Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:10:53 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân giải phóng Miền Nam Việt Nam trên chiến trường B2 1961-1976  (Đọc 14151 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #40 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2023, 02:52:59 pm »

Trên chiến trường Quân khu 9, sau cuộc Tổng công kích - tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân (1968), lực lượng vũ trang cấp khu, cấp tỉnh, huyện thiếu hụt nghiêm trọng, lực lượng 3 trung đoàn Quân giải phóng chỉ còn tương đương 1 trung đoàn và 1 tiểu đoàn. Trong 2 năm 1968-1969, hơn 10.000 cán bộ chiến sĩ bị bắt, hơn 30.000 cán bộ, chiến sĩ hy sinh; lực lượng du kích từ 45.000 người chỉ còn 6.200 người. Do vậy, năm 1969, Quân khu buộc phải giải tán Trung đoàn 2 (gồm Tiểu đoàn 309, 962) để bổ sung quân số cho Trung đoàn 1 (Tiểu đoàn 303, 307). Dù vậy, quân số Trung đoàn 1 sau khi được bổ sung cũng chỉ có khoảng 600 cán bộ, chiến sĩ. Ngoài ra Quân khu còn Tiểu đoàn 962 và Trung đoàn hoạt động ở chiến trường Vĩnh - Trà gồm 3 tiểu đoàn (306, 308, 312), quân số mỗi tiểu đoàn chỉ còn lại từ 250 đến 350 cán bộ, chiến sĩ1 (Trước Mậu Thân (1968), quân số mỗi tiểu đoàn có từ 400 đến 600 chiến sĩ).


Ở cấp tỉnh, huyện, sau Tết Mậu Thân, có tỉnh mất trắng từ 1 đến 2 tiểu đoàn. Các tiểu đoàn Tiểu đoàn Tây Đô (Cần Thơ), Tiểu đoàn Phú Lợi (Sóc Trăng), Tiểu đoàn 207 (Rạch Giá)..., quân số mỗi tiểu đoàn chỉ còn lại khoảng trên 100 cán bộ, chiến sĩ.


Ở cấp huyện, trước Tết Mậu Thân mỗi huyện có từ 1 đến 2, hoặc 3 đại đội, sau Tết Mậu Thân quân số chỉ còn lại khoảng vài chục cán bộ, chiến sĩ, thậm chí có huyện chỉ còn lại khoảng 1 trung đội.


Để củng cố, phát triển quân chủ lực cấp khu, năm 1969, Trung ương Cục điều Võ Văn Kiệt về làm Bí thư Khu ủy thay Nguyễn Thành Thơ (Mười Khẩn); Lê Đức Anh - Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Miền về làm Tư lệnh Quân khu.


Tháng 10-1969, Bộ Chỉ huy Miền tăng cường cho Quân khu 1 trung đoàn bộ binh (Trung đoàn 3, Sư đoàn 9) với quân số 2.500, có đầy đủ bộ binh, pháo binh. Sau khi về Quân khu, Trung đoàn được đổi phiên hiệu thành Trung đoàn 2.


Tháng 3-1970, Bộ Chỉ huy Miền lại tăng cường cho Quân khu thêm 2 trung đoàn, bao gồm Trung đoàn 10 đặc công do đồng chi Trần Quang Đông chỉ huy và Trung đoàn 20. Tiếp đó, Bộ Chĩ huy Miền lần lượt đưa 10 tiểu đoàn (mỗi tiểu đoàn quân số từ 500 - 600) xuống T3 để tăng cường cho các tỉnh; lập Đoàn Hậu cần 200 bố trí từ Đìa Gai - Ba Thu nối hành lang xuống dọc biên giới... đến kênh Vĩnh Tế (An Giang)1 (Bộ Quốc phòng - Quân khu 7: Lịch sử Bộ Chỉ huy Miền (1961-1976), Sđd, tr.400).


Như vậy, tính đến cuối năm 1970, trên địa bàn Quân khu 9 có 5 trung đoàn quân chủ lực bao gồm Trung đoàn 1, Trung đoàn 2, Trung đoàn 3, Trung đoàn 20, Trung đoàn 10 đặc công, ngoài ra còn có Đoàn 8, Tiểu đoàn 2012 đặc công, Tiểu đoàn 2014 đặc công thủy; Đoàn 962, Tiểu đoàn 2311, Tiểu đoàn 2315 pháo binh...


Đầu năm 1971, Trung ương Cục ra quyết định sắp xếp lại chiến trường Quân khu 9; Thành lập tỉnh Châu Hà (bao gồm Hà Tiên, một phần Rạch Giá và địa bàn Tịnh Biên, Tri Tôn của An Giang); thành lập tỉnh Bạc Liêu (bao gồm một phần địa bàn Sóc Trăng và một phần địa bàn Cà Mau); thành lập tỉnh Vĩnh Trà (bao gồm Trà Vinh và Vĩnh Long sau khi tách các huyện Châu Thành, Sa Đéc, Lấp Vò, Bình Minh giao cho tỉnh Cao Lãnh của Quân khu Cool.


Trên chiến trường Quân khu 8, sau Mậu Thân (1968), lực lượng Quân giải phóng thiếu hụt khá lớn, một bộ phận hy sinh, bộ phận khác thất lạc đơn vị. Lực lượng Quân giải phóng từ 2 trung đoàn, sau Mậu Thân, quân số giảm xuống chỉ còn lại khoảng 1 trung đoàn thiếu, ở địa phương, Quân giải phóng cũng tổn thất nghiêm trọng, Bến Tre có 4 tiểu đoàn chỉ còn lại 1 tiểu đoàn thiếu; các tỉnh Mỹ Tho, Kiến Tường, Kiến Phong, An Giang, mỗi tỉnh chỉ còn lại khoảng 2 đại đội. Ở cấp huyện, mỗi huyện trong toàn khu chỉ còn khoảng 1 trung đội; du kích và tự vệ mỗi xã chỉ còn khoảng 1 đến 2 tiểu đội thiếu.


Đầu năm 1969, nhằm hỗ trợ hoạt động của khu, Bộ Chỉ huy Miền điều Dương Cự Tẩm (Năm Thanh) - Phó Chính ủy Quân khu 9 về làm Chính ủy Quân khu 8; Lê Văn Nhỏ (Hai Lâm) làm Phó Tư lệnh Quân khu - Khu ủy viên; Hứa Ba Lộc (Sáu Linh) - Chủ nhiệm phòng chính trị Quân khu 8 làm Phó Chính ủy Quân khu.


Tháng 9-1969, Bộ Chỉ huy Miền quyết định tăng cường cho Quân khu 8 Trung đoàn 88 bộ binh. Đến tháng 10-1969, khi Trung đoàn 88 có mặt tại Khu 8, Trung đoàn được đổi phiên hiệu thành Trung đoàn 3.


Cuối năm 1969, Bộ Chỉ huy Miền tăng cường cho Quân khu 3.685 tân binh mới từ miền Bắc vào nhằm kiện toàn lại lực lượng vũ trang. Tuy nhiên, đến năm 1970, công cuộc bình định của Mỹ làm cho tình hình ở các địa phương xấu đi nghiêm trọng. Đứng trước thực trạng đó, Bộ Tư lệnh Quân khu quyết định giải thể Trung đoàn 2, chỉ giữ lại Tiểu đoàn 514A, Đại đội đặc công, Phân đội cối 82 và Phân đội ĐKZ75 ly, đồng thời điều một số đơn vị chủ lực về làm nòng cốt để củng cố, phát triển bộ đội ở các địa phương, hỗ trợ cho phong trào chống phá bình định.


Ở Bến Tre, Tiểu đoàn chủ lực 263 Quân khu tiến hành giúp tỉnh củng cốlại Tiểu đoàn 516, 518, 560, thành lập mới Đại đội đặc công 290C, củng cố các đại đội 269A, 269C, 268B, 268C trợ chiến, Đại đội 82 ly, Đại đội săn tàu... Cùng thời gian này, Tỉnh ủy Bến Tre cũng quyết định phân chia địa bàn Mỏ Cày thành 2 huyện Mỏ Cày Nam và Mỏ Cày Bắc. Tỉnh ủy còn quyết định “bố trí toàn bộ các lực lượng kháng chiến cho phù hợp với thực tế chiến trường hình thành các khu vực bám trụ. Nam Mỏ Cày có Tiểu đoàn 560, Đại đội 269C đặc công, Đại đội 268B trợ chiến. Cánh A Giồng Trôm có Tiểu đoàn 516, Đại đội 269A đặc công, Oại đội 82 ly và Đại đội săn tàu; đông tây Châu Thành có Tiểu đoàn 263, Đọi đội 269B đặc công, Đại đội 268C trợ chiến. Mỗi khu vực tô chức một Ban Chỉ huy tiền phương gồm 1 đồng chí Tĩnh ủy viên, 1 đồng chí trong Ban Chỉ huy Tỉnh đội, một số cán bộ tham mưu, chính trị, hậu cần, ban, ngành, đoàn thể. Các huyện khác do Thường vụ Huyện ủy trực tiếp chỉ đạo”1 (Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu 8: Quân khu 8 - Ba mươi năm kháng chiến (1945-1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1998, tr.712, 713). Đến năm 1972, Bến Tre thành lập Trung đoàn Đồng Khởi với 3 tiểu đoàn (263, 516, 590), riêng Tiểu đoàn 560 là tiểu đoàn độc lập.


Ở Kiến Phong, Trung đoàn 1 chủ lực khu (Tiểu đoàn 261A, 261B) về đứng chân và giúp tỉnh củng cố đơn vị 279, Đại đội 336 công binh. Giữa năm 1971, Quân khu tăng cường thêm Tiểu đoàn 718 cho Kiên Phong là tiểu đoàn thực binh mới từ miền Bắc vào.


Ở Mỹ Tho, Quân khu đưa Tiểu đoàn 267, Tiểu đoàn 269 đặc công về giúp tỉnh củng cố lại Tiểu đoàn 514, Tiểu đoàn 514C2 (Sau Tết Mậu Thân, Tiểu đoàn 514 chỉ còn lại khoảng 30 chiến sĩ, Tiểu đoàn 514C chỉ còn khoảng 50 chiến sĩ), Tiểu đoàn 516. Đến cuối năm 1971, Mỹ Tho phát triển thêm được 482 tân binh bổ sung cho các đơn vị chiến đấu. Trên cơ sở đó, tỉnh tổ chức thêm 4 đại đội, trong đó có 2 đại đội đặc công (6 và 28), 1 đại đội công binh thủy, 1 đại đội bộ binh (Đại đội 78). Ở cấp huyện, Quân giải phóng cũng dần được khôi phục, đặc biệt là Châu Thành Nam, Châu Thành Bắc, Cai Lậy Nam, Cai Lậy Bắc, Cái Bè, mỗi huyện lập được 1 đại đội và 1 trung đội đặc công. Toàn tỉnh còn phát triển được 1.374 dân quân, du kích.


Ở Long An, Kiến Tường, từ mùa Xuân năm 1972, tổ chức các phân khu không còn phù hợp với hình thái chiến trường. Do vậy Bộ Tư lệnh Miền quyết định giải thể các tổ chức các phân khu, trả Long An, Kiến Tường lại cho Quân khu 8. Lúc bấy giờ Trung đoàn 320 bổ sung cho Quân khu, Long An còn lại 4 tiểu đoàn (1, 2, 4, 5)1 (Long An (từ Tết Mậu Thân, tổ chức thành 2 Phân khu 2 và 3, sau đó nhập lại thành Phân khu 23 trực thuộc Miền) có 21 tiểu đoàn). Kiến Tường có 3 tiểu đoàn (504, 504A, 604B) và các đại đội đặc công, biệt động, pháo cối....


Trong những năm 1971, 1972, Bộ Chỉ huy Miền tăng cường cho Quân khu 10.184 tân binh. Trên cơ sở đó lực lượng Quân giải phóng được bổ sung từ cấp quân khu đến cấp tỉnh, huyện với đầy đủ các loại hình binh chủng, từ bộ binh, đặc công, pháo binh, công binh đến thông tin, trợ chiến, hậu cần...
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #41 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2023, 09:23:00 am »

II. CHIẾN ĐẤU CHỐNG ĐỊCH PHẢN KÍCH TRÊN CHIẾN TRƯỜNG B2 VÀ BIÊN GIỚI, ĐÁNH ĐỊCH BÌNH ĐỊNH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

1. Tổ chức các cuộc tiến công chống địch phản kích và bình định

Đợt tiến công Xuân 1969 (từ ngày 22-2 đến ngày 30-3):

Ở hướng bắc và tây - bắc Sài Gòn, Sư đoàn 1 (sư đoàn mới được tăng cường), Sư đoàn 7 (1 trung đoàn), Sư đoàn 9 (1 trung đoàn) kết hợp với lực lượng Phân khu 1 và lực lượng pháo binh, đặc công Miền... tiến công căn cứ Dầu Tiếng, Đồng Dù, Bến Tranh, Trà Cao, đặc biệt là khu vực Trảng Lớn, Dầu Tiếng, Đồng Dù, Phước Vĩnh, Lai Khê, sân bay Téc Ních, Thái Mỹ, Cống Vôi, Mũi Lớn, Đức Hòa...


Ở một cánh khác, quân dự bị của Miền tiến công đối phương trên các hướng đông, đông bắc Dầu Tiếng, tây nam thị xã Tây Ninh - Trảng Bàng. Sư đoàn 1 Quân giải phóng trên địa bàn Bình Long đánh phá bình định khu vực liên tỉnh lộ 13, lộ 26, lộ số 2 phía tây sông Sài Gòn... Sư đoàn 9 Quân giải phóng hỗ trợ đánh phá bình định dọc quốc lộ 1, lộ số 7, số 8...


Ở hướng đông và đông bắc Sài Gòn, lực lượng Sư đoàn 5 Quân giải phóng bao gồm Trung đoàn 33, Trung đoàn 4, Trung đoàn pháo 274 và 4 tiểu đoàn đặc công, 2 tiểu đoàn công binh phối hợp với Quân giải phóng địa phương tiến công khu kho liên hợp Long Bình, sân bay Biên Hòa, kho Nhà Bè, Vũng Tàu...; đánh phá bình định ở khu vực Thủ Đức, Nhơn Trạch, Long Thành, Xuân Lộc, Long Điền, Đất Đỏ... Lực lượng dự bị Sư đoàn 5 Quân giải phóng bao gồm 1 trung đoàn, 3 tiểu đoàn và các trung đoàn của Quân khu 7 đánh khu vực Biên Hoa và Long Bình, hỗ trợ đánh phá bình định vùng Trảng Bom - Xuân Lộc - Vĩnh cửu, Long Thành, Nhơn Trạch...


Ở hướng tây Sài Gòn, lực lượng Phân khu 2 tác chiến từ ven đô đến sát Vàm Cỏ Đông sử dụng pháo, đặc công tiến công sân bay Tân Sơn Nhất, phục kích lính ngụy trên địa bàn quận 6...

Ở hướng nam và tây nam Sài Gòn, Trung đoàn 320 từ Tân An đến Tân Trụ, Cần Đước cùng bộ đội địa phương đánh phá bình định; sử dụng đặc công và pháo đánh kho Nhà Bè và hậu cứ Mỹ ở Tân An. Phân khu 3 pháo kích vào hầu hết căn cứ đầu não Mỹ - ngụy ở Tân An, Cần Đước, Tân Trụ. Phân khu 5 đánh căn cứ Lái Thiêu, Châu Thành...


Trong đợt tiến công mùa Xuân năm 1969, trận Sóc Bế, An Lộc, trận ty cảnh sát và nhà ga Biên Hòa, trận tập kích căn cứ Đồng Dù... là những trận đánh tiêu biểu cho ý chí, sức mạnh và sự linh hoạt trong sử dụng chiến thuật, nghệ thuật quân sự của Quân giải phóng trên chiến trường B2. Trận tiến công ty cảnh sát và nhà ga Biên Hòa (23-2-1969) gây tiếng vang lớn. Đội biệt động thị xã Biên Hòa kết hợp với Đại đội 3 Sư đoàn 5 tập kích ty cảnh sát thị xã Biên Hòa, đánh tan một đại đội cảnh sát dã chiến; vận động tiến công nhà ga Biên Hòa, bắn rơi 1 máy bay trực thăng, phá hủy 1 tàu chở lính gồm 10 toa, bắt 7 lính, thu 10 súng các loại... Đặc biệt, sau trận đánh, công nhân khu kỹ nghệ Biên Hòa nổi dậy đốt cháy trên 3 triệu lít xăng, đánh sập 2 cầu gỗ, rải trên 10.000 truyền đơn, treo 20 cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng. Trận tập kích căn cứ Đồng Dù (26-2-1969), Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 429 tập kích lực lượng Lữ đoàn 2, Sư đoàn 25 Mỹ tại căn cứ Đồng Dù, phá hủy Sở chỉ huy, trung tâm thông tin, trạm rađa và nhiều trại lính, lô cốt hầm ngầm; phá hủy, phá hỏng 37 máy bay, 276 xe quân sự, 10 pháo 105mm, 7 súng cối 106,7mm, 1 xe tăng, 1 kho đạn... Tuy nhiên, trong trận này, Quân giải phóng hy sinh và bị thương 68 chiến sĩ, trong đó có 5 chiến sĩ bị bắt.


Trên chiến trường rừng núi Đông Nam Bộ, Tiểu đoàn 368 tỉnh Bình Long phục kích quân Mỹ tại Sóc Bế, An Lộc, bắn cháy 17 xe tăng. Sau trận đánh, Tiểu đoàn được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì, một số cán bộ được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba (12-1-1969)1 (Tiêu diệt 80 sĩ quan và binh lính Mỹ. Quân giải phóng hy sinh và bị thương 40 cán bộ, chiến sĩ)... Ở Quân khu 6, Quân giải phóng sử dụng đặc công, bộ binh đánh vào tiểu khu Bình Thuận, đột nhập ấp chiến lược Nhơn Hòa, Sơn Lương, Phước Quả, Phước Tín...; tập kích ESEPIC, chi khu Đức Trọng; pháo kích sân bay Cam Ly... Đặc biệt, Đại đội 715 đặc công tỉnh Lâm Đồng tập kích Lữ đoàn 173 Mỹ tại kho hậu cần Lữ đoàn 173 tại phía tây bắc thị xã B’Lao, phá hủy và làm hư hỏng 47 xe quân sự, 3 máy bay trực thăng, 3 dàn hỏa tiễn, 36 nhà lính, 24 lô cốt, hầm chiến đấu (19-1-1969)...


Trên chiến trường Quân khu 8, Trung đoàn 1 tiến công các mục tiêu trọng yếu trong thị xã Mỹ Tho. Tiểu đoàn 309 pháo kích căn cứ Đồng Tâm, phá hủy 12 máy bay, 7 tàu, 6 pháo, đốt cháy hàng triệu lít xăng (22-2-1969). Trung đoàn 2 (thiếu Tiểu đoàn 263) diệt một đại đội bảo an địch tại Thanh Vĩnh Đông; pháo kích 15 mục tiêu trong tỉnh Kiến Phong và 20 mục tiêu trọng yếu khác trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Đặc biệt, Trung đội cối nữ thuộc Tiểu đoàn 309F do nừ đồng chí Nguyễn Thị Bé Sáu chỉ huy pháo kích vào căn cứ Đồng Tầm, làm hỏng nặng 10 máy bay; diệt hai tiểu đội biệt kích của chi khu Sầm Giang (8-3-1969). Đại đội mũi nhọn thị xã Bến Tre kết hợp với đại đội đặc công tỉnh và cơ sở nội tuyến tập kích Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 10 ngụy tại Bình Phú; tập kích cụm pháo Mỹ ở Đổng Gò, Chợ Giữa trên tỉnh lộ 26, phá hủy 5 khẩu pháo 105 ly (24-2-1969). Ở Kiến Phong, 20 cán bộ, chiến sĩ đơn vị 279 chặn đánh Tiểu đoàn biệt động quân 41 tại xã Mỹ Hội (24- 2-1969). Lực lượng biệt động thị xã Cao Lãnh tiến công nhà hàng Á Đông, nhà hàng Tân Lợi - là những địa điểm tụ tập ăn chơi của nhóm sĩ quan ngụy thuộc biệt khu 44 (9-5-1969). Lực lượng công binh Khu 8 kết hợp với Đại đội 332 (Mỹ Tho) đột nhập vào ấp chiến lược Nhị Bình, diệt xe GMC, 1 xe Jeep, 1 xe M113, bắn rơi 1 máy bay (sau trận này tổ công binh được tặng Huân chương Chiến công hạng Ba). Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2 Kiến Phong (mỗi tiểu đoàn chỉ còn khoảng 100 quân) chống càn tại xã Bình Hàng Tây (25-2-1969); tại xã Long Hiệp, Mỹ Hội, Mỹ Xương, bắn rơi 1 trực thăng, thu 3 carbine, 1 M79 (từ ngày 23 đến ngày 28-3-1969); tiến công đồn An Bình (17-4-1969), đồn Ba Sao (24-4-1969)...


“Sau hơn 1 tháng tấn công, phối hợp với chiến trường chung toàn Miền, quân và dân Khu 8 đả loại khỏi vòng chiến đấu nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch. Nổi bật nhất là 2 tỉnh Mỹ Tho và Bến Tre. Ta đã liên tục pháo kích vào 34 sở chỉ huy và hậu cứ của địch, kết hợp với phong trào “ba mũi" tròn diện rộng như Giồng Trôm, Mỏ Cày, Châu Thành (Bến Tre); Kiến Văn, Cao Lãnh (Kiến Phong); ở Gò Công 11 xã nổi lên tiến công địch ba mũi bao vây đồn bót, đột nhập ấp chiến lược... tuy nhiên cường độ tiến công nhỏ, rải rác, kết quả hạn chế, không hỗ trợ được cho phong trào chống bình định”1 (Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu 8: Quân khu 8 - Ba mươi năm kháng chiến (1945-1975), Sđd, tr.676, 677). Quân giải phóng chủ yếu bằng lực lượng đặc công đột kích, pháo kích vào hệ thống sân bay, căn cứ hậu cứ kho tàng của quân ngụy trên hầu hết các tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Cà Mau...


Tại Cần Thơ, lực lượng đặc công pháo kích sân bay Cần Thơ, phá hủy 29 máy bay các loại (13-1-1969); pháo kích vào sân bay Trà Nóc (ngày 10 và ngày 11-2-1969). Ở Rạch Giá, Quân giải phóng pháo kích vào yếu khu quân sự, sân bay, bãi xe... Đại đội 616 pháo của tỉnh phối hợp với biệt động thị xã pháo kích tòa hành chánh, tỉnh đoàn bảo an, sân bay Lạc Hồng.... Ở Bạc Liêu, lực lượng biệt động đột kích vào sân bay Bạc Liêu, bắn cháy và phá hỏng 1 máy bay L19, 1 xe M113, 2 xe tăng, 2 xe M113, thu 7 súng các loại (12-3-1969).


Chỉ hơn 1 tháng trong đợt hoạt động Xuân 1969, Quân giải phóng tỉnh đánh 65 trận, chủ yếu tiến công vào các mục tiêu quan trọng của quân ngụy trong thị xã, thị trấn. Sự cố gắng vượt bậc của Quân giải phóng trên địa bàn Quân khu 9 đã khắc phục những khó khăn về quân số, liên tục tiến công đối phương trên diện rộng từ Cần Thơ, Vĩnh Trà, Chương Thiện, Bạc Lieu, Sóc Trăng đến Cà Mau. Ở nông thôn, ta đã chuyển vùng được 100 ấp, trong đó có 20 ấp mạnh, giành quyền làm chủ 20.000 dân, giải phóng 4 ấp và 5.000 dân...


Tính tổng cộng trên toàn chiến trường B2, Quân giải phóng đã đánh 934 trận, diệt 17.238 tên, tiêu diệt 2 tiểu đoàn ngụy, 3 cụm Mỹ, 23 đại đội, 6 đoàn bình định, hạ 157 máy bay, 346 thiết giáp, 74 tàu chiến. Trong đó, ở nội thành, nội thị có 48 trận, một số nơi đã kết hợp lực lượng biệt động với bộ binh và các binh chủng khác, tạo nên những trận đánh thối động ở các nơi như Tây Ninh, Đà Lạt, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sa Đéc, Cà Mau...1 (Ban Tổng kết chiến tranh B2 Báo cáo tổng kết kinh nghiệm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (B2) tháng 2-1979. tr.76).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #42 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2023, 09:24:04 am »

Đợt hoạt động “thường xuyên mạnh” (4-1969):

Thắng lợi của đợt tiến công mùa Xuân năm 1969 không những tạo nên hình thái chiến trường thuận lợi mà còn minh chứng đúng đắn của chủ trương, kế hoạch, việc bố trí lực lượng và nghệ thuật tiến công của Quân giải phóng. Trên cơ sở đó, Quân ủy - Bộ Chỉ huy Miền chủ trương tiếp tục “chuyển qua hoạt động thường xuyên mạnh trong tháng 4".


Chấp hành mệnh lệnh của Quân ủy - Bộ Chỉ huy Miền, các trận đánh lại diễn ra ác liệt tại Bến Cầu (Tây Ninh), Dầu Tiếng (Thủ Dầu Một), sông Cái Lớn (tây nam Vị Thanh), sông Lao (Bình Thuận)... Điển hình như ở Tây Ninh, Đại đội đặc công 25 của Trung đoàn 88, Sư đoàn 9 đã tập kích 2 trung đội "bình định” 1 trung đội dân vệ tại ấp chiến lược Bến Mới, xã Phước Lưu, huyện Trảng Bàng, bán sập 1 lô cốt, phá hỏng 3 trung liên, phá sập lán trại đội bình định, thu 2 xe honđa và nhiều trang thiết bị quân sự khác (2-4-1969). Đại đội 25 bộ đội địa phương huyện Long Đất vận động tiến công một đại đội thuộc Trung đoàn 43, Sư đoàn 18 tại nam Bầu Tây, ấp Long Mỹ, xã Phước Long Hội, thu 60 súng các loại, 3 máy thông tin PRC25, một số đạn và đồ dùng quân sự (4-1969). Ở Quân khu 2, lực lượng biệt động đánh lính nhảy chụp, chống lấn chiếm ở Giồng Trôm, chống bình định ở An Hóa... Ở Quân khu 3, biệt động Cần Thơ, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Cà Mau... tiến công các mục tiêu trọng yếu trong nội thành nội thị. Đặc biệt trong tháng 4-1969, Sư đoàn 1 Quân Giải phóng đã bắn cháy 56 máy bay trực thăng của Mỹ...


Đợt tiến công Hè năm 1969 (từ ngày 11-5 đến ngày 20-6):

Sau đợt tháng 4-1969, Mỹ sử dụng Sư đoàn 1 tiến hành các cuộc hành quân an ninh từ tây sông Sài Gòn đến lộ 4, hình thành tuyến phòng ngự bắc liên tỉnh lộ 13 và tuyến cố định - liên tỉnh lộ 13. Trung đoàn 11 thiết giáp án ngữ ở Bình Long; Lữ 82 dù, Lữ 3 Sư đoàn 25 án ngữ ven sông Vàm Cỏ Đông; đồng thời Sư đoàn 18 quân lực ngụy bảo vệ tuyến Long Bình - Biên Hòa... Với lực lượng trên, Mỹ tổ chức nhiều cuộc hành quân hỗ trợ bình định, ủi phá vùng ven, vùng tuyến trung gian để giải tỏa sự uy hiếp Sài Gòn của Quân giải phóng, đồng thời thực hiện thí điểm chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” trên hướng đông bắc Sài Gòn.


Trước tình hình đó, Trung ương Cục quyết định “tiếp tục phát triển thắng lợi của đợt tiến công mùa Xuân, ra sức tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ - ngụy, tiếp tục đánh bại về cơ bản kế hoạch bình định cấp tốc của địch và phát huy cách đánh mạnh, đánh liên tục vào các đô thị, thị xã”1 (Trích Chỉ thị số 81 của Thường vụ Trung ương Cục về đợt hoạt động Hè năm 1969). Thực hiện đợt tiến công mùa Hè năm 1969, Bộ Chỉ huy Miền quyết định sử dụng Sư đoàn 9 Quân giải phóng tiến công hướng tây nam thị xã Tây Ninh; Sư đoàn 7 Quân giải phóng tiến công vào tây và tây nam thị xã Hớn Quản; 1 trung đoàn thuộc Sư đoàn 1 Quân giải phóng đánh giao thông phía nam Hớn Quản. Sư đoàn 1 Quân giải phóng phụ trách tuyến đường 26, đường số 2 từ Dương Minh Châu đến Gò Dầu. Các trận đánh ác liệt diễn ra. Sư đoàn 7 Quân giải phóng tiến công Trung đoàn 11 thiết giáp Mỹ, Trung đoàn 1 Sư 1 bộ binh Mỹ trên đường 13, uy hiếp thị xã Hớn Quản bằng pháo. Lực lượng đặc công Miền tiến công căn cứ Lữ đoàn 3 địch ở Téc Ních. Sư đoàn 9 Quân giải phóng đánh thiệt hại nặng các đơn vị dù và thủy quân lục chiến ngụy ở khu vực nam Tòa Thánh Tây Ninh...


Trên hướng đông bắc, Trung đoàn 5 thuộc Sư đoàn 5 Quân giải phóng tập kích Chiến đoàn 43 (8-5-1969); 1 tiểu đoàn của Sư 18 tại Tầm Bung (9-6-1969); 1 cụm Mỹ, 2 chi đoàn thiết xa vận; Sở Chỉ huy Sư 18, Trung đoàn 52 ngụy và tiêu hao nặng 2 tiểu đoàn ngụy khác (từ ngày 8-5 đến ngày 23-5-1969)...


Phối hợp với quân chủ lực Miền, bộ đội các phân khu cũng tổ chức tiến công đối phương trên khắp chiến trường. Tổ đặc công thủy - Tiểu đoàn đặc công Thủ Dầu Một, Phân khu 1 tập kích lực lượng Tân Tây Lan tại đoạn sông Sài Gòn thuộc địa bàn Lái Thiêu (12-5-1969). Đại đội Công binh Z25 tập kích lính bảo an tại xã Truông Mít, huyện Dương Minh Châu (19- 5-1969). Tiểu đoàn đặc công, Phân khu 1 tập kích lực lượng tiếp vụ tại tổng kho trên đường Nguyễn Trường Tộ, quận Gò Vấp (22-5-1969). Đội 20 công binh Phân khu 2 phục kích Giang đoàn 42 ngụy tại xã Thạnh Phước, huyện Tuyên Bình, tỉnh Kiến Tường (12-6-1969). Đội Công binh thủy Phân khu 1 tập kích Giang đoàn 28 ngụy tại đoạn sông Sài Gòn thuộc xã An Tây, huyện Bến Cát (17-6-1969). Đại đội 20A Công binh Phân khu 1 và tể săn tàu sông của huyện Đức Huệ phục kích đánh tàu địch cơ động trên sông Vàm Cỏ Đông thuộc ấp Rạch Gốc, xã Mỹ Thạnh Tây, huyện Đức Huệ (6-6-1969). Đại đội 15 bộ đội địa phương Bác Củ Chi tập kích trung đội biệt kích Mỹ tại Bàu Điểu, Phước Hưng, Phước Hiệp (13-6-1969). Đại đội trinh sát J16 tập kích quân Mỹ tại núi Bà Đen (16-6-1969). Đại đội 51 bộ đội địa phương huyện Xuyên Mộc vận động tiến công quân Úc tại ấp Gò Cà, xã Phước Bửu, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Long Khánh (8-10-1969)...


Trên chiến trường Quân khu 6 và Quân khu 10: Ở Bình Thuận, Quân giải phóng tiến công đối phương xung quanh khu vực Bắc Bình - Tuy Phong, đường số 1, 8, 11. Ở Tuyên Đức, Quân giải phóng tiến công thị xã, tập kích chi khu Đức Trọng, pháo kích vào Trường võ bị Đà Lạt. Đại đội 412 bộ đội địa phương huyện Hoài Đức tập kích Đại đội bảo an 119 tại Chính Đức, Hoài Đức, tỉnh Bình Tuy (19-5-1969). Đại đội 450 bộ đội địa phương huyện Thuận Phong tập kích lực lượng bình định và một bộ phận quân Mỹ tại ấp chiến lược Tuy Hòa, Hàm Đức, Hàm Thuận (6-6-1969). Ở Quân khu 10, Quân giải phóng tiến công chi khu Phước Bình, pháo kích sân bay và trận địa pháo của quân đội Sài Gòn tại Bình Long...


Trên chiến trường Quân khu 8 (T2), Quân giải phóng Miền (Trung đoàn 3) hoạt động ở An Giang, thu hút lực lượng cơ động Quân đoàn 4 quân đội Sài Gòn, tạo điều kiện thuận lợi cho Quân giải phóng Mỹ Tho, Bến Tre, Kiến Tường, Gò Công, Kiến Phong đẩy mạnh hoạt động đánh phá bình định. Tuy nhiên, tháng 6-1969, lực lượng tiểu khu Định Tường của chính quyền Sài Gòn đánh chiếm Minh Đức, Ngãi Đăng, Tân Trung, Cấm Sơn; tháng 7-1969 chúng đánh chiếm An Thới, An Định, An Thạnh, Thành Thói, Bình Khánh; từ tháng 8 đến tháng 10-1969, chúng chiếm đóng các xã Lương Hóa, Châu Hóa, Hiệp Hưng (Giồng Trôm), An Nhơn, An Quý (Thạnh Phú) Thạnh Tân, Phước Thuận (Bình Đại)... Vùng giải phóng bị thu hẹp, Quân giải phóng bị đánh bật ra khỏi địa phương. Hơn nữa, Mỹ còn sát hại 1.285 người dân, giam cầm, đánh đập hàng ngàn người khác... Phong trào cách mạng trên địa bàn Quân khu 8 dần đi xuống.


Trên chiến trường Quân khu 9 (T3), thực hiện chỉ thị của Quân ủy Miền “Ra sức đẩy mạnh tiến công quân sự đều khắp và liên tục, căng kéo địch ra để tiêu diệt và tiêu hao địch một cách rộng rãi...”. Tuy nhiên do thiếu lực lượng, Quân giải phóng chủ yếu phòng ngự, phục kích, tiến công nhỏ lẻ, pháo kích các căn cứ quan trọng, tiêu diệt hệ thống đồn bót trên trục giao thông và các khư vực bình định của quân đội Sài Gòn...


Có thể khẳng định, đợt tiến công mùa Hè của Quân giải phóng trên chiến trường B2 đã giành được thắng lợi to lớn, đánh 6.582 trận, diệt 91.130 tên địch, bắn rơi và phá hủy 1.359 máy bay phá hủy 3.101 xe (1.965 xe bọc thép), bắn chìm và cháy 375 tàu phá hủy 609 pháo, 118 kho, thu 1.424 súng 43 máy VTĐ1 (Trong đó có 37.720 Mỹ, 1.575 Thái, 622 Úc; diệt 14 tiểu đoàn (2 tiểu đoàn Mỹ, 2 tiểu đoàn Thái), 8 cụm Mỹ, 2 đại đội thiết xa vận ngụy, 126 đại đội, 22 đội bình định. Sư đoàn 1 bộ binh Mỹ và Trung đoàn 11 thiết giáp Mỹ: bị diệt 3.350 tên, bị diệt 4 đại đội bộ binh cơ giới 2 đại đội pháo, bị tiêu hao 2 tiểu đoàn bộ binh cơ giới, bị phá hủy 598 xe (có 420 xe tăng và bọc thép). Sư đoàn 1 kỵ binh không vận: bị diệt 7.668 tên, bị diệt 21 đại đội (trong đó có 4 đại đội pháo), bị thiệt hại 196 máy bay, 125 pháo, 253 xe. Sư đoàn 25 bộ binh Mỹ: bị diệt 3.219 tên, bị diệt 5 đại đội bộ binh cơ giới, 3 cụm Mỹ tương đương tiểu đoàn và đại đội. Sư đoàn 18 ngụy bị diệt 3.400 tên (riêng Trung đoàn 43 bị diệt 85% sinh lực), bị diệt 4 tiểu đoàn, 6 đại đội và 2 chi đoàn thiết vận xa. Sư đoàn dù ngụy bị tổn thất 30% quân số, 7 tiểu đoàn bị tiêu hao nặng và vừa). Trung ương Cục đánh giá: “điểm nổi bật nhất là từ Xuân 1969 đến nay, trên cơ sở quán triệt quyết tâm chiến lược của Trung ương, ta đã có một bước tiến bộ rõ rệt trong việc vận dụng phương châm phương thức đấu tranh và xây dựng cả về mặt quân sự và chính trị để ngày càng phù hợp với quy luật của cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa, nhất là đã ấp dụng và phát triển phương hướng đánh và cách đánh có hiệu suất cao, gây cho địch những tổn thất rất nặng mà ta thương vong ít, đã ấp dụng và phát triển phương châm phương thức công tác ba vùng để giữ vững và giành quyền làm chủ ở vùng yếu, vùng ven, kể cả từng bộ phận trong thành phố thị xã. Đây là một sự chuyển biến về chất lượng trong sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ ta... Nó đang mở ra những khả năng rất to lớn để quân, dân ta có thể đánh mạnh được, đánh lâu dài được, càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng lợi, vừa đảnh mạnh về quân sự, vừa tấn công mạnh về chính trị ở thành thị và nông thôn, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng, mở rộng quyền làm chủ, giữ vững các địa bàn chiến lược, giữ vững và phát triển thế tiến công và bao vây địch, nhứt là trên chiến trường trọng điểm trong những điều kiện hết sức ác liệt và phức tạp của chiến trường ta"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.30, tr.326-327).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #43 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2023, 09:25:19 am »

Đợt tiến công giữa mùa mưa 1969 (từ ngày 11-8 đến ngày 15-9):

Đầu tháng 6-1969, để không có gì bất trắc có thể xảy ra đối với chính quyền Sài Gòn, Mỹ tiến hành bố trí lại lực lượng. Trên tuyến ven đô, Mỹ bố trí 19 tiểu đoàn, trong đó có 4 tiểu đoàn lính Mỹ và 15 tiểu đoàn quân ngụy, chiếm 16% lực lượng. Trên tuyến trung gian, Mỹ bố trí 62 tiểu đoàn, gồm 34 tiểu đoàn Mỹ và 28 tiểu đoàn quân lực Sài Gòn, chiếm 52% lực lượng. Ngoài số binh lính nói trên, Mỹ sử dụng Sư đoàn 1 bộ binh, Sư đoàn 25 của Mỹ và Sư đoàn 5, Sư đoàn 25 ngụy cùng với lực lượng trù bị chiếm giữ các địa bàn quan trọng xung quanh Sài Gòn như vùng Long Nguyên, Bời Lòi, vùng đông tây sông Sài Gòn sông Vàm Cỏ Đông và vùng phía nam sông Đồng Nai...


Thực hiện đợt tiến công giữa mùa mưa 1969, Bộ Chỉ huy Miền tổ chức lại lực lượng, “đặc công hóa các đơn vị: Trung đoàn 10 Rừng Sác, Tiểu đoàn 267, 269 (Phân khu 2), 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 4 (Phân khu 5), Tiểu đoàn 1 (Tây Ninh) để phù hợp với tình hình chiến trường tăng sức tấn công. Các phân khu cũng thành lập các đơn vị đặc công riêng”2 (Bộ Quốc phòng - Quân khu 7: Lực lượng vũ trang Quân khu 7 (1945-2010), Sđd, tr. 139).


Trên hướng Bình Long, Sư đoàn 9 Quân giải phóng tập kích Trung đoàn 15 thiết giáp ngụy, cụm cơ giới Mỹ tại Tân Khai, phía tây thị xã Hớn Quản (từ ngày 11 đến ngày 12-8-1969). Tiểu đoàn 4 đặc công, Trung đoàn 429 tập kích lực lượng Lữ đoàn 3, Sư đoàn 101 kỵ binh không vận Mỹ tại xã Tân Lợi, tỉnh Bình Long (12-8-1969). Sư đoàn 7 Quân giải phóng đánh bại lực lượng biệt kích ngụy tại Lộc Ninh. Lực lượng đặc công Miền tiến công sân bay Téc Ních, chi khu Chơn Thành, căn cứ Lữ đoàn 3 không vận, căn cứ Trung đoàn 9 ngụy và căn cứ Trung đoàn 11 thiết giáp Mỹ...


Trên hướng Phước Long, Sư đoàn 5 tiến đánh trại biệt kích Bù Na. Quân giải phóng Quân khu 10 tập kích chi khu Bù Đăng, lực lượng đặc công Miền đột nhập ấp chiến lược...

Trên hướng Tây Ninh, Trung đoàn 88 Sư đoàn 9 tiến công Tiểu đoàn 1 dù. Trung đoàn 2 Sư đoàn 9 tiến công cụm Lovea, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 8 không vận Mỹ. Lực lượng pháo binh, pháo cao xạ Miền tiến cồng sân bay Téc Ních, căn cứ Trảng Lớn, Dầu Tiếng, Lai Khê....


Phối hợp với quân chủ lực Miền, các đơn vị bộ đội các phân khu cũng được huy động vào đợt tiến công mùa Thu năm 1969.

Lực lượng pháo binh miền Đông tập kích sân bay Biên Hòa. Đặc công tiến công thị xã Long Khánh, quận lỵ Long Điền. Bộ binh đánh phá bình định ở Long Thành, Xuân Lộc, Trảng Bom, Bà Rịa, Long Đất, Phước Hải... Đoàn 10 đặc công đánh tàu trên sông Vàm Cỏ Đông, sông Đồng Nai, tại cảng Nhà Bè, cảng Cát Lái...


Phân khu 1, Trung đoàn 16 tập kích căn cứ Mỹ tại Bầu Nổ, diệt 81 xe quân sự; tập kích căn cứ Mỹ tại làng 13 Dầu Tiếng, diệt 23 xe thiết giáp. Trung đoàn 268 kết hợp với Trung đoàn Quyết Thắng phục kích lực lượng ngụy tại vùng Củ Chi, Trảng Bàng.


Phân khu 2 sử dụng 6 tiểu đoàn bám trụ tại vùng Bình Chánh. Do lực lượng yếu nên chỉ dùng hỏa lực pháo, cối... phục kích lực lượng ngụy tuần tra an ninh, tiến đánh những trận nhỏ, lẻ (2 tiểu đoàn 12 và 16 rút sâu về Long An).


Phân khu 3, Trung đoàn 320 kết hợp với bộ đội địa phương hoạt động tương đối khá trên một số khu vực Châu Thành, Tân Trụ, Cần Giuộc.

Phân khu 5, Trung đoàn Đồng Nai sử dụng Tiểu đoàn 1 phối hợp với Quân giải phóng địa phương Thủ Dầu Một, Biên Hòa tiến đánh quân ngụy tại Tân Uyên. Đặc biệt, Đại đội đặc công 504 tập kích tiểu đoàn hỗn hợp thuộc Sư đoàn 1 Anh cả đỏ Mỹ tại ấp Bố Lá, xã Phước Hòa, huyện Tân Uyên (6-9-1969)1 (Diệt 150 tên và 14 xe bọc thép). Bên cạnh đó, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn Đồng Nai được giao nhiệm vụ hoạt động trên địa bàn trung chuyển từ giữa đường số 7 đến đường số 2...


Trên chiến trường Quân khu 6, Quân giải phóng tập kích yếu khu Sông Lũy, phục kích lính ngụy trên đường sô 1 (2 trận); thị xã Phan Thiết, Đà Lạt.... Đặc biệt, Tiểu đoàn 840 (Đại đội 5), Tiểu đoàn 240 (Đại đội 5) kết hợp với Quân giải phóng địa phương tập kích Trung đoàn 44 thuộc Sư đoàn 18 ngụy tại căn cứ Sông Mao, Bắc Bình, Bình Thuận, đánh sập 6 lô cốt, 3 hầm ngầm, 2 pháo 105mm, 3 xe quân sự, 4 tấn đạn, 2 xe tăng, thu 34 súng các loại (11-8-1969)...


Trên chiến trường Quân khu 8, bước vào đợt tiến công mùa Thu Mỹ đã dần rút khỏi vùng bắc sông Cửu Long, chỉ còn khoảng 700 quân ở căn cứ Bình Đức. Tuy nhiên, vùng giải phóng của các tỉnh Kiến Phong, Kiến Tường, An Giang, Mỹ Tho hầu như bị lấn chiếm. Đến tháng 10-1969, trên địa bàn Quân khu 2 có 1.724 đồn bót, 29.760 bảo an, 23.244 dân vệ, 48.300 phòng vệ dân sự (25.000 xung kích)... Chiến trường bị chia cắt, lực lượng Quân giải phóng mỏng không đủ lực lượng để thực hiện được kế hoạch trọng điểm, hoạt động vũ trang chỉ hỗ trợ chống phá bình định, ở Bến Tre, Tiểu đoàn 560, 516 phối hợp với bộ đội huyện Mỏ Cày đánh 8 trận tại Cẩm Sơn, Ngãi Đăng, An Định, Thành Thới (tháng 7 và 8-1969). Tiểu đoàn 560 tập kích đoàn bình định tại chợ xã An Thới, tập kích Trung đoàn 10 và 2 đại đội bảo an (tháng 8-1969)... ở Mỹ Tho, Đại đội 1 thuộc Tiểu đoàn 514C tập kích đoàn bình định và 2 trung đội của Sư đoàn 7 ngụy (tháng 6-1969)...


Trên chiến trường Quân khu 9, hầu hết các vùng giải phóng như Tam Bình, Vũng Liêm, Trà Ôn, Cầu Kè, Tiểu Cần, Cầu Ngang, Trà Cú (Trà Vinh), Long Mỹ, Phụng Hiệp (Cần Thơ), Ngã 5, Thạnh Trị (Sóc Trăng)... đều bị địch lấn chiếm. Đến tháng 9-1969, trên địa bàn Quân khu có đến 2.000 đồn, 29.500 bảo an, 38.000 dân vệ (tháng 9-1969), 115.000 phòng vệ dân sự (40.000 xung kích). Lực lượng cách mạng bị hao hụt: trong 6 tháng đầu năm 1969, mất 744 đảng viên, 2.259 đoàn viên, 1.288 cơ sở quần chúng. Du kích xã từ 8.545 (9-1968) còn 2.147 (9-1969), du kích ấp từ 15.591 (9-1968) còn 6.260 (9-1969)1 (Ban Tổng kết chiến tranh B2: Báo cáo tổng kết kinh nghiệm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (B2), tháng 2-1979)...


Tháng 6-1969, các đơn vị bộ đội Quân khu 9 đẩy mạnh hoạt động ngăn chặn kế hoạch “bình định cấp tốc" của chính quyền Sài Gòn. “Đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn chủ lực địch; đánh tiêu hao Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 15 ngụy ở An Khánh (Vĩnh Long); diệt 10 đại đội bảo an, đánh thiệt hại nặng 8 đại đội bảo an khác; diệt gọn 11 đồn, bắn chìm 67 tàu chiến, bắn cháy 50 xe quân sự, phá hủy 24 khẩu pháo. Thu 226 súng các loại, 8 máy VTĐ và nhiều đạn dược”2 (Đảng uy - Bọ Tư lệnh Quân khu 9: Quân khu 9 - Ba mươi năm kháng chiến (1945-1975), Sđd, tr.468).


Theo số liệu của Ban Tổng kết chiến tranh B2, đợt tiến công mùa Thu 1969, Quân khu 9 đã diệt Trung đoàn 15 thiết giáp ngụy (thiếu); 7 tiểu đoàn, trong đó có 1 tiểu đoàn Mỹ; 3 tiểu đoàn bộ; 3 cụm (2 cụm Mỹ); 2 chi đoàn thiết giáp (1 chi đoàn thiết giáp Mỹ); 98 đại đội (39 đại đội Mỹ), 15 đội bình định, 74 trung đội. Tiêu hao nặng Trung đoàn 11 thiết giáp Mỹ; 8 tiểu đoàn và 5 cụm Mỹ, hậu cứ Lữ 3 không vận và Bộ Chỉ huy Trung đoàn 9 ngụy; 46 đại đội. Bắn rơi và phố hủy 636 máy bay phá hủy 2.273 xe (có 1.583 xe bọc thép); bắn chìm và cháy 1 193 tàu, phá hủy 248 pháo, đốt cháy 39 kho, 8 bể xăng, phố sập 30 cầu cống... Thu 746 súng các loại và 7 vô tuyến điện1 (Ban Tổng kết chiến tranh B2: Báo cáo tổng kết kinh nghiệm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (B2), tháng 2-1979).


Nhìn chung, trong đợt Thu, Quân giải phóng trên chiến trường B2 đã liên tục phát triển thế tấn công, đánh 3.536 trận lớn nhỏ với nhiều phương thức, cách đánh sáng tạo, hiệu suất cao, tỷ lệ thương vong thấp... và đã giành được nhiều thắng lợi vang dội2 (Loại ra ngoài vòng chiến đấu 57.600 tên (có 13.618 Mỹ), 690 Thái Lan, 254 Úc. Diệt Trung đoàn 15 thiết giáp ngụy (thiếu), 7 tiểu đoàn (1 tiểu đoàn Mỹ), 3 tiểu đoàn bộ, 3 cụm (2 cụm Mỹ), 2 chi đoàn thiết giáp (1 chi đoàn thiết giáp Mỹ), 98 đại đội (39 đại đội Mỹ), 15 đội bình định, 74 trung đội. Tiêu hao nặng Trung đoàn 11 thiết giáp Mỹ, 8 tiểu đoàn và 5 cụm Mỹ, hậu cứ Lữ 3 không vận và Bộ Chỉ huy Trung đoàn 9 ngụy, 46 đại đội. Bắn rơi và phá hủy 636 máy bay, phá hủy 2.273 xe (có 1.583 xe bọc thép); bắn chìm và cháy 1.193 tàu, phá hủy 248 pháo, đốt cháy 39 kho, 8 bể xăng, phá sập 30 cầu công, v.v... Thu 746 súng các loại và 7 vô tuyến điện. Sư đoàn kỵ binh không vận bị diệt 5.000 tên (35% quân số), 163 máy bay (38% máy bay của sư đoàn), 38 pháo (42% số pháo của sư đoàn). Sư đoàn 1 bộ binh Mỹ bị tiêu diệt, 1.500 tên (15% quân số), 193 xe (63% xe của sư đoàn) - Trung đoàn 11 kỵ binh thiết giáp Mỹ bị diệt 2.260 tên (70% quân số) và gần 300 xe. Trung đoàn 15 thiết giáp ngụy bị diệt 350 tên và 60 xe. Diệt 1 tiểu đoàn dù, 1 tiểu đoàn biệt kích, 34 tiểu đoàn biệt động quân, v.v...).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #44 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2023, 09:27:43 am »

Đợt tiến công đầu mùa khô 1969-1970 (từ tháng 11-1969 đến tháng 1-1970):

Từ tháng 6-1969, Trung ương Cục chủ trương mở đợt tiến công đầu mùa khô 1969-1970, đẩy đối phương lâm vào tình thế bế tắc trên các mặt trận, đặc biệt là mặt trận bình định, tạo điều kiện cho cuộc tiến công mùa Xuân năm 1970 giành thắng lợi.


Trên chiến trường miền Đông, quân chủ lực Miền thực hiện các trận đánh lớn mang tính thối động nhằm tạo cục diện có lợi trên chiến trường. Tuy nhiên, trước các cuộc hành quân đánh phá ác liệt của Mỹ, Quân giải phóng Miền chỉ đánh được một số trận nhỏ như tiến công, uy hiếp chi khu Bù Đốp (11-1969); phục kích lực lượng Sư đoàn 1 kỵ binh không vận Mỹ trên đường 14, trên liên tỉnh lộ 13 (1-1970).


Quân giải phóng ở các phân khu cũng gặp nhiều khó khăn cả về lực lượng, vũ khí, đạn dược và cả về hậu cần, do vậy, sức chiến đấu giảm sút. Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 3 Phân khu 3 chỉ phục kích đánh một số trận nhỏ lẻ ở quận 7. Tiểu đoàn 6 Phân khu 2 đánh được một số trận ở Bình Chánh, Vĩnh Lộc. Tiểu đoàn 4 Phân khu 4 thì về bám trụ ở vùng Thủ Đức. Tiểu đoàn 14 Tây Ninh bám trụ ở vùng Gò Dầu... Trên tuyến trung gian, các tiểu đoàn, trung đoàn còn lại của các phân khu cũng chỉ thực hiện được những trận phục kích nhỏ trên các địa bàn Long Đất, Long Thành, Trảng Bom, Gò Dầu, Đức Hòa, Dầu Tiếng, nam Củ Chi, Thủ Đức, Châu Thành, Tân Uyên... Chỉ có trận tiến công Trường võ bị Thủ Đức tại xã Tăng Nhơn Phú, huyện Thủ Đức là gây được tiếng vang lớn (19-1-1970)...


Trên chiến trường Quân khu 6, Quân giải phóng cũng gặp muôn vàn khó khăn. Tuy nhiên, thực hiện đợt tiến công mùa Đông, lực lượng đặc công Quân khu đã tiến đánh hậu cứ Sông Lũy (Bình Thuận). Quân giải phóng địa phương Tuyên Đức, Đức Trọng tiến công hệ thống đồn, bót ở vùng trọng điểm Đức Trọng...


Trên chiến trường Quân khu 8, bước vào đợt hoạt động mùa Đông năm 1969, tại vùng 20 tháng 7 (Mỹ Tho), Trung đoàn 1 bao vây tiêu diệt hệ thống đồn bót; phục kích Tiểu đoàn 2, Sư đoàn 18 ngụy tại khu vực cây Ô Môi, kinh Năm Mạnh xã Long Tiên (Cai Lậy), thu gần 200 khẩu súng các loại (11-11-1969). Hai đại đội (1 và 3) thuộc Tiểu đoàn 514C phục kích đánh lực lượng bình định, bảo an trên lộ 20. Đại đội 2 thuộc Tiểu đoàn 514 tiến công 2 trung đội bảo an ở Long Định đánh thiệt hại nặng đoàn bình định, 27 xe công binh ở ngà tư Chợ Bưng1 (Đại đội 2, Tiểu đoàn 514 được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng 8 chữ vàng “luồn sâu, đánh giỏi, chiến thắng vẻ vang” và tuyên dương Đơn vị anh hùng). Đại đội bảo vệ Tỉnh đội phục kích lực lượng bảo an tại xã Hội Cư. Tiểu đoàn 261A tiến công lực lượng bảo an tại đập Ông Tải xã Hậu Mỹ Nam (12-1969). Ở Bến Tre, Tiểu đoàn 516, 560 tiến công 2 đại đội bảo an tại xã Minh Đức, thu 50 súng. Ở Mỏ Cày, Bình Đại, Thạnh Phú..., bộ đội huyện phục kích lực lượng bình định, bảo an... Biệt động thị xã Bến Tre dùng mìn hẹn giờ, lựu đạn tiến công Mỹ trong nội ô. Một tổ đặc công nước do đồng chí Lê Văn Phích chỉ huy đánh sập cầu Bình Chánh, đánh tàu Mỹ trên kênh Chệp Sậy, sông Hàm Luông... ở Kiên Phong, Tiểu đoàn 1 chống càn tại các xã Mỹ Hội, Thiện Mỹ, Phong Mỹ (Cao Lãnh); đánh trận rạch Bà Lương (Long Hiệp), bắn rơi 1 trực thăng, bắn cháy 1 xe M113...


Trên chiến trường Quân khu 9, ngày 2-9-1969, Mỹ tổ chức cuộc hành quân đánh vào Chiến khu U Minh. Trong cuộc càn này, Mỹ sử dụng lực lượng gồm Sư đoàn 9, Lữ B thủy quân lục chiến, 4 tiểu đoàn biệt động quân, 4 giang đoàn thủy bộ, 3 giang đoàn xung phong, Hải đoàn 41 Mỹ (sông Đốc), Hải đoàn Hắc Giang (Năm Căn), 3 tiểu đoàn pháo binh, pháo bờ biển, 2 trung đoàn không quân, có cả B52 yểm trợ. Đồng thời, Mỹ còn sử dụng Sư đoàn 20 bộ binh đánh vào Mo So - Ba Hòn (Rạch Giá) để ngăn chặn đường hành lang của ta từ biên giới về Khu 92 (Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu 9: Quân khu 9 - Ba mươi năm kháng chiến (1945-1975), Sđd, tr.474, 475). Ngay từ những ngày đầu, bộ đội chủ lực Miền (1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 3), bộ đội Quân khu 9 kết hợp với du kích 18 xã thuộc 4 huyện (Thới Bình, Vĩnh Thuận, An Biên, Giồng Riềng) kháng cự quyết liệt.


Tiểu đoàn 9 thuộc Trung đoàn 2 đánh 1 tiểu đoàn đổ quân bằng trực thăng tại kinh Tám Ngàn (huyện Thới Bình, Cà Mau). Cơ quan Phòng Tham mưu Quân khu tập kích Đại đội thủy quân lục chiến tại Rọ Ghe (huyện An Biên - Rạch Giá). Pháo binh Quân khu pháo kích căn cứ hạm đội nổi ở vàm sông Ông Đốc. Trung đoàn 1, Trung đoàn 2, Tiểu đoàn pháo 2311, Đại đội công binh Quân khu... tập kích trung tâm hành quân hỗn hợp của Lữ B thủy quân lục chiến đóng tại Thứ 11 (An Biên)1 (Tiêu diệt 680 tên địch (trong tổng sò 750 tên), Tên Đại tá Lữ đoàn phó chết tại chỗ, tên Đại tá Lữ đoàn trường bị thương trốn thoát. Bắt sống 21 tên, diệt toàn bộ Sở Chỉ huy Lữ B thủy quân lục chiến và 3 đại đội trực thuộc Tiểu đoàn 4 thủy quân lục chiến, Giang đoàn 74 hải quân, pháo đội... Phả hủy 81 tàu sắt, 3 khẩu 155 và 5 khẩu 105, 11 cối ĐKZ và 7 đại liên, thu hàng chục máy VTĐ, hơn 30 súng các loại với tiểu đoàn bộ binh, 6 chi đoàn M113, 3 pháo đội, 1 giang đoàn). Lực lượng pháo binh, đặc công Quân khu tiến đánh căn cứ Xẻo Rô, chi khu Thứ Ba, căn cứ sở Chỉ huy Trung đoàn 32, Sư đoàn 21 tại Thứ Bảy... Pháo binh Đoàn 6 tiến công trận địa pháo của đối phương ở vàm Xáng, rạch Cái Bát... Ngày 6-11- 1969, cuộc càn kết thúc, kế hoạch bình định U Minh lần 1 của Mỹ hoàn toàn bị đánh bại.


Cùng lúc, bộ đội địa phương tỉnh Rạch Giá phối hợp với một bộ phận Trung đoàn 10 Miền đánh trận Hòn Me, bắn rơi 3 máy bay, bắn cháy 3 xe M113 (7-9-1969). Bộ đội địa phương Hòn Đất đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 44 biệt động quân ở Vàm Rầy (8-9-1969). Sau 78 ngày đêm chiến đấu ác liệt trên vùng Ba Hòn, Quân giải phóng loại gần 3.000 tên (có 500 tên đào, rã ngủ), diệt 11 đại đội, đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn và 1 đại đội, phá hủy 6 xe M113, bắn rơi 6 máy bay, phá hủy 2 khẩu pháo (từ ngày 2-9-1969 đến ngày 18-11-1969)2 (Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu 9: Quân khu 9 - Ba mươi năm khàng chiến (1945-1975), Sdd, tr.478)...


Trong đợt tiến công đầu mùa khô 1969-1970, Quân giải phóng trên chiến trường B2 đã đánh trên 4.260 trận, loại khỏi vòng chiến đấu trên 71.000 tên địch, trong đó có 13.423 quân Mỹ, 172 úc, 297 Thái Lan... bắn rơi và phá hủy 978 máy bay, diệt 1.670 xe (có 1.068 xe bọc thép), phá hủy 183 pháo bắn chìm và cháy 194 tàu, phá hủy 98 kho, đánh sập 81 cầu công, thu 1.829 súng và 86 vô tuyến điện1 (Ban Tổng kết chiến tranh B2: Báo cáo tổng kết kinh nghiệm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (B2), tháng 2-1979, tr.113).


Qua 4 đợt tiến công trên chiến trường B2, tuy hình thái chiến trường bất lợi, nhưng bằng phương thức tác chiến hợp lý, Quân giải phóng, nhất là khối chủ lực Miền đã tiêu hao tiêu diệt được nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh, gây tổn thất nặng cho Mỹ và đồng minh; phá hủy nhiều căn cứ quần sự, đường giao thông chiến lược của đối phương. Đặc biệt, Quân giải phóng trên chiến trường B2 đã thí nghiệm tổ chức các trung đoàn đặc công nhằm nâng cao hiệu suất chiến đấu, đã gây nhiều tổn thất cho lực lượng địch2 (Ta đã loại khỏi vòng chiến đấu trên 42 vạn tên địch (trong đó có 147.153 Mỹ, 5.675 Thái Lan, 2.701 Úc). Tiêu diệt Trung đoàn 15 thiết giáp ngụy (thiếu 1 chi đoàn), 34 tiểu đoàn (6 tiểu đoàn Mỹ, 4 tiểu đoàn Thái Lan), 22 cụm tương đương tiểu đoàn (có 18 cụm Mỹ), 4 đoàn xe cơ giới Mỹ (từ 60 xe đến 100 xe), 9 chi đoàn thiết giáp, 589 đại đội, 1 giang đoàn, V.V.; tiêu hao nặng Trung đoàn 11 thiết giáp Mỹ, 75 tiểu đoàn (có 5 tiểu đoàn Mỹ), 24 lần đánh tiêu hao nặng cụm tương đương tiểu đoàn, 5 chi đoàn thiết giáp. Bắn rơi và phá hủy 5.036 máy bay, phá hủy 12.404 xe (có 7.734 thiết giáp), 2.033 khẩu pháo, bắn chìm và cháy 1.869 tàu (có 88 tàu từ 8.000 - 13.000 tấn). Diệt 1 chỉ huy sở hành quân cấp trung đoàn, Chỉ huy sở Lữ 4 thủy quân lục chiến ngụy, 1 chỉ huy sở sân bay, 1 bộ chỉ huy hạm tàu, 7 chỉ huy sở cấp tiểu đoàn; đánh tiêu hao nặng 2 hậu cứ cấp sư đoàn (có 1 của Mỹ), 2 hậu cứ lữ của Mỹ, v.v.; phá hủy 396 kho xăng đạn, vũ khí và quân dụng. Trên mặt trận giao thông, ta đã đánh trên 1.000 trận lớn nhỏ, diệt 1.500 xe quân sự (có 738 xe bọc thép), bắn chìm, cháy 1.799 tàu, xuồng chiến đấu, đánh sập cầu cống, v.v... Ta liên tục đánh phá 26 thị xã và tiểu khu, đánh đúng mục tiêu và đối tượng, nhằm đúng cơ quan đầu não chính trị, quân sự, lực lượng kìm kẹp cơ sở. Diệt 131 đoàn, đội bình định; diệt 422 đồn tua, 601 lô cốt, bức hàng, bức rút 52 đồn tua. Đánh phá 1.877 ấp, diệt 4.123 ác ôn tề điệp, cảnh cáo 5.117 tên khác, phá rã 40.000 tự vệ dân sự phá lỏng, rã kìm 800.000 dân, giữ và mở rộng thế làm chủ 657 ấp với 500.000 dân. Giải phóng 2 xã, 11 ấp với 13.000 dân (ở Quân khu 9)).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #45 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2023, 09:30:13 am »

2. Chiến đấu đánh bại các cuộc phản kích của địch trên địa bàn biên giới và chiến trường Campuchia

Bước sang năm 1970, Mỹ mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương. Ngay từ đầu năm, Mỹ mở cuộc phản công quy mô lớn lên tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia nhằm tiêu diệt chủ lực Quân giải phóng, ngăn cắt hành lang chiến lược từ hậu phương miền Bắc vào chiến trường B2. ở Campuchia, ngày 18-3-1970, Mỹ giật dây Lon Non làm đảo chính lật đổ Chính phủ trung lập Sihanouk. Quân đội Lon Non câu kết với quân ngụy Sài Gòn phản kích ta từ hai phía. Tiêp đó, Mỹ - ngụy1 (Lực lượng địch tham gia phản kích sang Campuchia gồm có 2 sư đoàn Mỹ (Sư đoàn kỵ binh không vận và Sư đoàn 25), 6 sư đoàn ngụy (Sư đoàn 5, Sư đoàn 25, Sư đoàn 18 thuộc Quân đoàn 3 và Sư đoàn 7, Sư đoàn 9, Sư đoàn 21 thuộc Quân đoàn 4), 5-6 liên đoàn biệt động quân, toàn bộ Sư đoàn dù và 2 lữ thủy quân lục chiến, gồm 24-29 trung đoàn (72-87 tiểu đoàn), chưa kể 15-17 tiểu đoàn bảo an) mở các đợt phản kích lớn đánh phá Chiến khu Dương Minh Châu, Chiến khu Đ, bắc Long Khánh, tuyến Lộc Ninh - Tây Ninh (Vùng 3 chiến thuật); U Minh, Bảy Núi, Kiến Tường Kiến Phong, Châu Đôc, Hà Tiên (Vùng 4 chiến thuật); bắc Phan Thiết, đông nam Buôn Ma Thuột (Khu 6 và nam Tây Nguyên).


Ở nông thôn, Mỹ và chính quyền Sài Gòn tiếp tục thực hiện “Kế hoạch bình định đặc biệt” (từ tháng 7-1970 đến tháng 2-1971), “Cộng đồng tự vệ và phát triển địa phương” (tháng 3-1971 đến tháng 3-1972). Tính đến tháng 3-1972, trên toàn miền Nam, chính quyền Sài Gòn đã thiết lập được 7.194 ấp1 (Quốc sách ấp chiến lược thời kỳ đệ nhất cộng hòa lúc cao nhất là 7.512 ấp) kiểm soát được 13,9 triệu dân trên tổng số 17 triệu dân toàn miền Nam (chiếm 78%), tổ chức được 2.015 “cuộc cảnh sát xã”, xây dựng được mạng lưới “Phượng hoàng” từ Trung ương đến tận từng xã ấp; thành lập được lực lượng phòng thủ nông thôn gồm có 46 tiểu đoàn, 1.600 đại đội bảo an, 1.500.000 phòng vệ dân sự2 (Theo tài liệu AB 144 của địch)...


Cuộc tiến công Xuân - Hè 1970

Tháng 1-1970, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta họp đánh giá lại tình hình và đề ra nhiệm vụ: “Động viên sự nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trên ca hai miền phát huy thắng lợi dã dạt dược, kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến, tiếp tục phát triển chiến lược tiến công một cách toàn diện, liên tục và mạnh mẽ, đẩy mạnh tiến công quân sự và tiến công chính trị, kết hợp với tiến công ngoại giao, vừa tiến công địch vừa ra sức xây dựng lực lượng quân sự và chính trị của ta ngày càng lớn mạnh; đánh bại âm mưu Việt Nam hóa chiến tranh của đế quốc Mỹ, đánh bại âm mưu của chúng xuống thang từng bước, kéo dài chiến tranh để tạo thế mạnh hòng duy trí chủ nghĩa thực dân kiểu mới của chúng ở miền Nam nước ta; làm thất bại chiến lược phòng ngự của địch, tạo nên chuyển biến mới trong cục diện chiến tranh, giành thắng lợi từng bưôc đi đến giành thắng lợi quyết định, đánh cho Mỹ phải rút hết quân, đánh cho ngụy phải suy sụp, tạo điều kiện cơ bản do thực hiện một miền Nam độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập, tiến tới thống nhất nước nhà”3 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.31, tr.56-57).


Ngày 4-4-1970, Bộ Chính trị chỉ đạo: “cần nghiên cứu tổ chức bố trí lại lực lượng cho thích hợp với tình hình mới, bảo đảm đẩy mạnh tiến công ở miền Nam, cần nghiên cứu tổ chức bố trí lại lực lượng cho thích hợp với tình hình mới, bảo đảm đẩy mạnh tiến công ở miền Nam, giúp cách mạng Campuchia có hiệu lực, vừa mạnh vừa vững chắc, chủ động về lâu dài”1 (Điện số 99/TK ngày 4-4-1970 của Bộ Chính trị gửi Trung ương Cục và Quân ủy Miền). Tiếp đó, ngày 3-5-1970, Bộ Chính trị chỉ thị: “Nhiệm vụ cơ bản của ta trên chiến trường K vẫn là đoàn kết chiến đấu với nhân dân K, cùng nhau chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, phối hợp chặt chẽ với bạn đánh bại âm mưu quân sự của địch trên chiến trường K, giữ vững và mở rộng cho được những địa bàn đứng chân của ta và căn cứ của bạn”2 (Điện số 160/TK ngày 3-5-1970 của Bộ Chính trị gửi Trung ương Cục và Quân ủy Miền). “Đoàn kết chặt chẽ với nhân dân hai nước Campuchia và Lào, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau, sát cánh chiến đấu chống kẻ thù chung”3 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Vân kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.31, tr.212).


Ngày 24 25-4-1970, Hội nghị ba nước Đông Dương: Việt Nam - Lào - Campuchia được tổ chức, cùng đưa ra tuyên bố thành lập “Mặt trận thống nhất Campuchia”. Đây là bản tuyên bố mang tính cương lĩnh đoàn kết ba nước Đông Dương để đấu tranh chống kẻ thù chung.


Thực hiện chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Trung ương Cục và Quân ủy Miền hạ quyết tâm mở “Đợt X” Xuân - Hè 1970, đồng thời giúp cách mạng Campuchia, kiên quyết bảo vệ bằng được căn cứ, kho tàng, phương tiện chiến lược của ta dọc theo biên giới Campuchia - Việt Nam.


Đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, Bộ Chỉ huy Miền đã lần lượt tổ chức ba bộ chỉ huy: C20 (Lương Văn Nho làm Chỉ huy trưởng), C40 (Đồng Văn Cống làm Chỉ huy trưởng), C50 (Lê Duy Mật làm Chỉ huy trưởng). Bộ Chỉ huy Miền còn thành lập Đoàn đặc công 367, đơn vị pháo cối, các khu hậu cần1 (Trên cơ sở này về sau thành lập Đoàn Hậu cần 400, C10 phụ trách vùng Karachê, Mônđônkiri; sau đó nhập thành Quân khu C50, gồm: C20 ở Côngpôngchàm, C30 ỏ Svâyriêng, C40 ở Côngpôngthom. về sau là nòng cốt cho các C căn cứ (C10, C20, C30)) và đoàn chuyên gia quân sự giúp Quân khu đông Campuchia. Lúc bây giờ, Bộ Quốc phòng tăng cường cho B2 Trung đoàn 4, Trung đoàn 174, Đoàn pháo binh 75...


Trên khu vực bắc Tây Ninh, Bình Long, Quân giải phóng mở đợt tiến công nhằm phá sự chuẩn bị tiến công tuyến biên giới của địch và tạo điều kiện cho địa phương đánh phá bình định. Đặc biệt, trên địa bàn Bù Gia Mập, Bình Long, Đại đội 8, Tiểu đoàn 739 tập kích địch, chủ động, bí mật áp sát, đồng loạt nổ súng đánh công sự quân Mỹ giành thắng lợi lớn (15-5-1970)...


Trên chiến trường trọng điểm miền Đông Nam Bộ, Tiểu đoàn 445 bộ đội địa phương Bà Rịa phòng ngự chống càn tại ấp Long Mỹ, xã Phước Long Hội, huyện Long Đất, tiêu diệt 13 xe tăng (M41 và MI 13) của quân đội Mỹ và chư hầu (18- 5-1970)... Tuy trên chiến trường trọng điểm Quân giải phóng chưa hoàn thành các mục tiêu đề ra, nhưng các trận đánh đã phần nào hỗ trợ cho phong trào đánh phá bình định ở 7 thị trấn, 19 xã và trên 100 ấp, góp phần làm rệu rã bộ máy kìm kẹp của chính quyền Sài Gòn ở một số nơi...


Trên chiến trường Khu 6, các tiểu đoàn chủ lực đã đánh được một số trận ở khu vực trọng điểm ở Bình Thuận. Đại đội 2, Tiểu đoàn 481, thị xã Phan Thiết tập kích cảnh sát dã chiến cộng hòa tại trụ sở Phú Trinh, khu vực chợ Phường, xã Châu Thành, Phan Thiết, đánh thiệt hại 37 cảnh sát dã chiến và dân vệ, thu 4 súng, 2 máy đánh chữ và toàn bộ hồ sơ tài liệu (15-2-1970). Trung đoàn 33 phòng ngự chống Tiểu đoàn biệt kích tại Núi Lốp, Tánh Linh, Bình Tuy, bắn rơi 1 trực thăng (2-4-1970). Tiểu đoàn 840, Tiểu đoàn 240 Quân khu phối hợp với Tiểu đoàn 490 (Đại đội 5), Tiểu đoàn 482 tỉnh Bình Thuận và Tiểu đoàn 481 (Đại đội 1) thị xã Phan Thiết tập kích cần cứ quân Mỹ tại thị xã Phan Thiet, pha huy 23 máy bay, 37 xe quân sự, 2 kho đạn, 3 kho xăng dầu, 7 lô cốt lớn, 20 nhà lính, một số súng cối 106,7mm, pháo 105mm và nhiều vũ khí phương tiện chiến tranh khác (3-5-1970)...


Trên chiến trường Quân khu 8, đầu năm 1970, Mỹ dùng máy bay B52 ném bom rải thảm; sử dụng Lữ đoàn B1 (Đầu năm 1970 Bộ Tổng tham mưu ngụy tăng cường về Bến Tre Lữ đoàn B thủy quân lục chiến, 1 tiểu đoàn pháo 18 khẩu, 3 giang đoàn 50 chiếc) thủy quân lục chiến càn quét cánh A Giồng Trôm (Bến Tre); điều động Sư đoàn 7 ngụy mở nhiều cuộc càn cấp tiểu đoàn, trung đoàn đánh vào bờ nam sông Tiền thuộc khu vực Phú Túc, Phú Đức, An Khánh huyện Châu Thành... Lực lượng bảo an, cảnh sát dã chiến, phòng vệ dân sự... được huy động lùng sục, vây ráp phục vụ cho công cuộc bình định... Đứng truớc tình hình đó, Khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu quyết định điều một số đơn vị chủ lực về địa phương mở đợt hoạt động Xuân - Hè nhằm xốc lại tinh thần, đồng thời hỗ trợ cho phong trào chống phá bình định. Ngày 31-3-1970, đợt hoạt động Xuân - Hè bắt đầu (từ ngày 30-3 đến ngày 1-5-1970).


Đợt A, Quân giải phóng trên địa bàn Khu 8 đồng loạt tiến công hàng trăm mục tiêu của đối phương trong vùng trọng điểm. Điển hình như Tiểu đoàn đặc công 269 tập kích Căn cứ 23 Trung đoàn 12 Sư đoàn 7 ngụy. Trung đoàn 1 đánh diệt đồn Xẻo Lác (Hiệp Đức), đồn Ông Bản (Cẩm Sơn). Tiểu đoàn 261A đánh đồn Thanh Hòa (2-4-1970). Trung đoàn 3 đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn của Sư đoàn 7 ngụy; đánh 1 đoàn tàu 20 chiếc trên kinh 28. Tiểu đoàn 514C đánh đồn Ca Da (Nhi Bình), tập kích 1 đại đội bảo an ở Gò Lũy. Tiểu đoàn 514A tập kích đại đội bảo an tại Vĩnh Hựu, bao vây ngăn chặn lộ 8, lộ 12 xã Vĩnh Hựu, Thạnh Nhựt. Tiểu đoàn 261A phục kích lực lượng bảo an tại xã Thạnh Phú (30-4-1970). Tiểu đoàn 267B phối hợp với Đại đội 1 của Thành đội Mỹ Tho tiến công sân bay Hùng Vương, phá hủy 7 lô cốt, 7 trọng liên, 7 xe GMC, 2 máy bay L19...


Đợt B, từ đêm 5-5-1970, Trung đoàn 3 tiến công hệ thống đồn bót khu vực tây kênh 28. Tiểu đoàn 514C tập kích trung tâm huấn luyện Tân Hiệp. Tiểu đoàn 263 kết hợp với Quân giải phóng địa phương tiến công đồn Mỹ Chánh, Mỹ Nhơn. Tiểu đoàn đặc công nước đánh chìm 3 tàu chiến, 2 chiếc phà tại bến phà Hàm Luông. Tiểu đoàn 514A tiến đánh đồn Bình Phục Nhứt. Tiểu đoàn 514B diệt đồn An Hoa Trung (Bình Nhì); tập kích trung đội dân vệ tại đồn cầu Tân Thới; tập kích đại đội biệt kích ở Thạnh Nhựt; pháo kích chi khu Hòa Đồng. Quân giải phóng An Giang tiến công căn cứ Chi Lăng, quận Tri Tôn (5-1970)...


Đợt hoạt động A và B, lực lượng vũ trang Khu 8 giành được những thắng lợi nhất định. Tay nhiên lực lượng Quân giải phóng cũng bị mất mát quá nhiều, sức chiến đấu giảm sút nên không mỏ được đợt C như kế hoạch đã định.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #46 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2023, 09:31:45 am »

Sau đợt tiến công Xuân - Hè của Quân giải phóng, Mỹ và chính quyền Sài Gòn vừa tăng cường phòng thủ, vừa mở các cuộc hành quân đánh trả, truy quét quyết liệt. “Lực lượng cách mạng nhiều nơi bị đánh bật ra khỏi dân, đường hành lang khu, tỉnh bị uy hiếp và bị cắt, kinh tế vùng giải phóng bị phá hoại nghiêm trọng. Toàn tỉnh Mỹ Tho chỉ còn 87 ấp giải phóng, Bến Tre mất thêm 19 xã 49 ấp giải phóng”1 (Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu 8: Quân khu 8 - Ba mươi năm kháng chiến (1945-1975), Sđd, tr.706).


Trên chiến trường Quân khu 9, tháng 2-1970, Mỹ sử dụng lực lượng thủy quân lục chiến, Sư đoàn 21, Sư đoàn 9 và Thiêt đoàn 9 hành quân lấn chiếm U Minh lần 2.

Lực lượng vũ trang Quân khu 9 nhận lệnh khân trương củng cố lực lượng chuẩn bị đánh lớn. Trung đoàn 2 phục kích Chi đoàn xe M113 ở Vĩnh Hòa; tập kích Tiểu đoàn thủy quân lục chiến, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 16 Sư đoàn 9 tại Vĩnh Bình - nam Vĩnh Thuận (2-1970). Tiếp đó, Trung đoàn 2, Tiểu đoàn đặc công, Đoàn 6 pháo binh tập kích Bộ Chỉ huy Chiến đoàn 33 tại kinh Họa Dồ, đập tan cuộc hành quân lấn chiếm U Minh lần thứ hai (12-3-1970).


Thừa thắng, Khu 9 bước vào đợt hoạt động Xuân - Hè năm 1970 trên cơ sở “Cơ quan chỉ đạo chỉ huy các cấp phải đứng vững ở vị trí có điều kiện và tạo nhiều biện pháp để nắm chắc tình hình, nắm đơn vị, nắm phong trào, thực hành chỉ huy, xử trí tình huống kịp thời chính xác”2 (Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu 9: Quân khu 9 - Ba mươi năm kháng chiến (1945-1975), Sdd, tr.482).


Thực hiện nghị quyết của Quân khu ủy, “Trung đoàn 1 ở Long Mỹ liên tục đánh địch, diệt 11 đại đội bảo an. Trung đoàn 3 ở Vĩnh - Trà trụ bám trên địa bàn then chốt giữa hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh. Các cơ quan Quân khu có kế hoạch bám trụ và đánh địch. Phòng Tham mưu Quân khu dẫn đầu các cơ quan về bám trụ đánh địch, bảo đảm làm việc và chỉ huy liên tục. Phòng chính trị dẫn đầu về bắn máy bay địch. Phòng hậu cần dẫn đầu về đánh tàu”...


Tháng 3-1970, sau khi Trung đoàn 10 về Quân khu được bổ sung thêm 1 trung đoàn phó và 20 chiến sĩ quê ở Cà Mau nên thông thuộc địa hình sông nước. Trung đoàn bước vào chiến đấu ngay, tập kích chi khu Giá Ngựa, liên đội bảo an ở vàm Dinh Cái Nước (26-5-1970)...


Phối hợp với chiến trường U Minh, đầu năm 1970, Bộ Tư lệnh Quân khu quyết định lập lại mặt trận Vĩnh - Trà. Trung đoàn 3 (Tiểu đoàn 306 và Đại đội đặc công) tiến công chi khu Càng Long (24-4-1970), phục kích Tiểu đoàn bảo an, bức hàng 7 đồn, phá ấp chiến lược An Trường, Huyền Hội (5-1970). Đặc biệt trong tháng 4 và tháng 5, bộ đội địa phương Càng Long, Cầu Kè, Trà Ôn bao vây, bức hàng, bức rút được 20 đồn bót, mở vùng ruột ở nam sông Măng Thít...


Trên tuyến biên giới và chiến trường Campuchia, đồng thời với đợt tiến công Xuân - Hè, Bộ Tư lệnh Miền chỉ đạo khối chủ lực Miền phụ trách tuyến biên giới và phát triển tiến công giải phóng nhiều vùng chiến lược quan trọng ở Campuchia.


Sư đoàn 9 phụ trách khu vực phía bắc Tây Ninh, trong hơn 4 tháng hoạt động đã giành được thắng lợi lớn, mở được một vùng giải phóng rộng lớn từ biên giới Việt Nam cho đến sát bờ sông Mê Kông, từ nam đường số 1 đến tây đường 22, trừ một số thị xã, thị trấn địch ở trong thế bị bao vây uy hiếp1 (Thành tích hoạt động của Sư đoàn 9 trong đợt tấn công Xuân - Hè 1970 (từ ngày 26-3 đen ngày 31-7-1970): đã đánh 614 trận, diệt 21.893 tên (3.743 Mỹ, 12.831 tên quân đội Sài Gòn, 5.319 tên quân đội Lon Non). Pha 1.099 xe (777 xe tăng và xe bọc thép), 169 pháo, 218 máy bay, 35 tàu. Thu 3.647 súng các loại, 55 các máy thông tin, 619 đạn cối, 130.000 đạn nhọn).


Sư đoàn 7 Quân giải phóng phụ trách mặt trận tỉnh Côngpôngchàm kết hợp với các tiểu đoàn thuộc khư căn cứ (C20), du kích cơ quan, bệnh viện, V.V.. có nhiệm vụ tiêu diệt địch, bảo vệ kho tàng, cơ quan, đánh chiếm Mimốt và mở rộng vùng giải phóng K. Trong điều kiện khó khăn, địch đánh phá ác liệt, việc tiếp tế chưa được thực hiện tốt, nhưng Sư đoàn 7 đã đánh 532 trận, diệt 16.874 tên, bắt 1.135 lính K, diệt 2 tiểu đoàn dù, 31 đại đội, 5 cụm (từ 2 đại đội trở lên) của 3 tiểu đoàn thuộc trung đoàn thiết giáp Mỹ, tiêu hao nặng 37 đại đội và 18 cụm quân sự; phá hủy 1.742 xe quân sự, bắn rơi 208 máy bay (có 188 trực thăng), 152 pháo, 46 kho xăng, dầu và đạn. Thu được 1.649 súng các loại. Sư đoàn 7 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ do Quân ủy giao, góp phần quan trọng vào việc đánh bại âm mưu phản kích chiến lược của Mỹ1 (Ban Tổng kết chiến tranh B2: Báo cáo tổng kết kinh nghiệm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (B2), tháng 2-1979, tr.133).


Sư đoàn 5 (Trung đoàn 33, Trung đoàn 174, Trung đoàn 5) phụ trách cả chiến trường Miền, tuyến biên giới và chiến trường Campuchia.

Ở khu vực Tánh Linh - Bình Thuận, Trung đoàn 33 đánh phá bình định. Trên tuyến biên giới, Trung đoàn 174 kết hợp với các tiểu đoàn vận tải của tuyến 86 đánh lực lượng Sư đoàn kị binh không vận Mỹ bảo vệ kho tàng. Trên chiến trường Campuchia, Trung đoàn 5 đánh chiếm Kratié, Stung Treng, sau đó tham gia mặt trận Bình Long - Phước Long. Trung đoàn 6 đánh chiếm Mônđônkiri2 (Trên tuyến biên giới và nội địa miền Nam, Sư đoàn đã đánh 288 trận, diệt 7.646 địch, diệt 12 đại đội, phá hủy 312 xe (có 194 xe bọc thép), 68 pháo, bắn rơi 153 máy bay, thu 55 súng. Trên chiến trường Campuchia, Sư đoàn đã tiêu diệt và làm tan rã trên 5.000 tên quân đội Lon Non, đánh chiếm 3 thị xã (Kratié, Mônđônkiri, Stung Treng), thu nhiều vũ khí, đạn dược (ở Kratié đã thu hơn 100 tấn vũ khí, đạn dược, ở Chơlong đã thu gần 400 súng, 3 huyện phía bắc Karachê thu 200 súng, ở Mônđônkiri đã thu trên 200 súng, ở Stung Treng thu trên 3.000 súng các loại...)).


Trên hướng bắc (Bình Long), tây - tây nam (Phước Long) Bộ Chỉ huy Miền trực tiếp chỉ huy hai trung đoàn (205, 207), 2 tiểu đoàn bộ binh và 2 tiểu đoàn đặc công (sau tăng thêm Trung đoàn 1) mở mặt trận Bình Long - Phước Long. “Trên mặt trận phía bắc Campuchia (Bình Long), ta đã giải phóng nhiều vùng nông thôn xung quanh Xiêm Riệp, dọc biển Hồ từ phía bắc xuống Pre Kdam, dọc 2 bên đường số 6 từ Xiêm Riệp xuống Côngpôngthom. Trên mặt trận Tây Nam (Phước Long) tháng 4-1970 ta giải phóng các vùng Tà Ni, Túc Méas, Côngpôngtrạch, Kép..., về sau tăng thêm Sư đoàn 1 phát triển lên cắt đường 4, đánh vào Côngpôngxpư, Kirirom, Kimini, giải phóng thêm một vùng rộng lớn nam bắc lộ 4”1 (Ban Tổng kết chiến tranh B2: Báo cáo tổng kết kinh nghiệm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (B2), tháng 2-1979, tr.135, 136)...


Trong đợt hoạt động Xuân - Hè năm 1970, Quân giải phóng trên toàn Miền đã đánh trên 3.000 trận, tiêu diệt, tiêu hao nhiều sinh lực đối phương, phá hỏng và thu nhiều súng đạn và phương tiện chiến tranh2 (Diệt Ban chỉ huy nhẹ Sư đoàn 23 ngụy, Trung đoàn bộ Trung đoàn 44 2 sở chỉ huy trung đoàn, 4 tiểu đoàn ngụy, 7 cụm (5 cụm Mỹ), 3 chi đoàn thiết giáp (2 chi đoàn Mỹ), 107 đại đội (106 Mỹ), 23 đoàn bình định. Phá hủy 652 máy bay, 1.298 xe (693 xe tăng và xe bọc thép), 150 tên, 312 pháo, thu 2.163 sung. Diệt 5 chi khu, 68 đồn tua và bức rút 26 đồn tua khác, diệt 2.820 ác ôn, tề điệp, kìm kẹp. Phát triển thêm 2.600 du kích, tuyển được 1.810 tân binh (chủ yếu là Quân khu 2, Quân khu 3). Riêng khối chủ lực Miền, từ cuối tháng 3 đến cuối tháng 7-1970 đã đánh 1.434 trận, diệt 46.413 địch (13.347 Mỹ), phá hủy 3.153 xe quân sự (2.176 xe tăng và bọc thép), 389 pháo, 579 máy bay, thu 5.357 súng các loại). Đặc biệt, trên chiến trường Campuchia, Quân giải phóng B2 đã bước đầu đánh bại âm mưu của Mỹ trong việc thực hiện chiến lược Khmer hóa chiến tranh trên chiến trường Đông Dương.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #47 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2023, 09:33:19 am »

Đợt tiến công mùa mưa 1970

Sau đợt Xuân - Hè của Quân giải phóng, Mỹ vẫn ngoan cố với mục đích “Đông Dương hóa chiến tranh”. Trên chiến trường miền Nam Việt Nam, từ tháng 6-1970, Mỹ mở đợt “bình định bổ túc” 4 tháng cho kế hoạch “bình định phát triển", phấn đấu đến cuối năm 1970 đạt mục tiêu 90% dân song trong ấp “an ninh hoàn toàn tốt”, 10% số còn lại sống trong mức “an ninh tương đối”, triển khai trang bị cho “nhân dân tự vệ”, đẩy mạnh “chiêu hồi”, đồng thời hoàn thành việc bầu cử chính quyền xã, ấp để chuyển sang giai đoạn “phát triển kinh tế"...


Trên chiến trường Campuchia, Mỹ ra sức củng cố chính quyền Lon Non, xây dựng tuyến phòng thủ Phnôm Pênh, phong tỏa các trục đường giao thông chiến lược, cắt đứt con đường vẩn tải chiến lược từ hậu phương miền Bắc Việt Nam vào chiến trường B2...


Trước sự phát triển mới của cách mạng Campuchia, ngày 19-6-1970, Bộ Chính trị họp đề ra nhiệm vụ, xác định 11 Đông Dương là một chiến trường”1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.31, tr.240, 259), “Chúng ta nhất định cùng nhân dân hai nước bạn Campuchia và Lào đánh bại mọi âm mưu xâm lược mới của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, đưa sự nghiệp đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam và các nước trên bán đảo Đông Dương đến thắng lợi hoàn toàn . Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, Bộ Chỉ huy Miền quyết định mở đợt tiến công mùa mưa năm 1970 với nhiệm vụ chiến lược là đánh bại chiến lược bình định của Mỹ trên chiến trường B2 và âm mưu mở rộng chiến tranh xâm lược ra khắp Đông Dương.


Trên chiến trường Quân khu 8, đến giữa năm 1970 tình hình trở nên khó khăn, Mỹ lúc này đã giao quyền tác chiến và bình định cho Tư lệnh Quân khu. Tuy nhiên, số quân ngụy Sồi Gòn ở đây đã đạt tới 1.021.000 quân. Lực lượng Phượng Hoàng, cảnh sát, bảo an, dân vệ có mặt từ tỉnh xuống tận ấp để thực hiện kế hoạch “bình định bổ túc có chiều sâu”. Các cuộc hành quân phát quang, biến vùng căn cứ thành những vùng trắng, vừa xóa bo nơi trú đóng quân của bộ đội giải phóng, vừa gây khó khăn cho Quân giải phóng trong việc đột ấp nhặn tiếp tế của dân...


Đứng trước nhiều khó khăn, Bộ Tư lệnh Quân khu vẫn quyết tâm chỉ thị cho Quân giải phóng thực hiện đợt tiến công mùa mưa với mục tiêu là giữ vững, củng cố địa bàn, bám trụ để tiến công địch, ở Mỹ Tho, Quân giải phóng đưa lực lượng vào vùng ven, vùng yêu, thực hiện “ba bám” (bám địa bàn, bám dân, bám địch), bao vây, tiến công hệ thống đồn bót, phá bình định, đưa quần chúng trở về ruộng vườn cũ sản xuất... Ở Bến Tre, Quân giải phóng thực hiện khẩu hiệu “Một tấc không đi, một ly không rời”, “Dân bám đất, Đảng bám dân, bộ đội bám địch mà đánh”, diệt ác, phá bình định, tiến công giao thông, giữ vững lõm căn cứ, tổ chức các chốt pháo, chốt đặc công, chốt biệt động, hợp đồng chiến đấu... ở Kiến Tường, Quân giải phóng luồn các xã Tân Ninh, Nhơn Ninh, Tân Hòa... đẩy mạnh hoạt động vũ trang, bức rút đồn bót, tạo thế giằng co, giữ vững hành lang giao thông từ phía đông qua Đồng Tháp Mười.


Đến cuối năm 1970, bằng những nỗ lực lớn, toàn Quân khu 8 đã diệt được 14 đại đội, phá hỏng 91 xe quân sự, thu được gần 320 súng các loại1 (Ban Tổng kết chiến tranh B2: Báo cáo tổng kết kinh nghiệm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (B2), tháng 2-1979, tr.141)...


Trên chiến trường Quân khu 9, sau đợt tấn công Xuân - Hè của Quân giải phóng, quân đội Sài Gòn buộc phải điều chỉnh, bố trí lại lực lượng. Trung đoàn 33 Sư đoàn 21 từ An Biên phải trở về đóng tại Cần Thơ, Trung đoàn 32 từ Khánh Bình Tây về án ngữ tại khu vực nam sông Ông Đốc, rút Liên đoàn 42 biệt động quân và 2 tiểu đoàn biệt kích từ Kiến Phong về Cần Thơ,Trung đoàn 31 Sư đoàn 21 từ vùng Bà Đầm về đóng chốt tại Phong Điền... Các điểm nóng như Thúy Liễu, Vĩnh Phước, Vĩnh Tụy, Ninh Thạnh Lợi, Tân Lợi, sông Cái Lớn, Nhà Ngang, Ba Đình, Cái Nước, Kinh Xáng, Chắc Băng, Huyện Sử, Thối Bình... đều được bố trí lực lượng mạnh, hình thành vòng vây chia cắt U Minh thành từng mảnh, thực hiện âm mưu đánh chiếm U Minh lần thứ ba.


Tháng 6-1970, Bộ Tư lệnh Quân khu 9 quyết định mở một đợt tiến công đánh phủ đầu. Trung đoàn 10, Tiểu đoàn đặc công Quân khu tiến công hàng loạt địa điểm đóng quân của lực lượng bảo an trên lộ Vĩnh Tuy - Ba Đình. Trung đoàn 2 đánh vào xã Tây Yên (An Biên). Tiếp đó, Đoàn 6 pháo binh tiến công căn cứ Xẻo Rô, Quân giải phóng mở đợt tiến công hướng An Biên, Long Mỹ, Phụng Hiệp, Cái Sách, Châu Thành A (Cần Thơ), cù lao Long Phú (Sóc Trăng), An Trường, Huyền Hội, Tam Bình (Trà Vinh)...


Dù chưa tạo được chuyển biến mạnh mẽ, nhưng trong đợt tiến công mùa mưa, Quân khu 9 đã tiêu diệt được 2 tiểu đoàn, 23 đại đội ngụy, bắn cháy 53 máy bay1 (Ban Tổng kết chiến tranh B2: Báo cáo tổng kết kinh nghiệm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (B2), tháng 2-1979, tr.141)...


Trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, thực hiện đợt hoạt động mùa mưa, Quân giải phóng Quân khu và các phân khu chia nhỏ lực lượng, luồn sâu xuống nắm từng địa hàn, thực hiện phương châm “bám thắt lưng định mà đánh”. Đại đội 564, Tiểu đoàn 1 Phân khu 5 tập kích 1 tiểu đoàn lính ngụy tại xã Bình Mỹ, Tân Uyên (7-6-1970). Đội 2 trinh sát đặc công huyện Cao Su và đơn vị pháo binh 274 phục kích lực lượng lính Thái Lan tại đồn điền cao su An Viễn, huyện Cao Su (10-7-1970)... Tổng kết đợt hoạt động mùa mưa, Quân giải phóng Quân khu và các phân khu trên địa bàn miền Đông đã diệt được 4 đại đội, 23 trung đội lính ngụy, bắn cháy 65 máy bay, phá hủy 153 xe quân sự và 24 tàu chiến... Quân giải phóng đã tạo ra được sự chuyển biến có mức độ1 (Nam Chi - Bắc Chi - Trảng Bàng có thể liên hoàn, ta bám trụ và giành quyền làm chủ tốt, xây dựng xã chiến đấu tốt. Đông Mọn giúp Nam Chi, đưa 70-80% dân về nhà cũ. Gò Vấp: đặc công luồn sâu đánh ống dẫn dầu của địch) trên một số vùng nhất định về đánh phá bình định2 (Ban Tổng kết chiến tranh B2: Báo cáo tổng kết kinh nghiệm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (B2), tháng 2-1979, tr.141).


Trên chiến trường Quân khu 6, bộ đội địa phương huyện Tuy Phong phục kích trung đội địa phương quân ngụy tại Dốc Đồn, Bình Thạnh (3-6-1970). Đơn vị 81 đặc công tỉnh Bình Tuy phối hợp với Đại đội 421 huyện Hoài Đức tập kích trung đội dân vệ tại Sùng Nhơn (12-6-1970). Đại đội 450, 452 Thuận Phong tiến công trung đội bảo an tại cầu Ông Tầm, khu vực xã Hồng Sơn (15-6-1970). Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 33 chủ lực Miền tập kích Lữ đoàn 199 Mỹ tại khu vực đồi 157 huyện Đức Linh (20-6-1970). Đội nữ pháo binh 85 tỉnh Bình Tuy tập kích Lữ đoàn 199 Mỹ tại sân bay Láng Gòn (5-7-1970). Trung đội 31 bộ đội địa phương huyện Tuy Phong phục kích trung đội dân vệ tại Phú Hải (7-8-1970)...


Trong đợt hoạt động mùa mưa năm 1970, các đơn vị Quân khu 6 đã đánh tan 9 đại đội, 16 trung đội, phá hủy 167 xe quân sự, bắn hạ 40 máy bay. Đã đánh 210 lần vào 165 ấp chiến lược...1 (Ban Tổng kết chiến tranh B2: Báo cáo tổng kết kinh nghiệm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (B2), tháng 2-1979, tr 141).


Trên tuyến biên giới, Đại đội 8 thuộc Tiểu đoàn 739 phục kích lính Mỹ tại phía tây bắc Suối Băm (5-6-1970), tại đồi Không Tên phía bắc Suối Băm (10-6-1970), tại khu vực Suối Băm, huyện Bù Gia Mập bảo vệ an toàn căn cứ và thương binh (22-6-1970). Tiểu đoàn 6 (Trung đoàn 174, Sư đoàn 5) đánh thiệt hại nặng 1 đại đội Mỹ, 1 đại đội lính ngụy trên đường 14A đoạn Lộc Ninh, huyện Bù Đốp (18-7-1970). Đại đội 26 Tiểu đoàn 25 (Phân khu 1) phục kích lực lượng biệt kích ngụy tại mạn nam - bắc cầu cần Lê, huyện Lộc Ninh (19-11-1970).


Nhìn chung, dù chưa có những trận đánh mang tính thôi động, nhưng trong đợt hoạt động mùa mưa năm 1970, Quân giải phóng trên tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia đã diệt được 14 đại đội, 1 chi đoàn xe bọc thép, 51 máy bay, 913 xe quân sự (450 xe tăng, xe thiết giáp), 29 tàu chiến... Bên cạnh đó, trên chiến trường K2 (Hình thành các khu vực chiến trường bao vây Phnôm Pênh: Khu vực chiến trường phía bắc (bắc Côngpôngchàm, Côngpôngthom, Xiêm Riệp), khu vực tây bắc (Báttambăng, Pursat, Kokong), khu vực tây và tây nam (Côngpôngchơnăng, Côngpôngspư, Tàkeo, Campôt), khu vực đông và đông nam (Prâyveng, Svâyriêng, Côngpõngchàm), khu vực đông bắc (Kratié, Stung Treng, Ratanakiri, Mônđônkiri). Về tính chất hoạt động, gồm 3 vùng chiến lược sau: vùng căn cứ hậu phương chiến lược (gồm 4 tỉnh đông bắc, đông bắc Côngpôngthom, đông Xiêm Riệp và nam Prâyveng), vùng căn cứ du kích (gồm các tỉnh tây bắc và tây nam), vùng xen kẽ vây ép địch (xung quanh Phnôm Pênh)), Quân giải phóng B2 kết hợp với lực lượng vũ trang nước bạn làm tan rã khoảng 21.000 quân ngụy Campuchia, diệt 15 tiểu đoàn, 17 đại đội; đánh thiệt hại 22 tiểu đoàn, 9 đại đội khác; phá hỏng 175 xe quân sự, bắn cháy 19 máy bay, 34 tàu chiến; thu 3.785 súng, 53 tấn đạn và giải phóng thêm được nhiều vùng rộng lớn1 (Ban Tổng kết chiến tranh B2: Báo cáo tổng kết kinh nghiệm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (B2), tháng 2-1979, tr 141, 142).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #48 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2023, 09:37:48 am »

III. CHIẾN ĐẤU CHỐNG ĐỊCH BÌNH ĐỊNH, THAM GIA CUỘC TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC NĂM 1972

1. Đánh địch bình định, tạo thế và lực cho Quân giải phóng miền Nam trên chiến trường B2

Năm 1971, trước âm mưu của Mỹ và tình hình chiến trường Đông Dương, Bộ Chính trị đề ra phương hướng hoạt động là “tiến công chủ yếu của ta là đồng bằng sông Cửu Long và chiến trường biên giới hai nước... Mặt trận đồng bằng và mặt trận biên giới có liên quan hết sức mật thiết với nhau, có thể coi đó là một chiến trường...”2 (Trích chỉ thị của Bộ Chính trị cho Trung ương Cục và Quân ủy Miền ngày 7-9-1970. Số bảo mật 2.222, lưu Phòng Tư liệu - Ban Tổng kết chiến tranh B2).


Để tăng cường sức mạnh cho Quân giải phóng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và vùng biên giới, Bộ Chính trị chỉ thị tăng cường lực lượng cho chiến trường B2 khoảng 7.000-10.000 người nhằm xây dựng lực lượng Quân giải phóng cấp trung đoàn mạnh cho Quân khu, cấp tiểu đoàn mạnh cho các tỉnh với đầy đủ binh chủng bộ binh, pháo binh, đặc công, trợ chiến..., đặc biệt là các tỉnh trọng điểm như Mỹ Tho, Bến Tre, Cần Thơ, Chương Thiện...


Tháng 10-1970, Trung ương Cục tổ chức hội nghị lần thứ 10. Hội nghị đã đánh giá tình hình, đề ra nhiệm vụ: “kiên trì đẩy mạnh tiến công và nổi dậy ra sức xây dựng, tăng cường lực lượng cách mạng, phát triển mạnh mẽ phong trào quần chúng đấu tranh chính trị, vũ trang và binh vận, chĩa mũi nhọn tiến công vào bọn ngoan cố, hiếu chiến và những đơn vị nòng cốt của địch ở các cấp, đạt tới yêu cầu mở rộng thế lực làm chủ khắp ấp, xã, phá lỏng hệ thống phòng thủ, kìm kẹp của địch ở nông thôn, mở rộng và nâng cao phong trào thành thị với đội ngũ chính trị vững mạnh, mở rộng các vùng không chế của địch trong các xóm, phường và tổ chức quần chúng, giữ vững và mở rộng các vùng căn cứ, hành lang, bảo đảm tiếp tế hậu cần, nâng cao vai trò chủ lực, thu hút, tiêu diệt, kìm chế quân cơ động của địch và đánh thủng, đẩy lùi các tuyến ngăn chặn, lấn chiếm của địch, làm cho kế hoạch bình định của địch bị thất bại nặng nề và ta tạo ra thế tiến công chiến lược mới, đi tối đánh sụp thế lực của bọn cầm quyền ngoan cố, hiếu chiến và một bộ phận quan trọng ngụy quân, làm thất bại về cơ bản chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, làm thay đổi lớn cục diện, tiến tới giành thắng lợi quyết định, đồng thời sẵn sàng ứng phó và giành thắng lợi trong mọi tình huống chiến tranh phức tạp, quyết tâm làm tròn nhiệm vụ của chiến trường chính, tích cực phối hợp với quân và dân bạn cùng giữ vững, phát triển thế tiến công và cùng giành thắng lợi cho cả ba dân tộc Đông Dương”1 (Ban Tổng kết chiến tranh B2: Báo cáo tổng kết kinh nghiệm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (B2), tháng 2-1979, tr.144, 145).


Căn cứ vào Nghị quyết của Bộ Chính trị và Nghị quyết Trung ương Cục lần thứ 10, Quân ủy Miền đã bắt tay vào công tác chuẩn bị cho mùa khô 1970-1971, quyết tâm “giữ vững và phát triển thế tiến công địch, kiên quyết đánh bại âm mưu tiến công mùa khô của đế quốc Mỹ, đánh thiệt hại nặng quân ngụy miền Nam và quân Mỹ trên chiến trường Campuchia, tạo ra một tình thế thuận lợi mới trên cả 2 chiến trường”2 (Ban Tổng kết chiến tranh B2: Báo cáo tổng kết kinh nghiệm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (B2), tháng 2-1979, tr.144, 145).


Năm 1971, ngụy quyền Sài Gòn tiến hành triển khai kế hoạch “cộng đồng tự vệ”, “cộng đồng phát triển”1 (Kế hoạch “cộng đồng tự vệ”, “cộng đồng phát triển” gồm 2 giai đoạn (giai đoạn 1 từ 1-3-1971 đến hết tháng 7-1971, giai đoạn 2 từ tháng 8-1971 đến hết tháng 1-1972)) nhằm thực hiện ba mục tiêu: “tự phòng vệ, tự quản lý, tự phát triển”2 (Mục tiêu tự phòng: Phải đạt được tối thiểu 95% cấp A, B, diệt cho được 14.000 cơ sở hạ tầng, loại trừ 6.000 cơ sở nội tuyến của ta trong hàng ngũ của chúng. Phát triển phòng vệ dân sự lên 4-5 triệu, sử dụng nhân dân tự vệ đóng đồn thay dân vệ, chuyển dân vệ thành cảnh sát, bảo an và tăng cường cho chủ lực, tổ chức mạng tình báo. Lập Bộ Tư lệnh cảnh sát, phát triển cảnh sát (đạt 98% số xã có phân chi, tức là 2.130 phân chi). Dự định tháng 4-1971 kiểm kê xong nhân số và tháng 7-1971 lập xong mạng tình báo đại chúng. Mục tiêu tự quản: Bầu cử xong 100% xã ấp loại A, B, bố trí đủ 100% nhân viên trong bộ máy tề, xã, ấp, tăng cường huấn luyện tề tại tỉnh và trung tâm Vũng Tàu, lập các toán lưu động giám sát ở cấp tỉnh hướng dẫn tể xã và kiểm tra theo dõi hoạt động. Giúp nhân dân vào các tổ chức chính trị, đảng phái, đoàn thể, tôn giáo phản động, tăng cường công tác thông tin đại chúng nhồi nhét tư tưởng chống cộng. Mục tiêu tự túc và phát triển: Tiếp tục thực hiện chính sách ruộng đất phản động, khuyên khích phát triển sản xuất, mở rộng diện tích cấy lúa, cải tiến nông ngư nghiệp và chăn nuôi, bảo đảm đủ ăn và cố gắng đạt 2 sản phẩm chính để xuất cảng là lúa và cao su, thực hiện cho được 20% số xã tự túc, trên không phải cung cấp). Để thực hiện ba mục tiêu trên, chính quyền Sài Gòn triển khai chiến dịch “Đại bàng”, “Vì dân”, “Phượng Hoàng”..., quyết liệt quân sự hóa bộ máy kìm kẹp, tăng cường lực lượng cảnh sát, Phượng Hoàng, mật vụ, tình báo... nhằm phát hiện, tiêu diệt cơ sở nội tuyến, lực lượng vũ trang cách mạng, lấn chiếm vùng giải phóng, tiến công biên giới, đánh phá kho tàng, cắt đứt hành lang tiếp tế, tiêu hao, tiến tới tiêu diệt hoàn toàn Quân giải phóng. Có thể nói năm 1971 công cuộc bình định của Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã phát triển tới đỉnh cao nhất3 (Ban Tổng kết chiến tranh B2: Báo cáo tổng kết kinh nghiệm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (B2), tháng 2-1979, tr.154).


Với quyết tâm đẩy mạnh đánh phá bình định, tạo thế tạo lực trên chiến trường miền Nam trong năm 1971, Trung ương Cục ban hành Chỉ thị số 01/CT-71 chỉ đạo toàn Đảng, toàn quân bám chặt xã ấp, tổ chức quần chúng xây dựng cơ sở, khôi phục lực lượng, đánh phá bình định.


Trên chiến trường Khu 8, từ giữa năm 1971, cơ quan tiền phương Quân khu về Mỹ Tho, bám sát địa bàn để chỉ đạo phong trào1 (Ở cách bót Bà Hơn không đầy 300m, cách bót Miếu Bà 800m, cách đồn Cây Mít khoảng 1km). Theo đó, lực lượng Quân giải phóng cấp khu, cấp tỉnh, huyện đều về địa bàn kiên cường bám trụ, xốc lại phong trào. Do vậy phong trào đánh phá bình định bắt đầu chuyển động và phát triển, ở Bến Tre, các trận đánh bình định xảy ra liên tiếp ở Mỏ Cày Nam, Giồng Trôm, Phước Thạnh (Châu Thành), Thới Thuận (Bình Đại), Cồn Bững (Thạnh Phong, Thạnh Phú)... Điển hình như Tiểu đoàn 516 tiến công lực lượng khai quang ở Thạnh Phú Đồng; Tiểu đoàn 263 tiến công Liên đội 72 bảo an Gò Công ở An Phước, Phú An Hòa; phục kích đoàn bình định ở Quới Sơn; Đại đội đặc công A tập kích đồn Lương Quới, Bình Thành... ở Mỹ Tho, Tiểu đoàn 269 đặc công tập kích các trận địa pháo địch ở Cai Lậy, Vĩnh Kim; Tiểu đoàn 261A đánh khu trù mật Mỹ Phước Tây, đồn chợ Bình Phú (Cai Lậy); Tiểu đoàn 514C tập kích trung tâm huấn luyện Tân Hiệp...


Đến cuối năm 1971, “bộ đội huyện, tỉnh và chủ lực quân khu được bổ sung, củng cố một bước và đứng vững trên địa bàn trọng điểm của mình. Phong trào đấu tranh chính trị, binh vận của quần chúng cũng có chuyển biến mới. Từng bước đã hình thành được thê kết hợp ba thứ quân (chủ lực, địa phương, du kích) và thế tiến công địch bằng ba mũi (quân sự, chính trị, binh vận) ở cơ sở. Với tinh thần tích cực tiến công và phản công bằng phương thức thích hợp, ta đã phá lỏng, phá rã kìm kẹp của địch ở nhiều nơi và mở được một số lõm, phát triển được thế làm chủ của nhân dân ở xà ấp, làm cho thế kìm kẹp của địch giảm hiệu lực. Ta đã vượt qua được thử thách ác liệt, của thời kỳ khó khăn nghiêm trọng nhất (1969-1971), tạo ra những điều kiện mới để cùng toàn Miền thực hiện nhiệm vụ chiến lược mới”1 (Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu 8: Quân khu 8 - Ba mươi năm kháng chiến (1945-1975), Sđd, tr.724).


Trên chiến trường Khu 9, công cuộc bình định của Mỹ và chính quyền Sài Gòn sau 3 năm đà thu được, những “thành công rất khả quan". Ngày 1-6-1971, tại buổi lễ mừng chiến thắng U Minh và khánh thành chi khu Hiếu Lễ, Tổng thống Nguyền Văn Thiệu tuyên bố”: “Bộ đội tập trung của Việt cộng không còn nữa, hiện nay chỉ còn 100 du kích ở U Minh Thượng và 100 du kích ở U Minh Hạ, chỉ hoạt động kiểu du kích mà thôi”2 (Dẫn theo Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu 9: Quân khu 9 - Ba mươi năm kháng chiến (1945-1975), Sđd, tr.495, 497).


Đối với Quân giải phóng, thực hiện Chỉ thị số 01/CT-71 của Trung ương Cục, trước tình hình khó khăn, đặc biệt là vũ khí, Quân khu chủ trương “đặc công hóa bộ binh” để tiết kiệm đạn, đồng thời phát động phong trào dùng vũ khí tự tạo, sửa chữa bom đạn lép, qua biên giới mua súng đạn, chất nổ dù đường vận chuyển khó khăn và vô cùng nguy hiểm.


Tháng 9-1971, Bộ Tư lệnh Quân khu trực tiếp chỉ huy Trung đoàn 2, Trung đoàn 10 và Trung đoàn 20 tiến công lực lượng chủ yếu của quân ngụy đang chiếm đóng ở U Minh3 (Lực lượng địch tại U Minh lúc này có Sư đoàn 21 (đủ 12 tiểu đoàn), Trung đoàn 14 Sư đoàn 9 (có 4 tiểu đoàn), 5 tiểu đoàn pháo 105 và 155 ly, 7 giang đoàn; quân bảo an có 12 tiểu đoàn và tương đương, 46 đại đội và hơn 60 trung đội dân vệ), diệt 1 căn cứ, 1 đồn, 2 tiểu đoàn, 2 sở chỉ huy nhẹ cấp trung đoàn, 5 đại đội, đánh thiệt hại nặng 4 tiểu đoàn khác, loại khỏi vòng chiến đấu 2.057 tên4 (Dẫn theo Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu 9: Quân khu 9 - Ba mươi năm kháng chiến (1945-1975), Sđd, tr.495, 497).


Phối hợp với chiến trường U Minh, lực lượng đặc công khu đánh căn cứ Xẻo Rô, chi khu Thứ Ba. Trung đoàn 1 tiến đánh 11 đại đội bảo an, diệt 3 đồn ở Xà Phiên. Lực lượng đặc công, trinh sát Sóc Trăng tiến công chi khu Phú Lộc. Tiểu đoàn 3 U Minh tập kích địch ở Rau Dừa; phối hợp với bộ đội huyện Cái Nước tiến công 5 đồn ở Bình Hưng1 (Theo tài liệu của Phòng Dân quân B2, năm 1969 Khu 9 có 40 đội du kích hoạt động được, 6 tháng đầu năm 1971 lên 180 đội, cuối năm 1971 lên 265 đội. Tuy nhiên, hiệu suất chiến đấu của du kích còn thấp, 4 du kích xả mới diệt được 1 địch, 23 du kích ấp mối diệt được 1 địch)...


Trong năm 1971, trên mặt trận đánh phá bình định, Quân giải phóng đã đánh 168 trận vào 10 thị xã, 52 chi khu, thi trấn, diệt gần 4.000 tên địch, diệt 6 chi khu (Khu 9 diệt 4, Khu 6 diệt 1, đặc công Miền diệt 1); đánh 156 trận vào 32 căn cứ và hậu cứ địch, 11 sân bay, diệt trên 5.000 tên, phá hủy 57 máy bay, 157 xe quân sự, 57 pháo, 22 kho; đánh 369 trận giao thông, diệt trên 5.000 tên, phá 800 xe quân sự, 12 đầu máy, 107 toa xe, bắn chìm và cháy 443 tàu xuồng2 (Ban Tổng kết chiến tranh B2: Báo cáo tổng kết kinh nghiệm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (B2), tháng 2-1979, tr154). Mặc dù địch và ta còn giằng co quyết liệt, nhưng tình hình nông thôn đã vượt qua thời kỳ khó khăn nghiêm trọng nhất, ta đã chặn địch lại được, đã đánh chúng ở nhiều nơi và đang tạo ra những điều kiện hết sức cơ bản, đòi hỏi phải tiếp tục củng cố một cách khẩn trương vững chắc để chuyển sang bước hai đánh phá bình định”3 (Nghị quyết Hội nghị Trung ương Cục lần thứ 11 tháng 10-1971).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #49 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2023, 09:39:03 am »

2. Phối hợp đánh bại các cuộc hành quân của Mỹ trên biên giới và chiến trường Campuchia

Bước vào năm 1971, Mỹ ráo riết thực hiện chiến lược “Đông Dương hóa chiến tranh”, liên tiếp tổ chức các cuộc hành quân lớn nhằm truy tìm căn cứ, kho tàng của Quân giải phóng, cắt đứt hành lang vận tải chiến lược từ hậu phương lớn miền Bắc “quá cảnh” qua đất Campuchia vào chiến trường Nam Bộ.


Ngày 4-2-1971, Mỹ huy động toàn bộ lực lượng Quân đoàn 3 ngụy gồm 34 tiểu đoàn bộ binh, 5 trung đoàn thiết giáp, 8 tiểu đoàn pháo, 5 tiểu đoàn quân đội Lon Non và 15 phi đoàn không quân Mỹ mở cuộc hành quân “Toàn Thắng 1-71 NB" đánh vùng đông bắc Campuchia.


Nhận biết được âm mưu của đôì phương, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền quyết định tổ chức chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân “Toàn Thắng 1-71 NB”, không cho đối phương lấn chiếm đường 7 nhằm bảo vệ kho tàng của Quân giải phóng dọc vùng biên giới. Chiến dịch diễn ra ác liệt, được chia làm 3 đợt: Đợt 1 (từ 4-2 đến 4-3-1971); Đợt 2 (từ 5-3 đến 16-4-1971); Đợt 3 (từ 17-4 đến 24-6-1971).


Trong đợt 1, lực lượng thực hiện chiến dịch bao gồm Sư đoàn 9 (thiếu Trung đoàn 1), Trung đoàn 174 (Sư đoàn 5), Trung đoàn 165 (Sư đoàn 7) do Tư lệnh Sư đoàn Nguyễn Thới Bưng và Chính ủy Sư đoàn Nguyễn Văn Quảng trực tiếp chỉ huy đảm nhiệm khu vực bắc đường sô 7, Suông, Chúp.


Trong đợt 2, đợt 3, lực lượng tham gia chiến dịch được huy động có quy mô tương đương cấp quân đoàn, bao gồm 3 sư đoàn bộ binh (5, 7, 9), 2 trung đoàn pháo binh (75, 96), 1 trung đoàn đặc công, 1 trung đoàn công binh, 3 đại đội độc lập của 3 căn cứ (10, 20, 30) do đồng chí Trần Văn Trà - Tư lệnh đoàn 301 trực tiếp chỉ huy1 (Ngày 18-3 -1971, Bộ Tư lệnh Miền quyết định thành lập cơ quan chỉ huy tiền phương lấy mật danh là Đoàn 301 do đồng chí Trần Văn Trà làm Tư lệnh. Đoàn 301 chỉ huy lực lượng có quy mô tương đương cấp quân đoàn bao gồm Sư đoàn 9, 7, 5, Trung đoàn pháo binh 28, Tiểu đoàn súng máy phòng không 12 và nhiều đơn vị binh chủng, phục vụ khác. Sau khi thành lập, Đoàn 301 trực tiếp tham gia chỉ huy đợt 2, đợt 3 chiến dịch).


Sau 3 tháng chiến đấu dũng cảm, ngày 31-5-1971 chiến dịch kết thúc, cuộc hành quân “Toàn Thắng 1-71 NB” của Mỹ - ngụy bị đánh bại1 (Quân giải phóng đã đánh tan Chiến đoàn 8, một trung đoàn xe tăng, 18 tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn pháo binh, 6 chi đoàn thiết giáp, bắn rơi 238 máy bay, 1.509 xe quân sự...). Quân giải phóng đã giữ vững căn cứ và bảo vệ thành công hành lang vận tải chiến lược từ hậu phương lớn miền Bắc vào chiến trường Nam Bộ.


Sau thất bại cuộc hành quân "Toàn Thắng 1-71 NB”, ngày 20-8-1971, tướng Mỹ MacKen chỉ huy 15 lữ đoàn quân Lon Non mở cuộc hành quân “Chen La 2” đánh vào Côngpôngthom. Cuộc hành quân được máy bay ném bom B52 yểm trợ nhằm tiến chiếm đường số 6, đoạn nối từ Tăngcốc đến Côngpôngthom vốn là hành lang của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam nối từ đông sang tây.


Trước âm mưu của Mỹ, ngày 1-10-1971, Quân ủy, Bộ Tư lệnh Miền quyết định mở chiến dịch phản công trên đường số 6 với quết tâm đánh bại cuộc hành quân “Chen La 2”. Bộ Tư lệnh chiến dịch được thành lập do đồng chí Đồng Văn Cống làm Tư lệnh, đồng chí Lê Văn Tưởng làm Chính ủy, đồng chí Lê Ngọc Hiền làm Phó Tư lệnh. Tham gia chiến dịch gồm có lực lượng Sư đoàn 9 (E 205, 207, 201, 203), lực lượng khu căn cứ C40 (2 trung đoàn, hai tiểu đoàn 32, 22, 1 đại đội đặc công nước); phía bạn Campuchia có hai tiểu đoàn cùng một số đại đội bộ đội địa phương.


Ngày 25-10-1971, chiến dịch phản công trên đường số6 diễn ra. Quân giải phóng đã lần lượt tiến công Phumđa, Anđôngpô, Rumluông, Barai, Tăngcốc, Krum, Anđét, Tăngcraxăng, Xăngtúc... Đến ngày 13-11-1971, Quân giải phóng làm chủ khu vực rộng lớn từ bắc Phumđa đến bắc Tăngcôc, giải phóng đường 6 một đoạn dài 12km.


Trước sức tiến công mãnh liệt của Quân giải phóng, tinh thần binh lính Lon Non hoàn toàn suy sụp. Trước nguy cơ toàn bộ lực lượng bị tiêu diệt, một bộ phận lớn tháo chạy về hướng Phnôm Pênh. Trên các trục lộ giao thông 3. 4, 5 thuộc tuyến phòng thủ Phnôm Pênh bị Quân giải phóng chọc thủng lực lượng lính Lon Non và quân ngụy Sài Gòn phòng thủ ở đây đang bị Quân giải phóng uy hiếp tiêu diệt, sân bay Pochentông đã bị Quân giải phóng tiến công nhiều lần1 (Theo báo cáo hoạt động ở Campuchia trong năm 1971 số 7933 lưu phòng Tư liệu Ban Tổng kết chiến tranh B2, trên mặt trận lộ 4, ta đã tiêu diệt gần 1 vạn tên (trong đó có khoảng 1.300 ngụy Sài Gòn), diệt 8 tiểu đoàn (có 1 tiểu đoàn ngụy Sài Gòn), bắn rơi 31 máy bay, phá hủy 390 xe, giải phóng hơn 80km và hơn 10.000 dân trên các mặt trận lộ 3, lộ 5 sân bay Pochentông, đánh 2 trận tập kích bằng đặc công và 9 trận pháo kích. Diệt 805 tên (có 350 giặc lái và nhán viên kỹ thuật), diệt 1 tiểu đoàn bảo vệ sân bay, phá hủy 131 máy bay, 100 xe quân sự, 9 kho...).


Ngày 4-12-1971, cuộc hành quân “Chen La 2” bị Quân giải phóng đánh bại, chiến dịch phản công trên đường 6 kết thúc2 (Diệt và bắt 15.397 tên; diệt từ 10 đến 12 tiểu đoàn, 17 đại đội, tiêu hao nặng và làm tan rã 25 tiểu đoàn, 2 sở chỉ huy lữ, tiêu hao 13 tiểu đoàn và Sở Chỉ huy “Chen La 2”, phá hủy 53 xe, 10 khẩu pháo, thu 3.691 súng các loại, 150 tấn đạn, pháo, 100 máy thông tin... Trong đó có hai khẩu pháo 105mm, ta cho xe kéo về để sử dụng trong các trận đánh nám 1972). Đồng chi Hoàng Văn Thái đánh giá Sư đoàn 9 và các đơn vị tham gia chiến dịch “đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”. Đó là thắng lợi của sự vận dụng sáng tạo cách đánh chiến dịch phản công, nghệ thuật chọn đúng mục tiêu, chớp thời cơ khi đối phương chuẩn bị kết thúc cuộc hành quân, chủ động tiến công, linh hoạt trong chuyển hướng tiến công, tạo thế chia cắt, bao vây, cô lập, tiến công, truy kích, làm tan rã từng mảng, từng bộ phận lực lượng đổĩ phương.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM