vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #30 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2023, 02:26:26 pm » |
|
III. THAM GIA CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG XUÂN MẬU THÂN 1968
1. Quân giải phóng trong giai đoạn chuẩn bị tổng công kích
Các cuộc phản công chiến lược kết thúc, Chính phủ Mỹ nhận thấy kế hoạch “tìm diệt”, “tìm diệt và bình định” ba giai đoạn của tướng Westmoreland vạch ra từ năm 1965 về cơ bản bị phá sản1 (Trong cuốn “Tường trình’’ của Westmoreland nêu rõ, đến năm 1967 phải điều chỉnh lại kế hoạch ba giai đoạn) nên buộc phải mở tiếp cuộc phản công chiến lược lần thứ ba với mục tiêu đánh bại hoàn toàn Quân giải phóng và hoàn thành việc “xây dựng nông thôn mới” ở các vùng ưu tiên.
Để thực hiện mục tiêu trên, ngày 4-8-1967, Tổng thống Mỹ duyệt kế hoạch tăng binh lực tối đa cho chiến trường miền Nam Việt Nam. Tính đến đầu năm 1968, trên chiến trường miền Nam Việt Nam có 525.000 quân Mỹ, 114.735 quân Đồng minh và 818.000 quân ngụy. Trong đó, khoảng 60% được bố trí trên chiến trường B2, bao gồm: 230.000 quân Mỹ, 15.800 quân Đồng minh và 520.000 quân ngụy.
Từ cuối năm 1967, Mỹ đã mở các cuộc hành quân, tiếp tục thực hiện chiến lược hai gọng kìm “tìm diệt” và “bình định”.
Ở miền Đông Nam Bộ, Mỹ vẫn thực hiện các cuộc hành quân “tìm diệt”, nối rộng khu vực an ninh từ tỉnh Gia Định ra các vùng lân cận, tăng cường gấp đôi nỗ lực xây dựng nông thôn, khai thông và bảo vệ giao thông thủy bộ.
Ở đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh cực Nam Trung Bộ, công cuộc bình định, xây dựng nông thôn mới được tiến hành song song với việc nới rộng khu vực an ninh tại các tỉnh trọng điểm nhằm chống xâm nhập, cô lập và tiêu diệt các sư đoàn Quân giải phóng.
Đối với Quân giải phóng, tháng 10-1967, Cục Chính trị Miền tổ chức Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua toàn miền Nam lần thứ hai, tổng kết và vinh danh kịp thời những chiến công đạt được trong quá trình đổi đầu với chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ trên chiến trường B2. Tại đại hội, nhiều địa phương, đơn vị, cá nhân được Trung ương Cục, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng “Huân chương Tổ quốc”, “Huân chương Thành đồng Tổ quốc”, danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang”, “Chiến sĩ thi đua”... Chủ tịch Hồ Chí Minh có gửi thư chúc mừng đại hội và gọi đó là “Đại hội của những người sẽ đánh thắng “Chiến tranh cục bộ”...”1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.371).
Cũng tháng 10-1967, Trung ương Cục nhận được chỉ thị của Trung ương Đảng về Tổng công kích, tổng khởi nghĩa. Ngày 25-10-1967, Trung ương Cục ban hành Nghị quyết “Quang Trung” về Tổng công kích - tổng khởi nghĩa.
Ngày 4-11-1967, Trung ương Cục miền Nam họp hội nghị toàn thể bàn về việc triển khai Nghị quyết “Quang Trung”. Tại hội nghị, Trung ương Cục được kiện toàn, gồm, Bí thư: Phạm Hùng; các Phó Bí thư: Nguyễn Văn Linh, Hoàng Văn Thái, Phan Văn Đáng; các Ủy viên Thường vụ: Phạm Văn Xô, Trần Nam Trung. Hội nghị cũng kiện toàn Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền.
Quân ủy Miền: Phạm Hùng (Bí thư), Nguyễn Văn Linh, Hoàng Văn Thái (Phó Bí thư); Phạm Văn Xô, Trần Văn Trà, Trần Độ, Lê Trọng Tấn, Lê Đức Anh, Lê Văn Tưởng (Ủy viên).
Bộ Chỉ huy Miền: Hoàng Văn Thái (Tư lệnh), Phạm Hùng (Chính ủy), Nguyễn Văn Linh, Trần Độ (Phó Chính ủy), Trần Văn Trà, Lê Trọng Tấn, Nguyễn Thị Định, Nguyễn Hữu Xuyên, Đồng Văn Cống (Phó Tư lệnh), Lê Đức Anh (Tham mưu trưởng), Lê Văn Tưởng (Chủ nhiệm Chính trị), Nguyễn Văn Thi (Chủ nhiệm Hậu cần)1 (Bộ Quốc phòng - Quân khu 7: Lịch sử Bộ Chỉ huy Miền (1961-1976), Sđd, tr.287, 288).
Tháng 12-1967, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết “chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định''2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, t.29, tr.50). “Nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta trong thời kỳ mới là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích và tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định... Tiêu diệt và làm tan rã tuyệt đại bộ phận quân ngụy, đánh đổ ngụy quyền cấc cấp, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân... Tiêu diệt một phần quan trọng sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ, làm cho quân Mỹ không thực hiện được các nhiệm vụ chính trị và quân sự của chúng ở Việt Nam... Trên cơ sở đó, đập tan ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Mỹ phải chịu thua ở miền Nam, chấm dứt mọi hành động chiến tranh đối với miền Bắc, còn ta thì bảo vệ được miền Bắc xã hội chủ nghĩa và đạt được những mục tiêu trước mắt của cách mạng miền Nam là độc lặp, dân chủ, hòa bình, trung lập, tiến tối thôhg nhất nước nhà”3 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, t.29, tr.50).
“Cuộc tiến công của các lực lượng vũ trang trên các chiến trường chính và sự nổi dậy của nhân dân ở các thành thị lớn là hai mũi tiến công chính kết hợp chặt chẽ với nhau, trợ lực lẫn nhau và thúc đẩy toàn bộ cuộc tổng công kích và tổng khởi nghĩa khắp cả ba vùng thành thị, nông thôn đồng bằng và rừng núi. Đặc biệt, cuộc tiến công của các lực lượng vũ trang và sự nổi dậy của quần chúng nhân dân ở các thành thị lớn là mũi nhọn thọc vào yết hầu của địch, có tầm quan trọng quyết định đối với toàn bộ chiến trường và toàn cuộc chiến tranh”1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.29, tr.51).
Trên chiến trường B2, các quân khu 6, 8, 9 giữ vai trò phối hợp với chiến trường chính miền Đông Nam Bộ, trong đó Sài Gòn là chiến trường trọng điểm, mang tính quyết định của cuộc Tổng công kích - tổng khởi nghĩa.
Tháng 12-1967, Thường vụ Trung ương Cục ra chỉ thị gửi các quân khu hướng dẫn việc chuẩn bị và tiến hành công kích và khởi nghĩa với phương châm tiến công vào nơi hiểm yếu, quan trọng, toàn diện, đều khắp, nhanh, mạnh, bí mật, bất ngờ; kết hợp chặt chẽ giữa công kích và khởi nghĩa, đồng thời cũng “cần phải sẵn sàng chuẩn bị đánh địch phản kích, đập tan mọi âm mưu phản kích của chúng ngay từ đầu”2 (Bộ Quốc phòng - Quân khu 7: Lịch sủ Bộ Chỉ huy Miền, Sđd, tr.295, 296, 297). Bộ Chỉ huy Miền sắp xếp, bố trí và xác định nhiệm vụ cụ thể cho lực lượng Quân giải phóng trên chiến trường B2.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #31 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2023, 02:27:54 pm » |
|
Trên địa bàn các tỉnh miền Đông Nam Bộ, lực lượng vũ trang được Bộ Chỉ huy Miền sắp xếp thành ba khối: khối chủ lực Miền, khối các phân khu, khối đặc công biệt động. Khối chủ lực Miền bao gồm 3 sư đoàn bộ binh (thiếu) (5, 7, 9), Trung đoàn bộ binh 88, Đoàn pháo binh 69 và một số đơn vị binh chủng khác. Nhiệm vụ của khối chủ lực Miền là tiến công tiêu diệt hệ thống căn cứ quân sự của đối phương ở vùng ven Sài Gòn, khống chế lực lượng chủ lực của đối phương từ các vùng chiến thuật về ứng cứu Sài Gòn. Khối các phân khu được tăng cường thêm 15 tiểu đoàn mũi nhọn, thành lập 6 phân khu, mỗi phân khu có từ 4 đến 6 tiểu đoàn; trong đó 5 phân khu (1, 2, 3, 4, 5) hình thành nên 5 cánh quân bao quanh Sài Gòn và 1 phân khu nội đô (Phân khu 6). Phân khu 1, Ban cán sự bao gồm: Mai Chí Thọ (Bí thư Phân khu ủy), Trần Đình Xu (Tư lệnh Phân khu). Lực lượng bao gồm: Trung đoàn bộ binh 16, Tiểu đoàn bộ binh 1 Quyết Thắng, Tiểu đoàn bộ binh 2 Gò Môn, Tiểu đoàn đặc công 4. Phân khu phụ trách một phần huyện Trảng Bàng (Tây Ninh), các huyện Bến Cát, Dầu Tiếng (Bình Dương); tấn công trên hướng Hóc Môn - Gò Vấp - Tân Bình (Gia Định), phát triển vào Sài Gòn, đánh chiếm khu Hậu cần Gò Vấp, Bộ Tổng tham mưu, Bộ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô, trại pháo binh Cổ Loa, trại thiết giáp Phù Đổng, Trung tâm huấn luyện Quang Trung... Phân khu 2, Ban cán sự là: Phan Văn Hân (Bí thư Phân khu ủy), Võ Trần Chí (Chính ủy Phân khu), Ba Long (Tư lệnh Phân khu). Lực lượng có Tiểu đoàn 12 đặc công, Tiểu đoàn bộ binh 6 Bình Tân, Tiểu đoàn bộ binh 267, 269 (Quân khu  . Phân khu phụ trách hướng tây, tây nam Sài Gòn bao gồm các huyện Đức Hòa, Bến Thủ (Long An), các quận 3, 5, 6, 11 (khu Sài Gòn - Gia Định); phát triển vào nội thành, hợp với lực lượng đặc công biệt động đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu, khám Chí Hòa, trường đua Phú Thọ, Biệt khu Thủ đô... Phân khu 3, Ban cán sự là Nguyễn Văn Chính (Bí thư Phân khu ủy kiêm Chính ủy). Lực lượng bao gồm: Tiểu đoàn bộ binh 1 2 Long An, Tiểu đoàn bộ binh 5 Nhà Bè, Tiểu đoàn 2 bộ binh Phú Lợi. Phân khu phụ trách các huyện Châu Thành, Tân Trụ, Cần Đước, Cần Giuộc (Long An), quận 2, 4, 7, 8 (khu Sài Gòn - Gia Định); phát triển vào nội thành, hợp với lực lượng đặc công biệt động đánh chiếm Dinh Độc Lập, Tổng Nha cảnh sát, Bộ Tư lệnh Hải quân. Phân khu 4, Ban cán sự bao gồm: Đoàn Công Chánh (Bí thư Phân khu ủy), Đặng Quang Long (Chính ủy Phân khu), Lương Văn Nho (Tư lệnh Phân khu). Lực lượng gồm có Trung đoàn bộ binh 4 thuộc Sư đoàn 5 chủ lực Miền, 2 tiểu đoàn Bà Biên (Tiểu đoàn 4, Tiểu đoàn 5). Phân khu phụ trách tấn công hướng đông Sài Gòn gồm huyện Nhơn Trạch (Biên Hòa), các quận 9, 1 (khu Sài Gòn - Gia Định); phát triển vào nội thành, hợp với lực lượng đặc công biệt động đánh chiếm Bộ Tư lệnh Hải quân, Chi khu cảnh sát Hàng Xanh, Đài Phát thanh Sài Gòn, Tòa Đại sứ quán Mỹ. Phân khu 5 chỉ huy là Hoàng Minh Đạo (Bí thư Phân khu ủy kiêm Chính ủy). Lực lượng bao gồm Trung đoàn bộ binh Đồng Nai, Tiểu đoàn bộ binh 3 Dĩ An, Tiểu đoàn bộ binh 4 Thủ Đức. Phân khu phụ trách hướng đông bắc Sài Gòn, gồm Dĩ An, Lái Thiêu, Phú Giáo, Tân Uyên (tỉnh Bình Dương), Bình Hòa, Thạnh Mỹ Tây (khu Sài Gòn - Gia Định). Mục tiêu tấn công là cầu xa lộ Sài Gòn (cầu Điên Biên Phủ ngày nay), liên trường Thủ Đức, phát triển vào nội thành, hợp với lực lượng đặc công biệt động đánh chiếm Đài Phát thanh, Tòa Đại sứ quán Mỹ... Phân khu 6 phụ trách nội thành. Ban cán sự bao gồm: Trần Bạch Đằng (Bí thư), Nguyễn Thái Sơn (Phó Bí thư), Trần Hải Phụng (Tư lệnh), Võ Văn Thạnh (Chính ủy), Nguyễn Đức Hùng (Tham mưu trưởng). Lực lượng bao gồm đơn vị F.100, Đội đặc công 90, Đội đặc công 11, Đội vũ trang Thành đoàn, Hoa vận, Công vận, Phụ vận, Tuyên huấn... Trong đó, đơn vị F.100 tổ chức thành 3 cụm: Cụm phía đông, Cụm phía bắc, Cụm phía nam. Cụm phía đông gồm các đội đặc công biệt động 3, 4, 5, mỗi cụm gồm 3 trung đội với quân số dao động từ 45 đến 50 chiến sĩ, phụ trách các mục tiêu Dinh Độc Lộp (1 tiểu đoàn mũi nhọn và 200 thanh niên, sinh viên tiếp ứng), Đài Phát thanh Sài Gòn (1 tiểu đoàn mũi nhọn, lực lượng Ban Tuyên huấn T4 và 200 thanh niên, sinh viên tiếp ứng), Tòa Đại sứ quán Mỹ (1 tiểu đoàn mùi nhọn tiếp ứng). Cụm phía bắc gồm các đội đặc công biệt động 6, 7, 9, phụ trách các mục tiêu sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu (2 tiểu đoàn mũi nhọn và 5.000 thanh niên, sinh viên tiếp ứng), khám Chí Hòa (1 tiểu đoàn mũi nhọn và 1.000 thanh niên, sinh viên tiếp ứng). Cụm phía nam gồm các đội đặc công biệt động 1, 2, 8, phụ trách các mục tiêu Bộ Tư lệnh cảnh sát quốc gia (2 tiểu đoàn mũi nhọn và 1.000 thanh niên, sinh viên tiếp ứng), Bộ Tư lệnh Biệt khu thủ đô (1 tiểu đoàn mũi nhọn và 1.000 thanh niên, sinh viên tiếp ứng), Bộ Tư lệnh Hải quân (1 tiểu đoàn mũi nhọn và 200 thanh niên, sinh viên tiếp ứng). Đảng ủy và Bộ Tư lệnh tiến phương khu trọng điểm cũng được thành lập, trong đó Ban cán sự Đảng ủy gồm có Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt, Trần Văn Trà. Bộ Tư lệnh Tiền phương được chia thành hai bộ phận: Bộ Tư lệnh Tiền phương Bắc và Bộ Tư lệnh Tiền phương Nam. Bộ Tư lệnh Tiền phương Bắc: Ban cán sự gồm có Trần Văn Trà, Lê Đức Anh, Mai Chí Thọ, chịu trách nhiệm chỉ huy khối chủ lực Miền và lực lượng Quân giải phóng các Phán khu 1, 4, 5. Bộ Tư lệnh tiền phương Nam: Ban cán sự gồm có Võ Văn Kiệt, Trần Bạch Đằng, Trần Hải Phụng, chịu trách nhiệm chỉ huy lực lượng Quân giải phóng các Phân khu 3, 6, 2, đồng thời lãnh đạo quần chúng nội thành nổi dậy. Trên địa bàn Quân khu 8: thị xã Mỹ Tho và thị xã Bến Tre được xác định là hai địa bàn trọng điểm, trong đó thị xã Mỹ Tho là địa bàn ưu tiên số một, nên Trung ương Cục quyết định nâng lên cấp thành phố sau khi tách các huyện Gò Công, huyện Hòa Đồng để thành lập nên tỉnh Gò Công. Tháng 12-1967, Thường vụ Khu ủy Khu 8 quyết định thành lập Bộ Chỉ huy tiền phương và bổ nhiệm Nguyễn Văn Sĩ (Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân khu) làm Tư lệnh, Bùi Thanh Khiết (Khu ủy viên, Phó Chính ủy Quân khu) làm Chính ủy. Trên địa bàn Quân khu 9, sau khi nhận được chỉ thị về Tổng công kích - tổng khởi nghĩa, 9 mục tiêu quan trọng trên hai địa bàn trọng điểm bao gồm thành phố Cần Thơ (trọng điểm 1) và thị xã Vĩnh Long (trọng điểm 2) được xác định. Tuy nhiên, giữa Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu thiếu sự thống nhất về cách thức sử dụng lực lượng vũ trang. Tháng 10-1967, Phó Bí thư Trung ương Cục Phan Văn Đáng về Khu 9 chỉ đạo tổ chức hội nghị giữa Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 9 nhằm thống nhất ý kiến về sử dụng lực lượng vũ trang phục vụ Tổng công kích - tổng khởi nghĩa. Sau nhiều ý kiến bàn thảo, hội nghị đi đến kết luận cần thiết phải sử dụng lực lượng chủ lực Quân khu. Tuy nhiên, không huy động hết 4 trung đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn đặc công, các tiểu đoàn trinh sát, công binh, pháo binh mà chỉ sử dụng 1 trung đoàn chủ lực cùng với 9 đội đặc công biệt động. Công việc chuẩn bị phải được hoàn tất trong vòng 2 tháng. Theo đó, “Ban chỉ đạo khởi nghĩa và Ban chỉ huy chung mặt trận được thành lập, gồm: Trần Văn Long (Mười Dài, Thường vụ Khu ủy, Phó Chính ủy Quân khu 9), Vũ Đình Liệu, Phạm Ngọc sến (Tư Kỷ), Nguyễn Việt Châu (Sáu Tâm). Sau đó bổ sung Dương Cự Tẩm (Phó Chính ủy Quân khu 9) làm Chính ủy, Đồng Văn CôVig (Thường vụ Khu ủy, Phó Tư lệnh Miền, Tư lệnh Quân khu 9) phụ trách quân lực, Phạm Ngọc Hưng (Năm Hải, Phó Tư lệnh Quân khu 9) làm Tham mưu trưởng Ban chỉ đạo tiền phương” 1 (Bộ Quốc phòng - Quân khu 7: Lịch sử Bộ Chỉ huy Miền (1961-1976), Sđd, tr.311). Phương châm Tổng công kích - tổng khởi nghĩa được Ban chỉ đạo tiền phương đề ra: khi lực lượng đặc công biệt động tiến công mục tiêu, lực lượng vũ trang Quân khu bên ngoài đánh vào kết hợp với sự nổi dậy của quần chúng. Đó là sự “kết hợp tiến công, tiêu diệt địch bằng lực lượng quân sự và nổi dậy làm chủ của lực lượng chính trị quần chúng, kết hợp hoạt động nông thôn và đô thị” 2 (Bộ Quốc phòng - Quân khu 7: Lịch sử Bộ Chỉ huy Miền (1961-1976), Sđd, tr.311). Trên địa bàn Quân khu 6, sau khi nhận chỉ thị Tổng công kích - tổng khởi nghĩa do Nguyễn Hữu Xuyến - Phó Tư lệnh Miền truyền đạt trực tiếp, Trần Lê (Bí thư Khu ủy cực Nam Trung Bộ kiêm Chính ủy Quân khu 6) và Nguyễn Minh Châu (Tư lệnh Quân khu 6) bắt tay chuẩn bị với quyết tâm: “Miền và các quân khu bạn làm được, Quân khu 6 cũng làm được” 3 (Bộ Quốc phòng - Quân khu 7: Lịch sử Bộ Chỉ huy Miền (1961-1976), Sđd, tr.311). Mục tiêu trọng điểm Tổng công kích - tổng khởi nghĩa trên địa bàn Quân khu 6 được xác định bao gồm thị xã Phan Thiết (trọng điểm 1) và thành phố Đà Lạt (trọng điểm 2). Hai ban chỉ huy tiền phương được thành lập. Ban Chỉ huy Tiển phương A phụ trách địa bàn trọng điểm Phan Thiết, Ban cán sự do Nguyễn Minh Châu làm Chỉ huy trưởng, Lê Văn Hiến (Ủy viên Thường vụ Khu ủy, Bí thư Tỉnh ủy Bình Thuận) làm Chính ủy. Ban Chỉ huy Tiền phương B phụ trách địa bàn trọng điểm Đà Lạt, Ban cán sự do Lê Thành Cộng (Phó Tư lệnh Quân khu 6) làm Chỉ huy trưởng, Vũ Anh Ba (Ủy viên Thường vụ Quân khu 6) làm Chính ủy. Thực hiện chủ trương Tổng công kích - tổng khởi nghĩa, tiến đánh những mục tiêu trọng điểm của đối phương, cán bộ, chiến sĩ trên địa bàn Quân khu 6 đều tỏ rõ quyết tâm cao. Tuy nhiên, lúc đó, binh lính Mỹ và quân lực Sài Gòn đang tập trung lực lượng càn quét, đánh phá hệ thống căn cứ cách mạng ở Nam Sơn, Bình Thuận, Lâm Đồng..., lực lượng Quân giải phóng trên địa bàn Quân khu 6 đang bị chia cắt. Hơn nữa, thời gian chuẩn bị quá gấp gáp, tài lực, vật lực chuẩn bị thiếu chu đáo, không bảo đảm yêu cầu nên yếu tố thành công của Tổng công kích - tổng khởi nghĩa không cao. Trên địa bàn Quân khu 10 (T10), sau khi nhận chỉ thị trực tiếp từ Bộ Chỉ huy Miền về Tổng công kích - tổng khởi nghĩa địa bàn trọng điểm được xác định là thị xã Phươc Long. Ban Chỉ huy Tiền phương được thành lập do đồng chí Nguyễn Trọng Xuyên làm Phó Chỉ huy trưởng. Để chuẩn bị cho Tổng công kích - tổng khởi nghĩa, cùng với việc bố trí lực lượng, Quân khu 10 còn được Bộ Chỉ huy Miền chi viện hai tấn đạn, một tấn gạo...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #32 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2023, 02:29:39 pm » |
|
2. Thực hành Tổng tiến công
a) Đợt I cuộc tiến công Tết Mậu Thân
Với tinh thần khẩn trương, bí mật, Quân giải phóng trên chiến trường B2 với “khí thế rực lửa Tết Quang Trung”, đêm 30 rạng sáng ngày 31-1-1968, Quân giải phóng khai hỏa ở Bình Thuận, Sài Gòn - Gia Định, Cần Thơ, Vĩnh Long...; đêm 31 rạng sáng ngày 1-2-1968, Quân giải phóng khai hỏa ở Tuyên Đức (Đà Lạt). Biên Hòa, Bình Dương, Kiến Hòa (Bến Tre), Định Tường (Tiền Giang), Gò Công, Kiên Giang, Vĩnh Bình (Trà Vinh)1 (Giờ nổ súng quy định chung trên toàn miền Nam là 2 giờ đêm giao thừa, nhưng theo lịch miền Bắc, Tết Mậu Thân đến sớm hơn một ngày so với lịch ở miền Nam. Do vậy, có sự sai lệch trong việc chấp hành ngày N giờ G theo quy định. Lịch miền Bắc, đêm giao thừa tức đêm 29 rạng sáng ngày 30-1-1968, nên các tỉnh Quy Nhơn, Kon Tum, Pleiku, Đắk Lắk Nha Trang, Đà Nắng tiến hành Chiến dịch Mậu Thân theo kế hoạch. Theo lịch miền Nam, đêm giao thừa chính là đêm 30 rạng sáng 31-1-1968, do vậy các tỉnh Huế, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Quảng Tín, Bình Thuận, Sài Gòn - Gia Định - Chợ Lớn, Cần Thơ, Vĩnh Long và một số tỉnh miền Trung nổ súng chậm hơn một ngày so với các tỉnh ở miền Bắc. Riêng các tỉnh Kiến Hòa (Bến Tre), Định Tường (Tiền Giang), Gò Cóng, Kiên Giang, Vĩnh Bình (Trà Vinh), Bình Dương, Biên Hòa, Tuyên Đức (Đà Lạt) đến đêm 31-1 rạng sáng ngày 1-2-1968 mới quyết định nổ súng)...
Trên mặt trận Sài Gòn - Gia Định:
Đúng 2 giờ 15 phút sáng ngày 31-1-1968, Tiểu đoàn 268 Phân khu 2 bắn 8 quả cối 82 ly vào sân bay, mở màn đợt I Tết Mậu Thân.
Lực lượng đặc công biệt động thành ra quân: Đội 6, 9 (25 chiến sĩ) tấn công Bộ Tổng tham mưu, Đội 5 (17 chiến sĩ) tấn công Dinh Độc Lập, Đội 4 (14 chiến sĩ, có 1 nữ) tiến công Đài Phát thanh, Đội 3 (16 chiến sĩ) tiến công Bộ Tư lệnh Hải quân, Đội 11 (16 chiến sĩ) tiến công Tòa Đại sứ quán Mỹ. Trong cao điểm đầu tiên của chiến dịch, lực lượng đặc công biệt động thành đã tiến công 5 mục tiêu quan trọng nhất trong 9 mục tiêu theo kế hoạch đã định. Không được các tiểu đoàn mũi nhọn và lực lượng thanh niên, sinh viên vào tiếp ứng vì nhiều nguyên nhân, 88 đặc công biệt động đã phải độc lập tác chiến, tiến công và chiếm giữ mục tiêu. Dù lực lượng mỏng, đối phương lại đông hơn gấp hàng trăm lần, nhưng các chiến sĩ đặc công biệt động đã dũng cảm chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. 74 người hy sinh hoặc sa vào tay giặc trong tư thế “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”1 (Hội đồng chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến: Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.II, tr.605).
Hoạt động của các tiểu đoàn mũi nhọn:
Phân khu 1: Tiểu đoàn 2 Gò Môn và một bộ phận Tiểu đoàn 4 đặc công đã hành quân tiếp cận được mục tiêu Bộ Tổng tham mưu theo đúng kế hoạch (riêng Tiểu đoàn 267 Phân khu 2 không tiếp cận) nhưng không kết hợp được với lực lượng đặc công biệt động do đối phương tổ chức phản công. Trận đánh diên ra ác liệt, Quân giải phóng thương vong nhiều sau 2 ngày đêm chiến đấu chống phản kích nên buộc phải rút lui khi đơn vị chỉ còn lại 28 chiến sĩ. Tiểu đoàn 1 Quyết Thắng đánh chiếm trại pháo binh Cổ Loa, trại thiết giáp Phù Đổng, Xưởng quân cụ 80, Đại đội 80 tiếp vận truyền tin, Căn cứ 102 (Đánh tan tiểu đoàn bảo vệ hai căn cứ Cổ Loa, Phù Đổng, phá hủy nhiều xe pháo, bắn rơi 7 trực thăng, 1 máy bay trinh sát L19, bắn cháy 5 xe tăng và xe M113). Sư đoàn 9 chủ lực Miền (một bộ phận) tiến công Trung tâm huấn luyện Quang Trung...
Phân khu 2: Tiểu đoàn 268 cối 82 ly bắn 8 quả vào sân bay Tân Sơn Nhất. Tiểu đoàn 16 đánh chiếm các lô cốt phía tây nhưng bị đối phương phản kích. Riêng Tiểu đoàn 267 không tiêp cận được mục tiêu đã lui về khu vực cầu Tham Lương. Tại đây, các tiểu đoàn mũi nhọn Phân khu 2 (267, 269, 16, 12 đặc công) bố trí phòng ngự đánh phản kích. Tuy nhiên, do lực lượng đối phương quá mạnh nên lực lượng các tiểu đoàn bị thiệt hại tới 50% quân số, Tiểu đoàn 16 mất sức chiến đấu. Riêng Tiểu đoàn 6 Bình Tân đánh chiếm được Trường đua Phú Thọ, phát triển đến Biệt khu Thủ đô. Tuy nhiên, lúc bấy giờ, đối phương đã tổ chức lực lượng phản kích. Trận đánh diễn ra quyết liệt, sau một ngày chiến đấu dũng cảm, Tiểu đoàn 6 tổn thất nặng nên buộc phải rút lui.
Phân khu 3: Đêm 31-1 rạng sáng ngày 1-2-1968, các tiểu đoàn mũi nhọn hình thành ba cánh tiến vào Sài Gòn. Lúc đó đối phương đã tổ chức phòng thủ chặt chẽ nên Tiểu đoàn 1 Long An, Tiểu đoàn Phú Lợi 2 bị đánh chặn tại cầu Nhị Thiên Đường. Tiểu đoàn 5 Nhà Bè bị đánh chặn tại Tân Quy, Nhà Bè. Tiểu đoàn 2 (đội đặc công và một bộ phận bộ binh) tác chiến tại khu vực Nguyễn Kim - Tân Phước khi đang trên đường tiên quân đến mục tiêu. Bộ Chỉ huy Tiền phương Nam cùng lực lượng Phân khu 2 sau khi vượt bến Lê Quang Liêm cũng phải trụ lại vùng Chợ Thiếc rồi sau đó rút ra vùng ven Phú Lâm, An Lạc. Tiểu đoàn Đồng Nai không tiến công được thị xã Tân An theo kế hoạch...
Phân khu 4: Tiểu đoàn 4 Thủ Đức phá cầu Xa lộ nhưng không thành, sau đó đánh phản kích ở khu vực Bình Quới Tây. Tiểu đoàn 5 Bà Biên không phát triển được lực lượng để tiến đánh Liên trường Thủ Đức.
Phân khu 5: Tiểu đoàn 3 Dĩ An đánh chiếm chi khu cảnh sát Hàng Xanh nhưng không phát triển đến được mục tiêu Đài Phát thanh, Tòa Đại sứ quán Mỹ do Tiểu đoàn 30 biệt động quân ngụy chặn đánh tại khu vực Hàng Xanh - Câu Sơn.
Nhìn chung, suốt 14 ngày chiến đấu ác liệt, các tiểu đoàn mũi nhọn chiến đấu dũng cảm, kiên cường bám trụ đánh phản kích. Tuy nhiên, do đối phương đông, hỏa lực mạnh, phản công quyết liệt, lực lượng các tiểu đoàn mũi nhọn ngày một hao hụt, các nhiệm vụ đặt ra đều không thực hiện được. Ngày 12-2-1968 cao điểm 1 của đợt I kết thúc, các tiểu đoàn mũi nhọn lần lươt rút ra ngoại ô.
Trên địa bàn vùng ven Sài Gòn:
Sư đoàn 5 Quân giải phóng tiến công sân bay Biên Hòa Bộ Chỉ huy dã chiến 2 Mỹ ở khu vực ngã ba Tam Hiệp... Sư đoàn 7 Quân giải phóng tiến công lực lượng Sư đoàn 5 ngụy tại Bến Cát, Tiểu đoàn bộ binh Mỹ tại Phú Giáo... Sư đoàn 9 Quân giải phóng tiến công hệ thống đồn bót tại Củ Chi, Thủ Đức... Quân giải phóng tỉnh Tây Ninh tiến công chi khu Phú Khương, chi khu Phước Ninh... Quân giải phóng tỉnh Bà Rịa tấn công thị xã Long Khánh, thị xã Bà Rịa, chi khu Tân Phong, yếu khu Túc Trưng, thị trấn Long Đất...
Ở Quân khu 10, Quân giải phóng Bình Phước Long tiến công thị trấn Phước Bình..., giải phóng 28 khu, ấp chiến lược...
Trên chiến trường cực Nam Trung Bộ:
Quân giải phóng tiến công thị xã Phan Thiết, đánh chiếm Ty cảnh sát, Ty chiêu hồi, Tỉnh đoàn bảo an, đánh giao thông trên các đường số 1, 8, 11, 20 tại các tỉnh Lâm Đồng, Ninh Thuận... Đặc biệt, tại nhiều mục tiêu quan trọng ở Bình Thuận, Quân giải phóng trụ được cả tuần. Chính quyền Sài Gòn thừa nhận: “Bình Thuận là một trong những trọng điểm bị thiệt hại nặng nề ở miền Nam”1 (Trích theo Hội đồng chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến: Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, Sđd, t.II, tr.614). Tuy nhiên, trên chiến trường cực Nam Trung Bộ, mục tiêu chính theo kế hoạch là thị xã Phan Thiết và Đà Lạt không thực hiện được, Quân giải phóng chủ yếu đánh phản kích...
Trên chiến trường Trung Nam Bộ:
Đêm 30 rạng sáng ngày 31-1-1968, Quân giải phóng đồng loạt tấn công vào 6 thị xã, 21 thị trấn thuộc các tỉnh Trung Nam Bộ.
Nhiều mục tiêu quan trọng của Mỹ và chính quyền Sài Gòn đều bị Quân giải phóng tấn công như tiểu khu quân sự, tỉnh đoàn bảo an, dinh Tỉnh trưởng, khám Gò Công, trại Đinh Tiên Hoàng... Tuy nhiên, quân ngụy huy động lực lượng (Sư đoàn 7, 9), máy bay ném bom, tăng thiết giáp, pháo hạm... để phản kích tiêu diệt Quân giải phóng. Các trận chiến đấu ác liệt diễn ra ở Mỹ Tho, Giếng Nước, Trung Lương, Gò Công, Bến Tre, Mộc Hóa, Cao Lãnh, Châu Đốc, Long Xuyên, Tri Tôn, Tân Châu... Quân giải phóng thiệt hại nặng buộc phải rút ra vùng ven hoặc rút về căn cứ. Đặc biệt, cùng với các mũi tấn công của Quân giải phóng, quần chúng ở các địa phương đã nổi dậy, tổ chức thành các tổ đội phục vụ chiến đấu, như tải đạn, đào công sự, dựng chướng ngại vật, tải thương, cung cấp lương thực, thực phẩm cho bộ đội... Trên địa bàn Khu 8, hàng ngàn ghe, xuồng, đò, mảng... được huy động phục vụ tổng tiến công.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #33 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2023, 02:30:32 pm » |
|
Trên chiến trường Tây Nam Bộ:
Đêm 31-1-1968, Quân giải phóng đồng loạt nổ súng tấn công nhiều mục tiêu quan trọng của đối phương ở các thị xã, thị trấn.
Tại Cần Thơ, Quân giải phóng tấn công tiểu khu Phong Dinh, trung tâm chỉ huy địa phương quân, căn cứ Trung đoàn 2 thiết giáp, căn cứ Liên đoàn biệt động quân số 42, 44, Sở chỉ huy Vùng 4 chiến thuật, Đài Phát thanh, cư xá tình báo và cố vấn Mỹ, Lãnh sự quán Mỹ, sân bay Lộ Tẻ, Trà Nóc... Ở Vĩnh Long, Quân giải phóng tấn công khu truyền tin Hoa Lư, hậu cứ Tiểu đoàn 43 quân biệt động, dinh Tỉnh trưởng, Ty cảnh sát, Tiểu đoàn bảo an, phà Mỹ Thuộn... Ỏ Trù Vinh Quân giải phóng tấn công cư xá Mỷ, đồn Hồ Nước Ngọt... Ở Rạch Giá, Quân giải phóng tấn công trung tâm hành quân tiểu khu, bưu điện, trại cảnh sát, ty ngân khé)... Ở Cà Mau Quân giải phóng tấn công bót Thầy Giàu, làng Chiêu Hồi, trại Phạm Ngũ Lão... Đặc biệt, ngày 12-2-1968, Quân giải phóng và quân dân địa phương tiến công, vây ép, bức rút quân ngụy giải phóng hoàn toàn huyện Năm Căn và là huyện đầu tiên được giải phóng ở miền Tây Nam Bộ trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968...
Ngày 25-2-1968, đợt I cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 kết thúc. Tổng thông Mỹ Johnson thừa nhận: “Lực lượng Bắc Việt Nam và Việt cộng đã tiến công 36 trong 44 tỉnh ở miền Nam... Họ đã bắn phá 5 trong 6 thành phố lớn nhất và khoảng 1/4 trong số 248 quận lỵ”1 (Trích theo Hội đồng chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến: Lịch sử Nam Bộ khắng chiến, Sđd, t.II, tr.621).
“Theo số liệu của Viện Nghiên cứu Khoa học quân sự, toàn miền Nam, quân dân miền Nam đã tiến công đồng loạt 6 thành phố, 44 thị xã, hàng trăm quận lỵ; loại khỏi vòng chiến 147.000 tên (có 43.000 tên Mỹ), làm tan rã 20 vạn tên; diệt và đánh thiệt hại nặng 31 tiểu đoàn bộ binh, 1 thiết đoàn và 5 chi đoàn thiết giáp, 196 đại đội (có 5 tiểu đoàn, 90 đại đội Mỹ bị diệt và bị thiệt hại nặng); phá hủy 2.310 máy bay, 1.700 tăng - thiết giáp, 350 pháo, 230 tàu xuồng, 1.368.000 tấn vật tư chiến tranh bị mất hoặc bị phá (chiếm 4% dự trữ chiến tranh của đối phương)”2 (Trích theo Hội đồng chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến: Lịch sử Nam Bộ khắng chiến, Sđd, t.II, tr.621).
“Những số liệu về diệt sinh lực địch ở đây được tổng hợp từ những báo cáo ở các chiến trường lúc bấy giờ, trong đó có những số liệu ước đoán.
- Riêng trên chiến trường B2, theo tài liệu Ban Tổng kết chiến tranh B2: quân dân B2 diệt, làm bị thương 55.000 tên (có 21.500 tên Mỹ), làm tan rã 19.000 tên; diệt 6 tiểu đoàn bộ binh (có 2 tiểu đoàn Mỹ), 4 chi đoàn thiết giáp (1 chi đoàn thiết giáp Mỹ), 78 đại đội (có 23 đại đội Mỹ); phá hủy 635 máy bay, 1.213 xe (có 793 tăng - thiết giáp), bắn chìm và cháy 63 tàu thủy, phá hủy 46 pháo cối (106 - 155 ly), 97 kho và trên 4.000.000 lít xăng; diệt, bức rút 7 chi khu, 398 đồn tua, giải phóng 38 xã, 137 ấp với 494.000 dân, tuyển được 1.297 tân binh, phát triển 10.600 du kích.
- Số liệu của Bộ Tổng tham mưu Sài Gòn: trong 6 tháng đầu năm 1968 (chủ yếu trong các tháng 2, 3-1968) chêt 20.437 người (có 9.301 tên Mỹ), bị thương 74.772 người (có 40.622 tên Mỹ), mất tích 2.231 người (có 464 tên Mỹ), mất 465 vũ khí cộng đồng, 4.551 vũ khí cá nhân”1 (Trích theo Hội đồng chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến: Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, Sđd, t.II, tr.621).
Mặc dù Quân giải phóng đã giành được những thắng lợi lớn nhưng đợt I cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 ta đã không hoàn thành kế hoạch.
Tại Sài Gòn và vùng ven, sự phối hợp giữa các lực lượng, giữa các mũi tấn công thiếu đồng bộ. Quân giải phóng chưa thực hiện được nhiệm vụ “đòn xeo” trong tổng công kích, chưa phát động được quần chúng nổi dậy tham gia tổng khởi nghĩa. Lực lượng đặc công, biệt động tiến công các mục tiêu trọng yếu của địch theo đúng kế hoạch nhưng không có lực lượng tiếp ứng nên không thể chiếm giữ, trụ vững khi đối phương tổ chức phản công khiến cho lực lượng đặc công, biệt động bị thương vong lớn.
Tại các quân khu 8, 9, 10, 6, công tác chuẩn bị thiếu chu đáo; lực lượng thiếu, vũ khí, chiến trường tổ chức không tốt phương thức, nghệ thuật đánh địch trong nội thành, nội thị thiếu bài bản, chưa có kinh nghiệm chống đối phương phản công. Dù Quân giải phóng đã cố gắng hết sức có thể nhưng kết quả cuộc Tổng công kích - tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân năm 1968 đạt được không cao, xuất hiện nhiều tình huống xấu nằm ngoài dự kiến, dẫn đến tình trạng thương vong nhiều, gây tổn thất lớn cho Quân giải phóng; nhiều đơn vị mất sức chiến đấu.
Về đối phương, sau cơn choáng váng, Mỹ đã thành lập Bộ Chỉ huy quân sự Thủ đô (Capital Military American Command), sử dụng 4 lữ đoàn phản ứng nhanh, phối hợp với Chiến dịch Trần Hưng Đạo của quân ngụy để tổ chức giải tỏa, phản công đẩy lùi Quân giải phóng ra xa vùng đô thị.
Tháng 3-1968, chính quyền Sài Gòn quyết định nâng cấp “phòng vệ dân sự” thành lực lượng phòng thủ chiến lược; mở cuộc hành quân “Quyết Thắng” trên địa bàn Sài Gòn - Gia Định, Long An, Hậu Nghĩa, Bình Dương, Tây Ninh để giải tỏa vùng ven, ngăn chặn các đợt tiến công của Quân giải phóng vào đô thị Sài Gòn.
Tính đến tháng 4-1968, lực lượng bảo vệ xung quanh Sài Gòn lên đến 200.000 tên (60 tiểu đoàn). Với lực lượng hùng hậu đó, Mỹ kết hợp với quân lực Sài Gòn sử dụng hàng ngàn xe tăng, xe bọc thép, máy bay lên thẳng... mở các cuộc hành quân càn quét, xây dựng tuyến công sự dã chiến phòng thủ theo vòng cung tây - bắc - đông; nam - tây nam Sài Gòn - nơi có nhiều địa hình sình lầy, bụi rậm, “có thể là con đường Quân giải phóng lựa chọn” để xâm nhập vào vùng nội thành.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #34 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2023, 02:40:57 pm » |
|
b) Đợt II cuộc Tổng tiến công
Tháng 3-1968, Trung ương Cục tổ chức Hội nghị lần thứ sáu đánh giá kết quả đạt được và những yếu kém, tổn thất của đợt I Mậu Thân nhằm rút kinh nghiệm, bài học và đề ra chủ trương sắp tới. Hội nghị kết luận: “Ta đã thắng lợi, tiêu diệt được nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, nhưng chưa giành được thắng lợi cao nhất theo khả năng thứ nhất mà Bộ Chính trị đã đề ra”. Tuy nhiên đợt I Mậu Thân “đánh dấu một bước ngoặt có ý nghĩa hết sức quan trọng...; tạo ra những sức mạnh to lớn về quân sự, chánh trị, kinh tế và mở ra một cục diện mới trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhàn dân ta, đật cơ sở vững chác dể đưa TCK- TKN đến thắng lợi hoàn toàn”1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđđ, t.29, tr.604, 614).
Trên cơ sở nhận định trên, Hội nghị chủ trương: tiếp tục thực hiện quyết tâm chiến lược của Trung ương bằng cách “liên tục tiến công địch và phất động quần chúng nổi dậy giành chánh quyền; ra sức tiêu hao, tiêu diệt thật nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ - ngụy, duy trì và đẩy mạnh các mặt hoạt động trên địa bàn đô thị; làm chủ các đường giao thông chiến lược; giải phóng và làm chủ toàn bộ nông thôn đồng bằng, miền núi và tăng cường xây dựng hậu phương lớn mạnh về mọi mặt; nhanh chóng xây dựng, củng cố phát triển lực lượng vũ trang, chính trị, giành thắng lợi liên tiếp và vững chắc, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn với tinh thần hết sức khẩn trương; đồng thời sẵn sàng ứng phó một cách chủ động nếu chiến tranh kéo dài và mở rộng"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđđ, t.29, tr.604, 614).
Để chuẩn bị Tổng công kích - tổng khởi nghĩa đợt II, cùng với việc chỉ đạo các quân khu, các địa phương củng cố thế và lực. Bộ Chỉ huy Miền điều chỉnh cán bộ phụ trách các cánh hướng: Trần Văn Trà (Phó Tư lệnh Miền) được rút về Sở Chỉ huy cơ bản; Lê Trọng Tấn (Phó Tư lệnh Miền) được giao nhiệm vụ phụ trách hướng bắc, sở Chỉ huy đóng ở Thanh An (Bến Cát); Lê Đức Anh (Tham mưu trưởng Miền), Lê Văn Tưởng (Chủ nhiệm Chính trị Miền), Trần Văn Nghiêm (Cục phó Cục Tham mưu Miền) phụ trách hướng tây - nam...
Công tác chuẩn bị Tổng công kích - tổng khởi nghĩa đợt II tiến hành khẩn trương với nhiều khó khăn. Phần lớn lực lượng chủ lực, đặc biệt là các tiểu đoàn mũi nhọn tinh nhuệ của các phân khu sau đợt I Mậu Thân đều phải rút ra xa thành phố, thị xã, thị trấn. Hơn nữa, nhiều đơn vị quân chủ lực Miền, đơn vị chủ lực của các quân khu tổn thất nặng trong đợt I Mậu Thân, quân số chỉ còn lại gần phân nửa. Lương thực, thực phẩm thiếu thốn, nhiều đơn vị bí mật trú ém quân ở vùng ven phải chia sẻ từng lon gạo, từng bánh lương khô. Yếu tố bất ngờ của Tổng công kích - tổng khởi nghĩa không còn, tinh thần chiến sĩ sa rút, hoang mang. Bên cạnh đó, 60 tiểu đoàn Mỹ và quân ngụy được bố trí, tuần tra bảo vệ xung quanh Sài Gòn... Tuy nhiên, với quyết tâm cao độ, Thường vụ Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền vẫn giữ quyết tâm của Bộ Chính trị, mở đợt II Mậu Thân, bám mục tiêu chờ lệnh xuất kích.
Kế hoạch Tổng công kích - tổng khởi nghĩa đợt II Mậu Thân, Thường vụ Trung ương Cục và Quân ủy Miền xác định:
Tại Sài Gòn - Gia Định, “sử dụng một bộ phận chủ lực cùng với các tiểu đoàn mũi nhọn tiến công 5 hướng vào nội thành, phối hợp với biệt động thành phát động quần chúng khởi nghĩa giành quyền làm chủ, sử dụng chủ lực và các binh chủng đánh địch ở vùng ven là chủ yếu nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng Mỹ - ngụy, hỗ trợ cho lực lượng tấn công vào nội thành”1 (Báo cáo tổng kết kinh nghiệm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (B2)).
Phân khu 1 phụ trách hướng bắc, tây bắc. Sử dụng lực lượng phân khu 1 bao gồm Trung đoàn hộ binh 16, Trung đoàn bộ binh 88, 2 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn đặc công, từ hướng Hóc Môn phát triển vào nội thành, tấn công đối phương trên địa bàn Gò Vấp, Tân Sơn Nhất, phát động quần chúng nổi dậy.
Phân khu 2 phụ trách hướng tây nam. Lực lượng gồm có 3 tiểu đoàn bộ binh của Phân khu 2, Tiểu đoàn bộ binh 308 Trà Vinh, Sư đoàn bộ binh 9 Quân giải phóng, tấn công vào hướng Phú Lâm - quận 6 - quận 5, đánh chiếm Trường đua Phú Thọ, Biệt khu Thủ đô, Ngã tư Bảy Hiền.
Phân khu 3 phụ trách hướng nam. Lực lượng gồm có 3 tiểu đoàn bộ binh của Phân khu 3, tiến công quận 4, 8, phát triển vào quận 1, 2, tiến công Tổng nha cảnh sát...
Phân khu 4 phụ trách hướng đông. Lực lượng gồm có 2 tiểu đoàn bộ binh và 1 tiểu đoàn đặc công, tiến công quận 9, Thủ Thiêm, cầu Xa lộ (cầu Điện Biên Phủ); pháo kích Bộ Tư lệnh Hải quân, kho Tân cảng, Nhà Bè, Dinh Độc Lập, Tòa Đại sứ quán Mỹ...
Phân khu 5 phụ trách hướng đông bắc. Lực lượng gồm có Trung đoàn bộ binh Đồng Nai, 1 tiểu đoàn bộ binh Phân khu 1, tiến công cầu Bình Lợi, Hàng Xanh, Thị Nghè, Gò Vấp, Bình Hòa...
Trong nội thành, Bộ Chỉ huy Miền chủ trương sử dụng lực lượng biệt động, an ninh thành kết hợp với lực lượng Thành đoàn, lực lượng vũ trang tuyên truyền Lê Thị Riêng lực lượng vũ trang tuyên truyền của các quận, đoàn thể, phối hợp cùng lực lượng Phân khu 3 tấn công khu vực quận 1 quận 2, quận 3, quận 5, bót Kiều Công Mười, Tòa hành chính. Tổng nha cảnh sát..., phát động quẩn chúng nổi đậy.
Tại vùng ven và xung quanh Sài Gòn: Trung đoàn bộ binh 5 thuộc Sư đoàn 5 giữ hành lang Trảng Bàng. Sư đoàn bộ binh 7 (thiếu) sử dụng Trung đoàn bộ binh 12 đứng chân vùng Lái Thiêu, Trung đoàn bộ binh 14 đứng chân vùng Bình Mỹ, Bình Cơ, trung đoàn bộ binh còn lại phụ trách hành lang từ sông Rạch Tra đến Tân Thới Hiệp. Sư đoàn pháo binh Miền pháo kích các căn cứ Lai Khê, Dầu Tiếng, Đồng Dù, Phú Lợi. Tiểu đoàn bộ binh thuộc Trung đoàn bộ binh 70 kết hợp với lực lượng địa phương hỗ trợ quần chúng nổi dậy tại Củ Chi, Hóc Môn...
Tại Biên Hòa: Trung đoàn 724 pháo kích kìm chế sân bay Biên Hòa, kho Long Bình. Trung đoàn bộ binh 4 thuộc Sư đoàn 5 trước ngày N đánh kéo địch lên đường 20 (La Ngà - Định Quán).
Tại Tây Ninh: 2 tiểu đoàn bộ binh kết hợp với 1 tiểu đoàn đặc công và bộ đội địa phương thị xã đánh trước ngày N để nghi binh, chủ yếu tại khu vực Bến cầu, Bến Kéo, Trảng Lớn và một scT mục tiêu trong thị xã Tây Ninh.
Ngoài ra, Quân khu 10, Quân khu 6, Quân khu 8, Quân khu 9 đều có kế hoạch tấn công kết hợp với phát động quần chúng nổi dậy, phối hợp chung toàn chiến trường B21 (Báo cáo tổng kết kinh nghiệm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (B2), lưu trữ Phòng Khoa học quân sự Quân khu 7).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #35 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2023, 02:42:50 pm » |
|
Ngày 5-5-1968, tiếng súng Tổng công kích, tổng khởi nghĩa đợt II nổ ra đồng loạt trên toàn Miền với khí thế “Cửu Long cuộn sóng”, “Trường Sơn chuyển mình”, “xốc tới”, “đợt sau cao hơn đợt trước”1 (Các khẩu hiệu động viên trong các văn kiện động viên của Miền lúc bấy giờ)...
Cao điểm 1 (từ ngày 5-5-1968 đến ngày 21-5-1968):
Mở màn cao điểm 1 đợt II, lúc 0 giờ 30 phút ngày 5-5-1968, hỏa lực Quân giải phóng tấn công sân bay Tân Sờn Nhất, Bộ Tổng tham mưu, Tòa Đại sứ quán Mỹ, Dinh Độc Lập, Tân Cảng Sài Gòn, Bộ Tư lệnh Hải quân, Tổng nha cảnh sát, Đài Truyền hình, cầu Phan Thanh Giản2 (Riêng Đài Truyền hình và cầu Phan Thanh Giản do lực lượng biệt động tấn công).
Phân khu 1: Quân giải phóng vận động tiến đánh vùng Cây Xoài, Xóm Mới, khu vực Chuồng Chó (Gò Vấp), nhưng không thể tiếp cận mục tiêu do đối phương chốt chặn ngay vùng ven. Trung đoàn 88 tác chiến ở Tân Thạnh Đông. Tiểu đoàn 1, 2 tác chiến ở An Phú Đông. Trung đoàn 16, Tiểu đoàn Quyết Thắng tiến công đối phương ở Tân Thới Hiệp...
Phân khu 2: Trung đoàn 1 (Sư đoàn 9) và Trung đoàn 2 (Phân khu 2) tiến vào khu vực Cầu Tre, Trường đua Phú Thọ, Bà Hạt, Ngã tư Bảy Hiền, Vườn Lài, Trần Quốc Toản, Sư Vạn Hạnh, phối hợp với đội vũ trang tuyên truyền đánh chiếm Tòa hành chính quận 5. Tuy nhiên, hướng tiến công này bị đối phương chốt chặn, phản kích. Các đơn vị phải liên tục đánh phản kích, bị thương vong lớn nên buộc phải rút lui, không tiếp cận được mục tiêu Biệt khu Thủ đô.
Phân khu 3: Quân giải phóng thọc vào quận 7, 8, đánh chiếm cầu Chữ Y (Tiểu đoàn 1, 2 Long An); cầu Tân Thuận (Tiểu đoàn 5); đánh phản kích ở khu vực Chánh Hưng (Tiểu đoàn Phú Lợi). Riêng Tiểu đoàn Nhà Bè không tiếp cận được mục tiêu theo kế hoạch mà vào phía nam quận 4, tiến đánh được một bót lẻ.
Phân khu 4: Tiểu đoàn 2, 4 tập kích cầu Sơn, Bình Hòa cầu Xa lộ. Đặc công Trung đoàn 4 đánh cầu Rạch Chiếc. Đơn vị pháo phân khu pháo kích Tân Cảng, Bộ Tư lệnh Hải quân kho Nhà Bè, Dinh Độc Lập, Tòa Đại sứ Mỹ...
Phân khu 5: Tiểu đoàn 2, 3, 4 (Phân khu 5) không tiếp cận được mục tiêu, chuyển qua đánh phản kích ở khu vực đường Tự Đức, Cầu Sơn, Thị Nghè, Bình Hòa, rồi qua An Phú Đông. Tiểu đoàn 1, 2 (Trung đoàn Đồng Nai) không tiếp cận được mục tiêu cầu Bình Lợi, chuyển sang phản kích ở khu vực Bình Hiệp...
Ở nội thành, lực lượng Thành đoàn do Nguyễn Sơn Hà (Bảy Thép) chỉ huy tác chiến ở vùng Bàn Cờ, Vườn Chuối; một bộ phận khác làm nhiệm vụ dẫn đường cho Quân giải phóng Phân khu 2 đến khu Chợ Thiếc. Lực lượng vũ trang tuyên truyền1 (Báo cáo tổng kết kinh nghiệm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (B2), tr.59, lưu trữ Phòng Khoa học quân sự Quân khu 7) mang danh nghĩa Tiểu đoàn biệt động Lê Thị Riêng2 (Trích theo Hội đồng chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến: Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, Sđđ, t.II, tr.638) tác chiến ở khu vực quận 1. Lực lượng vũ trang tuyên truyền các quận 1, 2 tác chiến ở các khu vực Cô Giang, Cô Bắc, Đề Thám... Lực lượng biệt động Hoa vận đánh chiếm Tòa hành chính, Ty cảnh sát, Ty thuế vụ quận, bót Bà Hòa trên địa bàn quận 5...
Nhìn chung, trong cao điểm 1, Quân giải phóng đã hành quân, vận động thọc sâu. Tuy nhiên phần lớn bị đối phương phát hiện chặn đánh nên buộc phải tác chiến ở vùng ven. Số ít đơn vị tiếp cận được mục tiêu theo kế hoạch nhưng không thể tác chiến do đối phương đã đề phòng, đón lõng nên chủ yếu vận động chống phản kích. Do cuộc chiến đấu không cân sức về cả lực lượng, hỏa lực và thế trận, Quân giải phóng bị tôn thất nặng. Trung đoàn 2 Phân khu 2 khi rút ra chỉ còn 50 tay súng lại phải mang theo 25 thương binh. Trung đoàn 1 (Sư đoàn 9) thương vong trên 700 chiến sĩ. Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 2, Sư đoàn 9) quân số 500 chiến sĩ, khi rút ra chỉ còn 43 chiến sĩ. Tiểu đoàn 1, 2 (Trung đoàn Đồng Nai - Phân khu 5) tấn công cầu Bình Lợi không thành bị thương vong nhiều. Lực lượng vũ trang Thành đoàn hy sinh toàn bộ ở Bàn Cờ, tại khu Chợ Thiếc. Lực lượng vũ trang tuyên truyền Lê Thị Riêng, nữ tự vệ các quận, lực lượng biệt động Hoa vận, Phụ vận... gần như bị xóa sổ vì sợ bị bắt, số khác hy sinh tại Cầu Kho, Cầu Muối, Cô Giang, Cô Bắc, Đề Thám, Huỳnh Quang Tiên...
“Tuy lực lượng giải phóng bị tổn thất nặng, nhưng cao điểm này có ý nghĩa chính trị lớn, mà chính Westmoreland đã thừa nhận: Họ đã đạt được mục tiêu thúc đẩy Mỹ đơn phương xuống thang chiến tranh, đến bàn hội nghị trong khi nhiều người Mỹ cứ tưởng là Chính phủ Mỹ bắt địch đến hội nghị”1 (Theo Hội đồng chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến: Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, Sđd, t.II, tr.639).
Cao điểm 2 (từ ngày 25-5-1968 đến ngày 18-6-1968):
Tại Sài Gòn - Gia Định:
Đêm 24 rạng sáng ngày 25-5-1968, Quân giải phóng đồng loạt tiến công các mục tiêu đã định.
Phân khu 1: Trung đoàn Quyết Thắng (2 tiểu đoàn) vượt sông Vàm Thuật tiến xuống Gò Vấp, kết hợp với Trung đoàn Đồng Nai (2 tiểu đoàn) tác chiến ở khu vực Cây Thị, Cây Quéo, cầu Băng Ky, Bà Chiểu, ngã 5 Chuồng Chó, chùa Tường Quang (An Phú Đông)... Khi rút ra, 2 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn Quyết Thắng tổn thất đến 2/3 quân số.
Phân khu 2: Tiểu đoàn 6 Bình Tân, Tiểu đoàn 308 (miền Tây), Tiểu đoàn 7, 8 (Sư đoàn 9) tiến vào quận 5, quận 6, khu vực Nguyễn Trãi, Đồng Khánh, Khổng Tử, Tổng đốc Phương, Nguyễn Văn Thoại, chợ An Đông, chợ Bình Tây, Chợ Thiếc... Các trận chiến đấu ác liệt diễn ra, Ban Chỉ huy Tiểu đoàn 308 hy sinh gần hết, Tiểu đoàn 6 thương vong 280 cán bộ, chiến sĩ (khoảng 2/3 quân số). Tiểu đoàn 7 bị tổn thất nặng, hầu như mất sức chiến đấu nên tất cả phải rút lui.
Phân khu 3: do đối phương lập tuyến phòng thủ, bịt kín các ngõ vào thành phố nên Quân giải phóng buộc phải tác chiến, chống càn ở vùng ven.
Phân khu 4: sử dụng pháo kích vào Bộ Tư lệnh Hải quân, Dinh Độc Lập, Tòa Đại sứ Mỹ, kho xăng Nhà Bè, bắn cháy 10 tàu chiến của đối phương trên sông Lòng Tàu, trong đó có 1 tàu chở dầu 10.000 tấn.
Phân khu 5: Trung đoàn Đồng Nai (Tiểu đoàn 3, 4) vượt sông Vàm Thuật tiến đến Gò Vấp, kết hợp với Trung đoàn Quyết Thắng tác chiến ở Lò Vôi, đường Lê Quang Định, Ngô Đức Kế, khu Tập Thành, chùa Linh Sơn, chùa Trúc Lâm, đường Trần Bình Trọng, Ngô Tùng Châu... Sau ba ngày chiến đấu liên tục với lực lượng đối phương đông hơn nhiều lần, lực lượng hai tiểu đoàn 3, 4 chỉ còn khoảng 100 chiến sĩ, trong đó một số là thương binh nên không còn sức chiến đấu. Trung đoàn cử Tiểu đoàn 2 vào tiếp sức nhưng không vượt được sông. Khi rút lui được về cứ, hai tiểu đoàn 3, 4 chỉ còn 70 chiến sĩ.
Trên chiến trường vùng ven Sài Gòn - Gia Định:
Trung đoàn 5 Quân giải phóng (Sư đoàn 5) phối hợp với lực lượng Quân giải phóng địa phương huyện Trảng Bàng, Củ Chi tổ chức đánh trận Trảng Xa, Căm Xe, đường 15... Trung đoàn 12 Quân giải phóng (Sư đoàn 7) tổ chức đánh trận Phú Văn, Bình Cơ... Trung đoàn 4 Quân giải phóng (Sư đoàn 5) tổ chức đánh trận lộ 20 (La Ngà), yếu khu Túc Trưng, sân bay Biên Hòa. kho Long Bình, sở Chỉ huy dã chiến II của Mỹ tại Biên Hòa... Quân giải phóng Bà Rịa đánh yếu khu cẩm Mỹ, thị xã Bà Rịa, Xuân Lộc, Suối Râm... Quân giải phóng Tây Ninh tổ chức các trận đánh ở Bến cầu, Gò Dầu, lộ 22, Trung tâm thông tin dã chiến II núi Bà Đen, căn cứ quân sự Trảng Lớn...
Trên chiến trường khu vực Nam Trung Bộ:
Lực lượng vũ trang Bình Thuận loại khỏi vòng chiến số quân địch tương đương 10 đại đội. Trên chiến trường Lâm Đồng, các đơn vị khu, tỉnh đã diệt và loại khỏi vòng chiến trên 4 đại đội ngụy, đánh thiệt hại nặng chi khu Di Linh...
Trên chiến trường Trung Nam Bộ:
Quân giải phóng tập kích cụm cơ giới Mỹ ở Nhị Bình, đột nhập cư xá Mỹ, đồn cảnh sát, tấn công căn cứ Thiêt đoàn 6, Trung tâm huấn luyện Hùng Vương (Mỹ Tho); phục kích Trung đoàn 10 Sư đoàn 7 ngụy, đánh đồn Phú Hưng, Phú Định (Bến Tre), đánh chìm 10 tàu thuyền trên sông Ba Lai, diệt đồn Ba Chúc (An Giang)...
Trên chiến trường Tây Nam Bộ:
Quân giải phóng tiến công sân bay Lộ Tẻ, phục kích ở Cái Tắc - Tầm Vu... (Cần Thơ), đánh trận Bà Kha, cầu Ông Me, lộ Cầu Vồng, bao vây uy hiếp thị xã Vĩnh Long, thị xã Trà Vinh (Vĩnh - Trà); tiến công thị xã Rạch Giá, yếu khu Minh Lương, chi khu Ngã Năm, pháo kích sân bay Sóc Trăng, tiểu khu Ba Xuyên,...
Sau gần một tháng rưỡi đợt. II Tổng công kích - tổng khởi nghĩa Mậu Thân kết thúc (18-6-1968). Quân giải phóng trên chiến trường B2 đã tiêu diệt 47.800 tên địch (trong đó có 17.700 lính Mỹ, 600 lính Úc, 120 lính Thái Lan), làm tan rã 20.000 tên; tiêu diệt 13 tiểu đoàn (có 3 tiểu đoàn bộ binh Mỹ, 2 tiểu đoàn thiết giáp Mỹ, 1 tiểu đoàn bộ binh Úc), 90 đại đội (trong đó có 30 đại đội Mỹ, 3 đại đội pháo Mỹ, 2 đại đội pháo Úc); bắn rơi và phá hủy 353 máy bay, 1.254 xe quân sự (có 985 tăng thiết giáp), 100 pháo, 47 cầu cống; bắn chìm và cháy 107 tàu, diệt 143 đồn bót, bức rút 39 đồn, tua khác; phá 23 ấp chiến lược, giải phóng 5 xã, 53 ấp, 73.000 dân1 (Theo số liệu của Ban Tổng kết chiến tranh B2, lưu trữ Phòng Khoa học quân sự Quân khu 7, tài liệu 1K. 117). Tuy nhiên, Quân giải phóng trên chiến trường B2 cũng bị tổn thất nặng, nhất là ở mặt trận trọng điểm. Lực lượng biệt động, lực lượng vũ trang các quận, lực lượng vũ trang tuyên truyền của các tổ chức đoàn thể trong nội thành như Thành đoàn, Hoa vận, Phụ vận... hầu như tan rã. Các đơn vị mũi nhọn của cả 5 phân khu đều thương vong lớn; nhiều tiểu đoàn chỉ còn lại 1/4 đến 1/3, hay 1/2 quân số, thậm chí có tiểu đoàn mất sức chiến đấu hoàn toàn. Đơn cử như Trung đoàn 1, Trung đoàn 21 Phân khu 2, Trung đoàn Quyết Thắng, Trung đoàn Gia Định, Trung đoàn Đồng Nai... hầu như đều mất từ nửa quân số trở lên. Tiểu đoàn 4, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn Quyết Thắng thương vong gần hết. Trung đoàn Đồng Nai khi rút ra chỉ còn 70 chiến sĩ, số hy sinh, số thất lạc một thời gian sau mới tập hợp được 300 chiến sĩ. Khối chủ lực Miền cũng thiệt hại nặng: Trung đoàn 1 Sư đoàn 9 thương vong 700 chiến sĩ chỉ trong 4 ngày; Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 2 Sư đoàn 9 có 500 chiến sĩ, sau đợt II Mậu Thân chỉ còn lại 43 chiến sĩ, thương vong đến 457 chiến sĩ2 (Báo cáo tổng kết kinh nghiệm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (B2), lưu trữ Phong Khoa học quân sự Quân khu 7)...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #36 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2023, 02:44:27 pm » |
|
c) Đợt III cuộc Tổng tiến công
Tháng 6-1968, Hội nghị Trung ương Cục lần thứ bảy được tổ chức nhằm tổng kết, đánh giá kết quả đạt được và chỉ ra nhưng nhược điểm, yếu kém của đợt II, đồng thời xác định nhiệm vụ la “Phải làm cho toàn Đảng bộ, toàn quân, toàn dân nhận rõ thắng lợi sau 2 đợt tấn công và nổi dậy của toàn Miền, nhất là của hướng trọng điểm, nhận rõ thất bại mới và sự suy sụp mới của địch nhanh chóng củng cố phát triển lực lượng của ta, liên tục tấn công và nổi dậy ở đô thị cũng như ở nông thôn, tiẽp tục đánh địch những cú nặng hơn, giành thắng lợi mới to lớn hơn"1 (Trích Nghị quyết Trung ương Cục lần thứ bảy (6/68) - số 1868, lưu trữ Phòng Khoa học quân sự Quân khu 7).
Tháng 8-1968, Bộ Chính trị ra nghị quyết chuyên đề về Tổng công kích - tổng khởi nghĩa, khẳng định: “Thắng lợi to lớn và quan trọng nhất là chúng ta đã tạo ra một sự thay đổi đột biến trong cục diện chiến tranh...”2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.29, tr.396). Do vậy, cần “động viên sự nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trên cả 2 miền, phát huy thắng lợi đã đạt được, ra sức tăng cường lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang của ta, tiếp tục đẩy mạnh Tổng công kích - tổng khởi nghĩa, đẩy mạnh thế tiến công toàn diện bằng quân sự và chính trị, bằng ba mũi giáp công, kết hợp với tiến công ngoại giao, làm cho địch thua to hơn nữa trên tất cả các mặt, đạt cho được mục tiêu chiến lược đã đề ra, giành thắng lợi quyết định về ta, đồng thời tạo mọi điều kiện và luôn luôn sẵn sàng về mọi mặt để đánh thắng địch nếu chúng kéo dài hoặc mở rộng chiến tranh”3 (Trích Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 8-1968 - Số 2219, lưu Phòng Tư liệu Ban Tổng kết chiến tranh B2).
Thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị, Trung ương Cục và Quân ủy Miền chủ trương chuyển hướng ra vùng nông thôn, rừng núi, tiến công vào tuyến phòng thủ vòng ngoài của chính quyền Sài Gòn trên vùng 3 chiến thuật1 (Chỉ tiêu cụ thể: Diệt khoảng 10.000 Mỹ - ngụy; diệt từ 8 - 10 tiểu đoàn 35 - 40 đại đội (mỗi sư đoàn phải tiêu diệt 3 tiểu đoàn và 10 - 12 đại đội địch); diệt đại bộ phận Lữ 1 của Sư đoàn bộ binh 1 Mỹ, diệt một phân lực lượng tổng trù bị ngụy; làm tan rã đại bộ phận bảo an, dân vệ). Trong đó hướng chủ yếu là Tây Ninh, hướng thứ yếu là Lộc Ninh (Bình Long), hướng phối hợp là vùng ven và nội đô.
Để chuẩn bị đợt III, căn cứ vào thực tiễn chiến trường, Bộ Chỉ huy Miền quyết định bàn giao địa bàn các quận nội thành cho Phân khu 6, thành lập lại Quân khu miền Đông gồm các tỉnh Bà Rịa, Long Khánh, Biên Hòa.
Trên cơ sở lực lượng Quân giải phóng của các phân khu 1, 2, 3, 4, 5, Bộ Chỉ huy Miền kết hợp với Quân giải phóng của địa phương mở mặt trận Tây Ninh - Bình Long.
Trên hướng chủ yếu Tây Ninh, lực lượng bao gồm Sư đoàn 9, Trung đoàn 174 của Sư đoàn 5 bộ binh, 1 tiểu đoàn đặc công Miền và pháo binh Miền trực tiếp chi viện, mục tiêu là căn cứ Trảng Lớn2 (Lực lượng trên hướng chủ yếu còn xây dựng phương án đánh viện đổ bộ đường không trong khu vực bắc và tây bắc thị xã Tây Ninh). Sư đoàn 5 được tăng cường 1 đại đội có nhiệm vụ phục kích đánh chặn trên các trục giao thông số 2, 26 22 và lực lượng phản ứng nhanh của đối phương.
Trên hướng thứ yếu Lộc Ninh, Sư đoàn 7 có nhiệm vụ diệt chi khu Lộc Ninh, đồng thời đánh viện bên ngoài; kết hợp với lực lượng địa phương đột nhập các ấp chiến lược, diệt tề trừ gian, phát động quần chúng giành quyền làm chủ, mở rộng vùng.
Đêm 17-8-1968, đợt III Mậu Thân chính thức diễn ra. Trên hướng chủ yếu Tây Ninh, Quân giải phóng tiến công cụm quân sự hỗn hợp tại Trà Phí (17-8-1968), tiến công Đại đội biệt kích, trạm truyền tin dã chiến 2 của Mỹ trên đỉnh núi Bà Đen, phục kích Tiểu đoàn bộ binh cơ giới Mỹ trên đường số 2, diệt cụm quân sự hồn hợp Chà Là (21-8-1968), tiến công cụm quân sự hỗn hợp Trà Phí lần 2 (21-8-1968), diệt cụm xe thiết giáp Mỹ tại suối Ông Hùng (đêm 22-8-1968), phục kích 1 đoàn xe cơ giới Mỹ trên đường 22 (đêm 26-8-1968)...
Trên hướng thứ yếu Lộc Ninh, Quân giải phóng tiến công chi khu Lộc Ninh, phục kích chặn đánh Trung đoàn 11 thiết giáp Mỹ và lực lượng thuộc Sư đoàn bộ binh số 1 Mỹ đến giải tỏa.
Đêm 10-9-1968, trên hướng Tây Ninh, Quân giải phóng chuyển khu vực tác chiến sang hướng đông và đông nam, tập kích diệt cụm quân sự hỗn hợp Lâm Vồ (12-9-1968); đánh phản kích Lữ đoàn 187 Mỹ trên đường 22 (bắn hỏng 38 xe bọc thép, 8 xe tăng, 6 máy bay lên thẳng) (12-9-1968); phục kích Lữ đoàn 187 Mỹ trên đường 26; tập kích chi khu Bến Củi lần 1 (16-9-1968), lần 2 (17-9-1968), lần 3 (19-9-1968)...
Trên hướng Lộc Ninh, Quân giải phóng tổ chức nhiều trận đánh cấp tiểu đoàn, bắn cháy 16 xe bọc thép, 6 máy bay lên thẳng, thu 43 súng các loại (12-9-1968)...
Ngày 28-9-1968, cuộc Tổng công kích, tổng khởi nghĩa Mậu Thân đợt III kết thúc. Trong cả 2 giai đoạn (từ đêm 17-8 đến ngày 31-8 và từ đêm 10-9 đến ngày 28-9-1968), trên cả hướng chính và phụ, Quân giải phóng đã đánh 315 trận (trong đó có 16 trận cấp trung đoàn), tiêu diệt 13 tiểu đoàn địch (trong đó có 12 tiểu đoàn bộ binh cơ giới hỗn hợp Mỹ), 55 đại đội (trong đó có 35 đại đội Mỹ), tiêu hao nặng 7 tiểu đoàn khác, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch. “Trên chiến trường Khu 6, Quân giải phóng tiến công chi khu Hòa Đa, chi khu Di Linh; tiến công một số mục tiêu quan trọng trong thị xã Đà Lạt Phan Thiết, Phan Rang; pháo kích nhiều lần sân bay Thành Sơn, Cẩm Lỵ. Hoạt động vũ trang hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy diệt ác phá kìm có kết quả như xung quanh BLao - Di Linh, nam Ninh Thuận, bắc Bình Thuận”1 (Báo cáo tổng kết kinh nghiệm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (B2), lưu trữ Phòng Khoa học quân sự Quân khu 7).
Tháng 10-1968, Bộ Chỉ huy Miền tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm về cuộc Tổng công kích - tổng khởi nghĩa Mậu Thân đợt III. Tại hội nghị, Tư lệnh Hoàng Văn Thái đánh giá “đó là một chiến dịch diễn ra vào mùa mưa nhưng đã đạt thắng lợi lớn nhất từ trước tới nay, đánh nhiều trận nhất, tiêu diệt được nhiều sinh lực địch nhất, nhiều đơn vị cấp tiểu đoàn, đại đội nhất, nhiều phương tiện chiến tranh nhất. Chiến dịch góp phần củng cố và phát triển thế chủ động tiến công và bao vây chiến lược của ta, đẩy địch vào thế bị động phòng ngự và suy yếu hơn về mọi mặt, góp phần thúc đẩy thắng lợi chung, nhất là đối với khu trọng điểm và đồng bằng sông Cửu Long, tạo thắng lợi chung về quân sự, chính trị, ngoại giao. Chiến dịch chứng tỏ bộ đội chủ lực ngày càng trưởng thành, nhiều tiến bộ quan trọng, các đơn vị đều tiến bộ và phát triển tương đối đều, có đơn vị tiến nhảy vọt, các đơn vị mới thích nghi nhanh chóng đối với chiến trường mới... Tạo nhiều cách đánh mối thích ứng điều kiện mới, nhiều kinh nghiệm phong phú, nâng cao thêm một bước nghệ thuật quân sự của các cấp chiến dịch, hiểu địch hơn”2 (Bộ Quốc phòng - Quân khu 7: Lịch sử Bộ Chỉ huy Miền (1961-1976), Sđd, tr.350, 351).
Với cố gắng vượt bậc, cuộc Tổng công kích - tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân miền Nam nói chung, của Quân giải phóng trên chiến trường B2 nói riêng, đã giáng một đòn chí mạng vào kẻ thù, tạo nên bước ngoặt quyết định trong cuộc kháng chiến chống xâm lược, buộc giới cầm quyền Mỹ phải chuyển từ chiến lược tiến công “tìm diệt” và “bình định" sang chiến lược phòng ngự “quét và giữ” trên toàn bộ chiến trường miền Nam Việt Nam.
Bên cạnh nhừng thắng lợi to lớn đó, cuộc Tổng công kích - tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân năm 1968 cũng để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý giá. Tư tưởng “tích cực tiến công”, “kiên quyết và liên tục tiến công”, “càng đánh càng mạnh”, “đợt sau cao hơn đợt trước”, “tiến lên giành thắng lợi quyết định” trong Tổng công kích - tổng khởi nghĩa Mậu Thân đợt II, đợt III khi yếu tố bí mật bất ngờ không còn đã làm cho Quân giải phóng càng đánh càng suy kiệt, yếu đi trước đội quân xâm lược nhà nghề thiện chiến mạnh hơn nhiều lần về lực lượng, vũ khí và trang thiết bị quân sự. Sự suy yếu của Quân giải phóng từ sau Tổng công kích - tổng khởi nghĩa Mậu Thân đợt II đợt III đã tạo điều kiện thuận lợi cho đối phương tập trung toàn lực đánh phá toàn diện lực lượng kháng chiến trên mọi mặt trận. Đồng thời với “chiến dịch bình định đặc biệt Lê Lợi” trên phạm vi nông thôn toàn miền Nam (từ ngày 1-1-1968 đến ngày 31-1-1969) là các cuộc phản kích được Mỹ và chính quyền Sài Gòn thực hiện với quy mô lớn nhằm đeo bám, đẩy lùi Quân giải phóng vào sâu vùng rừng núi hoặc lên tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia.
Năm 1965-1968 là giai đoạn mà quân và dân miền Nam nói chung, Quân giải phóng trên chiến trường B2 nói riêng bước vào cuộc chiến đấu quyết liệt nhất, đối đầu với quân đội hùng mạnh nhất thế giới, đưa cuộc kháng chiến chống xâm lược lên đỉnh cao của cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc. Trên chiến trường B2, Quân giải phóng phát triển mạnh mẽ cả quân chủ lực và quân địa phương với nhiều binh chủng từ bộ binh, công binh, đặc công, biệt động, thông tin, hậu cần, quân báo, tình báo... Đặc biệt, Quân giải phóng đã vận dụng đường lối quân sự của Đảng một cách linh động, sáng tạo, từ việc xây dựng lực lượng, tổ chức chiến trường đến việc chỉ đạo, chỉ huy và thực hành chiến đấu. Có thể nói, giai đoạn 1965-1968 là thời kỳ phát triển mạnh nhất, đa dạng nhất về lực lượng và nghệ thuật quân sự của lực lượng Quân giải phóng trên chiến trường B2 với nhiều cách đánh phong phú, linh hoạt, sáng tạo.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #37 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2023, 02:46:28 pm » |
|
Chương ba QUÂN GIẢI PHÓNG TRÊN CHIẾN TRƯỜNG B2 TRONG GIAI ĐOẠN ĐẦU CHỐNG ChIẾN LƯỢC “VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH” CỦA MỸ (1969 -1972) I. ĐIỀU CHỈNH, BỐ TRÍ LẠI LỰC LƯỢNG VÀ TỔ CHỨC CHIẾN TRƯỜNG SAU CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG TẾT MẬU THÂN1. Tình hình chiến trường B2 sau cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân và nhiệm vụ của Quân giải phóng trong giai đoạn đầu chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”Năm 1969, Richard Milhous Nixon lên làm Tổng thông Mỹ trong bối cảnh cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân dân miền Nam Việt Nam đã làm chấn động cả nước Mỹ và thế giối, phong trào phản chiến và chống chiến tranh bùng phát mạnh mẽ trong lòng nước Mỹ, nội bộ Nhà Trắng mâu thuẫn sâu sắc về phương cách giải quyết vấn đề chiến tranh ở Nam Việt Nam. Trước sức ép của dư luận và số phận của binh lính Mỹ trên chiến trường miền Nam Việt Nam, Tổng thống Nixon buộc phải tuyên bố rút dần quân Mỹ về nước và thay vào đó là chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh’’. “Việt Nam hóa chiến tranh” về bản chất là bản kế hoạch quân sự “dùng người Việt đánh người Việt”, Chính phủ Mỹ từng bước chuyển giao cuộc chiến chống “lực lượng cộng sản Bắc Việt” cho chính quyền Sài Gòn thực hiện. Bản kế hoạch gồm ba bước: “Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ chiến đấu trên bộ cho ngụy, rút được quân chiến đấu trên bộ của Mỹ, làm suy yếu được ta thông qua bình định nông thôn. Bước 2: Chuyển giao nhiệm vụ trên không cho ngụy, làm cho quân ngụy đủ sức đương đầu với ta, giữ vững được Nam Việt Nam và Đông Dương. Bước 3: Hoàn thành chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, củng cố các thành quả đã đạt được, ta suy yếu và chiến tranh tàn lụi dần” 1 (Ban Tổng kết chiến tranh B2: Báo cáo tổng kết kinh nghiệm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (B2), tháng 02-1979, tr.78, 79). Tất cả dự kiến được thực hiện và hoàn thành trước ngày 30-6-1972. Đầu năm 1969, Mỹ thành lập Cơ quan Hợp tác phát triển nông thôn “Cooperation for Rural Development Support” (MAC.CORDS), tiến hành tăng viện trợ lớn cho ngụy quyền Sài Gòn. Về lực lượng, Mỹ tiến hành đào tạo cấp tốc đội ngũ sĩ quan cho quân ngụy sao cho đủ sức thay thê đội ngũ cô vân quân sự Mỹ (số lính ngụy được đưa đi Mỹ đào tạo tăng gấp 4 lần, số đào tạo tại các cơ sở huấn luyện, trường quân sự trong nước tăng gấp 10 lần so với kế hoạch hằng năm trước đây). Từ cuối năm 1968, quân đội Sài Gòn có 717.000 quân, đến năm 1972 tăng lên 1.100.000 quân (lực lượng chính quy và bảo an). Các sư đoàn quân chủ lực biên chế đúng “tứ chế", mỗi sư đoàn có đủ 4 trung đoàn, mỗi trung đoàn có đủ 4 tiểu đoàn, nâng số biệt động quân lên thành 15 liên đoàn (thành lập mới 8 liên đoàn); xây dựng 500.000 phòng vệ dân sự, 140.000 cành sat (năm 1968 ìà 70.000); tổ chức 700 đoàn bình định (44.000 người), chưa kể lực lượng Thiên Nga, Phượng Hoàng, điệp báo, thám báo... Trang thiêt bị quân sự, vũ khí cùng được Mỹ trang bị lại tỷ lệ thuận với sự tàng nhanh của quân ngụy. Năm 1968, trang thiết bị quân sự, vũ khí của quân ngụy có 800.000 tiểu liên, M79; 1.037 xe tăng, xe thiết giáp; 621 khẩu pháo; 20 phi đoàn không quân (400 chiếc máy bay); 308 tàu quân sự... Năm 1972, số lượng vũ khí tăng lên với tổng số có khoảng 2.000.000 tiểu liên, M79; 1.879 xe tăng, xe thiết giáp; 1.322 khẩu pháo; 65 phi đoàn (1.850 máy bay); 1.611 tàu, thuyền... Về kế hoạch “tìm diệt” của địch, địa bàn Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ vẫn là những khu vực ưu tiên chính. Do vậy trong những năm 1969, 1970, mỗi tháng trung bình Mỹ thực hiện gần 400 cuộc hành quân càn quét từ cấp tiểu đoàn đến sư đoàn (chiếm 38% trên toàn Miền) nhằm tìm diệt Quân giải phóng, đồng thời hỗ trợ cho công tác bình định nông thôn. Trong đó, trên chiến trường Nam Bộ, số cuộc hành quân cấp tiểu đoàn trở lên tăng nhanh, năm 1968 là 7.654 cuộc, năm 1969 tăng lên 11.945 cuộc. Đặc biệt, trên vùng “trọng điểm an ninh quốc gia” miền Đông Nam Bộ, Mỹ ưu tiên tập trung 10% lực lượng Mỹ (103 tiểu đoàn) và 37% tổng lực lượng quân lực Sài Gòn (8 sư đoàn + 9 trung đoàn) liên tục mở các cuộc hành quân lớn, điển hình như “Atlas Wedge”, “Toàn thắng” đánh vào khu vực Dầu Tiếng, Bình Dương, Túc Trưng, Long Khánh; cuộc hành quân “Đại bàng” trên các hướng Tây Ninh, Bình Long, Phước Long và các cuộc hành quân cấp lữ đoàn tăng cường vào Bù Prang, Đức Lập, Long Khánh, Hắc Dịch, Bà Rịa... Về bình định, sau chiến dịch “bình định cấp tốc”, Mỹ đưa ra kế hoạch bình định ba giai đoạn1 (Giai đoạn 1: “Bình định xây dựng” (từ đầu năm 1969 đến tháng 6-1970), mục tiêu là kiểm soát được vùng đông dân quan trọng nhất, đánh phá có kết quả tổ chức và tiềm lực chiến tranh nhân dân của cách mạng, đẩy Quân giải phóng ra xa vùng dân cư. Giai đoạn 2: “Bình định đặc biệt” (từ tháng 7-1970 đến tháng 6-1971), mục tiêu là kiểm soát chặt hầu hết các vùng đông dân, kiểm soát về cơ bản dân cư theo ý định của Mỹ, giảm tối đa lực lượng Quân giải phóng. Giai đoạn 3: “Cộng đồng tự vệ và phát triển nông thôn” (từ tháng 7-1961 trở đi): mục tiêu là bình định xong nông thôn, bắt đầu chuyển sang thời kỳ “xây dựng phát triển” mọi mặt, nhất là kinh tế). Để hỗ trợ công tác hình định trên chiến trường Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ, đồng bằng sông Cửu Long là địa bàn được ưu tiên lựa chọn. Mỹ sử dụng 2 lữ đoàn thuộc Sư đoàn 9 bộ binh Mỹ, 3 sư đoàn và 2 lữ đoàn thủy quân lục chiến ngụy kết hợp với lực lượng địa phương quân thực hiện nhiều cuộc hành quân “quét và giữ” trong đó có cuộc hành quân Cửu Long dọc theo tuyến Hà Tiên - Kiên Giang - Chương Thiện - An Xuyên; cuộc hành quân bình định dọc theo tuyến Kiến Phong, Kiến Tường, Định Tường... Cùng với các cuộc hành quân càn quét, chính quyền Sài Gòn thành lập “Hội đồng bình định Trung ương”, “Trung tâm bình định Trung ương”, “Trung tâm bình định cấp tỉnh”, do tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng (quân sự) nắm quyền điều hành. Như vậy, chính quyền Sài Gòn hầu như quân sự hóa toàn bộ bộ máy công quyền các cấp, huy động hầu hết quân lực các cấp từ trung ương đến địa phương tham gia trực tiếp công cuộc bình định. Từ năm 1969, ở nông thôn, bên cạnh các tổ chức “Cuộc cảnh sát”, “Trung tâm điều phối”, “Trung tâm bình định”... còn xuất hiện “Ủy ban Phượng Hoàng” và lực lượng Thiên Nga... thực chất là các tổ chức tình báo, mật vụ, cảnh sát mật... thực hiện mục tiêu phát hiện và làm tha hóa lực lượng cán bộ cách mạng. Trong 2 năm 1969-1970, lực lượng các tổ chức tình báo, mật vụ cảnh sát mật... của chính quyền Sài Gòn đã phát hiện được 98.763 cán bộ cách mạng nằm vùng, trong đó 53.956 trường hợp được “xác định” 1 (Theo Jeff Stein - Marc Leepson, năm 1969 có 200.000 Việt cộng bị “trung lập hóa” (Những sự kiện chiến tranh Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr.85)) ở vùng 3 và vùng 4 chiến thuật. Trước âm mưu mới của Mỹ và tình thế cách mạng sau cuộc Tổng công kích - tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân năm 1968 đang dần xấu đi, tháng 4-1969 Bộ Chính trị tổ chức hội nghị đánh giá tình hình và nhiệm vụ trước mắt. Bộ Chính trị chỉ rõ: “Trước thời cơ lớn hiện nay, chúng ta cần tập trung nỗ lực cao độ để giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn. Trong khi tập trung nỗ lực cao độ để giành thắng lợi quyết định, chúng ta cần nắm vững phương châm chiến lược đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính, ra sức xây dựng lực lượng mọi mặt, có phương thức tác chiến và đấu tranh thích hợp để đánh mạnh được, đánh lâu dài được, càng đánh càng mạnh” 2 (Trích Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 4-1969 số 2130, lưu tại Phòng Tư liệu - Ban Tổng kết chiến tranh B2). Căn cứ vào quyết tâm chiến lược mới của Bộ Chính trị, tháng 7-1969, Trung ương Cục tổ chức Hội nghị lần thứ chín đề ra nhiệm vụ: “Động viên sự nỗ lực phi thường của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ra sức phát huy thắng lợi đã giành được, kiên quyết khắc phục cấc khuyết điểm, nhược điểm, nắm vững và sáng tạo thời cơ tiếp tục đẩy mạnh tổng công kích, tổng khởi nghĩa với ba mũi giáp công đến đỉnh cao nhất, kết hợp với tấn công ngoại giao, khẩn trương xây dựng lực lượng quân sự và chính trị; phát triển thế tấn công chiến lược một cách toàn diện, liên tục và mạnh mẽ trên cả ba vùng chiến lược “quét và giữ”, chính sách bình định và các mục tiêu, biện pháp phòng ngự của địch, đánh bại âm mưu kết thúc chiến tranh trên thế mạnh và chủ trương “phi Mỹ hóa" chiến tranh của chúng, đánh cho Mỹ phải rút quân, đánh cho ngụy phải suy sụp và ta giành được thắng lợi quyết định là điều kiện rất cơ bản để tiến lên thực hiện một miền Nam độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập, tiến tới thống nhất nước nhà” 1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Vãn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.30, tr.340). Thực hiện nhiệm vụ quân sự nói trên, Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền “triển khai bố trí hợp lý và phối hợp hoạt động của ba thứ quân trên các chiến trường, một mặt ra sức tiêu diệt tiêu hao, kìm chân lực lượng lớn quân Mỹ - ngụy trên chiến trường trọng điểm Sài Gòn - Chợ Lớn, một mặt căng địch ra trên các chiến trường đồng bằng, miền núi, tập trung chủ lực mạnh trên chiến trường có lợi, kéo địch ra để tiêu diệt và mở rộng vùng giải phóng thành căn cứ cách mạng hoàn chỉnh; trước mắt phải tập trung những cố gắng cao nhất, đẩy mạnh tiến công quân sự, kết hợp với tiến công chính trị và ngoại giao, giành thắng lợi lớn nhất theo yêu cầu đã đề ra, làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của địch, đồng thời tạo ra thế và lực mạnh, tạo ra thời cơ mới để giành thắng lợi quyết định trong thời gian ngắn và bảo đảm đánh thắng địch trong mọi tình huống” 2 (Ban Tổng kết chiến tranh B2: Báo cáo tổng kết kinh nghiệm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (B2), tháng 2-1979, tr.78, 79). Trên chiến trường B2, từ sau cuộc Tổng công kích - tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân (1968), hình thái chiến trường thay đổi, chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ bị đánh bại nhưng lực lượng Quân giải phóng cũng bị hao hụt quá nhiều. Quân giải phóng cấp Miền, cấp quân khu, cấp phân khu và cả Quân giải phóng ở các tỉnh, huyện, nhiều đơn vị “vơi đi” phân nửa... Trước sự phản kích quyết liệt của Mỹ, vùng giải phóng, vùng căn cử ngày một thu hẹp, địa bàn đứng chân của Quân giải phóng trở nên thiếu an toàn. Hơn nữa, việc bảo đảm hậu cần ngày càng khó khăn: các cửa khẩu, khu dân cư, đường giao thông, tuyến tiếp tế từ đồng bằng lên các căn cứ, từ hậu phương miền Bắc vào chiến trường miền Nam... đều bị phong tỏa, kiểm soát chặt chẽ 1 (So với năm 1968, số lần đánh phá của máy bay B52 trên tuyến 559 trong năm 1969 tăng 4 lần, máy bay chiến thuật tăng 2,5 lần, số lượng bom đạn tăng 3 lần). Đến tháng 9-1969, “dự trữ lương thực của Miền chỉ còn 2.000 tấn, không đủ cho bộ đội ăn trong một tháng, ở nhiều đơn vị, cán bộ, chiến sĩ ta phải ăn bữa sắn, bữa cơm, ăn củ nần, củ chụp, quả rừng” 2 (Ban Tổng kết chiến tranh B2: Báo cáo tổng kết kinh nghiệm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (B2), tháng 2-1979, tr.76). Đứng trước muôn vàn khó khăn song Quân giải phóng vẫn cố gắng vượt qua, tập trung nỗ lực cao độ để giành thắng lợi quyết định. Đó là nhiệm vụ, “quân lệnh như sơn”. Vấn đề đặt ra là phải xây dựng lực lượng Quân giải phóng về mọi mặt, có phương thức tác chiến và đấu tranh thích hợp để có thể đánh được, đánh lâu dài được, càng đánh càng mạnh.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #38 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2023, 02:50:19 pm » |
|
2. Củng cố, bố trí lại lực lượng Quân giải phóng và tổ chức chiến trường
Cuối năm 1968 đầu năm 1969, Bộ Quốc phòng bổ sung cho chiến trường B2 một số đơn vị Quân giải phóng đã có kinh nghiệm chiến đấu trên chiến trường Tây Nguyên, chiến trường Khu 5. Đó là Trung đoàn 101C, Trung đoàn 18D, Trung đoàn 33, Trung đoàn 174, Trung đoàn 20, Trung đoàn 10 đặc công (Trung đoàn 95A)1 (Trung đoàn 95A thuộc Sư đoàn 325 được xây dựng ở Bình Trị Thiên), Trung đoàn 95C (Trung đoàn Hoa Lư), Trung đoàn 209 (Trung đoàn Sông Lô)2 (Ngày 5-4-1968, Bộ Quốc phòng điều động Trung đoàn Sông Lô rời hậu phương lớn miền Bắc vào chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên)... Bên cạnh đó, Bộ Quốc phòng còn tăng cường thêm 10 tiểu đoàn, 100 đại đội, trung đội đặc công mới hoàn thành đợt huấn luyện quân sự ở miền Bắc vào để bổ sung cho đơn vị chiến đấu. Do vậy, các đơn vị từ bộ binh, pháo binh, công binh, đặc công đến các đơn vị trợ chiến... trên chiến trường B2 đều được bổ sung lực lượng3 (Lúc này nhân sự Bộ Chỉ huy Miền có sự thay đổi. Phó Tư lệnh Trần Văn Trà công tác thường xuyên tại Trung ương Cục. Bộ Chỉ huy Miền chỉ còn Phó Tư lệnh Nguyễn Hữu Xuyến (phụ trách hậu cần). Phó Tư lệnh Đồng Văn Cống xuống Tà Lài phổ biến Nghị quyết Trung ương Cục đợt IV Mậu Thân cho miền Đông. Hoàng Cầm lo việc chuẩn bị thành lập Quân đoàn 4. Đến tháng 7-1969, Nguyễn Minh Châu (Năm Ngà) được điều về làm Tham mưu phó Miền. Nguyễn Trọng Xuyên - Phó Tư lệnh Quân khu 10 về giữ chức vụ Tư lệnh Quân khu 6 (cho đến tháng 2-1976)). Tay nhiên, từ cuối năm 1969 đầu năm 1970, Mỹ đã thực hiện hàng ngàn cuộc hành quân đánh phá sâu vào vùng căn cứ kháng chiến trên địa bàn Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ; lấn chiếm sâu vào các vùng nông thôn xung quanh Sài Gòn, Phước Long, Bình Tuy, Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng; chiếm hầu hết vùng giải phóng Khu 8, Khu 9 và chuyển sang đánh vào các căn cứ U Minh, Đồng Tháp... Đến đầu năm 1970, trên toàn Miền, chính quyền Sài Gòn lập thêm được 2.656 ấp, trong số đó ở Nam Bộ có 1.503 ấp (miền Đông thêm 430 ấp và đồng bằng sông Cửu Long thêm 1.064 ấp).
Vùng giải phóng hầu như bị xóa. Vùng dân cư, trung tâm chính trị, kinh tế, tôn giáo, thị xã, thị trấn, đường giao thông... bị kìm tỏa. Vùng ven, vùng trung tuyến, vùng rừng núi, vùng biên giới thường xuyên bị càn quét, đánh phá ác liệt bằng phi pháo, chất độc hóa học, biệt kích, gián điệp...1 (Sau Mậu Thân năm 1968, để phục vụ công tác bình định, Mỹ và chính quyền Sài Gòn phân chiến trường miền Nam thành 4 loại vùng: 1- Loại vùng “An ninh” là vùng mà Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã kiểm soát được, thường là vùng đông dân cư ở sát đô thị, thị trấn, hạ tầng cơ sở của ta không con hoặc còn nhưng rất yếu, lực lượng vũ trang bị đẩy ra ngoài. Ở đây Mỹ và chính quyền Sài Gòn sử dụng cảnh sát, dân vệ, phòng vệ dân sự làm lực lượng chủ yếu để bình định. 2- Loại vùng “Củng cố là vùng tranh chấp, thường là vùng giáp ranh miền núi và đồng bằng, nơi chính quyền Sài Gòn đã lập được quyền quản lý nhưng hiệu lực yếu kém nơi Quân giải phóng còn trụ bám hoạt động, do đó Mỹ và chính quyền Sài Gòn chỉ kiểm soát được ban ngày. Đối với loại vùng này, Mỹ và chính quyền Sài Gòn thường sử dụng lực lượng bảo an, dân vệ cảnh sát phòng vệ dân sự để quản lý; một số trường hợp có kết hợp với bộ phận chủ lực. 3- Loại vùng "Tảo thanh" là vùng giải phóng, vùng căn cứ mật khu của Quân giải phóng. Đối với loại vùng này, Mỹ và chính quyền Sài Gòn sử dụng lực lượng chủ lực, tổ chức càn quét, đánh phá liên tục, xúc tát dân về vùng kiểm soát. 4- Loại vùng “Biên phòng" (vùng biên giới), địch sử dụng lực lượng đặc biệt biệt động quân, biệt kích, thám báo... có tăng cường quân chủ lực từng lúc để bình định nắm dân vùng núi và ngăn chặn Quân giải phóng xâm nhập). Trước tình hình đó, nhu cầu sắp xếp, bố trí lực lượng một cách hợp lý nhằm bảo tồn, củng cố lực lượng được đặt ra cấp thiết. Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền quyết định giữ nguyên các sư đoàn chủ lực 9, 7, 5 làm nhiệm vụ chống càn, bảo vệ các căn cứ đầu não kháng chiến. Trung đoàn 95C được điều về Sư đoàn 9 thay cho Trung đoàn 88 xuống miền Trung Nam Bộ nhận công tác mới2 (Trung đoàn 88 đứng trong đội hình Sư đoàn 9 từ tháng 4 đến tháng 10-1969). Trung đoàn 209 bổ sung cho Sư đoàn 73 (Như vậy Sư đoàn 7 đã có đủ ba trung đoàn (141, 165, 209) của Sư đoàn 312). Trung đoàn 33 được bố trí đứng vững ở Cẩm Mỹ. Trung đoàn 320 xuống bắc Tân An. Các Trung đoàn 4, 16, 33, 268, Quyết Thắng... về bám trụ ở bắc, tây bắc, đông bắc Sài Gòn. Bộ Chỉ huy Miền và Bộ Chỉ huy các phân khu 1, 2, 3, 6 dời lên biên giới Việt Nam - Campuchia. Bộ Chỉ huy Phân khu 6 rút xuống đồng bằng sông Cửu Long. Bộ Chỉ huy Phân khu 5 dời về Chiến khu Đ. Bộ Chỉ huy Phân khu 4 dời về Bà Rịa. Bộ Chỉ huy T.7 bám địa bàn Xuân Lộc đường số 15... Tuy nhiên, “Các trung đoàn chủ lực về hoạt động ở các địa phương trong tình thế hết sức khó khăn vi đồn bót địch đóng dày đặc, chia cắt địa bàn, quân Mỹ - ngụy càn quét liên miên, trong khi hầu hết các lõm căn cứ, vùng giải phóng không còn. Tuy không giải thể, nhưng thực tế các trung đoàn đều phải phân tán thành các đại đội, trung đội, có khi xuống đến cấp tiểu đội để bám trụ. Trung đoàn 16, 268, Quyết Thắng phải chuyển mọi sinh hoạt xuống lòng địa đạo Củ Chi, ngày nằm hầm, đêm bí mật luồn vào ấp chiến lược vận động quần chúng, gây dựng lại cơ sở. Trung đoàn 320 ở Long An bị tổn thất nặng hai lần phải trở về Miền để xây dựng lại. Bộ đội chủ lực phải học sông như du kích, tự lực xuống đồng, xuống sông mò cua, bắt cá, vào ấp chiến lược mua gạo ăn. Tổn thất vì công việc này có những lúc còn cao hơn tổn thất do chiến đấu...”1 (Bộ Quốc phòng - Quân khu 7: Lịch sử lực lượng vũ trang Quân khu 7 (1945-2010), Nxb. Quân đội nhân dân, 2010, Hà Nội, tr.141).
Đứng trước thực trạng đó, cùng với việc củng cố địa bàn trú ém quân, công tác hậu cần do đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến - Phó Tư lệnh Miền trực tiếp phụ trách được củng cố lại. Các đoàn hậu cần tích cực thu mua lương thực, thực phẩm, vào rừng khai thác sản vật, tổ chức mở đường vận tải, tiếp nhận nguồn chi viện từ hậu phương lớn miền Bắc qua Đoàn 559 tại khu vực ngã ba biên giới... Bằng nỗ lực hết mình, công tác hậu cần cung cấp quân số, trang bị vũ khí, lương thực, thực phẩm... cho các đơn vị Quân giải phóng dần dần được giải quyết. Bên cạnh đó, “trong năm 1969, Bộ Chỉ huy Miền đã tiếp nhận chi viện của miền Bắc cho B2 (qua Đoàn 17 chuyển về) 14.224 tấn gạo, 400 tấn muối, 164 tấn quân trang, 45 tấn thuốc quân y, 2.812 tấn vũ khí, đạn (riêng cho Quân khu 8 (T2): 556 tấn, Quân khu 9 (T3): 383 tấn) và 83 tấn vật liệu quân giới, 123 tấn phụ tùng phương tiện vận chuyển, 230 tấn nhiên liệu, 56 chiếc xe hơi các loại. Ngoài ra, nhờ nỗ lực thu mua của các đoàn hậu cần 81, 50, 70, 82, chủ yếu ở biên giới kết hợp với chi viện của Trung ương, Hậu cần B2 đã khôi phục được lượng dự trữ lương thực, đạn dược cho lực lượng vũ trang hoạt động trong đợt mùa thu và mùa khô 1969 - 1970”1 (Bộ Quốc phòng - Quân khu 7: Lịch sử Bộ Chỉ huy Miền (1961-1976), Sđd, tr.398-399, 422).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #39 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2023, 02:51:56 pm » |
|
Năm 1970, Bộ Quốc phòng tăng cường thêm cho chiến trường B2 số tân binh mới tuyển gồm 82 tiểu đoàn và hàng trăm tấn vũ khí, trang thiết bị quân sự nhằm bổ sung, trang bị cho các đơn vị chiến đấu thuộc các binh chủng từ bộ binh, công binh, pháo binh, đặc công đến thông tin... Được bổ sung tân binh, Bộ Chỉ huy Miền mạnh dạn điều động số đơn vị chủ lực cấp Miền, cấp khu, cấp phân khu... có kinh nghiệm chiến trường đấu xuống tuyến tỉnh, huyện, củng cố phát triển Quân giải phóng địa phương.
Năm 1970, Quân giải phóng trên chiến trường B2 dần dần được khôi phục, đặc biệt là khối chủ lực Miền. Sư đoàn 9 tổng số 11.654 (quân số chiến đấu 6.241). Sư đoàn 7 tổng số 10.151 (quân số chiến đấu 7.583). Sư đoàn 5 tổng số 9.182 (quân số chiến đấu 6.526). Đoàn pháo binh 75 tổng số 4.983 (quân số chiến đấu 4.348). Đoàn đặc công 429 tổng số 3.224 (quân số chiến đấu 2.260)2 (Bộ Quốc phòng - Quân khu 7: Lịch sử Bộ Chỉ huy Miền (1961-1976), Sđd, tr.398-399, 422).
Để phục vụ cho đợt hoạt động mùa mưa năm 1970, Bộ Chỉ huy Miền chủ trương thành lập các “khu căn cứ” trên cơ sở một số đoàn hậu cần, đường dây giao liên, các đơn vị biên phòng trên chiến trường B2. Từ tháng 5-1970, các “khu căn cứ” lần lượt ra đòi mang mật danh C10, C20, C30, C40 và Khu căn cứ Phước Long. Mỗi khu căn cứ có quân số dao động từ 2.000 đến 4.000 người, gồm bộ chỉ huy, cơ quan tham mưu, chính trị hậu cần và các đơn vị cơ sở.
Ngày 12-6-1970, Cục Hậu cần Miền quyết định thành lập hai đoàn hậu cần: Đoàn 500 và Đoàn 770, mỗi đoàn quân số 3.000, triển khai hoạt động ở gần khu vực Biển Hồ Côngpôngthom, Xiêm Riệp, Báttambăng, Côngpôngchơnăng...
Đến tháng 7-1970, các khu căn cứ được bố trí địa bàn đứng chân và đi vào hoạt động, trong đó C10 ở Karachê, Mônđônkiri C20 ở Côngpôngchàm, C30 ở Svâyriêng, Prâyven, C40 ở Côngpôngthom, Xiêm Riệp, Báttambảng; khu căn cứ Phước Long ở Tàkeo, Campốt, Côngpôngxpư1 (C10 thành lập trên cơ sở lực lượng thuộc Đoàn Hậu cần 86, 70, các đơn vị đường dây (C90); C20 hình thành từ các đoàn hậu cần 50, 82, một số đơn vị biên phòng; C30 hình thành từ Đoàn Hậu cần 100, một bộ phận Đoàn 82 và một số đơn vị biên phòng, đường dây giao liên; C40 hình thành từ các trung đoàn độc lập 201, 203, 205, 207 của Miền; Khu căn cứ Phước Long hình thành từ lực lượng Đoàn Hậu cần 200 và lực lượng hậu cần Sư đoàn 1).
Do chia sẻ lực lượng để thành lập các khu căn cứ nên lực lượng hậu cần trên chiến trường B2 giảm xuống chỉ còn 5.063 người (tháng 8-1970), so với 22.149 người tại thời điểm tháng 12-1969. Tháng 5-1970, Phân khu 2 và Phân khu 3 sáp nhập lại thành Phân khu 23 (Phân khu Long An)2 (Trước Tết Mậu Thân, hai phân khu 2 và 3 có 21 tiểu đoàn, khi sáp nhập chỉ còn lại 4 tiểu đoàn thiếu). Đặc biệt, từ tháng 10-1971 đến tháng 3-1972, hậu cần Miền đã chuẩn bị được 47.500 tấn lương thực, trong đó có 44.500 tấn gạo. Tuyến hậu cần chiến dịch chuẩn bị được 15.610 tấn lương thực, thực phẩm, 1.674 tấn vũ khí, 673 tấn xăng dầu, 43 tấn thuốc men, dụng cụ quân y. Riêng về đạn pháo, cối hạng nặng có 12.138 viên (1.079 viên đạn pháo 105 ly, 590 viên đạn 122 ly, 2.500 viên đạn 85 ly, 269 viên đạn cối 160 ly, 4.300 viên đạn cối 120 ly, 1.400 viên đạn DKB, 2.000 viên đạn H12). Tuyến hậu cần dự trữ chuẩn bị được 20.800 tấn hàng các loại, trong đó lương thực có thể bảo đảm cung cấp đủ cho Quân giải phóng cả năm 1972.
Năm 1971, Bộ Chỉ huy Miền còn quyết định sáp nhập Đoàn Hậu cần 81, 84 thành Đoàn Hậu cần khu vực 814 với tổng quân số 1.828 người, hoạt động trên địa bàn các tỉnh Biên Hòa Bà Rịa, Long Khánh, phục vụ Sư đoàn 7 tác chiến ở khu vực đông bắc Sài Gòn1 (Bộ Quốc phòng - Quân khu 7: Lịch sử Bộ Chỉ huy Miền (1961-1976), Sdd, tr.448).
Ngày 18-3-1971, Bộ Tư lệnh Miền quyết định thành lập cơ quan Bộ Chỉ huy tiền phương, lấy mật danh là Đoàn 301. Bộ Chỉ huy Đoàn 301 gồm: Trần Văn Trà (Tư lệnh), Trần Độ (Chính ủy), Hoàng Cầm (Tham mưu trưởng), Lê Ngọc Hiền (Tham mưu phó), Trần Văn Phác (Chủ nhiệm chính trị). Đoàn 301 là cơ quan chỉ huy cấp quân đoàn, chỉ huy trực tiếp ba sư đoàn bộ binh (9, 7, 5), Trung đoàn pháo binh 28, tiểu đoàn súng máy phòng không 12 ly và nhiều đơn vị binh chủng độc lập khác. Sự ra đời của Đoàn 301 phản ánh sự lớn mạnh của lực lượng Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Lần đầu tiên trên chiến trường B2, một cơ quan chỉ huy tương đương cấp quân đoàn Quân giải phóng được thành lập.
Cùng ngày 18-3-1971, Bộ Chỉ huy Miền đổi tên là Bộ Tư lệnh Miền. Các cơ quan trực thuộc được kiện toàn một bước.
Chiến sự ngày càng tăng, hậu phương lớn miền Bắc chi viện sức người sức của cho chiến trường B2 ngày càng lớn, đặc biệt là vũ khí, đạn dược và trang thiết bị quân sự hiện đại. Ngày 3-3-1971, Bộ Chỉ huy Miền thành lập sở Chỉ huy tiền phương cơ giới để chuẩn bị tiếp nhận chi viện. Tháng 6-1971, Bộ Tư lệnh Miền quyết định rút số cán bộ kỹ thuật đặc công cơ giới J16 và cán bộ kỹ thuật Đặc khu Rừng Sác để thành lập Đội kỹ thuật 33 (64 chiến sĩ) trực thuộc Đoàn pháo binh 75 Biên Hòa. Tháng 8-1971, trên cơ sở Đội kỹ thuật 33 Bộ Tư lệnh Miền quyết định thành lập đơn vị tăng thiết giáp lấy phiên hiệu là M26. Tháng 11-1971, đơn vị tăng thiết giáp chính thức tách khỏi Đoàn pháo binh 75 Biên Hòa để thành lập Đoàn tăng thiết giáp Miền - đơn vị tăng thiết giáp đầu tiên trên chiến trường B2.
Năm 1972, chuẩn bị cho Chiến dịch Nguyễn Huệ, Bộ Quốc phòng chi viện lực lượng cho chiến trường B2 bao gồm: 1 trung đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn pháo binh 85, 1 tiểu đoàn hỏa tiễn 122 ly, 2 tiểu đoàn cao xạ 37 ly, 1 tiểu đoàn xe tăng 36 chiếc (có T54 và PT76 tăng lội nước), một đại đội pháo cao xạ 57mm tự hành, 1 đại đội tên lửa chống tăng B72. Với trang bị vũ khí ngày càng đa dạng, hiện đại, từ năm 1972, Quân giải phóng trên chiến trường B2 trở thành những đơn vị binh chủng hợp thành.
Trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, cùng với phát triển lực lượng Quân giải phóng, Bộ Tư lệnh Miền chỉ đạo tổ chức lại chiến trường1 (Năm 1971, Bộ Tư lệnh Miền quyết định lại giải thể Quân khu 10 để thành lập Phân khu Bình Phước gồm 2 tỉnh Bình Long và Phước Long (tỉnh Quảng Đức chia nhập về các tỉnh Đắk Lắk và Lâm Đồng); Quân khu 7 và Phân khu 5 giải thể để thành lập Phân khu Bà Rịa và Phân khu Thủ Biên).
Sang năm 1972, tổ chức các phân khu không còn phù hợp hình thái chiến trường, Bộ Tư lệnh Miền giải thể các tổ chức phân khu, trả địa bàn Long An về lại Quân khu 8, đồng thời tái thành lập Quân khu 7 và Quân khu Sài Gòn - Gia Định.
Quân khu 7 gồm có các tỉnh Bà Rịa, Long Khánh, Biên Hòa, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh. “Bộ Tư lệnh Quân khu gồm Nguyễn Văn Bứa (Tư lệnh), Trần Nam Trung (Bí thư Khu ủy kiêm Chính ủy), Vũ Ba (Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng). Quân số của Quân khu gồm 4 trung đoàn, 11 tiểu đoàn, 33 đại đội. 12 trung đội và 2 tiểu đội bộ binh; 2 tiểu đoàn, 6 đại đội, 3 trung đội và 1 tiểu đội trợ chiến; 5 tiểu đoàn, 9 đại đội, 31 đội và 4 tiểu đội đặc công; 2 đại đội, 5 trung đội, 5 đội và 2 tiểu đội công binh. Tổng cộng ba thứ quân toàn Quân khu có 16.367 người”1 (Bộ Quốc phòng - Quân khu 7: Lịch sử lực lượng vũ trang Quân khu 7 (1945-2010), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010, tr.152, 153).
Quân khu Sài Gòn - Gia Định gồm có khu vực nội thành Sài Gòn - Chợ Lớn và các quận, huyện vùng ven: Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Tân Bình, Gò Vấp, Thủ Đức, Nhà Bè. Bộ Tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định do Trần Hải Phụng làm Tư lệnh, Lê Thanh làm Chính ủy, Võ Văn Trí làm Chỉ huy phó và Nguyễn Đức Hùng làm Tham mưu trưởng. Lực lượng vũ trang Quân khu gồm: Đoàn 10 Rừng Sác, Trung đoàn 16, Tiểu đoàn Quyết Thắng (do Tiểu đoàn Quyết Thắng 1 và Quyết Thắng 2 hợp nhất lại), Đại đội Đồng Khởi (gồm nhân viên các cơ quan chuyển sang chiến đấu), các đại đội bộ đội địa phương, trong đó mạnh nhất là huyện Trảng Bàng (do Tiểu đoàn 268, tức Trung đoàn 268 cũ chuyển sang). Nhiều xã đã có tiểu đội du kích.
Quân khu 10 giải thể, trả tỉnh Quảng Đức cho Quân khu 6, phần còn lại thành lập Phân khu Bình Phước. Sau khi nhận lại tỉnh Quảng Đức, Quân khu 6 còn được Bộ Tư lệnh Miền tăng cường thêm hai tiểu đoàn bộ binh (15, 17) thuộc Trung đoàn 211.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|