Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 11:32:20 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 6  (Đọc 29467 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #30 vào lúc: 15 Tháng Hai, 2023, 03:00:22 pm »

ANH HÙNG NGUYỄN SÔNG THAO
(Liệt sĩ)


Nguyễn Sông Thao sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã Long Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An, nhập ngũ tháng 4 năm 1968. Khi hy sinh đồng chí là thượng úy, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3 bộ binh, trung đoàn 273, sư đoàn 341, Quân khu 4, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Từ tháng 9 năm 1977 đến ngày hy sinh (18 tháng 7 năm 1978), Nguyễn Sông Thao liên tục chiến đấu ở chiến trường Tây Nam. Nguyễn Sông Thao đã đánh 40 trận, chỉ huy mưu trí, linh hoạt, thường xuyên có mặt ở những nơi khó khăn ác liệt. Hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.


Trận Pa Vét (Xoài Riêng) ngày 24 tháng 10 năm 1977, Nguyễn Sông Thao chỉ huy đại đội đánh bật 19 đợt tấn công của 1 tiểu đoàn địch, diệt nhiều tên (có 65 tên bỏ xác tại trận) thu 52 súng, giữ vững trận địa.


Trận Pờ-ra-sốt (trên đường số 1, tỉnh Xoài Riêng) ngày 17 tháng 2 năm 1977, Nguyễn Sông Thao chỉ huy tiểu đoàn luồn sâu 17 ki-lô-mét vào phía sau địch, nổ súng đúng thời gian quy định, tấn công kiên quyết, diệt 120 tên, bắt 11 tên, thu 34 súng (có 2 pháo 105 ly). Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.


Trận phục kích 2 tiểu đoàn địch ở cầu Ta Cưng (tỉnh Xoài Riêng) ngày 3 tháng 1 năm 1978, Nguyễn Sông Thao bình tĩnh, dũng cảm chỉ huy đơn vị đánh nhanh, đánh mạnh, đồng loạt xung phong chia cắt đội hình địch, đã diệt 170 tên địch, thu 75 súng; đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn địch. Quá trình chiến đấu, Nguyễn Sông Thao bị thương vào tay trái, tự băng bó lấy rồi tiếp tục chỉ huy đơn vị đánh địch cho đến khi trận đánh kết thúc.


Trận ngày 18 tháng 7 năm 1978, ở ngã ba Xăng Ke, Nguyễn Sông Thao chỉ huy đơn vị đánh địch và đã anh dũng hy sinh trong chiến đấu.


Khi còn sống, Nguyễn Sông Thao luôn luôn gương mẫu, giản dị khiêm tốn, đoàn kết thương yêu đồng đội, được anh em trong đơn vị yêu mến tín nhiệm.


Trong chiến đấu ở Tây Nam, Nguyễn Sông Thao đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công hạng ba.


Ngày 20 tháng 12 năm 1979, Nguyễn Sông Thao được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #31 vào lúc: 15 Tháng Hai, 2023, 03:01:01 pm »

ANH HÙNG PHẠM ĐÌNH THIỆN
(Liệt sĩ)


Phạm Đình Thiện sinh năm 1957, dân tộc Kinh, quê ở khu phố 4, thị xã Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình, nhập ngũ tháng 5 năm 1974. Khi hy sinh đồng chí là trung sĩ, tiểu đội trưởng trinh sát, đại đội 21, trung đoàn 429, sư đoàn 302, Quân khu 7, đoàn viên Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.


Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Phạm Đình Thiện tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, chiến đấu dũng cảm, hoàn thành tốt nhiệm vụ.


Từ tháng 9 năm 1977 đến ngày hy sinh (11 tháng 7 năm 1978) đồng chí đã liên tục chiến đấu ở chiến trường Tây Nam, luôn thể hiện quyết tâm cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ. Phạm Đình Thiện đã nhiều lần chỉ huy tiểu đội luồn sâu nắm được chính xác kịp thời, phục vụ đắc lực cho chỉ huy chiến đấu thắng lợi.


Ngoài nhiệm vụ trinh sát, Phạm Đình Thiện còn được giao trực tiếp chỉ huy đơn vị chốt giữ một số mục tiêu trên đường số 7. Có lần chỉ huy tiểu đội liên tục 5 ngày đánh địch phản kích, diệt 50 tên địch, bắt 2 tên, thu 20 súng, giữ vững trận địa được giao.


Đặc biệt ngày 11 tháng 7 năm 1978, Phạm Đình Thiện chỉ huy tổ 6 người gỡ bãi mìn của địch để mở đường cho đơn vị tấn công. Nhiệm vụ rất nặng nề phức tạp vì địch gài nhiều loại mìn, Phạm Đình Thiện đã làm tốt công tác lãnh đạo tư tưởng, xây dựng quyết tâm và bàn cách tháo gỡ.    Trong quá trình thực hiện gặp những trường hợp khó khăn phức tạp về kỹ thuật, đồng chí đều xung phong nhận phần khó khăn nguy hiểm về mình, để đồng đội được an toàn. Đồng chí đã góp phần tích cực cùng tiểu đội phá gỡ được 80 quả mìn. Khi gặp trường hợp khó khăn nguy hiểm Phạm Đình Thiện cho anh em lui ra, tự mình tìm cách gỡ. Trong lúc đang tháo phá thì mìn xì khói, để bảo đảm an toàn cho đồng đội, đồng chí đã dũng cảm nằm đè lên quả mìn, Phạm Đình Thiện đã anh dũng hy sinh.


Khi còn sống, Phạm Đình Thiện luôn gương mẫu trong mọi việc, cần cù, giản dị, được đồng đội yêu mến.


Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng ba,


Ngày 20 tháng 12 năm 1979, Phạm Đình Thiện được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #32 vào lúc: 15 Tháng Hai, 2023, 03:01:35 pm »

ANH HÙNG TRẦN VĂN THẾ
(Liệt sĩ)
   

Trần Văn Thế sinh năm 1958, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thanh, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, nhập ngũ tháng 6 năm 1975. Khi hy sinh Trần Văn Thế là trung sĩ, trung đội trưởng đại đội 1, tiểu đoàn 502, bộ đội địa phương tỉnh Đồng Tháp, Quân khu 9, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Từ tháng 1 năm 1978 đến ngày 15 tháng 12 năm 1978, Trần Văn Thế chiến đấu ở biên giới huyện Hồng Ngự, đã đánh 15 trận. Đơn vị do Trần Văn Thế chỉ huy đã diệt hàng trăm tên dịch. Riêng Trần Văn Thế diệt 24 tên, bắn bị thương 9 tên khác thu 7 súng (1 B40, 1 M79, 1 CKC, 4 AK), phá hủy 1 xuồng.


Trận ngày 13 tháng 10 năm 1978, ở Tân Hội, Trần Văn Thế chỉ huy tiểu đội đánh thắng vào chính diện quân địch. Địch bắn dữ dội, Trần Văn Thế bị thương vào vai vẫn tiếp tục chiến đấu và động viên mọi người kiên quyết đánh địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đánh chiếm khu vực được giao. Khi có lệnh rút, Trần Văn Thế còn dìu được 2 thương binh về phía sau an toàn.


Ngày 14 tháng 10 năm 1978, địch dùng lực lượng đông hơn ta nhiều lần đánh vào trận địa chốt của đơn vị. Trần Vãn Thế chỉ huy trung đội đánh địch quyết liệt, đánh lui các đợt tấn công của chúng. Thấy địch rút, đồng chí dẫn đầu đơn vị truy kích. Kết quả trận này địch phải bỏ lại 13 xác chết, ta thu 7 súng.


Ngày 15 tháng 12 năm 1978, 1 tiểu đoàn địch mở nhiều đợt tấn công ác liệt vào trận địa của trung đội, Trần Văn Thế chỉ huy trung đội đánh địch quyết liệt suốt từ sáng đến chiều. Khi gần hết đạn thấy địch còn đông và đang chuẩn bị để mở đợt tấn công mới, đồng chí đã dùng súng AK và M79 bắn vào đội hình địch, diệt 1 số, thu hút hỏa lực về phía mình. Địch tập trung hỏa lực bắn về phía đồng chí. Trần Văn Thế bị thương nặng vẫn không rời trận địa, tổ chức cho đơn vị đưa thương binh, tử sĩ về phía sau. Trần Văn Thế bị trúng đạn lần thứ hai đã anh dũng hy sinh. Trong trận này đồng chí đã diệt hàng chục tên địch. Gương chiến đấu dũng cảm của Trần Văn Thế đã động viên cổ vũ mọi người trong đơn vị noi theo.


Trần Văn Thế được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhất


Ngày 20 tháng 12 năm 1979, Trần Văn Thế được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #33 vào lúc: 15 Tháng Hai, 2023, 03:02:07 pm »

ANH HÙNG HÀ THỊ SẠN


Hà Thị Sạn sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Hội, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là xã đội phó xã Tân Hội, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, Quân khu 9, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Hà Thị Sạn làm giao liên ở xã. Năm 1975 - 1976 là hội phó Hội phụ nữ xã. Đến tháng 4 năm 1977, đồng chí được bầu vào Ban chấp hành Đảng bộ xã và được giao nhiệm vụ xã đội phó.


Từ tháng 4 năm 1977 đến tháng 1 năm 1979, Hà Thị Sạn liên tục tham gia chiến đấu bảo vệ xã ấp. Đồng chí đã nêu cao tinh thần tích cực đánh địch, chỉ huy linh hoạt mưu trí. Đơn vị đồng chí đã diệt hơn 100 tên địch, có 50 tên bỏ xác tại trận. Riêng đồng chí diệt được 6 tên, thu 4 súng.


Một số thành tích điển hình:

Trận ngày 28 tháng 4 năm 1977 ở Ca-rông, địch có 1 đại đội, Hà Thị Sạn chỉ huy một mũi gồm 12 dân quân, diệt 6 tên địch, thu 6 súng góp phần cùng mũi khác đánh bật địch về bên kia biên giới.


Trận đánh địch ở Mường Ông Hối (tháng 8 năm 1978) Hà Thị Sạn chỉ huy 9 dân quân phục kích. Một trung đội địch lọt vào trận địa, đồng chí chỉ huy đơn vị nổ súng mãnh liệt, diệt một số tên, buộc địch phải tháo chạy, bỏ lại 4 xác chết và 2 súng.


Trận ngày 15 tháng 9 năm 1978, Hà Thị Sạn chỉ huy dân quân phối hợp với tiểu đoàn bộ đội tỉnh tập kích 1 tiểu đoàn địch ở Cầu Tròn. Mũi do đồng chí chỉ huy đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, diệt 12 tên địch, bắt 2 tên, thu 1 số súng.


Trận ngày 14 tháng 11 năm 1978, 1 tiểu đoàn địch tiến dọc theo sông Sở Thượng đánh vào xã. Thấy một số dân quân thiếu bình tĩnh, Hà Thị Sạn đi sát từng người động viên kiên quyết đánh địch. Quá trình chiến đấu, đồng chí chỉ huy rất linh hoạt, mưu trí diệt nhiều địch góp phần cùng bộ đội địa phương huyện đánh bại cánh quân này, bảo vệ được đất, được dân.


Hà Thị Sạn luôn gương mẫu, khiêm tốn, được đồng đội và nhân dân tin yêu.


Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhất.


Ngày 20 tháng 12 năm 1979, Hà Thị Sạn được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #34 vào lúc: 15 Tháng Hai, 2023, 03:02:40 pm »

ANH HÙNG NGUYỄN ĐÌNH KHOA


Nguyễn Đình Khoa sinh năm 1940, dân tộc Kinh, quê ở xã Quỳnh Xuân, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, nhập ngũ tháng 4 năm 1959. Khi được tuyên dương Anh hùng, Nguyễn Đình Khoa là thiếu tá, trung đoàn phó, trung đoàn 917 Không quân, sư đoàn 372, Bộ tư lệnh Không quân, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Từ tháng 5 năm 1975 đến tháng 4 năm 1979, Nguyễn Đình Khoa tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu ở chiến trường Tây Nam, đồng chí luôn thể hiện quyết tâm cao, chịu khó nghiên cứu, tìm cách đánh thích hợp, trực tiếp tham gia chiến đấu để rút kinh nghiệm bồi dưỡng dìu dắt chiến sĩ lái.


Nguyễn Đình Khoa đã đánh 22 trận, đều hoàn thành tốt nhiệm vụ. Có trận máy bay bị trúng đạn phòng không của địch, đồng chí vẫn dũng cảm đánh tiếp rồi bình tĩnh xử lý đưa máy bay về căn cứ an toàn. Nguyễn Đình Khoa đã chỉ huy đơn vị đánh trúng 2 sở chỉ huy trung đoàn địch, diệt hàng trăm tên, bắn cháy 3 xe chở đạn, hỗ trợ đắc lực cho bộ binh trong chiến đấu. Ngoài ra đồng chí còn tham gia vận chuyển đạn, lương thực tới trận địa, chuyển hàng trăm thương binh từ hỏa tuyến về phía sau an toàn và chở hàng trăm lượt cán bộ đi trinh sát chuẩn bị chiến trường được tốt.


Ngày 6 tháng 12 năm 1977, Nguyễn Đình Khoa chỉ huy 1 biên đội bắn chính xác hàng ngàn viên đạn vào đội hình 1 trung đoàn địch càn quét vùng Bến Sỏi (Tây Ninh) diệt nhiều địch, bắn cháy nhiều xe, tạo điều kiện tốt cho bộ binh ta đánh thiệt hại nặng trung đoàn này, bẻ gãy cuộc tấn công của địch, bảo vệ tính mạng tài sản của dân.


Ngày 14 tháng 1 năm 1978, mặc dù hỏa lực địch bắn lên mạnh, máy bay bị thương lần thứ nhất, Nguyễn Đình Khoa vẫn tiếp tục bay lượn nhiều vòng và bắn trúng vào đội hình địch. Máy bay bị thương lần thứ hai đồng chí vẫn tiếp tục bay lượn nhiều lần và bình tĩnh bắn một loạt đạn nữa vào đội hình địch, diệt thêm một số sau đó mới cho máy bay hạ cánh xuống một khu vực an toàn. Trận này Nguyễn Đình Khoa đã chỉ huy biên đội đánh trúng sở chỉ huy trung đoàn địch, phá hủy 1 trận địa pháo, diệt nhiều tên, tạo điều kiện tốt cho bộ binh đánh chiếm các điểm cao ở Đầm Chít được thuận lợi.


Ngày 4 tháng 2 năm 1978, Nguyễn Đình Khoa chỉ huy 1 biên đội hiệp đồng chặt chẽ với máy bay A37 đánh vào các mục tiêu địch ở biên giới Hà Tiên, phá hủy 1 sở chỉ huy trung đoàn địch, tạo điều kiện tốt cho bộ binh diệt 3 tiểu đoàn địch.


Nguyễn Đình Khoa luôn gương mẫu, có trách nhiệm cao, tận tình bồi dưỡng, đào tạo lái mới. Bản thân chịu khó rèn luyện kỹ thuật, chiến thuật, sử dụng thành thạo 2 loại máy bay lên thẳng (MI4 và UH1), bay được trong điều kiện khí tượng phức tạp, ngày, đêm, trên đất liền, trên biển, đồng chí đã 5 lần bay chở đạn ra đảo Trường Sa và nhiều lần hạ cánh trên tàu hải quân chính xác.


Nguyễn Đình Khoa đã được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công hạng nhất.


Ngày 20 tháng 12 năm 1979, Nguyễn Đình Khoa được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #35 vào lúc: 15 Tháng Hai, 2023, 03:03:09 pm »

ANH HÙNG LÊ KHƯƠNG


Lê Khương sinh năm 1944, dân tộc Kinh, quê ở xã Tịnh Bình, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, nhập ngũ tháng 7 năm 1965. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là thượng úy, Đại đội phó trung đoàn 935 không quân, sư đoàn 372, Bộ tư lệnh Không quân, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Từ tháng 8 năm 1975 đến tháng 2 năm 1979, Lê Khương chiến đấu ở biên giới Tây Nam, đã đánh 38 trận, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đồng chí trực tiếp đánh và cùng đơn vị diệt 8 sở chỉ huy sư đoàn, trung đoàn địch, 20 lần đánh trúng đội hình bộ binh địch, phá hủy 7 trận địa pháo (22 khẩu từ 82 đến 130 ly), 2 kho quân sự lớn, 23 xe (có 3 xe tăng); đánh chìm, đánh hỏng nặng 5 tàu chiến. Trong các trận hiệp đồng đồng chí đã chi viện đắc lực cho bộ binh, xe tăng và hải quân ta đánh địch được thuận lợi ít bị thương vong.


Ngày 6 tháng 5 năm 1978, Lê Khương chỉ huy biên đội lần đầu sử dụng 4 máy bay F5 (loại máy bay lấy được của Mỹ - ngụy trước đây), bay thấp, lượn vòng trong điều kiện hỏa lực phòng không của địch từ dưới đất bắn lên dữ dội, đã ném bom bắn phá vào đội hình của một tiểu đoàn địch ở khu vực Tà Nốt, Xa Mát (Tây Ninh). Trận đánh thắng đã phá vỡ kế hoạch hành quân lấn chiếm của chúng.


Trong 2 ngày 3 và 4 tháng 7 năm 1978, đồng chí đã 5 lần chỉ huy biên đội đánh trúng đội hình của 2 trung đoàn địch ở khu vực điểm cao 62 và 105 (biên giới Tây Ninh) phá hủy 15 xe quân sự, diệt nhiều địch, chi viện đắc lực cho bộ binh diệt 400 tên, thu 10 tấn vũ khí, bẻ gãy các mũi tấn công của địch, bảo vệ được đất, bảo vệ được dân.


Từ ngày 24 tháng 7 đến ngày 26 tháng 7 năm 1978, Lê Khương đã 4 lần chỉ huy biên đội vượt lưới lửa phòng không của địch, ném bom phá hủy 11 khẩu pháo 105 và 130 ly, nhiều xe vận tải chở đồ dùng quân sự và diệt hàng trăm tên địch.


Ngày 7 tháng 1 năm 1979 đồng chí chỉ huy biên đội bay thấp, bất ngờ đánh phá sân bay Pô-chen-tông, làm cho địch hốt hoảng bỏ chạy, tạo điều kiện cho bộ binh phát triển đánh chiếm sân bay được nhanh chóng, thu 19 máy bay và rất nhiều xe cộ, đồ dùng quân sự. Trận đánh thắng đã tạo thuận lợi cho bộ binh liên quân Việt Nam - Cam-pu-chia phát triển tiến vào giải phóng Phnôm-pênh trước thời gian quy định.


Lê Khương luôn chịu khó rèn luyện, nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật và tích cực dìu dắt đồng đội cùng tiến bộ, được mọi người tin yêu.


Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công hạng nhì.


Ngày 20 tháng 12 năm 1979, Lê Khương được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #36 vào lúc: 15 Tháng Hai, 2023, 03:03:47 pm »

ANH HÙNG ÂU VĂN HÙNG


Âu Văn Hùng sinh năm 1945, dân tộc Cao Lan, quê ở xã Sơn Phú, huyện Định Hóa, tỉnh Bắc Thái, nhập ngũ tháng 11 năm 1965. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là thượng úy lái máy bay, phi đội 4, trung đoàn 937, sư đoàn 372, Bộ tư lệnh Không quân, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Từ tháng 5 năm 1975 đến tháng 1 năm 1979, Âu Văn Hùng đã đánh 55 trận cùng biên đội đánh chìm 8 tầu xuồng chiến đấu; diệt 7 sở chỉ huy địch (có 2 sở chỉ huy chiến đấu địch, 2 sở chỉ huy sư đoàn, 3 sở chỉ huy trung đoàn); phá hủy 6 trận địa pháo, 15 xe quân sự, 1 phà, bắn cháy 3 kho hậu cần, chi viện đắc lực cho bộ binh, hải quân ta đánh địch được tốt.


Ngày 4 tháng 2 năm 1978, 1 trung đoàn bộ binh địch tấn công vào xã Khánh An, Khánh Hội (An Giang), chúng chiếm những lô cốt kiên cố của giặc Pháp xây dựng trước đây và chốt giữ các điểm cao khống chế các con đường độc đạo ngăn chặn mũi tấn công của bộ binh ta. Mặc dù hỏa lực phòng không của địch ở dưới đất bắn lên dữ dội, đồng chí đã dẫn đầu biên đội ngay từ loạt bom đầu đã đánh trúng sở chỉ huy trung đoàn địch. Tiếp đó đồng chí lượn nhiều vòng bắn nhiều loạt đạn và ném bom trúng các công sự kiên cố, trận địa pháo của địch diệt 40 tên. Đồng chí đã tạo điều kiện tốt cho bộ binh ta tấn công diệt nhiều tên, bảo vệ được đất, được dân.


Ngày 24 tháng 9 năm 1979, Âu Văn Hùng dẫn biên đội vượt qua lưới lửa phòng không của địch đến ném bom, bắn phá sở chỉ huy sư đoàn địch, 1 trận địa pháo, khu trung tâm thông tin, kho hậu cần ở Prây Viêng gây cho địch nhiều thiệt hại nặng nề.


Ngày 6 tháng 11 năm 1978, tuy thời tiết xấu, Âu Văn Hùng chỉ huy biên đội bay thấp, bất ngờ đánh chìm 4 tầu, diệt nhiều tên địch, chi viện cho bộ đội ta giải phóng cù lao Xép (trên sông Tiền Giang, sông Hậu Giang giáp biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia). Trận này máy bay của Âu Văn Hùng bị thương, thủng nhiều chỗ, cả thùng dầu, đồng chí vẫn bình tĩnh không nhảy dù, tìm cách lái máy bay về hạ cánh an toàn.


Ngày 20 và 21 tháng 12 năm 1978, Âu Văn Hùng chỉ huy biên đội đánh chìm 2 tầu, đánh bị thương 1 chiếc khác (trên sông Hậu), tạo điều kiện cho bộ binh diệt địch ở đây.


Ngày 3 tháng 1 năm 1979, thấy địch ở Prây Viêng rút chạy qua bến phà Niếc Lương đi về Phnôm-pênh, Âu Văn Hùng chỉ huy biên đội chỉ sau ít phút đã đánh cháy phà và diệt 2 trận địa pháo ở bên kia sông, và đánh chìm 2 tầu, chặt đứt đường rút lui của địch, tao điều kiện tốt cho bộ binh ta bắt sống 600 xe quân sự và hàng ngàn tên địch, thu nhiều vũ khí, đẩy nhanh tốc độ tấn công giải phóng Phnôm-pênh.


Từ ngày 7 đến ngày 17 tháng 1 năm 1979, Âu Văn Hùng đã nhiều lần chỉ huy biên đội đánh trúng nhiều điểm co cụm của địch ở Tà Keo, Phnôm-pênh, đảo Cô Công, diệt 2 trận địa pháo, nhiều cụm quân địch, đánh chìm 2 tầu, tạo thuận lợi cho bộ binh, hải quân ta đánh địch được nhanh chóng, ít thương vong.


Đồng chí tích cực rèn luyện nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật, lái máy bay MIG17, A37 đạt loại giỏi. Trong 45 lần bay thử máy bay hồi phục sửa chữa đồng chí đều bảo đảm được an toàn.


Âu Văn Hùng luôn gương mẫu, khiêm tốn, giản dị, được mọi người trong đơn vị yêu mến.


Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công hạng ba.


Ngày 20 tháng 12 năm 1979, Âu Văn Hùng được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #37 vào lúc: 15 Tháng Hai, 2023, 03:04:23 pm »

ANH HÙNG NGUYỄN VĂN KHÁNG


Nguyễn Văn Kháng sinh năm 1949, dân tộc Kinh, quê ở xã Đông Huy, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, nhập ngũ tháng 5 năm 1968. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là thượng úy lái máy bay, phi đội 2, trung đoàn 934, sư đoàn 372, Bộ tư lệnh Không quân, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Từ tháng 5 năm 1978 đến tháng 1 năm 1979, Nguyễn Văn Kháng đã đánh 45 trận, cùng biên đội diệt gần 400 tên địch; phá hủy 6 xe M113, 12 súng 12,7 ly và 2 pháo 40 ly; phá hủy nặng căn cứ hậu cần ở tây-bắc Xvây-riêng, nhiều trận địa pháo trên cảng Công Pông Xom, diệt nhiều cụm hỏa lực địch trên đảo Cô Công tạo điều kiện cho bộ binh, hải quân của ta diệt địch được thuận lợi, ít bị thương vong, làm chủ chiến trường, thu nhiều vũ khí đạn dược. Riêng đồng chí đánh chìm, đánh hỏng nặng 3 tầu trên sông Công Pông Chàm; phá hủy 5 xe vận tải, 2 trận địa pháo và diệt nhiều địch.


Ngày 6 tháng 5 năm 1978, trận đầu ra quân Nguyễn Văn Kháng nêu cao tinh thần dũng cảm vượt qua nhiều khu vực hỏa lực của địch từ mặt đất bắn lên ném bom và bắn nhiều đạn vào đội hình 1 tiểu đoàn địch, bẻ gãy cuộc càn quét của chúng ở vùng Tà-Nốt Xa Mát (Tây Ninh).


Ngày 26 tháng 5 năm 1978, 1 sư đoàn địch ở khu vực Prây Viêng định đánh sang biên giới ta, đồng chí đã cùng biên đội xuất kích 3 lần, lần nào cũng nêu cao tinh thần dũng cảm, bình tĩnh bay thấp, chọn mục tiêu chính xác, ném bom và bắn chính xác vào các mục tiêu địch. Kết quả trận này Nguyễn Văn Kháng cùng biên đội diệt hàng trăm tên địch, phá hủy 6 xe M113, 12 súng 12,7 ly, 2 pháo 105 ly. Trận đánh thắng đã làm thất bại cuộc hành quân lấn chiếm của địch.


Ngày 26 tháng 9 năm 1978, Nguyễn Văn Kháng cùng biên đội vượt qua nhiều khu vực trận địa phòng không của địch, đến ném bom, bắn phá, diệt 3 trận địa pháo và súng cối, tạo thuận lợi cho bộ binh ta diệt địch ở Prây Viêng được thuận lợi, ít bị thương vong.


Ngày 3 tháng 1 năm 1979, địch rút khỏi Prây Viêng về dừng lại ở Niếc Lương, chống cự ta quyết liệt. Đồng chí đã cùng biên đội bay thấp, bất ngờ, ném bom bắn phá trúng trận địa pháo, bãi để xe, thị trấn Niếc Lương. Khi quay về thấy phà tầu địch chạy trên sông, Nguyễn Văn Kháng đã đánh trúng 1 phà, 1 tầu. Trận này đồng chí đã diệt nhiều địch, tạo điều kiện tốt cho bộ binh ta phát triển đánh địch thuận lợi, thu nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh.


Trận đánh đảo Cô Công ngày 15 tháng 1 năm 1979, tuy tầm hoạt động xa, địa hình chưa biết, thời tiết xấu, trên đảo có nhiều trận địa phòng không của địch, đồng chí vẫn cùng biên đội đánh phá hủy 3 trận địa pháo, đánh chìm 1 tầu chiến, chi viện đắc lực cho hải quân ta đánh chiếm đảo được nhanh chóng, diệt nhiều địch, thu nhiều vũ khí đạn dược.


Nguyễn Văn Kháng tích cực rèn luyện, nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật, xung phong bay thử những chuyến bay F5 mới phục hồi để kiểm tra chất lượng sửa chữa.


Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhất, 1 Huấn chương Chiến công hạng ba.


Ngày 20 tháng 12 năm 1979, Nguyễn Văn Kháng được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #38 vào lúc: 15 Tháng Hai, 2023, 03:05:00 pm »

ANH HÙNG VŨ DUY VANG


Vũ Duy Vang sinh năm 1945, dân tộc Kinh, quê ở xã Đông Mỹ, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, nhập ngũ tháng 2 năm 1965. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là thượng úy, chính trị viên tiểu đoàn 278 công binh, trung đoàn 25, Quân khu 7, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Vũ Duy Vang tham gia chiến đấu ở chiến trường Đông Nam Bộ đã lập thành tích xuất sắc, được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba. Khi phụ trách chính trị viên đại đội 10, Vũ Duy Vang đã góp phần lãnh đạo, chỉ huy đơn vị lập thành tích xuất sắc, đại đội được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Từ tháng 9 năm 1977 đến nay, Vũ Duy Vang liên tục chiến đấu trên chiến trường Tây Nam, luôn thể hiện quyết tâm cao, thường xuyên có mặt ở những nơi khó khăn ác liệt, góp phần quan trọng xây dựng đơn vị tiến bộ hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Bản thân 2 lần bị thương vẫn giữ vững ý chí chiến đấu.


Tháng 5 năm 1978, Vũ Duy Vang chỉ huy một bộ phận đi trinh sát mở đường chuẩn bị cho đơn vị bộ binh tấn công một số mục tiêu trên đường số 13. Địa hình phức tạp, địch ra sức ngăn chặn. Vũ Duy Vang đã xây dựng đơn vị có quyết tâm cao, vượt qua nhiều khó khăn luồn lách đến mục tiêu quy định. Sau khi làm xong nhiệm vụ, trên đường về, gặp địch phục kích, Vũ Duy Vang đã kịp thời chỉ huy đơn vị đánh địch. Bản thân bị thương nhưng vẫn bình tĩnh tổ chức cho anh em đưa thương binh, tử sĩ về phía sau, còn mình tiếp tục chiến đấu diệt 4 tên địch.


Trong 2 tháng 10 và 11 năm 1978, Vũ Duy Vang chỉ huy đơn vị làm nhiệm vụ chốt giữ ở nam Xnun. Có ngày địch tấn công trên 20 đợt vào trận địa của ta. Đơn vị phần lớn là chiến sĩ mới bổ sung chưa có kinh nghiệm chiến đấu, Vũ Duy Vang đã cùng ban chỉ huy xây dựng cho đơn vị có quyết tâm cao, đề xuất cách đánh: gài mìn, lựu đạn ở chính diện và tổ chức lực lượng xuất kích đánh vào sườn và sau lưng địch. Đồng chí đi sát đại đội chốt giữ ở hướng chủ yếu, giúp đỡ xử trí những tình huống khó khăn được kịp thời. Kết quả đơn vị đã đánh lui các đợt phản kích của địch, diệt hàng trăm tên, giữ vững trận địa. Đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.


Cuối tháng 12 năm 1978, đơn vị phân tán làm nhiệm vụ gỡ mìn, khắc phục chướng ngại mở đường cho bộ binh và cơ giới ta phát triển tấn công. Tuy địa hình phức tạp, yêu cầu rất khẩn trương, có nhiều trường hợp phải dò gỡ mìn dưới làn hỏa lực địch, Vũ Duy Vang đã luôn đi sát những bộ phận có nhiều khó khăn ác liệt nhất, động viên giữ vững quyết tâm cho mọi người và chỉ huy đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao bảo đảm cho bộ binh, pháo binh phát triển tấn công địch được nhanh chóng. Quá trình làm nhiệm vụ tuy bị thương đồng chí vẫn ở lại trận địa chiến đấu.


Vũ Duy Vang luôn gương mẫu, sâu sát mọi người, đoàn kết thương yêu đồng đội, nghiêm chỉnh chấp hành chính sách, kỷ luật chiến trường.


Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhì, 2 bằng khen.


Ngày 20 tháng 12 năm 1979, Vũ Duy Vang đã được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #39 vào lúc: 15 Tháng Hai, 2023, 03:05:36 pm »

ANH HÙNG NGUYỄN ĐÌNH TÂM


Nguyễn Đình Tâm sinh năm 1957, dân tộc Kinh, quê ở xã Lai Yên, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây, nhập ngũ tháng 2 năm 1975. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là chuẩn úy, đại đội phó đại đội 8 thiết giáp, tiểu đoàn 3, lữ đoàn 273, Quân đoàn 3, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Từ tháng 12 năm 1977 đến tháng 6 năm 1979, Nguyễn Đình Tâm liên tục chiến đấu ở chiến trường Tây Nam, luôn nêu cao tinh thần tích cực đánh địch, thường xuyên có mặt ở những mũi nhọn tấn công, chiến đấu dũng cảm, mưu trí, 4 lần bị thương không rời vị trí chiến đấu. Đồng chí đã chỉ huy đơn vị bắn cháy 5 xe địch, diệt 85 tên; thu 1 xe M113, 34 súng các loại, góp phần chi viện cho bộ binh diệt nhiều địch, đánh chiếm các mục tiêu được phân công. Riêng đồng chí bắn cháy 2 xe, diệt 37 địch, thu 11 súng.


Trận ngày 19 tháng 7 năm 1978, ở điểm cao 105, Nguyễn Đình Tâm chỉ huy xe dẫn đầu đội hình tấn công của đơn vị. Địch tập trung hỏa lực bắn chặn, đồng chí bị thương vào tay đã nhờ anh em băng cho rồi tiếp tục chiến đấu. Khi phát hiện địch bắn trúng xe bên cạnh, Nguyễn Đình Tâm kịp thời bắn mãnh liệt chi viện cho đồng đội đồng thời cử người sang đưa thương binh về phía sau.


Trận ngày 14 tháng 8 năm 1978, ở điểm cao 119 địch chống cự mạnh, bộ binh ta phát triển gặp khó khăn, đồng chí đã lệnh cho lái xe tăng tốc độ, dũng cảm lao lên đè sập 3 công sự địch, diệt 5 tên. Nguyên Đình Tâm bị thương, máu chảy nhiều, đã dùng tay trái bịt chặt vết thương tay phải bắn trọng liên diệt 2 tên địch đang tháo chạy, và chỉ huy xe chiếm địa hình có lợi chi viện cho bộ binh đánh chiếm mục tiêu, diệt và làm tan rã 1 đại đội địch.


Trận ngày 10 tháng 1 năm 1979, Nguyễn Đình Tâm chỉ huy 2 xe M113 cơ động chiến đấu theo đội hình bộ binh trên đường số 6. Trên đường gặp xe địch đi cùng chiều, đồng chí đã nhanh chóng triển khai chiến đấu, cùng bộ binh bắn cháy chiếc xe đi đầu, diệt toàn bộ địch trên xe, thu 4 xe khác. Gần tới thị xã Xiêm Riệp thì gặp tuyến phòng thủ của địch, Nguyễn Đình Tâm chỉ huy đơn vị bắn mạnh và dũng cảm xông lên, chọc thủng tuyến phòng thủ này, diệt 15 tên, thu 17 súng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện cho bộ binh đánh chiếm thị xã Xiêm Riệp đúng thời gian quy định.


Trận đánh chiếm thị xã Bát Tam Băng ngày 14 tháng 1 năm 1979, Nguyễn Đình Tâm chỉ huy thê đội 2. Khi thê đội 1 gặp khó khăn, đồng chí được .lệnh vào chiến đấu, xe đồng chí dẫn đầu đội hình tấn công dùng trung liên bắn mạnh vào quân địch, diệt 15 tên, bắn cháy 1 xe. Bị đánh phủ đầu, địch hoang mang rối loạn, bộ binh ta nhanh chóng xông lên phá vỡ tuyến phòng thủ của địch và tiến vào giải phóng thị xã Bát Tam Băng.


Nguyễn Đình Tâm luôn gương mẫu, cần cù, chịu khó học tập, sử dụng thành thạo loại xe thiết giáp (K63 và M113) và các loại vũ khí trang bị trên xe. Đồng chí luôn tận tình giúp đỡ đồng đội, nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh, chính sách, kỷ luật, được đồng đội tín nhiệm.


Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhất, 2 Huân chương Chiến công hạng ba.


Ngày 20 tháng 12 năm 1979, Nguyễn Đình Tâm được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM