Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 09:26:09 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tính trước nguy cơ - Suy ngẫm sau 20 năm Đảng Cộng sản Liên Xô mất Đảng  (Đọc 41974 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #200 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2022, 07:39:08 am »

Thứ hai, để mặc cho Tây Đức thôn tính Đông Đức. Nước Đức chia cắt làm hai, vốn là kết quả cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai. Sau này, Liên Xô luôn chủ trương duy trì giữ vững đường phân giới hình thành sau chiến tranh thế giới, phản đốỉ thống nhất Đông Đức và Tây Đức. Lập trường này luôn được giữ vững cho đến năm 1989 - thời kỳ Gorbachev. Thế nhưng, trước tình hình diễn biến của Đông Âu và áp lực của phương Tây, lập trường của Liên Xô có sự thay đổi căn bản vào năm 1990. Trong vòng không đầy một năm, Gorbachev từng bước nhượng bộ cho phương Tây, thái độ và chủ trương quay 180° trong vấn đề thống nhất nước Đức, từ phản đối thống nhất cho đến đồng ý thống nhất, từ chủ trương thống nhất chậm từng bước cho đến chấp nhận thống nhất nhanh chóng, từ phản đối Đức sau khi thống nhất gia nhập NATO đến không phản đối Đức gia nhập NATO. Kết quả là, ngày 3 tháng 10 năm 1990, nước Đức đã nhanh chóng thực hiện thống nhất. Vì thế những điều kiện mà Liên Xô đặt ra ngày càng ít, ngày càng thấp, hơn nữa vội vội vàng vàng rút quân đội, để mặc cho Tây Đức "thôn tính" Đông Đức. Những thứ mà cuối cùng Liên Xô có được, một là, nước Đức sau khi thống nhất phải bảo đảm cắt giảm quân đội, thừa nhận đường biên giói châu Âu sau chiến tranh, ngăn chặn thế lực phátxít khôi phục; hai là, Đức hứa cho Liên Xô vay 5 tỷ Mác, đồng thời bồi thường 13 tỷ Mác cho Liên Xô sau khi rút quân khỏi Đông Đức. Lúc đó phương Tây trước mặt thì chấp nhận những đề nghị của lãnh đạo Liên Xô như Gorbachev, rằng sau khi nước Đức thống nhất, NATO sẽ không mở rộng về hướng Đông, nhưng lời cam kết này không lâu sau cũng bị sự thật làm tan biến. Nói tóm lại, những hành động của lãnh đạo Liên Xô trong vấn đề thống nhất nước Đức là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của phương Tây. Thủ tướng Đức lúc đó Helmut Kohl nói: "Chúng ta nên cảm ơn Gorbachev, tư duy mới trong chính sách cải tổ và chính sách ngoại giao của ông ta là một trong những điều kiện để biến những thay đổi sâu sắc ở Đức và châu Âu trở nên có thể". Còn Gorbachev thì sao? Mãi cho đến đầu năm 1997, ông ta vẫn nói với biên tập viên Nhà xuất bản Societats của Đức rằng, về việc thống nhất nước Đức, "Chúng tôi đã sử dụng phương thức tốt nhất để giải quyết vấn đề này"1 (Trích dẫn từ Lưu Bảo Hải, Hứa Bình: "Gorbachev đang bận gì?", báo Tối nay, ngày 5-2-1997). Tháng 11 năm đó, phu nhân của Gorbachev là Raisa còn không hề xấu hổ nói: "Đối với người dân Đức mà nói, Gorbachev đúng là người cha thống nhất"2 ("Raisa trả lời phỏng vấn", Họa báo Sao sáng của Đức, ngày 20-11-1997).


Thứ ba, ngả về phương Tây trong rất nhiều vấn đề quốc tế ủng hộ và bám theo Mỹ. Mặc dù Gorbachev thúc đẩy ngoại giao "tư duy mới", bỏ đối kháng, dốc sức cải thiện quan hệ và tăng cường hợp tác với phương Tây, nhưng các nước phương Tây đứng đầu là Mỹ luôn luôn kiên trì lợi ích giai cấp và lợi ích quốc gia của họ, can thiệp khắp nơi, mở rộng bá quyền, thu hẹp không gian chiến lược và phạm vi thế lực của Liên Xô. Cựu Tổng thống Mỹ Nixon nói: "Cạnh tranh là cốt lõi trong quan hệ Mỹ - Xô"; "thứ mà chúng ta ưu tiên bảo vệ nhất là lợi ích thiết thân của chúng ta"; "để bảo vệ lợi ích thiết thân của chúng ta, chúng ta không do dự sử dụng hải quân lục chiến"3 ([Mỹ] Richard Nixon: Năm 1999 không đánh mà thắng, Sđd, tr.105, 125-126). Đối mặt với tình hình này, để né tránh cuộc chiến tranh hạt nhân, vì "lợi ích toàn nhân loại", Gorbachev đã từ bỏ đấu tranh và đối kháng, nhất mực nhượng bộ và phục tùng để đón nhận phương Tây, làm cho Liên Xô trở thành "đối tác nhỏ" của Mỹ trên nhiều vấn đề quốc tế. Ví dụ trong vấn đề cắt giảm quân, kiểm soát quân đội, Gorbachev đã đón nhận Mỹ, từng bước nhượng bộ; trong vấn đề khu vực điểm nóng thì lấy lòng Mỹ, tuyên bố rút quân Liên Xô đóng ở Cuba, thậm chí nhẫn nhịn và hùa theo Mỹ phát động Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất. Ngày 2 tháng 8 năm 1990, Irắc xuất quân chiếm đóng Côoét, gây ra khủng hoảng vùng Vịnh nghiêm trọng. Ngày 9 tháng 9, Gorbachev có buổi gặp gỡ với Tổng thống Mỹ Bush tại thủ đô Henxinki của Phần Lan, sau đó ra tuyên bố chung, nói "hành vi xâm lược của Irắc là không thể nhẫn nhịn được", Mỹ và Liên Xô sẽ thực hiện "trừng phạt" đối với Irắc. Ngày 19 tháng 11, nguyên thủ hai nước Xô - Mỹ lại gặp nhau tại Pari, hai bên cho rằng, không thể loại bỏ khả năng sử dụng vũ lực đối với Irắc1 (Tham khảo Hoàng Hùng, Kỷ Ngọc Tường: Phóng sự 7 năm 'cải tổ' của Liên Xô cũ, Sđd, tr.358, 396). Điều này cho thấy, Liên Xô đã quyết định bỏ mặc và hùa theo Mỹ dùng vũ lực đối với Irắc. Sự nhượng bộ này của Gorbachev gần như "đẹp" ngang với sự nhượng bộ của Khrushchev trong thời khủng hoảng tên lửa ờ Cuba thời trước. Dư luận quốc tế chỉ ra rằng, điều này đánh dấu sự chuyển biến to lớn trong chính sách Liên Xô - Trung Đông. Mọi người đều biết, Liên Xô vốn có lợi ích to lớn về địa chính trị yà kinh tế tại khu vực Trung Đông, nó không cho phép phương Tây hoành hành ngang ngược ở đây. Nếu là 5 năm trước, Liên Xô nhất định sẽ chỉ trích nặng nề Mỹ và Ixraen can thiệp công việc nội bộ của Arập, quyết không đạt được ý kiến thống nhất với Mỹ, càng không đồng ý để Mỹ phát động chiến tranh ở đây. Liên Xô bây giờ thay đổi thái độ, hiển nhiên là kết quả của ngoại giao "tư duy mới" của Gorbachev thỏa hiệp nhượng bộ với phương Tây, cũng là sự lựa chọn đường cùng của Liên Xô do khủng hoảng nội bộ ngổn ngang, tự biết sức mình không ngăn nổi Mỹ sử dụng vũ lực. Sau đó không lâu, tháng 1 năm 1991, Mỹ phát động Chiến tranh vùng Vinh với Irắc, từ đó cho thấy Mỹ đã bắt đầu trở thành một "siêu cường" duy nhất trên thế giới mà không cần kiêng kỵ phản ứng của Liên Xô.


Sáu là, không chịu nổi sự cám dỗ của viền đạn bọc đường của phương Tây.

Gorbachev không phải là người không hề dao động trước đồng tiền, thậm chí có người nói, ông ta "yêu tiền như yêu mạng sống"; dùng đồng đôla để hạ bệ một số lãnh đạo là mánh khóe thường được áp dụng trong chiến lược "diễn biến hòa bình" của phương Tây. Năm 1990, Gorbachev được trao tặng giải Nobel hòa bình của năm, giải thưởng trị giá 860.000 USD. Lúc đó, ông ta nói với Phó Tổng thống Yanayev, nếu nộp quyên góp 700.000 USD, giữ lại cho mình 160.000 USD có được không? Yanayev trả lời, nếu như vậy phản ứng xã hội sẽ rất tốt. Sau này ông ta lại hỏi Yanayev, nếu quyên góp 100.000 USD, phần còn lại 760.000 USD giữ lại cho mình có được không? Yanayev không trả lời. Từ đó có thể thấy được thái độ của Gorbachev. Lại lấy thêm một ví dụ, trong thời gian Gorbachev thăm Hàn Quốc năm 1991, Tổng thống Hàn Quôc Roh Tae-woo đưa cho ông ta một phong bì bên trong có 100.000 USD, tin rằng ông ta sẽ cầm. Đồng thời, phu nhân của Gorbachev là Raisa cũng nhận được 100.000 USD. Gorbachev hỏi Boldin, thư ký của ông ta xử lý thế nào với 200.000 USD này. Boldin trả lời, trước tiên nên để nó trong tủ bảo hiểm đã! Sau sự kiện "19 tháng 8", Boldin bị bắt, tủ bảo hiểm và số USD kể trên hoàn toàn rơi vào tay Gorbachev. Còn sự việc nữa là, nghe nói để đền đáp lại "cống hiến to lớn" của Shevardnadze trong việc bức tường Berlin sụp đổ và nước Đức thống nhất, Chính phủ Đức đã mua cho ông ta một ngôi biệt thự sang trọng trị giá 13 triệu USD tại khu nghỉ dưỡng Baden, miền Nam nước Đức. Từ những ví dụ kể trên có thể thấy, các nước phương Tây đúng đầu là Mỹ không vô cớ đem tiền bạc, biệt thự và "vinh dự" kiểu như giải Nobel hòa bình tặng cho bè nhóm Gorbachev. Mục đích của họ có thể nói là ai ai cũng biết.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #201 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2022, 07:40:35 am »

2. Cơ sở tư tưởng và thực chất của đường lối ngoại giao thỏa hiệp và đón nhận phương Tây của Gorbachev

Gorbachev đã áp dụng đường lối thỏa hiệp và đón nhận đối với thế tấn công diễn biến hòa bình của phương Tây, ngoài những nhân tố như tham tiền, bị phương Tây mua chuộc, một điều căn bản nhất là sự thoái hóa về thế giới quan cá nhân, vứt bỏ toàn bộ quan điểm cơ bản và lập trường nguyên tắc của chủ nghĩa Mác trong các vấn đề quốc tế, không nhìn rõ thực chất và bản chất của tình hình đấu tranh quốc tế phức tạp, do đó, vứt bỏ nguyên tắc trong ngoại giao và vấn đề quốc tế quan trọng, khuất phục bởi áp lực của chủ nghĩa đế quốc, nhất mực thỏa hiệp, nhượng bộ, thực hiện đường lốỉ ngoại giao mà trên thực chất là chủ nghĩa đầu hàng. Đường lối ngoại giao này về mặt khách quan có tác dụng xóa bỏ vũ trang tư tưởng của Đảng Cộng sản Liên Xô, chào đón thế lực thù địch phương Tây thúc đẩy chiến lược diễn biến hòa bình, là nguyên nhân chủ yếu mà phương Tây mãi 40 năm sau mới đạt được.


Cơ sở tư tưởng trụ cột trong đường lối quan hệ của Liên Xô với các nước phương Tây thời kỳ Gorbachev chính là "lợi ích của toàn nhân loại cao hơn tất cả". Gorbachev cho rằng đây là điểm cốt lõi trong "tư duy mới" trong cải tổ và quan hệ đối ngoại của ông ta. Rút ra kết luận như vậy bởi vì ông ta dựa vào hai căn cứ chủ yếu sau.


Một là, ngày nay thế giới là một chỉnh thể có liên hệ với nhau, tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước trong cộng đồng quốc tế ngày càng lớn, những vấn đề mang tính toàn cầu mà một nước không thể giải quyết một cách đơn độc ngày càng nhiều. Các vấn đề mang tính thế giới đang đe dọa sự sinh tồn và phát triển của nhân loại. Ông ta nói, hiện nhân dân các nước trên thế giới giống như một đám vận động viên leo núi bị buộc vào nhau trên sườn núi. Họ hoặc là cùng leo lên trên, đến tận đỉnh núi, hoặc là cùng nhau ngã xuống vực thẳm". Bởi vậy, "trong thế kỷ XX, vào những năm cuối của thế kỷ đầy căng thẳng này, nhân loại phải thừa nhận rằng, cần thiết đưa lợi ích toàn nhân loại lên vị trí tối thượng của thời đại"1 (Gorbachev: Cải tổ và tư duy mới đối với nước ta và thế giới, Nxb. Tân Hoa xã, 1987, tr.176, 184).


Hai là, Gorbachev đã kế thừa lý luận khủng bố hạt nhân của Khrushchev, cho rằng trong điều kiện vũ khí hạt nhân, chiến tranh sẽ dẫn đến sự hủy diệt văn minh nhân loại, nếu con người không còn tồn tại nữa, nói gì đến lợi ích cụ thể của giai cấp, dân tộc, quốc gia. Do đó, sự sinh tồn của con người phải được đặt lên vị trí hàng đầu. Ông ta nói, từ sau khi loài người bước vào thời đại dùng năng lượng hạt nhân cho mục đích quân sự, "tình hình thế giới có thể xuất hiện cục diện mà giới chính trị không thể kiểm soát được", "nó sẽ chịu sự chi phối mang tính ngẫu nhiên". "Cùng với sự xuất hiện của vũ khí hủy diệt đại quy mô (phổ biến), sự đối kháng giai cấp trên vũ đài quốc tế có giới hạn khách quan, vượt qua giới hạn này sẽ xuất hiện sự đe dọa hủy diệt toàn bộ". "Một khi đã nổ ra chiến tranh hạt nhân, tất cả mọi sinh linh đều sẽ biến mất khỏi trái đất này". "Trong sự xung đột hạt nhân toàn cầu, không có kẻ thắng, cũng không có người thua, nhung văn minh thế giới không thể tránh khỏi sự sụp đổ". "Đây thậm chí không phải một cuộc chiến tranh theo cách hiểu thông thường, mà là tự sát". Bởi thế xét từ hậu quả của cuộc chiến tranh hạt nhân có thể nổ ra, xã hội loài người "lần đầu tiên xuất hiện lợi ích toàn nhân loại hiện thực, chứ không phải trừu tượng, hôm nay chứ không phải xa xôi, khiến cho văn minh nhân loại tránh bị hủy diệt"1 (Gorbachev: cải tổ và tư duy mới đối với nước ta và thế giới, Sđd, tr.173, 177, 185). Nhân loại muốn học cách chung sống hòa bình trên thế giới, thì phải đặt ra một tư duy chính trị mới.


Nhìn từ góc nhìn của Gorbachev, lợi ích toàn nhân loại đã cao hơn lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia, thì nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác chỉ đạo chính trị quốc tế và quan hệ quốc tế, đặc biệt là quan điểm về giai cấp, học thuyết về nhà nước sẽ lỗi thời, không thể trở thành nền tảng tư tưởng chỉ đạo quan hệ đối ngoại của Liên Xô. Thay vào đó là sự đối lập giữa siêu giai cấp và ý thức hệ, thuyết nhân tính, chủ nghĩa nhân đạo xuất phát từ bản tính con người.


Gorbachev nói, trong quan hệ đối ngoại, lập trường chính trị nên thoát khỏi thiên kiến hẹp hòi của ý thức hệ, "không nên đưa mâu thuẫn trong ý thức hệ vào trong quan hệ giữa các quốc gia, khiến cho chính sách đối ngoại phục tùng theo bất đồng của ý thức hệ, bởi vì ý thức hệ có thể hoàn toàn đối lập, còn lợi ích của sinh tồn và ngăn chặn chiến tranh lại là phổ biến, cao hơn tất cả"2 (Gorbachev: cải tổ và tư duy mới đối với nước ta và thế giới, Sđd, tr.173, 177, 185). Trong lịch sử nhân loại lần đầu tiên yêu cầu cấp bách chúng ta phải có "tư duy mới" trong quan hệ quốc tế "bức thiết đòi hỏi đưa những tiêu chuẩn về luân lý đạo đức xã hội làm cơ sở cho chính trị quốc tế, nhân tính hóa và nhân đạo hóa quan hệ quốc tế"3 (Gorbachev: cải tổ và tư duy mới đối với nước ta và thế giới, Sđd, tr.173, 177, 185). Ông nhấn mạnh, "chiến lược trong chính sách đối ngoại của Liên Xô phải lấy hòa bình, hợp tác, phối hợp, tiến bộ và chủ nghĩa nhân đạo làm xuất phát điểm". Liên Xô phải xóa bỏ "hình ảnh kẻ thù" đối với các nước phương Tây trong ý thức hệ, tuyên bố trong quan hệ quốc tế không còn kẻ thù nữa.


Xuất phát từ nhân đạo hóa và phi ý thức hệ hóa quan hệ quốc tế, Gorbachev đề ra, toàn nhân loại không phân giai cấp, dân tộc và quốc gia "tiến tới đại hợp tác", phải xóa bỏ sự đối kháng giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, thực hiện "nhất thể hóa" hai thể chế xã hội lớn này. Đây là cương lĩnh ngoại giao xã hội chủ nghĩa nhân đạo dân chủ của Gorbachev.


Theo Gorbachev, uy lực của vũ khí hạt nhân quyết định và thay đổi tất cả, quyết định vận mệnh sinh tồn hay diệt vong của nhân loại, thay đổi quan hệ và phương thức tư duy của nhân loại; thế giới là "chỉnh thể phụ thuộc lẫn nhau", cần đưa "nguyên tắc toàn nhân loại vào vị trí ưu tiên trong mệnh lệnh tuyệt đối của thời đại", vậy thì không thể tách biệt, thậm chí đối lập một số quốc gia này với một số quốc gia khác, mà nên "xóa bỏ đối kháng giữa hai thể chế xã hội lớn". Sự cạnh tranh giữa các nước xã hội chủ nghĩa và các nước tư bản chủ nghĩa về mặt kinh tế, chính trị và ý thức hệ phải hạn chế trong phạm vi cạnh tranh hòa bình lấy hợp tác làm tiền đề, không bên nào không được coi đối phương là kẻ địch; phải "'sẵn sàng đưa ra thỏa hiệp có thể cùng chấp nhận được", đồng thời coi đối thoại và thông cảm lẫn nhau, chứ không phải đối kháng lẫn nhau, làm mục tiêu. Nói tóm lại, trong tình hình tính phụ thuộc lẫn nhau ngày càng gia tăng, vấn đề mang tính toàn cầu ngày càng nổi lên, thì tất cả mọi mâu thuẫn giữa các quốc gia không cùng chế độ xã hội, giữa các quốc gia có trình độ phát triển khác nhau đều phải phục tùng theo lợi ích chung của toàn nhân loại.


Chính dưới sự chỉ đạo của tư tưởng ngoại giao và cương lĩnh ngoại giao "giá trị toàn nhân loại cao hơn tất cả", thực hiện "nhất thể hóa" hai thể chế xã hội lớn, Đảng Cộng sản Liên Xô dưới thời Gorbachev thực hiện một đường lối ngoại giao từ phục tùng đến đầu hàng, đã đem đến sự mất mát khó lường hết cho lợi ích quốc gia của Liên Xô và cả sự nghiệp xã hội chủ nghĩa của thế giới. Thực ra, cơ sở tư tưởng và căn cứ lý luận nâng đỡ cho ngoại giao "tư duy mới" của Gorbachev là không có. Nó không những đi ngược nghiêm trọng nguyên tắc lý luận chủ nghĩa Mác, mà còn thoát ly nghiêm trọng thực tế đấu tranh quốc tế.


Trước hết, về mặt lý luận, tồn tại lợi ích chung của toàn nhân loại, nhưng không tồn tại lợi ích chung của toàn nhân loại cao hơn tất cả một cách trừu tượng. Trong thời đại liên kết và giao lưu giữa các nước ngày càng mật thiết, trên thế giới đương nhiên tồn tại những vấn đề mang tính toàn cầu như đe dọa hạt nhân, chủ nghĩa khủng bố ô nhiễm môi trường, tài nguyên cạn kiệt... Những vấn đề trên nếu giải quyết không tốt sẽ trực tiếp đe dọa đến sự tồn tại và phát triển bền vững của toàn nhân loại. Do đó cần cộng đồng quốc tế và các nước có trách nhiệm liên quan phải coi trọng các vấn đề chung mà toàn nhân loại phải đối mặt, tăng cường điều hòa và hợp tác quốc tế thúc đẩy giải quyết các vấn đề liên quan. Nhưng sự tồn tại của các vấn đề trên không có nghĩa là lợi ích chung của toàn nhân loại sẽ cao hơn tất cả.


Trong xã hội loài người còn tồn tại giai cấp, dân tộc và phân chia quốc gia, đương nhiên vẫn có lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc và lợi ích quốc gia. Trong đó lợi ích giai cấp là nền tảng của quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội. Quốc gia trên bề mặt là đại diện cho lợi ích các thành viên trong toàn xã hội, nhưng nó chỉ là "khối vận mệnh chung hư ảo", về bản chất chỉ đại diện cho lợi ích của giai cấp thống trị. Trong cộng đồng quốc tế lấy quốc gia làm đơn vị cơ bản, quốc gia và chính phủ các quốc gia là chủ thể trong cộng đồng quốc tế, khi nhận thức và xử lý các vấn đề nhân loại phải đối mặt, luôn luôn phục tùng theo ý chí và lợi ích của giai cấp thống trị nước mình, tính toán đầu tiên vẫn là lợi ích của nước mình, của dân tộc mình, của giai cấp mình, đồng thời lấy đó làm căn cứ để hoạch định chính sách đối nội và đối ngoại. Các nước lớn phương Tây không muốn từ bỏ quyền sử dụng vũ khí hạt nhân đầu tiên, không muốn tiêu hủy hoàn toàn triệt để vũ khí hạt nhân, không muốn gánh vác trách nhiệm tương ứng về vấn đề môi trường, đó chính là sự thể hiện cụ thể của việc lợi ích chung toàn nhân loại vẫn phải phục tùng lợi ích giai cấp. Đây là sự phản ánh về bản chất của giai cấp tư sản độc quyền quốc tế. Tính toán đầu tiên của họ là làm thế nào để thực hiện tối đa hóa lợi nhuận tư bản, làm thế nào để bảo vệ sự ổn định và lâu dài của chế độ tư bản chủ nghĩa.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #202 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2022, 07:41:28 am »


Thứ hai, nói về vấn đề đe dọa của vũ khí hạt nhân và chiến tranh hạt nhân: vũ khí hạt nhân, chiến tranh hạt nhân là đáng sợ, nhưng vũ khí hạt nhân là vũ khí do nhân loại nghiên cứu và chế tạo ra, chiến tranh hạt nhân phải có người phát động mới có thể bùng nổ. Then chốt là phải xem vũ khí hạt nhân nằm trong tay ai. Trong thời kỳ Gorbachev cầm quyền, Mỹ và Liên Xô tích trữ một lượng lớn vũ khí hạt nhân, tồn tại mối nguy hiểm chiến tranh hạt nhân, điều này đe dọa nghiêm trọng đến sự sinh tồn của nhân loại. Nhưng sự xuất hiện của các vấn đề hủy diệt hạt nhân, đe dọa hạt nhân là kết quả của chiến lược và chính sách toàn cầu của một số nước phát triển đứng đầu là Mỹ thúc đẩy chủ nghĩa bá quyền và chính trị cường quyền, cũng có nhân tố Liên Xô tranh bá với các nước đó. Đứng trước sự đe dọa hạt nhân, nhân dân các nước trên thế giới phải phản đối chạy đua quân bị giữa các nước siêu cường, đặc biệt là cạnh tranh quân bị hạt nhân, chủ trương cắt giảm quân bị và ngăn chặn vũ khí hạt nhân, đề phòng chiến tranh thế giới, bảo vệ hòa bình thế giới. Cuộc đấu tranh này liên quan đến hòa bình và an ninh toàn thế giới. Nhưng không thể vì đó mà cho rằng, dưới sự uy hiếp của hạt nhân, mọi mâu thuẫn và xung đột lợi ích giữa các giai cấp, các quốc gia đều sẽ biến mất hoặc bị xếp vào vị trí thứ yêu. Cho dù không xảy ra chiến tranh hạt nhân, không có nghĩa là những thủ đoạn chiến tranh phi hạt nhân và thủ đoạn đấu tranh phi chiến tranh đều không thể sử dụng.


Ba là, trong thời đại giới chính khách tư sản thề phải tiêu diệt chủ nghĩa xã hội, mâu thuẫn và đấu tranh giữa các quốc gia của hai chế độ xã hội ngày càng phức tạp và gay gắt, việc Gorbachev đề xướng phi ý thức hệ hóa, nhân đạo hóa quan hệ quốc tế chẳng khác gì tự mình cởi bỏ vũ trang tư tưởng. Từ khi trên trái đất có chủ nghĩa Mác, xuất hiện các quốc gia xã hội chủ nghĩa cho đến nay, cuộc đấu tranh không thể hòa giải giữa hai loại ý thức hệ, hai chế độ xã hội chưa hề dừng lại dù chỉ một ngày. Trong tình hình các biện pháp vũ lực ngày càng khó phát huy vai trò cùng với lực lượng các nước xã hội chủ nghĩa không ngừng lớn mạnh, giai cấp tư sản lũng đoạn phương Tây bất đắc dĩ phải áp dụng hình thức diễn biến hòa bình "mềm", nhưng giai cấp tư sản muốn tiêu diệt các nước xã hội chủ nghĩa, mục tiêu chiến lược do giai cấp này quyết định từ trước đến nay chưa hề lung lay.


Trong bối cảnh quốc tế các thế lực chống cộng, chống chủ nghĩa xã hội chưa từ bỏ lập trường thù địch và lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa của Liên Xô, thậm chí còn gia tăng thúc đẩy diễn biến hòa bình đối với Liên Xô, Gorbachev đề ra phi ý thức hệ hóa và nhân đạo hóa quan hệ quốc tế trên thực tế là gạt bỏ đấu tranh giai cấp và gạt bỏ chủ nghĩa Mác. Ông ta không đếm xỉa đến hiện thực cuộc đấu tranh giữa thâm nhập và chông thâm nhập, giữa lật đổ và chống lật đổ, không áp dụng bất cứ một biện pháp phòng ngừa nào chống thâm nhập, chống lật đổ, khiến Liên Xô tự trói mình khi đối mặt với thế tiến công của giai cấp tư sản quốc tế chính sách ngoại giao của Liên Xô từ thỏa hiệp, nhượng bộ cho đến phục tùng, đầu hàng phương Tây không lấy gì làm lạ nữa.


Trong vấn đề quốc tế Gorbachev đã vứt bỏ quan điểm giai cấp và phương pháp phân tích giai cấp của chủ nghĩa Mác, hậu quả của nó ngay cả các chính khách tư sản phương Tây cũng nhìn thấy rồi. Đại sứ cuối cùng của Mỹ tại Liên Xô Matlock chỉ ra: "Đấu tranh giai cấp là khái niệm trung tâm của quan điểm diễn tiến về kết cấu nhà nước của những người theo chủ nghĩa Lênin, cũng là khái niệm trung tâm lý giải nguyên nhân dẫn đến Chiến tranh lạnh của phương Tây. Không có nó, lý do của Chiến tranh lạnh không còn tồn tại nữa, cơ sở lý luận của một đảng chuyên chính cũng theo đó mà mất đi". Ông nói: "Tôi đã chú ý đến hàng loạt dấu tích từng bước xét lại hoặc loại bỏ lý luận này. Trước khi lý luận này bị vứt bỏ chính thức, bất cứ thay đổi nào chứng tỏ quan hệ giữa chúng ta tốt lên đều là hư ảo, nhiều lắm cũng là tạm thời". "Chỉ cần Liên Xô không vứt bỏ hạt nhân ý thức hệ trong chế độ của mình - quan niệm về đấu tranh giai cấp, thì Chiến tranh lạnh sẽ không ngừng lại. Nhưng một khi đã vứt bỏ, tự thân chế độ này đã không còn bất cứ căn cứ lý luận nào nữa"1 ([Mỹ] Little Jack, F. Matlock: Ghi chép trải nghiệm bản thân về giải thể của Liên Xo, Sđd, tr.162, 758, 164).


Chúng ta không thể phủ nhận rằng, các nước xã hội chủ nghĩa nên vượt qua sự khác biệt về ý thức hệ, cùng với tất cả các nước, bao gồm các nước tư bản chủ nghĩa phát triển để phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị, tăng cường hợp tác và giao lưu về kinh tế, kỹ thuật, đây là điều cần thiết để thúc đẩy phát triển sự nghiệp xã hội chủ nghĩa; nhưng điều này cũng không có nghĩa là các nước xã hội chủ nghĩa buông lỏng hoặc từ bỏ cảnh giác trước thế tiến công hòa bình trong lĩnh vực ý thức hệ mà phương Tây phát động. "Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng". Trên thực tế, các nước xã hội chủ nghĩa trong quá trình quan hệ với các nước tư bản chủ nghĩa, không thể hoàn toàn thoát ly khỏi ảnh hưởng của ý thức hệ, trong giao lưu kinh tế, thương mại và thực tiễn ngoại giao cụ thể vẫn cứ thể hiện các sắc thái ý thức hệ khác nhau. Trên thực tế cách làm của Gorbachev ngược lại, các nước phát triển phương Tây do Mỹ đứng đầu không những không làm nhẹ bớt đi sự khác biệt và đối lập trong lĩnh vực ý thức hệ của hai chế độ xã hội, mà ngược lại còn tăng cường vai trò và chức năng của đấu tranh ý thức hệ, vận dụng các thủ đoạn về chính trị, kinh tế  ngoại giao để tích cực thúc đẩy chiến lược diễn biến hòa bình chống cộng, chống chủ nghĩa xã hội.


Cuối cùng, giữa hai thể chế lớn chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản tuy có mặt giao lưu, hợp tác, nhưng vẫn có sự khác biệt nhau về nguyên tắc, về bản chất là quan hệ lật đổ hoặc bị lật đổ, không bao giờ xuất hiện xu thế "nhất thể hóa" giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản.


Về mối quan hệ giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, một mặt phải thấy được rằng, chủ nghĩa tư bản vì khởi đầu sớm, quá trình lịch sử dài, trong quá trình phát triển đã tích lũy được nhiều thành quả văn minh nhân loại đáng để cho các nước xã hội chủ nghĩa tham khảo tiếp thu, không thể áp dụng thái độ đóng cửa đối với chủ nghĩa tư bản; nhưng mặt khác, cũng phải nhìn thấy rằng chủ nghĩa xã hội là vật phủ định và vật thay thế của chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa xã hội trong khi trải qua giai đoạn phát triển dài đằng đẵng sẽ dần dần thay thế chủ nghĩa tư bản, là xu thế tất yếu trong phát triển xã hội loài người. Do đó, trong quan hệ đối ngoại vừa phải giao lưu với các nước tư bản chủ nghĩa, đồng thời cũng không thể từ bỏ nguyên tắc. Phải tỉnh táo nhận ra rằng, trên vũ đài quốc tế, "tư" mạnh "xã" yếu1 ("Tư" chỉ chủ nghĩa tư bản, "xã" chỉ chủ nghĩa xã hội (ND.)), hai giai cấp lớn, hai chế độ xã hội vẫn tồn tại các loại mâu thuẫn và đấu tranh, có lúc đấu tranh vẫn rất gay gắt. Trong tình thế đấu tranh quốc tế mà chủ nghĩa tư bản mưu đồ bao vây và tiêu diệt chủ nghĩa xã hội, đảng cầm quyền của các nước xã hội chủ nghĩa càng cần có sự chuẩn bị đầy đủ về tư tưởng, đồng thời áp dụng các đối sách tích cực.


Thế nhưng, khi đối mặt với cục diện thế giới với hai chế độ xã hội cùng tồn tại song song Gorbachev lại chủ trương thoát khỏi thiên kiến hẹp hòi về ý thức hệ, thực hiện "nhất thể hóa" hai hệ thống xã hội, thực chất là muốn xã hội chủ nghĩa Liên Xô chủ động gia nhập vào hệ thống tư bản chủ nghĩa. Đây là hành vi phản bội, đi ngược lại lợi ích quốc gia của Liên Xô, đi ngược lại sự nghiệp giai cấp vô sản quốc tế. Sự nghiệp xã hội chủ nghĩa của Liên Xô cuối cùng bị Gorbachev thông qua cầu nối cải tổ "chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo" mà bị chủ nghĩa tư bản nhất thể hóa.


Tóm lại, nhấn mạnh một chiều việc cùng chung sống, cùng hợp tác giữa hai chế độ xã hội, hoàn toàn coi nhẹ, thậm chí phủ định bản chất đối lập và đấu tranh giữa hai chế độ xã hội, điều này vô cùng nguy hiểm trong tình thế hiểm nghèo khi các nước phương Tây gia tăng thúc đẩy thâm nhập ý thức hệ và lật đổ một cách hòa bình.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #203 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2022, 07:43:05 am »

3. Vai trò của diễn biến hòa bình của phương Tây trong đại biến động Liên Xô và bài học lịch sử

Đảng Cộng sản Liên Xô mất Đảng, Liên Xô giải thể là kết quả của tổng hợp nhiều nhân tố, trong đó diễn biến hòa bình của phương Tây chắc chắn là một nhân tố quan trọng. Không ít người cho rằng, nguyên nhân chủ yếu khiến Đảng Cộng sản Liên Xô mat Đảng, Liên Xô giải thể là Đảng Cộng sản Liên Xô đã bị thua trận trong việc chống lại thế tiến công của ý thức hệ phản cách mạng. Ví dụ, một số học giả của Mỹ cho rằng, Liên Xô sụp đổ là "kết quả của hai Tổng thổng của hai Đảng Cộng hòa và Dân chủ có tầm nhìn xa và lãnh đạo kiên cường".


Không những thế các nhân vật quan trọng của một số nước phương Tây cũng cho rằng Đảng Cộng sản Liên Xô bị mất Đảng, Liên Xô sụp đổ là kết quả của diễn biến hòa bình của Mỹ đối với Liên Xô. Nguyên Thủ tướng Anh, bà Thatcher, cho rằng, với niềm tin "chủ nghĩa xã hội chắc chắn thất bại, nước Mỹ chắc chắn ngày càng lớn mạnh", Tổng thống Mỹ Reagan đã nắm điểm yếu của Liên Xô lúc đó là tập trung tinh lực phát triển sức mạnh quân sự, còn các mặt khác yếu kém (như cơ sở vật chất), thông qua phát triển kế hoạch gọi là "chiến tranh giữa các vì sao", cuối cùng đã đánh sụp Liên Xô. Bà còn nói, chính "Reagan đã đánh và đã thắng Chiến tranh lạnh", "ông dựa vào nguyên tắc được đặt ra tỉ mỉ và công phu để tìm cách khuất phục người Liên Xô", "cuối cùng dẫn đến sự sụp đổ của đế quốc gian ác này chính là kế hoạch phòng ngự chiến lược của Mỹ"1 (Tham khảo Tào Ngọc Hà: "Phương Tây nhìn nhận thế nào về nguyên nhân giải thể ở các nước xã hội chủ nghĩa", Mặt trận lý luận cao cấp, số 1 năm 2001, tr.61).


Ngày lễ Noel 25 tháng 12 năm 1991, cũng tức là ngày Liên Xô tuyên bố sự cáo chung, nguyên Tổng thống Mỹ George Bush nói trên truyền hình: "Hơn 40 năm nay, nước Mỹ lãnh đạo phương Tây đấu tranh với chủ nghĩa cộng sản và môi đe dọa đối với giá trị quan quý giá nhất của chúng ta... Sự đối kháng này hiện nay đã kết thúc... Đây là thắng lợi của dân chủ và tự do.  Đây là thắng lợi của sức mạnh chính nghĩa của giá trị quan của chúng ta"1 (Tin Tân Hoa xã, Oasinhtơn ngày 25-12-1991).


Việc coi lãnh tụ Mỹ, coi chủ nghĩa Reagan, coi thắng lợi của giá trị quan phương Tây là nguyên nhân chủ yếu thúc đẩy Liên Xô sụp đổ, cũng không phải là quá lời. Triết học mácxít mách bảo chúng ta một triết lý cơ bản: trong sự phát triển, biến đổi của sự vật, nguyên nhân bên ngoài tuy có vai trò quan trọng, nhung chung quy đó chỉ là điều kiện để sự vật biến đổi, nguyên nhân bên trong mới là căn cứ để sự vật biến đổi, nguyên nhân bên ngoài phải thông qua nguyên nhân bên trong mới có thể phát huy vai trò. Nói về diễn biến hòa bình của phương Tây, vai trò của nó trong sự biến đổi của phương Tây là quan trọng, nhưng chung quy lại cũng chỉ là nhân tố bên ngoài.


Trong mọi thủ đoạn của các quốc gia phương Tây nhằm vào các nước xã hội chủ nghĩa, nếu coi diễn biến hòa bình giống với dựa hoàn toàn vào sức mạnh tự thân lật đổ bằng vũ lực, thì nó bắt buộc phải dựa vào lực lượng nội ứng lớn mạnh ẩn núp bên trong các nước xã hội chủ nghĩa mới có thể phát huy vai trò mang tính thực chất. Thực ra, vai trò chủ yếu giúp các nước phương Tây đánh thắng "trận chiến không có khói súng" nhằm vào Liên Xô và các nước Đông Âu ẩn nấp trong lực lượng nội ứng bên trong các quốc gia này. Ở Liên Xô chủ yếu là ở phe cải tổ "chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo" đứng đầu là Gorbachev và "phe dân chủ" chủ trương đi theo con đường tư bản chủ nghĩa lớn mạnh trong quá trình cải tổ. Chính đường lối cải tổ '''chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo" đã đi ngược lại hoàn toàn chủ nghĩa Mác - Lênin, làm sụp đổ Đảng của mình, đồng thời câu kết với phương Tây, trong ngoài phối hợp, mới tạo thuận lợi trong chiến lược diễn biến hòa bình, mới để các thế lực thù địch phương Tây giành được thắng lợi lớn nhất với cái giá nhỏ nhất.


Bài học mất Đảng của Đảng Cộng sản Liên Xô thật đau đớn, và sâu sắc. Nhìn từ góc độ cảnh giác đối với diễn biến hòa bình của phương Tây, căn bản nhất là phải đề phòng nội ứng xuất hiện trong nội bộ các nước xã hội chủ nghĩa phối hợp với diễn biến hòa bình của thế lực thù địch phương Tâỵ, xét cụ thể có mấy điểm chủ yếu dưới đây.

Thứ nhất, xây dựng và áp dụng cơ chế tuyển dụng cán bộ có hiệu quả, tạo ra một đội ngũ cán bộ kinh qua được những thử thách cầm quyền và cải cách mở cửa lâu dài, đó là then chốt bảo đảm Đảng và chính quyền nhà nước mãi mãi không biến sắc. Sự sụp đổ của Liên Xô vừa là kết quả của diễn biến hòa bình của phương Tây, cũng vừa là kết quả tự diễn biến của Đảng Cộng sản Liên Xô. Chủ yếu của vấn đề xuất phát từ tầng cao nhất. Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, Mao Trạch Đông đã nhạy bén nhắc nhở rằng: Chủ nghĩa đế quốc gửi gắm hy vọng diễn biến hòa bình vào thế hệ thứ ba, thứ tư của chúng ta, phải đặc biệt cảnh giác những kẻ dã tâm và những kẻ âm mưu cá nhân tiếm quyền lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước. Lúc đó phong trào cộng sản quốc tế lâm vào tình trạng chia rẽ sâu sắc, Đảng Cộng sản Liên Xô không nghe và cũng không thể nghe lời cảnh báo trung thực đó. Trong thời gian dài, họ coi thường công tác tuyển chọn, đề bạt, bồi dưỡng, sử dụng và giám sát cán bộ cao cấp, thỉnh thoảng đưa những con người trình độ thấp kém, xa cứng bảo thủ lên cương vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước, thậm chí giao vận mệnh của Đảng và nhà nước cho những kẻ bệnh tật vô phương cứu chữa. Khi mà cục diện ông già cầm quyền, người bệnh quản lý đất nước khó có thể kéo dài được nữa, thì một nhóm các chính khách, các nhà đầu cơ vô nguyên tắc, không có lòng tin, thậm chí cá biệt các phần tử đối lập giai cấp như Gorbachev, Yeltsin, Shevardnadze, Yakovlev liền thừa cơ tiến vào hoặc trà trộn vào tầng lớp lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng và nhà nước.


Thứ hai, phải coi trọng cao độ lý luận cơ bản của Đảng, luôn kiên trì lấy chủ nghĩa Mác làm chỉ đạo và không ngừng tiến cùng thời đại. Cán bộ lãnh đạo các cấp của Đảng, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo cấp cao phải nhận thức đầy đủ rằng, trong điều kiện xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là trong cục diện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản cùng tồn tại, đồng thời với việc cảnh giác để không tái phạm sai lầm khuếch trương đầu tranh giai cấp, cũng cần phải nhớ rằng trong phạm vi nhất định của xã hội, vẫn tồn tại giai cấp và đấu tranh giai cấp, bởi thế vẫn không thể vứt bỏ chuyên chính vô sản. Phải tỉnh táo thấy rằng, chủ nghĩa tư bản tuy xuất hiện một số thay đổi mới, nhưng mâu thuẫn cơ bản và bản chất chưa thay đổi và không thể thay đổi. Vì thế cần đề phòng sự xâm nhập và ảnh hưởng đối với Đảng bởi những lý luận và trào lưu tư tưởng sai lầm, như chủ nghĩa tự do mới, chủ nghĩa xã hội dân chủ, chủ nghĩa hư vô lịch sử, thuyết dập tắt đấu tranh giai cấp, v.v...


Thứ ba, phải kiên trì không mệt mỏi triển khai giáo dục lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học trong Đảng và trong quần chúng nhân dân, kiên định lý tưởng xã hội chủ nghĩa và niềm tin cộng sản chủ nghĩa. Đó là điều kiện quan trọng ngăn chặn các nước phương Tây thực hiện sách lược diễn biến hòa bình và đề phòng sự biến sắc của Đảng và chính quyền Nhà nước. Vì thế phải không ngừng tăng cường sự lãnh đạo và hướng dẫn của Đảng đối với tuyên truyền đại chúng, nắm chắc quyền chủ đạo công tác tuyên truyền, đặc biệt phải coi trọng cao độ việc trang bị cho Ban lãnh đạo trên mặt trận lý luận của Đảng và lĩnh vực ý thức hệ. Từ hai mặt trái - phải của Đảng Cộng sản Liên Xô đã chứng minh: vai trò định hướng của truyền thông đại chúng đối với cuộc sống xã hội, đặc biệt là sức ảnh hưởng đối với tư tưởng hành vi của thế hệ trẻ là trở ngại chính, ngăn chặn sách lược diễn biến hoà bình của các nước phương Tây. Bài học chủ yếu của Đảng Cộng sản Liên Xô là ở chỗ, thời trì trệ thì dư luận xã hội một giọng đồng loạt, khi cải tổ thì dư luận xã hội hỗn loạn. Đặc biệt, trong thời Gorbachev, dưới sự chỉ đạo của tư tưởng sai lầm "đa dạng hóa ý thức hệ" và cái gọi là "công khai", Đảng Cộng sản Liên Xô không hề điều tiết sự mở cửa của dư luận, thậm chí còn để những tư tưởng và ngôn luận chống cộng, chống chủ nghĩa xã hội sai lầm đủ loại được truyền bá rộng rãi trong và ngoài Đảng.


Thứ tư, cần phải tiến hành giám sát có hiệu quả đối với sự thành lập và hoạt động của những tổ chức phi chính phủ, nghiêm ngặt đề phòng các lực lượng thù địch trong và ngoài nước lợi dụng họ để làm mưa làm gió. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với nhà nước và xã hội là lãnh đạo nhất nguyên hóa, không thể cho phép bất kỳ các đoàn thể và tổ chức xã hội phi mácxít nào thách thức địa vị lãnh đạo và vai trò chỉ đạo của Đảng. Từ những năm 70 của thế kỷ XX, không bao lâu sau "tiến trình Henxinkỉ", trong đất nước Liên Xô đã xuất hiện các tổ chức phi chính thức đủ loại, bí mật xuất bản và phát tán các xuất bản phẩm muôn màu muôn vẻ nhằm bôi nhọ Đảng Cộng sản Liên Xô và chủ nghĩa xã hội Liên Xô. Đảng Cộng sản Liên Xô tuy có trừng trị nhưng luôn không đủ mạnh. Sau khi Gorbachev lên nắm quyền, số lớn các tổ chức phi chính phủ (lúc đó gọi là tổ chức phi chính thức) được vận dụng sinh ra dưới ngọn cờ "dân chủ hóa". Lúc đầu, Đảng Cộng sản Liên Xô tuy từng tỏ ra phản đối đa đảng, nhưng đối với sự xuất hiện và hoạt động của số đông các tổ chức loại này thì nhìn thấy mà như không, không nghe, không hỏi gì về sự cấu kết giữa những tổ chức này với các thế lực chống Xô, chống cộng ngoài nước, kết quả là rước hổ về nhà. Có tổ chức phát triển thành "đội quân thứ 5" của thế lực bên ngoài tại Liên Xô, có tổ chức liên hợp lại thành phái đối lập lớn mạnh ngang vai phải lứa với Đảng Cộng sản Liên Xô và chính quyền Trung ương Liên Xô. Với sự bỏ mặc và dung túng của những người như Gorbachev, từ một Đảng Cộng sản Liên Xô không thể thách thức cuối cùng đã bị đánh đổ, bị chôn vùi, bị diễn biến một cách hòa bình, những "tiểu nhân vật" mà người ta coi chẳng ra gì và những tập đoàn xã hội do họ phi pháp lập ra ấy đã đóng vai trò to lớn.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #204 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2022, 07:47:12 am »

PHỤ LỤC
ĐẠI SỰ KÝ THỊNH SUY CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN LIÊN XÔ
[1883-1991]


Tháng 9-1883: Nhóm "Giải phóng lao động" được thành lập ở Geneve, Thụy Sỹ. Đây là đoàn thể mácxít đầu tiên của nước Nga, người sáng lập là G. V. Plekhanov. Nhiệm vụ chủ yếu của nhóm "Giải phóng lao động" là truyền bá chủ nghĩa Mác và chuẩn bị thành lập chính đảng mácxít ở nước Nga.

Năm 1892: Lênin thành lập Tổ mácxít đầu tiên ở Samara.

Tháng 12-1895: Lênin thành lập "Hiệp hội đấu tranh giải phóng giai cấp công nhân" ở Saint Petersburg, nó được Lênin gọi là "manh nha của chính đảng cách mạng vô sản nước Nga".

Từ ngày 13 - 15-3-1898: Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng Công nhân dân chủ xã hội Nga được bí mật tổ chức ở Minsk, tuyên bố thành lập Đảng. Đại hội đã ra một bản "Tuyên ngôn", tuyên bố tôn chỉ của Đảng là xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở nước Nga. Để làm được điều đó, trước tiên phải lật đổ sự thống trị của chuyên chế Sa hoàng; còn chỉ rõ rằng sự đấu tranh của giai cấp vô sản Nga là một bộ phận không thể tách rời của phong trào dân chủ xã hội quốc tế. Đại hội đã thông qua một loạt nguyên tắc xây dựng Đảng, đồng thời bầu ra Ban Chấp hành Trung ương gồm 3 người là Stepan Radchenko, Boris Eidelman và A. Kremer. Do Đại hội không xây dựng cương lĩnh và điều lệ Đảng, hơn nữa, không lâu sau Đại hội có hai đồng chí trong Ban Chấp hành bị bắt, tổ chức Đảng ở các địa phương vẫn ở vào tình trạng phân tán, do đó trên thực tế Đảng vẫn chưa được thành lập.


Ngày 24-12-1900: Lênin và Plekhanov đã sáng lập ra tờ báo chính trị đầu tiên trên toàn nước Nga - báo Tia lửa in ở Leipzig, Đức, bí mật chuyển phát tới nước Nga, nhiệm vụ của tờ báo là làm cho các tổ chức dân chủ xã hội trên toàn nước Nga được vũ trang hơn nữa về tư tưởng và liên kết hơn nữa về tổ chức. Những năm 1900-1903, Lênin đã đăng hơn 50 bài trên tờ báo Tia lửa. Báo Tia lửa còn xây dựng bản thảo cương lĩnh đầu tiên cho Đảng Công nhân dân chủ xã hội Nga.


Từ ngày 30-7 - 23-8-1903: Đại hội đại biểu Đảng Công nhân dân chủ xã hội Nga lần lượt được tổ chức tại Brúcxen của Bỉ và Luânđôn của Anh. Đại hội đã thông qua bản thảo cương lĩnh Đảng do Ban Biên tập báo Tia lửa đệ trình, trong đó chỉ rõ ràng rằng, cương lĩnh tối cao của Đảng là thông qua cách mạng xã hội chủ nghĩa và thực hiện chuyên chính vô sản để xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa; cương lĩnh tháp nhất tức nhiệm vụ trước mắt lúc đó là lật đổ chế độ chuyên chính Sa hoàng, xây dựng nước cộng hòa dân chủ, thực hiện chế độ ngày làm việc 8 tiếng, thực hiện các dân tộc hoàn toàn bình đẳng và quyền tự quyết dân tộc, xóa bỏ triệt để tàn dư của chế độ nô lệ ở nông thôn.

Khi Đại hội bầu cơ cấu lãnh đạo của Đảng, Lênin và những người ủng hộ đã giành được đa số: 3 người được bầu làm Ủy viên Trung ương là Gleb Krzhizhanovsky, Friedrich Lengnik và Vladimir Noskov đều là người ủng hộ Lênin; 3 người trúng cử vào Ban Biên tập báo Tia lửa là Lênin, Plekhanov và người phản đối Lênin Julius Martov, nhưng Martov đã từ chối đảm nhiệm chức vụ này. Vì vậy, những người ủng hộ Lênin được gọi là "phái đa số" (tiếng Nga gọi là "Bônsêvích"), những người ủng hộ Martov bị gọi là "phái thiểu số" (tiếng Nga gọi là "Mensêvích").

Tại Đại hội lần này, mặc dù trong Đảng xuất hiện hai phe phái lớn, nhưng Đại hội đã thông qua được cương lĩnh, điều lệ Đảng thể hiện đường lối cách mạng theo chủ nghĩa Mác, đặc biệt là trong cương lĩnh Đảng đã viết vào yêu cầu xây dựng chuyên chính vô sản, bầu ra cơ cấu lãnh đạo Trung ương thực hiện đường lối cách mạng do Lênin đứng đầu, từ đó mở ra một trang mới trong lịch sử phong trào cách mạng giai cấp vô sản nước Nga. Nó đánh dấu việc ở nước Nga đã xuất hiện một chính đảng cách mạng kiểu mới - Đảng Bônsêvích, khác hoàn toàn với các Đảng ở Tây Âu theo chủ trương cải lương chủ nghĩa. Lênin là người sáng lập chính của chính đảng kiểu mới này. Lênin sau này chỉ ra rằng: "Chủ nghĩa Bônsêvích là một loại trào lưu chính trị, được tồn tại dưới dạng một chính đảng, bắt đầu từ năm 1903".


Từ ngày 22-1-1905 - 14-6-1907: Dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích, nước Nga nổ ra cuộc cách mạng dân chủ tư sản đầu tiên. Đây là phong trào cách mạng mang tính quần chúng đầu tiên trong lịch sử thế giới thế kỷ XX. Cách mạng tuy kết thúc thất bại, nhưng nó đã giáo dục nhân dân, rèn luyện Đảng và giai cấp vô sản. Lênin gọi cuộc cách mạng này là cuộc "tổng diễn tập" cho Cách mạng Tháng Hai và Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917.


Từ ngày 25-4 - 10-5-1905: Đại hội đại biểu lần thứ III Đảng Công nhân dân chủ xã hội Nga tổ chức tại Luânđôn, Anh. Phái Mensêvích không tham gia vào Đại hội lần này. Đại hội đã xây dựng đường lối và sách lược của Đảng trong cách mạng dân chủ tư sản nước Nga, chỉ ra cách mạng phải do giai cấp vô sản lãnh đạo, nông dân là đồng minh tin cậy của giai cấp vô sản, giai cấp vô sản sau khi hoàn thành cách mạng dân chủ tư sản phải lập tức chuyển sang cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đại hội đã sửa đổi Điều lệ Đảng, tiếp thu điều mà Lênin nêu ra ở Đại hội trước về điều kiện đảng viên (tức là mỗi một đảng viên đều phải tham gia vào một tổ chức Đảng). Đại hội đã hợp nhất hai cơ cấu lãnh đạo Trung ương là Ban Chấp hành Trung ương và Ban Biên tập báo Tia lửa, thành Ban Chấp hành Trung ương, đồng thời bầu ra Ban Chấp hành Trung ương gồrn 5 ủy viên và 3 ủy viên dự khuyết do Lênin đứng đầu. Trong các ủy viên, ngoài Lênin ra, còn có Bogdanov, Krasin, Postolovsky và Rykov.


Từ ngày 25 - 30-12-1905: Đảng Công nhân dân chủ xã hội Nga tổ chức Hội nghị đại biểu lần thứ nhất: tại Tampere, Phần Lan. Hội nghị đã nghe bản báo cáo về tình hình hiện nay và vấn đề đất đai của Lênin. Hội nghị đã thông qua Nghị quyết về "Cải tổ trong Đảng", trong đó chỉ ra "Hội nghị đại biểu khẳng định, nguyên tắc chế độ tập trung dân chủ là không thể tranh cãi". Đây là lần đầu tiên trong văn kiện chính thức của Đảng Bônsêvích nhắc đến khái niệm chế độ tập trung dân chủ.


Từ ngày 23-4 - 8-5-1906: Đảng Công nhân dân chủ xã hội Nga đã tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ IV tại Stockholm, Thụy Điển. Đây là Đại hội đại biểu "thống nhất" mà phái Bônsêvích và Mensêvích cùng tham gia. Tại Đại hội, khi thảo luận về các vấn đề tình hình và nhiệm vụ trước mắt, vấn đề đất đai cũng như thái độ của Đảng đối với Đuma quốc gia, hai phái đều tiến hành đấu tranh gay gắt. Lênin, Xtalin và Lunacharsky đã tham dự Đại hội. Lênin đã phát biểu nhiều lần ở Đại hội, trình bày quan điểm của phái Bônsêvích. Do trong các đại biểu tham dự, phái Mensêvích chiếm đa số, một loạt các vấn đề của Đại hội đều đã thông qua quyết nghị của Mensêvích. Trong số 10 ủy viên Trung ương được Đại hội bầu ra, phái Bônsêvích chỉ có 3 người. Đó là Desnitsky Sosnovsky, Krasin và Rykov.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #205 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2022, 07:49:14 am »

Từ ngày 13-5 - 1-6-1907: Đảng Công nhân dân chủ xã hội Nga tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ V tại Luânđôn, Anh. Lênin đã báo cáo về vấn đề thái độ đối với chính đảng tư sản, trong đó đặc biệt nhấn mạnh phải vạch rõ tính giả dối của Đảng Dân chủ Lập hiến, đồng thời phải tranh thủ liên kết hành động với chính đảng tiểu tư sản trong Đuma quốc gia. Trong 11 ủy viên Trung ương do Đại hội bầu ra, phái Bônsêvích có 5 người, đó là Gônđenbéc Teodorovich, Đubrôvinxki, Rozhkov, Fedorovich và Nogin1 (Theo tài liệu khác, Đại hội đã bầu ra 12 ủy viên, trong đó có 4 người phái Bônsêvích (BT.)).


Từ ngày 18 - 30-1-1912: Đảng Công nhân dân chủ xã hội Nga tổ chức Hội nghị đại biểu lần thứ 6 tại Praha, Tiệp Khắc, còn gọi là Hội nghị Praha. Hội nghị quyết định thanh trừ phái Mensêvích ra khỏi Đảng. Từ đây kết thúc sự thống nhất trên hình thức hai phái trong Đảng, Đảng Công nhân dân chủ xã hội Nga (Bônsêvích) với tư cách là một chính đảng độc lập xuất hiện trên vũ đài chính trị nước Nga. Hội nghị đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương do Lênin đứng đầu. Trong các ủy viên có Sverdlov, Ordzhonikidze, Zinoviev và Xtalin đang bị đi đày.


Ngày 5-5-1912: Báo Sự thật - cơ quan ngôn luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Công nhân dân chủ xã hội Nga ra đời ở Peterburg.

Ngày 23-8-1915: Lênin đăng bài "Bàn về khẩu hiệu Liên bang châu Âu", trong đó chỉ ra: "Sự phát triển không đồng đều về kinh tế và chính trị là quy luật tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản. Do đó chúng ta thấy rằng chủ nghĩa xã hội có thể thắng trước hết là trong một số ít nước tư bản chủ nghĩa hoặc thậm chí chỉ trong một nước tư bản chủ nghĩa"2 (Lênin: Toàn tập, Sđd, t.26, tr.447).


Từ tháng 9 đến tháng 10-1916: Lênin đăng bài "Cương lĩnh quân sự cách mạng vô sản", trong đó chỉ ra rằng: "Chủ nghĩa tư bản phát triển cực kỳ không đều nhau trong các nước. Dưới chế độ sản xuất hàng hóa thì không thể nào khác thế được. Do đó phải đi đến kết luận tất yếu này: chủ nghĩa xã hội không thể đồng thời thắng lợi trong tất cả các nước"1 (Lênin: Toàn tập, Sđd, t.30, tr.173).


Từ ngày 3 - 15-3-1917: Nhân dân và giai cấp công nhân nước Nga lật đổ thống trị chuyên chế Sa hoàng, giành được thắng lợi trong cuộc cách mạng dân chủ tư sản tháng Hai, thực hiện được nhiệm vụ giai đoạn một của kế hoạch chiến lược của Đảng Bônsêvích. Sau cách mạng đã xây dựng chính phủ lâm thời đại diện cho giai cấp tư sản và lợi ích của địa chủ. Chính phủ này kiên trì phải tiếp tục cuộc chiến tranh đế quốc, tức Chiến tranh thế giới thứ nhất, đồng thời từ chối giải quyết vấn đề đất đai. Nhưng sau khi cách mạng thắng lợi, quyền lực thực tế của nhà nước lại bị khống chế trong tay của Xôviết với đại diện là công binh. Thế là ở nước Nga đã xuất hiện cục diện "hai chính quyền cùng tồn tại".


Ngày 16-4-1917: Lênin và những người lãnh đạo Đảng Bônsêvích như Zinoviev, Lunacharsky trở về thủ đô Pêtrôgrát qua đường nước Đức. Đông đảo các đại diện công nhân, binh sĩ đứng ở bên tàu nhiệt liệt chào đón lãnh tụ vĩ đại Lênin trải qua 9 năm ở nước ngoài.


Ngày 17-4-1917: Tại Hội nghị cán bộ của Đảng Bônsêvích, Lênin đã đọc báo cáo "Bàn về nhiệm vụ của giai cấp vô sản trong cuộc cách mạng này". Đây chính là bản Luận cương tháng Tư nổi tiếng. Văn kiện có ý nghĩa lịch sử này đã chỉ ra nhiệm vụ trước mắt của Đảng Bônsêvích là từ cách mạng dân chủ tư sản quá độ lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, đồng thời xây dựng cương lĩnh và phương châm, chính sách chính trị, kinh tế trong thời khắc lịch sử cách mạng quan trọng này.


Từ ngày 7-12-5-1917: Đảng Bônsêvích triệu tập Hội nghị đại biểu lần thứ 7, thông qua đường lối cách mạng mà Lênin đưa ra trong bản Luận cương tháng Tư.

Ngày 17-7-1917: Chính phủ lâm thời giai cấp tư sản đàn áp vũ trang quần chúng công nhân, nông dân biểu tình, đồng thời hạ lệnh truy nã Lênin. Cục diện "hai chính quyền cùng tồn tại" cũng theo đó mà kết thúc. Cuộc trấn áp này khiến đại đa số quần chúng công nhân, nông dân nhìn thấu được chân tướng phản động của chính phủ lâm thời giai cấp tư sản, bắt đầu đứng về phía Đảng Bônsêvích. Điều kiện của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đã chín muồi.


Từ thắng 8 đến tháng 9-1917: Lênin ẩn cư ở một căn lều bên hồ Razliv, cách Pêtrôgrát hơn 30 km. Người một mặt giữ liên hệ mật thiết với Trung ương Đảng, một mặt viết tác phẩm lý luận Nhà nước và cách mạng. Quyển sách này xuất bản tháng 5 năm 1918 tại Pêtrôgrát.


Từ ngày 8 - 16-8-1917: Đảng Công nhân dân chủ xã hội Nga (Bônsêvích) tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VI. Lênin vì đang ở vào trạng thái bí mật nên chưa thể đến Đại hội. Xtalin đã báo cáo công tác trước Đại hội. Đại hội thông qua nghị quyết chống lại sự bức hại đối với Lênin, đồng thời phản đối đưa Lênin ra tòa xét xử. Xét đến việc Xôviết đã bị chính đảng thỏa hiệp của giai cấp tiểu tư sản nắm giữ, Đại hội quyết định thu lại khẩu hiệu "Tất cả chính quyền thuộc các về Xôviết".


Ngày 7-10-1917: Lênin từ nơi ẩn náu ở vùng biên giới Phần Lan trở về Pêtrôgrát trực tiếp lãnh đạo khởi nghĩa vũ trang.

Ngày 7-11-1917: Dưới sự lãnh đạo của Đảng Công nhân dân chủ xã hội Nga (Bônsêvích) và Lênin, đội Xích vệ công nhân và binh sĩ cách mạng nước Nga đã lật đổ chính phủ lâm thời của giai cấp tư sản, giành thắng lợi vĩ đại trong khởi nghĩa vũ trang Tháng Mười Pêtrôgrát.

Từ đêm 7 đến ngày 9-11-1917: Đại hội đại biểu lần thứ II đại biểu công - binh Xô viết toàn nước Nga được tổ chức tại Smolny, tuyên bố thắng lợi vĩ đại của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga. Đại hội thông qua Lời kêu gọi nhân dân do Lênin khởi thảo, tuyên bố toàn bộ chính quyền thuộc về Xôviết. Đại hội căn cứ vào báo cáo của Lênin, thông qua "Sắc lệnh hòa bình" và "Sắc lệnh đất đai". Đại hội bầu ra Chính phủ lâm thời công nông - Ủy ban nhân dân. Lênin được bầu làm Chủ tịch Ủy ban. Toàn bộ Ủy viên là của Đảng Bônsêvích, Trotsky là Ủy viên ngoại giao nhân dân, Rykov là Ủy viên nội vụ nhân dân, Xtalin là Ủy viên sự vụ dân tộc nhân dân. Thắng lợi của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga là kết quả vĩ đại do Đảng Bônsêvích và lãnh tụ Lênin dám sáng tạo lý luận và thực tiễn cách mạng xã hội chủ nghĩa.


Ngày 15-11-1917: Trải qua chiến đấu ác liệt, khởi nghĩa vũ trang Mátxcơva đã giành được thắng lợi cuối cùng.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #206 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2022, 07:50:56 am »

Ngày 12-1-1918: Tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ III đại biểu công - binh Xôviết toàn nước Nga. Đại hội thông qua "Tuyên ngôn về quyền lợi của nhân dân lao động và bị bóc lột" do Lênin khởi thảo. Đây là văn kiện có tính Hiến pháp do Xôviết ban hành.


Ngày 3-3-1918: Ở thành phố biên giới phía Tây nước Nga Brest - Litovsk, Nga và nhóm đồng minh Đức, Áo đã ký bản điều ước hai bên chấm dứt tình trạng chiến tranh (tức "Hòa ước Brest"). Theo bản Điều ước này, nước Nga bị mất đi vùng lãnh thổ rộng lớn, đồng thời phải đền bù một khoản tiền lớn cho nước Đức.


Từ ngày 6 - 8-3-1918: Đại hội đại biểu lần thứ VII (khẩn cấp) Đảng Cộng sản (Bônsêvích) Nga tổ chức tại Pêtrôgrát. Đại hội chủ yếu thảo luận về vấn đề rút khỏi chiến tranh thế giới của chủ nghĩa đế quốc, cuối cùng thông qua nghị quyết với 30 phiếu tán thành, 12 phiếu phản đối, 4 phiếu trắng, chấp nhận "Hòa ước Brest". Đại hội thông qua nghị quyết đổi tên "Đảng Công nhân dân chủ xã hội Nga (Bônsêvích)" thành "Đảng Cộng sản (Bônsêvích) Nga".


Ngày 8-3-1918: Nhóm quân Anh đầu tiên đổ bộ vào cảng Murmansk ở miền Bắc nước Nga, mở màn cuộc chiến tranh của 14 nước đế quốc dùng vũ trang can thiệp vào nước Nga Xô viết và cuộc nội chiến của nước Nga. Đảng Bônsêvích và chính quyền Xôviết tuyên bố "Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đang lâm nguy", động viên và tổ chức toàn Đảng, toàn dân vùng lên chiến đấu.


Ngày 26-4-1918: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản (Bônsêvích) Nga tổ chức Hội nghị toàn thể, thảo luận và nhất trí thông qua đề cương Nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xôviết do Lênin khởi thảo, trong đó chỉ ra: nhiệm vụ trung tâm trước mắt của Đảng Cộng sản (Bônsêvích) Nga đã từ "lấy lại nước Nga" chuyển thành "quản lý nước Nga".


Mùa hè năm 1918: Đảng Cộng sản (Bônsêvích) Nga đã bắt đầu thực hiện chính sách "Chủ nghĩa cộng sản thời chiến" trên toàn nước Nga. Nội dung chủ yếu của nó là: thực hiện chế độ trưng thu lương thực dư thừa; đưa doanh nghiệp quy mô lớn, vừa và một bộ phận quy mô nhỏ vào quốc hữu, đồng thời thực hiện quản lý tập trung nghiêm túc; nghiêm cấm tự do thương mại; thực hiện chặt chẽ phân phối thống nhất lượng lương thực và đồ tiêu dùng hằng ngày cho người dân; thực hiện tiền lương thực tế.


Ngày 30-8-1918: Sau khi Lênin diễn thuyết tại một công xưởng ở Mátxcơva, lúc rời khỏi hội trường thì bị một nữ đảng viên của Đảng Cách mạng xã hội Kaplan bắn, viên đạn có thuốc độc khiến Lênin bị trọng thương.

Từ ngày 18 - 23-3-1919: Đại hội đại biểu lần thứ VIII Đảng Cộng sản (Bônsêvích) Nga tổ chức tại Mátxcơva. Đại hội đã thông qua nghị quyết về "vấn đề quân sự", phê phán "phe đối lập quân sự", nhâh mạnh đường lối xây dựng Hồng quân chính quy và sử dụng chuyên gia quân sự cũ. Đại hội còn thông qua nghị quyết về "thái độ đối với tầng lớp trung nông", chỉ ra phải chuyển từ chính sách trung lập trung nông sang chính sách cùng với trung nông xây dựng liên minh vững chắc. Đại hội thông qua cương lĩnh Đảng mới, quy định nhiệm vụ của Đảng "thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội".


Ngày 10-5-1919: Lênin tham gia lao động nghĩa vụ ngoài giờ ngày thứ Bảy do đảng viên Đảng Cộng sản (Bônsêvích) Nga của Cục Đường sắt Mátxcơva - Kazan phát động. Những buổi lao động nghĩa vụ như thế này được tổ chức sau giờ tan tầm các ngày thứ Bảy nhằm chi viện cho Đảng và Nhà nước chống lại sự tấn công vũ trang của kẻ thù trong và ngoài nước. Sau đó, phong trào "Lao động nghĩa vụ ngày thứ bảy cộng sản" đã nhận được sự hưởng ứng trong toàn quốc. Lênin gọi đây là "mầm non của chủ nghĩa cộng sản" và "hành động vĩ đại".


Tháng 10-1919: Bukharin và Preobrazhensky cùng soạn thảo, xuất bản sách lý luận phổ thông Chủ nghĩa cộng sản ABC (còn gọi là Nhập môn chủ nghĩa cộng sản). Lênin cho rằng cuốn sách này rất có giá trị đối với việc phổ cập chủ nghĩa Mác.


Từ ngày 29-3 - 5-4-1920: Đại hội đại biểu lần thứ IX Đảng Gộng sản (Bônsêvích) Nga tổ chức tại Mátxcơva. Đại hội chủ yếu thảo luận xây dựng kế hoạch kinh tế thống nhất, cũng như các vấn đề xây dựng kinh tế hữu quan khác, trong đó bao gồm cả những điểm quan trọng của kế hoạch điện khí hóa toàn quốc. Đại hội còn thông qua nghị quyết xuất bản Lênin Toàn tập.


Ngày 28-2-1921: Thủy quân Kronshtadt thuộc căn cứ hải quân biển Bantích Nga nổ ra binh biến. Sự kiện này phản ánh sự bất mãn nghiêm trọng của họ và quần chúng công nông đối với chính sách "cộng sản thời chiến".


Từ ngày 8 - 16-3-1921: Đại hội đại biểu lần thứ X Đảng Cộng sản (Bônsêvích) Nga tổ chức tại Mátxcơva. Đại hội chủ yếu thảo luận vấn đề quá độ từ chính sách "cộng sản thời chiến" sang chính sách kinh tế mới, đồng thời căn cứ vào báo cáo của Lênin thông qua nghị quyết "Đóng thuế hiện vật thay thế chế độ trưng thu lương thực dư thừa". Lênin cho rằng, chính sách kinh tế mới là "một chính sách kinh tế dễ được người nông dân chấp nhận". Đại hội còn thông qua nghị quyết "Thống nhất trong Đảng", trong đó chỉ ra: "Hoạt động của bất cứ phe phái nào trong Đảng đều là có hại, đều không được phép".


Mùa xuân năm 1921: Nước Nga Xô viết bắt đầu thực hiện chính sách kinh tế mới. Nội dung chủ yếu của nó ngoài việc lấy thu thuế hiện vật thay thế cho chế độ trưng thu lương thực dư thừa và giảm nhẹ thuế lương thực, còn cho phép tư nhân sở hữu các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cho phép nông dân cho thuê ruộng đất và thuê người làm công, khôi phục lại tự do thương mại và xây dựng lại quan hệ tiền - hàng, thực hiện chế độ cho thuê và thuê.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #207 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2022, 07:51:34 am »

Từ ngày 27-3 - 2-4-1922: Đại hội đại biểu lần thứ XI Đảng Cộng sản (Bônsêvích) Nga tổ chức tại Mátxcơva. Đây là Đại hội cuối cùng mà Lênin lãnh đạo và tham gia. Tại Đại hội, Lênin đã trình bày toàn diện về ý nghĩa và tầm quan trọng của chính sách kinh tế mới. Người tổng kết lại những thành tựu thu được trong một năm kể từ khi thực hiện chính sách kinh tế mới. Đồng thời Người tuyên bố bước lùi đã kết thúc, cần phải bố trí lại lực lượng để dễ dàng tấn công các thành phần tư bản chủ nghĩa. Đại hội còn thông qua "Điều lệ Ủy ban Kiểm tra Trung ương".


Ngày 3-4-1922: Ban Chấp hành Trung ương khóa mới Đảng Cộng sản (Bônsêvích) Nga tổ chức Hội nghị toàn thể, Hội nghị quyết định lập chức vụ Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương. Xtalin được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.


Ngày 30-12-1922: Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết được thành lập. Lúc đó, gia nhập Liên bang có nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết Liên bang Nga, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết Ucraina, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết Bêlarút, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa liên bang Xôviết Nam Cápcadơ.


Từ tháng 1 đến tháng 3-1923: Trong lúc chữa bệnh, Lênin đã khẩu truyền 5 tác phẩm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn lớn lao, đó là Trích lục nhật ký, Bàn về hợp tác xã, Bàn về cách mạng nước ta, Chúng ta cải tổ Viện kiểm sát công nông như thế nào và Thà ít mà tốt. Trong đó, trong tác phẩm Bàn về cách mạng nước ta, Lênin chú trọng trình bày tính hợp lý và tính lịch sử tất yếu của Cách mạng Tháng Mười Nga. Trong tác phẩm này, Người thừa nhận cách mạng xã hội chủ nghĩa cần phải có nền tảng kinh tế phát triển đến một trình độ nhất định, nhưng cho rằng, xuất phát từ tình hình thực tế của nước Nga, có thể thay đổi trật tự phát triển lịch sử thông thường: đầu tiên giành lấy chính quyền, sau đó xây dựng văn minh vật chất. Người viết, nếu xây dựng chủ nghĩa xã hội cần có trình độ văn hóa nhất định, "vì sao chúng ta không thể dùng biện pháp cách mạng giành lấy tiền đề này trước, sau đó trên nền tảng chính quyền công nông và chế độ Xôviết đuổi kịp nhân dân các nước?". Người còn tổng kết thêm một bước: "Quy luật thông thường của phát triển lịch sử thế giới, không những không hề bài xích tính đặc thù về hình thức hoặc trật tự phát triển của giai đoạn phát triển cá biệt, mà ngược lại còn lấy đó làm tiền đề".


Từ ngày 17 - 25-4-1923: Đại hội đại biểu lần thứ XII Đảng Cộng sản (Bônsêvích) Nga tổ chức tại Mátxcơva. Lênin vì đang chữa bệnh nên không thể tham gia Đại hội. Xtalin đã báo cáo công tác Trung ương trước Đại -hội. Đại hội kêu gọi toàn Đảng chú ý nắm chắc công tác kinh tếchú ý tăng cường liên minh công nông. Đại hội căn cứ vào kiến nghị của Lênin, hợp nhất hai cơ quan là Viện kiểm sát công nông và Ủy ban Kiểm tra Trung ương thành một cơ quan - Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Đại hội tiếp tục bầu Xtalin làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương.


Ngày 21-1-1924: V.I. Lênin - người sáng lập, lãnh tụ vĩ đại của Đảng Cộng sản (Bônsêvích) Nga và Nhà nước Xô viết từ trần vì bệnh nặng, thọ 54 tuổi.

Từ ngày 29 - 31-1-1924: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Nga (Bônsêvích) tổ chức Hội nghị toàn thể, quyết định tiếp nhận ít nhất 100.000 công nhân sản xuất vào Đảng để tưởng niệm Lênin. Trong 2 tháng (từ tháng 2 đến tháng 5), có hơn 240.000 người gia nhập Đảng Cộng sản (Bônsêvích) Nga.


Tháng 4-1924: Xtalin đăng tác phẩm Bàn về nền tảng của chủ nghĩa Lênin.

Tháng 4-1924: Lần đầu tiên phát hành ấn phẩm lý luận chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản (Bônsêvích) Nga - Tạp chí Bônsêvích (tháng 11 năm 1952 đổi tên thành Người Cộng sản).

Ngày 21-5-1924: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản (Bônsêvích) Nga tổ chức Hội nghị toàn thể khẩn cấp. Kamenev chủ trì Hội nghị và đọc bức thư khẩu truyền (lúc đó chưa công khai) của Lênin trong thời gian lâm bệnh từ tháng 12 năm 1922 đến tháng 1 năm 1923 cho Đại hội đại biểu lần thứ XII của Đàng, trong đó kiến nghị Xtalin nên chuyên khỏi vị trí Tổng Bí thư Đảng. Vì điều này, Xtalin đề xuất từ chức tại Đại hội. Thế nhưng những người tham dự Đại hội cho rằng, trong thời gian gần đây "mối lo ngại về nguy cơ rạn nứt giữa Tổng Bí thư và Ban Chấp hành Trung ương vẫn chưa xảy ra" như ở trong thư Lênin nhắc tới. Đại hội với 30 phiếu thuận trên 10 phiếu chống thông qua Nghị quyết, kiến nghị Đại hội đại biểu lần thứ XIII của Đảng bầu Xtalin tiếp tục giữ chức vụ Tống Bí thư Ban Chấp hành Trung ương.


Từ ngày 23 - 31-5-1924: Đại hội đại biểu lần thứ XIII Đảng Cộng sản (Bônsêvích) Nga tổ chức tại Mátxcơva. Đây là Đại hội đại biểu đầu tiên của Đảng tổ chức sau khi Lênin mất. Zinoviev báo cáo công tác của Ban Chấp hành Trung ương trước Đại hội. Báo cáo nêu lên những thành tích to lớn trong phát triển kinh tế  quốc dân. Đại hội quyết định cùng với Quốc tế Cộng sản hợp tác xuất bản Mác - Ăngghen toàn tập, còn quyết định thành lập Viện nghiên cứu Lênin. Đại hội bầu Xtalin tiếp tục giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương.


Từ ngày 18 - 31-12-1925: Đại hội đại biểu lần thứ XIV Đảng Cộng sản (Bônsêvích) Nga tổ chức tại Mátxcơva. Đại hội phê phán "phái đối lập mới" do Zinoviev và Kamenev đứng đầu, bãi chức lãnh đạo Tỉnh ủy Lêningrát của Zinoviev, bổ nhiệm Kirov đảm nhiệm chức vụ này. Đại hội quyết định đổi tên Đảng từ "Đảng Cộng sản (Bônsêvích) Nga" thành "Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang".


Ngày 25-1-1926: Xtalin đăng bài "Bàn về một số vấn đề của chủ nghĩa Lênin".
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #208 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2022, 07:53:30 am »

Từ ngày 2 - 19-12-1927: Đại hội đại biểu lần thứ XV Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang tổ chức tại Mátxcơva. Trong báo cáo công tác của Ban Chấp hành Trung ương, Xtalin chỉ rõ, trong những năm 1926 - 1927, tổng giá trị nông nghiệp toàn quốc đạt mức 108,3% so với trước Chiến tranh thế giới thứ nhất; tổng giá trị công nghiệp đạt mức 109%. Nhiệm vụ của Đảng là tiếp tục thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ thành phần tư bản chủ nghĩa trong nền kinh tế quốc dân, phải thay đổi kinh tế tiểu nông của chế độ tư hữu thành nông trang tập thể xã hội chủ nghĩa. Đại hội thông qua nghị quyết toàn lực triển khai phong trào tập thể hóa nông nghiệp.


Từ ngày 23 - 29-4-1929: Hội nghị đại biểu lần thứ 16 Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang tổ chức tại Mátxcơva. Hội nghị thảo luận và thông qua nghị quyết về chỉ tiêu phát triển kinh tế quốc dân Liên Xô trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1928-1932).


Từ ngày 26-6 - 13-7-1930: Đại hội đại biểu lần thứ XVI Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang tổ chức tại Mátxcơva. Đại hội lại một lần nữa thảo luận về vấn đề tập thể hóa nông nghiệp, yêu cầu "chủ nghĩa xã hội triển khai tiến công quy mô lớn trên toàn tuyến, xóa bỏ giai cấp phú nông và thực hiện tập thể hóa toàn bộ".


Ngày 4-2-1931: Tại Hội nghị đại biểu lần thứ nhất nhân viên ngành công nghiệp xã hội chủ nghĩa toàn Liên Xô, Xtalin đưa ra khẩu hiệu "Kỹ thuật quyết định tất cả". Ông nhấn mạnh, kéo dài phát triển tức là lạc hậu, mà lạc hậu sẽ phải ăn đòn. Liên Xô lạc hậu 50-100 năm so với các nước tiên tiến, phải chạy hết khoảng cách này trong 10 năm. Do đó, Bônsêvích phải nắm được kỹ thuật tiên tiến.


Ngày 13-11-1931: Viện Nghiên cứu Mác - Ăngghen - Lênin thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang được thành lập.

Từ ngày 30-1 - 4-2-1932: Hội nghị đại biểu lần thứ 17 Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang tổ chức tại Mátxcơva. Hội nghị thảo luận và thông qua nghị quyết "Xây dựng chỉ tiêu phát triển kinh tế quốc dân Liên Xô trong kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1933-1937)".


Từ ngày 26-1 -10-2-1934: Đại hội đại biểu lần thứ XVII Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang tổ chức tại Mátxcơva. Đại hội thảo luận và thông qua nghị quyết "Phát triển kinh tế quốc dân Liên Xô trong giai đoạn kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1933- 1937). Nghị quyết nhấn mạnh nâng cao hiệu quả lao động sản xuất, giảm giá thành, cải tiến chất lượng và chủng loại sản phẩm ở các ban, ngành kinh tế quốc dân trên cơ sở thực hiện cải tiến kỹ thuật và nắm vững kỹ thuật mới.


Ngày 1-12-1934: Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang, lãnh đạo chủ chốt Tỉnh ủy Lêningrát S. M. Kirov bị ám sát.

Ngày 4-5-1935: Xtalin phát biểu trong buổi lễ tốt nghiệp của học viên Học viện Hồng quân, đề ra khẩu hiệu "Cán bộ quyết định tất cả". Ông nhấn mạnh chỉ ra rằng, hiện nay Liên Xô đang đứng trước khó khăn nổi cộm là thiếu nhân tài, thiếu cán bộ và người nắm vững kỹ thuật, phải coi trọng vấn đề này, nỗ lực mở rộng đội ngũ trí thức giai cấp công nhân.


Ngày 17-11-1935: Xtalin phát biểu tại Hội nghị lần thứ nhất những người công tác Stakhanov toàn Liên bang, chỉ ra rằng phong trào Stakhanov phản ánh cao trào mới thi đua lao động xã hội chủ nghĩa và cao trào cách mạng kỹ thuật mới trong cả nước, thể hiện tinh thần cách mạng cộng sản chủ nghĩa của giai cấp công nhân. Stakhanov là một công nhân trong mỏ than Donbass. Ông đã vận dụng kỹ thuật mới khai thác được 102 tấn than trong một ca 6 tiếng (định mức là 7 tấn), từ đó dấy lên phong trào quần chúng sáng tạo kỹ thuật và thi đua lao động trong các ngành nghề trong cả nước.


Những năm 1936-1939: Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang tiến hành phong trào thanh trừng và trấn áp "kẻ thù giai cấp và tay sai của chúng" trong và ngoài Đảng trên quy mô lớn trong phạm vi cả nước. Căn cứ vào những tư liệu, hồ sơ liên quan được các ban, ngành hữu quan Liên bang Nga công bố năm 1992, trong cao trào "đại thanh trừng" từ năm 1937-1938, tổng cộng có khoảng 680.000 người bị hành quyết.


Ngày 25-11-1936: Xtalin báo cáo "Dự thảo Hiến pháp Liên Xô" tại Đại hội đại biểu bất thường lần thứ VIII Xôviết toàn Liên Xô. Đại hội lần này thông qua Hiến pháp mới của Liên Xô, trong đó tuyên bố Liên Xô đã xóa bỏ giai cấp bóc lột, chỉ còn lại giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và phần tử trí thức, hơn nữa ranh giới giữa họ cũng đang biến mất. Hiên pháp mới tuyên bố Liên Xô "đã xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội".


Từ ngày 23-2 - 5-3-1937: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang tổ chức Hội nghị toàn thể. Tại Đại hội, Xtalin một lần nữa chỉ ra rằng: "Tiến triển của chúng ta càng lớn, thắng lợi càng nhiều, tàn dư giai cấp bóc lột đã bị đánh tan càng thêm hung ác, chúng càng áp dụng hình thức đấu tranh gay gắt hơn".


Ngày 23-2-1937: Tại Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang đã thảo luận về vấn đề "hoạt động phản Đảng" của Bukharin và Rykov, quyết định tước bỏ Đảng tịch của hai người này. Tháng 3 năm sau, hai người bị xử tử hình vì "tội phản quốc".


Ngày 1-10-1938: Xuất bản cuốn Giáo trình sơ lược lịch sử Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang do Hội đồng đặc biệt của Trung ương Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang biên soạn và được Trung ương Đảng thẩm định.


Từ ngày 10 - 21-3-1939: Đại hội đại biểu lần thứ XVIII Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang tổ chức tại Mátxcơva. Đại hội thông qua "Nghị quyết về kế hoạch 5 năm lần thứ ba phát triển kinh tế quốc dân Liên Xô (1938-1942)". Trong báo cáo, Xtalin chỉ ra rằng, nhiệm vụ kinh tế cơ bản của Liên Xô là trong vòng 10 đến 15 năm, sản lượng bình quân đầu người sẽ đuổi kịp và vượt các nước tư bản chủ nghĩa chủ chốt.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #209 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2022, 07:54:50 am »

Từ ngày 15 - 20-2-1941: Hội nghị đại biểu lần thứ 18 Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang tổ chức ở Mátxcơva. Hội nghị đồng ý với kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân Liên Xô năm 1941 đã được Trung ương Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang và Ủy ban nhân dân Liên Xô thông qua, còn nhất trí thông qua nghị quyết "Nhiệm vụ của tổ chức Đảng trong ngành công nghiệp và vận tải".


Ngày 22-6-1941: Phátxít Đức bất ngờ tập kích Liên Xô. Chiến tranh vệ quốc vĩ đại của Liên Xô bắt đầu. Nhân dân Liên Xô dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang đã anh dũng chống lại quân xâm lược.


Ngày 30-6-1941: Trung ương Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang, Đoàn Chủ tịch Xôviết tối cao Liên Xô và Ủy ban Nhân dân Liên Xô công bố quyết định chung, thành lập Ủy ban Quốc phòng Liên Xô, Xtalin giữ chức vụ Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng.


Trung tuần tháng 7-1941: Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang bắt đầu thực hiện chế độ Chính trị viên trong Hồng quân Liên Xô, mục đích là cải thiện và tăng cường công tác chính trị trong Hồng quân, củng cố kỷ luật Hồng quân, hoàn thành, tốt hơn nữa nhiệm vụ chiến đấu.


Ngày 18-7-1941: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang thông qua nghị quyết "Tổ chức đấu tranh ở hậu phương quân Đức", kêu gọi dốc sức triển khai đấu tranh địch hậu.


Ngày 6-11-1941: Trong thời khắc nguy cấp khi phátxít Đức tấn công Mátxcơva, Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang và tổ chức Xôviết vẫn như thường lệ tổ chức Đại hội chào mừng 24 năm Cách mạng Tháng Mười Nga. Tại Đại hội, Xtalin đã đọc báo cáo, kêu gọi toàn Đảng và nhân dân cả nước lao động quên mình chi viện cho tiền tuyến, bảo vệ Mátxcơva, tiêu diệt toàn diện, triệt để quân xâm lược.


Ngày 7-11-1941: Tổ chức Lễ duyệt binh truyền thống kỷ niệm ngày Cách mạng Tháng Mười Nga tại Quảng trường Đỏ, Mátxcơva. Xtalin phát biểu tại Lễ duyệt binh. Ông nói: "Sứ mệnh giải phóng vĩ đại đặt trên vai các đồng chí. Các đồng chí phải xứng đáng với sứ mệnh này!". Sau khi buổi lễ kết thúc, Hồng quân vừa tham gia duyệt binh lập tức đi thẳng ra tiền tuyến chiến đấu.


Ngày 27-1-1944: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang tổ chức Hội nghị toàn thể, nghiên cứu vấn đề mở rộng quyền hạn về quốc phòng và ngoại giao của các nước cộng hòa liên bang, thông qua nghị quyết kiến nghị cải tổ Bộ Ủy viên nhân dân Quốc phòng và Bộ Ủy viên nhân dân Ngoại giao thành Bộ Liên bang kiêm nước cộng hòa, đồng thời ở mỗi nước cộng hòa thuộc Liên bang đều thành lập Bộ Ủy viên nhân dân Quốc phòng và Bộ ủy viên nhân dân Ngoại giao. Hội nghị còn đồng ý lấy quốc ca mới "Liên bang vững chắc của các nước cộng hòa tự do" thay thế cho bài quôc ca cũ "Quốc tế ca", đồng thời quyết định lấy bài "Quốc tế ca" làm Đảng ca của Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang.


Ngày 9-5-1945: Xtalin đọc "Lời kêu gọi nhân dân", tuyên bố Chiến tranh vệ quốc vĩ đại của Liên Xô đã kết thúc thắng lợi. Đây là kết quả chiến đấu anh dũng của quân dân toàn Liên Xô dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang và Xtalin. Trọng chiến tranh có 3 triệu đảng viên đã hy sinh trong khi chiến đấu hoặc trong khó khăn, gian khổ.


Ngày 28-2-1947: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang tổ chức Hội nghị toàn thể, thông qua nghị quyết "Biện pháp phát triển nông nghiệp thời kỳ sau chiến tranh", đã đưa ra một loạt biện pháp và kiến nghị nhằm khôi phục và phát triển hơn nữa sản xuất nông nghiệp, trong đó bao gồm cải tiến sự lãnh đạo của Đảng đối với sản xuất nông nghiệp, ra sức đào tạo cán bộ nông nghiệp, lấy kỹ thuật mới trang bị cho nông nghiệp, cũng như đấu tranh với các hiện tượng vi phạm các quy định trong lao động nông nghiệp.


Tháng 9-1952: Cuốn sách Những vấn đề kinh tế xã hội chủ nghĩa của Liên Xô của Xtalin được xuất bản.

Từ ngày 5 - 14-10-1952: Đại hội đại biểu lần thứ XIX Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang tổ chức tại Mátxcơva. Malenkov đọc báo cáo công tác tại Đại hội. Đại hội đã phê chuẩn "Chỉ tiêu phát triển kinh tế quốc dân Liên Xô giai đoạn kế hoạch 5 năm lần thứ năm (1951-1955)". Đại hội quyết định đổi tên Đảng từ "Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang" thành "Đảng Cộng sản Liên Xô", đồng thời quyết định đổi Bộ Chính trị Trung ương thành Đoàn Chủ tịch Trung ương và giải tán Cục Tổ chức Trung ương, chức năng của nó do Ban Bí thư thực hiện.


Từ ngày 16-10-1952: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô tổ chức Hội nghị toàn thể, bầu ra Đoàn Chủ tịch và Ban Bí thư Ban Chấp hành Trung ương. Căn cứ đề xuất của Xtalin, Đoàn Chủ tịch lại thành lập Ủy ban thường vụ, gồm 5 người là Xtalin, Malenkov, Beria, Bulganin, Khrushchev.


Ngày 5-3-1953: Lãnh đạo tối cao Đảng Cộng sản Liên Xô I.V.Xtalin qua đời, hưởng thọ 74 tuổi. Thủ tướng Anh Churchill hơn 6 năm sau, với tâm trạng phức tạp, đã bình luận như sau về Xtalin: "Khi ông tiếp nhận nước Nga, nước Nga chỉ có chiếc cày tay bằng gỗ, khi ông nhắm mắt xuôi tay, nước Nga đã có vũ khí hạt nhân".


Ngày 6-3-1953: Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Xôviết tối cao Liên Xô, Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô tổ chức Hội nghị liên tịch. Hội nghị thông qua nghị quyết bổ nhiệm Malenkov làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô; đồng thời quyết định xóa bỏ Ủy ban Thường vụ Đoàn Chủ tịch Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô.


Từ ngày 2 - 7-7-1953: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô tổ chức Hội nghị toàn thể. Hội nghị đã nghe Malenkov báo cáo về vấn đề Beria, thông qua nghị quyết "Tội phản Đảng, phản quốc của Beria", đồng thời quyết định khai trừ Đảng tịch của Beria. Ngày 23 tháng 12 năm đó, Beria bị tử hình.


Từ ngày 3 - 7-9-1953: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô tổ chức Hội nghị toàn thể. Hội nghị đã nghe báo cáo "Biện pháp phát triển hơn nữa nông nghiệp Liên Xô" của Khrushchev và thông qua nghị quyết tương ứng. Nghị quyết yêu cầu trong sản xuất nông nghiệp thực hiện nguyên tắc "kích thích vật chất", bao gồm nâng cao giá cả thu mua sản phẩm nông nghiệp, giảm định mức giao nộp nghĩa vụ. Hội nghị bầu Khrushchev làm Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô.


Ngày 3-5-1954: Đoàn Chủ tịch Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô thông qua nghị quyết, xét lại "Vụ án Lêningrát". Vụ án này liên quan đến các lãnh đạo cấp cao của Đảng Cộng sản (Bônsêvích) toàn Liên bang như nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô kiêm Chủ tịch Ủy ban Kế hoạch nhà nước Voznesensky, nguyên Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô Kuznetsov và nguyên Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên bang Nga Rodionov.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM