Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:59:00 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Miền Trung những tháng ngày không quên  (Đọc 22424 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #60 vào lúc: 10 Tháng Bảy, 2022, 07:53:56 pm »

Măng Đen là cứ điểm kiên cố nhất, cái xương sống của cụm phòng thủ phía đông bắc Kon Tum của địch Trận tiến công do hai tiểu đoàn 19 và 79, trung đoàn 108 đảm nhận đã diễn ra rất ác liệt. Có mũi xác chiến sĩ ta nằm chồng lên nhau vì hỏa lực trong các lô cốt bắn chặn, hướng đột phá chủ yếu vẫn không mở được cửa. Đã có ý kiến cho bộ đội rút ra củng cố đêm sau đánh tiếp. Tư lệnh kiêm Chính ủy không chấp nhận. Anh nói: Rút ra chưa chắc đêm sau đã dứt điểm Và anh ra lệnh: Chính diện bị chặn lại thì tìm chỗ yếu của địch mà đột kích, cách tốt nhất là phải dứt điếm trước khi trời sáng.

Nhận lệnh, Thường vụ Đảng ủy trung đoàn hội ý. Chính ủy trung đoàn Đoàn Khuê xuống các đơn vị động viên các mũi giữ vững quyết tâm, tiếp tục tiến công. Tiểu đoàn 79 ở hướng thứ yếu sau khi mở được cửa đã băng qua sân bay đánh vào sau lưng của đồn chính. Địch hoảng sợ khi bị đánh cả hai mặt.

Cuộc tiến công lại rộ lên. Trời sáng dần, sự bất lợi đang tới gần như nhắc nhở mọi người ráng lên. Có mũi anh em dồn chăn trải lên rào kẽm gai làm đệm trườn vào. Hai hướng phía sau và hướng chính diện xáp vô, xông thẳng vào lô cốt mẹ đánh bộc phá, binh sĩ địch hoảng hốt giơ tay hàng. Trận đánh kết thúc vào 7 giờ sáng ngày 28 tháng 11, ta thu toàn bộ vũ khí, bắt sống 240 tên địch.

Sự quyết đoán của anh Chánh lại thể hiện một lần nữa khi tiến vào nam Kon Tum. Trung đoàn 803 được giao nhiệm vụ tiến công cứ điểm Đắc Đoa. Do nhiều nguyên nhân trận đánh phát triển không suôn sẻ. Ngay từ đầu địch bắn chặn quyết liệt, ta bị thương vong, ở hướng tiến công chủ yếu vẫn chưa mở được cửa vào vì hàng rào kẽm gai quá dày, không còn bộc phá đánh tiếp. Trước tình hình đó, chính ủy kiêm bí thư đảng ủy trung đoàn 803 báo cáo Bộ chỉ huy chiến dịch: xin rút bộ đội ra củng cố, để bộ phận nhỏ bao vây, tối mai đánh tiếp. Ngay sau đó chuông điện thoại réo, anh Phan Hàm cầm ống nghe. Từ đầu dây bên kia giọng anh Nguyễn Chánh nghiêm khắc ra lệnh: Chuyển chính ủy về phía sau nhận công tác khác; trung đoàn trưởng kiêm bí thư đảng ủy tiếp tục lãnh đạo bộ đội chiến đấu, giành bằng được thắng lợi trong đêm nay.

Chúng tôi khẩn trương xốc lại đội hình, đưa lực lượng dự bị vào tiếp sức. Áp lực tiến công các hướng đều tăng. Đúng 6 giờ sáng ngày 18 tháng 2 năm 1954 trận đánh kết thúc thắng lợi đúng như lệnh anh Nguyễn Chánh giao. Hai đại đội địch thuộc binh đoàn cơ động 100 đã bị tiêu diệt.

Cả hai trận đánh Măng Đen và Đắc Đoa đều có phương án dừng lại, hôm sau đánh tiếp. Nhưng Tư lệnh kiêm Chính ủy Bộ chỉ huy chiến dịch không chấp nhận, vì anh cho rằng dừng lại là mất thời cơ, mà thời cơ trong chiến đấu đã mất thì không bao giờ trở lại. Trận Măng Đen không thắng, cụm phòng thủ đông bắc Kon Tum không bị đập tan, thì các kế hoạch tiếp sau bị đảo lộn... Và nếu trận Đắc Đoa cũng dừng lại, chắc địch không cho ta dừng, chờ sáng chúng đưa quân ra phản kích đẩy ta ra xa. Có nghĩa là trận đánh không thành, ta thất bại, áp lực tiến công (kế cả tiến công về tâm lý) không đủ mạnh, địch có điều kiện tập trung quân phản kích tái chiếm thị xã Kon Tum và các vùng mới giải phóng khác thì cục diện sẽ dẫn tới đâu!?

Chính vì lẽ đó mà anh Nguyễn Chánh quyết định kỷ luật người lãnh đạo cao nhất của trung đoàn, dù người đó đang là một liên khu ủy viên. Quyết định đó có tác dụng lớn trong việc củng cố tinh thần chiến đấu của bộ đội khi chiến dịch bước vào thời kỳ quyết định.

Quyết đoán đúng lúc, xử trí dứt khoát là một biểu hiện bản lĩnh vững vàng, lòng tin vào chiều sâu tư duy quân sự của Tư lệnh kiêm Chính ủy, bởi mỗi trận đánh then chốt đều có hai mặt đối nghịch đến cực đoan. Thắng lợi là dẫn đến phản ứng dây chuyền theo ý muốn được tính trước của người tư lệnh. Bại là kéo theo biết bao hậu quả, ảnh hưởng đến thế trận và cục diện quân sự trên chiến trường.

Thắng trận then chốt Măng Đen dẫn đến cụm phòng thủ bất khả xâm phạm đông bắc Kon Tum của địch bị sụp đổ, dẫn đến thắng lợi Đắc Tô, Đắc Lây, dẫn đến địch vội vã rút khỏi thị xã Kon Tum, đến toàn bộ tỉnh Kon Tum được giải phóng và cuối cùng là nỗi băn khoăn trăn trở - có nên “bỏ bồ lúa lấy chòi bắp” hay không tự nó cũng tiêu tan luôn. Từ dây một trăm phần trăm những người cầm súng tham gia chiến dịch giải phóng bắc Kon Tum đã thanh thản và tin tưởng vào sự điều hành của Tư lệnh kiêm Chính ủy.

Trận thắng Đắc Đoa đã tạo được áp lực đủ mạnh vào cụm phòng thủ thị xã Plây Cu, buộc địch không dám rút lực lượng ra để chuyển sang phản công tái chiếm thị xã Kon Tum, ta có thời gian yên tĩnh ngắn mà quý để chấn chỉnh đội hình, phát triển thêm lực lượng mới, như thành lập trung đoàn 96, tiểu đoàn độc lập 375 phục vụ bước phát triển tiếp sau của chiến dịch.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #61 vào lúc: 10 Tháng Bảy, 2022, 07:55:39 pm »

Sau giải phóng Kon Tum, chiến dịch Tây Nguyên chuyển sang giai đoạn hai, trực tiếp đối đầu với đợt hai cuộc hành quân Át-lăng của địch trên đất Tây Nguyên, tiếp tục đánh lớn, quy mô lực lượng đông hơn, nhịp độ tiến công khẩn trương hơn nhưng Tư lệnh kiêm Chính ủy vẫn sử dụng quả đấm chủ lực là các trung đoàn riêng lẻ chứ không đề nghị thành lập đại đoàn. Trên thực tế bộ chỉ huy chiến dịch làm cả công việc của bộ tư lệnh đại đoàn, vừa phối hợp tác chiến của các lực lượng vũ trang tập trung và lực lượng vũ trang địa phương mà không bị cồng kềnh về biên chế. Đánh lớn nhưng anh Nguyễn Chánh vẫn nghiêm chỉnh thực hiện điều mà mình tâm đắc khi ra Trung ương nhận nhiệm vụ quân sự Đông Xuân 1953-1954 được Bác. Hồ căn dặn: “Tránh chỗ mạnh, đánh vào chỗ yếu, đánh địch ở những nơi địch sơ hở”.

Từ tháng 3, trên mặt trận đường 19, anh sử dụng ba trung đoàn 96, 108, 120 làm nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực địch, kiềm chế không cho các binh đoàn cơ động của địch đứng chân ở Plây Cu, An Khê tiến xuống Quy Nhơn hợp điểm. Trên đường 19 cuộc đọ sức giữa ta và địch diễn ra khẩn trương, sôi động. Mặc dù địch đã tung ra ba binh đoàn cơ động 11, 12 và 100 cố mở thông đường nhưng trong suốt đợt hai của chiến dịch, tuyến đường quan trọng này vẫn thường xuyên bị ta cắt đứt và uy hiếp mạnh.

Tư lệnh kiêm Chính ủy vẫn theo dõi chặt trên hướng này. Một câu hỏi luôn đặt ra với anh: Nếu ba binh đoàn cơ động cánh quân phía tây theo đường 19 tiến xuống, cùng hai binh đoàn cơ động 41, 42 từ Phú Yên theo quốc lộ 1 đánh ra, cánh quân từ biển đánh vào hợp điểm được tại Quy Nhơn thì diễn biến tiếp theo là gì? Chắc chắn là chúng đánh thọc ra Quảng Ngãi - mục tiêu đợt ba của cuộc hành quân Át-lăng.

Phải có hành động mạnh mẽ hơn nữa, phải có một trận đánh thật đau, gây ấn tượng mạnh để thủ tiêu cái khả năng hợp điểm tại Quy Nhơn của địch. Anh Nguyễn Chánh xoáy sâu vào cứ điểm Thượng An và tìm mọi dữ liệu của cứ điểm này. Nó là cứ điểm hiểm yếu về thế và mạnh về bố trí binh hỏa lực nhưng có những điểm yếu mà anh phát hiện qua tình báo chiến dịch cung cấp. Địch ở Thượng An đang hoang mang dao động như rắn mất đầu do tên tiểu đoàn trưởng chỉ huy cứ điểm bị mất tích trong trận phục kích của ta đêm trước. Anh thông báo tin này cho trung đoàn 108 và lệnh hãy chuẩn bị sẵn sàng, thời cơ diệt Thượng An đã đến. 1 giờ sáng ngày 30 tháng 3 anh trực tiếp lệnh cho tiểu đoàn 19 đang đứng chân tại đó dù chưa có chuẩn bị vẫn có khả năng đột kích bất ngờ và giành thắng lợi.

Sau khi theo dõi mọi động tĩnh ở hướng đường 19, cả hai hướng từ Plây Cu xuống, An Khê lên, thấy địch đều tung lực lượng nhỏ ra thăm dò, các cứ điểm địch chốt dọc đường cũng đưa quân ra kiểm soát, tuần tra phát hiện dấu vết khả nghi, máy bay trinh sát quần đảo suốt ngày... Dấu hiệu địch chuẩn bị rút - Anh khẳng định và lệnh cho Nguyễn Minh Châu, trung đoàn trưởng trung đoàn 96 triển khai lực lượng đánh binh đoàn cơ động 100 đang rục rịch rút. So sánh lực lượng lúc này ta một địch hai, nên đã xảy ra cuộc tranh luận không ngã ngũ - đánh tiêu diệt toàn bộ đội hình quân địch rút lui hay chặn đầu, chặn giữa hoặc đánh khúc đuôi diệt một, hai tiểu đoàn đi sau là vừa sức...

Nhận được báo cáo, 1 giờ 30 phút sáng ngày 24, Tư lệnh kiêm Chính ủy Nguyễn Chánh điện hỏa tốc, lệnh cho trung đoàn trưởng Nguyễn Minh Châu: Lúc này ta lợi thế hơn địch, phải “kiên quyết tiêu diệt toàn bộ quân địch rút chạy!”.

Quyết đoán của Tư lệnh kiêm Chính ủy là kịp thời, chính xác. Nếu chỉ đơn thuần so sánh về số lượng ta ít hơn địch(1), nhưng tổng hợp nhiều mặt thì ta ở thế mạnh, thế thắng; địch ở thế yếu, thế thua. Khu vực bày trận phục kích của ta là đoạn đường cầu Đắc Pơ, đây là một khúc “cua” tai ác. Lên cao nguyên, qua đường 19 đến đoạn này - phía Kà Tung đi lên vừa hết đốc đã tụt xuống ngay một cầu nhỏ, bắc qua con suối hẹp gấp khúc chữ chi, rồi lại bắt đầu lên dốc nối tiếp ngay vào một đoạn đường có nhiều mỏm đá nhô ra bám sát đường rất thuận lợi cho cả việc chặn đầu và khóa đuôi của một trận phục kích. Cái thế hiểm ấy là một thế mạnh, địch biết mà không thể nào tránh được, muốn rút về Plây Cu vì ở hướng đó đang có binh đoàn cơ động 42 xuống ngã ba Plây Bông đón sẵn. Nhưng kẻ đón và kẻ được đón đã không gặp nhau. Binh đoàn cơ động 100 và những đơn vị cùng rút ngày 24 tháng 6 năm 1954 đã bị trung đoàn 96 xóa sổ. Nó như một định mệnh, không thể nào khác.

Sau trận đánh, trung đoàn trưởng Nguyễn Minh Châu cùng cơ quan tham mưu trung đoàn đi quan sát toàn bộ trận địa từ khu vực chặn đầu đến đoạn địch co cụm, đếm tất cả được 375 xe các loại vừa bị cháy, bị hư hỏng vẫn còn ngổn ngang trên mặt đường. Kết quả chung địch chết khoảng trên 500 tên, bị thương rải rác trên toàn khu vực khoảng 600 tên, bị bắt sống 800 tên (có cả tên quan năm chỉ huy Ba-ru). Số xe nguyên và hư hỏng ít là 229 xe, có một xe tăng còn nguyên vẹn, 18 khẩu pháo 105 ly và rất nhiều súng các loại. Đây là cả gia tài của tiểu khu An Khê và binh đoàn cơ động 100 của Pháp.

Sự phân vân tranh luận trong Thường vụ là ta chỉ đủ khả năng đánh khúc đuôi, diệt hai tiểu đoàn địch đi sau là vừa sức thì kết quả ta tiêu diệt toàn bộ binh đoàn cơ động 100 và lực lượng chiếm đóng của tiểu khu An Khê, cơ trên dưới hai trung đoàn, như vậy lực ta chỉ có một mà đã thắng địch có lực lượng gấp hai, ba lần. Đó là do cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 96 đã có tinh thần quyết đánh và biết đánh, nhưng sự chỉ huy tài giỏi của Tư lệnh kiêm Chính ủy Nguyễn Chánh cũng góp phần quan trọng nếu không nói là quyết định.


(1) Ta: trung đoàn 96 được tăng cường hai đại đội của trung đoàn 120 Gia Lai; địch: binh đoàn cơ động 100 gồm hai tiểu đoàn Âu Phi, một tiểu đoàn ngụy Cam-pu-chia, một tiểu đoàn khinh quân ngụy, một tiểu đoàn địa phương chiếm đóng, một tiểu đoàn pháo 105 ly, các phân đội xe tăng, thiết giáp, các loại xe đặc chủng công binh, thông tin bảo đảm.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #62 vào lúc: 10 Tháng Bảy, 2022, 07:57:12 pm »

Tư tưởng chỉ đạo “tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, dám quyết đoán, đánh nơi địch sơ hở” đã được anh Nguyễn Chánh quán xuyến suốt từ đầu đến cuối trên các hướng các mũi của chiến dịch. Ngay từ đầu tháng 3, trong khi tung ba trung đoàn lên mặt trận đường 19 để tạo thế tạo lực nhằm chặn đứng âm mưu hợp điểm 5 binh đoàn cơ động của địch tại thị xã Quy Nhơn, phá tan từ trứng nước âm mưu mở cuộc hành quân Át-lăng đợt ba đánh ra thị xã Quảng Ngãi, thì anh Nguyễn Chánh đồng thời sử dụng trung đoàn 803 (thiếu) chúng tôi nhanh chóng tiến vào vùng tam giác Plây Cu - Cheo Reo - An Khê với nhiệm vụ hoạt động sau lưng cụm quân địch trên đường 19, tiêu diệt hệ thống đồn bốt địch trên đường số 7 và đường 14... Còn đánh đâu, đánh như thế nào là chúng tôi tự chọn, miễn sao bảo đảm tiêu diệt sinh lực địch bồi dưỡng lực lượng ta, càng đánh ta càng mạnh.

Sự điều hành nhạy bén và sắc sảo, kiên quyết, linh hoạt mà chặt chẽ này tạo cho cấp dưới phát huy tính năng động và sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ nhưng cũng nhắc nhở chúng tôi phải có tinh thần trách nhiệm thật cao khi lựa chọn mục tiêu, khi suy nghĩ hạ quyết tâm và điều hành chỉ huy chiến đấu. Trên đường làm nhiệm vụ thọc sâu xuống nam Tây Nguyên, chúng tôi gặp không ít khó khăn, nhất là lương thực và đạn dược. Trung đoàn phải tự giải quyết lương thực cho 3.000 người trong đó có 1.000 dân công đi cùng. Đường vào nam Tây Nguyên phải vòng phía đông đèo Măng Giang để tránh địch, rồi theo đường du kích xuống làng Xi Tơ. Từ đây vòng lên khu du kích Đắc Pớt. Đúng là chúng tôi đã đến vùng địch yếu và sơ hở là một thuận lợi, tạo cho trung đoàn 803 thế chẻ tre liên tục đánh thắng địch ở Plây Tàu (3-3), Plây Ring (10-4), tập kích Buôn Ma Bếp (12-4), vận động phục kích ở Ka Tung (21-4), tiêu diệt cụm cứ điểm Tuy Bình - Buôn A Riêng - Buôn Thô (1-6), tiến công thị xã Tuy Hòa, đánh thiệt hại tiểu đoàn địch, phá hủy 200 xe (21-6), đánh chặn diệt một đoàn xe 79 chiếc ở Đèo Cả (25-6). Và sau cùng khi chúng tôi vượt sông Đà Rằng thọc hướng tây nam, cắt đường 21 đoạn Ma Đrắc... có điều kiện để chúng tôi chính thức đề nghị Bộ chỉ huy chiến dịch cho tiến công thị xã Buôn Ma Thuột từ phía đông lên hợp cùng các trung đoàn 108, trung đoàn 96 từ phía bắc và đông nam, tiến vào giải phóng thị xã này, thì được lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch rút về Phù Cát vì Hiệp định Giơ-ne-vơ đã được ký kết (lệnh ngừng bắn có hiệu lực đến với khu vực miền Trung từ ngày 1 tháng 8 năm 1954).

Để kết thúc suy nghĩ về người Tư lệnh của tôi, xin trích ra đây cùng bạn đọc một đoạn trong bài viết của Đại tướng Võ Nguyên Giáp có nhan đề “Nhớ anh Nguyễn Chánh, một cán bộ xuất sắc của Đảng, một vị tướng tài của quân đội”:

“... Cuộc đời, sự nghiệp cống hiến của anh Nguyễn Chánh trước hết gắn liền với Liên khu 5 tức vung Nam Trung Bộ, một chiến trường khó khăn về kinh tế bị địch bao vây bốn bề, lại ở xa Trung ương, nhưng lại có truyền thống cách mạng lâu đời và là vị trí chiến lược rất quan trọng. Đặc biệt với vùng Tây Nguyên chiến trường này có vị trí chiến lược rất quan trọng, khống chế cả khu vực Nam bán đảo Đông Dương và là hành lang huyết mạch nối với Nam Bộ...

Từ khoảng năm 1949 trở đi, đồng chí Phạm Văn Đồng, rồi một số đồng chí lãnh đạo khác lần lượt được điều về Trung ương. Trách nhiệm của anh Chánh ngày càng nặng nề hơn, từ năm 1951 đã giữ trọng trách vừa là Bí thư Liên khu ủy vừa là Chính ủy kiêm Tư lệnh Liên khu 5.

Đối với anh đây là một thử thách lớn. Chính thử thách này càng làm bộc lộ bản lĩnh và tài năng của anh.

Phong trào cách mạng và kháng chiến ở Liên khu 5 không những tiếp tục được giữ vững, mà từ năm 1951 trở đi đã rõ ràng có những bước phát triển mạnh mẽ và nhanh hơn. Là Bí thư Liên khu ủy, anh tỏ ra là một người lãnh đạo toàn diện. Là Chính ủy kiêm Tư lệnh, anh tỏ ra là một cán bộ có tầm nhìn chiến lược, đồng thời là một người chỉ huy kiên quyết và có tài năng tổ chức.

Có điều đặc biệt đáng nói rõ là ở Liên khu 5 trong thời kỳ này, đi đôi với sự phát triển của lực lượng du kích và chiến tranh nhân dân du kích, lãnh đạo Liên khu và anh Nguyễn Chánh với chủ trương và sự chi viện của Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, đã chú trọng đúng mức, kiên định và liên tục xây dựng lực lượng chủ lực, biết sử dụng khéo quả đấm chủ lực để thúc đẩy kháng chiến phát triển, vừa tác chiến vừa xây dựng, trưởng thành khá vững và nhanh.

Chính đây là một trong những nhân tố quan trọng khiến Liên khu 5 là một trong những chiến trường giành được thắng lợi rực rỡ nhất trong chiến cuộc Đông - Xuân - Hè 1953 - 1954, phối hợp rất đắc lực với chiến trường chính Điện Biên Phủ...”(1).


(1) Võ Nguyên Giáp, “Nhớ anh Nguyễn Chánh, một cán bộ lãnh đạo xuất sắc của Đảng, một vị tướng tài của quân đội”, Tạp chí Xưa và Nay, hội Khoa học lịch sử Việt Nam, số 43, tháng 9 năm 1997.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #63 vào lúc: 10 Tháng Bảy, 2022, 08:01:17 pm »

Chương VII
TRẬN IA ĐRĂNG - MƯƠI NĂM CHUẨN BỊ


1

Từ Buôn Hồ (Đắc Lắc) tiểu đoàn 59 chúng tôi phải mất mười ngày để vượt qua chặng đường dài ngót 500 ki-lô-mét mới về đến Phù Cát (Bình Định) vào chiều ngày 27 tháng 7 năm 1954.

Một bước ngoặt đến với chúng tôi khi vừa đặt chân đến mảnh đất thân quen và gắn bó, thì được tin tất cả các lực lượng vũ trang Liên khu 5 đều tập kết ra Bắc, một nhiệm vụ mà chúng tôi chưa hề nghĩ tới. Khúc khải hoàn mà sao niềm vui cứ xen lẫn với băn khoăn khắc khoải? Riêng tôi, Bộ tư lệnh Liên khu quyết định về làm chính ủy trung đoàn 108 và chuẩn bị đi tập kết đợt đầu, kèm theo là những công việc được giao: Sắp xếp tổ chức biên chế, trang bị thành một trung đoàn mạnh, là một thành viên của Sư đoàn 305 chuẩn bị dự lễ chiến thắng do Liên khu tổ chức; tổ chức cho đơn vị học tập thông suốt tình hình nhiệm vụ mới, trước mắt chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh chuyển quân tập kết; tham gia chiến dịch dân vận; quy tập hài cốt tử sĩ vào các nghĩa trang; tiếp đón chu đáo bà con cô bác đến thăm con em mình trước lúc đi xa,v.v... Việc nào cũng cụ thể và gấp gáp khiến nhiều đêm tôi chỉ chợp mắt vài ba tiếng, phần vì lo công việc cứ dồn dập đến, phần vì đấu tranh giữa nguyện vọng được ở lại với đi tập kết là mệnh lệnh phải chấp hành nghiêm chỉnh.

Sau nữa là chuyện hậu phương. Hai câu hỏi đặt ra phải chọn một: Thăm mẹ hay thăm vợ? Mẹ ở xa cách gần 200 ki-lô-mét, vợ chỉ cách nơi đơn vị đóng quân trên dưới 20 ki-lô-mét. Tôi quyết định biên thư cho mẹ và về thăm vợ, vì thời gian cho việc riêng lúc này là quá ít. Được trên cho nghỉ ba ngày, tôi đi mà như chạy, với tốc độ mã hồi, về đến nhà trời đã nhá nhem tối. Niềm vui đến bất ngờ - vợ tôi mới sinh con trai vừa tròn tháng tuổi, như một gạch nối gắn bó đạo nghĩa vợ chồng từ đứa con vẫn còn đang đỏ hỏn. Lẽ ra phải cách ly nhưng hai chúng tôi cứ quấn quýt bên nhau, cố giấu nỗi buồn chia ly đang đến gần, kể cho nhau nghe đủ chuyện trên trời dưới biển, khuyên nhau chú ý giữ gìn sức khỏe, hứa cùng nhau giữ trọn lòng chung thủy đợi chờ. Ba ngày qua nhanh, chỉ còn vài giờ nữa là tôi tạm biệt nơi tổ ấm, lúc ấy chúng tôi mới cùng nhắc nhau ráng chờ, hai năm gặp lại sẽ tính chuyện lâu dài... Vài ngày sau đó, nhận được tin vợ tôi thuộc diện tập kết đã xuống tập trung tại khu vực Bồng Sơn chờ đi đợt sau cùng. Ngày lên đường đã đến, tôi chỉ kịp ghi tiếp mấy dòng nhắn gửi mẹ: Ngày mốt con xuống tàu ra Bắc, mẹ cố thu xếp xuống thăm con dâu và cháu đích tôn theo địa chi con ghi trong thư này... Tôi lại có thêm một niềm vui và một bịn rịn mới trong những ngày chuẩn bị rời xa quê hương.

Tháng 5 năm 1955 được tin vợ tôi đi trong đợt tập kết cuối cùng(1), đã ra Bắc được phân về công tác tại trường học sinh miền Nam ở tỉnh Thái Bình, nhưng mãi tháng 7 tôi mới được phép về thăm. Gần một năm xa cách vợ chồng mới gặp lại, con trai tôi đã biết lần giường tập đi. Đủ các chuyện để kể cho nhau nghe, chuyện quê hương, chuyện miền Bắc, nhưng xúc động nhất là vợ tôi kể chuyến mẹ tôi xuống thăm con dâu và cháu đích tôn, - Buổi sáng hôm ấy em nhờ chủ nhà trông con tranh thủ ra chợ mua vài thứ lặt vặt, thì mẹ theo địa chỉ anh dặn trong thư đã đến đúng nơi em ở. Nhìn thấy con đang được chị chủ nhà bồng nựng âu yếm, đoán là cháu mình mẹ giơ tay đón. Vạch áo nhìn sau lưng thấy có cái bớt, mẹ reo lên: đúng cháu nội tôi rồi! Rồi mẹ vừa phân bua với chị chủ nhà, vừa chỉ vào lưng, nói: cha nó cũng có cái bớt như thế này.

Hai mẹ con gặp nhau nước mắt lưng tròng vì quá vui. Lúc này em lại nhớ đến anh, ước gì anh cùng tập kết một đợt để được gặp mẹ. Thời gian còn dài mẹ đón em và con về thăm quê nội gần một tháng. Bình Khê quê anh đẹp quá, em tiếc phải xa ông bà nội, xa các chú, các cô không biết bao giờ mới gặp lại, em cố nén mà vẫn khóc òa khiến con giật mình cũng khóc theo...

Xin được trở lại chuyện đang kể ở trên. Với tôi cũng như bao cán bộ trung cấp khác, bề ngoài vẫn ngày đêm cần cù nghiêm túc chuẩn bị thực hiện việc chuyển quân tập kết theo đúng kế hoạch trên giao, nhưng trong tâm tư vẫn có cái gì trăn trở giằng xé giữa ở và đi. Nhất là được biết nhiều đồng chí được phân công ở lại để chiến đấu lâu dài với địch; lại được tin anh các Trần Lương và Võ Chí Công được Trung ương cử vào phụ trách bí thư, phó bí thư Đảng bộ Liên khu 5 đã đi bằng con đường hợp pháp vào Quy Nhơn rồi về cơ quan Khu ủy đang đóng ở trụ sở tại Phù Mỹ lo việc chỉ đạo các đảng bộ bí mật tiếp tục đấu tranh với địch trong điều kiện mới thì ý định ở lại trong tôi càng trỗi dậy. Trong hội nghị Khu ủy triệu tập các ngày 27, 28 tháng 7 và trong hội nghị Đảng ủy Sư đoàn 305 vừa được thành lập (mà tôi được tham dự), tôi đã trình bày trực tiếp nguyện vọng của mình với các anh Nguyễn Chánh, Nguyễn Đôn, Nguyễn Quyết... Mỗi anh một ý nhưng tất cả đều chân thành, thẳng thắn khuyên tôi: Nam Khánh còn trẻ, nên ra Bắc có điều kiện học tập nâng cao trình độ mọi mặt một cách cơ bản, sau này sẽ giúp nhiều hơn cho cách mạng. Cuộc đấu tranh thống nhất Tổ quốc còn gian khổ, lâu dài. Về lý, ý kiến của các anh hoàn toàn đúng, tôi không thể không thông, nhưng trong tâm tư tình cảm thấy vẫn có cái gì lướng vướng, khi có điều kiện lại đặt ra.


(1) Ngày 16 tháng 5 năm 1955, các đơn vị cuối cùng của Khu 5 rời cảng Quy Nhơn. Không kể hàng vạn cán bộ dân chính, tổng số lực lượng vũ trang Khu 5 tập kết ra Bắc là 43.609 cán bộ, chiến sĩ, bao gồm Sư đoàn 305 (các trung đoàn 96, 108, 210), các trung đoàn 90, 93, 803 (ba trung đoàn nảy ra đến Thanh Hóa thành lập Sư đoàn 324); trung đoàn 812 (Binh Thuận - Ninh Thuận), trung đoàn 120 (các dân tộc ít người ở Tây Nguyên và miền tây các tỉnh đồng bằng); tiểu đoàn đặc công 323, trung đoàn 673 quân tình nguyện Hạ Lào (trung đoàn này nằm trong đội hình Đại đoàn 325).
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #64 vào lúc: 10 Tháng Bảy, 2022, 08:02:33 pm »

Ngày 20 tháng 9, lễ mừng chiến thắng được tổ chức trọng thể tại sân vận động thị xã Quảng Ngãi, có hàng vạn người từ các nơi về. Cả thị xã bừng lên như một ngày hội, đường phố chật cứng những người là người. Sư đoàn 305 chúng tôi chỉnh tề trong bộ quân phục mới, cả vũ khí trang bị cũng mới (toàn chiến lợi phẩm thu được của địch trong chiến dịch Tây Nguyên vừa mới kết thúc). Nói chuyện trước buổi lễ, Tư lệnh kiêm Chính ủy Bộ tư lệnh Liên khu Nguyễn Chánh dõng dạc tuyên bố: “Nếu sau hai năm không có tổng tuyển cử hòa bình thống nhất thì lực lượng vũ trang cách mạng Liên khu 5 sẽ sẵn sàng trở về với ngọn cờ quyết chiến, quyết thắng”, cả lễ trường vang lên tiếng vỗ tay như sấm dậy.

Cám ơn anh Nguyễn Chánh đã hiểu nỗi lòng chúng tôi, đã nói thay nguyện vọng cháy bỏng của chúng tôi trước bà con cô bác đang đứng dưới cờ.

Sau lễ mừng chiến thắng, trạng thái phân cực được hình thành rõ rệt. Ở những bộ phận “đi là thắng lợi” liên tục diễn ra những buổi liên hoan gặp mặt, tặng vật kỷ niệm, chúc nhau sức khỏe, hẹn ngày gặp lại. Nhất la những đơn vị tập kết đợt đầu như chúng tôi đã xúng xính trong bộ quân phục quen thuộc xi-ta còn thơm mùi vải mới, đội mũ nan bọc vải đính quân hiệu hình tròn cờ Tổ quốc được chị em khéo tay trong hội phụ nữ thức suốt ngày đêm thêu tặng đang chờ giờ phút xuống tàu. Những tin tức không được lưu truyền. không được công khai biểu dương khích lệ nay lại thôi thúc tôi viết thư gửi anh Nguyễn Chánh, hy vọng cơ hội cuối cùng sẽ đến với mình.

Ngày 7 tháng 10, đồng chí Lượng, bí thư của anh Nguyễn Chánh trong đoàn kiểm tra xuống đơn vị tôi làm việc lần cuối, trước, khi trung đoàn lên đường. Xong việc, đồng chí Lượng gặp riêng tôi truyền đạt ý kiến của anh Nguyễn Chánh sau khi nhận được thư của tôi. Anh Chánh nói: Tha thiết xin ở lại bám trụ quê hương, chấp nhận đi vào cuộc chiến đấu mới là một nguyện vọng chính đáng cần được biểu dương khích lệ. Nhưng người đảng viên còn có nghĩa vụ tuyệt đối thực hiện sự phân công của Đảng.

Tôi xúc động và cả hối hận vì đã làm cấp trên phải bận tâm về mình trong lúc có biết bao công việc chung đòi hỏi các anh phải lo toan, tính toán không thể để chậm. Bỗng tôi lại nhớ về giờ phút thiêng liêng đứng tuyên thệ trong buổi lễ kết nạp Đảng tại mặt trận Củng Sơn ngày nào.

Thời gian trôi nhanh, phút giây xa quê đã đến! Chiều ngày 10 tháng 10 năm 1954 trung đoàn 108 thuộc Sư đoàn 305 của Liên khu 5 chính thức lên đường đi tập kết. Bến cảng Quy Nhơn đông vui như một ngày hội, người đi lại tấp nập. Nhiều nhất vẫn là bà con cô bác từ Quảng Nam, Quảng Ngãi vào, từ Phú Yên ra, từ Tây Nguyên xuống đã đứng chật hai bên đường chúng tôi đi qua, như muốn trút hết tình cảm thân thương của mình cho những người thân sắp sửa đi xa. Họ vẫy tay, vẫy nón, dặn dò, khuyên nhủ bao điều vừa tâm tình vừa hỗn độn đến khản cổ những mong chồng, con, em mình nhận được tiếng nói nhắn nhủ, hẹn ước để yên tâm tập kết. Trong không khí sôi động, náo nhiệt ấy tôi vẫn thấy trên khuôn mặt những người ra tiễn ẩn chứa một nỗi buồn lo tình hình sẽ ra sao đây.

Tôi đi sau cùng hàng quân đang mải giơ tay đáp lại một bà má từ phía sau cố dướn người nhìn tôi vẫy nón và nhắn nhủ: Con đi khỏe, nghe! Thì có một em bé trai 14 tuổi từ phía sau ôm lưng tôi như muốn giữ lại không cho đi.

Tôi cầm tay em ghé tai âu yếm:

- Hai năm các anh lại về.

Em nói trong tiếng nấc:

- Nhưng các anh đi, chúng nó đến!

Vì yêu cầu chung tôi không thể đứng lại an ủi em (mà cũng không biết nói thế nào để em yên tâm).

Một hồi còi dài cất lên từ nơi con tàu Nga mang tên Ắc-khăng-ghen chào tạm biệt đất liền. Không khí bến cảng sôi động hẳn lên, người người nháo nhác gọi nhau xuống sát mép nước để được nhìn người thân rõ hơn. Tàu nhổ neo từ từ quay mũi ra khơi. Cám ơn các thủy thủ Xô-viết đã thông cảm với người đi xa, cố ý làm chậm giờ phút rời bến để người ở lại và người xa quê nhìn nhau lần cuối. Khoảng cách con tàu và bến cảng cứ xa dần, chỉ còn giơ tay xòe hai ngón làm hiệu thay cho tiếng nói: “Hai năm sẽ về!”, vẫy mãi, vẫy hoài cho đến khi đất liền mờ xa, chỉ còn lại biển cả với tiếng sóng vỗ đều đều. Tôi cũng như bao anh em khác cũng giơ tay vẫy vẫy làm hiệu hai năm một cách thật lòng nhưng vẫn văng vẳng bên tai tiếng em nhỏ hồi chiều “Các anh đi, chúng nó đến!”.

Bỗng tôi tự hỏi mình: Sao mình lại đi lúc địch đến, mặc dầu đi là thắng lợi? Cái ý nghĩ trở lại trỗi dậy từ đây, đang lúc mũi tàu thẳng hướng bắc, xuyên qua màn đêm mà đi tới.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #65 vào lúc: 10 Tháng Bảy, 2022, 08:03:18 pm »

Theo lộ trình ba ngày ba đêm là tới đích nhưng gặp mưa bão, phải mất sáu ngày đêm tàu mới cập bến Cửa Hội. Từ Cửa Hội chúng tôi hành quân tiếp về đứng chân ở Chợ Còng, Thanh Hóa. Phút đầu đặt chân lên miền Bắc làm chúng tôi vợi bớt nỗi nhớ vì cảnh vật nơi đây có cái gì na ná như vùng quê Nam Trung Bộ, cũng có biển, có đồng bằng và rừng núi, và con người nơi đây cũng lam lũ, khắc khổ nhưng giàu lòng nhân ái, coi chúng tôi như những đứa con đi xa nay mới trở về, không tiếc một thứ gì miễn là tạo thuận lợi cho chúng tôi nhanh chóng ổn định nơi ăn, chốn ở.

Một kỷ niệm khó quên đối với chúng tôi những ngày đầu tập kết ra Bắc, là được Bác đến thăm trong lúc đơn vị đang tập đội ngủ tại sân bay Bạch Mai chuẩn bị cho lễ diễu binh chào mừng Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác Hồ về lại Thủ đô ngày 1 tháng 1 năm 1955.

Ngày 17 tháng 12 năm 1954, vào một buổi sáng mùa đông giá lạnh - một cái lạnh lần đầu bắt gặp thật khó chịu. Chúng tôi đang huấn luyện đội ngũ trong đội hình tổng hợp diễu qua lễ đài, yêu cầu động tác cá nhân phải thành thục đến mức điêu luyện, nên rất vất vả, thì được tin cấp trên đến thăm. Thấy chúng tôi tỏ vẻ lo lắng, các anh trên Tổng cục Chính trị ghé tai tôi nói nhỏ: Không phải chuẩn bị gì cả, ai việc nào cứ việc ấy, cứ tập luyện bình thường.

Bác đến! Đúng là Bác rồi, hao hao như người trong ảnh mà xưởng in của Liên khu vừa phát hành rộng rãi trong toàn vùng Nam Trung Bộ trong dịp ngừng bắn, chuyển quân tập kết vừa qua. Nghĩ như thế tôi chấn chỉnh đội hình, cao trên thấp dưới, dóng thẳng hàng ngang dọc. Tim cứ đập thình thình, vừa hồi hộp vừa vui sướng, tận mắt, rất gần nhìn rõ Bác. Thật không có gì tả xiết, vẫn còn in đậm dấu ấn những ngày gian khổ ở chiến khu Việt Bắc, nước da mai mái xanh gầy, ăn vận giản dị, chỉ khác là đôi mắt Bác sáng và vầng trán cao thông minh, dáng đi nhanh nhẹn, giọng nói đầm ấm, thân tình như vị cha già nói với các con cháu: “Các cô các chú ăn có no không”, thì chúng tôi vô cùng cảm động, có người rưng rưng nước mắt.

Nhiều đồng chí chỉ nghe giọng nói ấm áp của Bác mà không nhìn thấy Bác, nên khi Bác ra về, bất chấp kỷ luật cứ ùa ra vây quanh để được nhìn rõ Bác. Chiến sĩ Hoàng Văn Kim cố bám thành xe khi xe chạy để được nhìn Bác gần hơn. Hiểu thấu tình cảm của những đứa con ở xa Trung ương nhưng vẫn ngưỡng mộ hướng về phương bắc thầm mơ có ngày được gặp Bác nên Bác cho dừng xe lại, đứng trên thềm gạch để tất cả mọi người nhìn thấy, cả bãi tập sôi động lạ thường, vang lên tiếng hô “Bác Hồ muôn... năm! Bác H... ồ... m... uôn năm!”. Bác tươi cười giơ tay ra hiệu trật tự và Bác nói nghe cảm động, thân thương vô cùng: Để Bác về nghỉ trưa, chiều Bác lại đến thăm các cô. các chú, có được không? Cả bãi tập lại hô vang: “Hồ Chí Minh mu... ôn n... ăm...!”.

Bác lại tiếp: Các cô các chú về nghỉ lấy sức chiều còn tập luyện.

Trưa hôm đó phòng ăn như chợ phiên, tiếng cười nói ồn ào, náo nhiệt, những đồng chí được đứng gần Bác, được, ngắm kỹ Bác thì bình về Bác, bình về đôi mắt sáng lạ kỳ; bình về vầng trán cao uyên bác; bình về giọng nói vang như tiếng chuông. Số đồng chí khác thất vọng, cho là hết cơ hội, là số không may, Bác bận trăm công nghìn việc, chắc chiều nay Bác không đến.

Còn tôi thì băn khoăn về cái nguyên tắc đội hình xếp theo thứ tự cao trên thấp dưới có từ bao giờ, sao không sửa. Rất có khả năng chiều nay vẫn có người không nhìn thấy Bác? Bàn đi tính lại, chúng tôi thống nhất: đội hình tập chiều nay không đổi, trước giữa hàng quân để một cái bàn, nếu Bác đến mời Bác đứng trên bàn nói chuyện. Chỉ có cách này mới thỏa mãn được nguyện vọng của mọi người.

Trời lất phất mưa bay, cái lạnh càng tăng. Bác đã đến. Tôi rất yên tâm vì lần này đã có kế hoạch chuẩn bị đón Bác, không bị động như sáng nay. Đội hình đã chỉnh tề, ngang dọc như ô cờ, thẳng hàng nhìn phía nào cũng thấy đẹp. Đây là đội hình sẽ thực hiện trong lễ diễu binh ngày 1 tháng 1 năm 1955.

Đội hình đón Bác vuông vức và nghiêm túc không một nhúc nhích, nhưng Bác băn khoăn khi nhìn thấy cái bàn vững chắc kê giữa hàng quân! Bỗng Bác đi vòng xuống cuối hàng quân. Đứng ra giữa, Bác hô thật to, giọng vang xa, dứt khoát như một chỉ huy quân sự thực thụ:

- Đằng sau, quay!

Chúng tôi nhẹ nhõm thở phào, nhìn đội hình thay đổi theo thứ tự ngược lại, đã hiểu ý định của Người là để các đồng chí thấp được đứng gần nhìn Bác rõ hơn.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #66 vào lúc: 10 Tháng Bảy, 2022, 08:04:20 pm »

Cả hàng quân rùng rình chuyển động làm theo lời Bác, có cả tiếng cười nói râm ran ấm tình cha con. Đồng chí chỉ huy đợt tổng duyệt đội ngũ đến báo cáo với Bác đây là tiểu đoàn 19 trung đoàn 108 Đại đoàn 305, đại diện lực lượng vũ trang Liên khu 5 tham gia lễ duyệt binh sắp tới.

Chiều đến bầu trời u ám, gió đông bắc mạnh dần, nhiệt độ xuống thấp. Hiểu được chúng tôi lần đầu sống chung với cái rét thấu xương ở miền Bắc, Bác ân cần hỏi:

- Các chú có lạnh lắm không? đã được phát áo bông chưa?

Mọi người đều hướng về Bác với tấm lòng thành kính, tràn đầy vui sướng, nhưng không có tiếng trả lời. Hiểu được từ bông trong Nam nghĩa là hoa, Bác giải thích tiếp: áo bông là áo may có hai lớp vải, ở giữa độn bông mặc vào mùa đông giá lạnh như hôm nay. Chúng tôi càng xúc động về tấm lòng yêu thương bao la của Bác. Bận nhiều việc chung, lớn lao của đất nước, nhưng Người không quên những nhu cầu thường nhật của quần chúng, từ miếng cơm manh áo, nhỏ mà quan trọng, không có nó không được. Sau đó Bác mới thăm hỏi và căn dặn:

“Hôm nay Bác đến thăm các cô các chú, có nghĩa là đến thăm toàn quân. Vì ở đây có đủ đại biểu các đơn vị. Khi các cô các chú về đơn vị, Bác gửi lời hỏi thăm và khuyến khích tất cả anh em, chị em cố gắng học tập... Cần học chính trị để nắm vững chính sách của Đảng và Chính phủ, để đi đúng đường lối của cách mạng.

Phải học tập kỹ thuật vì kỹ thuật ngày càng tiến bộ... muốn cho bộ đội ta hùng mạnh chúng ta phải cố gắng học tập chính trị và kỹ thuật để tiến lên chính quy.

Phải ngăn chặn những tư tưởng không đúng nảy nở. Đồng thời phải biết quý trọng của công, không được lãng phí; phải giữ gìn kỷ luật cho nghiêm, đừng vì hòa bình rồi mà coi nhẹ kỷ luật. Phải đoàn kết. Trước ở Bắc Bộ chỉ có bộ đội Bắc Bộ, bây giờ Bắc Bộ có bộ đội toàn quốc: Nam - Trung - Bắc đều có... Phải thật thà đoàn kết, thương yêu nhau, giúp đỡ nhau tiến bộ.

Các cán bộ chỉ huy trẻ phải cố gắng hơn nữa trong công tác, trong học tập, từ bước đi, từ cái chào phải chính quy hóa, cán bộ phải tiến trước và làm gương mẫu cho các chiến sĩ. Ngoài ra phải hết sức chăm lo mọi mặt về đời sống cho chiến sĩ”.

Lần đầu gặp Bác và được nghe Bác căn dặn đã trở thành một kỷ niệm không thể nào quên đối với cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 19 nói riêng, của bộ đội Khu 5 tập kết nói chung. Bởi từ sau đó, câu chuyện về lần gặp Bác được lan truyền khắp các đơn vị do người được gặp Bác về kể lại, người được kể lại kể tiếp cho người sau, cuối cùng người không trực tiếp gặp Bác coi như đã gặp, mà đại diện là tiểu đoàn 19 anh hùng.

Riêng tôi, ngoài cái chung, còn có sự tâm đắc riêng về những điều “cuối cùng Bác nhắc các cô chú: Hiện nay nhiệm vụ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân là đấu tranh củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong cả nước. Trong nhiệm vụ đó, quân đội giữ một phần quan trọng. Muốn làm tròn nhiệm vụ đó, các cô các chú phải làm cho đúng những lời Bác dặn”. Cái ý nghĩ trở về đã được Bác tiếp sức. Bác đã nhấn mạnh trong nhiệm vụ chính trị chung quân đội giữ một phần quan trọng.

Sau khi tham dự lễ duyệt binh chào mừng Trung ương Đảng và Chính phủ, Bác Hồ về lại Thủ đô Hà Nội ngày 1 tháng 1 năm 1955 cùng với các đơn vị khác trong toàn quân, trung đoàn 108 được giao nhiệm vụ tham gia cải cách ruộng đất ở Tĩnh Gia, cứu đói ở Nông Cống (Thanh Hóa), chống cưỡng ép di cư ở Ba Làng An (Thanh Hóa), Hải Hậu (Nam Định); tham gia xây dựng công trình đại thủy nông Bắc - Hưng - Hải, khu công nghiệp Việt Trì, cứu đê Mai Lâm, v.v... Sau đó chúng tôi hành quân lên rừng đẵn gỗ ghép bè xuôi sông về xây dựng doanh trại ở Thậm Thình (Phú Thọ), bước vào kế hoạch dài hạn xây dựng quân đội tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chính quy, hiện đại. Cả miền Bắc dấy lên phong trào thi đua sôi nổi rộng khắp hợp thành ba mũi mang những cái tên giản dị mà phong phú: Cờ ba nhất (quân đội), Gió đại phong (nông nghiệp), sóng duyên hải (công nghiệp).

Chúng tôi đã sống trong thời kỳ thật đẹp - thời kỳ khôi phục kinh tế miền Bắc đầy sôi động và hào hứng. Đất nước vừa thoát ra khỏi cuộc chiến tranh chín năm (1945-1954), mọi thứ đều thiếu thốn, ai nấy đều vui vẻ thực hiện “thắt lưng buộc bụng”. Không ai đặt điều kiện, đòi thụ hưởng trước khi bắt tay vào công việc. Đó là thời kỳ hoàng kim, thời kỳ đức trị. Điều hành đất nước bằng đức trị; chấp hành nhiệm vụ cũng bằng đức trị; đối xử với nhau cũng bằng đạo đức tình người; ít khi phải dùng đến pháp luật mà mọi việc vẫn chạy đều, đường phố, xóm làng vẫn kỷ luật, yên vui, hạnh phúc, chan hòa tình cảm, giữa người với người là đồng chí, là bạn bè thân thiết.

Nhưng có cả sự gian khổ, quyết liệt và hy sinh. Máu của các chiến sĩ Sư đoàn 305 đã đổ khi làm nhiệm vụ chống âm mưu cưỡng ép di cư bị bọn phản động ở Ba Làng An giết hại. Cán bộ chiến sĩ trung đoàn 108 chúng tôi quên ăn quên ngủ ngày đêm bám trụ tìm thủ đoạn dựng giả ảnh Đức mẹ hiện hình của bọn phản động nhằm lừa mị kích động giáo dân. Khi thủ đoạn này được đưa ra ánh sáng đã góp phần chặn đứng làn sóng di cư ở vùng đồng bào công giáo Hải Hậu.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #67 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2022, 07:52:21 am »

Tháng 7 năm 1955, tôi được anh Trần Hoài Ân, Cục trưởng Cán bộ gọi lên báo tin Bộ quyết định tôi đi học nước ngoài. Tin vui mà tôi lại phân vân, vì khả năng hai năm tổng tuyển cử thực hiện thống nhất nước nhà đang bị đe dọa. Tin Mỹ - Diệm đang ráo riết thực hiện các chiến dịch “tố cộng” để trả thù người kháng chiến cũ; liên tiếp gây ra các vụ tàn sát đẫm máu ở Chợ Được, Vĩnh Trinh, Ngân Sơn, Chi Thạnh... đã thực sự thôi thúc chúng tôi phải trở về.

Nhưng được các anh trong Cục Cán bộ giải thích, vả lại đây là mệnh lệnh nên tôi đã nghiêm chỉnh chấp hành.

Sau gần một năm tập trung về trường văn hóa Kiến An để học ngoại ngữ, cuối tháng 5 năm 1956 đoàn học viên chúng tôi gồm hơn hai mươi anh em tạm biệt đất mẹ ngồi tàu liên vận sang học tại Học viện Quân sự chính trị Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Số anh em quê ở miền Nam đều có chung mong muốn: Một là, học xong được trở lại miền Nam tham gia chiến đấu chống lại âm mưu chia cắt lâu dài đất nước của bọn Mỹ - Diệm; hai là, học cái gì thiết thực để khi trở lại chiến trường áp dụng được ngay. Một mong muốn phụ đã được Đại sứ quán ta ở Trung Quốc đáp ứng định kỳ các anh ở đại sứ quán đều có thông báo tình hình thời sự trong nước - có chuyên đề về tình hình đồng bào miền Nam đấu tranh chống lại đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai.

Bạn tạo điều kiện ăn, ở rất thuận lợi cho chúng tôi trong suốt thời gian học tập. Chúng tôi thật thoải mái khi bước vào học tập, mọi suy nghĩ riêng tư đều xếp lại. Đã thấy có hào hứng với kiến thức thật mới của môn khoa học quân sự Mác - Lê-nin. Nhưng đi vào các vấn đề về nghệ thuật quân sự có liên hệ đến thực tiễn thì cái hào hứng ban đầu dần dần mất đi, có vấn đề trở thành đề tài tranh luận. Các bài giảng về nghệ thuật chiến dịch, chỉ huy chiến đấu đều rút ra từ cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của Liên Xô trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, trong cuộc kháng Mỹ viện Triều của Trung Quốc. Có nhiều vấn đề không phù hợp với cuộc kháng chiến chống Pháp trước đây và chống Mỹ ngày nay - một nước có diện tích không lớn, dân số không đông. Thế là từ thảo luận nhằm nắm vững nội dung biến thành cuộc tranh luận trực diện diễn ra giữa học sinh Việt Nam và các giảng viên Trung Quốc, bình tĩnh, thẳng thắn, chân tình, cũng có lúc sôi nổi, gay gắt, thậm chí căng thẳng để tìm chân lý.

Sợ vấn đề tranh luận đi quá xa, chi bộ học viên chúng tôi họp xác định lại tinh thần thái độ học tập đúng mực, cần phải thật khiêm tốn và đoàn kết. Nếu chưa thông thì bảo lưu, không nên gây căng thẳng không cần thiết. Phía bạn cũng kiềm chế. Họ nói, là giáo viên chúng tôi có trách nhiệm truyền đạt đầy đủ nội dung giáo trình, giáo án của nhà trường, yêu cầu các đồng chí Việt Nam cứ học đã, còn nội dung được hay không, vận dụng nhiều hay ít tùy thuộc nơi các đồng chí sau này trở về nước.

Ba năm học trôi nhanh, khóa học đã bế mạc tràn đầy không khí hữu nghị giữa các giảng viên với các học viên Việt Nam. Các đồng chí lãnh đạo trường bạn đến thăm và tạm biệt đoàn học sinh Việt Nam. Câu chuyện trao đổi trong buổi gặp mặt hôm ấy diễn ra cởi mở, chân thành, thắm tình hữu nghị đồng chí. Chúng tôi đánh giá cao nghiên cứu khoa học và giảng dạy của trường; giáo trình, giáo án được biên soạn công phu mang tính khái quát, khoa học cao. Bạn khen tinh thần học tập thực sự cầu thị của đoàn học sinh Việt Nam; thảo luận sôi nổi, không xuôi chiều, thẳng thắn tranh luận để tìm ra chân lý.

Tháng 12 năm 1958, đoàn học sinh chúng tôi về nước. Sang tháng 1 năm 1959, tôi được điều về công tác tại Cục Tuyên huấn Tổng cục Chính trị. Đến giữa năm 1959, Nghị quyết Trung ương lần thứ 15, chuyên đề Cách mạng miền Nam chính thức ban hành.

Hồi đang còn học bên nước bạn, Đại sứ quán ta có thông tin nhanh về Nghị quyết quan trọng này, chưa thông báo nội dung cụ thể vì còn giữ bí mật. Sự thông tin chưa đầy đủ khiến tôi càng nôn nóng, học tập có phần hơi phân tán, chỉ mong thời gian trôi nhanh để được về nước xem thực hư, cụ thể thế nào.

Vì vậy khi về đến Trạm khách của Bộ, trong lúc đợi phân công tác, tôi tranh thủ về Sư đoàn 305 để tìm hiểu. Không khí ở cơ quan sư bộ lúc này có nhiều thay đổi. Theo yêu cầu của chiến trường, nhiều bạn bè thân quen của tôi đã lên đường, lặng lẽ mà khẩn trương chuẩn bị công việc hoặc tập trung lên thị trấn Xuân Mai tập luyện để vào tiếp.

Tôi được các anh trong Bộ tư lệnh sư đoàn cho biết cốt lõi của Nghị quyết 15 xác định: “Con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền là bạo lực... dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân”. Ôi! Thế là nguyện vọng của mình đã có cơ hội thực hiện. Từ tháng 7 đến tháng 9 năm 1959 tôi đã ba lần viết thư đề nghị Cục Cán bộ báo cáo cấp trên cho tôi trở lại chiến trường vì Trung ương đã có Nghị quyết 15. Các anh lãnh đạo Cục hoan nghênh nguyện vọng của tôi và khuyên tôi sẵn sàng chờ, khi có lệnh là lên đường được ngay.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #68 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2022, 07:53:13 am »

Tháng 7 năm 1955, tôi được anh Trần Hoài Ân, Cục trưởng Cán bộ gọi lên báo tin Bộ quyết định tôi đi học nước ngoài. Tin vui mà tôi lại phân vân, vì khả năng hai năm tổng tuyển cử thực hiện thống nhất nước nhà đang bị đe dọa. Tin Mỹ - Diệm đang ráo riết thực hiện các chiến dịch “tố cộng” để trả thù người kháng chiến cũ; liên tiếp gây ra các vụ tàn sát đẫm máu ở Chợ Được, Vĩnh Trinh, Ngân Sơn, Chi Thạnh... đã thực sự thôi thúc chúng tôi phải trở về.

Nhưng được các anh trong Cục Cán bộ giải thích, vả lại đây là mệnh lệnh nên tôi đã nghiêm chỉnh chấp hành.

Sau gần một năm tập trung về trường văn hóa Kiến An để học ngoại ngữ, cuối tháng 5 năm 1956 đoàn học viên chúng tôi gồm hơn hai mươi anh em tạm biệt đất mẹ ngồi tàu liên vận sang học tại Học viện Quân sự chính trị Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Số anh em quê ở miền Nam đều có chung mong muốn: Một là, học xong được trở lại miền Nam tham gia chiến đấu chống lại âm mưu chia cắt lâu dài đất nước của bọn Mỹ - Diệm; hai là, học cái gì thiết thực để khi trở lại chiến trường áp dụng được ngay. Một mong muốn phụ đã được Đại sứ quán ta ở Trung Quốc đáp ứng, định kỳ các anh ở đại sứ quán đều có thông báo tình hình thời sự trong nước - có chuyên đề về tình hình đồng bào miền Nam đấu tranh chống lại đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai.

Bạn tạo điều kiện ăn, ở rất thuận lợi cho chúng tôi trong suốt thời gian học tập. Chúng tôi thật thoải mái khi bước vào học tập, mọi suy nghĩ riêng tư đều xếp lại. Đã thấy có hào hứng với kiến thức thật mới của môn khoa học quân sự Mác - Lê-nin. Nhưng đi vào các vấn đề về nghệ thuật quân sự có liên hệ đến thực tiễn thì cái hào hứng ban đầu dần dần mất đi, có vấn đề trở thành đề tài tranh luận. Các bài giảng về nghệ thuật chiến dịch, chỉ huy chiến đấu đều rút ra từ cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của Liên Xô trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, trong cuộc kháng Mỹ viện Triều của Trung Quốc. Có nhiều vấn đề không phù hợp với cuộc kháng chiến chống Pháp trước đây và chống Mỹ ngày nay - một nước có diện tích không lớn, dân số không đông. Thế là từ thảo luận nhằm nắm vững nội dung biến thành cuộc tranh luận trực diện diễn ra giữa học sinh Việt Nam và các giảng viên Trung Quốc, bình tĩnh, thẳng thắn, chân tình, cũng có lúc sôi nổi, gay gắt, thậm chí căng thẳng để tìm chân lý.

Sợ vấn đề tranh luận đi quá xa, chi bộ học viên chúng tôi họp xác định lại tinh thần thái độ học tập đúng mực, cần phải thật khiêm tốn và đoàn kết. Nếu chưa thông thì bảo lưu, không nên gây căng thẳng không cần thiết. Phía bạn cũng kiềm chế. Họ nói, là giáo viên chúng tôi có trách nhiệm truyền đạt đầy đủ nội dung giáo trình, giáo án của nhà trường, yêu cầu các đồng chí Việt Nam cứ học đã, còn nội dung được hay không, vận dụng nhiều hay ít tùy thuộc nơi các đồng chí sau này trở về nước.

Ba năm học trôi nhanh, khóa học đã bế mạc tràn đầy không khí hữu nghị giữa các giảng viên với các học viên Việt Nam. Các đồng chí lãnh đạo trường bạn đến thăm và tạm biệt đoàn học sinh Việt Nam. Câu chuyện trao đổi trong buổi gặp mặt hôm ấy diễn ra cởi mở, chân thành, thắm tình hữu nghị đồng chí. Chúng tôi đánh giá cao nghiên cứu khoa học và giảng dạy của trường; giáo trình, giáo án được biên soạn công phu mang tính khái quát, khoa học cao. Bạn khen tinh thần học tập thực sự cầu thị của đoàn học sinh Việt Nam; thảo luận sôi nổi, không xuôi chiều, thẳng thắn tranh luận để tìm ra chân lý.

Tháng 12 năm 1958, đoàn học sinh chúng tôi về nước. Sang tháng 1 năm 1959, tôi được điều về công tác tại Cục Tuyên huấn Tổng cục Chính trị. Đến giữa năm 1959, Nghị quyết Trung ương lần thứ 15, chuyên đề Cách mạng miền Nam chính thức ban hành.

Hồi đang còn học bên nước bạn, Đại sứ quán ta có thông tin nhanh về Nghị quyết quan trọng này, chưa thông báo nội dung cụ thể vì còn giữ bí mật. Sự thông tin chưa đầy đủ khiến tôi càng nôn nóng, học tập có phần hơi phân tán, chỉ mong thời gian trôi nhanh để được về nước xem thực hư, cụ thể thế nào.

Vì vậy khi về đến Trạm khách của Bộ, trong lúc đợi phân công tác, tôi tranh thủ về Sư đoàn 305 để tìm hiểu. Không khí ở cơ quan sư bộ lúc này có nhiều thay đổi. Theo yêu cầu của chiến trường, nhiều bạn bè thân quen của tôi đã lên đường, lặng lẽ mà khẩn trương chuẩn bị công việc hoặc tập trung lên thị trấn Xuân Mai tập luyện để vào tiếp.

Tôi được các anh trong Bộ tư lệnh sư đoàn cho biết cốt lõi của Nghị quyết 15 xác định: “Con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền là bạo lực... dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân”. Ôi! Thế là nguyện vọng của mình đã có cơ hội thực hiện. Từ tháng 7 đến tháng 9 năm 1959 tôi đã ba lần viết thư đề nghị Cục Cán bộ báo cáo cấp trên cho tôi trở lại chiến trường vì Trung ương đã có Nghị quyết 15. Các anh lãnh đạo Cục hoan nghênh nguyện vọng của tôi và khuyên tôi sẵn sàng chờ, khi có lệnh là lên đường được ngay.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #69 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2022, 07:54:14 am »

Anh say sưa nói liền một mạch, rồi giọng anh chậm rãi, tâm tình: Ý kiến mình là vậy, gợi ý nhiều hơn là khẳng định, các đồng chí có ý kiến gì cứ nêu để chúng ta cùng bàn bạc tháo gỡ.

Hai chúng tôi nhìn nhau, tôi đưa mắt đề nghị anh Điềm phát biểu. Hắng giọng, đồng chí lữ đoàn trưởng nói: Báo cáo, hiện giờ thì chưa, khi triển khai cụ thể có gì lúng túng lữ đoàn sẽ xin ý kiến thủ trưởng.

Anh Tấn cười: Mới quá mà, nên không hình dung được điều gì sẽ xảy ra để mà thắc mắc, trao đổi. Thế nhé, hãy tạm dừng ở đây, hãy lao vào việc đã, sau đó sẽ tính. Được không các đồng chí?

- Báo cáo được ạ! - Anh Điềm nói.

Thử thách đầu tiên đến với chúng tôi là mọi công việc huấn luyện không rải đều trong năm mà dồn vào những tháng cuối năm. Vì lúc này thời tiết khô hanh ổn định, không có mưa bão thất thường thuận lợi cho việc huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật nhảy dù. Thời gian ngắn, khối lượng luyện tập nhiều, phải tính toán sao cho tất cả cán bộ chiến sĩ (không trừ một ai) đều phải qua năm lần thực hành nhảy dù. Đây là bài học nhập môn, yêu cầu mọi người từ chỉ huy lữ đoàn đến chiến sĩ đều phải nắm vững lý thuyết và thực hành nhảy dù an toàn, trúng đích.

Sau khi suy tính, hai chúng tôi quyết định tham gia nhảy dù đợt đầu, trong đó tôi là người nhảy thứ nhất, anh Nguyễn Chí Điềm là người nhảy thứ hai. Việc làm đi trước này nhằm mục đích có được thực tế làm cơ sở cho việc lãnh đạo, điều hành đơn vị tập luyện sau đó - đồng thời cũng là thực hiện cán bộ gương mẫu đi đầu để động viên khí thế chung, vì đây là vấn đề mới, tuy đã được chuẩn bị về nhận thức, tư tưởng, nhưng trong anh em vẫn còn vướng mắc, băn khoăn, lo lắng, cá biệt có chiến sĩ nhút nhát lo sợ, ảnh hưởng đến bước thực hành.

Đêm trước khi thực hành nhảy dù, tôi ngủ một giấc thật sâu, mãi gần sáng một giấc mộng ập đến: Tiểu đoàn 1 lữ đoàn dù 305 do tôi và lữ đoàn phó chỉ huy có nhiệm vụ bất thần nhảy dù xuống khu vực Túy Loan, vu hồi phía sau phối hợp với đại quân từ nam đèo Hải Vân đánh vào tiêu diệt cụm căn cứ Đà Nẵng trong chiến dịch giải phóng toàn bộ vùng Nam Trung Bộ. Ba máy bay AN26 đang lăn bánh tăng tốc rời sân bay Đồng Hới vào một buổi sáng đẹp trời lao ra biển Đông rồi quẹo phải đưa những người lính dù chúng tôi vào phía nam. Ai nấy đều sảng khoái, tự tin sau hai năm học tập nay có cơ hội thử sức. Chắc chắn là thắng lợi.

Đã đến giờ quy định và máy bay đưa chúng tôi tới mục tiêu. Tôi hô: Tất cả sẵn sàng. Có tiếng chuyển động nhỏ trong khoang máy bay. Hai giây sau, tôi lấy hơi hô to hơn, mạnh hơn: Nhảy! Thì giấc mộng chấm dứt. Tôi bừng tỉnh, không gian căn cứ dù ở khu vực Chợ Buộm, Lạng Giang vẫn yên tĩnh. Tôi chớp mắt liên hồi và tự hỏi thật hay mơ thì có tiếng gà gáy. Mơ! Mơ thật rồi. Người ta thường giải thích mơ là do mình nuôi dưỡng một điều gì đó trong đầu óc, trong tâm tưởng, có dịp nó được tái hiện như thật trong giấc mơ.

Xin được tiếp tục trở lại chuyện đang kể. Trời sáng dần, tôi trở lại với cuộc sống thực, tranh thủ làm vệ sinh cá nhân, ăn sáng để kịp giờ tập. Từ ngồi xe ra sân bay, từ máy bay ra bãi tập tôi phải làm đầy đủ các động tác của người lính dù thực thụ, không được phép dễ dãi với mình. Tôi tập trung nhớ lại các điều đã học các quy trình phải làm để bảo đảm nhảy an toàn không phải cho tôi mà còn góp phần động viên khí thế, lòng tin đối với mọi người. Vì nhảy lần đầu được ngồi gần cửa máy bay, bị cảnh quan mặt đất cuốn hút đến khi huấn luyện viên hô:

- Chuẩn bị nhảy!

Tôi giật mình và trấn tĩnh trở lại tư thế sẵn sàng

- Nhảy!

Tôi lao ra khỏi máy bay rơi theo quy luật vật rơi tự do nên giây đầu gần như không có cảm giác để nhận biết giây phút ấy nó như thế nào. Khi cánh dù mở người tỉnh lại, thấy mình đang lơ lửng trên không trung, người khỏe khoắn trở lại, mắt sáng ra và nhìn rõ cảnh vật dưới mặt đất. Thật đẹp, thấy được đâu là nguy hiểm mà lính dù cần tránh. Lúc đầu lúng túng quên cả điều đã học. Nhưng khi cánh dù cách mặt đất 50 mét, tôi đã lái dù vượt ra khỏi điểm rơi nguy hiểm và hồi hộp chờ đợi. Khi chân chạm đất tôi tự nhủ an toàn rồi, tuy nhiên lúc này người hơi chao đảo, song chỉ thoáng qua.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM