế lực chống cộng, chống chủ nghĩa xã hội phủ định hoàn toàn lựa chọn của Cách mạng Tháng Mười Nga và phương hướng xã hội chủ nghĩa. Về mặt chính trị, Gorbachev làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện đa nguyên hóa về chính trị theo kiểu phương Tây, để cuối cùng phương Tây thực hiện diễn biến hòa bình ở Liên Xô, đồng thời dọn đường cho xây dựng thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa.


1. Những biểu hiện chủ yếu trong thỏa hiệp và đón nhận thế tiến công diễn biến hòa bình của phương Tây

Sách lược đối với diễn biến hòa bình của phương Tây thời kỳ Gorbachev không những không hề cảnh giác, mà còn chủ động đón nhận. Điều này không tách rời đường lổỉ "chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo" mà ông ta thúc đẩy. Gorbachev lựa chọn thỏa hiệp và đón nhận diễn biến hòa bình của phương Tây đối với Liên Xô thể hiện trên nhiều phương diện. Chủ yếu phản ánh ở những vấn đề dưới đây.

Một là, để mặc cho truyền thông phương Tây xâm nhập, thực hiện đa nguyên hóa ý thức hệ.

Biện pháp chủ yếu trong chiến lược thực hiện Tây hóa, phân hóa của Mỹ và phương Tây với Liên Xô là lợi dụng truyền thông đại chúng, tiến hành ồ ạt xâm nhập ý thức hệ. Đài phát thanh quy mô lớn mà nước Mv đặt ở Tây Au là đài phát thanh Châu Âu tự do" và đài phát thanh "Tự do", mỗi ngày dùng 6 loại ngôn ngữ "truyền bá những thông tin về những sự kiện quan trọng xảy ra trên thế giới cũng như Liên Xô và các nước Đông Âu", tuyên truyền những "thành tựu", phong cách sống và giá trị quan của xã hội phương Tây. "Tập đoàn truyền thông nước Anh" (BBC) mỗi ngày dùng 40 loại ngôn ngữ và đài phát thanh "Sóng điện Đức" dùng 35 loại ngôn ngữ tuyên truyền đến các nơi trên thế giới. Những đài phát thanh cỡ lớn này đảm nhận nhiệm vụ gieo rắc ý thức hệ phương Tây vào Liên Xô và các nước Đông Âu, trọng điểm là phủ định lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô, phóng đại vô hạn những vấn đề xã hội tồn tại của Liên Xô và các nước Đông Âu, kích động sự bất mãn của nhân dân, đồng thời hướng những bất mãn này vào Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa. Cục tình báo Trung ương Mỹ còn khẳng khái tài trợ cho các cơ quan nghiên cứu hữu quan thiết kế'một "Phương án Harvard", với kế hoạch loại bỏ những tình cảm được hình thành lâu dài của nhân dân Liên Xô đối với Lênin và Xtalin, làm cho các tác phẩm bôi xấu và chống Lênin và Xtalin tràn ngập trên báo chí, đài phát thanh, truyền bình, điện ảnh, tìm cách làm cho dân chúng Liên Xô chấp nhận chuyển di hài Lênin ra nơi khác, v.v... Họ còn ca ngợi một cách có dụng tâm "tư duy mới" của Gorbachev, ủng hộ cuộc cải tổ làm suy yếu, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô và quay lưng với chế độ xã hội chủ nghĩa, thừa cơ ca ngợi cái gọi là "cuộc sống tốt đẹp" và "tính ưu việt" của chế độ tư bản chủ nghĩa của phương Tây.


Em trai Ngoại trưởng Mỹ Dulles, nguyên Cục trưởng Cục tình báo Trung ương Mỹ Allen Dulles, khi nói về sự thẩm thấu ý thức hệ của Mỹ đối với Liên Xô, đã tuyên bố một cách tự tin rằng: "Nếu chúng ta dạy thanh niên Liên Xô hát bài hát của chúng ta và nhảy múa cùng, như vậy chúng ta sớm muộn phải dạy bọn họ tư duy vấn đề theo cách mà chúng ta cần"1 (Trích dẫn từ Vương Hiểu Đức: Văn hóa Mỹ và ngoại giao Mỹ, Nxb. Tri thức thế giới, 2000, tr.219-220). Rõ ràng là, thế giới phương Tây rất chú ý dùng phong cách sống và phong cách tiêu xài của họ để ảnh hưởng đến đông đảo dân chúng Liên Xô, đặc biệt là thanh niên.


Đứng trước thế tấn công tuyên truyền này, Gorbachev không những mất đi cảnh giác, không chú ý giáo dục chủ nghĩa yêu nước đối với nhân dân Liên Xô, ngược lại còn cổ vũ dân chúng chấp nhận phương Tây. Trong Hội nghị Bộ Chính trị tháng 8 năm 1985, ông ta đã nói: "Người Liên Xô phải trực tiếp tiếp xúc với người nước ngoài. Không phải sợ, hãy để bọn họ giao lưu... một số người sẽ thấy, thế giới thật lớn, rực rỡ, đa sắc"1 (A. Chernyaev: Sáu năm bên cạnh Gorbachev, Sđd, tr.56-57). Ngày 14 tháng 7 năm 1987, khi gặp người phụ trách báo chí và giới văn nghệ, ông ta nói: "Hãy để ngôn từ của chúng ta đa dạng một chút, để cả xã hội cùng tham gia, hãy để thuyết đa nguyên của chủ nghĩa xã hội lấp đầy mỗi tờ bảo". "Thuyết đa nguyên" mà Gorbachev cổ xúy trên thực tế đã phủ định vai trò chỉ đạo của chủ nghĩa Mác - Lênin trên lĩnh vực ý thức hệ, làm rồi loạn tư tưởng trong và ngoài Đảng Cộng sản Liên Xô, khiến tư tưởng giai cấp tư sản lan tràn tự do. Từ tháng 12 năm 1988, Liên Xô ngừng gây nhiễu đối với các đài phát thanh phương Tây mà trước đây từng bị coi là đài phản động, đồng thời quyết định giải ngân 4 triệu rúp, nhập khẩu 20 tờ báo của phương Tây, bán công khai trong nước2 (Tham khảo Vương Chính Tuyền (chủ biên): Đại sự ký Liên Xô - Đông Âu, Sđd, tr.102). Tiếp theo đó, Gorbachev lại dựa vào hình thức pháp luật để cố định phương châm đa nguyên hóa ý thức hệ. Ngày 12 tháng 6 năm 1990, Gorbachev lợi dụng chức vụ Tổng thống phê chuẩn Luật xuất bản thông tin, tuyên bố thực hiện "tự do thông tin", "không cho phép độc quyền bất cứ một công cụ dư luận nào". Ngày 15 tháng 7 năm đó, Gorbachev ban hành Lệnh Tổng thống về dân chủ hóa truyền hình và phát thanh, tuyên bố truyền hình và phát thanh nhà nước "độc lập với chính trị và tổ chức xã hội", không cho phép "bất kỳ chính đảng nào" độc quyền1 (Tham khảo Vương Chính Tuyền (chủ biên): Đại sự ký Liên Xô - Đông Âu, Sđd, tr.307), từ đó tước bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô đối với công cụ tuyên truyền dư luận. Tất cả những điều này đã góp phần giúp đỡ cho sự tấn công của phương Tây đối với dư luận Liên Xô.


Do Đảng Cộng sản Liên Xô đã mở rộng cánh cửa đối với thế tiến công ý thức hệ của phương Tây, trước và sau năm 1990, trào lưu vứt bỏ chủ nghĩa xã hội trong xã hội Liên Xô đạt đến cao trào. Một bản kết quả điều tra dân ý mang tính toàn quốc cho thấy, khi người dân trả lời câu hỏi "Liên Xô nên lựa chọn con đường nào", 32% người được điều tra cho rằng phải bắt chước nước Mỹ; 17% lựa chọn nước Đức; 11% lựa chọn Thụy Điển. Không ít thế lực chính trị quyết định đi con đường gọi là "cách mạng triệt để", vứt bỏ "bờ bên này" chủ nghĩa xã hội, bước chân vào "bờ bên kia" tư bản chủ nghĩa. Điều này hoàn toàn phù hợp với định nghĩa "tuyên truyền hiệu quả nhất" trong lệnh của Ủy ban An ninh quốc gia Mỹ: "Đối tượng được tuyên truyền đi theo phương hướng do anh chỉ định, nhưng họ lại cho rằng phương hướng đó là do họ tự lựa chọn".
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #194 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2022, 07:32:45 am »

Thứ hai, đón nhận thế tấn công "dân chủ" của phương Tây, rập khuôn mô hình chính trị của phương Tây.

Phương Tây từ trước tới nay chỉ trích Liên Xô là quốc gia "chuyên quyền", "độc tài", đồng thời dùng "nhân quyền", "dân chủ" và "tự do" của phương Tây làm vũ khí, phát động thế tiến công mãnh liệt đối với Liên Xô. Ngày 4 tháng 11 năm 1988, Tổng thống Mỹ Reagan đã đăng bài trên tạp chí Đời sống quốc tế của Liên Xô trong đó có câu: "Toàn thế giới đang mong ngóng trông thấy Liên Xô thay đổi, nhìn thấy Liên Xô áp dụng những biện pháp gia tăng tự do"1 (Tham khảo Vương Chính Tuyền (chủ biên): Đại sự ký Liên Xô - Đông Âu, Sđd, tr.95, 212-213). Ngày 13 tháng 5 năm 1989, tân Tổng thống Mỹ Bush phát biểu, chính sách của phương Tây là "cổ vũ Liên Xô diễn tiên theo xã hội mở cửa", do đó yêu cầu Liên Xô "hợp tác với phương Tây", "thực hiện đa nguyên hóa chính trị bền vững, tôn trọng nhân quyền"2 (Hứa Chinh Phàm (chủ biên): Kho lý luận chủ nghĩa xã hội, Nxb. Bắc Kinh, Nxb. Đại học Nhân dân Trung Quốc, 1998, quyển hạ, tr.958). Trong các cuộc gặp gỡ cấp cao giữa Mỹ và Liên Xô, Mỹ cũng đều đưa vấn đề "nhân quyền", "dân chủ", "tự do" vào chương trình nghị sự, tạo áp lực lớn cho lãnh đạo Liên Xô.


Trước tiên, phương Tây lẩy vấn đề "nhân quyền" làm "điểm đột phá". Gorbachev lên nắm quyền không lâu, nước Mỹ liền thông qua nhiều kênh, nhiều lần yêu cầu Liên Xô phải sớm phóng thích "người bất đồng chính kiến" trong nước, đặc biệt là Sakharov - nhà vật lý hạt nhân có ảnh hưởng rất lớn. Theo góc nhìn phương Tây, vấn đề "nhân quyền" là mắt xích yêu nhất trong phát triển xã hội Liên Xô, lợi dụng vấn đề này buộc Liên Xô nhượng bộ nhiều đối với "người bất đồng chính kiến", vừa có thể làm xấu đi hình tượng Đảng Cộng sản Liên Xô, vừa có thể khiến nhà lãnh đạo Liên Xô thay đổi tư duy chính trị của mình, tự nhiên thay đổi tiến trình chính trị xã hội của quốc gia. Do đó, quan chức cấp cao Mỹ mỗi lần đến thăm Liên Xô, đều lợi dụng cơ hội để gặp "người bất đồng chính kiến" trong nước Liên Xô, cổ vũ họ kiên trì đấu tranh. Ngày 22 tháng 10 năm 1987, Ngoại trưởng Mỹ Shultz khi thăm Liên Xô đã gặp 40 "người bất đồng chính kiến", cổ vũ họ "tiếp tục kiên trì", cũng nói rằng, cho dù quan hệ Mỹ - Xô có cải thiện, nhưng "vấn đề nhân quyền vẫn là vấn đề chủ yếu"3 (Tham khảo Vương Chính Tuyền (chủ biên): Đại sự ký Liên Xô - Đông Âu, Sđd, tr.95, 212-213).


Trước thế tiến công "nhân quyền" của phương Tây, Gorbachev lúc đầu cũng định chống lại, thậm chí từ chối sự chỉ trích của phương Tây, nhưng sau đó không lâu bèn thỏa hiệp, nhượng bộ. Trong đó, một sự việc điển hình là khôi phục lại danh dự cho Sakharov. Sakharov vốn là "cha đẻ của bom khinh khí" của Liên Xô, là "người bất đồng chính kiến" nổi tiếng, ông chủ trương Tây hóa toàn bộ Liên Xô, sao chép chế độ tư bản chủ nghĩa phương Tây. Người này rất sôi nổi trong thời kỳ Brezhnev, thường xuyên gặp gỡ phóng viên phương Tây, phát biểu những chính kiến bất đồng, còn thành lập một tổ chức gọi là "bảo vệ nhân quyền". Đầu những năm 1980, do Sakharov công khai phản đối Liên Xô đưa quân sang Ápganixtan nên bị buộc phải chuyển đến sống ở thành phố Gorky. Nhưng đến 16 tháng 12 năm 1986, dưới áp lực của Mỹ, Gorbachev đã phải đích thân gọi điện mời Sakharov quay về Mátxcơva, khuyến khích ông ta làm chính trị, còn sắp xếp cho ông ta hai căn nhà và biệt thự1 (A. Chernyaev: Sáu năm bên Gorbachev, Sđd, tr.140). Sakharov lại đưa ra yêu cầu Liên Xô phóng thích các tội phạm chính trị khác. Theo đó, Liên Xô miễn cưõng phóng thích 140 "người bất đồng chính kiến"2 (Tham khảo Vương Chính Tuyền (chủ biên): Đại sự ký Liên Xô - Đông Âu, Sđd, tr. 25, 28). Nhưng Sakharov vẫn chưa hề hài lòng với điều này, ông ta tiếp tục đưa ra một danh sách, yêu cầu Liên Xô phóng thích thêm 200 tội phạm chính trị. Trong buổi gặp gỡ Đại sứ Mỹ tại Liên Xô Matlock, ông ta còn đốc thúc nước Mỹ "không được buông lỏng áp lực đối với Liên Xô, để phóng thích tất cả các tội phạm chính trị đang bị giam cầm"3 (Little Jack, F. Matlock (Mỹ): Ghi chép trải nghiệm bản thân về sự giải thể của Liên Xô, Sđd, tr. 119). Sakharov lúc này trên thực tế đã trở thành người phát ngôn của phương Tây tại Liên Xô. Gorbachev không những cho phép ông ta được tiếp xúc và liên hệ thường xuyên với phía Mỹ, mà còn cổ vũ ông ta tham gia các hoạt động chính trị, thậm chí còn dành cho ông ta sự chăm sóc đặc biệt. Khi bầu cử đại biểu nhân dân Liên Xô tháng 3 năm 1989, Sakharov gặp phải sự phản đối của rất nhiều người tại Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, do đó đã không trúng cử. Nhưng Gorbachev lập tức tăng thêm cho Viện Khoa học Liên Xô mấy suất, Sakharov cuối cùng đã trúng cử đại biểu nhân dân Liên Xô. Sau này, Sakharov và Yeltsin tại Đại hội đại biểu nhân dân Liên Xô đã liên kết với gần 300 nghị sĩ, thành lập "Đoàn nghị sĩ xuyên khu vực", đồng thời biến nó thành một đảng đoàn đối lập kịch liệt chống Đảng Cộng sản Liên Xô. Đối với điều này, Gorbachev chưa từng bày tỏ khiển trách hay phản đối. Những cách làm này của Gorbachev được mọi người gọi là "thả hổ về rừng", trên thực tế đã tạo điều kiện cho Sakharov và những "người bất đồng chính kiến" hành động trắng trợn chống Đảng Cộng sản Liên Xô và chống chủ nghĩa xã hội. Ngày 14 tháng 12 năm 1989, Sakharov bị bệnh qua đời, Gorbachev vô cùng thương tiếc, tuyên bố đây là "sự tổn thất to lớn"1 (Tham khảo Vương Chính Tuyền (chủ biên): Đại sự ký Liên Xô - Đông Âu, Sđd, tr.212-213). Do lập trường và thái độ "rõ ràng" này của Gorbachev, ngày càng có nhiều người bất đồng chính kiến và các phong trào "người bất đồng chính kiến" quy mô lớn ở Liên Xô được công khai hóa và hợp pháp hóa rất nhanh.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #195 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2022, 07:33:28 am »

Trong thời gian này, thế tấn công "dân chủ" của phương Tây chuyển hướng sang ủng hộ các phe phái phản động trong nước của Liên Xô, đẩy mạnh chăm sóc cho "người đào huyệt" của Đảng Cộng sản Liên Xô và chính quyền Xôviết. Liên Xô lúc đó, dưới sự phát động khẩu hiệu "dân chủ hóa" của Gorbachev, hàng vạn "tổ chức phi chính thức" liên tục được lập lên ở khắp nơi trong nước. Theo tiết lộ của bài xã luận trên báo Sự thật ngày 28 tháng 12 năm 1987, "tổ chức phi chính thức" của Liên Xô lúc đó đã lên tới hơn 3 vạn. Trong đó, có một lượng lớn là tổ chức chính trị chống cộng, chống chủ nghĩa xã hội, chúng có cương lĩnh, có tổ chức, có quần chúng, có tập san, còn được sự ủng hộ mạnh mẽ của phương Tây. Trước tình hình này, Gorbachev lựa chọn thái độ bỏ mặc, thậm chí ủng hộ khuyến khích. Tại Đại hội đại biểu lần thứ XIX Đảng Cộng sản Liên Xô tháng 6 năm 1988, ông ta phát biểu, "sự tăng mạnh của các đoàn thể xã hội thể hiện các loại lợi ích xã hội" là "đặc điểm nôi bật" của cải tổ; "nói chung, đây là thể hiện xuất sắc của tinh thần nhân dân, nó xứng đáng được ủng hộ mạnh mẽ". Cho đến ngày 18 tháng 7 năm 1989, tại Hội nghị Bí thư thứ nhất các Khu ủy và Trung ương các Đảng Cộng hòa trong toàn Liên Xô, ông ta nhấn mạnh, những tổ chức xã hội này "tuyệt đại đa số chủ trương đi sâu cải tổ, chủ trương dân chủ hóa hơn nữa... phù hợp khách quan giữa mục đích tích cực của các tổ chức này và mục đích cải tổ", do đó nên "đối thoại và hợp tác với họ". Thực ra các "tổ chức phi chính thức" này ban đầu là manh nha của chính đảng, sau này phát triển thành các chính đảng thực sự, đặt nền móng cho Liên Xô thực hiện chế độ đa đảng. Gorbachev lúc đầu phản đối thực hiện chế độ đa đảng, nhưng theo sự phát triển của tình hình lại thỏa hiệp nhượng bộ, tuyên bố tán thành chế độ đa đảng, đồng thời tại Hội nghị toàn thể Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô tháng 2 năm 1990 đã đưa ra kiến nghị thực hiện chế độ đa đảng. Không lâu sau, Đại hội đại biểu nhân dân Liên Xô thông qua nghị quyết, sửa đổi Hiến pháp Liên Xô, quy định thực hiện chế độ đa đảng ở Liên Xô, xóa bỏ địa vị lãnh đạo luật định của Đảng Cộng sản Liên Xô. Một năm sau, đến tháng 2 năm 1991, toàn Liên Xô xuất hiện 20 chính đảng mang tính toàn quốc, hơn 500 chính đảng cấp 1 ở các nước cộng hòa. Cách làm của Gorbachev, trên thực tế là đón nhận thế tấn công "dân chủ" của phương Tây, cổ vũ các thế lực chống cộng, chống chủ nghĩa xã hội trong nước tổ chức lại, kết thành chính đảng, triển khai đấu tranh cướp quyền với Đảng Cộng sản Liên Xô. Tình hình lúc đó, giống như trong bài viết của báo Le Figaro của Pháp ngày 23 tháng 7 năm 1990: "Dân chủ trong đời sống thường ngày của Liên Xô đã thiết lập rồi", "luật lệ cấm đoán đã phế bỏ rồi, người ta có thể tùy ý công kích Đảng Cộng sản và quân đội", "phong trào của phe đối lập được cho phép và được khích lệ", "Đảng và quân đội 70 năm nay đều là trụ cột của xã hội, đến nay đều bị chỉ trích và lên ấn", "Đảng bị mất uy tín", "Liên Xô - Tổ quốc của giai cấp vô sản thế giới trước kia hầu như đã trở thành Tổ quốc của chủ nghĩa hư vô, chủ nghĩa hoài nghi, chủ nghĩa vô chính phủ"1 (Hứa Chinh Phàm (chủ biên): Kho lý luận chủ nghĩa xã hội, Sđd, quyển hạ, tr.964).


Trong số các phe đối lập bên trong Liên Xô, phương Tây quan tâm nhất và ủng hộ mạnh mẽ là phe Yeltsin. Yeltsin lúc đầu từng là tướng tài đắc lực của Gorbachev, được điều động từ nơi khác về đảm nhiệm chức vụ quan trọng Bí thư thứ nhâì: Thành ủy Mátxcơva. Nhưng sau đó không lâu, ông ta liền phản đối phương châm cải tổ của Đảng Cộng sản Liên Xô, phản lại Gorbachev, đồng thời trở thành nhân vật lãnh tụ của phe đối lập. Vào mùa hè năm 1987, Đại sứ Mỹ tại Liên Xô đã tiếp xúc với Yeltsin. Sự "thẳng thắn" chống cộng, chống chủ nghĩa xã hội của Yeltsin đã để lại ấn tượng mạnh mẽ cho Đại sứ Mỹ, nước Mỹ lập tức coi ông ta là đối tượng công tác trọng điểm, toàn lực ủng hộ các hành động chống đối nhằm chống lại Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và chính quyền liên minh, chia cắt Đảng Cộng sản Liên Xô và Liên Xô. Kỳ lạ là, Gorbachev cũng rất quan tâm tới Yeltsin, sau khi phế bỏ chức vụ lãnh đạo trong Đảng của Yeltsin, vẫn bổ nhiệm ông ta làm Phó Chủ tịch thứ nhất Ủy ban Xây dựng quốc gia (cấp Bộ trưởng). Tháng 3 năm 1989, Yeltsin từ bỏ chức vụ Bộ trưởng, tranh cử đại biểu nhân dân Liên Xô, và đã thành công. Nhưng ông ta đã không trúng cử tại Đại hội đại biểu nhân dân Liên Xô bầu đại biểu Xô viết tối cao ngày 27 tháng 5 năm đó. Do đó, Gorbachev lại một lần nữa dang tay giúp đỡ, đặc cách cho phép một đại biểu Xô viết tối cao đã trúng cử "nhường chỗ" cho Yeltsin1 (Tham khảo Vương Chính Tuyền (chủ biên): Đại sự ký Liên Xô - Đông Âu, Sđd, tr.134). Sau đó, nước Mỹ hai lần mời Yeltsin thăm Mỹ, dành cho ông sự đón tiếp cao độ và ủng hộ mạnh mẽ. Một lần là vào tháng 9 năm 1989, Yeltsin thăm Mỹ chỉ với thân phận đại biểu nhân dân Liên Xô. Một lần khác là vào tháng 6 năm 1991, Yeltsin thăm Mỹ với thân phận đương kim Tổng thống Nga. Để giúp Yeltsin chống lại Đảng Cộng sản Liên Xô, tháng 4 năm 1991, Sở nghiên cứu Hoover thuộc phe tư tưởng bảo thủ Mỹ đã đưa ra quyết định, cử chuyên gia định kỳ sang Liên Xô làm cố vấn cho Yeltsin, cung cấp tư vấn miễn phí. Khi Yeltsin ra tranh cử Tổng thống Nga, có 5 chuyên gia Mỹ làm cố vấn cho ông ta, thù lao do phía Mỹ chi trả. Lúc đó, Đại sứ Mỹ tại Liên Xô giữ liên hệ mật thiết nhất với Yeltsin, số lần mà ông ta gặp gỡ với Yeltsin còn nhiều hơn nhiều so với số lần gặp gỡ Tổng thống Liên Xô Gorbachev. Dưới sự thúc đẩy của nước Mỹ, Gorbachev nhiều lần "bắt tay hợp tác" với Yeltsin. Ngày 10 tháng 7, Gorbachev bày tỏ chúc mừng khi Yeltsin tuyên thệ nhậm chức Tổng thống Nga, nhấn mạnh sự đắc cử của Yeltsin là "kết quả của thay đổi dân chủ do cải tổ mang lại", đồng thời kêu gọi tăng cường sự hợp tác và thông cảm lẫn nhau giữa Trung ương và Nga1 (Theo AFP tại Mátcơva ngày 10-7-1991). Trong sự kiện "ngày 19 tháng 8" diễn ra sau đó, Gorbachev càng đứng gần với phương Tây và Yeltsin, cùng đối phó với "Ủy ban tình trạng khẩn cấp quốc gia" lúc đó đang cố gắng xoay chuyển tình thế đồng thời tuyên bố giải tán Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, khiến tình hình chính trị của Liên Xô thay đổi đột ngột.


Phải nói rằng, Yeltsin rất cảm kích trước tấm ân tình mà nước Mỹ dành cho mình, hơn nữa đã có đi có lại. Đêm trước sự kiện "19 tháng 8", Popov, nhân sĩ nổi tiếng thuộc phe đối lập Liên Xô đã dùng mẩu giấy mật báo Đại sứ Mỹ, nói rằng có người đang tính toán một âm mưu lớn. Sau khi xảy ra sự kiện "19 tháng 8", Tổng thống Mỹ hai lần nói chuyện điện thoại với Yeltsin, ổn định tinh thần và khích lệ ý chí của ông ta; các quốc gia tư bản chủ nghĩa chính ở phương Tây lập tức bày tỏ rõ ràng ủng hộ Yeltsin, đồng thời tuyên bố tạm ngưng mọi kế hoạch viện trợ Liên Xô. Tháng 12 năm 1991, khi cùng với lãnh đạo Ucraina và Bêlarút âm mưu giải tán Liên Xô, Yeltsin cũng đã thông báo tình hình với Tổng thống Mỹ và được Mỹ ủng hộ.


Trước đó, phương Tây còn trực tiếp ủng hộ sự bạo loạn xã hội trong nước Liên Xô. Từ tháng 3 đến tháng 4 năm 1991, gần 1 triệu công nhân khai khoáng Liên Xô tổ chức bãi công, gây ra tổn thất to lớn. Ngày 22 tháng 3, hai nhân viên công tác trong Sứ quán Mỹ tại Liên Xô đã tham gia Đại hội đại biểu công nhân bãi công mỏ than Donbass, bày tỏ ủng hộ bãi công. "Liên đoàn lao động - Liên đoàn ngành nghề" của Mỹ cũng công khai bày tỏ ủng hộ bãi công của công nhân mỏ Liên Xô, đồng thời còn viện trợ về vật chất. Đối với những vấn đề này, Gorbachev thể hiện tương đối khoan dung, không tra, không hỏi, không biểu dương hay phê bình, cũng chưa hề vì điều đó mà có ý kiến với các nước phương Tây.


Tóm lại, phương Tây đã làm rất nhiều việc xấu đối với Liên Xô trong các mặt phát động tấn công "dân chủ", nhúng tay vào công việc chính trị nội bộ, ủng hộ phái đối lập. Nhưng Gorbachev không những không gia tăng phản đối hay kiểm soát, ngược lại còn đón nhận mưu đồ diễn biến hòa bình của phương Tây, rập khuôn mô hình chính trị của phương Tây tại Liên Xô, thực hiện tam quyền phân lập, dân chủ nghị viện, tự do bầu cử, chế độ đa đảng và chế độ Tổng thống, biến đời sống chính trị của Liên Xô thành một mớ hỗn độn, cuối cùng dẫn đến "mất Đảng, mất nước". Gorbachev làm như vậy là bởi vì nói cho cùng ông ta không phải nhà mácxít chân chính, nói thật lòng, ông ta thực ra là tín đồ trung thành của chủ nghĩa tư bản phương Tây. Do đó, mặc dù lúc đầu ông ta nhấn mạnh "dân chủ thêm một chút, chủ nghĩa xã hội thêm một chút", kết quả sau này lại là "dân chủ" càng ngày càng nhiều, từ đó đi đến dân chủ hóa tuyệt đối và chủ nghĩa vô chính phủ, mà chủ nghĩa xã hội lại ngày càng ít, cuối cùng đi đến hủy diệt triệt để.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #196 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2022, 07:34:08 am »

Ba là, dung túng cho phương Tây "phân hóa" Liên Xô, để mặc Liên bang đi đến giải thể.

Sách lược diễn biến hòa bình mà phương Tây thúc đẩy ở Liên Xô, trên thực tế là sử dụng cách làm tiến hành đồng bộ, ngoài việc phát động tấn công "dân chủ" thúc đẩy Liên Xô đi con đường "Tây hóa", một trọng điểm khác là kích động mâu thuẫn dân tộc, tiến hành "phân hóa", thúc đẩy Liên Xô giải thể. Tình hình lúc đó là, mâu thuẫn dân tộc tồn tại lâu ngày ở Liên Xô bởi Gorbachev thực hiện cái gọi là "dân chủ hóa quan hệ giữa các dân tộc" đã bộc lộ đầy đủ và trở nên gay gắt, tạo nên đối lập và xung đột dân tộc nghiêm trọng. Các nước phương Tây lợi dụng thời cơ đục nước béo cò, một mặt sử dụng các phương tiện truyền thông đổ thêm dầu vào lửa đối với các hoạt động chia rẽ dân tộc ở Liên Xô; mặt khác cử người triển khai các hoạt động tại các tổ chức dân tộc chủ nghĩa để bày mưu tính kế và động viên tinh thần cho họ. Đứng trước âm mưu "phân hóa" của phương Tây, Gorbachev đã thiếu cảnh giác, ứng phó sơ suất, ngăn chặn không hiệu quả, nhượng bộ từng bước trong quan hệ dân tộc, đành chịu nhìn Liên Xô đi vào con đường giải thể.


Lúc đó, thế tiến công trọng điểm của phương Tây trong "phân hóa" Liên Xô đầu tiên hướng đến ba nước cộng hòa trong Liên bang bên bờ biển Bantích là Lítva, Latvia, Extônia. Các nước phương Tây từ trước đến nay đều cho rằng, ba nước Bantích gia nhập Liên Xô là "bất hợp pháp", là kết quả của việc Liên Xô "mở rộng xâm lược". Ngày 1 tháng 12 năm 1989, nguyên thủ hai nước Mỹ và Liên Xô gặp gỡ tại Malta, Tống thống Mỹ đã gia tăng áp lực đối với Gorbachev, tuyên bố Mỹ từ trước tới nay không thừa nhận Liên Xô sáp nhập ba nước Bantích, đồng thời cảnh cáo Gorbachev không được dùng vũ lực để đối phó với các phong trào dân tộc của ba nước Bantích. Thế nhưng, phong trào chia rẽ dân tộc ở Liên Xô sớm nhất là bắt đầu từ ba nước Bantích. Bắt đầu từ năm 1987, cứ vào ngày 23 tháng 8 hằng năm, ba nước Bantích đều xảy ra biểu tình mang tính quần chúng với quy mô lớn dưới sự xúi giục và ủng hộ của các nước phương Tây, mượn dịp kỷ niệm năm ký kết Điều ước Xô - Đức năm 1939, kháng nghị Liên Xô "thôn tính" nước minh, đồng thời đưa ra khẩu hiệu đòi độc lập. Tháng 10 năm 1988, ở ba nước Bantích lần lượt thành lập tổ chức "Mặt trận nhân dân", mục đích là thúc đẩy hơn nữa phong trào chia rẽ dân tộc. Ngày 23 tháng 8 năm 1989, 2 triệu người dân ba nước Bantích vượt qua biên giới, tay nắm tay kết thành "sợi dây người" dài 600 km, dấy lên phong trào "Con đường Bantích", đồng thời đưa ra khẩu hiệu "đánh đổ Đảng Cộng sản Liên Xô" và "thoát khỏi Liên Xô"1 (Tham khảo Vương Chính Tuyền (chủ biên): Đại sự ký Liên Xô - Đông Âu, Sđd, tr.154). Ngày 20 tháng 12 năm đó, Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Lítva với 850 phiếu thuận, 180 phiếu chống thông qua nghị quyết, tuyên bố độc lập, thoát khỏi Đảng Cộng sản Liên Xô. Ngày 11 tháng 3 năm 1990, Xôviết tối cao Lítva với 91:42 phiếu thông qua nghị quyết, tuyên bố độc lập, tách khỏi Liên Xô. Theo đó, Xôviết tối cao hai nước Látvia, Extônia cũng thông qua khôi phục tuyên ngôn và pháp lệnh độc lập, đẩy phong trào chia rẽ dân tộc lên thành cao trào.


Phải nói rằng, lúc đó Gorbachev từng phản đối Lítva tuyên bố độc lập, hơn nữa đã từng áp dụng những biện pháp nghiêm khắc, bởi vì ông ta không muốn nhìn thấy Liên Xô đi đến bước đường giải thể trong nhiệm kỳ cầm quyền của mình. Ngày 13 tháng 3 năm 1990, Gorbachev phát biểu tại Đại hội đại biểu nhân dân Liên Xô rằng Lítva tuyên bố độc lập là bất hợp pháp và vô hiệu. Theo đó, Đại hội đại biểu nhân dân Liên Xô đã thông qua nghị quyết tương ứng, tuyên bố quyết định độc lập của Lítva "không có hiệu lực pháp lý". Quân đội Liên Xô đóng tại Lítva đã tiến hành diễn tập quân sự, biểu dương vũ lực, gia tăng áp lực đối với Lítva. Ngày 21 tháng 3, Gorbachev ban hành lệnh Tổng thống, yêu cầu Chính phủ Liên Xô lựa chọn giải pháp để bảo vệ chủ quyền của Liên Xô, đồng thời yêu cầu công dân Lítva phải giao nộp vũ khí trong vòng 7 ngày. Tiếp theo đó, 100 chiếc xe của quân đội Liên Xô từ kế bên tòa nhà Hội nghị Lítva đang họp bên trong ầm ầm kéo đến. Đồng thời, quân đội Liên Xô chiếm lĩnh tòa nhà Trung ương Đảng và Văn phòng Viện Kiểm sát Lítva, đóng cửa khẩu biên giới duy nhất của Lítva thông ra nước ngoài (Ba Lan). Ngày 13 tháng 4, Gorbachev cảnh cáo lãnh đạo Lítva, nếu trong vòng 2 ngày không hủy bỏ văn kiện độc lập, Liên Xô sẽ "ngừng cung cấp" sản phẩm. Theo đó, Liên Xô thực hiện đóng cửa kinh tế, ngừng cung cấp dầu mỏ, giảm cung cấp khí đốt thiên nhiên cho Lítva. Trong thời gian này, Lítva kiên trì quyết định độc lập, nhưng thể hiện không thông qua lại văn kiện độc lập mới, đồng thời yêu cầu đối thoại với Liên Xô. Các nước phương Tây cũng gia tăng áp lực đối với Liên Xô, Tổng thống Mỹ Bush công khai thể hiện ủng hộ quyền tự quyết của Lítva, cảnh báo Liên Xô không được dùng vũ lực. Thế là sự đối kháng giữa Lítva và Trung ương Liên bang rơi vào trạng thái giằng co, thái độ của Gorbachev bắt đầu mềm xuống, ngày 24 tháng 5, ông ta gặp đại diện của Lítva, bày tỏ về nguyên tắc không phản đối Lítva tách khỏi Liên Xô, đồng thời nói: "Hành động của Lítva là công bằng, công khai và hợp tình hợp lý, nhưng điều này cần phải đàm phán"1 (Tham khảo Vương Chính Tuyền (chủ biên): Đại sự ký Liên Xô - Đông Âu, Sđd, tr.270, 285-286, 295).
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #197 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2022, 07:36:31 am »

Tháng 1 năm 1991, Lítva lại một lần nữa rơi vào tình thế căng thẳng, xảy ra sự kiện đổ máu. Thực ra, sự kiện này là do Gorbachev cố tình gây ra, ông ta mưu đồ lợi dụng sự thay đổi của tình thế lúc đó để kiểm soát cục diện Lítva. Ngày 7 tháng 1, Chính phủ Lítva nâng giá mạnh các mặt hàng thực phẩm, dẫn đến sự bất mãn của người dân, hàng loạt quần chúng bao vây tòa nhà Quốc hội, dẫn đến Chính phủ từ chức. Tiếp theo đó, những người cộng sản địa phương phản đối chia rẽ dân tộc đã thành lập Ủy ban cứu quốc Lítva, đòi khôi phục hiệu lực của Hiên pháp Liên Xô tại Lítva, đồng thời âm mưu đoạt quyền.


Gorbachev đích thân tiếp đại diện của 16 đoàn thể công chúng đến từ Lítva, lắng nghe yêu cầu của các đại diện muốn thực hiện "chế độ Tổng thống" tại Lítva. Trung ương Liên bang cử quân đội đến Lítva, một đội quân nhảy dù nhanh chóng đóng quân tại Vilnius. Tiếp đó, theo lời thỉnh cầu của "Ủy ban cứu quốc", bộ đội nội vụ Liên Xô đã chiếm lĩnh tòa nhà xuất bản vốn thuộc Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô tại Vilnius, đồng thời kiểm soát tòa nhà của Đài Phát thanh và truyền hình quốc gia, xảy ra xung đột vũ trang với các phần tử dân tộc chủ nghĩa bảo vệ tòa nhà, làm 14 người chết, 150 người bị thương. Thế là nước Mỹ lập tức ra tuyên bố, chỉ trích quân đội Liên Xô đã "khiêu khích" tại Lítva, yêu cầu Liên Xô "ngừng đe dọa, quay lại bàn đàm phán". Quyền Ngoại trưởng Mỹ và Đại sứ Mỹ tại Liên Xô lần lượt gặp Đại sứ Liên Xô tại Mỹ và quan chức ngoại giao Liên Xô, bày tỏ lập trương cứng rắn của Mỹ với Liên Xô. Bản thân Bush cũng đích thân ra tay, một mặt gọi điện thoại cho Gorbachev, gây áp lực cho ông ta; mặt khác, gửi công hàm bí mật cho ông ta, yêu cầu ông ta thực hiện lời hứa với các nước phương Tây là không sử dụng vũ lực đối với ba nước Ban tích, nếu không, Mỹ sẽ dừng viện trợ kinh tế đối với Liên Xô. Phòng trào "nước Nga dân chủ" ở Liên Xô cũng phát động cuộc biểu tình với quy mô lớn, phản đối quân đội Liên Xô "tấn công" Lítva, bày tỏ ủng hộ nhân dân Lítva. Yeltsin lại ra Tuyên bố chung với lãnh đạo ba nước Ban tích, tuyên bố củng ủng hộ về vấn đề "chủ quyền", còn công khai chỉ trích chính sách hiện hành của lãnh đạo Liên Xô. Trong thời khắc quan trọng này, Gorbachev lập tức thay đổi thái độ, thực hiện thỏa hiệp nhượng bộ, tuyên bố Trung ương Liên bang chưa từng hạ lệnh nổ súng, tuyên bố phải dùng biện pháp chính trị để giải quyết vấn đề Lítva, đồng thời tuyên bố rút quân khỏi Lítva, "Ủy ban cứu quốc" cũng tuyên bố giải tán1 (Tham khảo Hoàng Hùng, Kỷ Ngọc Tường: Phóng sự 7 năm 'cải tổ' của Liên Xô cũ, Sđd, tr.441-442). Thế là Liên Xô hoàn toàn mất kiểm soát đối với ba nước Bantích. Việc Lítva tuyên bố độc lập, trên thực tế là tạo "bước đột phá" cho Liên Xô giải thể, sau đó, xu thế chia rẽ dân tộc diễn ra ở khắp nơi trong cả nước, các nước cộng hòa thuộc Liên bang như Grudia, Mônđavia, Ucraina cũng hăng hái làm theo, lần lượt tuyên bố độc lập, nguy cơ giải thể của Liên Xô ngày càng rơi càng sâu.


Phải chỉ ra rằng, các hành động phá hoại của Mỹ như gây mâu thuẫn dân tộc, phân hóa Liên Xô không chỉ dừng lại ở ba nước Bantích. Từ năm 1989-1991, khi phong trào chia rẽ dân tộc ở khắp nơi trong cả Liên Xô trở thành cao trào, Đại sứ Mỹ tại Liên Xô hầu như đi khắp nơi trong cả nước Liên Xô, không những đến Ácmênia và Adécbaigian của vùng nam Cápcadơ để tiến hành xúi giục, mà còn đến Ucraina, Mônđavia và vùng Trung Á để tiến hành hoạt động, đến đâu cũng hội kiến và tích cực ủng hộ cái gọi là "nhà hoạt động dân tộc chủ nghĩa". Trong đó, Ucraina trở thành đối tượng trọng điểm trong thực hiện chiến lược "phân hóa" của phương Tây. Lãnh đạo tổ chức dân tộc chủ nghĩa lớn nhất ở Ucraina "Ruch" nhiều lần được mời sang "thăm" Mỹ. Mùa hè năm 1991, Tổng thống Mỹ Bush sau khi thăm Mátxcơva đã thăm chớp nhoáng Kiev, nhấn mạnh, tương lai của Ucraina phải do người dân Ucraina chọn lựa, thể hiện sự ủng hộ của Mỹ đối với thế lực chủ nghĩa dân tộc. Dưới sự thúc đẩy mạnh mẽ của phương Tây, phong trào chia rẽ dân tộc ở Ucraina nhanh chóng trở thành cao trào. Ngày 24 tháng 8 năm đó, Quôc hội Ucraina thông qua nghị quyết, tuyên bố độc lập. Ngày 1 tháng 12, Ucraina tổ chức bỏ phiếu công dân, phê chuẩn độc lập của Ucraina. Ucraina là nước cộng hòa lớn thứ hai chỉ sau Liên bang Nga ở Liên Xô. Sự độc lập của Ucraina thực ra là một đòn chí mạng dẫn đến Liên Xô giải thể.


Gorbachev đối mặt với thế tấn công của phương Tây và sự kháng nghị của các phe đối lập trong nước, chưa bao giờ áp dụng các biện pháp hữu hiệu, mà cứ ngày càng lùi bước, để mặc cho các thế lực chia rẽ dân tộc tiến hành các hoạt động điên cuồng, ngang ngược. Cuối cùng, ông ta chỉ hy vọng thông qua ký kết bản điều ước liên minh mới để duy trì một quốc gia theo chế độ liên bang, nhưng do ông ta phạm phải hàng loạt sai lầm nghiêm trọng, hy vọng này cũng biến thành một giấc mơ không thể thực hiện được. Là một lãnh đạo tối cao của Liên Xô, trong thời khắc quan trọng quốc gia đối mặt với sự chia rẽ, Gorbachev lại mềm yếu nhu nhược, nhất mực thỏa hiệp nhượng bộ, thực hiếm thấy trong các nước trên thế giới. Có người cho rằng, sau sự kiện "19 tháng 8", chỉ cần Gorbachev có hành động, có thể tránh được Liên Xô giải thể. Ý kiến này sau này được rất nhiều người ủng hộ. Ngày 5 tháng 7 năm 1994, Nghị viện Nga tổ chức buổi điều trần về vấn đề Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG). Tại Hội nghị, Gorbachev đã cố sức chối bỏ trách nhiệm, nói rằng sự sụp đổ của Liên Xô là do sai lầm chính trị của những người khác tạo nên, không phải là kết quả của việc ông ta thúc đẩy cải tổ. Lukyanov phản bác nói, không có bất cứ nguyên nhân quan trọng nào có thể dẫn tới việc Liên Xô giải thể, lý do Liên Xô đi đến cái kết hoàn toàn là do Gorbachev không hành động. Ông nói, Gorbachev chỉ cần "động ngón tay"' là có thể ngăn chặn Yeltsin, Kravchuk và Shushkevich ký kết điều ước thành lập Cộng đồng các quốc gia độc lập; nếu Gorbachev hành động, ba người này sẽ "không còn lựa chọn, chỉ có thể chạy sang nước ngoài"1 (Theo UPI tại Mátxcơva, ngày 5-7-1994). So sánh với nước Nga sau khi Liên Xô giải thể, mặc dù chế độ xã hội đã thay đổi căn bản, lãnh đạo Nga là Yeltsin và Putin lại có thể lựa chọn lập trường cứng rắn, kiên quyết chống lại những áp lực của phương Tây, bất chấp những kháng nghị của phe đối lập trong nước, trấn áp nghiêm ngặt những thế lực chia rẽ dân tộc, đã phát động hai cuộc chiến tranh Chechnya.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #198 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2022, 07:37:30 am »

Bốn là, cầu xin viện trợ kinh tế của phương Tây, chấp nhận các loại điều kiện của phương Tây.

"Chiến lược tăng tốc" được thực hiện sau khi Gorbachev lên cầm quyền, hiệu quả không hề rõ rệt, cải tổ kinh tế về cơ bản cũng là "không chuyển biến", tiến triển không lớn. Sau này, Gorbachev chuyển trọng điểm cải tổ sang chính trị, nhấn mạnh tiến hành "cải tổ căn bản" đối với thể chế chính trị, cuối cùng dẫn đến rối loạn xã hội ngày càng gay gắt, xung đột xã hội liên tục không ngừng căng thẳng, tình hình kinh tế ngày càng trầm trọng, đời sống nhân dân giảm xuống rõ rệt. Năm 1990, lần đầu tiên sau Chiến tranh thế giới thứ hai GDP Liên Xô xuất hiện tăng trưởng âm, bắt đầu rơi vào khủng hoảng kinh tế. Tình hình này làm cho Gorbachev lúng túng, vì vậy đã khẩn thiết, cúi đầu cầu xin viện trợ kinh tế của các nước phương Tây. Phương Tây nhân cơ hội này đã đưa ra các loại yêu cầu và điều kiện, gia tăng thực hiện "diễn biến hòa bình" đối với Liên Xô. Thế là, Liên Xô tiến hành "cải tổ" theo phương hướng chỉ dẫn của phương Tây, nhanh chóng bước lên con đường "mất Đảng, mất nước".


Lúc đó, sự kiện nổi bật nhất là xây dựng "Kế hoạch Harvard". Khởi nguồn của vấn đề là, tháng 4 năm 1991, "Cương lĩnh chống khủng hoảng" do Thủ tướng mới của Chính phủ Liên Xô là Pavlov chủ trì xây dựng gặp phải sự phủ định và bất mãn của phía Mỹ. Vì điều này, Gorbachev đã phê bình Pavlov, sau đó đích thân gọi điện cho Tổng thống Mỹ Bush, nói ông ta đã ra lệnh cho Yavlinsky xây dựng phương án cải tổ kinh tế mới, đồng thời quyết định cử ông ta đến Mỹ để báo cáo tình hình. Bush lập tức đồng ý. Yavlinsky là Phó Thủ tướng chính quyền Nga trước đó, năm 1990 ông ta phản đối phương án cải tổ kinh tế "Quá độ lên kinh tế thị trường có điều tiết" do Thủ tướng Chính phủ Liên Xô Ryzhkov chủ trì xây dựng, tuân theo lệnh của Yeltsin cùng với Viện sĩ Shatalin xây dựng "Kế hoạch 500 ngày", đưa cả nước hoàn thành quá độ lên kinh tế thị trường trong thời gian ngắn, đồng thời thực hiện phi quốc hữu hóa và tư hữu hóa đối với 70% tài sản quốc hữu. Trải qua sự tranh luận gay gắt, Gorbachev điều hòa hai phương án nói trên, hình thành "phương án Tổng thống", nhưng trước đó ông ta nói rằng, ông ta đánh giá phương án của Yavlinsky cao hơn. Điều đó cho thấy Gorbachev rất tin tưởng Yavlinsky trong cải tổ kinh tế. Theo như tiết lộ sau này, Yavlinsky nhận sự ủy thác của Gorbachev và Yeltsin, dẫn đầu nhóm bảy người bay sang Mỹ vào khoảng trung tuần tháng 5 năm 1991, tiến hành hội đàm với Quỹ Tiền tệ quốc tế Ngân hàng Thế giới và tổ chức tập đoàn của 7 nước, tìm kiếm viện trợ của phương Tây, đồng thời bàn bạc với nhóm chuyên gia của trường Đại học Harvard Mỹ, đề ra kế hoạch cải tổ Liên Xô dựa vào viện trợ của phương Tây. Trung tuần tháng 6, "Kế hoạch Harvard" do chuyên gia hai nước xây dựng, sau khi sửa đổi đã chính thức được ban hành, với tên gọi là "Cùng đứng trước thời cơ". Sau đó Yavlinsky cầm bản "Kế hoạch Harvard" quay trở lại Mátxcơva, báo cáo với Gorbachev và Yeltsin. Gorbachev hoàn toàn nhất trí đối với bản "Kế hoạch Harvard", cho rằng đây là "bước ngoặt lịch sử" đối với hợp tác kinh tế giữa Liên Xô và các nước phương Tây. Yeltsin bày tỏ hài lòng đối với "Kế hoạch Harvard". Nội dung cốt lõi của "Kế hoạch Harvard" là gắn kết giữa cải tổ của Liên Xô với viện trợ của phương Tây. Kế hoạch quy định, phương Tây mỗi năm viện trợ cho Liên Xô từ 30 đến 50 tỷ USD, 5 năm tổng cộng là từ 150 đến 250 tỷ USD, Liên Xô thực hiện "thị trường hóa", "tư hữu hóa", "dân chủ hóa" triệt để, cho phép các dân tộc tự quyết, cắt giảm lực lượng quân sự. Kế hoạch còn quy định, viện trợ của phương Tây phải sát với các bước đi trong cải tổ của Liên Xô, nửa năm điều chỉnh một lần. Cũng có thể nói là, Liên Xô phải tiến hành cải tổ triệt để theo các yêu cầu của phương Tây về chính trị, kinh tế, xã hội, quân sự mới có thể đổi lấy viện trợ của phương Tây; Liên Xô cải tổ bao nhiêu, phương Tây viện trợ bấy nhiêu. Nói theo cách nói lúc đó, "cải tổ nhiều, viện trợ nhiều, cải tổ ít, viện trợ ít, không cải tổ, không viện trợ". Ý đồ của phương Tây là rõ ràng. Ngày 2 tháng 6 năm đó, nguyên Tổng thống Mỹ Nixon đăng bài trên Washington Post, thẳng thắn bóc trần mục đích của việc viện trợ của phương Tây. Ông nói: "Lợi ích chiến lược then chốt của Mỹ không ở chỗ cứu vãn Mátxcơva bằng kinh tế mà là hủy hoại chế độ cộng sản chủ nghĩa của Liên Xô. Chính sách của Mỹ nên là thúc đẩy xây dựng chính phủ dân chủ, kinh tế thị trường và tiến hành tự quyết dân tộc Nga và phi Nga"1 (Hứa Chinh Phàm (chủ biên): Kho lý luận chủ nghĩa xã hội, Sđd, quyển hạ, tr.967). Do đó, "Kế hoạch Harvard" đã chứng minh, Gorbachev đã quyết tâm phối hợp với diễn biến hòa bình của phương Tây, dự tính làm sụp đổ triệt để chế độ xã hội chủ nghĩa của Liên Xô.


Nhưng những tranh cãi về phương án cải tổ kinh tế trong nước của Liên Xô vẫn đang tiếp tục. Bởi vì "Cương lĩnh chống khủng hoảng" của Chính phủ Liên Xô và "Kế hoạch Harvard" của Yavlinsky có những khác biệt rõ ràng. Hai phương án đều đưa ra nhiệm vụ của chế độ sở hữu phi quốc hữu hóa và tư nhân hóa, nhưng phương án 1 chủ trương bảo lưu 30% chế độ sở hữu nhà nước, 70% còn lại lấy chế độ sở hữu tập thể làm chính, chế độ sở hữu tư nhân làm phụ; còn "Kế hoạch Harvard" chủ trương lấy chế độ tư hữu làm chính. Hai phương án đều chủ trương quá độ lên kinh tế  thị trường, nhưng phương án 1 chủ trương duy trì sự can dự của nhà nước đối với lĩnh vực kinh tế, phương án 2 lại chủ trương gạt bỏ sự can dự của nhà nước; phương án 1 chủ trương dựa vào sức mạnh của quốc gia để tiến hành cải tổ, phương án 2 lại chủ trương dựa vào sự viện trợ của phương Tây để thực thi cải tổ. Trong tranh luận gay gắt, Gorbachev phủ định sự khác biệt về nguyên tắc giữa hai phương án, lại hợp nhất hai phương án làm một, hình thành một "kế hoạch Tổng thống", mục đích dựa vào đó để nhận viện trợ to lớn của phương Tây. Thế nhưng, cái gọi là "viện trợ" của phương Tây thực ra chỉ là "mồi câu". Lúc đó, một người Mỹ từng tham gia khởi thảo "Kế hoạch Harvard" tên là Ferch nói: "Phương Tầy sẽ không bỏ một khoản tiền lớn ra để đổi lấy một lời hứa. Phương Tây sẽ bắt đầu một tiến trình, chúng tôi chỉ viện trợ lớn sau khi tiến trình kết thúc (nếu thành công), chúng tôi phải có một quốc gia tư bản chủ nghĩa dân chủ"1 (John Lloyd: "Tập đoàn 7 nước suy nghĩ kế hoạch cứu vớt kinh tế ở các nước xã hội chủ nghĩa", Financial Times (Anh), ngày 13-6-1991). Tình hình sau này cũng đúng như vậy. Ngày 16 tháng 7 năm đó, Gorbachev cầm bản "Kế hoạch Harvard" của mình đi London, gặp gỡ nguyên thủ của 7 nước phương Tây, tham dự "Hội nghị Thượng đỉnh 7+1", báo cáo về phương án cải tổ của Liên Xô với nguyên thủ 7 nước phương Tây, mục đích lấy đó để đối lấy viện trợ to lớn của phương Tây. Nhưng kết quả lại vô cùng thất vọng, 7 nước phương Tây lúc đó không hề hứa hẹn về một khoản viện trợ nào, chỉ phê chuẩn Liên Xô trở thành "thành viên chính thức" của Quỹ Tiền tệ quốc tế và Ngân hàng Thế giới. Mặc dù "Kế hoạch Harvard" chưa chính thức thực hiện, nhưng ý đồ của Gorbachev đã bộc lộ ra hoàn toàn. Sau đó, ông ta vẫn dựa theo mạch của "Kế hoạch Harvard" để phát triển, trong khi tiếp tục tranh thủ và chờ đợi viện trợ của phương Tây, khiến cải tổ Liên Xô đi theo chỉ dẫn của phương Tây, bước theo con đường "thị trường hóa", "tư hữu hóa", "dân chủ hóa" triệt để, ông ta đặc biệt nhấn mạnh phải "nhanh chóng giải phóng phần lớn doanh nghiệp thoát khỏi sự kiểm soát của nhà nước, thực hiện tư hữu hóa"1 (Gorbachev: "Phương châm cơ bản ốn định kinh tế quốc dân và quá độ đi lên kinh tế thị trường", báo Sự thật, ngày 18-10-1990), tăng tốc đi tới chủ nghĩa tư bản, tiêu diệt triệt để nhà nước Xôviết và Đảng Cộng sản Liên Xô.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #199 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2022, 07:38:24 am »

Năm là, khuất phục trước áp lực ngoại giao của phương Tây, chịu làm "đối tác nhỏ" của Mỹ.

Gorbachev thực hiện ngoại giao "tư duy mới", tuy có ý nghĩa tích cực nhất định trong việc sửa chữa sự mở rộng, tranh bá trong quá khứ và làm dịu cục diện căng thẳng quốc tế, nhưng nó lại đi theo một lối rẽ khác, đưa "lợi ích toàn nhân loại cao hơn tất cả" làm hạt nhân của chính sách ngoại giao, phủ định hoàn toàn đấu tranh giai cấp tồn tại khách quan trong phạm vi quốc tế, phối hợp với phương Tây thực hiện diễn biến hòa bình đối với các nước xã hội chủ nghĩa khác, đồng thời ngả về phương Tây trong rất nhiều vấn đề quốc tế.


Thứ nhất, tích cực thúc đẩy Đông Âu đại biến động. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, phương Tây rất không hài lòng với khu vực Đông Âu, nơi có những thế lực của Liên Xô, do đó sử dụng mọi thủ đoạn, tìm trăm phương nghìn kế thực hiện diễn biến hòa bình đối với các nước Đông Âu, mưu đồ lật đổ chính quyền xã hội chủ nghĩa ở các quốc gia này. Trải qua mấy chục năm nỗ lực, các nước phương Tây cuối cùng cũng đạt được thành công, khiến tình hình các nước Đông Âu cuối những năm 80 đầu những năm 90 của thế kỷ XX trở nên trầm trọng. Tình hình Đông Âu tuy là kết quả của sự nỗ lực của phương Tây, nhưng Gorbachev cũng đóng vai trò thúc đẩy và phối hợp vô cùng quan trọng. Trước hết, ông ta thông qua cổ xúy "tư duy mới", "công khai", "dân chủ hóa" và "thuyết đa nguyên", làm rối loạn tư tưởng các quốc gia Đông Âu, giúp đỡ các thế lực chống cộng ở các quốc gia này. Lúc đó, phe đối lập của các quốc gia Đông Âu đang mượn chiêu bài "công khai" và "dân chủ hỏa", thậm chí gọi tên và trích dẫn lời của Gorbachev để dây lên sự rồi loạn xã hội và tiến hành cướp quyền. Tiếp đó, Gorbachev trực tiếp ủng hộ và nhúng tay vào tình hình phức tạp của Đông Âu, ông ta nhằm vào thái độ khác nhau của lãnh đạo các nước Đông Âu đối với cải tổ "tư duy mới", áp dụng các biệp pháp hoặc biểu dương, hoặc phê bình, hoặc gây áp lực, hoặc làm cho nó sụp đổ. Tại Hunggari, đang lúc những ngươi như Pozsgay trong nội bộ Đảng yêu cầu thực hiện chế độ đa đảng, nhung Tổng Bí thư Grosz vẫn phân vân chưa quyết định, Liên Xô đã công khai tuyên bố, các nước Đông Âu có thể tự quyết định có thực hiện chế độ đa đảng hay không, Hunggari thực hiện chế độ đa đảng "không đe dọa đối với Liên Xô". Grosz không chống đỡ được áp lực hai tầng đến từ trong và ngoài nước, cuối cùng Hunggari khơi dòng đầu tiên, tuyên bố thực hiện chế độ đa đảng. Tại Ba Lan, Gorbachev ủng hộ thử nghiệm "đa nguyên hóa về chính trị" và "nghị viện dân chủ", đồng thời kiến nghị Đảng Cộng sản Ba Lan nhượng bộ Công đoàn Đoàn kết, để Công đoàn Đoàn kết tổ chức nội các. Sau sự  việc đó, rat nhiều đảng viên của Ba Lan trách mắng Gorbachev là "bán đứng Đảng Công nhân thống nhất", "giúp đỡ Công đoàn Đoàn kết". Tại Bungari, ông ta ủng hộ Mladenov lật đổ Zhivkov - người không tán thành cải tổ "tư duy mới". Tại Cộng hòa Dân chủ Đức, ông ta ủng hộ phe đối lập trong và ngoài Đảng lật đổ Honecker - người kiềm chế cải tổ "tư duy mới". Tại Rumani, ông ta thậm chí thông qua Ủy ban An ninh quốc gia để ủng hộ phe đối lập trong quân đội Rumani, trực tiếp tham gia sự kiện lật đổ Ceausescu. Sau khi Ceausescu bị giết, ngày 26 tháng 1 năm 1990, Xôviết tốỉ cao Liên Xô còn tuyên bố tước hai tâm Huân chương Lênin và một tấm Huân chương Cách mạng được trao cho ông này trước đó1 (Theo AFP, Mátxcơva ngày 26-1-1990). Cuối cùng, Gorbachev lại công khai hoan nghênh và chính thức khẳng định đại biến động ở Đông Âu. Ngày 17 tháng 11 năm 1989, trong khi gặp Chủ tịch Quốc hội Liên bang Đức và Pháp, ông ta nói sự thay đổi của Đông Âu "có ý nghĩa vô cùng tích cực". Từ ngày 2 đến ngày 3 tháng 12, ông ta nói trong buổi gặp gỡ với Tổng thống Mỹ Bush tại Malta: "Nên bày tỏ hoan nghênh đối với những diễn biến trong tiến trình thay đổi ở Đông Âu". Ngày 9 tháng 12, ông ta phát biểu trong Hội nghị toàn thể Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô: "Năm nay là một năm Đông Âu xuất hiện biến động to lớn và nổi tiếng", "đặc trưng rõ rệt nhất của cải tổ ở Đông Âu chính là dân chủ hóa, đổi mới xã hội chủ nghĩa", đây là "kết quả các nước xã hội chủ nghĩa phát triển đến một giai đoạn nhất định theo quy luật". Lại nói "lập trường nguyên tắc" của Liên Xô đối với tình hình Đông Âu là "hoan nghênh,sự thay đổi tích cực". Ngày 16 tháng 12, trong Điện mừng gửi Đại hội đại biểu bất thường của Đảng xã hội thống nhất Đức, Gorbachev đã công khai tuyên bố về những diễn biến của Cộng hòa Dân chủ Đức, "đã diễn ra những sự việc mà vốn nó phải diễn ra"1 (Tham khảo Vương Chính Tuyền (chủ biên): Đại sự ký Liên Xô - Đông Âu, Sđd, tr.210, 214).


Tóm lại, trong quá trình diễn biến của Đông Âu, Gorbachev đóng vai trò đổ thêm dầu vào lửa, phối hợp với diễn biến hòa bình của phương Tây, chôn vùi chủ nghĩa xã hội của các nước Đông Âu, làm Liên Xô mất đi nhiều đồng minh, mất đi không gian chiến lược và vùng đệm rộng rãi. Điều này dĩ nhiên phù hợp với lợi ích của phương Tây, vì điều này mà Gorbachev nhận được sự biểu dương cao độ của phương Tây. Ngày 1 tháng 1 năm 1990, Thủ tướng Anh, bà Thatcher dùng tiếng Nga phát biểu trên Đài phát thanh, chúc mừng năm mới nhân dân Liên Xô. Bà nói, đại biến động ở Đông Âu phải "cảm ơn Gorbachev"; "Chủ tịch Gorbachev lẽ ra nên được khen ngợi đặc biệt vì những thay đổi có ý nghĩa lịch sử cuốn chiéu châu Âu". Ngày 2 tháng 2, Tổng thống Mỹ Bush trong buổi tiếp phóng viên Nhật báo phố Wall đã khen ngợi Gorbachev, "nói về việc ông ta xử lý và cổ vũ biến đổi hòa bình ở Đông Âu, chúng ta đương nhiên phải khen ngợi vì điều đó"; "tôi cho rằng, những kết quả của công việc mà ông ta làm là Đông Âu diễn ra biến đổi hòa bình, sự biến đổi này bất cứ ai trong chúng ta cũng không thể ngờ tới được"2 (Hứa Chinh Phàm (chủ biên): Kho lý luận chủ nghĩa xã hội Sđd, quyển hạ, tr.959-960). Ngày 6 tháng 7, tuần báo L'Express của Pháp đăng bài: "Sự chấn động mạnh mẽ làm cho Đông Âu nổ tung trong vài tháng, mà sự chấn động này hoàn toàn do Mátxcơva"; "có thể khẳng định một điều là, ngòi lửa của kíp nổ đến từ Mátxcơva"3 ("Kế hoạch bí mật của Gorbachev vì sao thất bại", tuần báo L'Express (Pháp), số 1 ngày 6-7-1990. Tham khảo Hứa Chinh Phàm (chủ biên): Kho lý luận chủ nghĩa xã hội, Sđd, quyển hạ, tr.964).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM