Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 11:15:20 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Làm người là khó  (Đọc 22320 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #20 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2022, 10:39:01 pm »


        Trong điều kiện kinh tế khó khăn, nhà nuôi được 3 con lợn, ủng hộ bộ đội 1 con, còn 2 con tôi chở sang thôn Tiền Tảo, Thanh Hà. Chưa tới nhà đã bị bà Giũi đòi lấy một con to. Vì hôm chiến đấu, anh em dân quân tự vệ có đến nhà bà Giũi vận động ủng hộ một con lợn để làm thức ăn cho dân quân chiến đấu 2 đêm liền ở cầu Lai Vu, bà Giũi đã sẵn sàng ủng hộ. Nhưng khi thấy tôi chở lợn sang, bà đòi lại Tôi trả ngay con lợn to, không nói một câu, nhưng cũng tiếc công chở lợn sang Thanh Hà, vất vả, đêm tối mà chẳng được gì, nhà lại đang lâm vào cảnh túng thiếu, bố ốm không có tiền mua thuốc. Nhà bà Giũi lúc đó lại khá giả hơn nhà tôi nhiều. Sau này tôi vẫn chứng thực cho gia đình bà Giũi là địa chủ kháng chiến, không hề nhắc lại chuyện cũ.

        Tháng 3, tháng 4-1947, dân đi tản cư cũng đã cạn kiệt lương thực, lúa chiêm bà con tranh thủ về cấy ban đêm cũng sắp được thu hoạch, nên trên chủ trương cho dân về hồi cư, bám đất để kháng chiến lâu dài. Được lệnh, tôi huy động các đoàn thể theo dân cùng hồi cư, để tổ chức hướng dẫn làm ăn cho nhân dân, đồng thời xây dựng lực lượng vũ trang, đấu tranh với địch ngay trên đất tạm chiếm. Một vấn đề lớn được đặt ra lúc đó cho Đảng và chính quyền phải xử lý là địch bắt dân theo chúng, lập chính quyền bù nhìn (ta gọi cái tên lúc đó là “hội tề”), cũng có đủ: lý trưởng, chánh tổng, tiên thứ chỉ như trước cách mạng tháng 8-1945.

        Được trên cho phép, ta cho người của ta lập “tề”, nhưng ta phải nắm chắc những người này, bề ngoài làm cho địch, nhưng là người của ta đưa vào. Trong khi ta chưa kịp đưa người của ta, một số nơi địch đã đưa người của chúng ra lập “tề”, rất phản động, gây khó khăn cho ta. Mặc dù ta đã cử người đến thuyết phục họ, nhưng họ cố tình theo địch, buộc ta phải xử lý như lý trưởng Tường Vu và Cổ Dũng, chánh tổng Cam Lâm. Đến cuối năm 1947 tất cả các xã dọc đường 5 (17 km thuộc đất Kim Thành) bề ngoài là “tề” của địch nhưng bên trong ta nắm được toàn bộ. Chỉ có một thôn An Bình (làng Vừng) do một đơn vị quân sự của huyện về phá “tề”, bị bọn phản động chống lại quyết liệt, có một số dân theo chúng, nên đồng chí chỉ huy đơn vị xử lý không đúng, đã đốt một số nhà ở thôn An Bình. Địch kích động dân rào làng chống lại ta. Đến 1954, một số dân thôn này di cư vào Nam. Ở một vài nơi khác có người vừa làm cho ta, vừa làm tay sai cho địch, ta đã gọi ra hậu phương cảnh cáo, như Lý Kỷ thôn Thắng Yên, phó tổng Phu, tổng Lai Vu. Sau đó những người này không dám làm việc hai mang nữa, đến khi ta có lệnh giải tán các loại “hội tề” thì những người này bỏ chạy vào Hải Phòng, nhưng không làm gì có hại cho ta.

        Cuối năm 1947 cơ sở ta đã mạnh lên, các đoàn thể được tổ chức lại, các chi bộ đảng được xây dựng, tôi được đề bạt tham gia huyện uỷ Kim Thành và được giao phụ trách các xã thuộc 2 tổng Lai Vu và Cam Lâm gồm: Cộng Hòa, Cổ Dũng, Lai Vu, Thượng Vũ, Lâm Xá, Tuấn Hưng, Việt Hưng, Lâm Thái.

        Riêng xã Cổ Dũng chưa đủ đảng viên lập chi bộ nên tôi kiêm Bí thư chi bộ xã này và là Bí thư chi bộ đầu tiên của xã.

        Tháng 12-1947 các “hội tề” đều phá hết, dù là “tề” do người của ta đưa vào làm, chỉ còn chính quyền ta công khai với dân, nhưng bí mật với địch. Hai bốt “dõng” ở Cổ Dũng và Tường Vu ta cũng phá luôn, thu được 13 khẩu súng trường Mỹ (Cổ Dũng 8 khẩu, Tường Vu 5 khẩu). Khu vực tôi phụ trách được đón phái đoàn của Chính phủ, do đồng chí Trần Cung, đặc phái viên của Chính phủ làm trưởng đoàn, đồng chí Đặng Tính, Bí thư tỉnh uỷ Hải Dương về thăm, nói chuyện với đồng bào xã Cộng Hòa, tại thôn Tường Vu (nhà ông Bích xóm Trại). Phái đoàn đã biểu dương và khen ngợi tinh thần yêu nước của nhân dân xã Cộng Hòa và toàn huyện Kim Thành. (Phái đoàn Chính phủ do Bộ trưởng Hoàng Minh Giám làm Trưởng đoàn, nhưng đến huyện Thanh Hà, Bộ trưởng Hoàng Minh Giám bị mệt không vào đất tạm chiếm được, đồng chí Trần Cung thay).

        Mặc dù địch đóng bốt rất dày, riêng xã Cộng hòa có tới 4 bốt, sau này lên đến 6 bốt, nhưng địch cũng không lập được “tề”. Đôi khi địch o ép quá, ta phải đưa ra một vài người rất ngớ ngẩn, không biết chữ, làm đại diện cho chúng, như ông Thoại thôn Tường Vu. Địch buộc phải chấp nhận. Công tác địch vận chống bắt phu, bắt lính, chống thu thuế rất có kết quả. Tất cả thanh niên đến tuổi đều ra hậu phương đi tòng quân, tham gia bộ đội huyện, tỉnh, chủ lực, còn lại làm dân quân du kích, kết hợp với lực lượng vũ trang huyện phá “tề”, trừ gian. Sau này nhiều xã đội đã chủ động đánh địch.

        Lúc này huyện uỷ Kim Thành quyết định thành lập 3 khu, gọi là 3 đồn: Đồn 8 gồm các xã thuộc đường 5 của hai tổng Lai Vu và Cam Lâm, do tôi phụ trách: Lai Vu, Cộng Hòa, Cổ Dũng, Thượng Vũ, Lâm Xá, Lâm Thái, Tuấn Hưng, Việt Hưng. Đồn 5 gồm các xã đường 5 còn lại là: Song Thái, Vạn Tân và các xã lân cận là Kim Quang, Ngũ Phúc, Vạn Thọ, Hưng Đạo, Tân Dân (thuộc 2 tổng Bất Nạo và Phú Tải) do đồng chí Hoàng Hồi phụ trách.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #21 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2022, 10:39:32 pm »


        Đồn 9 có các xã thuộc 2 tổng Phí Gia và Nại Xuyên gồm: xã Bình Dân, Cẩm La, Tam Kỳ, Đại Đức, Hoàng Xá, Liên Hòa do đồng chí Phiên (Bách) phụ trách.

        Sau khi xây dựng củng cố đồn 8, tôi chuyển xuống phụ trách đồn 5, như vậy là tôi đã phụ trách tất cả các xã dọc theo đường 5 dài 17km.

        Trong thời gian công tác ở hai đồn 8 và 5, tôi hoạt động cùng các cán bộ thuộc hai đồn đều còn rất trẻ, rất xông xáo và hăng say công tác như đồng chí: Lê Công Thiện, Nguyễn Tiến Long, Nguyễn Văn Ngoạn, Nguyễn Văn Sanh, Phạm Văn Bổn, Văn Tuấn, Nguyễn Văn Khóai, đồng chí Khoa, đồng chí Cung (tức Cường), đồng chí Thủ. Cán bộ quân sự có đồng chí Phí Văn Tư (Tư Nghiễn), đồng chí Hoàng Văn Bút, đồng chí Nghê, đồng chí Thịnh (Đen). Cán bộ phụ nữ có: cô Cúc, cô Xuân, cô Dung. Cán bộ công an có đồng chí Phạm Thiệp, đồng chí Vấn. Cán bộ tình báo trung đoàn 42: đồng chí Minh Tiến, đồng chí Đại... tất cả đều là những đồng chí hăng say công tác, sẵn sàng xông vào đất địch, không sợ gian lao nguy hiểm...

        Cuộc sống của chúng tôi vừa giản dị vừa đầm ấm. Suốt đêm đi hoạt động trong đất địch, ngủ bờ ngủ bụi, cơm ăn nhiều lúc không đủ no, quần áo nhiều lúc chỉ có bộ rưỡi, nhưng lúc nào chúng tôi cũng vui như ngày hội. Các cụ xưa thường khen các bậc chí sĩ yêu nước, những gương anh hùng coi cái chết “nhẹ như lông hồng”, còn chúng tôi lúc đó hình như ít ai nghĩ đến cái chết, bao giờ nó đến với mình cũng được, nó nặng hay nhẹ hơn lông hồng cũng chẳng ai biết, cứ được giao việc là đi làm, không thấy ai từ chối bao giờ!

        Tôi lúc đó còn rất trẻ, hiền lành, nhưng bảo anh em cái gì họ cũng làm răm rắp, chẳng bao giờ phải ra mệnh lệnh. Chúng tôi đi vũ trang tuyền truyền, đi phá “tề” trừ gian, có lúc tôi và đồng chí Vấn công an ăn ngủ tại nhà ông Đội Sử làm chánh tổng “Tề” Lai Vu, nhà sát bốt Tuần Mây gần 200m, hoặc ngủ lại bốt “Dõng” ở Đình Vuông xã Cổ Dũng. Những người lính bề ngoài của địch, bên trong là người của ta đã bảo vệ chúng tôi. Trong lúc đang chiến đấu cùng nhau, có những đồng chí đã hy sinh trước mũi súng quân thù như đồng chí Quý, Bí thư thanh niên huyện Kim Thành; đồng chí Ngoạn, hy sinh khi làm chính trị viên huyện đội Kim Thành; cô Dung bị địch giết rất dã man; đồng chí Tiến Long bị bắt và hy sinh khi vượt Côn Đảo; đồng chí Cọ, đồng chí Kiêm bị bắt mất tích... Nhưng cũng có đồng chí nửa đường nhỡ bước sa cơ, bị địch bắt, không chịu được tra tấn đã đầu hàng địch (anh Hanh - tức Ngải thôn Đính Giàng, xã Đại Đức).

        Người tiêu biểu mẫu mực cho các thời kỳ hoạt động ở Kim Thành, cùng trong cấp uỷ với tôi, là Bí thư Huyện uỷ Lê Ràm. Tên thật anh là Nguyễn Thượng Trình. Khi làm báo Quân đội, anh lấy thêm tên Vũ Chính. Nhưng cái tên Lê Ràm thì đến hôm nay anh cũng vẫn thích dùng. Duyên do anh Trình đặt tên ấy có ý nhắc nhở đồng chí Huyện uỷ viên, Trưởng ban Tuyên huấn Huyện uỷ, lúc đó không chịu vào đất tạm chiếm hoạt động, chỉ ở vùng tự do huyện Tứ Kỳ, tối về cầu Ràm, huyện Ninh Giang, nơi vợ bán hàng tại đó. Anh Trình lấy tên Lê Ràm không những ám chỉ đồng chí này chỉ “lê” ở cầu “Ràm”, đồng thời cũng phê bình chung một số cán bộ Kim Thành hay ở lâu vùng tự do (nay anh Trình đã 86 tuổi, là Đại tá về hưu, viết thư cho tôi bao giờ cũng ký: Lê Ràm).

        Anh Lê Ràm luôn luôn bám sát đất tạm chiếm để đánh địch, giản dị, không có quá 2 bộ quần áo nâu và cái khăn vuông đen để gói quần áo đeo vào vai, tối làm chăn che bụng, lúc đó gọi vui là: “Khăn gói quả mướp”. Tôi nhớ Tết âm lịch năm 1947-1948, mồng một Tết tôi vừa ăn Tết với nhân dân trong vùng địch tạm chiếm, sáng mồng 2 tôi đi một mạch qua huyện Thanh Hà sang Nhân Lý huyện Tứ Kỳ thăm chúc tết Bí thư Huyện uỷ. Đi 5, 6 tiếng đồng hồ, đường mưa lầy lội đến văn phòng huyện uỷ, bụng mẩm chắc Bí thư Huyện uỷ sẽ chiêu đãi Tết. Nhưng đến văn phòng ở một nhà dân thì được ông chủ nhà cho biết Bí thư đi công tác từ tối 30 tết. Chúng tôi ngồi đợi một lúc mới thấy Bí thư Lê Ràm về, cùng với chú Hải (Mão) văn phòng Huyện uỷ. Hỏi ra được biết đêm 30 Tết Bí thư Lê Ràm ra chùa ngủ nhờ, sợ ngủ ở nhà “giông” cho gia chủ. Ngày mồng một Tết Bí thư Cộng sản ăn nhờ lộc Phật ở chùa và mồng hai Tết mới về làm việc. Anh em gặp nhau kể lại chuyện Tết trong đất “tề”, coi như là báo cáo với Bí thư Huyện uỷ. Trưa hôm đó ăn hơi muộn, ông bà chủ hồ hởi tổ chức bữa cơm Tết, tuy muộn mằn cho chúng tôi, nhưng rất thịnh soạn...
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #22 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2022, 10:40:07 pm »


        Năm 1948, mở đầu cuộc đấu tranh chính trị lớn nhất ở các xã đường số 5 là cuộc đấu tranh chống thu thuế vụ hè của địch. Ta đã phá hết “tề” các loại, địch tổ chức vào thu thuế, ta đánh mìn chặn đường chúng. Tiêu biểu là 2 trận đánh mìn ở xóm Gốc Me 17-8-1948 và xóm Đình, cổng nhà ông Tú ngày 23-8-1948 thôn Tường Vu, xã Cộng Hòa. Ta giết hàng chục tên địch đến cướp thóc của dân, sau khi chúng đi càn ở Thanh Hà về qua thôn Tường Vu. Địch trả thù hèn hạ bằng cách đốt sạch thôn Tường Vu. Đối với các gia đình thôn Lai Khê về phía Nam đường số 5, chúng bắt 22 người dân xếp hàng tập trung rồi xả súng bắn chết hàng loạt. Chỉ còn một người sống sót là ông Đoàn Hữu Nhung. Khi chúng sắp bắn ông đã lăn ra, chúng cho là chết rồi nên thóat chết. Tàn bạo hơn nữa, chúng thiêu sống ông Đỗ Văn Hứa ngay tại nhà ông. Ngày này đã thành ngày giỗ Trận ở xã Cộng Hòa.

        Song song với 17km đường số 5 trên đất Kim Thành là đường tàu hoả, con đường huyết mạch của địch vận tải binh lính, vũ khí, lương thực từ chính quốc và miền Nam ra, cung cấp cho Hà Nội cùng chiến trường Bắc bộ. Đây thực sự là con đường chiến lược của thực dân Pháp đối với chiến trường Bắc Đông Dương bao gồm cả Thượng Lào.

        Được chỉ thị của Trung ương Đảng, Chính phủ, Bộ Tổng tư lệnh và tỉnh uỷ Hải Dương, Huyện uỷ Kim Thành chỉ đạo huyện đội (có một trung đội do người trung đội trưởng nổi tiếng là đồng chí Tăng Bá Liệp chỉ huy) cùng với lực lượng dân quân du kích các xã luôn nắm sát tuyến đường số 5 và đường sắt thuộc Kim Thành, để tổ chức đánh mìn, phá đường tàu hoả, phá kế hoạch vận tải của địch. Tôi cùng các đồng chí cán bộ quân sự, công an, tình báo, cán bộ phụ trách xã, tiểu khu... luôn luôn nắm sát tình hình địch vận chuyển đi lại trên đường 5, đường sắt, tìm những điểm yếu của địch, kết hợp với tin từ cơ sở tình báo Hải Phòng để biết những chuyến tàu vận tải binh lính, vũ khí, lương thực, đánh cho trúng. Vì năm 1948 ta cũng đã đánh nhầm một đoàn tàu chợ, tuy phá tan được đầu tàu, đổ mấy toa, một số dân thường bị thương vong, từ đó chúng tôi kết hợp chặt chẽ với tình báo Hải Phòng đồng thời quan sát kỹ mỗi chuyến tàu rồi mới cho bấm mìn nổ. Năm 1947 ta chưa biết cách sử dụng pin (điện) để nổ mìn, phải dùng sức người kéo dây giật cho mìn nổ, nên thường không chính xác trúng đầu tàu, hơn nữa sau khi mìn nổ rút lui khó khăn, vì đông người địch dễ phát hiện.

        Từ năm 1948 ta dùng pin (điện) nối vào đầu dây dẫn đến kíp mìn, nên độ chính xác rất cao và điều kiện giữ bí mật cũng tốt hơn, vị trí ngồi bấm nút cũng xa mìn hơn. Kéo dây giật phải ngồi gần, đông người mới kéo nổi giây cho mìn nổ (thường từ 3 người trở lên), còn bấm điện chỉ cần 2 người là đủ.

        Nhưng đánh mìn bằng bấm điện cũng có cái phức tạp. Phải thử mìn trước khi đánh, phải cho điện chạy qua quả mìn, qua bóng điện, đèn sáng mới là mìn tốt. Có lần thử bóng đèn hỏng, khi bấm điện mìn nổ luôn, ba đồng chí bộ đội huyện bị hy sinh. Chỉ tìm thấy được vài cánh tay bay xa hàng trăm mét. Cả ba gian nhà của cụ Cựu Càng thôn Du La, xã Cẩm Chế, huyện Thanh Hà, Hải Dương và cót thóc đầy bay hết, nhưng không thiệt hại về người, vì mỗi khi thử mìn như vậy, anh em bộ đội Kim Thành nói với gia đình đi ra ngoài, tránh bất trắc xảy ra (gia đình cụ Cựu Càng là gia đình cách mạng, cụ và các con như anh Quản, chị Ngân, anh Kiên... đều là cán bộ cách mạng, là những người con trung hiếu). Khi sự cố mìn nổ, tôi đến thăm uý lạo anh em bộ đội huyện, thu dọn hậu quả và cảm ơn cụ... Cụ Cựu Càng nói: “Tôi chỉ thương tiếc các đồng chí hy sinh. Tối hôm qua anh em đi tìm nơi đặt mìn, đặt dây mìn, hôm nay thử mìn để tối đem đi đặt, không may mìn nổ trước. Tôi thương tiếc anh em vô hạn. Còn nhà và thóc của tôi có đáng là bao. Cần hy sinh bao nhiêu nữa, tôi cũng không tiếc. Tôi sẽ làm lại 3 gian nhà và mời anh em bộ đội Kim Thành về ở”. Rồi cụ khóc... Không đầy một tháng nhà đã dựng xong, anh em lại về nhà cụ ở, mọi việc lại diễn ra bình thường như không có chuyện gì xảy ra!

        Trên đoạn đường 5 (Kim Thành) địch tìm trăm phương ngàn kế, hòng ngăn chặn hoạt động của quân ta. Nhưng chúng đã thất bại! Tháng nào cũng có tàu địch bị mìn ta lật đổ trên đoạn đường này. Do những chiến công vang dội đánh mìn trên đường sắt, đội du kích Kim Thành đã 2 lần được Bác Hồ gửi thư khen và đã xuất hiện nhiều cán bộ chiến sĩ đánh mìn xuất sắc như: “Bộ ba vua mìn Cảnh, Huy, Chính”; nữ du kích Đinh Thị Nhìn, chiến sĩ thi đua toàn quốc Nguyễn Huy Trường, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Thòa...
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #23 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2022, 10:40:44 pm »


        Có đoạn đường sắt từ ga Phạm Xá, đến thôn Phương Duệ (thôn Dòi) - Quỳnh Khê, ta đánh đi đánh lại rất nhiều lần nhưng địch vẫn không sao tránh được! Nhiều trận đánh chúng tôi ngồi tại một nơi kín đáo ở phía bắc đường 5 để xem tàu đổ chỉ cách 200 - 300m. Mỗi chuyến tàu đến, nghe tiếng còi tàu, tim chúng tôi như bắn lên, vừa mong đợi, vừa lo cho anh em, lo mìn không nổ, lo không phải tàu nhà binh... đủ mọi nỗi lo. Rồi lại mím môi chờ đợi, chẳng ai muốn nói với ai chuyện gì, tất cả tập trung vào ý nghĩ mìn nổ trúng đầu tàu vận chuyển quân sự... Đang suy nghĩ miên man thì tàu xình xình sắp qua chỗ đặt mìn. Bỗng một luồng khói lớn trùm hết đoàn tàu. Đầu tàu sững lại. Các toa tàu chùn lại như con sâu róm bị chạm đầu vào lửa hoặc vật gì nguy hiểm đến tính mạng... Đầu tàu đổ xuống, các toa đổ theo. Sau đó chúng tôi mới nghe thấy tiếng mìn nổ inh tai... Mọi người sung sướng... chui xuống hầm đề phòng địch càn cả sang phía bắc đường xe lửa. Sau 2 giờ địch tập trung truy tìm, anh em ở phía Nam kịp thời rút về thôn Thiệu Đáp, rồi bơi qua sông sang thôn Lan Can, xã Hưng Đạo, huyện Thanh Hà. Còn chúng tôi cũng rút về thôn Cam Đông, xã Việt Hưng ăn mừng chiến thắng... Trận nào cũng có cán bộ chỉ huy quan sát ở vị trí phía Bắc đường số 5 để theo dõi đánh giá kết quả trận đánh cho chính xác. Có lần chúng tôi mời cán bộ lãnh đạo huyện, tỉnh về quan sát trực tiếp... Tiếc rằng lúc đó không có máy ảnh ghi hình làm kỷ niệm. Máy quay phim thì không bao giờ dám nghĩ tới và cũng không hình dung quay phim thế nào. Mỗi chúng tôi cũng chỉ được nghe loáng thóang về xem xi-nê, chứ không ai được nhìn thấy nó!

        Ngoài việc đánh mìn, còn có từng đợt phá đường tàu. Như năm 1949, hưởng ứng lời kêu gọi của Trung ương chuyển sang thời kỳ chuẩn bị tổng phản công, có một đêm ta đã dùng pháo mìn, phá hơn 10 km đường ray thuộc đất Kim Thành. Có thể nói đêm đó là ngày hội. Mỗi dân quân du kích được giao 2 quả mìn, phụ trách 50 mét đường ray. Đặt xong pháo mìn, từng đoạn dài 1 km có cán bộ quân sự Huyện phụ trách. Đến giờ phát hoả toàn tuyến bằng một phát pháo hiệu, mìn nổ ầm ầm sáng rực cả bầu trời Kim Thành. Sau trận phá đường, địch phải tập trung sửa hàng tuần, tàu mới chạy qua được đất Kim Thành.

        Về việc phá tề trừ gian, hai đồn 8 và 5 làm liên tục, không cho “tề” phản động mọc ra. Muốn vậy trước nhất phải phá tan cái quận “bù nhìn” đóng tại thôn Thanh Liên, do Đặng Thúc Quỳnh làm quận Trưởng. Phạm vi của quận này gồm hầu hết các xã dọc đường 5 thuộc đất Kim Thành và một phần huyện Kinh Môn. Quận có 2 tiểu đội lính Pa-ti-giăng canh gác. Tên Quỳnh thuộc loại có học (tú tài cũ), ta đã vận động bọn lính bảo vệ quận, đồng thời viết thư kêu gọi quận Trưởng Quỳnh, nên y tỏ thái độ trung lập, không dùng bọn “tề” phản động phá cơ sở ta. Những gợi ý của cán bộ địch vận, y đều làm theo như không bắt dân làm thẻ căn cước để kiểm soát, không thu thuế những nơi mất mùa, nơi phải nuôi dưỡng cán bộ nhiều như Tường Vu, Lai Khê... y lờ đi không buộc dân phải đóng thuế. Do công tác địch vận tốt của xã Cộng Hòa y có ý muốn ra với kháng chiến và xã Cộng Hòa đã tổ chức đón y. Nhưng chuyện không thành chỉ vì không thống nhất ám hiệu. Sau y phải tự tìm đường ra với cách mạng. Ngày 11-10-1948 y đã dẫn binh lính dưới quyền mình ra xã Lâm Xá, đến thôn Bộ Hổ gặp được đồng chí Hoàng Văn Bút, cán bộ quân sự của Đồn 8 đưa toàn bộ quận Trưởng, 1 thư ký, 11 lính cùng võ khí vượt qua đường số 5 sang xã Cổ Dũng, qua đò sang thôn Du La, xã Cẩm Chế, Thanh Hà, được cơ quan huyện Kim Thành và nhân dân sở tại đón tiếp chu đáo. Họ rất phấn khởi. Những người lính đều tham gia vào bộ đội Huyện và Tỉnh. Còn Đặng Thúc Quỳnh được sử dụng ở Ban địch vận tỉnh. Khi địch đánh rộng ra vùng tự do của tỉnh Hải Dương, y lại chạy vào nội thành, nhưng không làm gì có hại cho cách mạng.

        Tháng 1-1949 tôi được bầu làm uỷ viên Thường vụ Huyện uỷ, được Huyện uỷ phân công phụ trách tổ chức, phụ trách dân vận, làm chủ nhiệm Huyện bộ Việt Minh. Khi hợp nhất mặt trận Việt Minh vào Mặt trận Liên Việt, tôi làm thư ký mặt trận Liên Việt Huyện, về Đảng phụ trách khối Dân vận và Tổ chức Đảng.

        Thời gian này, tuy địch đóng khá dày trên đất Kim Thành nhưng phong trào quần chúng ở các xã đều rộng khắp. Các tổ chức Phụ lão, Thanh niên, Phụ nữ, Nông dân... hoạt động rất sôi nổi, nhưng chỉ có một thôn An Bình (làng Vừng) là có cơ sở bí mật. Còn ở các xã, tổ chức quần chúng giữ bí mật với địch, công khai với dân. Những tên phản động hoặc những người cầu an đã chạy vào thành phố Hải Phòng. Các phong trào thi đua yêu nước như mua công phiếu kháng chiến, nộp thuế, đi dân công, tuyển quân, huyện Kim Thành đều làm đầy đủ nghĩa vụ do Tỉnh giao.

        Phong trào học tập văn hóa, tập diễn văn nghệ rất sôi nổi. Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mark ra đời do tôi làm Hội trưởng để tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản, có đồng chí Phí Văn Tưởng làm cán bộ giúp việc (đồng chí Tưởng mang cái tên “Tưởng - Marx” là vì thế. Sau này đồng chí Tưởng làm Chủ tịch huyện Kim Thành, và làm Chủ nhiệm Công ty Bách hóa Hải Dương).

        Đặc biệt phong trào luyện quân, xây dựng lực lượng vũ trang rất nổi. Mỗi xã có một Trung đội dân quân du kích, huyện có một đại đội gồm 3 trung đội. Tháng 8-1949 toàn huyện đã tổ chức Đại hội Tập ở huyện Tứ Kỳ trong 3 ngày liền. Nhân dân toàn huyện tuy bị địch chiếm đóng, nhưng đã kéo ra khu Tự do Tứ Kỳ hàng vạn người dự Đại hội Tập. Địch biết ta tổ chức Đại hội Tập rất lớn ở vùng Tự do nhưng chúng cũng chẳng dám làm gì. Phong trào quần chúng rất vững. Khi địch đánh chiếm vùng Tự do Từ Kỳ, Ninh Giang, Thanh Miện... của Hải Dương, cơ quan huyện đã chuyển hẳn về đất Kim Thành. Đầu năm 1950 đã tổ chức Đại hội Đảng ở thôn Cao Ngô, xã Liên Hòa.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #24 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2022, 10:50:22 pm »


        Xây dựng gia đình

        Đầu năm 1949 tôi đã bước sang tuổi 20. Lúc này các đồng chí trong Huyện uỷ với lứa tuổi như tôi đều đã có gia đình, con cái đề huề, riêng tôi vẫn sống độc thân, lại là uỷ viên Thường vụ phụ trách dân vận. Lệ “tảo hôn” cũng làm tôi phiền lòng. Ban Chấp hành Phụ nữ huyện có nhiều đồng chí chưa lập gia đình, nên các đồng chí cứ gán ghép, giới thiệu với tôi nhiều “cô”. Tôi cũng hiểu Ban Thường vụ rất quan tâm đến việc thành lập gia đình của tôi. Mới 20 tuổi mà mọi người cho rằng tôi đã “ế vợ”, hoặc có bệnh (?) nên mới không lấy vợ. Các cô phụ nữ xã, huyện, đều muốn gán cho tôi cô này, cô khác. Có cô mạnh dạn nói thẳng “muốn làm bạn” với tôi. Cô khác tế nhị hơn chỉ chăm sóc đời sống cho tôi như giặt giũ, vá may quần áo giúp. Tôi đều cảm ơn, tất cả không dám ngỏ lời với bất cứ ai, vì tôi nghĩ mình còn ít tuổi, trong lúc kháng chiến gian khổ, không may bị hy sinh sẽ làm dang dở cho chị em, nên tôi không dám đặt vấn đề xây dựng gia đình...

        Khoảng tháng 4-1949, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Hải Dương dự kiến điều tôi lên làm Trưởng ban chiếm đóng của Tỉnh. Các đồng chí khuyên tôi nên lấy vợ trước khi lên Tỉnh, nhất là những đồng chí thân thiết như đồng chí Lê Công Thiện, Hoàng Hồi, Nguyễn Văn Ngoạn. Đồng chí Thiện lúc đó phụ trách đồn 9, có xã Bình Dân. Đồng chí Hồi người xã Bình Dân giới thiệu cho tôi cô Phí Thị Tâm là Bí thư Phụ nữ xã Bình Dân mới 17 tuổi. Tôi cũng biết sơ qua đồng chí Tâm, vì đồng chí Tâm được kết nạp vào Đảng mới 16 tuổi, mà qui định Điều lệ Đảng lúc đó là 17 tuổi (tính cả tuổi mụ là 18) thì mới được kết nạp vào Đảng. Khi tôi là Trưởng ban Tổ chức Huyện uỷ đã về xã Bình Dân thẩm tra việc kết nạp sai điều lệ về tuổi của đồng chí Phí Thị Tâm. Nhưng sự việc cũng dừng ở đó thôi. Đến khi đồng chí Thiện và Hồi giới thiệu, nhận làm mối cho tôi, tôi cũng rất phân vân. Sau do sự vận động, có lúc như thúc ép, tôi mới nhận lời. Chúng tôi gặp nhau được 3 lần, trao đổi sơ sơ, nhưng Ban Thường vụ Huyện uỷ có ý kiến là tổ chức đám cưới luôn, và chủ động đi bàn bạc với hai gia đình chúng tôi. Hai gia đình cũng đồng ý

        Thế là đến ngày 13-6-1949 đám cưới của chúng tôi được tổ chức theo hình thức “đời sống mới” ở thôn Phù Tinh thuộc khu Hà Đông, huyện Thanh Hà. Ngày tổ chức lễ thành hôn do Huyện và hai xã Cộng Hòa, Bình Dân đứng ra tổ chức rất đông vui. Tiệc cưới có bánh kẹo, đặc biệt là có xôi vò, chè đường, do hai xã tặng cô dâu chú rể. Hôm đó tôi bận họp Thường vụ, việc tổ chức là nhờ vào huyện, xã, cô Tâm với gia đình lo liệu. Cô Tâm mới 17 tuổi nhưng đã quán xuyến một phần công việc ngày hôm đó. Đúng 5 giờ chiều, họp xong Ban Thường vụ Huyện uỷ, chúng tôi cùng về một lúc. Đến Phù Tinh, tôi mới mượn được chiếc áo sơ-mi trắng của anh Hồng Long và cái quần ka ki của anh Ngoạn để mặc về làm lễ thành hôn. Tôi thay bộ quần áo nâu đưa cho nhà tôi gói cất đi. Cô dâu cũng giở gói tư trang đưa cho tôi đôi dép cao su trắng hiệu “con hổ”. Lần đầu tiên tôi được đi đôi dép cao su trắng, do vợ mua cho, tôi rất cảm động...

        Hình như tôi có duyên với đồng chí Lê Ràm. Trong dịp này đồng chí Lê Ràm công tác ở Ban chiếm đóng Liên khu III về công tác ở Kim Thành. Tôi mời đồng chí đến dự, đồng chí đã làm bài hát và tự hát trong buổi lễ thành hôn của chúng tôi. Tôi chỉ còn nhớ có một câu... “Cả huyện đi ăn cưới đôi Thành - Tâm”...

        Oái oăm và đáng buồn cho chúng tôi! Đúng 9 giờ tối, mọi người đang thu xếp dọn dẹp, nhất là gia đình cụ Hương Hòi thôn Phù Tinh suốt cả ngày lo lắng nấu nướng giúp đỡ, nhà sư chùa Phù Tinh tạo mọi điều kiện tốt nhất cho lễ thành hôn của chúng tôi, tất cả còn đang bận rộn dọn dẹp thì có tin địch sẽ tiến công vào khu Hà Đồng sáng sớm ngày hôm sau. Như vậy là cơ quan huyện Kim Thành đóng tại Hà Đồng, ngay đêm 13-6-1949 phải chuyển hết sang Tứ Kỳ. Gia đình hai họ phải trở về Kim Thành ngay đêm đó. Thật là không ngờ ngày vui lại vất vả đến thế

        Mọi việc chuẩn bị cho đêm tân hôn không còn nữa vì 12 giờ đêm thu xếp xong công việc, hai vợ chồng đi bộ đến sáng ngày 14-6-1949 mới đến làng Mép - Tứ Kỳ, nơi gia đình tôi sơ tán.

        Ngày hôm sau địch không đánh lên khu Hà Đồng, đó chỉ là tin dự báo thôi. Còn tôi lại phải đi họp ở tỉnh rồi về họp ở huyện. Thực sự đêm tân hôn của chúng tôi phải sau 17 ngày nữa mới được “chính thức hóa”. Nói chuyện này nhiều đồng chí của tôi vừa buồn cười, vừa không tin, nhưng sự thật là thế.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #25 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2022, 10:51:03 pm »


        Sau này thỉnh thoảng tôi hay nói vui với nhà tôi, nhất là sau khi từ “Ăng ca” ở Campuchia du nhập sang, tôi bảo đám cưới chúng mình do “Ăng ca” cưới cho đấy? Vợ chồng cùng cười... Nhưng “Ăng ca” Việt Nam khác “Ăng ca” Campuchia.

        Đồng chí Phí Thị Tâm khi còn trẻ là cô gái xinh đẹp nhất nhì trong huyện. Về phẩm chất đạo đức phải nói là hiếm có, giỏi việc nước, đảm việc nhà. Sáu năm tôi đi tù và công tác xa, đồng chí giữ chữ hiếu với cha mẹ hai bên, giữ trọn nghĩa tình với chồng, làm trọn nhiệm vụ với Đảng và nhân dân giao cho, trông nom con cái chu đáo. Sau 8 năm chúng tôi cưới nhau mới sinh cháu đầu là Đoàn Duy Linh năm 1957 và tiếp 3 cháu nữa. Liền trong 4 năm 11 tháng chúng tôi đã sinh 4 cháu trai, trong lúc kinh tế cực kỳ khó khăn. Vợ tôi vẫn đi làm và chăm nuôi con, giúp đỡ chồng rất chu đáo, dạy bảo con cái đến nơi đến chốn, cho tới ngày các cháu trưởng thành. Đồng chí Nguyễn Thị Định, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữa Việt Nam đã đến tận nhà tôi để gắn Huy chương vì Sự nghiệp giải phóng Phụ nữ cho cả hai vợ chồng tôi.

        Đồng chí Tâm xuất thân từ gia đình nhà nho nghèo yêu nước. Ông nội là cụ Thương Quê, còn gọi là quan Thương, đô tú tài làm Thương tá Hải Dương, cùng với Cao Bá Quát chống vua Tự Đức. Cụ bị xử tử hình, chôn nửa người, sau một tuần mới mất. Do những người lính canh tử tế, đêm đem nước cháo cho cụ uống, nên mới sống được 7 ngày. Gia đình sợ hãi phải chạy xuống xóm “Lau” xã Đại Đức, Kim Thành lánh nạn. Gia đình trở lên nghèo khổ. Khi cải cách ruộng đất được qui thành phần cố nông. Tuy nhà nghèo, đến Cách mạng tháng 8-1945 mới được đi học, nhưng đồng chí Phí Thị Tâm chăm học, có di truyền thông minh, nên học giỏi, tiếp thu rất nhanh, khi đi làm cách mạng từng bước được học tập, đào tạo nên công việc phụ trách đều làm tốt. Họ Phí thôn Quê Phương, xã Bình Dân, Kim Thành có truyền thống nho học, thông minh nên địa phương có câu: “Văn chương họ Phí, lý sự họ Bùi...” vì thời kỳ đó cả huyện Kim Thành chỉ có hai người đỗ Tú tài thì đều người họ Phí cả.

        Đầu năm 1950, giặc Pháp đánh chiếm vùng Tự do của tỉnh. Để chia lửa với hậu phương, phân tán lực lượng địch, huyện uỷ phân công 3 đồng chí uỷ viên Thường vụ Huyện uỷ về 3 đồn vận động quần chúng đánh địch. Mỗi đồn phải tổ chức một trận đánh tiêu biểu. Tôi được phân công về đồn 8, đồng chí Hoàng Hồi về đồn 5, đồng chí Vũ Viết Thưởng huyện đội trưởng về đồn 9. Huyện Kim Thành lúc đó đóng ở thôn Bàu và thôn Bửa thuộc khu Hà Đông, huyện Thanh Hà. Tôi về đồn 8, xã Cộng Hòa là nơi có lực lượng vũ trang mạnh, có đồng chí Bí thư chi bộ xã, Chủ tịch xã, xã đội trưởng, Thường vụ rất năng nổ, chiến đấu dũng cảm như đồng chí: Vượng, Văn, Cao, Quang, Đắn, Hoàn, Vanh. Đồng chí Huyện uỷ viên phụ trách đồn là Nguyễn Tiến Long rất hăng say đánh giặc...

        Tôi cùng các đồng chí nghiên cứu đánh một trận mở đầu ở đồn Lai Khê, nơi địch tập trung mạnh nhất huyện. Nếu ta đánh thắng sẽ có tiếng vang cho toàn huyện. Nắm được qui luật đi lấy nước ngọt của địch ở giếng thôn Thanh Liên, tôi chọn cách đánh “độn thổ”, giáp vị trí quận, để gây bất ngờ cho địch. Chúng tôi đào 8 hố giấu kín 8 du kích đã được thực tập gần một tháng ở Bến Tắm huyện Chí Linh, khu căn cứ kháng chiến. Trên nắp hố và chung quanh được hóa trang rất cẩn thận. Những người đi đào hố đều lấy du kích thôn Tường Vu, khi đào xong trở về đều tập trung ở xóm Trại thôn Tường Vu, chờ đến khi trận đánh kết thúc mới được về nhà để bảo đảm tuyệt đối bí mật cho trận đánh.

        Chiều ngày hôm trước 4-3-1950 có cuộc họp để phân công chỉ huy trận đánh tại nhà anh Chuẩn xóm Trại thôn Tường Vu. Đồng chí Đào Quang Đắn (tức Tuyên) xã Đội trưởng xã Cộng Hòa đã cùng anh em đi tập luyện ở Bến Tắm, Chí Linh, đề nghị xin cử đồng chí khác làm Chỉ huy trưởng, đồng chí Tuyên chỉ nhận làm chỉ huy phó. Qua trao đổi một lát với các đồng chí lãnh đạo xã, tôi quyết định cử đồng chí Đào Quang Vượng, phó Bí thư chi bộ, chính trị viên xã đội, con người dũng cảm mưu trí và đã chỉ huy trực tiếp hai trận đánh mìn ở xóm gốc Me và Xóm Đình năm 1948, là người đã theo sát tình hình diễn biến hàng ngày địch đi lấy nước ngọt ở giếng Thanh Liên, làm chỉ huy trưởng trận đánh quan trọng này. Mọi người đều nhất trí. Hai đồng chí Vượng và Tuyên cùng 8 du kích hứa quyết tâm làm trọn nhiệm vụ được giao. Tôi còn trao đổi kỹ với hai đồng chí chỉ huy trưởng và chỉ huy phó về một số tình huống bất trắc có thể xảy ra. Sau đó tôi cho các đồng chí ăn nghỉ, đến 10 giờ đêm ra trận địa để nhận địa hình, nơi mình sẽ phải nằm dưới hố khoảng 10 giờ để chờ địch. Tôi biết đó là những giờ phút rất căng thẳng, nhất là những anh em nằm dưới hố. Tuy tất cả là người địa phương rất quen biết địa hình, đã đi xem xét và thực tập nhiều lần, nhưng anh em vẫn có nhiều lo lắng. Giả dụ xe tô đè lên miệng hố, thì có quyền xông lên đánh địch không ? Ngồi lâu dưới đất khi lên có thể bị chuột rút bị mắt quáng gà ? nước uống cho anh em? nếu địch không đến, hoặc bị lộ...? Tất cả mọi tình huống đặt ra đều được giải đáp chu đáo.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #26 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2022, 10:51:35 pm »


        Ngày 5-3-1950 vào hồi 8h30 một xe chở nước (Citerne) cùng hai tên lính da đen trên một xe Jeep, cùng đi với 4 người tù chúng bắt đi vác vòi bơm. Hai đồng chí chỉ huy rất lo. Khi đến bờ giếng chúng dừng xe, đi quan sát rất kỹ, đi đi lại lại mà không cho vòi xuống bơm nước. Các đồng chí đã nghĩ đến chuyện bị lộ, nhưng đồng chí Vượng nói cứ bình tĩnh, theo rõi sát mấy thằng lính... Có lúc tên lính đến rất gần chỗ chỉ huy của hai đồng chí, nhưng các đồng chí vẫn giữ yên lặng theo rõi. Sau khoảng 15-20 phút rất căng thẳng, 2 tên lính da đen quay về xe lấy nước, bắt tù vác vòi xuống giếng. Máy bơm nổ thì lúc đó đồng chí Vượng phát hoả, hô “xung phong”. Tám chiến sĩ du kích gan vàng, dạ sắt, đã đồng loạt đội nắp hố cá nhân xông lên đánh địch. Do bị đánh bất ngờ, địch vô cùng hoảng sợ. Ta bắt sống hai lính da đen, tước súng và tha ngay 2 tên này, giải thóat 4 tù chính trị địch bắt đi lấy nước. Đây là trận đánh “độn thổ” đầu tiên của huyện Kim Thành, là trận đánh sâu trong lòng địch, làm cho chúng hoang mang lo sợ. Chúng cho là bộ đội chủ lực đã vào sâu trong đất tạm chiếm của chúng, chỉ có bộ đội chủ lực mới dám đánh “độn thổ” như thế. Chúng sợ bị phục kích, không dám tung quân ra truy kích lực lượng ta, dù bốt quận cách trận địa 100 mét, cách Tiểu khu quân sự Lai Khê 400m. Mãi đến chiều 5-3-1950 sau khi tung quân thăm dò các ngả đường vào giếng Thanh Liên, chúng cho là an toàn, đến 4 giờ chiều chúng mới dám đến nơi trận chiến xảy ra. Còn lực lượng ta đã được chuẩn bị chu đáo rút về xã Thượng Vũ an toàn. Ngay trưa hôm đó, tôi chỉ thị cho anh em hóa trang là phụ nữ, súng tháo ra làm ba, bỏ vào quang gánh, 12 giờ trưa vượt đường 5, đóng giả là người đi chợ vượt đường 5, đường sắt, về qua xã Cổ Dũng rồi về thôn Tường Vu, Xóm Trại. Tối hôm đó tổ chức liên hoan mừng chiến thắng, nhưng rất bí mật và gọn nhẹ. Sau đó tôi cử hai đồng chí du kích xã là Đoàn Hữu Cự và Lưu Văn Thơ cùng đồng chí xã đội trưởng mang 2 súng trường Mỹ - chiến lợi phẩm, nộp cho huyện đội Kim Thành và lĩnh thưởng mỗi khẩu 500 đồng tiền cụ Hồ.

        Trong đêm hôm đó, tôi cũng vượt qua đường số 5, đường sắt, xuống thôn Cam Đông, xã Việt Hưng thuộc đồn 8 và các xã khác để tuyên truyền chiến thắng, và phân tích âm mưu của địch đánh rộng ra vùng tự do của tỉnh Hải Dương. Các chiến sĩ gan vàng, dạ sắt của xã tôi gồm 10 người (2 chỉ huy, 8 du kích) đến hôm nay chỉ còn 5 đồng chí. Hai đồng chí chỉ huy là Vượng và Tuyên đã về hưu, đang sinh sống ở xã Cộng Hòa.

        Đồng chí Vượng không may bị mù cả hai mắt. Tám du kích, nay còn 3 đồng chí là: đồng chí Ngách, đồng chí Nàng, đồng chí Thành đang sinh sống ở xã Cộng Hòa. Ba đồng chí này là người của 3 thôn: Đồng chí Ngách thôn Tường Vu, đồng chí Năng thôn Lai Khê, đồng chí Thành thôn Thanh Liên. Thật là sự ngẫu nhiên thú vị, mỗi thôn còn một đồng chí làm nhân chứng lịch sử. Còn 5 đồng chí khác do tuổi già sức yếu đã qua đời.

        Đây là trận chiến đấu lần cuối trong đời hoạt động của tôi ở Kim Thành, Hải Dương trước khi chuyển sang hoạt động ở một môi trường mới, phức tạp và gian khổ hơn - Thành phố Hải Phòng.

        Kết thúc giai đoạn công tác ở Hải Dương, nơi chôn rau cắt rốn của tôi và tôi đã trưởng thành từ đấy bằng những công việc thiết thực cụ thể để xứng đáng với Hải Dương quê hương có đường 5 “Anh dũng kiên cường” yêu quí, với xã Cộng Hòa anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời chiến tranh chống thực dân xâm lược Pháp, xứng đáng với Thành phố Hải Phòng “Trung dũng quyết thắng” thân thương, là nơi “Lửa thử vàng, gian nan thử sức” rất khốc liệt, mặt đối mặt với quân thù, nơi cái sống và cái chết diễn ra không đầy gang tấc và đã kéo dài đời hoạt động của tôi tới 36 năm chẵn (tháng 6¬-1950 đến 6-1986), tại Thành phố Cảng anh hùng, biết bao kỷ niệm buồn vui và đầy kịch tính.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #27 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2022, 11:11:25 pm »

         
Chương 4

CUỘC CHIẾN ĐẤU MỚI, MẶT ĐỐI MẶT VỚI QUÂN THÙ

        Sau chiến thắng tuy nhỏ nhưng vang dội vì cách đánh rất táo bạo ngay trong lòng địch, tôi đang đi sang các xã khác dọc theo đường số 5 thuộc đất Kim Thành vừa tuyên truyền chiến thắng vừa chuẩn bị một trận chiến khác, thì được lệnh ra Thanh Hà gặp cấp trên.

        Đó là đầu tháng 4-1950, tôi cùng Ban Thường vụ huyện uỷ đến thôn Phù Tinh khu Hà Đông thuộc huyện Thanh Hà, Hải Dương, gặp đồng chí Lê Thanh Nghị, Phó Bí thư Liên khu uỷ III, Bí thư phân khu uỷ Tả ngạn Sông Hồng về làm việc với Huyện uỷ. Có các đồng chí Đào Đức Chính - phó Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh Hải Dương và một số đồng chí khác.

        Sau buổi làm việc xong, anh Nghị gặp tôi nói chuyện và hỏi tôi về tình hình khu tạm chiếm Kim Thành, trận đánh độn thổ ở Thanh Liên. Rồi anh nói: “Tôi về kiểm tra 4 tỉnh và Thành phố Hải Phòng thuộc Tả Ngạn Sông Hồng, tôi đã quyết định chia Hải Phòng làm 3 quận, nay thiếu cán bộ chủ chốt làm Bí thư Quận uỷ. Tỉnh uỷ Hải Dương giới thiệu đồng chí về làm Bí thư một quận”.

        Tôi đang quen công tác ở nông thôn, gắn bó với Kim Thành, đường 5 khói lửa, nay sang một môi trường mới, tôi đang phân vân suy nghĩ, anh Nghị nói ngay: “Đồng chí vào công tác nội thành thích hợp đấy, sẽ quen dần...”. Lúc đó tôi mới 21 tuổi và cũng hơi đẹp trai, nên anh Nghị tỏ vẻ mến tôi lắm. Tôi trả lời anh: “Đảng điều động đi đâu, tôi xin chấp hành nghiêm chỉnh...”. Và kể từ đây tôi biết anh Nghị, rất quý anh.

        Tháng 6-1950 tôi sang Đèo Voi, nơi Thành uỷ Hải Phòng sơ tán thuộc đất huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang, tôi lại gặp anh Nghị. Anh đã viết xong quyển “Bệnh cẩu an”, cho tôi một quyển. Tôi hỏi anh sao lại gọi là “cẩu an” chứ không phải “cầu an”. Anh giải thích “cẩu an” là con chó nằm yên, chữ có dùng ý phê bình cán bộ, đảng viên nhiều nơi trong khu Tả Ngạn sợ chết, như con chó không dám hoạt động gì, đầu hàng, đầu thú... còn “cầu an” thì nhẹ quá. Cần nghiêm khắc phê bình nên phải dùng “cẩu an”. Đầu quyển sách nhỏ, thay lời tựa, anh Nghị viết những lời hết sức trân trọng quí mến Bác Hồ như có câu: “Để mừng ngày sinh nhật Người 19-5, con xin kính dâng lên Người bài viết này...”.

        Khoảng tháng 5-1950 tôi nhận được nghị quyết của Tỉnh uỷ Hải Dương điều sang công tác ở Hải Phòng, do đồng chí Trần Tạo - Quyền Bí thư Tỉnh uỷ kiêm Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính Hải Dương ký (lúc này anh Nguyễn Năng Hách là Bí thư Tỉnh uỷ đang ở Khu căn cứ địa Chí Linh). Tôi đến chào anh Trần Tạo để sang Hải Phòng công tác. Tỉnh uỷ đóng ở thôn Bàu Bửa thuộc khu Hà Đông, Thanh Hà. Anh Trần Tạo gặp tôi rất vui vẻ. Anh nói: “Tỉnh uỷ đã chọn rất kỹ số cán bộ của tỉnh, nay chọn đồng chí sang Hải Phòng công tác, đồng chí cố gắng làm tròn nhiệm vụ. Tỉnh uỷ trước đây đã dự kiến đưa đồng chí sang làm Bí thư Huyện uỷ Kinh Môn, nhưng theo yêu cầu của Khu uỷ, Tỉnh uỷ cử đồng chí sang Hải Phòng”. Tôi hỏi thêm anh Trần Tạo về một số tình hình ở Hải Phòng, anh bảo tôi: “Chắc đồng chí Phó Bí thư Liên Khu uỷ đã nói rõ tầm quan trọng của địa bàn Hải Phòng với đồng chí rồi...” Sau đó, anh bảo Văn phòng lấy 500 đồng tiền cụ Hồ, có in hình con trâu xanh cho tôi, để có tiền đi đường sang Đông Triều, đến Đèo Voi Bắc Giang nhận công tác tại Thành uỷ Hải Phòng.

        Nhớ phong trào! Nhớ nhân dân! Nhớ đồng chí! Đặc biệt là thương vợ mới cưới được 10 tháng. Dù đồng chí Phí Thị Tâm lúc đó mới 18 tuổi, đã trưởng thành, vào Đảng từ năm 16 tuổi, đã làm Bí thư phụ nữ xã Bình Dân, nhưng tình chồng vợ hương lửa đang nồng, chia tay nhau sao khỏi bịn rịn. Hôm tiễn đưa tôi sang Hải Phòng công tác, đứng dưới gốc cây gạo thôn Tường Vu, cây gạo có hàng trăm tuổi, (nay vẫn là cây cổ thụ sống lâu nhất vùng), vợ tôi nước mắt lưng tròng, bắt tay tôi, mặt quay đi để tôi không nhìn thấy giọt lệ tuôn trào. Một số đồng chí xã Cộng Hòa như đồng chí Long, đồng chí Ngoạn Huyện uỷ viên cũng đến gốc cây gạo tiễn tôi. Nửa tiểu đội dân quân du kích xã Cộng Hòa đưa tôi vượt đường 5, đến thôn Cam Đông xã Việt Hưng. Tôi ngủ lại một đêm, chiều hôm sau qua Kinh Môn đến trạm giao thông Nhị Chiều của Hải Phòng để được dẫn đến Đèo Voi Bắc Giang gặp Thành uỷ Hải Phòng. Giúp tôi đi đường xa, huyện đội Kim Thành cử chú Phết liên lạc của huyện đội đi với tôi đến Đèo Voi, sau một tháng chú Phết trở lại Kim Thành.

        Đến Hải Phòng, nằm chờ ít ngày ở núi Cò Nhớn Đèo Voi, tôi gặp đồng chí Văn Bút, Bí thư Huyện uỷ An Dương, Kiến An, đồng chí Giản tức Kim, Thường vụ Huyện uỷ Thái Ninh tỉnh Thái Bình đến nhận công tác làm Bí thư Quận uỷ, cùng ở Đèo Voi. Cơm hẩm cá khô, rau muống, đồng chí Bút sau này thường nhắc đi nhắc lại nhiều lần: “Một con cá phèn, sáng tôi ăn đầu, anh Thành ăn đuôi, chiều tôi ăn đuôi, anh Thành ăn đầu...”. Cho đến tháng 6-1950 tôi nhận quyết định về làm Bí thư Quận uỷ Ngô Quyền kiêm Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính, Chính trị viên Quận đội. Đồng chí Nguyễn Văn Bút, Bí thư Quận uỷ Bạch Đằng, đồng chí Giản tức Kim vì không quen công tác nội thành nên không dám nhận chức Bí thư Quận uỷ. Thành uỷ quyết định cử đồng chí Minh Sơn làm quyền Bí thư Quận uỷ Cửa Cấm. Sau khi có quyết định tôi đã nhanh chóng hình thành bộ máy cơ quan Quận. Có điều lúc này Thành uỷ đã chủ trương chuyển hướng, chỉ đấu tranh chính trị, không đấu tranh vũ trang. Ngay cả 2 huyện Thủy Nguyên và Hải An cũng không đấu tranh vũ trang. Bởi vậy tổ chức ra Quận đội rất hình thức, thêm cồng kềnh, có vũ khí không được nổ súng. Tôi quen hoạt động ở Kim Thành, cán bộ chính trị dân vận cũng được đào tạo và trang bị cho súng ngắn, lựu đạn, nếu cần là chiến đấu ngay. Nay có súng phải giấu đi, địch đến bắt phải giơ hai tay cho chúng trói, chúng còng. Nghĩ lại bây giờ thấy rất tiếc Những lúc địch sở hở, ta chỉ cần một quả lựu đạn có thể diệt hàng chục tên địch!

        Khoảng cuối năm 1950 tôi đang ở ven đô, xã Kiền Bái thuộc huyện Thủy Nguyên để củng cố cơ sở khu 6 thuộc quận Ngô Quyền bị phá vỡ. Bí thư chi bộ, chi uỷ như các đồng chí Huệ tức Hoạt, đồng chí Tố, đồng chí Học, đồng chí Sơn... đều đã bị bắt. Tôi củng cố vừa xong, cử đồng chí Hồng Sơn tức Sơn thọt tạm thời làm Bí thư chi bộ... thì được triệu tập về Đèo Voi họp, vì Thành uỷ có chủ trương tăng cường cán bộ cho Quận, cử các đồng chí Thành uỷ viên hoặc Thường vụ Thành uỷ xuống làm Bí thư Quận uỷ. Quận tôi do đồng chí Nguyễn Mạnh Ái làm Bí thư, tôi xuống làm Phó Bí thư còn các chức vụ khác vẫn giữ nguyên. Đồng chí Hoàng Mậu uỷ viên Thường vụ làm Bí thư quận uỷ Bạch Đằng, đồng chí Nguyễn Văn Phùng làm Bí thư Quận uỷ Cửa Cấm. Các Quận về đóng rải rác ở Thủy Nguyên, Kinh Môn.

        Sang năm 1951 tôi làm xong giấy tờ vào nội thành hoạt động.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #28 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2022, 11:27:04 pm »


        Trận chiến đầu tiên

        Cảng Hải Phòng lúc này là cái cuống họng của đội quân viễn chinh Pháp ở Bắc Bộ, nên chúng bố phòng rất chặt chẽ. Mật thám, chỉ điểm giăng khắp các nẻo phố, nhung nhúc như rươi, hung ác hơn cả dã thú. Vì hoạt động trong lòng địch nên tôi giữ rất nghiêm ngặt nguyên tắc bí mật. Khi đến Hải Phòng, tôi đóng vai người dân ở Hà Nội xuống Cảng tìm mối buôn bán. Mọi việc nói chung được trôi chảy, thuận lợi...

        Mùa thu năm 1951 Hải Phòng kỷ niệm 2 ngày lễ lớn của dân tộc 19-8 và 2-9. Năm đó có sự chuyển hướng đấu tranh trong lòng địch. Thành uỷ quyết định không treo cờ và rải truyền đơn như mọi năm mà tổ chức từng nhóm, tổ ba người, cùng với quần chúng cảm tình cách mạng đi nói chuyện tới từng gia đình, từng người về cách mạng tháng Tám, về Hồ Chủ Tịch, về cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược, vận động nhân dân chống bắt lính, ủng hộ kháng chiến, đưa con em ra vùng tự do tòng quân giết giặc...

        Trong bối cảnh đó, ngày 18-9-1951 lúc tôi đang ăn cơm tối với ông chủ nhà, ông Ngỗi, là cơ sở của ta, thì bị sa vào tay địch. Nguyên do Lê Thanh là Phó Bí thư Huyện Hội phụ nữ huyện Hải An bị giặc bắt, không chịu được đòn thù của địch đã khai phá cơ sở.

        Lúc bọn mật thám nhốn nháo xông vào nhà ông Ngỗi, chúng kéo theo cả một số người vừa bị bắt, người nào cũng thâm tím mặt này, áo quần bết cả bùn lẫn máu. Tôi buông đũa nhìn ra: anh Hùng (Điều) giao thông viên quận tôi, anh Tham (Rỗ) Phó thư ký công đoàn khu 6 thuộc quận Ngô Quyền, anh Đào Hữu Thăng, chị Khương và bốn, năm người nữa đều là cơ sở cách mạng. Thấy nguy cơ bị bắt, tôi tháo vội chiếc đồng hồ và chiếc nhẫn vàng quẳng xuống gầm giường. Nhưng quan trọng là làm thế nào để thông tin cho các đồng chí của tôi vừa bị bắt đừng có nhận nhau, đừng có khai báo. Thằng Xếp Hòa lấy tay đẩy tôi ra khỏi cửa và hỏi: “Anh biết những đứa này chứ ?”.

        Lợi dụng câu hỏi, tôi nhìn thẳng vào mấy chỗ anh chị em vừa bị bắt và lên tiếng trả lời:

        - Không ? tôi không hề quen biết mấy người này. Tôi không biết họ là ai, bởi tôi mới ở Hà Nội xuống đây tìm người nhà.

        - Mày nói dóc! - Hắn vừa nói vừa phẩy tay ra lệnh cho mấy tên ác ôn lục soát trong nhà.

        Tôi vẫn cố ý cãi to:

        - Tôi là người Hà Nội, thẻ căn cước của tôi ở Hà Nội! Giấy đi khám bệnh ở Hà Nội. Tôi vừa xuống đây tìm người nhà để tìm mối buôn bán.

        Thằng mật thám Tây lai Mác-tanh, xem giấy tờ của tôi, có một thoáng ngần ngừ song vẫn phẩy tay ra lệnh:

        - Mặc áo vào.

        Tôi đứng yên không mặc.

        - Đù mẹ thằng này bướng!

        Thằng Phúc vừa chửi vừa thẳng tay nện hai quả thật lực vào ngực tôi đánh “hự”, lấy còng khóa tay và ấn tôi lên xe. Chiếc xe chật ních người. Mặc mấy tên chỉ điểm ngồi kèm sát, tôi đưa mắt nhìn từng người và lắc đầu ngầm ra tín hiệu cho các đồng chí của tôi không khai, không nhận nhau. Về bốt Cống Trắng - Cát Bi, hành dinh của bọn mật thám không quân, tôi đã thấy Lê Thanh. Hình như sau khi chị đã khai báo, địch nới tay cho chị ra ngoài phòng giam. Thấy tôi, chị liền giơ tay đấm vào bụng tôi ba bốn đấm, nói trước mặt mấy tên mật thám:

        - Mày biết võ nghệ của tao chưa ?

        Tôi nhìn chị nửa giận, nửa thương hại, nói luôn:

        - Võ của chị đánh tôi không đau đâu, mà tay chị mới đau.

        - Tao đã khai mày là chủ tịch rồi!

        Tôi trừng mắt nhìn chị và nói:

        - Tôi quen biết gì chị ? Chị là phụ nữ mà ăn không nói có, chị không để đức cho con cháu mai sau à? Tôi xưa nay không hề quen biết chị.

        Nghe tôi nói hai mắt chị cụp xuống, quay mặt và lảng đi về phía buồng giam tù.

        Chúng đẩy tôi vào xà lim. Lúc này một phần lo cho bản thân, phải chuẩn bị gồng mình chịu tra tấn, nhưng lo hơn cả là số đồng chí của tôi vừa bị bắt. Phải làm thế nào giữ vững tinh thần của các đồng chí, không khai báo, không nhận nhau? Nếu để chúng tra hỏi họ trước, có thể sẽ rất nguy, danh tính của tôi cùng cơ sở sẽ bị lộ hết.

        Vào đây tôi được biết cứ 12 giờ đêm chúng mới lôi người bị bắt lên tra tấn hỏi cung. Hôm ấy chừng 11 giờ tôi đập cửa xà lim, gọi rầm lên. Bọn chúng đang ngủ, chồm dạy chửi tục:

        - Tiên sư thằng này, mày định khai báo hay sao ?

        - Tôi người Hà Nội xuống đây, là người dân lương thiện, sao các ông lại bắt mà không hỏi cho rõ, lại giam ở đây không cho về ?

        - Đ. mẹ thằng này làm ông mày mất giấc ngủ hả? Lôi cổ nó lên đây! Cho nó, nếm thử các món xào xáo của các ông Tổ sư nhà trời!
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #29 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2022, 11:27:41 pm »


        Chúng lôi tôi lên đấm đá một hồi, nhưng tôi vẫn cãi to, cố ý để mấy đồng chí dưới xà lim nghe thấy:

        - Tôi có đủ giấy tờ hợp lệ của các ông cấp. Tôi là người Hà Nội, các ông bắt oan tôi!

        Quả nhiên sáng hôm sau chúng điệu tôi lên đánh trước, đánh quyết liệt.

        - Thằng này đêm qua đánh lừa chúng ông...

        Chúng dùng găng tay đấm bốc đánh vào hai bên thái dương, vào mặt, đánh thúc vào ngọc hành, chúng “xin âm dương” khi tôi đứng lên, đá mũi giày vào mạng sườn khi tôi ngã xuống. Thằng Đới “hứ hự” to khoẻ nên những cú đá của nó rất nặng cân. Chiếc xương sườn bên trái tôi, nơi có cái nhọt, bị gãy, máu me chan hòa, máu càng vọt ra khi chính tay nó cầm gậy tre thọc sâu vào nơi đó...

        - Cơ sở mày ở đâu ? Tài liệu mày để đâu ? Súng và con dấu mày để đâu ?

        Tôi chỉ còn nghe láng máng lời tra hỏi, lúc ngất đi, khi tỉnh lại. Nhưng khi tỉnh lại tôi vẫn một mực trả lời không chút khiêu khích:

        - Tôi hồi cư về Hà Nội, về cùng các ông, kiếm sự an toàn của các ông. Tôi xuống đây tìm người nhà để làm ăn buôn bán. Xuống đây tôi đã đi trình báo...

        - Sao thằng Tham nó biết mày ?

        - Tôi chỉ đến hiệu nó may cái áo sơ mi. Tên tôi nó còn chưa biết. Các ông đánh nó đau quá, nó nói liều để đỡ đòn đó thôi.

        Máu chảy nhiều quá, chiếc sơ mi đẫm máu, tôi ngất đi, tỉnh lại không rõ bao nhiều lần. Chúng khiêng tôi vứt về xà lim. Lúc chúng điệu tôi qua cửa những buồng giam số anh em bị bắt hôm qua, với thân hình mềm nhũn, áo quần rách tả tơi đầm đìa máu đỏ hẳn số anh chị em này biết tôi không khai, không nhận. Đau đớn nhưng tôi thấy yên lòng là bằng hành động này tôi đã ngầm thông tin cho các đồng chí của tôi phải gắng chịu đựng để đảm bảo cơ sở

        Sau trận đòn ngày đầu, thân thể tôi bầm tím, máu bên sườn vẫn chảy, chẳng có thuốc mà cũng chẳng có băng. Tôi xé những mảnh áo rách nối lại làm băng buộc thấm máu. Những ngày tiếp chúng đánh tôi bằng nhiều cách khác, cho chết mà không có thương tích.

        Có lẽ chúng thấy giấy tờ của tôi hợp lệ là người Hà Nội, nên cũng gờm, sợ tôi có thế lực ở trên đó. Vì vậy chúng thay đổi cách đánh. Tra điện qua ngọc hành. Mỗi lúc dòng điện chạy qua thắt cuộn ruột gan, cả người tôi co rúm lại, máu nơi vết đâm phọt ra ướt đất. Tra điện vào mang tai, từng lúc tôi thấy đầu tôi như vỡ tung ra với muôn ngàn con đom đóm. Tôi lại ngã vật xuống, ngất đi. Khi tỉnh lại miệng khô đắng và khát nước, thèm nước. Chúng cho tôi uống nước vôi. Không uống thì chúng đè ra lấy muỗng tống muối vào miệng rồi đổ nước vôi cho muối trôi xuống. Đòn treo, treo ngược đầu xuống đất, treo hai tay quặt sau lưng, rồi dùng thước nện hai bả vai, hai bên đùi. Tôi có cảm giác như con chó sắp bị đem cắt tiết. Mỗi khi chúng buông thừng xuống, tôi đều bất tỉnh. Đợi khi tôi mở được mắt, chúng lại lải nhải dồn mấy câu hỏi cũ: “Con dấu mày để đâu? Cơ sở mày ở đâu?..” Tôi vẫn chậm rãi trả lời, không khiêu khích nhưng cũng không van xin:

        - Tôi chỉ là người dân hồi cư về Hà Nội, về cùng các ông. Xuống đây tìm người nhà để buôn bán. Các ông xét xem nếu tôi là Việt Minh thì sao khi xuống đây tôi lại đi trình báo hộ khẩu ngay.

        - Thế mày tìm ai ? ở đâu ?

        - Tôi mới xuống được vài ngày đang đi tìm chưa thấy, chứ nếu đã tìm được xin trình báo các ông ngay.

        - Sao nhiều đứa bảo mày là chủ tịch?

        - Tôi ở Hà Nội, có quen biết ai ở dưới này đâu. Các ông đánh quá đau, chúng khai lung tung thế.

        Mười ngày qua, trận đòn nọ nối tiếp trận đòn kia. Đêm đó khoảng mười hai giờ tôi thấy chúng rì rì chạy một cái xe jeep đến. Có thằng Pơ-lê, xếp Hòa và lao xao một lũ ác ôn. Chúng mở cửa xà lim giam tôi. Tôi thấy chúng lôi trong xe ra một cái bao tải lớn. Tôi chắc hôm nay mình sẽ bị chúng giết chết. Bởi ở nơi đây có biết bao nhiêu lần chúng làm như vậy. Chúng tống người vào bao buộc lại, quăng lên ô tô và đưa ra sông Lạch Tray, vứt tòm xuống, hoặc đào hố chôn ngay trên bãi. Sau khi hòa bình lập lại, ta đào bãi có biết bao bộ xương của những người con yêu nước vô danh. Thằng Hòa nhìn tôi nhún vai nói:

        - Tao đã bảo mày khai thì chỉ cần khai một người, một việc, là mày được sống. Không cơ sở, không tài liệu, mày phải chết. Hôm nay tao cho mày hết cái gan, cái lì của mày đi. Tao sẽ chôn sống mày. Vừa nói nó vừa vẫy tay ra lệnh cho mấy tên ác ôn khiêng tôi nhét vào bao. Còn thằng Pơ-lê thì giở phép lịch sự của bọn quỷ sứ, giơ tay ngang mũ, kiểu chào vĩnh biệt người chết. Chúng kéo dài việc khâu, buộc miệng bao. Tôi nằm trong bao thoáng nghĩ đến Tâm, người vợ hiền của tôi, song tự đáy lòng thấy cái chết đến yên ắng. Trong suốt mười ngày vượt qua đòn thù tra tấn, sức lực tàn kiệt, máu bên sườn nơi cái nhọt bị đâm thủng vẫn rỉ ra, nhưng tinh thần tôi vẫn vững vàng. Bao nhiêu cơ sở, bao nhiêu đồng chí cấp dưới trong cơ quan của tôi, bao nhiêu tài liệu, súng ống tôi đã giữ được trọn vẹn cho Đảng, cho cách mạng. Tôi mở mắt ra. Trong bao tối om, hình như chỉ có cái đốm trên đỉnh đầu, nơi bộ óc còn loé sáng. Nằm trong bao và yên trí chỉ lát nữa tôi vĩnh biệt cuộc sống, nhưng tôi vẫn nói vọng ra: “Sao các ông lại giết tôi ? Giết một người dân hồi cư theo lời kêu gọi của các ông”, nói đến đó thì tôi nghe thấy thằng Hòa ra lệnh: “Cởi ra đã”.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM