Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:47:59 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những kỹ thuật quân sự lớn ảnh hưởng đến chiến tranh trong thế kỷ 20  (Đọc 28475 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #10 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2008, 10:02:43 am »

Kỹ thuật vũ khí hạt nhân



  Vũ khí hạt nhân là loại vũ khí sử dụng việc tự phân rã hạt nhân hoặc phản ứng phân hạch - tổng hợp hạt nhân, trong nháy mắt giải phóng năng lượng cực lớn, sinh ra nổ và có hiệu ứng sát thương phá hoại quy mô lớn. Kỹ thuật vũ khí hạt nhân bao gồm kỹ thuật đầu đạn hạt nhân, phương tiện mang đầu đạn hạt nhân và các bộ phận khác.

  Ngày 16-7-1945, trên hoang mạc ở bang Niu Mê-xi-cô ở Mỹ, một chớp sáng loá mắt vút lên, một tiếng nổ lay trời chuyển đất, trên không trung xuất hiện một quả cầu lửa cực lớn chói sáng gấp mấy lần mặt trời, một cột khói hình nấm bốc thẳng lên trời. Đó là vụ nổ hạt nhân đầu tiên do con người tạo ra. Chính con quái vật tạo ra đám mây nấm khổng lồ đã viết lại lịch sử loài người của thế kỷ 20 và bố cục trên thế giới. Quả bom nguyên tử dùng cho lần thí nghiệm này có năng lượng nổ tương đương với lượng nổ của 2 vạn tấn thuốc nổ TNT. Sau vụ nổ, tháp cao bằng dàn thép đỡ quả bom nguyên tử đã hoàn toàn bị nóng chảy, trong phạm vi 400 mét, cát đá bị nóng chảy thành dạng thuỷ tinh có màu vàng lục, trong phạm vi 1.600 mét, toàn bộ động thực vật đều chết hết. Uy lực của quả bom nguyên tử này lớn hơn 20 lần dự đoán của các nhà khoa học lúc đó.

  Năm 1911, nhà vật lý học người Anh E.Rutherford phát hiện hạt nhân nguyên tử; năm 1916 nhà vật lý học người Mỹ gốc Do Thái Albert Einstein phát biểu "thuyết tương đối", lý thuyết này trực tiếp dẫn đến cách suy nghĩ hoàn toàn mới của toàn nhân loại đối với thời gian, không gian, vật chất và khối lượng, đồng thời mở ra tiền đề tạo bước nhảy vọt cho phát minh bom nguyên tử và vật lý thiên thể đương thời.

  Để sớm kết thúc cuộc đại chiến thế giới lần thứ hai, năm 1942 Mỹ bắt đầu thực hiện kế hoạch "Mahattan" nghiên cứu chế tạo bom nguyên tử. Ngày 2-12-1942 phản ứng tổng hợp hạt nhân tự khống chế nhân tạo lần đầu tiên được hoàn thành dưới khán đài sân bóng đá đã phế bỏ của trường đại học Chicagô, từ đó mở ra lịch sử con người có thể kiểm soát giải phóng năng lượng nguyên tử.

  Ngày 6 và 9 tháng 8 năm 1945, Mỹ lần lượt ném 2 quả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki ở Nhật Bản, lần đầu tiên dùng vũ khí hạt nhân vào thực tế chiến tranh, gây thương vong cho khoảng 21 vạn người.

  Sau chiến tranh, lần lượt các nước Liên Xô, Anh, Pháp nghiên cứu chế tạo thành công bom nguyên tử. Sự xuất hiện của bom nguyên tử đánh dấu hình thái chiến tranh từ thời đại binh khí nóng sang thời đại vũ khí nhiệt hạch, thế giới bắt đầu bị chùm trong "hoà bình dài và đầy khủng bố".

  Ngày 1-1-1952, Mỹ tiến hành thí nghiệm nguyên lý bom khinh khí (bom H) nguyên liệu nạp là chất deuterium (D) thể lỏng, uy lực khoảng 10 triệu tấn đương lượng TNT. Ngày 22-11-1955, Liên xô thử nghiệm bom H với nguyên liệu nạp là chất deuterium Li 6 thể rắn, làm cho bom H trở thành thực dụng. Bom H có thể gọi là vũ khí hạt nhân thế hệ thứ hai. Cuối những năm 50, có quốc gia bắt đầu nghiên cứu chế tạo vũ khí hạt nhân đặc biệt. Tuỳ theo yêu cầu tác chiến mà tăng hoặc giảm một số hiệu ứng sát thương phá hoại, tức vũ khí hạt nhân thế hệ thứ ba. Như bom nơ-trôn (còn gọi là bom tăng cường bức xạ), bom giảm tính phóng xạ dư thừa (tức bom sóng xung kích), bom cảm ứng sinh phóng xạ, bom mạch xung điện từ hạt nhân.

  Năm 1990, tổng lượng dự trữ tồn kho vũ khí hạt nhân của các quốc gia hạt nhân lên tới 55.000 đầu đạn hạt nhân, vũ khí hạt nhân chiến lược và vũ khí hạt nhân chiến thuật mỗi loại khoảng một nửa. Đương lượng tổng tồn trữ trong kho tới 15 tỷ tấn đương lượng TNT. Có người đã thống kê lượng tồn trữ đầu đạn hạt nhân liên Xô chiếm 60%, Mỹ chiếm 38%, các nước hạt nhân khác chiếm 2%.

  Vũ khí hạt nhân phát triển trong tương lai sẽ là vũ khí hạt nhân thế hệ thứ 4. Vũ khí hạt nhân của 3 thế hệ trước đều phải sử dụng đến sức nổ của thuốc nổ năng lượng cao làm cho vật liệu phân hạch đạt tới trạng thái siêu tới hạn, sinh ra phản ứng phân hạch dây chuyền, hình thành vụ nổ hạt nhân, hoặc tiến hơn nữa dùng sức nổ của bom nguyên tử tạo thành điều kiện, khiến cho hạt nhân nguyên tử H sinh ra phản ứng tổng hợp, gây ra sức nổ càng lớn. Còn vũ khí hạt nhân thế hệ thứ tư là một loại vũ khí hạt nhân không dùng đến sức nổ hạt nhân truyền thống cũng có thể giải phóng được năng lượng hạt nhân, sinh ra hiệu ứng sát thương, phá hoại quy mô lớn, đồng thời phát triển theo hướng nâng cao khả năng sinh tồn, khả năng đột phá, khả năng phản ứng linh hoạt và độ trúng đích chính xác.

  Hiện nay các nước Mỹ, Nga, Pháp đang nghiên cứu vũ khí hạt nhân thế hệ thứ tư chủ yếu có vũ khí bom H kim loại, vũ khí có cùng hạt nhân nhưng khác khối lượng, vũ khí phản vật chất. Từ góc độ kỹ thuật cho thấy sự phát triển của vũ khí hạt nhân thế hệ thứ tư tuy vẫn lấy nguyên lý bom A, bom H làm cơ sở, nhưng sử dụng các máy móc thiết bị then chốt để nghiên cứu là máy tổng hợp gò bó quán tính và máy gia tốc. Nó không giống như phát triển vũ khí hạt nhân của 3 thế hệ trước phải cần rất nhiều thí nghiệm nổ hạt nhân, cơ sở của nó là nghiên cứu khoa học hạt nhân dân dụng. Cho nên nó không bị hạn chế bởi hiệp ước cấm thử hạt nhân toàn diện.

  Tháng 1 năm 1944 cuộc hội đàm cắt giảm quân bị của Liên Hợp Quốc đã thành lập ra uỷ ban đặc biệt, mục đích là thảo ra hiệp ước cấm thử hạt nhân toàn diện, làm cho nhân loại có bước tiến lớn có tính thời đại trên con đường cắt giảm quân bị hạt nhân toàn diện.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #11 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2008, 10:10:20 am »

Kỹ thuật vũ khí sinh học, hoá học



  Vũ khí hoá học là vũ khí dùng tác động độc hại của chất độc để sát thương sinh lực địch. Hiện nay, Mỹ có vũ khí hoá học với 27.000 tấn chất độc. Vũ khí hoá học của Nga có khoảng 40.000 tấn chất độc.

  Vũ khí sinh học là vũ khí sử dụng chất độc chiến đấu sinh lực gây bệnh làm tổn hại đến con người. Hiện nay quân đội Mỹ có trang bị 8 loại chất độc chiến đấu sinh học, tồn trữ 10 loại chất độc chiến đấu sinh học.

  Ngày 22-4-1915 trong chiến dịch I-pen ở Bỉ, quân đội Đức lần đầu tiên sử dụng khí độc với quy mô lớn. Lúc đó hướng gió trên chiến trường có lợi cho quân Đức, quân Đức liền cho mở những bình thép đã chất đống sẵn ở trận địa tiền duyên, trong chứa đầy khí Clo, một làn mây khói màu vàng lục cao hơn đầu người theo gió thổi nhẹ với tốc độ 2-3m/ giây bay sang trận địa liên quân Anh - Pháp. Đối mặt với một mùi lạ nhức mũi bay tới, trận địa Anh - Pháp rối loạn lên, phòng tuyến nhanh chóng bị vỡ, quân Đức đi sau đám mây khói không hề gặp phải sự kháng cự nào, đột phá được phòng tuyến của liên quân Anh - Pháp. Đợt công kích này, quân phòng thủ Anh - Pháp có 15.000 người trúng độc, quân Đức cũng có mấy ngàn người trúng độc. Cuộc công kích bằng khí độc với thành tích rực rỡ đã làm cho các nước tham chiến hết sức chú ý. Từ đó một số quốc gia đua nhau nghiên cứu điều chế vũ khí hoá học, và bắt đầu một cuộc giao tranh giữ vũ khí hoá học với khí tài phòng hoá. Năm 1939, nước Đức đầu tiên nghiên cứu chế tạo chất độc mới sarin, năm 1944 lại tổng hợp được chất độc sôman có độc tính cao hơn. Năm 1953, Anh nghiên cứu chế tạo ra chất độc Vx. Chất độc sarin, sôman, Vx đều là chất độc thần kinh, loại chất độc này có độc tính cao, rất ổn định, cho đến nay vẫn là chất độc chiến đấu chủ yếu của vũ khí hoá học các nước. Đồng thời với sự phát triển của chất độc quân dụng, phương pháp sử dụng chất độc cũng phát triển rất lớn. Không những có các loại đạn pháo, bom chất độc và máy rải chất độc trên máy bay, còn có các bình khói độc và lựu đạn khói độc dùng trong đánh gần. Trong đại chiến thế giới lần thứ hai Liên Xô nghiên cứu chế tạo ra pháo hoả tiễn "Cachiusa" có thể bắn chất độc hydrocyanic acid, Mỹ nghiên cứu chế tạo ra bom chùm sarin kiểu M-34. Trong thời kỳ chiến tranh kháng Nhật, quân đội Nhật đã sử dụng hơn 2.000 lần vũ khí hoá học đối với quân dân Trung Quốc, những vùng nhiễm độc rộng khắp 19 tỉnh. Trong chiến tranh Triều Tiên, quân đội Mỹ cũng đã nhiều lần sử dụng vũ khí hoá học đối với quân dân Trung - Triều. Việc sử dụng vật chất hoá học độc hại trong chiến tranh xưa nay đã bị nhân dân các nước trên thế giới phản đối. Ngay từ năm 1899, hội nghị hoà bình quốc tế ở La Hay đã thông qua "tuyên ngôn cấm sử dụng các vật rải thả với mục đích duy nhất gây ngạt thở hoặc khí độc" tháng 6-1925, tại hội nghị Giơ-ne-vơ có 45 nước tham gia, một lần nữa lại thông qua "nghị định thư cấm không được sử dụng phương pháp tác chiến bằng hơi ngạt, chất độc hoặc các chất khí và vi trùng trong chiến tranh". Nhưng lịch sử phát triển của vũ khí hoá học đã chứng minh, công ước quốc tế không thể ngăn chặn được sự phát triển của loại vũ khí này, và càng không thể ngăn chặn được việc sử dụng vũ khí này trong chiến tranh. Vũ khí hoá học trở thành loại vũ khí sát thương qui mô lớn cấm mà không chặn được.

  Vũ khí sinh học, do trước kia chủ yếu phải dùng vi trùng gây bệnh làm chất độc chiến đấu, nên trước đây có tên gọi là vũ khí vi trùng. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, chất độc chiến đấu sinh học đã vượt khỏi phạm trù của vi trùng.

  Lần đầu tiên sử dụng vũ khí hoá học bắt đầu từ đại chiến thế giới lần thứ nhất, nhưng nghiên cứu sản xuất vũ khí sinh học với lượng lớn là vào những năm 30 sau khi đã xác lập được môn miễn dịch học và vi sinh vật học. Năm 1936, quân Nhật xâm lược Trung Quốc đã cho thành lập bộ đội nghiên cứu vi trùng tại Cáp-nhĩ-tân Trung Quốc, từ năm 1939 đến 1942 đã ném bom vi trùng xuống nhiều vùng ở Trung Quốc. Sau này, trong chiến tranh Triều Tiên quân đội Mỹ cũng sử dụng vũ khí sinh học. Hiện nay, quốc tế công nhận chất độc chiến đấu sinh học có hai loại lớn là chất độc chiến đấu sinh học có tính tiềm ẩn và chất độc chiến đấu sinh học tiêu chuẩn. Chất độc chiến đấu sinh học ít nhất cũng có tới 6 loại, 23 chủng vi sinh vật gây bệnh và độc tố. Phương thức sử dụng chất độc chiến đấu sinh học này đã phát triển thành cách rải quy mô lớn kiểu khí sol (khí dung).

  Trong các loại vũ khí sát thương quy mô lớn, vũ khí sinh học có diện tích hiệu ứng lớn nhất. Theo tính toán của tổ chức y tế thế giới (WHO), một chiếc máy bay ném bom chiến lược sử dụng các loai vũ khí khác nhau tập kích vào đám người không có phòng hộ, diện tích sát thương là: vũ khí hạt nhân đương lượng 1 triệu tấn là 300 km2; 15 tấn chất độc hoá học thần kinh là 60km2; 10 tấn chất độc chiến đấu sinh học có thể đạt tới 100.000 km2.

  Trong thời kỳ đại chiến thế giới lần thứ hai, nước Anh đã thử nghiệm một quả bom chứa trực trùng bệnh than nổ trên đảo Grunia, cho đến nay con người vẫn chưa thể sinh sống được trên hòn đảo này.

  Tội ác của vũ khí sinh học đã gây nên sự căm phẫn cực độ của nhân dân thế giới. Năm 1972 liên hợp quốc đã ký công ước quốc tế cấm chế thử, sản xuất, tàng trữ và phải tiêu huỷ vũ khí vi trùng (sinh học) và độc tố. Nhưng vẫn còn có một số ít quốc gia phát triển xưa nay chưa hề từ bỏ việc chuẩn bị chiến tranh sinh học, chẳng qua là càng làm bí mật hơn. So với các vũ khí sát thương quy mô lớn khác, vũ khí sinh học càng dễ chế tạo và buôn lậu, nên sự uy hiếp của nó đối với toàn thể loài người không loại trừ, trái lại càng tăng lên sau cuộc chiến tranh lạnh./.

HẾT
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
Trang: « 1 2   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM