Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:52:31 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân giải phóng Miền Nam Việt Nam trên chiến trường B2 1961-1976  (Đọc 14193 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #20 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2023, 02:56:16 pm »

Trên địa bàn miền Đông Nam Bộ: tại Tây Ninh, Tiểu đoàn 20 bộ đội chủ lực Miền vận động tiến công lực lượng biệt kích ngụy tại Bàu Cối, xã Lộc Ninh, huyện Dương Minh Châu (19-6-1964)1 (Tiêu diệt 70 tên địch, bắt 3 tên, thu 45 súng các loại (trong đó có 1 súng đại liên, 2 trung liên, 1 súng M79 và 41 súng AR15) và 2 máy vô tuyến điện PRC25 cùng nhiều trang bị của địch. Ta hy sinh và bị thương 5 đồng chí. Trận đánh thắng lợi góp phần cổ vũ phong trào cách mạng ở Tây Ninh, đặc biệt ta tiêu diệt gọn 1 đại đội biệt kích sừng sỏ của địch, làm cho địch hoang mang, dao động trước khả năng chiến đấu dũng cảm, ngoan cường của Quân giải phóng).


Tại Phước Thành, Tiểu đoàn 800 chủ lực miền Đông Nam Bộ sử dụng lối đánh cường tập tấn công Đại đội 324 biệt động quân ngụy tại ấp Bình Cơ, xã Phước Lộc, huyện Tân Uyên (13-5-1964)2 (Tiêu diệt 34 tên địch, bắt 3 tên, thu 12 súng, 85 lựu đạn, 5.200 viên đạn và 3 máy điện thoại. Tiêu hao tổn thất của ta: hy sinh 3 đồng chí, bị thương 6 đồng chí, tiêu thụ 10 đạn cối 82mm, 22 đạn cối 60mm, 15 đạn ĐKZ, hơn 500 đạn nhọn. Trận đánh có sự hiệp đồng tác chiến chặt chẽ, thống nhất giữa đặc công, bộ binh và hỏa lực nên phát huy sức mạnh chiến đấu, tạo thế áp đảo quân địch để ta thực hiện ý định đánh nhanh, diệt gọn địch, ta thương vong, tổn thất thấp. Trận đánh cho thấy trình độ tổ chức, chỉ huy hiệp đồng chiến đấu của lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ có những bước phát triển trưởng thành mới. Từ trận đánh, lực lượng vũ trang Đông Nam Bộ có thêm kinh nghiệm về tổ chức chiến đấu và cách đánh dùng đặc công bí mật mở cửa mở, bộ binh thực hành đột kích đánh chiếm mục tiêu).


Tại Biên Hòa, Tiểu đoàn 800 chủ lực Quân khu Đông Nam Bộ phối hợp với bộ đội huyện Vĩnh Cửu tập kích lực lượng bảo an, cảnh sát dã chiến tại thị trấn Hiếu Liêm, huyện Vĩnh Cửu (12-8-1964)3 (Ta diệt 1 đại đội bảo an, 2 tiểu đội cảnh sát dã chiến, 3 đội dân vệ; bắt 43 tên địch, thu 120 súng các loại (có 1 cối 81mm) và 2 máy thông tin PRC25. Ta hy sinh 5, bị thương 13 đồng chí. Trận tiến công chi khu quân sự Hiếu Liêm giành thắng lợi lớn. Ta tiêu diệt gọn, bắt nhiều tù binh, thu nhiều vũ khí, trang bị của địch, giải phóng 7.000 dân khỏi ấp chiến lược, thực hiện tốt nhiệm vụ mở rộng tuyến hành lang đông nam Chiến khu Đ). Đại đội 270 bộ đội địa phương huyện Vĩnh Cửu phối hợp với du kích xã Bình Long tập kích lực lượng dân vệ tại đồn Bình Long, xã Bình Long, huyện Vĩnh Cửu (12-9-1964). Lực lượng vũ trang huyện Định Quán tập kích lực lượng bảo an tại ấp chiến lược Đồng Hiệp (15-7-1964). Đoàn pháo binh U80 chủ lực Miền kết hợp với Đại đội pháo mang vác Quân khu miền Đông tập kích sân bay Biên Hòa, bắn cháy và làm hỏng 59 máy bay các loại, trong đó có cả máy bay B57, làm nô 2 kho bom, phá sập nhiều trại lính (31-10-1964)1 (Trận pháo kích sân bay Biên Hòa là trận đánh Mỹ đầu tiên của lực lượng pháo binh Miền (B2) đạt hiệu suất chiến đấu rất cao. Chỉ với 176 viên đạn cối, ĐKZ, lựu pháo, ta đã phá hủy rất nhiều phương tiện chiến tranh, tiêu diệt nhiều địch, gây chấn động dư luận trong nước và ở nước Mỹ).


Tại Thủ Dầu Một, Tiểu đoàn Phú Lợi phối hợp với Đại đội 61, Đại đội 81 bộ đội huyện Bến Cát tập kích Tiểu đoàn biệt kích “Lôi Hổ” tại ấp Đồng Sổ, xã Lai Uyên, huyện Bến Cát (28-12-1964)...

Đặc biệt, đợt hoạt động mùa khô 1964-1965 trên mặt trận miền Đông Nam Bộ, Quân giải phóng Miền kết hợp với Quân giải phóng Quân khu miền Đông mở Chiến dịch Bình Giã2 (Trong hơn một tháng thực hiện chiến dịch tiến công tổng hợp, từ ngày 2-12-1964 đến ngày 3-1-1965, hai trung đoàn chủ lực Miền là lực lượng chủ yếu tham gia chiến dịch đã đánh 5 trận cấp trung đoàn, 2 trận cấp tiểu đoàn, tiêu diệt gọn 2 tiểu đoàn chủ lực ngụy, có 1 tiểu đoàn thủy quân lục chiến thuộc lực lượng dự bị chiến lược của ngụy, một chi đoàn xe bọc thép M113 cùng lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương, diệt và bắt nhiều sinh lực địch, phá hủy 45 xe quân sự (chủ yếu là M113), bắn rơi 56 máy bay các loại (chủ yếu là trực thăng). Chiến dịch thực hiện thắng lợi các mục tiêu đã đề ra), ở hướng thứ yếu, Quân giải phóng Quân khu 6 mở chiến dịch tấn công đồn bót của quân ngụy ở Hoài Đức, Tánh Linh...


Thực hiện chiến dịch, Quân giải phóng tấn công ấp chiến lược Bình Giã, chi khu quân sự Đức Thạnh (2-12-1964), chi khu quân sự Đất Đỏ, chi khu Xuyên Mộc, căn cứ huấn luyện biệt kích Vạn Kiếp (7-12-1964). Đó là những căn cứ quân sự quan trọng ở Bà Rịa được chính quyền Sài Gòn bố trí ở mỗi chi khu từ một đại đội đến một tiểu đoàn bảo an và vòng ngoài là hệ thống đồn bót của lực lượng dân vệ, phòng vệ dân sự. Ngoài ra, chính quyền Sài Gòn còn bố trí Tiểu đoàn 36 biệt động quân tại Phú Mỹ; ở Phước Lễ một chi đội xe cơ giới, hai trung đội pháo 105 ly và các tiểu đoàn 30, 35, 33 biệt động, Tiểu đoàn 3 thủy quân lục chiến, một lữ đoàn dù, một trung đoàn xe M113 thuộc Quân đoàn 3 ngụy... tạo nên tuyến phòng ngự vững chắc kết nối Bà Rịa với Long Khánh với đường số 1. Có thể nói, đây là tuyến phòng ngự có tầm chiến lược quân sự quan trọng đối với thủ phủ Sài Gòn.


Để thực hiện Chiến dịch Bình Giã, Bộ Chỉ huy Miền huy động khoảng 7.000 quân, bao gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích1 (Gồm 2 trung đoàn bộ binh chính quy 1 và 2 (Q761, Q762), Đoàn 80 pháo binh (bốn tiểu đoàn), 2 tiểu đoàn chủ lực Quân khu miền Đông (Tiểu đoàn 500, Tiểu đoàn 800), 1 tiểu đoàn Quân khu 6 (Tiểu đoàn 186) cùng với lực lượng bộ đội địa phương tỉnh (Đại đội 445 của Bà Rịa), huyện và du kích các xã). Sau khi ấp chiến lược Bình Giã bị Quân giải phóng đánh chiếm, chính quyền Sài Gòn đã sử dụng Tiểu đoàn 38 biệt động, Chi đoàn 3 thiết giáp, trực thăng chiến đấu... đổ quân xuống tây nam Đức Thạnh, tái chiếm ấp chiến lược Bình Giã; mở cuộc hành quân Bình Tuy 33 càn quét giải tỏa dọc lộ số 2, đoạn từ Bình Giã đến Đức Thạnh...


Ngày 27-12-1964, Quân giải phóng tiếp tục mở Chiến dịch Bình Giã đợt 2. Để đối phó, chính quyền Sài Gòn phải huy động 24 máy bay lên thẳng vũ trang, 50 máy bay lên thẳng chở Tiểu đoàn 33 biệt động quân từ Biên Hòa đổ xuống đông bắc ấp Bình Giã. Tiếp đó, chính quyền Sài Gòn tổ chức cuộc hành quân Hùng Vương 2 với 2.000 quân, bao gồm lính dù, thủy quân lục chiến, thiết giáp, máy bay lên thẳng... đổ xuống Bình Giã với hy vọng đẩy lùi Quân giải phóng (1-1-1965)...


Ngày 3-1-1965, Chiến dịch Bình Giã kết thúc. Quân lực Việt Nam Cộng hòa thiệt hại nặng: Tiểu đoàn 33 biệt động quân, Tiểu đoàn 4 thủy quân lục chiến, Chi đoàn 3 M113 thuộc Thiêt đoàn 1, hai đoàn xe cơ giới, ba tiểu đoàn biệt động quân (30, 35, 38 ), 7 đại đội bảo an, các đội dân vệ... bị đánh bại và hầu như tê liệt hoàn toàn. Gần 1.755 binh sĩ chết và bị thương, 193 binh sĩ bị bắt, 45 xe quân sự bị phá hỏng, 56 máy bay các loại bị bắn cháy...1 (Xem Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia - Viện Sử học: Việt Nam - Những sự kiện lịch sử (1945-1975), Nxb. Giáo dục Hà Nội 2006, tr.264, 265).


Trong cuốn Về chiến tranh nhân dân Việt Nam, đồng chí Lê Duẩn có nhận xét: “Kể từ trận Ấp Bắc, Mỹ thấy không thể thắng ta được, đến trận Bình Giã, thì Mỹ thấy sẽ thua ta trong chiến tranh đặc biệt”2 (Lê Duẩn: về chiến tranh nhân dân Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Hà Nội, 1993, tr.185).


Robert S. Mc. Namara - Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ phải thú nhận: “Mối thất vọng của Oasinhtơn đối với tình hình quân sự càng tăng lên khi quân đội Sài Gòn bị một cú thất bại trông thấy trong trận đánh ác liệt ở Bình Giã.... Mọi bằng chứng chỉ rõ tình hình sụp đổ cuối cùng của Chính phủ Việt Nam là có thể xảy ra và rõ ràng là có khả năng Việt cộng củng cố một cách thắng lợi quyền lực của họ”3 (Tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, t.2, Việt Nam Thông tấn xã phát hành tháng 8-1971, tr.25). “Chúng tôi đã sai lầm sai lầm khủng khiếp. Chúng tôi đã mắc nợ các thế hệ tương lai trong việc giải thích tại sao lại sai lầm như vậy”. “Chúng tôi cũng hoàn toàn đánh giá thấp khía cạnh dân tộc chủ nghĩa trong phong trào Hồ Chí Minh”4 (Robert S. McNamara: Nhìn lại quá khứ: Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.12 45).


Cuối năm 1964 đầu năm 1965, chiến lược “chiến tranh đặc biệt” đang trên đà phá sản. Trung ương Cục tiến hành hoạch định kế hoạch “đón thời cơ” tổng công kích, tổng khởi nghĩa giành thắng lợi. Kế hoạch đón thời cơ ra đời mang mật danh “X”, địa bàn trọng điểm là Sài Gòn - Gia Định. Tiếp đó, Trung ương Cục chỉ đạo Quân giải phóng trên chiến trường B2 triển khai đợt hoạt động vũ trang mùa mưa năm 1965, trọng điểm là địa bàn miền Đông Nam Bộ nhằm đánh quỵ hoàn toàn chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ.


Chiến dịch Sông Bé - Phước Long1 (Sau gọi là Chiến dịch Đồng Xoài) được hoạch định trên một địa bàn rộng lớn gần 1.000km2, gồm hai hướng tấn công chủ yếu đó là hai tỉnh Phước Long, Bình Long2 (Phước Long, Bình Long là khu vực quan trọng, có đường biên giới giáp Campuchia dài 100km nối liền với Nam Tây Nguyên, bao gồm nhiều đường giao thông chiến lược quan trọng). Ngoài ra, Chiến dịch Sông Bé - Phước Long còn mở hướng phối hợp bao gồm các tỉnh Lâm Đồng, Bình Tuy, Long Khánh, Biên Hòa, Bà Rịa.


Ban Chỉ huy chiến dịch được thành lập do Lê Trọng Tấn - Phó Tư lệnh Miền làm Chỉ huy trưởng, Trần Độ (Chín Vinh) - Phó Chính ủy Miền làm Chính ủy, Nguyễn Minh Châu (Năm Ngà) - Tư lệnh Khu 6 làm Chỉ huy phó, Lê Văn Tưởng (Lê Chân) - Chủ nhiệm chính trị Miền làm Phó Chính ủy, Lê Xuân Lựu làm Chủ nhiệm chính trị chiến dịch.


Lực lượng phục vụ chiến dịch gồm 3 trung đoàn chủ lực, 1 trung đoàn pháo binh, 2 tiểu đoàn đặc công của Miền, 1 tiểu đoàn chủ lực của Quân khu 6 và lực lượng Quân giải phóng, lực lượng dân quân, du kích trên địa bàn các tỉnh thực hiện chiến dịch. Mục tiêu của chiến dịch là tiêu diệt lực lượng quân ngụy gồm 9 tiểu đoàn chủ lực, 3 tiểu đoàn biệt động, 2 tiểu đoàn bảo an, 7 đại đội bảo an, 21 đại đội biệt kích và lực lượng tổng trù bị.


Sau 64 ngày đêm (từ ngày 11-5-1965 đến ngày 20-7-1965), Quân giải phóng đã mở 3 đợt hoạt động, gồm 16 trận đánh lớn, 4 trận tiến công công sự. Tuyến phòng thủ vòng ngoài của quân lực Việt Nam Cộng hòa phía bắc Sài Gòn bị xuyên thủng. Quân giải phóng đã chiếm và bám trụ nhiều ngày tại chi khu quân sự Đồng Xoài - một trong những cứ điểm trọng yếu của khu tứ giác Đồng Xoài - Phước Long - Chơn Thành - Bình Long1 (Kết quả thực hiện chiến dịch, Quân giải phóng đánh quỵ hai tiểu đoàn thuộc Sư đoàn chủ lực số 5, Tiểu đoàn dù số 7, một tiểu đoàn thiết giáp, 24 đại đội bộ binh, 6 chi đội thiết giáp, 4 phân đội kỹ thuật của quân lực Việt Nam Cộng hòa).


Quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội đại biêu toàn quốc lần thứ III của Đảng, Nghị quyết của Trung ương Cục về nhiệm vụ cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới, Quân giải phóng miền Nam vừa xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang tập trung trong hệ thống vũ trang ba thứ quân, vừa khôi phục hệ thống tổ chức quân sự từ Miền xuống đến các quân khu, tỉnh, huyện, thiết lập hệ thống chỉ huy quân sự thông suốt trên toàn chiến trường B2, xây dựng căn cứ địa và hệ thống bảo đảm hậu cần - kỹ thuật. Trong giai đoạn này, Quân giải phóng đã xây dựng thành công các đơn vị chủ lực đến cấp trung đoàn, vận động hàng nghìn thanh niên lên miền Đông xây dựng các trung đoàn chủ lực của Miền, xây dựng các tiểu đoàn mũi nhọn đứng chân ở vùng ven, các đơn vị biệt động hoạt động ngay trong lòng các đô thị, nhất là ở thành phố Sài Gòn.


Vừa xây dựng, Quân giải phóng B2 vừa chủ động tổ chức những trận đánh lớn xuất sắc (trận pháo kích sân bay Biên Hòa, các trận đánh trong Chiến dịch Bình Giã, trận tiêu diệt cứ điểm chi khu Đồng Xoài); huấn luyện bộ đội thực hành thông thạo các chiến thuật tập kích, vận động phục kích, đánh công kiên và sử dụng pháo binh đánh độc lập, góp phần đánh bại các chiến thuật “trực thăng vận” (“Phượng hoàng bay”), “thiết xa vận” của địch. Từ sau cao trào Đồng khởi, lực lượng vũ trang tỉnh, huyện không ngừng lớn mạnh và ngày càng giữ vai trò quan trọng trong phong trào chiến tranh du kích phát triển khắp các địa phương, hỗ trợ cho nhân dân phá rã, phá banh ấp chiến lược của địch, giải phóng nhiều dân và đất đai ở đồng bằng sông Cửu Long. Từ phục kích, tiến công nhỏ lẻ hồ trợ phong trào đấu tranh chính trị và nổi dậy của quần chúng đến những trận đánh vận động tập kích, tiến công với quy mô cấp tiểu đoàn, trung đoàn, những chiến dịch cấp liên trung đoàn, Quân giải phóng trên chiến trường B2 đã góp phần không nhỏ vào nỗ lực chung đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - ngụy. Chiến thắng Ấp Bắc, chiến thắng Bình Giã, chiến thắng Đồng Xoài... không chỉ là những sự kiện đánh dấu bước trưởng thành của Quân giải phóng trên chiến trường B2 mà còn mở ra khả năng Quân giải phóng có khả năng đánh bại các chiến lược chiến tranh của địch tạo ra thế chiến lược mới cho các hoạt động chính trị, quân sự những năm tiếp theo.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #21 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2023, 08:22:08 am »

Chương hai
QUÂN GIẢI PHÓNG TRÊN CHIẾN TRƯỜNG B2
TRONG GIAI ĐOẠN CHỐNG CHIẾN LƯỢC
“CHIẾN TRANH CỤC BỘ” CỦA MỸ
(1965 - 1968)


I. BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA QUÂN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM TRÊN CHIẾN TRƯỜNG B2

1. Chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ và chủ trương của Đảng trên chiến trường B2

Thất bại của chiến lược “chiến tranh đặc biệt” minh chứng rằng, Quân giải phóng trên chiến trường B2 phát triển nhanh chóng, đã góp phần “làm khuynh đảo 1/2 Nam Việt Nam”. Tình hình trở nên “nghiêm trọng và sẽ nghiêm trọng hơn nữa, quân đội Việt Nam Cộng hòa không đủ sức đương đầu với Việt cộng, tương quan lực lượng ở mức báo động, quyền chủ động đã về tay cộng sản”1 (Xem: Cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và quy luật hoạt động của Mỹ - ngụy trên chiến trường B2, Phòng tổng kết địch thuộc Ban Tổng kết chiến tranh B2, 1984, tr.131). Tại nước Mỹ, phong trào chống chiến tranh xuất hiện, nội bộ chính quyền Mỹ phân hóa sâu sắc vì cuộc chiến tranh Việt Nam. Tuy nhiên, sau khi trúng cử Tổng thông Mỹ, trong Thông điệp liên bang đầu năm 1965, Johnson vẫn tuyên bố: “Mỹ phải có mặt ở Nam Việt Nam vì nước bạn yêu cầu, vì phải giữ cam kết mười năm trước đây, vì an ninh của bản thân nước Mỹ và hòa bình ở châu Á”1 (Xem: Cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và quy luật hoạt động của Mỹ - ngụy trên chiến trường B2, Phòng tổng kết địch thuộc Ban Tổng kết chiến tranh B2, 1984, tr.133).


Ngày 1-4-1965, Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ quyết định triển khai chiến lược “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam Việt Nam. Ngày 13-6-1965, tướng Westmoreland đề nghị tăng cường lực lượng quân đội và đòi được quyền tự do điều động quân đội Mỹ sang tham chiến trên chiến trường miền Nam Việt Nam2 (Lúc bấy giờ, giới cầm quyền Mỹ hình thành 3 phái: Phái đòi mở rộng chiến tranh gồm các tướng lĩnh Mỹ, tiêu biểu Westmoreland...; Phái dao động lừng chừng như Mc. Namara, Taylo, Bandy...; Phái chống mở rộng chiến tranh, đại diện là Goorge Ball, Aloxis Johnson...). Trên cơ sở đề xuất của tướng Westmoreland, ngày 17-7-1965, Tổng thống Johnson chính thức cho phép áp dụng chiến lược “chiến tranh cục bộ” trên chiến trường miền Nam Việt Nam với bản kế hoạch quân sự “tìm diệt”, “tìm diệt và bình định” “ba giai đoạn”3 (Giai đoạn 1 (từ tháng 7 đến tháng 12-1965): đưa nhanh lực lượng quân Mỹ, quân chư hầu vào miền Nam Việt Nam để ngăn chặn chiều hướng thua; gấp rút triển khai lực lượng, chuẩn bị tiến hành phản công chiến lược. Giai đoạn 2 (từ tháng 1-1966 đến tháng 6-1966): hành quân “tìm diệt” Quân giải phóng, phá chiến tranh du kích, giành quyền chủ động trên chiến trường, hỗ trợ cho chương trình “bình định”. Giai đoạn 3 (từ tháng 7-1966 đến cuối 1967): Tiến công tiêu diệt những đơn vị Quân giải phóng và những căn cứ du kích còn lại, tiêu diệt cơ quan lãnh đạo cuộc kháng chiến ở miền Nam, hoàn tất chương trình “bình định”).


Để thực hiện bản kế hoạch trên, Mỹ lần lượt điều động quân đội sang miền Nam Việt Nam, đưa tổng số quân Mỹ từ 184.314 (năm 1965), lên 410.000 (năm 1966), 485.600 (năm 1967)...; bao gồm: Sư đoàn lính thủy đánh bộ số 3, Sư đoàn bộ binh số 1 (Anh cả đỏ), Sư đoàn kỵ binh không vận số 1, Sư đoàn bộ binh số 4, Sư đoàn bộ binh số 25 (Tia chớp nhiệt đới), Sư đoàn dù 101 (Thiên thần mũ đỏ), Lữ đoàn dù 173, Trung đoàn kỵ binh thiết giáp số 11. Ngoài ra, Mỹ còn huy động 72.600 quân của các nước Đồng minh phụ thuộc Mỹ, bao gồm 2 sư đoàn + 1 lữ đoàn lính Nam Triều Tiên; 1 sư đoàn + 1 trung đoàn lính Thái Lan; 1 tiểu đoàn công binh + 2 đội cố vấn chiến tranh tâm lý Philíppin; 1 trung đoàn + 1 tàu khu trục và 1 phi đội máy bay Úc; 2 đại đội bộ binh + 1 đại đội pháo binh Niu Dilan. Tính đến năm 1968, trên toàn miền Nam có 767.000 quân viễn chinh Mỹ và Đồng minh cùng với 818.000 quân ngụy1 (Sư đoàn lính thủy đánh bộ số 3 (đến Việt Nam tháng 3-1965); Sư đoàn bộ binh số 25 (Sư đoàn Tia chớp nhiệt đới đến Việt Nam tháng 4-1966); Sư đoàn kỵ binh bay số 1 (đến Việt Nam tháng 9-1965); Sư đoàn bộ binh số 1 (Sư đoàn Anh cả đỏ đến Việt Nam tháng 10-1965); Sư đoàn dù số 101 (đến Việt Nam tháng 11-1967, riêng Lũ đoàn dù số 1 đến từ năm 1965); Sư đoàn bộ binh số 9 (đến Việt Nam tháng 12-1966); Sư đoàn bộ binh số 4 (đến Việt Nam tháng 9-1966); Sư đoàn bộ binh số 23 (đến Việt Nam tháng 9-1967). Đối với quân Đồng minh: 2 sư đoàn + 1 lữ đoàn lính Nam Triều Tiên (sang Việt Nam từ tháng 9-1964); 1 sư đoàn + 1 trung đoàn lính Thái Lan (sang Việt Nam từ tháng 7-1966); 1 trung đoàn + 1 tàu khu trục và 1 phi đội máy bay Úc (sang Việt Nam từ tháng 9-1964); 1 tiểu đoàn công binh + 2 đội cố vấn chiến tranh tâm lý Philíppin (sang Việt Nam từ tháng 4-1965); 2 đại đội bộ binh + 1 đại đội pháo binh Niu Dilân (sang Việt Nam từ tháng 7-1965)).


Mỹ vẫn coi chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ là chiến trường chính (trong đó miền Đông Nam Bộ là chiến trường trọng điểm) để thực hiện chiến lược “tìm diệt Quân giải phóng; Tây Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ là chiến trường bổ trợ, công tác bình định là trung tâm. Do vậy, trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, Mỹ tập trung một số lượng lớn quân tinh nhuệ, mở các cuộc hành quân tìm diệt nhằm tạo vành đai an ninh xung quanh Sài Gòn. Ở đồng bằng sông Cửu Long và cực Nam Trung Bộ, Mỹ chủ yếu sử dụng lực lượng quân ngụy mở các cuộc càn quét, bình định, vơ vét tài lực, vật lực cung cấp cho cuộc chiến tranh.


Để bảo đảm sự thành công của chiến lược “chiến tranh cục bộ” trên chiến trường miền Nam Việt Nam, Mỹ gấp rút củng cố hệ thống căn cứ quân sự trên cả 4 vùng chiến thuật vốn đã được chính quyền Sài Gòn phân chia trước đó. Đặc biệt là việc xây dựng, củng cố hệ thống căn cứ quân sự trên các địa bàn chiến lược như Sài Gòn, Biên Hòa, Phan Rang, Chu Lai, Cam Ranh, Đà Nẵng...


Tính đến cuối năm 1965, hầu hết ở các tỉnh trên toàn miền Nam Việt Nam (đặc biệt là chiến trường B2), Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã xây dựng được hệ thống căn cứ quân sự, đồn bót, sân bay dã chiến để phục vụ cho việc trinh thám, vận tải, đổ quân...


Trước sự leo thang chiến tranh của Mỹ, tháng 3-1965, Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị lần thứ 11 (từ ngày 25 đến ngày 27-3-1965) nhận định tình hình và bàn thảo phương hướng, chiến lược, sách lược chuẩn bị sẵn sàng đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ.


Ngày 2-8-1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi đồng bào cả nước: “Dù phải chiến đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn”1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.14, tr.577). Ngày 3-8-1965, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra tuyên bố": "Thà chết chứ không chịu làm nô lệ, sẽ chiến đấu đến cùng để bảo vệ Tổ quốc...”2 (Trích theo Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu 9: Quân khu 9 - Ba mươi năm kháng chiến (1945-1975), Sđd, tr.374).


Ngày 27-12-1965, Ban Chấp hành Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị lần thứ 12, đề ra quyết tâm “kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình huống nào, để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thảnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Vản kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.26, tr.634)...


Trên chiến trường B2, bước vào năm 1965, lực lượng vũ trang ba thứ quân có mặt trên cả ba vùng chiến lược, thế trận chiến tranh nhân dân hình thành rộng khắp. Tuy nhiên, từ những bài học kinh nghiệm rút ra được từ Chiến dịch Bình Giã, Chiến dịch Đồng Xoài..., Bộ Chính trị nhận ra rằng, Quân giải phóng cấp Miền, cấp Quân khu trên chiến trường miền Nam, trên chiến trường B2 số lượng còn ít, chất lượng thấp, chưa có những đơn vị chủ lực đủ sức để tạo nên những “quả đấm thép” nhằm giành ưu thế quân sự trên chiến trường. Quân giải phóng địa phương cấp tỉnh, huyện còn mỏng, trình độ kỹ thuật, chiến thuật, tác chiến trong chiến đấu còn yếu, khả năng giành chiến thắng không cao, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển ngày càng cao của cuộc chiến tranh cách mạng. Công tác hậu cần luôn luôn bị động, đặc biệt là việc cung cấp vũ khí, đạn dược và lương thực, thực phẩm. Công tác chính trị, công tác đảng trong quân đội còn nhiều bất cập... Tất cả những yếu tố đó đang tác động xấu đến tình hình chiến đấu của Quân giải phóng khi phải đương đầu với quân đội Mỹ vừa thiện chiến, vừa được trang bị vũ khí và thiết bị chiến tranh vượt trội.


Trước tình hình đó, ngày 12-7-1965, Bộ Chính trị gửi điện văn cho Trung ương Cục miền Nam, chỉ đạo kiện toàn tổ chức nhân sự Quân ủy, Bộ Chỉ huy Miền, đồng thời chỉ đạo xây dựng, phát triển lực lượng Quân giải phóng trên chiến trường B2. Theo đó, Quân ủy Miền được kiện toàn gồm: Nguyễn Chí Thanh (Xuân, Sáu Di, Trường Sơn) - Ủy viên Bộ Chính trị làm Bí thư; Nguyễn Văn Linh (Mười Cúc) làm Phó Bí thư; Phạm Văn Xô, Trần Văn Trà, Trần Độ, Chu Huy Mân Nguyễn Đôn là Ủy viên. Bộ Chỉ huy Miền do Phạm Hùng làm Chính ủy kiêm Tư lệnh; Trần Văn Trà, Trần Độ, Phạm Văn Xô, Nguyễn Thị Định, Lê Trọng Tấn, Nguyễn Hữu Xuyến, Đồng Văn Cống, Nguyễn Đôn, Chu Huy Mân, Nguyễn Văn Mùi (Nguyễn Minh Đường) làm Phó Tư lệnh; Lê Đức Anh làm Tham mưu trưởng1 (Đến khi chuẩn bị Tổng công kích - tổng khởi nghĩa năm 1968 Phó Thủ tướng Phạm Hùng mới vào chiến trường B2. Được sự đồng ý của Bộ Chính trị (theo đề nghị của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh), trong khi Phạm Hùng chưa tới chiến trường, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh với cương vị là Phái viên Bộ Chính trị kiêm Bí thư Quân ủy giữ chức vụ Chính ủy Miền và Trần Văn Trà giữ chức vụ Tư lệnh Miền. Chu Huy Mân, Nguyễn Đôn vẫn tiếp tục công tác ở chiến trường Quân khu 5. Nguyễn Thị Định đựợc phân công phụ trách công tác dân quân. Phạm Văn Xô phụ trách Hội đồng cung cấp. Nguyễn Văn Mùi, Ủy viên Trung ương Cục kiêm Bí thư Khu ủy Khu 8. Đồng Văn Cống kiêm Tư lệnh Quân khu 9).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #22 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2023, 08:25:04 am »

2. Quân giải phóng miền Nam Việt Nam trong giai đoạn 1965-1968

Sau Hội nghị tổng kết Chiến dịch Đồng Xoài (tháng 9-1965), thực hiện chủ trương của Quân ủy Trung ương, Trung ương Cục chỉ đạo Bộ Chỉ huy Miền thành lập các sư đoàn quân chủ lực.

Ngày 2-9-1965 tại Chiến khu Đ, Sư đoàn 9 chính thức được thành lập, gồm Trung đoàn 1 (Trung đoàn Bình Giã), Trung đoàn 2 (Trung đoàn Đồng Xoài) và Trung đoàn 4 vừa được tổ chức từ Quân giải phóng địa phương của các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long tăng cường. Sư đoàn 9 do Hoàng Cầm làm Sư đoàn trưởng, Lê Văn Tưởng làm Chính ủy.


Tháng 9-1965, Bộ Chỉ huy Miền thành lập các đoàn hậu cần 85, 86, 87 và một số tiểu đoàn bộ binh, trinh sát (D47), cơ giới (D711), các đại đội đặc công, hóa học và 8 trường huấn luyện quân sự, bệnh viện K77B, K97...


Ngày 15-10-1965, Đoàn 80 pháo binh được bổ sung lực lượng, trang bị thêm vũ khí, phát triển thành một đơn vị tương đương cấp sư đoàn mang phiên hiệu Đoàn 69 pháo binh, còn gọi là Đoàn pháo binh Biên Hòa.


Ngày 23-11-1965, tại căn cứ tỉnh Bà Rịa, Sư đoàn 5 chính thức ra mắt, gồm Trung đoàn 4 (Trung đoàn Đồng Nai) và Trung đoàn 51 (Tháng 5-1965, tại Chiến khu Dương Minh Châu, trên cơ sở chi viện của các tỉnh miền Tây, Trung đoàn 5 Miền được thành lập do Nguyễn Thới Bưng làm Trung đoàn trưởng, Nguyễn Văn Cúc làm Chính ủy. Địa bàn hoạt động: Bà Rịa - Long Khánh). Sư đoàn 5 do Nguyễn Hòa làm Sư đoàn trưởng, Lê Xuân Lựu làm Chính ủy2 (Tuy có cùng một quyết định thành lập (tức cùng ngày) nhưng Sư đoàn 9 và 5 chọn hai ngày chính thức ra mắt khác nhau và lấy đó làm ngày truyền thống).


Trên cơ sở lực lượng được Bộ Quốc phòng bổ sung cho B2 gồm 6.892 cán bộ, chiến sĩ và 880 tấn vũ khí, trang thiêt bị quân sự (có 42.906 súng các loại)3 (Để bảo đảm đánh thắng Mỹ ở miền Nam, Hội nghị Quân ủy Trung ương tháng 2-1966 đã xác định: “ưu tiên cho miền Nam, kiên quyết thực hiện mọi kế hoạch đối với miền Nam”. Năm 1966, phát triển lực lượng vũ trang tập trung lên khoảng 27 đến 30 vạn, khoảng 30 đến 35 trung đoàn quân chủ lực (trong đó có 7 sư đoàn và trên 51 tiểu đoàn quân địa phương), dân quân du kích phát triển từ 21 vạn lên 30 vạn. Miền Bắc phải chuẩn bị thêm 80.000 quân để chi viện bảo đảm cho miền Nam có tổng quân số lên 30 vạn, xác định phải theo kế hoạch năm 1965 chi viện là 2.840 tấn), năm 1966 Bộ Chỉ huy Miền tiếp tục chỉ đạo các đơn vị tập trung phát triển lực lượng, “chủ yếu là kiện toàn, củng cố, nâng cao chất lượng các đơn vị đã có và tiếp thu thật tốt lực lượng mới từ miền Bắc vào. Đối với khối chủ lực, chú trọng xây dựng sư đoàn, nhưng chủ yếu là từng trung đoàn đánh cho thật tốt. Phát triển các binh chủng, nhất là đặc công và công binh đánh giao thông”4 (Quân ủy Miền - Tổng kết xây dựng lực lượng vũ trang trong năm 1966 - Hồ sơ 1831/QL, lưu trữ Phòng Khoa học quân sự Quân khu 7). Hàng nghìn tân binh tuyển tại chỗ từ các địa phương. Số tân binh mới tuyển và các đơn vị mới từ miền Bắc vào được bổ sung cho các đơn vị, đồng thời dành mọi ưu tiên về vật chất, tinh thần cho bộ đội giải phóng nhằm nâng cao sức mạnh chiến đấu1 (Quân ủy Miền - Tổng kết xây dựng lực lượng vũ trang trong năm 1966 - Hồ sơ 1831/QL, lưu trữ Phòng Khoa học quân sự Quân khu 7).


Cũng năm 1966, Bộ Quốc phòng tăng cường cho chiến trường B2 Trung đoàn bộ binh 16 thuộc Sư đoàn 3252 (Trung đoàn 16 nguyên là Trung đoàn 101A đã từng tham gia chiến đấu trên chiến trường Tây Nguyên), Trung đoàn pháo hỏa tiễn ĐKB 84A3 (Quân ủy Miền - Tổng kết xây dựng lực lượng vũ trang trong năm 1966 - Hồ sơ 1831/QL, lưu trữ Phòng Khoa học quân sự Quân khu 7), Tiểu đoàn pháo tổng hợp 20 từ chiến trường Tây Nguyên về và Trung đoàn bộ binh 141, Trung đoàn bộ binh 165 thuộc Sư đoàn 312 và Trung đoàn 52 thuộc Sư đoàn 320 từ miền Bắc vào4 (Đây là những trung đoàn đã lập nhiều chiến công xuất săc, được tặng danh hiệu “Ba Vì anh dũng” (Trung đoàn 141), “Thành đồng biên giới” (Trung đoàn 165), “Tây tiến” (Trung đoàn 52)). Trên cơ sở đó, Trung đoàn 16 được tăng cường cho Sư đoàn 95 (Lúc bấy giờ Trung đoàn 3 được tách khỏi đội hình Sư đoàn 9 để nhận nhiệm vụ mới là luồn sâu, hoạt động độc lập trong lòng địch), Trung đoàn pháo hỏa tiễn ĐKB 84A6 (Quân ủy Miền - Tổng kết xây dựng lực lượng vũ trang trong năm 1966 - Hồ sơ 1831/QL, lưu trữ Phòng Khoa học quân sự Quân khu 7)và Tiểu đoàn pháo tổng hợp 20 được tăng cường cho Đoàn pháo binh 69.


Ngày 13-6-1966, tại vùng căn cứ tỉnh Phước Long, trên cơ sở 3 trung đoàn bộ binh (141, 165, 52) mới được tăng cường từ miền Bắc vào, Bộ Chỉ huy Miền công bố quyết định thành lập Sư đoàn bộ binh 77 (Lúc mới thành lập, Sư đoàn 7 có ba trung đoàn, gồm: Trung đoàn 141 (mật danh là Q.14), Trung đoàn 165 (mật danh là Q.12) và Trung đoàn 52. Một thời gian sau, khi Trung đoàn 52 chuyển đi nam Trường Sơn nhận nhiệm vụ mới, Bộ Chỉ huy Miền tăng cường cho Sư đoàn thêm Trung đoàn 16. Cuối năm 1966, Trung đoàn 16 lại được điều chuyển về Sư đoàn 9. Đến cuối năm 1968, Trung đoàn 209 (Trung đoàn Sông Lô) thuộc Sư đoàn 312 được điều động tiếp vào chiến trường B2 và đứng chân trong đội hình Sư đoàn 7. Lúc này biên chế của Sư đoàn 7 mới ổn định, bao gồm Trung đoàn 141, Trung đoàn 165, Trung đoàn 209). Bộ Chỉ huy gồm có: đồng chí Nguyễn Hòa  làm Sư đoàn trưởng, Dương Thanh (Dương Cự Tẩm) làm Chính ủy, Nguyễn Hải (Hoàng Anh Tuân) làm Sư đoàn phó, Nguyễn Dũng làm Chủ nhiệm chính trị, Nguyễn Huỳnh Ngân (Ba Vinh) làm Chủ nhiệm hậu cần.


Tháng 6-1966, bộ đội giải phóng Đặc khu Rừng Sác được thành lập, biên chế tương đương cấp trung đoàn, trực thuộc Bộ Tham mưu Miền, do đồng chí Lương Văn Nho làm Đặc khu trưởng kiêm Chính ủy. Đơn vị là lực lượng được huấn luyện đặc biệt, có khả năng tham chiến cả trên bộ lẫn dưới nước, nên được gọi là Trung đoàn đặc công Rừng Sác, hay còn gọi là Đoàn 10 đặc công. Bộ đội giải phóng Đặc khu Rừng Sác có nhiệm vụ án ngữ sông Lòng Tàu, đồng thời bí mật luồn sâu đánh phá hệ thống kho tàng của đối phương ở phía đông nam Sài Gòn.


Đến cuối năm 1967, chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, Bộ Quốc phòng tăng cường cho chiến trường B2 hai trung đoàn pháo hỏa tiễn 96 và 208. Đoàn pháo binh 69 Miền lúc bấy giờ có đủ ba trung đoàn hỏa tiễn, hai tiểu đoàn cối, ĐKZ, hai tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7 ly và 14,5 ly và hai khung đơn vị bao gồm đơn vị lái xe tăng thiết giáp và đơn vị cơ giới để sẵn sàng tiếp quản xe, pháo của đối phương.


Trước khi bước vào Chiến dịch Mậu Thân, Quân giải phóng chủ lực của Miền gồm có 3 sư đoàn bộ binh (5, 7, 9), Đoàn pháo 69 (gồm 2 trung đoàn ĐKB và cối 120 ly, 2 tiểu đoàn cao xạ 12,8 ly), 1 trung đoàn bộ binh, 1 trung đoàn công binh 1 trung đoàn thông tin, 2 tiểu đoàn trinh sát và một số đơn vị binh chủng...


Công tác hậu cần được đặc biệt chú trọng, “kiên quyết bảo vệ đường hành lang chiến lược, giữ vững các đường chi viện khác... Trong mọi tình huống cần giữ vững và tận dụng những khả năng thuận lợi về chính trị và kinh tế của K đối với cuộc chiến tranh giải phóng của nhân dân ta ở miền Nam...”1 (Báo cáo tổng kết kinh nghiệm công tác đảng, công tác chính trị trong chiến tranh chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (B2), tháng 5-1981). Các đoàn hậu cần 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87 được nâng lên thành cấp trung đoàn, nối liền với tuyến các binh trạm vận tải, thực hiện tốt việc tiếp nhận hàng từ các đoàn 962, 559 và K.20...


Trang thiết bị, vũ khí, đạn dược phục vụ cho Chiến dịch Mậu Thân trong nội thành Sài Gòn đã được giao liên chuyển vào trước đó, cất giấu trong 6 kho bí mật bố trí ngay sát các mục tiêu quan trọng. Kho tại nhà anh Mười (gần Bộ Tư lệnh Hải quân), kho tại nhà anh Trần Phú Cương (gần Đài Phát thanh), kho tại nhà anh Bảy Rau Muống (ở Bàn Cờ), kho tại nhà anh Tám Sơn (gần Tòa Đại sứ Mỹ), kho tại nhà anh Năm Bắc (gần bót Hàng Xanh), kho tại nhà anh Lai (gần Dinh Độc Lập)2 (Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh: Lịch sử Đảng bộ Thành phố HỒ Chí Minh, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 2000, t.2, tr.225).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #23 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2023, 08:26:31 am »

Từ đầu năm 1965, bộ đội các quân khu, tỉnh, huyện cũng được củng cố, tổ chức lại để phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới.

Bước vào giai đoạn Mỹ triển khai chiến lược “chiến tranh cục bộ”, trên địa bàn Quân khu 9 có 2 trung đoàn đã được thành lập trước đó. Tháng 6-1966, Bộ Tư lệnh Quân khu chỉ thị giải thể trung đoàn bộ binh và pháo binh, chỉ duy trì 3 tiểu đoàn bộ binh (303, 306, 309) và 1 tiểu đoàn pháo hỗn hợp mang phiên hiệu 231 do Thiện làm Tiểu đoàn trưởng, Lê Diên làm Chính trị viên. Tiểu đoàn pháo 231 được biên chế 1 đại đội DKZ 75, 1 đại đội cối, 1 đại đội cao xạ. Số chiến sĩ thuộc Trung đoàn pháo còn lại chuyển sang bộ binh hoặc các ngành khác và tăng cường cho địa phương. Tuy nhiên, về thực chất, phần lớn là giải ngũ. Điều băn khoăn là lực lượng cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn pháo của Khu 9 phần lớn cán bộ pháo được huấn luyện cơ bản ở miền Bắc, là một trung đoàn rất mạnh, nổi tiếng với những trận đánh bắn rơi nhiều máy bay như trận Chà Là, Ba Quân, Ngã Cạy, Ngã Năm Bình Minh1 (Giữa Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 9 không thống nhất với nhau về chủ trương, phương châm, phương thức tổ chức, sử dụng lực lượng vũ trang trên địa bàn quân khu. Điều này ảnh hưởng đến việc xây dựng, phát triển lực lượng Quân giải phóng. Sự thiếu thống nhất này kéo dài mãi đến năm 1970 mới chấn chỉnh được)...


Cuối năm 1966, Bộ Tư lệnh Quân khu 9 chuyển Tiểu đoàn 306 chủ lực Khu qua sông Hậu làm nòng cốt, tạo thế, xây dựng phát triển lực lượng, tăng cường hoạt động vũ trang trên địa bàn Vĩnh Long, Trà Vinh, mở mặt trận Vĩnh - Trà. Do vậy, trong năm 1967, lực lượng chủ lực Khu 9 chỉ còn 2 tiểu đoàn bộ binh 303, 309 và Tiểu đoàn pháo 231. Do lực lượng yếu và phải liên tục chống các cuộc càn quét trên chiến trường Cần Thơ, Rạch Giá nên quân số của hai tiểu đoàn bị hao hụt dần, không phát huy được vai trò nòng cốt cho phong trào đấu tranh chính trị. Trước thực trạng đó, tháng 9-1967, Quân khu 9 thành lập thêm Tiểu đoàn 307 và khung Tiểu đoàn 308 tăng cường cho mặt trận Vĩnh - Trà. Tiểu đoàn 307 do đồng chí Ba Phương chỉ huy; sau khi đồng chí Phương hy sinh, Bùi Quang Đơ làm Tiểu đoàn trưởng.


Cuối năm 1967, chuẩn bị cho Chiến dịch Mậu Thân năm 1968, Quân khu 9 thành lập 1 lữ đoàn gồm 5 tiểu đoàn: 307, 303, 309, Tiểu đoàn Tây Đô và Tiểu đoàn 2311 pháo binh độc lập. Đồng chí Chín Hiền được cử làm Lữ đoàn trưởng, Võ Thành Tôn (Ba Tôn) làm Lữ đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng, Bùi Sáng làm Lữ đoàn phó phụ trách hậu cần.


Sau đợt I Tết Mậu Thân năm 1968, quân số của lữ đoàn hao hụt. Do vậy Quân khu 9 quyết định giải tán lữ đoàn, tổ chức lại thành 2 trung đoàn, thành lập thêm Tiểu đoàn 962 và trả Tiểu đoàn Tây Đô về tỉnh. Lúc bấy giờ Trung đoàn 1 gồm tiểu đoàn 303, 307, do đồng chí Ba Tôn làm Trung đoàn trưởng. Trung đoàn 2 gồm Tiểu đoàn 309, 962, do Trần Tứ Phương (Kiên Cường) làm Trung đoàn trưởng.


Trên địa bàn Quân khu 8, bước vào năm 1965, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu thống nhất chỉ đạo củng cố, phát triển lực lượng vũ trang chuẩn bị “đón tiếp” lực lượng quân viễn chinh Mỹ “sẽ đến trên chiến trường Khu 8”.


Để chủ động thế tấn công trên chiến trường, Bộ Tư lệnh Quân khu quyết định đưa 3 tiểu đoàn (261, 263, 265), 2 đại đội đặc công (312, 314), 1 đại đội trợ chiến, 1 đại đội phòng không về chiến trường trọng điểm Mỹ Tho; điều động 2 tiểu đoàn bộ binh (267, 269) về chiến trường Long An. Ngoài ra, Bộ Tư lệnh Quân khu còn tăng cường, kiện toàn đội ngũ cán bộ chỉ huy các tiểu đoàn, ban chỉ huy các tỉnh đội và ban chỉ huy các đại đội binh chủng độc lập.


Đến năm 1967, để chuẩn bị cho Chiến dịch Mậu Thân năm 1968, địa bàn và Quân giải phóng tỉnh Long An do Bộ Chỉ huy Miền quản lý tham gia thành lập các phân khu phục vụ chiến trường trọng điểm. Do vậy, trên địa bàn Quân khu 8 còn lại 5 tiểu đoàn bộ binh, 3 đại đội đặc công, 4 đại đội công binh, 2 đại đội cối 82, 1 đại đội cối 120, 3 đại đội ĐKZ75, 2 đại đội 12,8 ly gồm 15.332 chiến sĩ (tính cả Quân giải phóng địa phương)1 (Chưa tính lực lượng vũ trang tập trung tỉnh Long An).


Đến cuối năm 1967, trước khi Chiến dịch Mậu Thân xảy ra, Quân khu 8 thành lập thêm 2 tiểu đoàn (265, 267) và điều động lên Khu số tiểu đoàn từ tuyến tỉnh (Tiểu đoàn 514A Mỹ Tho, Tiểu đoàn 514 Kiến Tường). Trên cơ sở đó, Quân khu tổ chức lực lượng Quân giải phóng thành 2 chiến đoàn: Chiến đoàn 1 gồm các tiểu đoàn 261A, 261B, 514A do đồng chí Sáu Quang làm Chiến đoàn trưởng, đồng chí Tư Nam làm Chính ủy. Chiến đoàn 2 gồm các tiểu đoàn 263, 265, 267 do đồng chí Vũ Mạnh làm Chiến đoàn trưởng, đồng chí Tư Hiệp làm Chính ủy1 (Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu 8: Quân khu 8 - Ba mươi năm kháng chiến (1945-1975), Sđd, tr.613). Sau đợt I Tết Mậu Thân, cũng do quân số hao hụt lớn, Bộ Tư lệnh Quân khu 8 quyết định giải tán 2 chiến đoàn, tổ chức lại thành 2 trung đoàn.


Ở cấp tỉnh như Đồng Tháp, Mỹ Tho, Bến Tre, Kiến Phong, Kiến Tường, Long An, các tiểu đoàn thành lập trước đó được kiện toàn, ở cấp huyện, mỗi huyện vẫn duy trì được từ 1 đến 2 đại đội... Riêng Long An, ngoài 2 tiểu đoàn được Quân khu tăng cường, đến tháng 10-1966, tỉnh kiện toàn 2 tiểu đoàn của tỉnh thành những tiểu đoàn mạnh, trong đó Tiểu đoàn Long An 1 biên chế 600 chiến sĩ, Tiểu đoàn Long An 2 biên chế 350 chiến sĩ.


Năm 1967, mỗi tỉnh trên địa bàn Khu 8 đều đã xây dựng được 1 tiểu đoàn bộ binh (riêng tỉnh Bến Tre có đến 2 tiểu đoàn) và các phân đội, đại đội đặc công, công binh, biệt động...

Tại tỉnh Bến Tre, đến cuối năm 1967, sau khi tăng cường cho Quân khu 1 tiểu đoàn, cho Bộ Chỉ huy Miền 1 tiểu đoàn, hầu như ngay lập tức, tỉnh đã xây dựng lại 2 tiểu đoàn mới.

Tại tỉnh Mỹ Tho, sau khi đã tăng cường Tiểu đoàn 514A cho Quân khu và Tiểu đoàn 514B cho Gò Công cũng gấp rút thành lập thêm Tiểu đoàn 514C phụ trách tấn công địa bàn trọng điểm của tỉnh (thị trấn Cai Lậy). Tháng 10-1967, Quân khu đưa cán bộ pháo binh về tỉnh huấn luyện và lấy 3 đại đội 516, 518 và 530 để thành lập Tiểu đoàn 309 pháo binh do Trần Lan làm Tiểu đoàn trưởng, Lê Quế làm Chính trị viên.


Tỉnh Kiến Tường xây dựng được 2 đại đội phụ trách tấn công thị xã Mộc Hóa sau khi tăng cường Tiểu đoàn 514 cho Quân khu. Tỉnh Kiến Phong xây dựng được 2 tiểu đoàn. Tỉnh An Giang xây dựng được 2 tiểu đoàn, 1 liên đội để làm nhiệm vụ ở vùng Hòa Hảo.


Ở cấp huyện, trên địa bàn Khu 8, đầu năm 1967, bình quân mỗi huyện đều xây dựng được 1 đại đội (như các tỉnh Bến Tre, Mỹ Tho), hoặc có từ 1 đến 2 trung đội (như các tỉnh Kiến Phong, Kiến Tường, An Giang). Tuy nhiên, đến cuối năm 1967, Quân giải phóng cấp huyện tăng nhanh chóng, có huyện tăng gấp đôi, gấp ba. Điển hình như các huyện thuộc tỉnh Bến Tre, An Giang...


Trên địa bàn rừng núi, Quân khu 6 có 1 trung đoàn Quân giải phóng. Ngoài ra, lực lượng đặc công, biệt động của các quân khu phát triển nhanh chóng. Tháng 10-1966, Trung ương Cục quyết định thành lập thêm Khu 10 gồm hai tỉnh Quảng Đức, Phước Long của Khu 6 và tỉnh Bình Long của Khu 7 nhằm củng cố hệ thống căn cứ kháng chiến ở vùng rừng núi, mở hành lang chiến lược, phục vụ Quân giải phóng tác chiến.


Trên địa bàn Quân khu Sài Gòn - Gia Định, tính đến đầu năm 1965, Quân khu quản lý 3 tiểu đoàn chủ lực, bao gồm Tiểu đoàn Quyết Thắng, Tiểu đoàn 8 pháo binh, Tiểu đoàn 4 đặc công Gia Định. Lực lượng Quân giải phóng địa phương được kiện toàn và phát triển mạnh, bao gồm Tiểu đoàn 2 Gò Môn, Tiểu đoàn 3 Dĩ An, Tiểu đoàn 4 Thủ Đức, Tiểu đoàn 5 Nhà Bè, Tiểu đoàn 6 Bình Tân, Tiểu đoàn 7 Củ Chi.


Tháng 6-1965, Bộ Chỉ huy Quân khu mở Hội nghị quân sự đô thị xác định nhiệm vụ chiến đấu và xây dựng lực lượng vũ trang nhằm tạo nên những đòn đánh hiểm, sâu vào các cơ quan đầu não của đôì phương ngay trong nội đô Sài Gòn theo “Kế hoạch X” do Trung ương Cục vạch ra.


Hội nghị quyết định xây dựng 5 tiểu đoàn mũi nhọn, phát triển lực lượng biệt động, thành lập các đội vũ trang chiến đấu và xây dựng Trung tâm huấn luyện bí mật (lấy mật danh là Đoàn 165A) tại Lò Gò - Tây Ninh nhằm huấn luyện lực lượng vũ trang, đặc biệt là các tiểu đoàn mũi nhọn. Ban cán sự quân sự nội đô cũng được kiện toàn, do đồng chí Trần Hải Phụng phụ trách. Ngoài ra, Ban cán sự còn có Nguyễn Ngọc Lộc (Tư Quỳ), Nguyễn Văn Cường (Bảy Nam)...
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #24 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2023, 08:27:42 am »

Để thực hiện “Kế hoạch X”, Quân khu quyết định thành lập Đoàn biệt động F100 và bổ nhiệm Nguyễn Đức Hùng (Tư Chu) làm Chỉ huy trưởng, Nguyễn Nhinh (Bảy Dũng) làm Chính trị viên, Trần Minh Sơn (Bảy Sơn) làm Tham mưu trưởng, Nguyễn Hát (Nàm Hát) và Võ Văn Thanh (Sáu Thành) làm Chỉ huy phó.


Sau một thời gian ngắn được thành lập, Đoàn biệt động F100 đã tổ chức được 9 đội biệt động, mang số hiệu từ 3 đến 11, mỗi đội từ 15 đến 20 chiến sĩ. Ngoài ra, Đoàn biệt động F100 còn có 3 đội đặc công - biệt động, hoạt động trên địa bàn vùng ven như khu vực Thủ Đức, Nhà Bè, Gò Vấp, Hóc Môn; 2 đội đặc công nước hoạt động trên hệ thống sông rạch và 2 đội bảo đảm mang bí số A20 và A30 hoạt động trong nội thành. Đội A20 do đồng chí Ba Phong và đồng chí Hai Sang phụ trách, chịu trách nhiệm vận chuyển vũ khí từ bưng biền vào nội thành A30 do đồng chí Ba Đen chỉ huy, chịu trách nhiệm đào hầm bí mật cất giấu vũ khí, đạn dược và xây dựng cơ sở làm nơi trú ém quân...


Ngoài lực lượng đặc công, biệt động trực thuộc Quân khu ở các quận, huyện, các cơ quan đoàn thể cũng thành lập phát triển lực lượng biệt động. Điển hình như Đội biệt động 65 Bình Tân, Đội biệt động 66 Dĩ An, Đội biệt động 67 Gò Môn Đội biệt động 69 Nhà Bè, Đội biệt động Thủ Đức, Đội biệt động Thành đoàn, Đội biệt động Công vận, Đội biệt động Hoa vận Đội biệt động Phụ vận...


Tháng 10-1967, Quân khu Sài Gòn - Gia Định và Quân khu miền Đông giải thể để thành lập các phân khu phục vụ cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 do Trung ương Cục trực tiếp chỉ đạo. Lúc này, Đoàn F100 cũng giải tán để thành lập 3 cụm biệt động nhắm vào các mục tiêu chiến lược trong nội đô với trên 100 cán bộ, chiến sĩ. Tiểu đoàn Quyết Thắng được nâng thành Trung đoàn Quyết Thắng gồm Tiểu đoàn 2 Gò Môn, Tiểu đoàn 3 Dĩ An, Tiểu đoàn 4 đặc công Gia Định.


Trên địa bàn Quân khu miền Đông, sau khi tăng cường Trung đoàn Đồng Nai để thành lập Sư đoàn 5 chủ lực Miền, Quân khu miền Đông phát triển thêm 1 tiểu đoàn mới và nhiều đơn vị binh chủng. Đến tháng 10-1967, để chuẩn bị cho cuộc Tổng công kích - tổng khởi nghĩa, Trung ương Cục quyết định giải thể Quân khu miền Đông và Quân khu Sài Gòn - Gia Định, thành lập “khu trọng điểm” gồm 6 phân khu, hình thành 5 cánh quân bao quanh Sài Gòn và Phân khu 6 (Phân khu nội đô) tạo thành thế “ngoại công, nội kích”.


Phân khu 1 (hướng đông bắc), gồm các huyện Củ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp (Gia Định), Bến Cát, Dầu Tiếng (Bình Dương), Trảng Bàng (Tây Ninh).

Phân khu 2 (hướng tây), gồm các huyện Đức Hòa, Đức Huệ, Bên Lức (Long An), Tân Bình, bắc Bình Chánh và các quận nội thành 3, 5, 6 (Sài Gòn).

Phân khu 3 (hướng nam), gồm các huyện Châu Thành, Tân Trụ, Cần Đước, Cần Giuộc (Long An), Nhà Bè, nam Bình Chánh và các quận nội thành 2, 4, 7, 8 (Sài Gòn).

Phân khu 4 (hướng đông), gồm các tỉnh Long Khánh, Biên Hòa và các huyện Thủ Đức, Nhơn Trạch, Thạnh Mỹ Tây (Gia Định).

Phân khu 5 (hướng bắc), gồm các huyện Phú Giáo, Lái Thiêu, Dĩ An (Bình Dương), Tân Uyên (Biên Hòa) và Phú Nhuận, Bình Hòa (Sài Gòn).

Phân khu 6 gồm vùng nội đô trung tâm thành phố Sài Gòn.


Ở các tỉnh, huyện là địa bàn trọng điểm mà Mỹ đã chọn để thực hiện chiến dịch “tìm diệt” và “bình định”, để có thể đương đầu trực tiếp với quân đội nhà nghề Mỹ, các cấp ủy đảng và chính quyền ưu tiên phát triển lực lượng vũ trang. Các tiểu đoàn Quân giải phóng của tỉnh được kiện toàn về cả quân số lẫn vũ khí, trang bị. Tiểu đoàn 14, Tiểu đoàn 24 Tây Ninh, Tiểu đoàn Phú Lợi (Thủ Dầu Một), Tiểu đoàn 445 Bà Rịa... phát triển mạnh với đầy đủ các bộ phận bộ binh, công binh, trinh sát, đặc công, thông tin...


Ở cấp huyện, mỗi huyện đều xây dựng được từ một đến hai đại đội tập trung, điển hình là ở Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Phước Thành, Biên Hòa, Bà Rịa... Đặc biệt, các đại đội như Đại đội 63 (Thuận An), Đại đội 302 (Tân Uyên), Đại đội 65 (Thủ Dầu Một), Đại đội 301 (Phú Giáo), Đại đội 61, 81 (Bến Cát)... được trang bị mạnh do vừa được chi viện từ miền Bắc, vừa tự trang bị bằng chiến lợi phẩm thu được.


Trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, cùng với phát triển lực lượng Quân giải phóng, Bộ Chỉ huy quân sự Miền tiến hành tổ chức lại chiến trường.

Năm 1966, tỉnh Bà Rịa - Long Khánh sáp nhập với tỉnh Biên Hòa thành tỉnh Long - Bà - Biên; tỉnh Phước Thành giải thể; Quân khu 10 tái thành lập gồm các tỉnh Bình Long, Phước Long và Quảng Đức.

Tháng 3-1968, Quân khu 7 (T7) được thành lập lại, hao gồm địa bàn Phân khu 4 và tỉnh Bà Rịa.

Như vậy năm 19651 (Toàn miền Nam có khoảng 190.000 cán bộ, chiến sĩ, gồm 4 sư đoàn, 9 trung đoàn, 23 tiểu đoàn chủ lực, 31 tiểu đoàn bộ đội địa phương; 210.000 dân quân du kích), trên địa bàn B2, tổng số lực lượng chủ lực của Miền và Quân khu lên đến 52.789 cán bộ, chiến sĩ. Trong đó bộ binh có 2 sư đoàn, 5 trung đoàn, 12 tiểu đoàn; đặc công có 1 tiểu đoàn và 10 đại đội; trợ chiến có 1 trung đoàn, 5 tiểu đoàn và 13 đại đội; công binh có 4 đại đội. Lực lượng bộ đội địa phương tỉnh, huyện có 42.523 cán bộ, chiến sĩ, gồm 16 tiểu đoàn và 76 đại đội; dân quân du kích có 166.657 người. Trang bị của ba thứ quân, nhất là của khối chủ lực, tương đốĩ đầy đủ nhưng thiếu súng B40, cối 82, 12,8... Căn cứ miền Đông được mở rộng, xây dựng được hành lang thông suốt nối từ các tỉnh ở cực Nam Trung Bộ đến các tỉnh đồng bằng Cửu Long.


Đến cuối năm 1966, Quân giải phóng tập trung trên chiến trường miền Nam tăng 32% so với năm 1965 (từ 166.248 người tăng lên 219.640 người). Lực lượng Quân giải phóng của Miền và của các quân khu là 151.111 người, trong đó Quân giải phóng chủ lực của Miền có gân 92.000 cán bọ, chiến sĩ, biên chế thành 3 sư đoàn, 18 trung đoàn bộ binh (không kể các đơn vị hoạt động độc lập khác). Đặc biệt, thành phần binh chủng tăng khá nhanh: pháo binh tăng 162%, đặc công tăng 64%1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1988, tập II, quyển 1, tr.340). Lực lượng Quân giải phóng địa phương tỉnh, huyện có khoảng 80.000 cán bộ, chiến sĩ, tổ chức thành các tiểu đoàn ở các tỉnh và đại đội ở các huyện. Một số tỉnh có từ 1 đến 2 tiểu đoàn với đầy đủ biên chế, trang bị và các đơn vị binh chủng như pháo binh, đặc công, công binh, thông tin... Dân quân, du kích ở các xã, ấp phát triển mạnh, con số lên tới 174.000 người, đồng hơn cả quân số dân vệ và lực lượng thanh niên chiến đấu của chính quyền Sài Gòn.


Các binh trạm vận tải, các đoàn hậu cần trên chiến trường B2 được bố trí hợp lý tại các khu vực thuận lợi nhằm thực hiện tốt việc tiếp nhận hàng từ Đoàn 962, Đoàn 559 và K.20... Nhiều loại vũ khí, phương tiện chiến đấu mới được đưa vào chiến trường trang bị cho các đơn vị Quân giải phóng. Mỗi đại đội trong biên chế sư đoàn bộ binh được trang bị 9 khẩu B40. Mỗi trung đoàn được trang bị 18 khẩu B41. Quân giải phóng các tỉnh được trang bị súng tiểu liên AK, B40, B41. Đặc biệt Quân giải phóng trên địa bàn các tỉnh Tây Ninh, Bình Dương... được trang bị trên 70 khẩu B40.


Đến cuối năm 1967, Quân giải phóng trên chiến trường B2 đã hình thành ba khối: bộ đội chủ lực Miền, bộ đội các quân khu, bộ đội địa phương tỉnh, huyện với đầy đủ các đơn vị binh chủng bộ binh, pháo binh, công binh, trinh sát, quân báo, đặc công, biệt động, thông tin, hậu cần.... Trong đó, Quân giải phóng chủ lực của Miền có 44.136 chiến sĩ, bao gồm Sư đoàn 9 bộ binh (9.368 chiến sĩ), Sư đoàn 5 bộ binh (6.516 chiến sĩ), Sư đoàn 5 bộ binh (5.854 chiến sĩ). Quân giải phóng chủ lực của các quân khu có 17.764 chiến sĩ. Quân giải phóng địa phương tỉnh, huyện có 65.157 chiến sĩ.


Năm 1967, chiến trường B2 tiếp nhận được khoảng 6.554 tấn trang thiết bị quân sự, súng đạn... từ hậu phương lớn miền Bắc. Do vậy, Quân giải phóng được trang bị khá tốt, bao gồm các loại vũ khí mới, đồng bộ, trong đó có hơn 9.000 khẩu CKC 23.360 khẩu AK, 17.000 khẩu RPD, 3.000 khẩu B40...


Để bảo đảm phục vụ cho các hướng tiến công đến cuối năm 1967, Bộ Chỉ huy Miền bố trí lại các khu vực hậu cần trên chiến trường B2: Đoàn 81 phụ trách Khu A từ đường 20 lên đường 14 Chiến khu Đ (Phước Long); Đoàn 82 phụ trách Khu B từ tây và bắc Tây Ninh dọc theo sông Sài Gòn; Đoàn 83 phụ trách Khu C từ Trảng Bàng đến Bến Cát, Dầu Tiếng, lộ 13; Đoàn 84 phụ trách Khu E từ nam đường 20 đến bờ biển; Đoàn 85 phụ trách Khu F từ Sóc Con Trăng, Snoul đến Bù Đốp; Đoàn 86 phụ trách Khu H từ Bản Đôn đến Sêrêpốc (Campuchia)...
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #25 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2023, 08:30:20 am »

II. CHIẾN ĐẤU CHỐNG QUÂN VIỄN CHINH MỸ, QUÂN ĐỒNG MINH CỦA MỸ VÀ QUÂN ĐỘI SÀI GÒN

1. Chiến đấu góp phần đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất của Mỹ

Để thực hiện cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất, Mỹ tiếp tục đưa các đơn vị chiến đấu và vũ khí, trang thiết bị quân sự vào miền Nam Việt Nam. Tính đến tháng 12-1965, tổng số quân Mỹ và quân Đồng minh trên chiến trường miền Nam Việt Nam lên tới 180.000 quân1 (Ngày 8-3-1965, Tiểu đoàn 159 thủy quân lục chiến Mỹ từ Okinawa đến Đà Nẵng. Ngày 5-5-1965, Lữ dù 173 từ Okinawa đến Vũng Tàu. Ngày 1-6-1965, Tiểu đoàn 1 bộ binh Úc đến Biên Hòa. Ngày 23-6-65, hai tiểu đoàn thủy quân lục chiến đến miền Nam, trong đó 1 tiểu đoàn đóng ở Sài Gòn. Ngày 12-7-1965, Sư đoàn bộ binh số 1 Mỹ (Sư đoàn Anh cả đỏ) đến miền Nam. Ngày 29-7-1965, Lữ 1 thuộc Sư đoàn dù 101 đến Cam Ranh. Ngày 30-11-1965, Sư đoàn 1 kỵ binh đến An Khê. Ngày 8-11-1965, Sư đoàn 1 Nam Triều Tiên đến miền Nam. Ngày 29-12-1965, Lữ 3 thuộc Sư đoàn 25 (Sư đoàn “Tia chớp nhiệt đới”) từ Hawai đến Pleiku), gồm 3 sư đoàn, 3 lữ đoàn bộ binh (33 tiểu đoàn), 21 tiểu đoàn pháo (378 khẩu), 5 tiểu đoàn và 3 đại đội thiết giáp (582 xe), 81 đại đội không quân (1.741 chiếc, trong đó có 345 máy bay chiến đấu và 1.023 trực thăng), 47 tàu hải quân. Bên cạnh đó, Mỹ còn giúp chính quyền Sài Gòn xây dựng, hiện đại hóa 520.000 quân, trong đó có 289.000 quân chủ lực (gồm 10 sư đoàn, 5 trung đoàn và 20 tiểu đoàn bộ binh)... Tất cả hình thành nên một liên minh quân sự khoảng 72 vạn quân để chuẩn bị cuộc phản công quy mô lớn.


Trên địa bàn miền Đông Nam Bộ, Mỹ và chính quyền Sài Gòn ráo riết điều chỉnh lại chiến trường, giải tán biệt khu Phước - Bình - Thành, sáp nhập vào khu chiến thuật 32; thành lập khu chiến thuật 33 thuộc vùng 3 chiến thuật (Biên Hòa, Long Khánh, Phước Long, Bình Tuy, Tây Ninh); thành lập căn cứ liên hợp quân sự Biên Hòa, cầu tiếp vận thiết bị ở Vũng Tàu, Sài Gòn; củng cố căn cứ không quân Tân Sơn Nhất, Biên Hòa; lập Bộ Tư lệnh Lục quân Mỹ ở Long Bình (20-6-1965), Bộ Tư lệnh Dã chiến ở Biên Hòa (15-3-1966), Bộ Tư lệnh Hải quân (1-8-1965), Bộ Tư lệnh Không quân1 (Trên toàn miền Nam, Mỹ lập căn cứ liên hợp quân sự Đà Nẵng căn cứ Cam Ranh, đầu cầu tiếp vận thiết bị kho tàng ở Cam Ranh, Đà Nẵng, Quy Nhơn, củng cố sân bay Đà Nẵng, xây sân bay Chu Lai, lập Bộ Tư lệnh Alpa (tháng 9-1965 đổi thành Bộ Tư lệnh Dã chiến đóng ở Nha Trang))...


Tháng 1-1966, cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất chính thức bắt đầu, Mỹ liên tiếp mở 450 cuộc hành quân lớn nhỏ nhằm tìm diệt lực lượng Quân giải phóng và cơ quan đầu não của bộ máy kháng chiến2 (Báo cáo tổng kết kinh nghiệm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (B2)). Từ ngày 8-1-1966 đến ngày 10-5-1966, Mỹ mở 13 cuộc hành quân quy mô lớn đánh vào Chiến khu Dương Minh Châu, Chiến khu Đ, Bời Lời, Củ Chi, Long Nguyên, Xuyên Mộc, Hắc Dịch...1 (Cuộc hành quân Marauder đánh vào Bàu Trai - Hậu Nghĩa của Lữ 173 dù va 1 tiểu đoàn Úc. Cuộc hành quân Grimp đánh vào Hố Bò - An Nhơn Tây của Sư đoàn 1 bộ binh Mỹ, 1 tiểu đoàn Úc và 8 tiểu đoàn ngụy từ ngày 8-1 đến ngày 5-2-1966. Cuộc hành quân Masterp đánh vào Bời Lời - Bà Nhã - Bầu Đồn của Lữ 2 Sư đoàn 1 bộ binh Mỹ. Cuộc hành quân Rolling - Stone đánh vào Nhà Đỏ - Bông Trang của Lữ 1 Úc trong tháng 3-1966. Cuộc hành quân Hattisbung đánh vào Bến Cầu - Tây Ninh của Lữ 2 Sư đoàn 25 Mỹ. Cuộc hành quân Silver City đánh vào Chiến khu của Lữ 2 Sư đoàn 1, Lữ 173 dù và 1 tiểu đoàn Úc từ ngày 7-3 đến ngày 24-3-1966 Cuộc hành quân Birmingham đánh vào Chiến khu C của Sư đoàn 1 bộ binh Mỹ, Lữ 173 dù Mỹ và 7 tiểu đoàn ngụy từ ngày 24-4 đến ngày 18-5-1966. Cuộc hành quân Mali đánh vào Bàu Trai - Đức Lập của Lữ 2 Sư đoàn 25 Mỹ từ ngày 27-4 đến ngày 14-5-1966. Cuộc hành quân Austin đánh vào Bù Gia Mập, biên giới Phước Long của Lữ 1 Sư đoàn 101 dù Mỹ từ ngày 1-5 đến ngày 17-5-1966 Cuộc hành quân Whin đánh vào Bơi Lời - An Tịnh của 1 lữ đoàn thuộc Sư đoàn 25 Mỹ. Cuộc hành quận Hardi - deed đánh vào Bà Rịa của Lữ 2 Sư đoàn 1 Mỹ và 1 tiểu đoàn Úc tháng 5-1966. Cuộc hành quân Houston đánh vào Dầu Tiếng của Lữ 1 Sư đoàn 1 Mỹ). Trong quá trình thực hiện các cuộc hành quân phản công của Mỹ, quân lực Sài Gòn cũng đồng thời mở các cuộc hành quân cấp sư đoàn (thiếu), cấp lữ đoàn phục vụ việc bình định và bảo đảm an ninh xung quanh căn cứ của Mỹ2 (Hành quân “xây dựng 2/7” của E7/f5 ở Phước Vĩnh. Hành quân "Dân Tân 33” của F10 ngụy ở Đất Cuốc. Hành quân “An dân 6-1966” ở Tân Phú Trung. Sau tháng 5-1966, địch quay về đối phó với hoạt động mùa mưa của ta, nổi lên là cuộc hành quân Elpaso của F1 bộ binh Mỹ, Lữ 173 dù My ở Bình Long - Hớn Quản từ tháng 6 đến tháng 7-1966 đối phó với Chiến dịch Bình Long của Quân giải phóng).


Trên địa bàn miền Tây Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ, Mỹ chủ yếu sử dụng lực lượng ngụy mở các cuộc hành quân cấp trung đoàn càn quét vùng Thạnh Phú (Bến Tre), Chợ Gạo, Cai Lậy (Mỹ Tho), nam Cao Lãnh, bắc Hồng Ngự, Bến Lức, Đức Hòa (Long An)... (Khu Cool; dọc bờ sông Bảy Háp, Đầm Dơi, Giồng Riềng, Long Mỹ, Kinh Xáng theo vòng cung Cần Thơ, Vĩnh Long, An Giang... (Khu 9); Võ Xu, Võ Đắc, Bình Tuy, căn cứ Lê Hồng Phong, nam Bình Thuận, Phước Long, Hoài Đức... (Khu 6) nhằm hỗ trợ cho công cuộc bình định1 (Ở Khu 8: Mỹ - ngụy càn ven biển Thạnh Phú (Bến Tre), Chợ Gạo, Cai Lặy (Mỹ Tho), nam Cao Lãnh, bắc Hồng Ngự và Bến Lức - Đức Hòa (Long An), ở Khu 9: Mỹ - ngụy đánh vào tuyến sông Bảy Háp, Đầm Dơi, Giồng Riểng, Long Mỹ, Kinh Xáng, lộ vòng cung Cần Thơ, Vĩnh Long, An Giang).


Ngày 6-11-1965, Bộ Chính trị gửi thư cho Trung ương Cục và Khu ủy Khu 5 chỉ thị: “đánh giá cho đúng việc tăng cường lực lượng mới của Mỹ. Cần phải thấy rằng [Mỹ - BT] đưa thêm mấy vạn quân với trang bị tối tân trong lúc cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta đang diễn ra rất mạnh mẽ, quyết liệt và rộng khắp, trong lúc chiến tranh du kích đã phát triển cao, quân chủ lực của ta đang xây dựng và chỉnh huấn thành những quả đấm mạnh, trong lúc ngụy quân, ngụy quyền đang bị đánh tan rã nghiêm trọng. Cũng chính vì vậy mà khi đưa thêm quân vào miền Nam, chúng hy vọng trước hết là giữ cho ngụy quân ngụy quyền không bị tan rã mau chóng, giữ vững một số vị trí then chốt để đề phòng những cuộc tấn công lớn của ta. Đồng thời với lực lượng có thêm, chúng sẽ từng bước phản công lại ta hòng giành lại thế chủ động và tạo ra thế mạnh cho chúng”. “Nhưng rõ ràng là tình hình không còn cho phép chúng làm được như vậy. Thật vậy, với số quân mới được tăng thêm, đế quốc Mỹ không thể triển khai bố trí lực lượng theo ý muốn của chúng mà trước hết là nhằm đối phó với ta... cho nên dù địch cố gắng bước đầu tập trung quân để phản công ta, nhưng rồi lại phải chuyển vào thế phòng ngự”. “Sắp đến, bắt đầu mùa khô, khi Mỹ thêm nhiều binh lực và phương tiện vận chuyển cơ động, chắc chắn chúng sẽ mở nhiều cuộc tấn công vào chiến trường rừng núi và nửa rừng núi; với quân Mỹ là chính, có kèm theo quân ngụy và quân chư hầu để cố giành chủ động, cố đạt một số thắng lợi để gây ảnh hưởng chính trị hòng đẩy ta vào thế bị động, gây thiệt hại khó khăn cho ta, có thể Mỹ sẽ dùng hình thức và chiến thuật chủ động tấn công để đẩy ta vào thế phòng ngự. Do đó, nếu ta không dùng hình thức phản công chiến dịch, phản công chiến đấu để tiêu diệt quân Mỹ và quân ngụy thì ta sẽ bỏ lỡ rất nhiều cơ hội và có thể lâm vào bị động. Cho nên ta cần phải coi các cuộc tấn công mùa khô của Mỹ là một cơ hội tốt nhất để diệt quân Mỹ ngoài công sự với những điều kiện thuận lợi mà trong các cuộc chiến đấu công đồn để diệt viện không thể có được”. “Để đánh bại quân Mỹ và quân ngụy, nhất thiết ta phải giành và nắm vững thế chủ động. Trong giai đoạn hiện nay, nắm thế chủ động là phải giữ và phát triển hơn nữa quyền làm chủ rừng núi, đồng bằng, chung quanh đô thị và tiên tới cả từng vùng trong mỗi đô thị nữa. Thế chủ động này của ta phải dựa trên cơ sở bố trí hợp lý nhất các bộ đội chủ lực của Miền, của Khu, các bộ đội địa phương tỉnh, huyện, các lực lượng dân quân, du kích và lực lượng chính trị của quần chúng cũng như trên cơ sở giao nhiệm vụ thích hợp nhất cho từng chiến trường, đồng thời luôn luôn giữ được thế tấn công địch mạnh và tự vệ mình tốt”1 (Tài liệu số 1493, lưu trữ Ban Tổng kết chiến tranh B2).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #26 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2023, 08:32:38 am »

Tháng 12-1965, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 12 được tổ chức đã nhận định: “mặc dầu đế quốc Mỹ đưa vào miền Nam hàng chục vạn quân đội viễn chinh, lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn”2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.26, tr.633).


Trên chiến trường B2, từ sau chiến thắng Bình Giã, Đồng Xoài, Quân giải phóng liên tục mở chiến dịch tấn công đánh phủ đầu quân Mỹ và tạo nên nhiều chiến thắng vang dội.

Trên địa bàn Khu 8, với quyết tâm làm suy yếu quân ngụy trước khi lính Mỹ tràn vào, tháng 5-1965, Bộ Tư lệnh Quân khu chỉ thị các tỉnh “sử dụng sức mạnh tổng hợp, hợp đồng chặt chẽ ba thứ quân, 3 mũi tiêu diệt địch, chuẩn bị mục tiêu cho từng cấp (khu, tỉnh, huyện, xã) bảo đảm hợp đồng tác chiến liên tục và đều khắp”1 (Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu 8: Quân khu 8 - Ba mươi năm kháng chiến (1945-1975), Sđd, tr.529).


Ở Mỹ Tho, Tiểu đoàn 261, Tiểu đoàn 263 hoạt động nghi binh ở vùng 20 tháng 7, tạo điều kiện cho Quân giải phóng địa phương phục kích bẻ gãy cuộc càn “Tiền Giang 22/65 tại các xã Thạnh Phú, Mỹ Thành, Phú Nhuận và Hậu Mỹ (từ ngày 3 đến ngày 6-6-1965). Tiểu đoàn 514 phục kích lực lượng bảo an đồn Cái Nứa, diệt tên quận trưởng Cái Bè (tháng 6-1965). Trung đội 1 công binh sử dụng 200kg thuốc TNT đã đánh sập cầu Cổ Cò ở An Thái Đông (25-6-1965). Tiểu đoàn 261 phục kích tiểu đoàn cơ động của Sư đoàn 7 khu chiến thuật Tiền Giang tại Mỹ Hạnh Đông (29-6-1965)2 (Với chiến công này, Tiểu đoàn 261 được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất). Tiểu đoàn 261 tô chức phục kích lực lượng Sư đoàn 7 trên sông Ba Rài, đánh chìm 10 tàu, bắt 1 chiếc khác (9-1965); hỗ trợ du kích xã Ngũ Hiệp (Cai Lậy) tiến đánh diệt đồn Ngũ Hiệp (22-9-1965). Tiểu đoàn 514 tập kích đại đội biệt động quân tại ngã ba Lương Phú. Tiểu đoàn 261, Đại đội đặc công 314 tập kích sân bay Thân Cửu Nghĩa (tháng 11-1965)3 (Phía Quân giải phóng hy sinh 26 và bị thương 49 cán bộ, chiến sĩ). Ở Long An, Quân giải phóng tập kích lực lượng Sư đoàn 25 ngụy tại Láng Ven (7-5-1965), ngã ba Hựu Thành (6 1965); sử dụng kỹ thuật “đánh bồi”, “đánh nhồi” tiến công tiểu khu Hậu Nghĩa ở Bàu Trai lần 1 (17-9), lần 2, (27-10), lần 3 (30-11-1965). Kỹ thuật “đánh bồi”, “đánh nhồi” sau đó được Quân giải phóng tỉnh áp dụng cho các cuộc tiến công đồn Thanh Hà (Bến Lức), đôn Lạc Tấn (Tân Trụ), đồn Mỹ Lộc (Cần Giuộc). Tiếp đó, Quân giải phóng tỉnh từ vùng Hạ Cần Giuộc, vùng thượng Cần Đước vận động tiến công căn cứ Xoài Đội - Chợ Kiến, lực lượng bảo an ở Cầu Tràm xã Long Thượng (tháng 10-1965); tập kích đồn Gò Đen (11-11-1965); mở mảng Châu Thành, Tân Trụ; tấn công đồn Lạc Tân, Nhơn Thạnh Trung, Bình Chánh, Bình Tân, Bình Lập (tháng 11-1965)...


Đến cuối năm 1965, vùng giải phóng được mở rộng từ Cần Đước, Cần Giuộc xuống Tân Trụ, Châu Thành... Đặc biệt, mũi tiến công binh vận đã làm cho khoảng 6.000 lượt binh lính Sư đoàn 25 đào rã ngũ cùng với hơn 8.000 tên chết và bị thương. Sư đoàn 25 ngụy đã thực sự bị đánh quỵ trên hai vùng nam bắc lộ 4 của Long An. Tướng Cao Văn Viên đã gọi Sư đoàn 25 ngụy là “sư đoàn bệ rạc nhất của bất cứ quân lực nào trên thế giới”. Tướng William Childs Westmoreland thì cho rằng việc điều động Sư đoàn 25 ngụy về Long An, Hậu Nghĩa là một sai lầm trong việc dụng binh1 (Trích theo Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu 8: Quân khu 8 - Ba mươi năm kháng chiến (1945-1975), Sđd, tr.537, 538).


Trên địa bàn Khu 9, từ giữa năm 1965, thực hiện kế hoạch bình định, Mỹ sử dụng B52 rải thảm bom đạn và chất độc hóa học, đánh phá ác liệt vào vùng giải phóng, căn cứ kháng chiến; đặc biệt là các địa bàn Rạch Gốc, kinh Chín Bộ, Khánh Bình Tây, Khánh Lâm, sông Ông Đốc, sông Bảy Háp, cửa Bồ Đề, rừng đước Năm Căn... (Cà Mau); kênh mương đào Đông Hưng, rạch Hóc Hỏa Đông Yên, kinh xáng Hòa Hưng... (Rạch Giá); vùng Ô Môn, Phụng Hiệp, Long Mỹ... (Cần Thơ). Do vậy, “các xã thuộc vùng giải phóng tỉnh, huyện, số đảng viên hoạt động tích cực chỉ chiếm 5%, 50% lưng chừng, số còn lại không hoạt động". Thậm chí có nhiều cán bộ kháng chiến còn phát biểu: “Lên Khu học tập thấy tình hình địch mỏng như lá lúa nhưng về đơn vị thì lại thấy nó dày hơn da trâu”1 (Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu 9: Quân khu 9 - Ba mươi năm kháng chiến (1945-1975), Sđd, tr.378).


Trước thực trạng đó, tháng 10-1965, Quân khu tiến hành một đợt chỉnh huấn cho cán bộ từ tiểu đoàn trở lên để quán triệt tình hình nhiệm vụ trong giai đoạn mới và phát động phong trào đấu tranh vũ trang để xốc lại tinh thần quân dân trên địa bàn Khu 9.


Thực hiện tinh thần đó, Đại đội 1 Tiểu đoàn 207 sử dụng chiến thuật phòng ngự phục kích đánh bật các đợt xung phong của 1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 32 Sư đoàn 21 ngụy tại rạch Kè Một, Vĩnh Bình Bắc, Vĩnh Thuận (20-7-1965). Tiểu đoàn Phú Lợi phối hợp cùng bộ đội địa phương huyện phục kích chặn đánh Trung đoàn 33 Sư đoàn 21 bộ binh ngụy tại Tân Hòa, An Hòa, Hiệp Hòa (từ ngày 15-10 đến ngày 20-10-1965). Tiểu đoàn 857 vận động đánh đồn Phước Chí, đồn Bờ Dừa (xã Chánh Hội)... Đặc biệt, Quân giải phóng tỉnh mở tuyến Châu Thành A (10-10-1965); tuyến Định Yên, Long Phước, Tân Hậu; tuyến Tân Hòa, Vĩnh Thới, Tân Lược, Tân Thới, Phong Hòa, Thạnh Lợi (tháng 11-1965)... chủ động tiến công lực lượng Trung đoàn 10 Sư đoàn 9 ngụy. Tiểu đoàn 309 mở tuyến ở An Biên, đánh kỳ tập vào căn cứ Thứ Bảy, Thứ 9, Thứ 9 Rưỡi, Thứ 10, Thứ Năm, Thứ Ba, căn cứ Xẻo Rô, giải phóng các xã Tây Yên, Đông Yên, Đông Hòa, Đông Thái và tuyến kinh xáng Xẻo Rô từ Thứ Ba đến Thứ Mười Một (tháng 11-1965). Tiểu đoàn 207 Rạch Giá đánh thiệt hại nặng đồn Đường Xuồng huyện Giồng Riềng, đồn Thới An huyện Gò Quao (11-10-1965)...


Trên địa bàn Khu 6, Đại đội 460 Hàm Tân tập kích một trung đội thuộc Đại đội bảo an số 513 tại Núi Đất, xã Tân Thuận, huyện Hàm Tân (5-5-1965). Đại đội 486 và Đại đội 487 Bình Thuận tập kích lực lượng bảo an, dân vệ và phòng vệ dân sự tại xã Phú Long, Hàm Thuận (17-5-1965). Đại đội 422 bộ đội địa phương huyện Tánh Linh phòng ngự chống Đại đội bảo an số 700 và 2 đại đội bảo an khác tại xã Gia An, huyện Tánh Linh (2-9-1965). Đại đội 421 và một trung đội của Đại đội 422 bộ đội địa phương huyện Hoài Đức phòng ngự chống Trung đoàn 43, Sư đoàn 18 ngụy và 1 tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn dù 173 Mỹ tại xã Chính Đức, huyện Hoài Đức (24-11-1965)...


Trên địa bàn miền Đông Nam Bộ, Tiểu đoàn 1 Quyết Thắng tổ chức phòng ngự chống cuộc càn của Trung đoàn 8, Sư đoàn 5 ngụy tại ấp Bàu Lách, xã An Nhơn Tây, huyện Củ Chi (9-5-1965). Trung đoàn Đồng Nai phục kích Tiểu đoàn 41 bảo an và chi đội thiết giáp của tiểu khu Long Khánh tại Cầu Lu, quốc lộ 20, huyện Định Quán (15-5-1965). Đội biệt động 67 tập kích quân Mỹ và cảnh sát Sài Gòn tại nhà hàng Mỹ Cảnh bến Bạch Đằng (23-6-1965). Tiểu đoàn Phú Lợi, Đại đội 64 huyện Bến Cát phục kích lực lượng bảo an chi khu Trị Tâm, tiến công Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 8 Sư đoàn 5 ngụy tại Suối Dứa, Thanh An, Dầu Tiếng (8-7-1965). Đại đội 61 bộ đội huyện Bến Cát phục kích Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 7 Sư đoàn 5 ngụy tại ấp cầu Tây, xã Thới Hòa, huyện Bên Cát (1-8-1965). Đội 5 thuộc F100 biệt động Sài Gòn - Gia Định tập kích Tổng nha cảnh sát ngụy, quận 1, thành phố Sài Gòn - Gia Định (16-8-1965). Đội 5 thuộc F100 biệt động Sài Gòn - Gia Định tập kích bọn sĩ quan không quân Mỹ tại khách sạn Metropol số 150 Trần Hưng Đạo (4-12-1965)...


Đặc biệt, chiến thắng Đất Cuốc (8-11-1965), Bàu Bàng (12-11-1965), Dầu Tiếng (27-11-1965)... cùng với chiến thắng Vạn Tường, Quảng Ngãi (18-8-1965), chiến thắng Plâyme, Tây Nguyên (từ ngày 10-10 đến ngày 18-11-1965)..., Quân giải phóng không những khẳng định “có thể đánh Mỹ”, “thắng Mỹ" mà còn tìm ra công thức đánh Mỹ hữu hiệu bằng cách “nắm thắt lưng Mỹ mà đánh”.


Để đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, Cục Chính trị Miền phát động phong trào thi đua đánh Mỹ trên toàn chiến trường B2, đồng thời bổ sung các danh hiệu “dũng sĩ diệt Mỹ”, “dũng sĩ diệt cơ giới”, “dũng sĩ diệt máy bay”... và cụ thể hóa tiêu chuẩn các cấp dũng sĩ dành cho cá nhân. Tiếp đó, tháng 3-1966, Trung ương Cục tổ chức Hội nghị lần thứ tư đề ra 4 yêu cầu cụ thể cho toàn chiến trường B2: tiêu hao tiêu diệt sinh lực địch; giữ vững, mở rộng khu giải phóng; xây dựng lực lượng lớn mạnh về mọi mặt; đẩy mạnh phong trào đấu tranh ở các đô thị1 (Ở Vạn Tường, ta dùng 1 trung đoàn đánh tan cuộc càn của 8.000 quân Mỹ có hải quân và không quân yểm trợ, diệt 919 tên, phá hủy 22 xe tăng, bắn rơi 13 máy bay. Ở Plâyme đã diệt 3.000 tên, trong đó có 1.700 Mỹ; diệt 2 tiểu đoàn ngụy và 2 chi đoàn thiết giáp, bắn rơi 13 máy bay; đánh thiệt hại nhiều đơn vị thuộc Sư đoàn 1 kỵ binh không vận của Mỹ)...
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #27 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2023, 08:34:00 am »

Để đối phó với cuộc phản công mùa khô lớn nhất của Mỹ, trên chiến trường miền Đông, Bộ Chỉ huy Miền bố trí Sư đoàn 9 phòng ngự trên vòng cung Tây Ninh - Bình Long; Chiến khu Đ bố trí Sư đoàn 5 phòng ngự trên vòng cung Long Khánh - Biên Hòa - Bà Rịa. Xen kẽ các chiến trường là lực lượng Quân giải phóng các quân khu, các tỉnh, huyện và lực lượng du kích địa phương.


Tháng 1-1966, Mỹ chính thức mở đầu cuộc phản công lần thứ nhất (mùa khô năm 1965 - 1966) trên 5 hướng (5 kế hoạch 5 mũi tên), gồm: bắc - đông bắc Sài Gòn, đông nam Sài Gòn, đông nam Tuy Hòa - Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi.


Trên chiến trường miền Đông, ở hướng bắc và đông bắc Sài Gòn, Đại đội 2 Tiểu đoàn 2 Gò Môn kết hợp với bộ đội huyện Củ Chi phòng ngự chống trận càn của Lữ đoàn 199 bộ binh Mỹ tại ấp Bôn Phú, xã Trung An (26-1-1966)1 (Diệt hơn 300 tên địch, bắn cháy 24 máy bay trực thăng, 1 máy bay phản lực F105, thu 120 súng các loại. Ta bị thương 2 đồng chí, tiêu thụ 10 viên đạn AT, 3.000 viên đạn nhọn và gần 100 trái mìn, lựu đạn. Với chiến công trên, Đại đội 2 và đội du kích xã Trung An được tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất. 24 cán bộ, chiến sĩ được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, Dũng sĩ diệt máy bay Mỹ). Sư đoàn 9 Quân giải phóng tập kích 1 chiến đoàn của Lữ 1 thuộc Sư đoàn bộ binh số 1 của Mỹ2 (Diệt 1.300 lính, gồm 2 tiểu đoàn bộ binh, 1 chi đoàn thiết giáp) tại Bông Trang - Nhà Đỏ trong cuộc hành quân Rolling - Stone (23-2-1966). Tiểu đoàn 1 Quyết Thắng tập kích Sư đoàn 25 Mỹ tại ấp Gò Nổi, xã An Nhơn Tây, huyện Củ Chi (25-2-1966)3 (Trận tập kích Gò Nổi giành thắng lợi có ý nghĩa rất lớn đối với lực lượng vũ trang Quân khu Sài Gòn - Gia Định. Lần đầu tiên ta tổ chức trận tập kích diệt cơ bản 1 tiểu đoàn quân Mỹ tại chiến trường Củ Chi. Thắng lợi của trận đánh đã cho lực lượng vũ trang Quân khu rút ra nhiều bài học kinh nghiệm để hình thành cách đánh các cụm quân Mỹ đóng chốt dã ngoại. Ưu điểm của trận đánh là ta nắm chắc thủ đoạn hoạt động và thế phòng thủ của địch, xây dựng được quyết tâm chiến đấu hợp lý, sáng tạo. Cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn có quyết tâm chiến đấu cao, thể hiện tinh thần kiên quyết tiến công địch, bình tĩnh, sáng tạo trong xử trí tình huống khó khăn ngoài dự kiến. Trong chiến đấu các đơn vị triệt để áp dụng cách đánh gần, thọc sâu, chia cắt và tổ chức hiệp đồng tác chiến chặt chẽ. Hạn chế của trận đánh là ta chọn hướng tiến công phía bắc chưa phù hợp, chưa dự kiến hết tình huống khó khăn, xử trí còn chậm, dẫn đến trận đánh kéo dài, gây thương vong, tổn thất nhiều. Công tác thu gom vũ khí chưa tốt nên phải phá hủy phần lớn vũ khí trang bị của địch, số thu được rất ít. Xét thành tích, chiến công của Tiểu đoàn 1 Quyết Thắng tại trận Gò Nổi, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã tặng Tiểu đoàn Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất. Đại đội 1, Đại đội 2 được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì). Trung đoàn bộ binh số 2 thuộc Sư đoàn 9 Quân giải phóng tập kích 1 tiểu đoàn của Lữ đoàn 1 thuộc Sư đoàn bộ binh số 1 của Mỹ tại Sở cao su Phú Hưng, Bến Cát (5-3-1966). Lực lượng Quân giải phóng Thủ Dầu Một và dân quân du kích bẻ gãy nhiều cuộc càn tại Chiến khu Đ và bắn rơi 6 trực thăng trong cuộc hành quân Silver City của Mỹ (12-3-1966). Đại đội súng cối 81mm của Quân khu Sài Gòn - Gia Định kết hợp với Đại đội ĐKZ Quân khu 8 và một trung đội súng cối của tỉnh Long An tập kích lực lượng không quân Mỹ tại sân bay Tân Sơn Nhất, phá hủy 67 máy bay các loại, bắn cháy 1 kho xăng dầu 15 triệu lít (12-4-1966). Đội biệt động huyện Thủ Đức tập kích trung tâm huấn luyện Yết Kiêu (đêm 18 rạng sáng ngày 19-4-1966)1 (Theo tin tức nắm được từ cơ sở quần chúng, địch chết và bị thương trên 200 tên (trong đó có cả sĩ quan của hai ban chỉ huy Tiểu đoàn 2 và 3 đến trung tâm chờ nhận quân về). Phá hủy nặng một số căn nhà trong doanh trại của địch. Ta an toàn). Cơ quan H5 (Quân giới) phòng ngự chống lực lượng Sư đoàn bộ binh 25 và Trung đoàn cơ giới 11 của Mỹ tại ấp 7, ấp 8, xã Thanh Tuyền, huyện Dầu Tiếng từ ngày 24-4 đến ngày 6-5-1967, phá hủy 11 xe cơ giới (trong đó có 2 xe bị ta bắn bằng B40, 9 xe đánh bằng mìn), bảo vệ được cứ của đơn vị và bảo vệ được Phòng Tuyên huấn T41. Sư đoàn 9 Quân giải phóng tập kích đánh thiệt hại một chiến đoàn thuộc Sư đoàn bộ binh số 1 của Mỹ tại Bàu Sắn trong cuộc hành quân Birmingham của Mỹ vào Chiến khu Dương Minh Châu (tháng 5-1966)...


Ở hướng đông nam Sài Gòn, Trung đoàn bộ binh số 5 thuộc Sư đoàn 5 kết hợp với Quân giải phóng tỉnh Bà Rịa liên tiếp tập kích Lữ 173 dù của Mỹ trên đường 15 Bà Rịa (từ tháng 2 đến tháng 3-1966); tiến đánh 1 tiểu đoàn và 1 đại đội thuộc Tiểu đoàn 243 Trung đoàn 18 ngụy tại Võ Xu (27-2-1966). Lực lượng đặc công thuộc Sư đoàn 5 Quân giải phóng tập kích căn cứ My ở Vũng Tàu, phá hủy 29 trực thăng (12-3-1966). Trung đoàn 4, Sư đoàn 5 Quân giải phóng Miền phòng ngự chống Lữ đoàn 199, Trung đoàn 11 thiết giáp Mỹ tại xã Xà Bang, huyện Châu Đức (10-4-1966); tấn công 1 tiểu đoàn thuộc Lữ 173 dù của Mỹ tại Núi Lé phía bắc Bình Giã (11-4-1966)...


Trên chiến trường Khu 6, Đại đội 2 Tiểu đoàn 430 Hàm Thuận vận động tiến công đại đội bảo an tại thôn Vườn Trầu xã Hàm Mỹ, huyện Hàm Thuận Nam (5-2-1966). Trung đoàn 4, Sư đoàn 5 Quân giải phóng Miền tập kích Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 43, Sư đoàn 18 ngụy tại ấp chiến lược Võ Su xã Võ Su, huyện Đức Linh (28-2-1966). Tiểu đoàn 482 bộ đội tỉnh Bình Thuận tập kích 4 trung đội dân vệ, Đại đội bảo an số 443 tại ấp Tầm Hưng, xã Tầm Hưng, quận Thiện Giáo (4-3-1966)...


Trên chiến trường Khu 8, Tiểu đoàn 269 Quân khu, Trung đội đặc công tỉnh Kiến Tường và du kích 3 xã Thạnh Phước, Bình Hòa, Bình Phong Thành tập kích Tiểu đoàn biệt kích Lôi Hổ tại ấp Nội Ngọ, xã Thạnh Phước, Tuyên Nhơn, Kiến Tường lần 1 (29-1-1966), lần 2 (20-3-1966); giải phóng tuyến hành lang vận chuyển về vùng trung tâm Đồng Tháp Mười. Đại đội 1, 2 Quân giải phóng tỉnh Kiến Tường và trung đội du kích Nhơn Hòa Lập, Hậu Thạnh, Tân Ninh tập kích đại đội biệt kích tiểu khu Kiến Tường tại ấp 4, xã Hậu Thạnh, quận Kiến Bình (2-4-1966). Quân giải phóng địa phương Đức Hòa đã đánh thiệt hại một đại đội Mỹ thuộc Lữ dù 173, làm chủ trận địa, thu 13 súng tại Bàu Sen (30-5-1966)...


Trên chiến trường Khu 9, Tiểu đoàn 207 phục kích đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn bảo an Kiên Giang đang trên đường giải tỏa kinh xáng Cò Tuất, thuộc xã Bàn Tân Định, huyện Giồng Riềng (26-1-1966). Tiểu đoàn 303 chủ lực Khu do đồng chí Võ Thành Tôn (Ba Tôn) chỉ huy đã đẩy lùi nhiều cuộc càn của Trung đoàn 31 thuộc Sư đoàn 21 ngụy (28-1-1966). Đặc biệt, Tiểu đoàn 303 đã làm nên chiến thắng vang dội tại kinh Xuôi, đánh bại 2 chi đoàn xe M113 có sự chi viện của hàng trăm lượt máy bay chiến đấu của Mỹ. Tiểu đoàn 309 tiến công quân ngụy trên tuyến sông Trẹm, tiêu diệt đồn Vàm Xáng, căn cứ Tân Bàng; kết hợp với Tiểu đoàn 306 phục kích bắn chìm 5 tàu chiến, mở thông hành lang từ U Minh Thượng xuống tận U Minh Hạ (tháng 1-1966)...


Trong mùa khô năm 1965 - 1966, Quân khu 9 chủ trương mở một đợt hoạt động hướng Rạch Giá, trọng điểm là huyện Châu Thành A và Gò Quao. Tiểu đoàn 309, 303 phục kích đánh địch, làm chủ địa bàn hơn 1 tháng, củng cố vùng mới giải phóng gồm 6 xã: Thúy Liễu, Vĩnh Phước, Định Hoa, Hóa Quản, Bình An, Long Thạnh, Tắc Cậu...1 (Trong đợt phản công, địch bị loại ra ngoài vòng chiến đấu 25.000 lính Mỹ, 25.000 lính Đồng minh, 95.000 lính ngụy; đặc biệt có 9 tiểu đoàn Mỹ bị diệt (trong đó có 4 tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 1 bộ binh, 1 tiểu đoàn thuộc Lữ 173 dù bị diệt tại chiến trường Nam Bộ. Lưu trữ phòng Khoa học quân sự Quân khu 7). Trong 3 tháng đầu năm 1966, Quân giải phóng đã bao vây 10 chi khu và 29 đồn bót, bức rút 1 chi khu và 12 đồn bót. Tính đến hết tháng 6-1966, lực lượng ba thứ quân đã phá sạch 2.668 ấp (chưa kể phá lỏng), chỉ còn lại hơn 300 ấp bị địch kìm kẹp nặng2 (Báo cáo tổng kết kinh nghiệm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (B2)), ở cực Nam Trung Bộ, tính đến tháng 4-1966, dân vùng giải phóng và dân vùng căn cứ toàn Khu là 152.400 người3 (Đến cuối năm 1965, lực lượng 3 thứ quân đã phá banh phá dứt điểm 238 trong tổng số 560 ấp, giải phóng 203.545 dân trong tổng số 744.400 dân. Trong 4 tháng đầu năm 1966, phá thêm được 9 ấp, 2 khu dinh điền với khoảng 4.000 dân (địch lấn xúc dân lại là 22.000 người)).


Trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất, dù đã sử dụng tới 25 vạn quân4 (Trong tổng số 70 vạn gồm lính Mỹ, quân Đồng minh và quân ngụy) nhưng Mỹ chẳng những không giành được quyền chủ động trên chiến trường mà còn bị động, bị Quân giải phóng tiến công tiêu diệt, tiêu hao. Tỷ lệ thương vong trung bình là 1/5 nghiêng về lính Mỹ, quân Đồng minh và quân ngụy. Đại sứ Mỹ Cabot Lodge thừa nhận: “Cuộc phản công không làm hao tổn được Việt cộng, không tiêu diệt được một đơn vị chính quy lớn nào của Việt cộng, không ngăn được du kích phát triển, hậu phương không ổn định. Mỹ và ngụy Nam Việt Nam vẫn bị động, Quân đội Sài Gòn giảm chất lượng nhanh chóng, lực lượng Mỹ tăng cường bổ sung không kịp, khả năng tiếp vận hạn chế, quân chính quy Việt cộng cơ động”1 (Lời của Lodge về Mỹ thú nhận ngày 30-4-1966).


Cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất của Mỹ kết thúc. Thực tiễn chiến trường chứng minh rằng, lực lượng Quân giải phóng không những lớn mạnh nhanh chóng về số lượng, mà còn ngày một hoàn thiện hơn về tổ chức lực lượng tổ chức chiến trường, tổ chức trận đánh. Đặc biệt nghệ thuật quân sự ngày một hoàn thiện hơn, linh hoạt hơn trong việc áp dụng cho từng chiến trường, từng lực lượng, từng trận đánh cụ thể. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nhận xét: “Ta đã giữ được thế chủ động và đã sáng tạo ra cách đánh thích hợp, theo ý muốn của ta... Đứng về quân sự mà nói, ta đã bắt Mỹ phải đánh theo cách của ta, không cho chúng đánh theo lối của chúng”...
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #28 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2023, 08:36:19 am »

2. Góp phần đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai của Mỹ trên chiến trường B2

Mùa khô năm 1966, Mỹ - ngụy triển khai cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai với 92 vạn quân, gồm 243 tiểu đoàn, trong đó có 83 tiểu đoàn lính Mỹ, lính Đồng minh và 160 tiểu đoàn quân ngụy, tập trung vào chiến trường chính là miền Đông Nam Bộ, đồng thời kìm chế vùng cao nguyên Trung Bộ, đồng bằng Khu 5 và đồng bằng sông Cửu Long1 (Tính đến tháng 12-1966, lực lượng Mỹ có 289.000 quân, gồm 7 sư đoàn, 4 lữ đoàn (tổng cộng khoảng 73 tiểu đoàn). Lực lượng Đồng minh có 52.000 quân, gồm 2 sư đoàn, 2 trung đoàn (khoảng 23 tiểu đoàn). Lực lượng quân ngụy có 287.000 quân chủ lực, gồm 11 sư đoàn, 4 trung đoàn, 20 tiểu đoàn (tổng cộng khoảng 161 tiểu đoàn). Lực lượng địa phương có khoảng 237.000 quân (11 tiểu đoàn, 590 đại đội bảo an, 2.400 trung đội dân vệ). Tổng số là 965.000 quân, gồm 20 sư đoàn, 10 trung đoàn (257 tiểu đoàn), 3.982 máy bay, 2.487 xe cơ giới, 2.541 pháo các loại)...


Lính Mỹ và Đồng minh chịu trách nhiệm tiến hành “tìm diệt cơ quan đầu não của bộ máy kháng chiến; quân ngụy chịu trách nhiệm giành dân, mở rộng vùng kiểm soát, tiến hành “bình định”. Tất cả tạo nên hai gọng kìm “tìm diệt” và “bình định” nhằm làm chuyển biến cục diện chiến tranh vào giữa hoặc cuối năm 1967, đặc biệt là vùng “tuyệt đối an ninh” xung quanh Sài Gòn.


Để thực hiện mục tiêu trên, trên chiến trường chính miền Đông Nam Bộ, Mỹ bố trí đến hơn 40% số quân nói trên, chia thành ba lực lượng cơ động phụ trách ba hướng, bao gồm hướng bắc (trục “tam giác sắt” - Chiến khu bắc Tây Ninh), hướng đông nam (trục Long Khánh - Bà Rịa) và hướng tây (trục Long An - Mỹ Tho), trong đó hướng bắc Sài Gòn được xem là hướng chính.


Trước bối cảnh trên, ngày 17-7-1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi nhân dân cả nước đánh Mỹ: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”.

Tháng 7-1966, Tổng cục Chính trị gửi B2 bức Điện văn SỐ1173/D về phương hướng, nhiệm vụ công tác chính trị; Chỉ thị số 26/CT-H về kế hoạch xây dựng các sư đoàn chủ lực mạnh - Chỉ thị số 28/CT-H về phát huy sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược...


Tháng 8-1966, Bộ Chỉ huy Miền tổ chức tổng kết và phổ biến một số kinh nghiệm về tổ chức chỉ huy, về kinh nghiệm và chiến thuật chiến đấu chống bộ binh - cơ giới Mỹ, về xây dựng và phát triển “vành đai diệt Mỹ”.


Tháng 10-1966, Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền tổ chức hội nghị chiến tranh du kích toàn miền Nam lần thứ ba, phát động phong trào đánh Mỹ, đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ trên chiến trường B2.


Trên tuyến phòng thủ phía bắc Sài Gòn, Bộ Chỉ huy Miền bố trí lực lượng Sư đoàn 9, Sư đoàn 7, Trung đoàn 161 (Nguyên là Trung đoàn 101, Sư đoàn 325 vào chiến trường Tây Nguyên từ năm 1964, nay được tăng cường cho chiến trường miền Đông), Trung đoàn 170 “an toàn khu”, bộ đội địa phương, dân quân du kích. Tổng lực lượng trên toàn tuyến phòng thủ có khoảng 15.000 cán bộ, chiến sĩ, bao gồm khoảng 10.000 Quân giải phóng chủ lực, 5.000 Quân giải phóng địa phương và dân quân du kích. Ngoài ra, trên toàn tuyến phòng thủ còn có kho vũ khí, súng chống tăng B40, súng phòng không 12,7 ly, Bệnh viện K77, K71A, K71B, Bệnh viện Trung ương Cục... Tất cả đều phục vụ nhiệm vụ phòng thủ, bảo vệ từ xa Chiến khu B - bắc Tây Ninh. Lực lượng hậu cần tiền phương Miền chịu trách nhiệm bảo đảm hoạt động của Quân giải phóng trên tuyến phòng thủ phía bắc do Bùi Phùng - Phó Cục trưởng Cục Hậu cần Miền phụ trách.


Trên tuyến phòng thủ phía đông nam Sài Gòn, Bộ Chỉ huy Miền bố trí lực lượng Sư đoàn 5 đứng chân trên địa bàn Bà Rịa - Long Khánh, Châu Pha - Hắc Dịch kết hợp với Quân giải phóng địa phương bảo vệ Chiến khu E, bảo vệ cơ sở hậu cần Đoàn 84, chống Lữ đoàn Hoàng gia Úc tại căn cứ Núi Đất (Bà Rịa) và lực lượng quân ngụy bố trí trên quốc lộ 15.


Tháng 9-1966, Mỹ mở đầu chiến dịch mùa khô năm 1966-1967 trên chiến trường miền Đông bằng cuộc càn Attelboro (từ tháng 9 đến tháng 11-1966) tiến đánh Chiến khu Dương Minh Châu, Dầu Tiếng, Bến Cát. Tháng 12-1966, Mỹ mở cuộc hành quân Cedar falls tiến quân vào khu tam giác, Trảng Bàng - Củ Chi - Bến Cát (từ ngày 8 đến ngày 26-1-1967). Tháng 2-1967, Mỹ tiếp tục mở cuộc hành quân Junction City (từ ngày 22-2 đến ngày 15-4-1967) thọc sâu vào Chiến khu B - bắc Tây Ninh. Tháng 6-1967, Mỹ mở cuộc hành quân Manhattan trên chiến trường Tây Ninh đánh dấu sự kết thúc cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai trên chiến trường B2. Trong các cuộc hành quân đó, Sư đoàn bộ binh số 1 “Anh cả đỏ”, Sư đoàn bộ binh 25 “Tia chớp nhiệt đới”, Lữ đoàn không vận 173, Trung đoàn kỵ binh thiết giáp 11 cùng với máy bay ném bom B52, lực lượng công binh, chó bẹcgiê... được huy động tham chiến, thực hiện chiến dịch “bóc vỏ trái đất”, “bới tung địa đạo”, “xóa bỏ Bến Súc”... nhằm truy tìm, tiêu diệt Quân giải phóng...


Từ khi cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai bắt đầu (tháng 9-1966) cho đến khi kết thúc (tháng 6-1967), trên chiến trường chính miền Đông Nam Bộ, Mỹ đã tổ chức 119 cuộc hành quân1 (Chiếm 90% các cuộc hành quân của Mỹ đã sử dụng trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai) cùng với hàng trăm cuộc hành quân càn quét của quân ngụy2 (Trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai, ngoài các cuộc hành quân của Mỹ, chính quyền Sài Gòn tổ chức khoảng 900 cuộc hành quân càn quét trên toàn miền Nam). Tuy nhiên, Mỹ không thể tìm thấy cơ quan đầu não của Quân giải phóng mà lại bị Quân giải phóng liên tục phục kích, phản kích, tiến công tiêu diệt.


Trên địa bàn miền Đông, Tiểu đoàn Phú Lợi (Thủ Dầu Một) phục kích Sư đoàn 1 bộ binh Mỹ tại ấp Bông Trang, xã Hưng Hòa huyện Bến Cát (25-6-1966). Tiểu đoàn 14 bộ đội địa phương tỉnh Tây Ninh tập kích lực lượng bảo an tại đồn Trí Huệ Cung, xã Trường Lưu, huyện Hòa Thành (12-7-1966). Trung đoàn 5 thuộc Sư đoàn 5 chủ lực Miền kết hợp với Tiểu đoàn 445 bộ đội tỉnh Bà Rịa phục kích Quân đội Hoàng gia Úc tại Sở cao su Long Tân, huyện Long Đất (18-8-1966). Phân đội ĐKZ của Tiểu đoàn 6 Bình Tân và Đoàn 10 đặc công tập kích “Ủy ban lãnh đạo quốc gia” của chính quyền Sài Gòn tại buổi lễ diễu binh trước nhà thờ Đức Bà (1-11-1966). Biệt động F100 và Tiểu đoàn 6 Bình Tân tập kích lực lượng lính dù, lực lượng thiết giáp Mỹ và lực lượng quân ngụy bảo vệ sân bay Tân Sơn Nhất (đêm mùng 3 rạng sáng mùng 4-12-1966). Tiểu đoàn 1 Quyết Thắng, Trung đội bộ đội địa phương huyện Củ Chi, Đại đội hỏa lực của Tiểu đoàn 8 và đội du kích xã Phú Hòa Tây tập kích một đại đội bộ binh cơ giới Mỹ tại gò Cây Trắc, ấp Phú An, xã Phú Hòa Đông, huyện Củ Chi (23-2-1967)1 (Tại thành phố Sài Gòn - Gia Định, ta cơ bản giải quyết hết các mục tiêu trong căn cứ Cây Trắc, diệt và làm bị thương 350 tên địch, bắn cháy và phá hỏng 18 xe tăng, xe thiết giáp, 4 xe GMC, 3 xe ủi đất, thu 70 súng các loại. Ta hy sinh 13, bị thương 80 cán bộ, chiến sĩ, tiêu thụ 120 đạn cối, 14 ĐKP, 95 trái B40 - B41 và hơn 10 ngàn đạn nhọn, 34 trái bộc phá và mìn ĐH10. Trận tập kích cụm chốt dã ngoại Cây Trắc của Tiểu đoàn 1 Quyết Thắng tuy chưa đạt được yêu cầu dứt điểm, tiêu diệt toàn bộ quân địch, nhưng ta thực hiện tiêu diệt một lực lượng lớn sinh lực, phương tiện chiến tranh của quân Mỹ. Trận đánh có tác dụng thúc đẩy phong trào thi đua diệt Mỹ ở toàn mật trận miền Đông. Từ các trận đánh, lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ rút ra được một số kinh nghiệm trong chiến đấu tập kích các cụm bộ binh cơ giới Mỹ chốt dã ngoại là: Khi đánh địch phòng ngự ta phải có lực lượng đủ mạnh, đặc biệt phải có lực lượng dự bị để khi ta gặp khó khăn - địch co cụm chống trả, ta tăng cường thêm lực lượng tiến công dứt điểm. Trong trận đánh, lực lượng chặn viện bố trí mỏng nên ta không đủ sức ngăn chặn địch). Đại đội 70 bộ đội địa phương huyện Bình Long vận động tiến công lực lượng biệt kích Sài Gòn tại sóc Chiên Thum, huyện Tà Đạt (15-4-1967). Đội 90C, F100 biệt động Sài Gòn - Gia Định tập kích lính bảo an tại Đềpô xe lửa Chí Hòa, quận 3 (27-4-1967)1 (Quân giải phóng phá hủy 17 đầu máy xe lửa loại hiện đại của địch, tiêu hủy 1 cần cẩu, làm hư hại 2 đầu máy xe lửa khác. Chiến công của Đội 90C biệt động Sài Gòn - Gia Định làm rung động cả miền Nam, gây xôn xao cả nước Mỹ. Ta phá tan kế hoạch vận chuyển đường sắt mà địch đầu tư, quảng bá rùm beng và trông đợi. Chiến công xuất sắc đánh vào Đềpô xe lửa Chí Hòa (Hòa Hưng) đã cổ vũ mạnh mẽ cho phong trào kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở Sài Gòn - Gia Định nói riêng và toàn miền Nam nói chung. Ngay sau đó, Quân ủy Trung ương, Quân ủy - Bộ Chỉ huy Miền gửi điện khen ngợi lực lượng biệt động Sài Gòn - Gia Định đánh giỏi. Đài Phát thanh Giải phóng và Đài Tiếng nói Việt Nam đã đưa tin về chiến thắng vang dội này). Cơ quan H5 (Quân giới) phục kích chống cuộc càn của lực lượng Sư đoàn bộ binh 25 và Trung đoàn cơ giới 11 Mỹ tại ấp 7, 8 xã Thanh Tuyền, huyện Dầu Tiếng (từ ngày 24-4 đến ngày 6-5-1967)...


Trên địa bàn Quân khu 6, Đại đội 3 Tiểu đoàn 840, Đại đội 1 Tiểu đoàn 430 và Tiểu đoàn 842 Bình Thuận tiến đánh lực lượng không quân Mỹ tại Ruộng Sần, xã Hàm Phú, huyện Hàm Thuận Bắc (23-11-1967). Tiểu đoàn 186 chủ lực Quân khu 6 phối hợp với Trung đội 742 bộ đội huyện Di Linh phục kích Liên đoàn bảo an, Đại đội biệt động thuộc Tiểu khu Tuyên Đức; tiến công một đại đội thuộc Lữ đoàn dù 173 Mỹ tại vành đai tây chi khu Di Linh (từ ngày 24 đến ngày 25-2-1967)...
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #29 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2023, 08:38:25 am »

Trên địa bàn Khu 8, lực lượng Mỹ có 3 lữ đoàn bộ binh (số 1, 2, 3) thuộc Sư đoàn 92 (Gồm 10 tiểu đoàn, trong đó có 2 tiểu đoàn cơ giới và 4 tiểu đoàn cơ động bằng máy bay trực thăng. Riêng Lữ đoàn 2 là lực lượng đặc nhiệm thủy bộ) đóng chốt ở căn cứ Rạch Kiến (Lữ đoàn bộ binh số 1) và căn cứ Bình Đức. Ngoài ra, quân Mỹ còn có Lữ đoàn hải quân đóng căn cứ ở Mỹ Tho, một lữ đoàn thuộc Sư đoàn 25 “Tia chớp nhiệt đới”, Lữ đoàn 99 và Lữ dù 173 đóng tại Long An. Vốn là địa bàn kìm tỏa để bình định, Mỹ và quân ngụy thực hiện các cuộc hành quân Kolekola, Rạng đông, An dân, Chiến thắng, Cửu Long 155, 161, 55, 59, Sóng thần Sóng thần Cửu Long (Coronado)... tạo vùng an ninh cho công cuộc bình định, đặc biệt là khu vực Đức Hòa, Đức Huệ, Bàu Trai, lộ 4, 8, 9, 10...


Ở Mỹ Tho, tổ đặc công (4 người) sử dụng 4 khối thuốc nổ (200kg) đánh chìm tàu cuốc Jamaica - Bay (đêm mùng 8 rạng sáng mùng 9-1-1967). Trung đội trinh sát sử dụng cối 82 tiến công Sư đoàn 9 ngụy tại sân bay Thân Cửu Nghĩa (9-2-1967). Tiểu đoàn 514 phục đánh tiểu đoàn Mỹ tại xã Điềm Hy, huyện Châu Thành (2-5-1967)1 (Tỉnh đội Mỹ Tho tổ chức Đại hội Dũng sĩ diệt Mỹ lần thứ nhất vào đầu tháng 6-1967. Đại hội đã công nhận 35 dũng sĩ diệt Mỹ. Xã đội trưởng Bình Đức diệt được 65 tên Mỹ, đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú. Hai tháng sau, ngày 18-8-1967, trong Đại hội dũng sĩ diệt Mỹ lần thứ hai, số dũng sĩ diệt Mỹ đã lên tới 135 cán bộ, chiến sĩ, trong đó có 6 dũng sĩ diệt xe cơ giới và 1 dũng sĩ diệt máy bay)... Chỉ trong 7 tháng đầu năm 1967, trên mặt trận vành đai Bình Đức, quân và dân Mỹ Tho đã tiêu diệt và làm bị thương hơn 2.000 lính Mỹ và lính ngụy, thu 63 súng các loại.


Vành đai diệt Mỹ ở Khu 8 “đã loại khỏi vòng chiến đấu hàng ngàn tên lính Mỹ, bắn cháy hơn 200 máy bay, đốt cháy gần 3 triệu lít xăng, bắn chìm nhiều tàu, xáng các loại. Đặc biệt là đánh chìm chiếc tàu cuốc Jamaica - Bay, tàu cuốc lớn bậc nhất của Mỹ, phá hủy trên 3 triệu viên đạn pháo và hỏa tiễn; hơn 50 khu đồn bót bị diệt. Hai lữ đoàn của Sư đoàn 9 bộ binh Mỹ phải ba lần thay quân”2 (Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu 8: Quân khu 8 - Ba mươi năm kháng chiến (1945-1975), Sđd, tr.614).


Ở Bến Tre, Đông Xuân 1966 - 1967, Quân giải phóng mở Chiến dịch Bình Đại - Ba Tri. Hai đại đội của Tiểu đoàn 516 san bằng 2 đồn ở xã Phú Khánh (9-11-1966); chặn đánh Tiểu đoàn biệt động quân 41 và Trung đoàn 10 Sư đoàn 7 ngụy ở Bình Khánh, Phước Hiệp (11-10-1966). Phân đội đặc công của Tiểu đoàn 261 tấn công đồn tề, trung đội dân vệ tại Châu Hưng. Một bộ phận của Tiểu đoàn 516 đánh thiệt hại nặng đồn Giồng Quéo (4-1-1967). Tiểu đoàn 261 và Tiểu đoàn 516 tập kích Tiểu đoàn biệt động quân số 32 của khu chiến thuật Tiền Giang tại Châu Hưng (Bình Đại); tiến công đồn Vang Quới; bức hàng, bức rút hàng loạt đồn bót; giải phóng hoàn toàn 4 xã Thạnh Tân, Phước Thuận, Thới Lai, Châu Hưng. Quân giải phóng Ba Tri phục kích, vận động tấn công 2 đại đội bảo an ở Giồng Trung xã Vĩnh Hòa...


Ở Kiến Tường, Quân giải phóng tìm được cách tiêu diệt “xuồng bay”, loại phương tiện quân sự thủy “bách chiến bách thắng” của Mỹ. Chỉ trong tháng 10-1966 đã có 9 “xuồng bay” của Mỹ bị tiêu diệt ở Bình Phong Thạnh, kênh Bích... Ngoài ra, Quân giải phóng còn gỡ được hệ thống đồn bót ở Tân Bình, Láng Tượng, Bắc Dầu, Quán Tre bắc... huyện Cao Lãnh.


Trên chiến trường Quân khu 9, đầu năm 1967, Mỹ và quân ngụy dùng máy bay trực thăng đổ quân truy bắt và kết hợp với máy bay B52 ném bom rải thảm phá hoại hậu cứ của Quân giải phóng.

Ở Cà Mau, Tiểu đoàn U Minh 2 phục kích Tiểu đoàn 470, một trung đội thám báo hành quân vào kinh Đòn Dong (14-7-1966). Quân giải phóng huyện Ngọc Hiển bao vây, đánh lấn, bức rút chi khu Đầm Dơi, bắn rơi máy bay F105 của Mỹ (10-1966). Tiểu đoàn U Minh 2 tiến công đồn Hộ Phòng (25-10-1966). Biệt động đánh mìn tại trụ sở huyện Vĩnh Lợi, nhà hàng Thanh Tân (12-10-1966), dinh quận thị xã Bạc Liêu (20-10-1966).


Ở Sóc Trăng, Đại đội 1 (Tiểu đoàn 2 tỉnh Sóc Trăng) ba lần dùng cối 82 tập kích sân bay Sóc Trăng, bắn cháy và hỏng 35 chiếc, thiêu hủy 2 kho xăng (từ tháng 5 đến tháng 10-1966). Tiểu đoàn Phú Lợi cùng với du kích xã Lịch Hội Thượng diệt đồn Trà Mơn, phá banh ấp chiến lược Bưng Triết, Bưng Bưởi; đánh sập cầu Trà Mơn (6-1966). Đại đội 601 tỉnh đánh 2 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 33 ngụy tại khu vực chùa Bà Len kinh Tân Phước, Long Hưng (27-10-1966)...


Tại Rạch Giá, Tiểu đoàn 207 đánh bại cuộc càn của một trung đoàn thuộc Sư đoàn 21 ngụy tại xã Hòa Thuận, huyện Giồng Riềng, bắn cháy 4 xe M113 (4-9-1966).

Ở Cần Thơ, đội biệt động phối hợp với pháo binh Quân khu tập kích căn cứ Cưu Long, sân bay Trà Nóc, phá hủy và hỏng 50 máy bay (7-7-1966). Tiểu đoàn 306 tiêu diệt đồn Cái Đuốc; kết hợp với Tiểu đoàn 303 tập kích căn cứ địch ở kinh Ba Quân (26-10-1966)1 (Đánh thắng trận, Tiểu đoàn 306 được Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng và Bộ Tư lệnh Miền tặng thương Huân chương Quân công hạng Hai). Tiểu đoàn 309 đánh thiệt hại nặng chi khu Ngang Dừa. Tiểu đoàn Tây Đô phục kích bắn chìm 5 tàu chiến tại đoạn kinh Một Ngàn đến kinh Sáu Ngàn (tháng 10-1966). Bộ đội huyện đảo Phú Quốc bẻ gãy cuộc hành quân “Ba lượn sóng” của quân ngụy tại khu Tượng - khu căn cứ của huyện (tháng 10-1966)2 (Qua 8 ngày chiến đấu, Quân giải phóng loại khỏi vòng chiến đấu 120 tên địch; bắn cháy 1 máy bay trinh sát L19, 1 máy bay phản lực F105 và 3 máy bay trực thăng, bảo vệ an toàn khu căn cứ của huyện).


Ở Vĩnh Long, Trà Vinh, Tiểu đoàn 306 tiến công đồn Đập Ấu, bắt sống 150 lính bảo an, thu trên 200 súng các loại. Đây là trận đánh mở đầu thắng lợi của chủ lực Khu trên chiến trường Vĩnh - Trà, được Bộ Tư lệnh Miền tặng Huân chương Quân công hạng Ba (25-4-1967). “Chỉ tính trong 3 tháng (từ tháng 5 đến tháng 7-1967), các đại đội của Tiểu đoàn 306 phối hợp chặt chẽ với các địa phương bức rút, bức hàng trên 100 đồn bót, phá banh hàng trăm ấp chiến lược”. Lực lượng vũ trang tỉnh tiến công đồn Kỳ La, Mang Cá, Cầu Xây, Hòa Lạc, Rạch Chôm, Chăn Một (Châu Thành), áp sát thị xã Trà Vinh...1 (“Năm 1967, Vĩnh - Trà loại khỏi vòng chiến trên 10.000 tên, diệt, đánh thiệt hại nặng trên 10 tiểu đoàn địch, gỡ trên 200 đồn bót, hàng chục xã, hàng trăm ấp chiến lược được giải phóng. Nổi bật có Tiểu đoàn 306 diệt trên 5.000 tên địch, tiêu diệt 3 tiểu đoàn, 18 giang đoàn, trên 20 đại đội, đánh thiệt hại nặng 5 tiểu đoàn khác (Trung đoàn 14 và Trung đoàn 16 Sư đoàn 9 ngụy bị thiệt hại nặng); bắn rơi trên 30 trực thăng, diệt và bức hàng trên 100 đồn bót, hỗ trợ đắc lực hai tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh diệt địch, chuyển thế, mở vùng tốt. Năm 1967, Tiểu đoàn 306 được Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Bộ Tư lệnh Miền tặng 4 Huân chương Quân công (1 hạng Nhất, 1 hạng Nhì và 2 hạng Ba) và 8 Huân chương Chiến công hạng Nhất cho các tiểu đoàn và đại đội”).


Đến giữa năm 1967, cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai của Mỹ kết thúc. Trên mặt trận “tìm diệt”, Mc. Namara nhận xét: “Tại miền Nam có trên 1 triệu quân, nhưng bị dồn vào thế bị cầm chân, tê liệt từng phần, quân thiện chiến Mỹ bị tổn thất nhiều và đau đớn...”2 (Báo cáo tổng kết kinh nghiệm cuộc kháng chiến chống-Mỹ, cứu nước trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (B2), lưu trữ Phòng Khoa học quân sự Quân khu 7) buộc phải quay về thế phòng ngự3 (Theo báo Daily Telegraph của Mỹ ngày 5-7-1967). “Quân lực Sài Gòn thì suy yếu, chỉ có 15 tiểu đoàn thực sự chiến đấu được”, “các đội bình định nông thôn bị tiêu diệt đến con số báo động”, “khủng hoảng diễn ra từ trung ương đến địa phương”4 (Westmoreland, báo cáo 5/67). “Ngược lại, chủ lực Việt cộng được gia tăng hơn bao giờ hết”5 (Báo cáo tổng kết kinh nghiệm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (B2), lưu trữ Phòng Khoa học quân sự Quân khu 7). Tuy nhiên, mặt trận “bình định” mới được coi là “cuộc cách mạng thực sự chọi với chủ nghĩa cộng sản”, là “nhát dao đâm vào tim Việt cộng”. Sau khi dành 40% trong tổng số 2.732 cuộc hành quân cấp tiểu đoàn trở lên cho bình định, Mỹ và chính quyền Sài Gòn cũng thu được một số" kết quả “khả quan”. Đến giữa năm 1967 trên chiến trường B2, chương trình “ưu tiên quốc gia” kiểm soát 12 tỉnh1 (Chương trình bình định “ưu tiên quốc gia” toàn miền Nam là 22 tỉnh), chính quyền Sài Gòn đã xây dựng được 1.177 ấp mới, chiếm khoảng 33,6% so với kế hoạch dự kiến (3.500 ấp), nâng số ấp chiến lược ở B2 so với toàn miền Nam từ 2.742/3.919 (năm 1966) lên 3.261/4.896 (năm 1967); dồn, xúc được 20.000 dân ở miền Tây, 50.000 dân ở miền Đông, 4.000 dân ở Khu 6 vào ấp tân sinh2 (Trong đó có 426 cuộc hành quân của quân Mỹ và Đồng minh, về quy mô có 70 cuộc hành quân cấp sư đoàn, 1.088 cuộc cấp trung đoàn, 1.644 cuộc cấp tiểu đoàn. Trung bình sử dụng 178 tiểu đoàn/ngày. Không quân thực hiện 440.363 lần/chiếc để yểm trợ hành quân, tiếp vận. Máy bay B52 xuất kích 4.894 lần/chiếc. Hải quân yểm trợ hành quân và vận tải 123.559 lần/chiếc. Trong tổng số 2.732 cuộc hành quân cấp tiểu đoàn trở lên thực hiện trên toàn miền Nam, có 32% cuộc hành quân “tìm diệt” và đối phó, 40% nhằm bình định, còn 28% nhằm tiếp viện, mở đường. Trên mặt trận “bình định” (được coi là “nhát dao đâm vào tim Việt cộng”, là “cuộc cách mạng thực sự chọi với chủ nghĩa cộng sản”), tính đến tháng 6-1967, trên toàn miền Nam, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã dành cho công cuộc bình định 40% trong tổng số 2.732 cuộc hành quân cấp tiểu đoàn trở lên).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM