Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:48:21 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Miền Trung những tháng ngày không quên  (Đọc 22444 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #130 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2022, 04:46:19 pm »

Các đồng chí tỉnh ủy cho biết sau khi sư đoàn ra Quảng Ngãi, tại chiến trường Bình Định chỉ còn trung đoàn 12 hoạt động ở một địa bàn quá rộng, vì vậy không thể kìm chế được những thủ đoạn nham hiểm của địch trong thời điểm chúng tập trung sức “bình định cấp tốc”, “bình định bổ sung” ở những địa bàn trọng điểm. Tháng 4 năm 1969, chúng làm thí điểm ở một số khu vực An Thái, Hoài Mỹ, Chánh Khoan, Tân Phụng, rồi thực hiện rộng ra toàn tỉnh. Tình hình trên gây cho tỉnh vô vàn khó khăn, tổn thất. Hầu hết những vùng giải phóng trong những năm 1967, 1968 đều bị địch chiếm lại. Chúng còn lấn sâu hơn lên vùng giáp ranh, đóng chốt trên các núi cao, càn quét, đánh phá dai dẳng các khu hậu cứ, cắt đứt các trục đường vận chuyển nối liền với đồng bằng.

Tuy vậy tấm lòng người dân Bình Định lúc nào cũng như lúc nào, luôn luôn kiên trung, bất khuất, sống chết với cách mạng, với sự nghiệp giải phóng đất nước. Cơ sở cách mạng ở các nơi vẫn vững vàng. Hiện nay tỉnh đang rất cần một lực lượng vũ trang đủ sức làm nòng cốt cho phong trào địa phương đánh phá “bình định” của địch. Giữ vững được địa bàn Bình Định là giữ vững được thế chia cắt chiến dịch, chiến lược đối với địch trên toàn chiến trường Trung Trung Bộ.

Đến lúc ấy, nhiều cán bộ, chiến sĩ trong sư đoàn mới hiểu rõ hơn vì sao Quân khu lại điều gấp sư đoàn trở lại Bình Định.

Tôi xúc động muốn khóc khi được nghe những tin tức không vui này. Bỗng trong tâm tưởng tôi lại hiện về những kỷ niệm khó quên của hai chuyến đi xuống vùng đông Phù Mỹ cách đây chưa đầy ba năm. Ngày ấy cả tiểu đoàn hai lần đứng chân ở thôn Dương Liễu (xã Mỹ Thành) bốn bề nước biển mênh mông, đêm ngày nghe tiếng rì rào của cây dương chắn gió cát mà địch vẫn không hề biết mặc dầu đồn quân Nam Triều Tiên nằm cuối thôn Dương Liễu, bắc cửa biển Đề Gi rất gần. Cả cơ quan nhẹ sư đoàn bộ và một đại đội bảo vệ hai lần đi về đều ở Tân Phụng sống trong tình che chở đùm bọc của bà con cô bác. Hai lần Mỹ càn vào tới cổng làng là cả hai lần được chị Hòa, anh Bình dành cho căn hầm bí mật tốt nhất, nhờ đó mà thoát hiểm. Giờ đây chúng lấy nơi đó làm thí điểm chà xát, dùng tất cả các thủ đoạn tàn bạo, thâm độc cả bằng vũ lực và tâm lý chiến dồn đẩy người dân đến cùng cực để nhân rộng ra trong việc thực hiện âm mưu “tát nước bắt cá”. Nhưng càng áp bức, đè nén chúng càng tạo thành sức bật mạnh mẽ trong nhân dân ta.

Cũng trong cuộc họp này, một kế hoạch tác chiến của Mặt trận Bình Định trong chiến dịch Xuân Hè năm 1970 đã được gấp rút hình thành.

Theo phương án chung của quân khu, chiến dịch nhằm diệt một bộ phận sinh lực địch, kéo chủ lực Mỹ - ngụy ra vùng giáp ranh, tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang địa phương diệt kẹp, phá kìm giành dân ở đồng bằng, ở Mặt trận Quảng Đà, bộ đội chủ lực mở chiến dịch Thượng Đức, Sư đoàn 2 tiến đánh Hiệp Đức. Sư đoàn 3 kết hợp với bộ đội địa phương Bình Định khôi phục và mở rộng vùng giải phóng trong toàn tỉnh. Cụ thể là, trung đoàn 2 đánh quân địch ở quận lỵ Phù Mỹ, trung đoàn 22 kìm và tiêu diệt lữ đoàn 173, trung đoàn 12 vẫn chiến đấu ở phía nam tỉnh. Đối tượng tác chiến chủ yếu là bọn bảo an, dân vệ đóng chốt kẹp dân.

Cho đến lúc xuất quân, Đảng ủy và Bộ tư lệnh sư đoàn chúng tôi vẫn còn phải tính toán rất căng thẳng về tình hình cụ thể của các đơn vị. Hiện tại, mỗi đơn vị chỉ còn 50 phần trăm cơ số đạn dược, làm sao có thể chiến đấu liên tục trong một thời gian dài? Hơn nữa, sau một năm chiến đấu trong điều kiện khó khăn thiếu thốn ở chiến trường Quảng Ngãi, bộ đội chưa được nghỉ ngơi.

Suy nghĩ mãi, cân nhắc mãi, câu trả lời cuối cùng và duy nhất vẫn là dân. Phải dựa vào dân nhưng trước hết phải giành lấy dân thì mới có chỗ dựa. Cái gì sư đoàn không có, dân sẽ có. Dân mãi mãi là nguồn sống vô tận của sư đoàn.

Bằng cách dùng lực lượng vừa và nhỏ luồn lách đánh bọn địch phục kích rải rác trên núi, buộc chúng phải co lại, sau một tuần, trung đoàn 2 và trung đoàn 22 đã đưa lọt phần lớn lực lượng xuống vùng ven thuộc hai huyện Phù Mỹ và Hoài Nhơn.

Để tạo được thế đứng chân ban đầu ở đồng bằng, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh, hàng trăm người khác bị thương, chưa kể đến sự tổn thất của các lực lượng vũ trang địa phương, nhân dân. Nhưng điều lớn nhất, cơ bản nhất trong giai đoạn này sư đoàn đã đạt được là sợi dây giữa dân với cách mạng, giữa dân với sư đoàn đã được nối liền, mặc dầu cơ sở bị địch chà xát khốc liệt.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #131 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2022, 04:47:53 pm »

Sư đoàn cũng đã bắt đầu đánh được một số trận, nhưng lực lượng còn bị rải mỏng, chưa đủ sức làm nòng cốt cho phong trào. Để phù hợp với tính chất hoạt động mới và tăng cường lực lượng địa phương trong giai đoạn đánh phá “bình định” nông thôn của địch, tháng 2 năm 1970, quân khu chấp nhận ý kiến đề nghị của tôi, quyết định cho phân tán trung đoàn 22 Sư đoàn 3: Tiểu đoàn 7 ra Quảng Ngãi; tiểu đoàn 8 về Bình Định; tiểu đoàn 9 vào Phú Yên. Số còn lại bổ sung cho trung đoàn 2, trung đoàn 12 và sư đoàn bộ.

Sau khi trung đoàn 22 bổ sung cho các nơi; sư đoàn chỉ còn trung đoàn 2, trung đoàn 12 và các đơn vị trực thuộc, xem như một sư đoàn thiếu. Qua đợt hoạt động tạo bàn đạp thắng lợi, trên cơ sở phối hợp với lực lượng vũ trang Bình Định, sư đoàn quyết định đẩy chiến dịch Xuân Hè lên một bước cao nhằm khôi phục lại phong trào cách mạng của hai huyện Phù Mỹ, Hoài Nhơn và một số khu vực phía nam tỉnh, cụ thể là:

- Trung đoàn 2 và tiểu đoàn đặc công của sư đoàn làm lực lượng chủ yếu có nhiệm vụ tiêu diệt tiểu đoàn 3 ngụy đang tham gia “bình định” ở Phù Mỹ. Mặt khác, sư đoàn dùng một bộ phận lực lượng còn lại kìm, kéo tiêu hao quân cơ động của lữ đoàn 173 và lữ đoàn 2 sư đoàn 4 Mỹ ở vùng hậu cứ trên núi.

- Phía nam tỉnh, trung đoàn 12 một mặt tiếp tục đánh giao thông trên đường 19, một mặt dùng từng đại đội tinh gọn luồn sâu vào vùng địch, ngày giấu quân dưới hầm bí mật của dân, đêm bật dậy đánh địch.

Phương châm hoạt động của sư đoàn trong thời gian này là “kìm Mỹ, diệt ngụy, phá kèm, giành dân”.

Sư đoàn quyết định chọn Núi Lá (tây Phù Mỹ) là điểm mở màn cho đợt hai của chiến dịch nhằm đánh điểm diệt viện.

Nửa đêm ngày 31 tháng 3, tiểu đoàn đặc công sư đoàn tiến công Núi Lá. Chỉ sau 15 phút, toàn bộ tiểu đoàn 3 ngụy (thiếu) và một trung đội thuộc trung đoàn 41 ngụy đã bị tiêu diệt và bắt sống. Lửa bốc cháy dữ dội cho đến sáng.

Núi Lá mất kéo luôn cả tuyến phòng thủ phía tây Phù Mỹ lung lay theo. Đây là trận đánh tập trung tiểu đoàn đầu tiên của đặc công đạt hiệu suất chiến đấu rất cao.

Cùng với Núi Lá, một loạt 15 cứ điểm, trận địa pháo, quận lỵ... từ bắc xuống nam tỉnh bị sư đoàn và các đơn vị bộ đội địa phương tiến công dồn dập. Tin chiến thắng liên tiếp bay về thì ở sở chỉ huy sư đoàn, Bộ tư lệnh chúng tôi cũng vừa duyệt xong phương án đón đánh quân giải tỏa do trưởng ban tác chiến sư đoàn trình bày. Và những gì xảy ra sau đó đúng như phương án đã vạch, chỉ xê xích chút xíu về thời gian.

Ngày 5 tháng 4, một tiểu đoàn Mỹ thuộc lữ đoàn 173 đổ xuống khu vực rừng dầu Cát Sơn và khu đồi tranh xã Mỹ Hiệp, nhằm thực hiện giải tỏa từ xa. Bộ tư lệnh sư đoàn đã dự kiến tình huống này. Cả bọn Mỹ cũ lẫn bọn vừa đổ xuống đều bị tiểu đoàn 3 trung đoàn 2 kìm chân tại chỗ. Trong khi đó tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 2 đã thọc xuống đông Phù Mỹ, tiến công một loạt “ấp chiến lược” ở các xã Mỹ Đức, Mỹ Chánh, Mỹ Thọ... diệt và bắt sống hàng trăm tên bảo an, dân vệ, cán bộ “bình định”. Không còn cách nào khác, ngày 8 tháng 4, địch ở Phù Mỹ đành phải tung 11 xe bọc thép và GMC chở một đại đội bộ binh đi cứu viện. Nhưng bọn đi cứu viện mới đến đoạn đường giáp giới giữa hai xã Mỹ Chánh, Mỹ Thọ đã bị đại đội 2, tiểu đoàn 2 phục kích tiêu diệt.

Càng về cuối mùa hè cách đánh của bộ đội, du kích càng táo bạo, mưu trí và linh hoạt. Bọn ngụy quyền xã, ấp, cán bộ “bình định” nông thôn ở nhiều nơi ban đêm đã phải bỏ trốn vào Quy Nhơn, Bồng Sơn và các quận lỵ, ban ngày mới dám ló mặt ra trụ sở hội đồng xã.

Không khí vùng quê dịu dần, đồng bào đã bàn tán công khai về chuyện nổi dậy phá khu dồn trở về làng cũ. Ở những vùng “ngày địch, đêm ta”, chiều chiều đã thấy xuất hiện những cô du kích đội mũ tai bèo, xách súng đi tuần tra.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #132 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2022, 07:33:27 am »

Ở đồng bằng, các tiểu đoàn bộ binh ta tiếp tục đánh mạnh vào quân chủ lực ngụy và bảo an, dân vệ, phá “ấp chiến lược”, phá khu dồn. Nhưng do lực lượng mỏng lại căng ra trên một địa bàn rộng, lực lượng địa phương còn yếu nên khi bộ đội vừa rút đi, bộn địch đã líp(1) lại như cũ. Đúng là cuộc đấu tranh ta địch trên lĩnh vực “bình định” và “chống bình định” diễn ra thật gay go quyết liệt, giành lại giật đi. Được cái này, cái khác lại phát sinh ra, lại phải suy tính, họp bàn. Cuối cùng Bộ tư lệnh sư đoàn đã thấy lối ra, và quyết định muốn hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy, phải quét sạch bọn dân vệ, bảo an, bọn ngụy quyền thôn xã và bọn ác ôn “bình định”. Không diệt được bọn này, quần chúng khó nổi dậy. Do đó đối tượng tác chiến trước mắt của các chiến sĩ Sư đoàn 3 không phải là quân chủ lực Mỹ - ngụy, Nam Triều Tiên mà là bọn lính bảo an, dân vệ, bọn ngụy quyền ác ôn. Nhưng muốn diệt được chúng phải có cách đánh và phương thức hoạt động thích hợp. Hơn nữa, ngoài bọn hoạt động công khai, còn dày đặc những loại chỉ điểm “chìm” cài trong dân dưới nhiều hình thức trá hình khác nhau. Bọn này hết sức thâm độc và nguy hiểm, chúng thường được mệnh danh là “kẹp” của “kẹp”.

Tóm lại là, muốn hoàn thành nhiệm vụ hết sức gian khổ và phức tạp kể trên, sư đoàn yêu cầu mỗi cán bộ, chiến sĩ phải làm tốt hai chức năng: vừa là người lính chủ lực có kỹ năng chiến đấu cao vừa là người cán bộ phong trào giỏi.

Sau khi nghiên cứu tình hình thực tiễn, Đảng ủy và Bộ tư lệnh sư đoàn đã họp và thống nhất chủ trương lấy đại đội là đơn vị tổ chức thực hiện phối hợp với địa phương và du kích luồn sâu hơn nữa vào vùng địch kiểm soát. Khi cần đại đội có thể phân tán thành từng tổ làm công tác vận động quần chúng. Đồng thời sư đoàn vẫn dành một phần lực lượng cơ động, sẵn sàng đánh tập trung tiểu đoàn hoặc tiểu đoàn tăng cường đề phòng địch đi giải tỏa.

Được chuẩn bị kỹ cả về nhận thức, tư tưởng và kỹ năng chiến đấu, nhiều cán bộ, chiến sĩ đã vận dụng phương thức hoạt động mới có hiệu quả. Từ các nơi báo cáo về sư đoàn nhiều điển hình về phương thức chiến đấu mới.

Đêm ngày 4 tháng 6, đại đội trưởng Võ Thành Khuê phụ trách một tổ ba chiến sĩ lọt vào khu vực nhà hội đồng xã Mỹ Hòa, huyện Phù Mỹ. 8 giờ sáng, theo lệ thường, bọn cán bộ hội đồng mới từ quận lỵ phóng xe hon-đa tới. Chờ cho cả 11 tên bước vào trong nhà, Khuê và ba chiến sĩ ập tới. Trong năm phút cả một “mâm” tề xã bị diệt gọn. Cùng một đêm “lốt” quân tương tự, Khuê đã chỉ huy năm chiến sĩ diệt sạch một trung đội bảo an ở sân nhà cụ Ba Hiền, giữa ấp Gò Dựa, xã Mỹ Hiệp.

Những trận đánh nhỏ lẻ, bất ngờ và liên tục như vậy gây kinh hoàng cho bọn tề điệp, ác ôn. Lúc nào và ở đâu chúng cũng nơm nớp lo bị đánh. Chúng vội vã thay đổi quy luật làm việc, đi lại nhưng vẫn không thoát, vì đã có hàng ngàn tai mắt của nhân dân dõi theo.

Nhờ có những con mắt tinh tường đó, tiểu đội trưởng trinh sát Đỗ Văn Đạo cùng với hai du kích đã đột nhập vào “ấp chiến lược” xã Mỹ Đức bắt sống tên thượng sĩ ác ôn, sau đó lập phiên tòa phát động bà con vạch tội rồi tuyên bố tử hình tại chỗ. Có lần đi trạm xá về, gặp đích, Đỗ Văn Đạo đã dùng chiến thuật nghi binh một mình bắt sống bảy tên ác ôn, chỉ điểm và bảo an đang trốn trong một căn hầm...

Cách đánh của Võ Thành Khuê, Đỗ Văn Đạo không lâu đã trở thành phổ biến trong sư đoàn. Nhờ đó phong trào diệt ác phá kìm ở các địa phương phát triển chưa từng thấy. Các xã đều thành lập các đội diệt ác, du kích diệt ác, các cụ già diệt ác, các em nhỏ cũng tham gia diệt ác. Ở xã Hoài Thanh, Hoài Nhơn đã thành lập đội diệt ác của các em nhỏ gọi là “Đội chim én”, có tên Huân độc ác khét tiếng. “Đội chim én” giao cho đội viên Đào diệt tên ác ôn này.

Vào một buổi sáng sớm, Đào đã có mặt trên con đường từ quận lỵ về xã. Khi tên ác ôn đi gần tới, Đào bình tĩnh quăng quả lựu đạn. Tên Huân chết. Bọn dân vệ gần đó đổ xô lại bắt Đào. Chúng dẫn em về nhà hội đồng và đánh đập em tàn nhẫn. Hết tra tấn lại dụ dỗ lừa phỉnh nhưng Đào không hé răng khai báo nhưng đồng đội “chim én” của mình. Bất lực, một tên ác ôn gầm lên - “Mày muốn sống hay muốn chết?”. Đào trả lời: “Tao muốn sống để giết hết bọn bay cho đồng bào bớt khổ”. Thằng ác ôn lại hỏi: “Được, tao sẽ cho mày chết, một là đâm đầu xuống nước, hai là buộc chân vào sau xe ô tô kéo đi cùng đường, mày chọn cách nào”. Đào thản nhiên trả lời: “Cả hai cách, bay muốn làm cách nào thì làm”. Và bọn ác ôn đã chọn cách thứ hai(1).


(1) Lấn.
(2) Hoài Nhơn lịch sử đấu tranh cách mạng và kháng chiến cứu nước 1930-1975, Ban chấp hành Huyện ủy Hoài Nhơn, 1986, tr.266.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #133 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2022, 07:34:28 am »

Trong thời gian này rất khó phân biệt đâu là trận đánh của bộ đội chủ lực, của bộ đội địa phương, của các đội diệt ác, các đội chim én. Nhiều tên ác ôn đã phải xin chuyển vùng hoặc xin thôi việc. Nhiều nơi quần chúng lấy thế đó để mặc cả với địch, đòi tự do đi lại, chống bắt lính, chống khủng bố. Thế kìm kẹp ở các ấp, xã phía bắc tỉnh lỏng dần và đã đến lúc cần có những trận đánh tập trung, tiêu diệt sinh lực địch lớn hơn, giáng những đòn đau hơn vào chương trình “bình định cấp tốc” của Mỹ - ngụy.

Mùa xuân và mùa hè năm 1970, từ thế bất lợi ban đầu, sư đoàn đã biết kết hợp có hiệu quả giữa chủ lực và địa phương, tập trung, phân tán linh hoạt, hợp lý; vận dụng các chiến thuật một cách có hiệu quả, bước đầu đã đánh vỡ một số mắt xích chủ yếu trong hệ thống kìm kẹp của địch ở đồng bằng.

Nếu xét đơn thuần về mặt quân sự, một sư đoàn chủ lực phải phân tán đánh nhỏ lẻ, thậm chí đánh theo cách đánh của du kích, biệt động, không tổ chức những trận đánh tập trung, tiêu diệt lớn sinh lực địch là một cách đánh không thể chấp nhận. Nhưng xét tình hình thực tế tương quan lực lượng ta, địch, yêu cầu nhiệm vụ chính trị bức thiết của địa phương là phải đánh bại kế hoạch “bình định cấp tốc”, “bình định bổ sung” của địch, giành đất giành dân, giành quyền làm chủ, củng cố và xây dựng lực lượng tại chỗ cho phong trào cách mạng địa phương, tạo điều kiện cho đánh to, thắng lớn tiếp đó, cộng với những khó khăn không thể khắc phục được ngay về quân số, đạn, gạo, ở vùng sư đoàn đang hoạt động, thì việc sư đoàn chuyển đối tượng tác chiến từ đánh quân chủ lực Mỹ - ngụy và quân chư hầu Nam Triều Tiên sang tiêu diệt bọn kìm kẹp tề điệp trong một thời điểm nhất định là hoàn toàn đúng đắn và chính xác.

Đôn quân bắt lính là một trong những biện pháp chủ yếu của Mỹ - ngụy trong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” để đảm bảo cho quân ngụy mạnh lên thay cho quân viễn chinh Mỹ dần dần rút về nước. Tính đến đầu năm 1971 quân ngụy đã được tăng vọt về quân số. Từ 390.000 tên cuối năm 1970 đã lên tới 480.000 tên vào đầu năm 1971. Nơi nào cũng thấy nhung nhúc lính cộng hòa (lính thuộc các đơn vị chủ lực của quân ngụy), bảo an, dân vệ(1). Bảo an trước chỉ biên chế đến trung đội, đại đội, nay nâng lên liên đội, liên đoàn, trang bị không khác gì chủ lực. Với một đội quân đông như vậy, chúng ra sức thực hiện kế hoạch “bình định” ở khắp các vùng nông thôn miền núi, đồng bằng và ven biển.

Để thay thế sự thiếu hụt do việc ngừng tác chiến của quân Mỹ (cuối năm 1970 Mỹ đã rút về nước 13 tiểu đoàn bộ binh, 9 phi đoàn máy bay), bọn ngụy quân, ngụy quyền rất chú trọng phát triển và sử dụng hệ thống chốt điểm hòng ngăn chặn lực lượng ta tràn xuống đồng bằng và để dễ dàng kìm kẹp dân chúng. Làng xã nào, ngọn đồi nào cũng thấy đồn bốt địch mọc lên như nấm dại. Sự giành giật từng người dân, từng tấc đất giữa ta và địch diễn ra thường xuyên trên chiến trường miền Trung. Có làng xã phải giải phóng đi, giải phóng lại hàng năm bảy lần; có chốt điểm đánh đi đánh lại hàng chục lần. Địch chốt, ta phá. Địch chốt lại, ta phá nữa.

Căn cứ vào nhiệm vụ chiến đấu trước mất và để giải quyết một phần khó khăn quân số và lương thực của chiến trường, Thường vụ Khu ủy, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu đã quyết định giải thể Sư đoàn 3. Một bộ phận cơ quan sư đoàn trở thành tiền phương Quân khu do Sư đoàn trưởng Huỳnh Hữu Anh, lúc này là Phó tham mưu trưởng quân khu phụ trách. Tôi được điều về làm chủ nhiệm chính trị quân khu. Trung đoàn 2, ngoài ba tiểu đoàn bộ binh, được biên chế thêm một tiểu đoàn đặc công, một tiểu đoàn pháo cối, một tiểu đoàn 12,8 mi-li-mét. Trung đoàn 12 được tăng cường tiểu đoàn công binh.

Nhiều anh em trong đó có tôi thấy có cái gì hụt hẫng, luyến tiếc, không biết bao giờ mới được lập lại tổ chức sư đoàn như cũ, để được mang truyền thống và danh hiệu Sư đoàn Sao Vàng một thời hào hùng một thời gắn bó với chiến trường Bình Định. Còn tôi lại nhớ về kỷ niệm buổi gặp vội vàng anh Hoàng Văn Thái ở Nà Niêu cách đây đã ba năm có lẻ. Anh nắm chặt tay tôi trước lúc tạm biệt nhấn mạnh - bằng mọi giá giữ cho được Sư đoàn 3 đứng vững ở khu vực sông Côn, nơi có đường chiến lược 19, sẵn sàng đáp ứng thời cơ đột biến. Vậy mà giờ đây ý kiến tâm đắc của anh không được thực hiện!


(1) Tổ chức quân đội ngụy Sài Gòn gồm có ba thứ quân:
- Chủ lực: gồm các sư đoàn bộ binh, sư đoàn dù, thủy quân lục chiến, biệt động quân. Các đơn vị pháo binh, công binh, thông tin, tăng - thiết giáp. Các quân chủng không quân, hải quân.
- Địa phương: Lực lượng bảo an, tổ chức từ đại đội, tiểu đoàn, liên đoàn (tương đương trung, lữ đoàn chủ lực).
- Dân vệ làm nhiệm vụ an ninh xã, ấp. Ngoài ra còn có tổ chức bán vũ trang như nhân dân tự vệ, thanh niên chiến đấu.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #134 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2022, 07:36:43 am »

Tôi thấy như mình có lỗi với anh!

Nhưng biết làm sao được? Cái thế, cái lực lúc này không cho phép chúng tôi làm khác được, như chính anh đã căn dặn - Nam Khánh nhớ một điều, là sư đoàn chủ lực thuộc quân khu, mọi hoạt động không thể tách khỏi tình hình thực tiễn nơi địa bàn mình đứng chân.

Giây phút hụt hẫng qua nhanh, tôi và anh Huỳnh Hữu Anh bắt tay vào việc triển khai thực hiện chỉ thị và mệnh lệnh của cấp trên, nhanh chóng hình thành tổ chức tiền phương của quân khu đáp ứng tình hình thực tiễn đang đòi hỏi với một tự tin rằng đây chỉ là bước tạm thời, tan để mà hợp và đến lúc cái hợp trở lại sẽ vững chắc hơn, đảm nhận những nhiệm vụ lớn hơn, xa hơn, hiệu quả và giòn giã hơn…

Hai năm 1969-1970, trong chiến dịch “diệt kẹp giành dân, giành quyền làm chủ” Sư đoàn 3 đã hỗ trợ nhân dân nổi dậy đấu tranh bức hàng, bức rút hàng trăm đồn bốt địch. Nhưng hệ thống chốt điểm của địch vẫn còn nhiều, chúng giăng khắp các xóm ấp để thực hiện bình định tại chỗ và kìm kẹp ngăn chặn quần chúng nổi dậy. Dùng biện pháp quân sự đơn thuần, bằng chiến thuật đặc công, ta đã làm, đang làm và có hiệu quả. Nhưng làm không xuể vì chốt điểm của địch vẫn còn nhiều, nếu chỉ đơn thuần một biện pháp nào đó, thì đến bao giờ mới nhổ hết những “cái” gai đó? Đã đến lúc ta phải dùng ba mũi giáp công (quân sự, chính trị, binh vận) tiến công bức rút, bức hàng, vì đây là một trong những phương pháp cơ bản để giành thắng lợi cho cách mạng miền Nam mà Đảng đã xác định.

Đầu năm 1971 tôi trình bày ý nghĩ của mình với Tỉnh ủy Bình Định. Thật may là ý nghĩ của tôi trùng hợp với suy nghĩ của các anh, được các anh trong Thường vụ Tỉnh ủy chấp nhận và quyết định lấy Gò Cớ(1) làm nơi thí điểm, sau đó nhân rộng ra.

Nhá nhem tối một ngày đầu tháng 2 năm 1971, tôi và anh Đinh Bá Lộc, Tỉnh đội trưởng tỉnh Bình Định vượt đường số 1 xuống căn cứ Chóp Chài gần đầm Châu Trúc gặp huyện ủy và huyện đội Phù Mỹ để bàn kế hoạch triển khai thực hiện.

Sau khi nghe chúng tôi trình bày dự kiến, các anh lãnh đạo và chỉ huy huyện Phù Mỹ đều nhất trí, chỉ còn một hai ý kiến phân vân vì địch còn mạnh, quần chúng chưa có kinh nghiệm đấu tranh bức rút, bức hàng và mũi tiến công quân sự của địa phương chưa thật đủ sức hỗ trợ.

Nhưng sau khi trao đi đổi lại, tất cả đều nhất trí địch tuy mạnh nhưng nằm trong thế thua, thế bị bao vây cô lập trong vùng làm chủ của ta, quân lính đang hoang mang dao động. Ta có một vài điểm yếu nhưng nằm trong thế mạnh, quần chúng đang bức xúc, căm ghét địch và đều mong muốn nhổ cái “gai” này sớm ngày nào hay ngày ấy để được sống tự do, đi lại làm ăn không bị chúng kìm kẹp, đe dọa.

Đây là thời cơ thuận lợi để ta thực hiện dùng áp lực quần chúng đấu tranh, nhất định thành công.

Ngày 20 tháng 2 năm 1971, mở đầu đợt đấu tranh ta đưa 300 quần chúng của hai thôn Phú Thứ, Phú Hòa, ra đấu tranh thực hành bao vây Gò Cớ. Địch trong đồn bắn ra uy hiếp. Quần chúng đã được chuẩn bị trước, nên ai nấy đều bình tĩnh thực hiện các bước đấu tranh đã bàn theo sự hướng dẫn trực tiếp của các cốt cán. Tốp đầu mười người có gia đình binh sĩ địch đi kèm được trang bị lý lẽ ứng phó mang thư, truyền đơn, tin chiến thắng đưa cho binh sĩ địch và tiến công mạnh về tư tưởng, tâm lý, đề cao uy thế ta, hạ uy thế địch, đe dọa chúng nếu bà con bị đàn áp, quân đội giải phóng sẽ đánh trả và cắt không cho xuống núi lấy nước.

Ngày 23 tháng 2, sau ba ngày chuẩn bị ta đưa lực lượng đấu tranh lên con số 1.000 người, có cả bà già và trẻ em, số gia đình binh sĩ ngụy đi đông hơn, từng tốp có cán bộ binh vận đi kèm. Ngay từ sáng sớm ta đã hình thành bao vây kín bốn phía. Vừa bao vây vừa phát loa kêu gọi, giải thích chính sách của Mặt trận Dân tộc giải phóng và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đối với binh lính, sĩ quan địch; kêu gọi binh lính, sĩ quan địch hãy trở về với nhân dân, với cách mạng, sẽ được cách mạng và nhân dân khoan hồng, đối xử nhân đạo, ai có công được khen thưởng.


(1) Gò Cớ là một chốt lớn nằm sát biển, giữa hai thôn Phú Thú, Phú Hòa thuộc xã Mỹ Đức, có hầm hào kiên cố, có một đại đội bảo an đóng giữ, kìm kẹp quần chúng quanh vùng và kiểm soát ven biển tử Phú Thứ đến thôn 9 xã Mỹ Thắng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #135 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2022, 07:37:32 am »

Cuộc đấu tranh trở nên phức tạp, căng thẳng. Mỗi lần ta gọi loa, địch bắn ra, ta bắn trả uy hiếp cảnh cáo địch. Sang ngày thứ tư, 24 tháng 3, đội quân đấu tranh chính trị càng đông thêm gần 1.500 người, vòng vây ép càng dày đặc, áp sát vào chân núi, cổng đồn. Địch bắn uy hiếp vào xóm làng làm chết một đồng bào ta, lập tức ta đánh trả, súng B40, cối 60, 80 bắn vào đồn địch. Địch hoảng sợ, chui vào công sự cố thủ. Chị Lang, vợ đồng chí Đinh Râu tự nguyện cầm lửa đốt nhà mình sát đồn, để đồng bào hợp pháp kéo lên chữa cháy sáp vào đồn địch đấu tranh. Tiếng la hét: lính bảo an bắn chết người, bắn cháy nhà dân! Hàng nghìn đồng bào có cả thôn 11 xã Mỹ Thắng tham gia vây sát đồn địch giữa ban ngày. Tiếng la vang dậy xung quanh chốt. Địch hoảng sự không dám phản ứng, hứa không bắn vào nhà. Vòng vây siết chặt không cho địch xuống lấy nước uống và mua thực phẩm.

Chúng tôi họp nhận định: địch đã núng thế đang co vào phòng thủ, ta càng phải đẩy mạnh tiến công, tổ chức khiêng xác người chết vào cổng đồn đấu tranh, bắt chúng phải bồi thường nhân mạng.

Địch hứa sẽ báo cáo lên cấp trên và yêu cầu nhân dân không bao vây Gò Cớ. Ta càng tổ chức quần chúng bao vây áp sát và lệnh cho đại đội vũ trang huyện và du kích tiến lên phía trước, sẵn sàng đánh trả địch, hỗ trợ nhân dân đấu tranh hô khẩu hiệu tiếp tục đòi chúng phải bồi thường nhân mạng, đòi chúng phải rút khỏi Gò Cớ.

Địch vẫn im lặng, chui vào các công sự đề phòng ta vào căn cứ. Khâu hiệu của ta lúc này vẫn là đòi chúng phải rút khỏi Gò Cớ và tiếp tục tiến công tư tưởng và tâm lý. Chúng tôi thống nhất nội dung tối hậu thư dưới danh nghĩa Bí thư huyện ủy Phù Mỹ gửi cho tên Xuân, trung úy đồn trưởng Gò Cớ. Nội dung tối hậu thư vừa tranh thủ vừa uy hiếp, vừa giải thích chính sách khoan hồng, tranh thủ lôi kéo và sẵn sàng trừng trị những ai ngoan cố chống lại cách mạng, chống lại nhân dân - “ông là người chỉ huy cao nhất ở đồn này, phải có trách nhiệm đối với tính mạng của anh em binh sĩ trong đơn vị và cả bản thân ông. Phải thức thời, không nên chết một cách vô ích, bỏ lại vợ con côi cút. Hãy lãnh đạo đơn vị trở về với nhân dân sẽ được cách mạng khoan hồng. Ai lập công sẽ được khen thưởng thích đáng, hoặc phải rút khỏi Gò Cớ để trả lại đất cho dân. Nếu không Quân giải phóng sẽ tiến công tiêu diệt”.

“Mời trung úy Xuân, đại đội trưởng đến gặp Mặt trận giải phóng huyện Phù Mỹ để bàn bạc cụ thể, khi đi không mang vũ khí, Quân giải phóng sẽ bảo đảm an toàn tính mạng”.

Tối hậu thư vừa gửi trực tiếp vừa phát lên loa để tranh thủ binh sĩ gây áp lực buộc Xuân phải thực hiện những điều nêu trong thư.

Ngày thứ bảy, Xuân cử một chuẩn úy và một trung sĩ xuống gặp. Ta không đồng ý và nói rõ chỉ gặp trung úy Xuân, người đủ thẩm quyền quyết định mọi việc có liên quan. Ngay sau khi hai tên chuẩn úy và trung sĩ về đồn, Xuân xuống mang theo bảy tên lính có vũ khí. Đồng bào la ó phản đối Xuân không chấp hành quy định nêu trong tối hậu thư. Xuân buộc phải thực hiện.

Cuộc nói chuyện bắt đầu. Phía ta, đồng chí Trần Thị Nhung, phó ban binh vận huyện, đại diện Mặt trận Dân tộc giải phóng huyện, đồng chí Đinh Râu, đảng ủy viên xã, đại diện Mặt trận dân tộc giải phóng xã Mỹ Đức và một đại diện nhân dân.

Mở đầu đồng chí Trần Thị Nhung tiến công tinh thần Xuân bằng thông báo tin tức chiến thắng chung toàn quân khu và riêng vùng đông Phù Mỹ, sau đó đồng chí nêu hai điểm yêu cầu ghi trong tối hậu thư. Tên Xuân xịu xuống, mặt cúi gằm đắn đo, căng thẳng và bối rối viện nhiều lý do để hoãn binh. Đồng chí Trần Thị Nhung đã chuẩn bị sẵn tình huống này, chủ động tiến công tiếp, phân tích lý tình và khẳng định lúc này chỉ có hai cách lựa chọn, không thể có cách thứ ba. Không thể đắn đo, trông chờ vào ai hết, chỉ có mình tự cứu lấy mình, chậm là hết thời cơ... Cuối cùng tên Xuân được ta mở đường, xua đi mặc cảm về thân phận đã tự quyết định - Hứa với Mặt trận giải phóng, đại đội bảo an chúng tôi xin rút khỏi Gò Cớ, trả đất cho nhân dân.

Cuộc tiến công bằng ba mũi giáp công của nhân dân xã Mỹ Đức đã thu được thắng lợi giòn giã sau bảy ngày đấu tranh gay go và phức tạp. Địch đã buộc phải rút khỏi cứ điểm Gò Cớ vào hồi 4 giờ chiều ngày 27 tháng 2 năm 1971.

Trong những ngày tiếp theo, nhiều nơi của Hoài Nhơn và Phù Mỹ làm theo cách làm của Gò Cớ đã nổi dậy bao vây bức rút, bức hàng 59 đồn bốt, giải phóng gần hai vạn dân thoát khỏi hệ thống chốt điểm kìm kẹp của kẻ thù, trở về làng cũ làm ăn.

Thế là lời thề mở một đợt hoạt động tiến công và nổi dậy mạnh mẽ tiêu diệt địch, chống phá bình định giành quyền làm chủ, củng cố và mở rộng vùng giải phóng mà đồng chí Bí thư Khu ủy đọc trong buổi Lễ truy điệu Bác Hồ ngày 11 tháng 9 tại vùng sâu huyện miền núi Phước Sơn (Quảng Nam) đã trở thành hiện thực. Quân dân Khu 5 vượt lên mọi khó khăn, biến đau thương thành sức mạnh tạo ra một chuyển biến mạnh mẽ cả thế và lực có lợi cho ta được mở ra từ đầu tháng 2 năm 1971...
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #136 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2022, 07:39:52 am »

2

Vẫn biết cái phải đến sẽ đến. Thắng lợi Tết Mậu Thân 1968 đã tạo tiền đề dẫn đến sự kiện 1972. Nhưng khi không khí chuẩn bị lặng lẽ mà sôi động cho “thắng lợi quyết định” này từ Hà Nội vào đến Khu 5 thì ai nấy đều rộn ràng niềm vui, có chút ngỡ ngàng - sao nhanh thế?

Giữa lúc cán bộ, chiến sĩ các đơn vị chủ lực Quân khu còn chưa hết “xốc” về quyết định giải thể Sư đoàn 3, phân tán các trung đoàn về cùng với các lực lượng vũ trang địa phương, với dân quân du kích ở các vùng trọng điểm, đánh những trận nhỏ lẻ, diệt các nhóm bảo an, dân vệ, bọn tề điệp ác ôn kìm kẹp, hỗ trợ nhân dân nổi dậy chống phá “bình định”; giữa lúc Sư đoàn 2 do Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn chỉ huy vì địa bàn hoạt động bị co hẹp, vì vũ khí trang bị hao hụt chưa được bổ sung, vì nguồn gạo, thực phẩm cạn kiệt phải tạm thời ra đường 9 để củng cố, thì Bộ chỉ huy tối cao của ta từ tầm nhìn xa, từ phân tích khách quan và khoa học về so sánh lực lượng đã đi đến một quyết định táo bạo mà sáng suốt: “Đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và ngoại giao, phát triển thế chiến lược - tiến công mới trên toàn chiến trường Đông Dương, đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ, đánh bại một bước quan trọng kế hoạch xâm lược của chúng đối với Cam-pu-chia và Lào, giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trên thế thua”(1).

Trong khi chúng tôi đang còn chụm đầu vào nhau ở vùng giáp ranh xã Mỹ Lộc (tây huyện Phù Mỹ) vừa bị bom đạn Mỹ cày xới mà bàn phải thắng thủ đoạn giăng dựng chốt điểm khắp nơi của địch để “bình định” kìm kẹp dân tại chỗ, thì một chiến dịch vận tải trên quy mô lớn hối hả suốt ngày đêm đưa sức người sức của(1) từ hậu phương miền Bắc vào tiền tuyến miền Nam phục vụ cho mùa ra trận mới. Chỉ trong ba tháng đầu năm 1972, Đoàn 559 đã hoàn thành chỉ tiêu vận chuyển cả năm.

Có một chuyện thật mà ngỡ huyền thoại. Đó là vào đầu thu đông năm 1971, tiểu đoàn xe tăng 171 đã từ Quảng Bình đi theo một con đường dành riêng dài gần 2.000 ki-lô-mét (có 900 ki-lô-mét đường quân sự làm gấp) vào tới Đông Nam Bộ đúng vào mùa xuân năm 1972, để kịp tham gia chiến dịch mang tên người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ, tháng 4 năm 1972.

Việc xe tăng ta bất thần xuất hiện, tham gia tiến công thị xã An Lộc, cách Sài Gòn khoảng 80 ki-lô-mét về phía đông đã gây chấn động dư luận trong và ngoài nước, đặc biệt là trong chính giới Mỹ và những người cầm đầu Lầu Năm Góc, Bộ Quốc phòng và cầm đầu Bộ Ngoại giao Mỹ lúc bấy giờ.

Tổng thống Mỹ Ních-xơn vội vã triệu tập cuộc họp hội đồng an ninh quốc gia để “giải mã” và Bộ Quốc phòng Mỹ họp để tìm nguyên nhân vì sao xe tăng đối phương vào đến cửa ngõ Sài Gòn mà các phương tiện trinh sát điện tử hiện đại phát hiện từ xa vẫn không hề hay biết!?

Còn trên bàn thương nghị tại Pa-ri, Kít-xinh-giơ, bộ trưởng ngoại giao và là trưởng đoàn thương lượng Mỹ, trong giờ nghỉ giải lao, cố tỏ ra bình tĩnh nói với cố vấn Lê Đức Thọ - nếu được sang thăm Hà Nội, hy vọng của tôi muốn biết làm thế nào mà các ông có thể đưa được xe tăng đi xa đến như vậy?

Cảm xúc cứ theo thời gian mà dâng đầy trong tâm khảm chúng tôi qua sự điều hành và chỉ đạo đầy thông minh và sáng tạo của Bộ chỉ huy tối cao, qua những biến thiên diễn ra sau đó đã đưa cuộc tiến công chiến lược 1972 đi đến thắng lợi giòn giã như một dấu son chói lọi trong trận chiến ba mươi năm mà tôi tiếp tục kể cùng bạn đọc.

Cuộc tiến công chiến lược 1972 theo dự kiến ban đầu được thực hiện trên ba hướng: Đông Nam Bộ là hướng chủ yếu thứ nhất; Tây Nguyên mà chủ yếu là Bắc Tây Nguyên là hướng chủ yếu thứ hai; Quảng Trị - Thừa Thiên là hướng tiến công quan trọng.


(1) Nghị quyết Bộ Chính trị Trung ương Đảng tháng 5 năm 1971.
(2) Cùng với 800 xe vận tải đưa 16 vạn tấn hàng, một vạn tấn xăng dầu, 55.000 cán bộ chiến sĩ từ miền Bắc hành quân vượt Trường Sơn. Sư đoàn 320, trung đoàn 24, trung đoàn 27, trung đoàn bộ binh 271, ba tiểu đoàn xe tăng, 20 tiểu đoàn pháo mặt đất, cao xạ, 2.000 thợ sửa chữa và 9 tiểu đoàn, 44 đại đội địa phương, hàng nghìn cán bộ cao cấp, trung cấp tham mưu, chính trị, hậu cần kỹ thuật được bổ sung tăng cường cho chiến trường miền Nam, cũng có mặt trước tháng 3 năm 1972. Nam Bộ, chiến trường xa nhất, trước ngày nổ súng cũng đã nhận được 2 trung đoàn bộ binh (24 và 271), 2 tiểu đoàn pháo 85mm, 1 tiểu đoàn pháo 122mm, 2 tiểu đoàn cao xạ 37mm, 1 tiểu đoàn xe tăng 20 (36 chiếc), 1 đại đội tên lửa chống tăng B72. vì tiếng gọi của tiền tuyến lớn, cán bộ, chiến sĩ các đơn vị hành quân ròng rã 60 ngày đêm vượt qua hơn 1.200 ki-lô-mét đường rừng, đưa đến chiến trường an toàn 97% số xe pháo và trang bị, vật tư kỹ thuật. Đây là một trong những chiến công xuất sắc trước khi trận đánh bắt đầu.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #137 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2022, 07:41:03 am »

Theo cảm thụ của tôi, ý tưởng ban đầu sở dĩ có sự sắp xếp các hướng tiến công trên đây là đánh rắn thì phải đánh dập đầu hoặc muốn làm chủ Đông Dương, khống chế đồng bằng Khu 5 thì phải làm chủ địa bàn chiến lược Tây Nguyên, trước hết là Bắc Tây Nguyên.

Lịch sử chiến tranh giữ nước của dân tộc ta cho thấy vấn đề chọn đúng phương hướng tiến công chiến lược, nhất là hướng chủ yếu để đánh đòn quyết định là vấn đề hết sức quan trọng. Với một lực lượng nhất định, nếu ta tiến công trên hướng này thì có thể diệt được một lực lượng nhất định nhưng không gây được tác động lớn đến cục diện chung. Thắng lợi thu được chỉ ở tầm chiến dịch, chiến thuật. Nếu ta biết chọn đúng hướng khác để đánh đòn quyết định thì thắng lợi thu được sẽ có tầm quan trọng về chiến lược, như hướng tiến công Đông Khê trong chiến dịch Biên Giới tháng 10 năm 1950, hướng tiến công bắc Kon Tum trong chiến dịch Bắc Tây Nguyên trong Đông Xuân 1953-1954, hướng tiến công Điện Biên Phủ trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, v.v... Mỗi hướng tiến công đó đã làm chuyển biến cục diện, dẫn đến chuyển biến toàn cục, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, miền Bắc hoàn toàn giải phóng trở thành hậu phương lớn, thành nhân tố thường xuyên góp phần thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Ngày 23 tháng 3 năm 1972, Bộ Chính trị nghe báo cáo và duyệt đề nghị của Quân ủy Trung ương chuyển Quảng Trị - Thừa Thiên thành hướng chiến lược chủ yếu.

Sở dĩ có sự điều chỉnh trên đây là vì cuộc tiến công này phải giáng đòn quyết định của bộ đội chủ lực vào địa bàn dễ gây tác động lớn đến quá trình thực hiện yêu cầu do Bộ Chính trị đề ra. Có nghĩa là phải đánh mạnh vào nơi địch mạnh hoặc tương đối mạnh, nơi hiểm yếu của địch, buộc địch phải đối phó quyết liệt với những cố gắng chiến tranh rất cao của chúng. Đối với ta, đây cũng là nơi có điều kiện để ta phát huy cao nhất sức mạnh của bộ đội chủ lực, của hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Vào thời điểm này vùng đất Quảng Trị - Thừa Thiên thỏa mãn được yêu cầu đó. Địch ở khu Quảng Trị - Thừa Thiên rất đông, có hai sư đoàn tăng cường, hai lữ đoàn thủy quân lục chiến, nhiều tiểu đoàn pháo binh, ba thiết đoàn xe tăng, xe bọc thép; có hệ thống phòng ngự kiên cố vững chắc, hệ thống hỏa lực mạnh. Nhưng chỗ yếu cơ bản của địch ở đây là thiếu lực lượng dự bị, bố trí vòng ngoài mạnh nhưng bên trong sơ hở. Từ khi bộ binh Mỹ phải rút đi quân ngụy mất chỗ dựa, tinh thần chiến đấu kém.

Đối với bộ đội ta, một yếu tố có tầm quan trọng quyết định là chiến trường Quảng Trị - Thừa Thiên kề sát hậu phương miền Bắc, sẽ được sự chỉ đạo kịp thời của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh. Nó có điều kiện phối hợp, hỗ trợ có hiệu quả cho những cuộc đấu tranh chính trị, đấu tranh ngoại giao diễn ra hàng ngày hàng giờ của ta trên diễn đàn quốc tế. Diễn biến chiến dịch, càng ác liệt, khối lượng binh lực, hỏa lực, phương tiện vật chất đưa vào cuộc chiến đấu ngày càng rất lớn. Chỉ có địa bàn Quảng Trị - Thừa Thiên mới có điều kiện tiếp nhận và phát huy cao nhất những yêu cầu lớn và đột biến cả về người và vũ khí liên tiếp sẽ diễn ra.

Theo kế hoạch tác chiến, chỉ còn bảy ngày nữa là quân ta nổ súng mở màn chiến dịch tiến công trên hướng Trị - Thiên. Nhưng địch vẫn cho rằng năm 1972 ta mới chỉ đủ sức mở một chiến dịch lớn trên hướng Tây Nguyên. Tết Nhâm Tý trôi qua vẫn không thấy động tĩnh gì. Tâm lý chủ quan của địch tăng lên. Rồi tình báo địch phát hiện Sư đoàn 304 đang hành quân lên hướng Tây Nguyên. Địch càng tin là chúng đã phán đoán đúng hướng tiến công chủ yếu của ta.

Như vậy là hướng tiến công chiến lược chủ yếu Quảng Trị - Thừa Thiên vẫn được giữ kín.

Đó là kết quả của nghệ thuật chỉ đạo nghi binh lừa địch của ta.

Từ giữa năm 1972 hoạt động quân sự của địch trên chiến trường miền Trung giảm rõ rệt so với những năm trước. Chúng không mở một cuộc hành quân nào lớn lên vùng căn cứ rừng núi hoặc giáp ranh của ta ở đồng bằng, phần lớn các cuộc đánh phá càn quét của địch quy mô trung đoàn nhằm yểm trợ cho kế hoạch “bình định bổ sung”. Nguyên nhân do quân ngụy Sài Gòn không thể thay thế được vai trò quân Mỹ mà quân Mỹ cứ phải tiếp tục rút(1). Mặt khác cũng do ta đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm đối phó với địch, nên mặc dầu phần lớn các đơn vị chủ lực và một nửa lực lượng vũ trang địa phương tỉnh huyện luân phiên rút về căn cứ củng cố. Địch vẫn không lấn chiếm được thôn ấp nào.


(1) Đến tháng 6 năm 1971, ở Khu 5 lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ đã rút hết. Chỉ còn sư đoàn A-mê-ri-cơn ở Quảng Nam, Quảng Ngãi lữ đoàn 173 ở các tỉnh phía nam quân khu nhưng ít hoạt động. Quân chư hầu Nam Triều Tiên cũng co cụm lại để chờ ngày về nước.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #138 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2022, 07:43:35 am »

Sau Xuân Hè năm 1971, Thường vụ Khu ủy, Đảng ủy quân sự và Bộ tư lệnh Quân khu 5 họp nhằm quán triệt Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 5 năm 1971 Nghị quyết Quân ủy Trung ương tháng 6 năm 1971 và bàn kế hoạch thực hiện các nghị quyết quan trọng này.

Để chuẩn bị thực hiện cuộc tiến công chiến lược năm 1972, hội nghị quyết định một số công việc cần kíp trước mắt:

1. Gấp rút tăng cường lực lượng vũ trang cả về số lượng và chất lượng. Xây dựng các đơn vị chủ lực đủ sức tiêu diệt từng trung đoàn, đánh quỵ từng sư đoàn quân chủ lực ngụy. Xây dựng bộ đội địa phương tỉnh, huyện, dân quân du kích đủ sức độc lập hay phối hợp với bộ đội chủ lực đánh bại quân địa phương của địch, tiêu diệt từng cụm chốt điểm lớn, phá vỡ hệ thống kìm kẹp của địch từng khu vực rộng, mở vùng giải phóng liên hoàn 5 - 7 xã.

2. Tiếp tục phát động quần chúng xây dựng thực lực chính trị cả ở nông thôn và đô thị, xây dựng các đoàn thể quần chúng, củng cố đội ngũ đấu tranh chính trị và ban lãnh đạo đấu tranh chính trị, sẵn sàng phối hợp và tranh thủ khi có tiến công quân sự, kịp thời lãnh đạo quần chúng nổi dậy đấu tranh từ thấp đến cao, phá ấp chiến lược, khu dồn trở về làng cũ làm ăn.

3. Đẩy mạnh sản xuất, xây dựng căn cứ, bảo đảm nguồn lương thực tại chỗ, đồng thời ra sức khai thác thu mua vận chuyển nguồn hàng từ vùng địch ra và tiếp nhận nguồn chi viện từ hậu phương lớn vào, chuẩn bị cho tác chiến quy mô tương đối lớn, dài ngày.

Đúng là việc xây dựng lực lượng vũ trang phục vụ tác chiến tập trung, tiêu diệt lớn quân địch không phải chỉ đáp ứng cho cuộc tiến công chiến lược 1972 mà còn là một đòi hỏi cấp bách của địa phương. Hai năm 1969-1970, trong nhiệm vụ chống phá “bình định”, Khu 5 có nhiều thành tích, nhưng nhìn chung vẫn còn hạn chế là quần chúng nổi dậy chưa thật mạnh mẽ, vì địch đóng chốt điểm ở nhiều nơi, thôn ấp nào cũng có từ 5-10 chốt điểm để kìm kẹp quần chúng. Nếu chúng ta cứ bằng lòng với cách phân tán, đánh nhỏ lẻ như hiện nay thì không thể có nổi dậy mạnh mẽ và rộng khắp được. Đã đến lúc ta cần sắp xếp, tổ chức lại lực lượng, huấn luyện đầy đủ về chiến thuật, kỹ thuật cho bộ đội, cán bộ cần được bồi dưỡng về nghệ thuật chiến dịch thì mới có những hoạt động đem lại hiệu quả lớn. Tình hình đã và đang đòi hỏi phải nâng cao chất lượng bộ đội, không thể dậm chân tại chỗ mãi được.

Vừa nghĩ như thế, vừa nhớ lại lời chỉ đạo của đồng chí Đoàn Khuê sau truy điệu Bác Hồ tháng 9 năm 1969 là phải tìm ra hình thức chiến dịch mới là chiến dịch tổng hợp tấn công nên tôi được phép Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu tạm hoãn điều hành nhiệm vụ Chủ nhiệm chính trị quân khu, trở lại Mặt trận Bình Định, trở lại Sư đoàn 3 để cùng các anh trong Thường vụ Tỉnh ủy và Bộ tư lệnh sư đoàn tham gia xây dựng đơn vị theo yêu cầu đòi hỏi của tình hình và nhiệm vụ mới.

Thế là tôi đi cùng các anh Võ Chí Công và anh Chu Huy Mân, Chính ủy và Tư lệnh quân khu trở lại nơi đã để lại trong tôi bao dấu ấn tốt đẹp khó quên.

Công việc trước mắt là tôi cùng với các anh trong Bộ tư lệnh sư đoàn tổ chức lại lực lượng theo cơ cấu sư đoàn mà Bộ tư lệnh Quân khu vừa ký quyết định tái lập lại với số hiệu truyền thống Sư đoàn 3 gồm 3 trung đoàn: trung đoàn 2, trung đoàn 12 và trung đoàn 21 mới được bổ sung cùng các đơn vị trực thuộc pháo binh, công binh, thông tin, đặc công, tiến hành học tập chính trị và quân sự theo chương trình chính quy, đáp ứng yêu cầu đánh lớn.

Nhưng có “thực túc” thì binh mới cường, vì vậy tôi đã cùng sư đoàn tham gia chiến dịch lương thực âm thầm mà đầy sôi động.

Trong một hoàn cảnh bộn bề công việc mà việc nào cũng phải tiến hành, thế mà các đồng chí trong Bộ tư lệnh sư đoàn: Sư đoàn trưởng Huỳnh Hữu Anh, Chính ủy Mai Tân, Phó sư đoàn trưởng Việt Sơn và các đồng chí giúp việc: Tham mưu trưởng Trần Bá Khuê, Chủ nhiệm chính trị Nguyễn Ngọc Tiến, Chủ nhiệm hậu cần Nguyễn Hữu Xuân đã nhanh chóng định ra một phương châm làm việc rất thông minh - chuẩn bị lương thực là trọng tâm số một, huấn luyện chiến thuật mới là then chốt, hoạt động giữ thế chiến trường là quan trọng với một tiến độ: ba tháng chuẩn bị lương thực, hai tháng huấn luyện quân sự, tháng cuối cùng huấn luyện bổ sung, diễn tập và tổ chức đánh một trận để rút kinh nghiệm.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #139 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2022, 07:45:27 am »

Anh Huỳnh Hữu Anh mời tôi tham gia ban chỉ đạo chiến dịch lương thực. Tôi cám ơn và nói: Hãy để cho mình tham gia với tư cách là phái viên của quân khu mới có điều kiện có mặt ở nhiều nơi nhất là ở những nơi trọng điểm, kịp thời phát hiện các vấn đề cần khắc phục và cổ vũ động viên những việc làm tốt, những người làm tốt.

Chiến dịch lương thực diễn ra vào giữa năm 1971. Hậu cần Quân khu, hậu cần mặt trận và hậu cần sư đoàn, tỉnh đội cùng các cơ quan chi viện tiền phương của Khu ủy, các tỉnh ủy dồn sức thu mua và vận chuyển lương thực, hàng nghìn cán bộ chiến sĩ liên tục mấy tháng liền, đêm nào cũng vượt qua các vùng địch kiểm soát xuống các vùng phía đông đường số 1 để chuyển gạo cất giấu trong dân về căn cứ. Phụ nữ và các cháu thiếu nhi là lực lượng quan trọng chuyển gạo từ vùng địch ra vùng giải phóng. Mặt trận Tây Nguyên tổ chức mua và vận chuyển gạo từ Đông Bắc Cam-pu-chia và Hạ Lào. Đến cuối năm 1971, Tây Nguyên đã dự trữ được 1.920 tấn, đồng bằng được 2.300 tấn.

Tôi muốn mở vòng ngoặc kể cùng bạn đọc những gì tôi được chứng kiến, được tham gia cùng Sư đoàn 3 thực hiện chiến dịch lương thực do Thường vụ Khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 5 chủ trương.

Tháng 7, với những trận mưa tầm tã đầu mùa, những đêm trăng trong suốt không gian, sư đoàn bước vào chiến dịch vận chuyển gạo khổng lồ mà sau này các chiến sĩ thường gọi là chiến dịch “kiến tha mồi”.

Những dòng người, bằng nhiều ngả đường khác nhau đổ xuống đồng bằng, tới vùng giáp biển. Một lần nữa bà con cô bác Bình Định lại biểu lộ tấm lòng thơm thảo của mình đối với Sư đoàn 3. Nhiều bà con cô bác gánh gạo tới gặp cán bộ địa phương la lối ầm ĩ: “Trời ơi! Có vài chục ký gạo, mắc chi các chú trả tiền?”. Nhân dân Bình Định là những người cung cấp lương thực vô tận cho sư đoàn.

Lại nhớ về việc làm nghĩa cử của nhân dân xã Mỹ Tài, một vùng cát nguồn sống chính là sắn, khoai. Không biết từ bao giờ và ai là tác giả, hễ nhắc đến những câu: “Tối ăn khoai đi ngủ, sáng ăn củ đi làm”; hoặc “Vạn Ninh, Vạn Thái(1) có tài, nấu một lon gạo nồi hai(2) cũng đầy” là dân quanh vùng hiểu đó là xã Mỹ Tài, một vùng quê nghèo về gạo thóc nhưng giàu lòng thương yêu đùm bọc. Trước cảnh bộ đội sư đoàn thiếu lương thực, phải ăn củ nần, rau rừng thay cơm, người xanh như tầu lá mà thương, cứ băn khoăn, day dứt trong lòng! Gạo không có, sắn thì vừa nặng vừa cồng kềnh, để lâu chảy nhựa đắng không ăn được, có khi còn nguy hiểm chết người vì say sắn.

Cuối cùng đồng bào bảo nhau chỉ còn cách chế biến thành bột, nhiều gia đình chế thành tinh bột, phơi khô đóng vào bao cát Mỹ (loại bao Mỹ dùng nhồi cát để làm các công sự dã chiến), mỗi bao dồn được từ 5 đến 10 ki-lô-gam đem vùi xuống “điểm hẹn”.

Đêm đến bộ đội vượt qua đường số 1 về nhận, để lại mảnh giấy biên nhận - Chúng con đã nhận đủ, xin cảm ơn bà con cô bác!

Xin trở lại chuyện đang kể. Chiến dịch vận chuyển gạo kéo dài hết ngày này qua ngày khác, các mạng thông tin, trinh sát hợp pháp luôn luôn được tung xuống đồng bằng nắm địch và bảo vệ tuyến hành lang vận chuyển, cảnh ngày nghỉ, đêm đi vất vả nguy hiểm mà vui. Ban ngày trú ẩn ở các cửa rừng, Suối Son, Dốc Dài, Cát Hanh, Cát Hiệp, lúc trời xấu, máy bay ít quần lượn, cũng là lúc những cánh võng giăng kín rừng. Bộ đội, dân công, các đơn vị vận tải có nam, có nữ có dịp làm quen, rồi hát hò, ghi địa chỉ hò hẹn... Tối đến từng đại đội, tiểu đoàn bám sát cán bộ địa phương đến các thôn, ấp nhận gạo. Chỗ trực tiếp lấy trong từng gia đình, chỗ ra đồng bới các ngôi mộ ngụy trang, bên dưới là gạo, là cá khô, mắm muối... Mỗi đêm có hàng nghìn người tràn xuống đồng bằng lấy hàng. Cứ như vậy, ngày nghỉ trên núi, tối tràn xuống đồng bằng. Tỉnh ủy Bình Định đã chỉ đạo ngành lương thực, bằng mọi biện pháp, kiên quyết cấp đủ gạo và thực phẩm cho sư đoàn đúng kỳ hạn. Ngoài nhân dân cung cấp, các chiến sĩ còn có nguồn lương thực thực phẩm khá lớn của lính Nam Triều Tiên. Mỗi ngày cơ sở địa phương đã thu mua được của chúng hàng xe GMC gạo, thịt, cá hộp, máy thông tin, đôi khi cả vũ khí nữa.

Chiến dịch gạo diễn ra sôi động, lạc quan như những ngày hội giao lương nhưng không kém phần ác liệt. Nhiều chuyến, bộ đội vai gùi, tay nổ súng đánh địch, cướp đường mà đi. Hàng trăm chiến sĩ, đồng bào đã hy sinh. Có đồng bào mang thương tích suốt đời vì bị địch khảo tra. Có gùi gạo, gùi muối khi đổ vào kho còn đỏ loang vết máu.


(1) Tên các thôn trong xã Mỹ Tài.
(2) Nồi hai nấu được ki-lô-gam gạo chợ - ý nói là sắn cõng cơm vì thiếu gạo
« Sửa lần cuối: 19 Tháng Bảy, 2022, 07:50:42 am gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM