Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:27:23 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: 50 năm chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng  (Đọc 52384 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #110 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2024, 09:29:17 pm »

2. Bảo đảm công trình trong quá trình thực hành chiến dịch

Trong đợt 1 của chiến dịch, sau một thời gian nống lấn giải tỏa, địch chính thức mở cuộc tiến công khu trung gian với ý định đánh chiếm toàn bộ khu vực này, tạo bàn đạp chuẩn bị tiến công lớn ra Cánh Đồng Chum. Từ hình thái chiến dịch tiến công, ta đã điều chỉnh xong đội hình sang chiến dịch phòng ngự, kiên quyết đánh chặn địch giữ vững khu trung gian, tạo điều kiện và thời gian bảo đảm cho khu vực khác hoàn thành xây dựng hệ thống công sự, trận địa phòng ngự vững chắc. Đợt 2, khi bị chặn đứng ở khu vực trung gian, địch tập trung lực lượng lớn tiến công ra Cánh Đồng Chum trên 4 hướng, lấy hướng Tây Bắc làm chủ yếu nhằm bất ngờ đánh thọc sâu vào Khang Khay (Cánh Đồng Chum) thực hiện chia cắt chiến dịch, phối hợp với các hướng khác đánh chiếm toàn bộ Cánh Đồng Chum. Ta tiếp tục củng cố, khắc phục, sửa chữa công sự trận địa, tổ chức ngăn chặn địch ở khu vực trung gian, kịp thời tổ chức đánh địch trên tất cả các hướng, nhất là đánh cánh quân uy hiếp trực tiếp ở hướng Nam, sau đó tập trung lực lượng phối hợp chặt chẽ giữa ta và bạn tổ chức trận đánh then chốt bẻ gãy cánh quân chủ yếu của địch. Đợt 3, khi không thực hiện được ý đồ đánh hiểm ở hướng Tây Bắc, địch chuyển lực lượng lấy hướng Tây là chủ yếu, dùng thủ đoạn đánh lấn từ ngoài vào, cùng một lúc với các hướng khác để đánh chiếm Cánh Đồng Chum. Ta tổ chức trận phản đột kích, đẩy lùi cánh quân chủ yếu của địch ở phía Tây; đồng thời tích cực ngăn chặn địch trên các hướng khác. Đợt 4, địch dốc sức tiến công bằng lực lượng lớn hơn, hòng đánh chiếm bằng được Cánh Đồng Chum trước khi mùa mưa sắp chấm dứt. Ta tác chiến tạo thế, tập trung lực lượng đánh trận then chốt quyết địch của chiến dịch, khôi phục lại các khu vực địch đã chiếm, đánh bạị hoàn toàn cuộc tiến công quy mô lớn của địch.


Có thể thấy, trong từng đợt của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, xuất phát từ âm mưu và sự đánh phá ác liệt của địch, các công trình phòng ngự của ta thường xuyên bị địch bắn phá hư hại nhiều. Việc bảo đảm các công trình trong quá trình thực hành chiến dịch có ý nghĩa quan trọng, quyết định đến việc giữ vững trận địa, cũng như tiến trình phát triển của chiến dịch. Trong đó, nhiệm vụ chủ yếu của bảo đảm các công trình chiến dịch trong giai đoạn này là khôi phục, bổ sung, củng cố và hoàn thiện hệ thống công sự, trận địa, bảo đảm đường cơ động cho đánh phản kích, phản đột kích, ngụy trang công trình, đánh phá giao thông ngăn chặn địch. Với sự nỗ lực cao độ, các đơn vị tại các chốt, cụm chốt vừa là lực lượng chủ yếu đánh địch, vừa tranh thủ khôi phục, sửa chữa và củng cố công sự trận địa, đồng thời vừa chuẩn bị các công trinh để tạo thế, khi có điều kiện đánh phản kích liên tục. Điều đó cho thấy, trong suốt quá trình chiến dịch, mà đặc biệt là trong đợt 3 và đợt 4 chiến dịch, bộ đội ta có thể liên tục đánh phản kích và phản đột kích, bẻ gãy các đợt tiến công quy mô lớn của địch như vậy là nhờ vào hệ thống công trình vững chắc, liên hoàn giữa các khu vực; các công trình của ta khi bị địch đánh phá hư hỏng, được bộ đội nhanh chóng khắc phục, sửa chữa kịp thời, bảo đảm cho đơn vị trụ vững, cũng như dựa vào hệ thống công sự, trận địa để đánh bại các đợt tiến công của địch, giữ vững vùng giải phóng.


Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (nếu xảy ra), dù địch có thể mạnh hơn ta về trang bị, vũ khí hiện đại, trong đó có những loại vũ khí mởi, cỏ độ chính xác và sức tàn phá cao, cách đánh của địch có thay đổi, thi vai trò của bảo đảm công trình cho chiến đấu nói chung, chiến dịch nói riêng vẫn có ý nghĩa và tác dụng to lớn. Do vậy, từ những thành công trong công tác bảo đảm công trình Chiến dịch Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa năm 1972 cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #111 vào lúc: 11 Tháng Sáu, 2025, 08:30:26 pm »

QUÂN ĐỘI PHÁI HỮU LÀO VÀ QUÂN THÁI LAN TRONG CHIẾN DỊCH PHÒNG NGỰ CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG


Đại tá, TS NGUYỄN VĂN QUYỀN
Phó Trưởng phòng Lịch sử Tư tưởng - Tổ chức quân sự,
Viện Lịch sử quân sự - Bộ Quốc phòng


Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972 là lần đầu tiên của liên quân Việt Nam - Lào thực hiện nhiệm vụ phòng ngự quy mô chiến dịch nhằm đánh bại kế hoạch lấn chiếm năm 1972 của quân đội phái hữu Lào và quân Thái Lan, bảo vệ vùng mới giải phóng, giữ vững thế chiến lược của ta ở Bắc Lào, phối hợp với các chiến dịch ở miền Nam trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Địch huy động vào cuộc hành quân với quy mô lớn nhất tính tới thời điểm đó tới 76 tiểu đoàn bộ binh gồm: 58 tiểu đoàn bộ binh quân đội phái hữu Lào và 18 tiểu đoàn quân Thái Lan (tổ chức thành các binh đoàn cơ động - GM)1 (Bộ Quốc phòng - Trung tâm từ điển bách khoa quân sự, Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 189) và 3 tiểu đoàn pháo binh dưới sự yểm trợ của không quân Mỹ. Các đơn vị quân phái hữu Lào và quân Thái Lan đã được địch sử dụng như lực lượng tác chiến chính. Thế nhưng dù đã cố gắng tiến công vào các khu vực phòng ngự với nhiều thủ đoạn, chúng vẫn bị thất bại hoàn toàn trước sức chiến đấu liên quân Việt Nam - Lào.


Giai đoạn từ ngày 21 tháng 5 đến ngày 10 tháng 8 năm 1972, trên hướng Tây Nam: Sau khi dùng không quân đánh phá ác liệt các điểm cao trọng yếu và trục đường giao thông, 5 tiểu đoàn quân Thái Lan, 1 tiểu đoàn ngụy Lào, sau đó thêm GM 31, từ các căn cứ ở Sảm Thông, Loong Chẹng, hình thành 2 mũi đánh vào Phu Lũng Mạt, Hin Đăm, Thẩm Lửng. Mũi thứ nhất tiến công vào các điểm cao 1800, 1978, 1516; Mũi thứ hai luồn lách, đánh ra Hin Đăm - Thẩm Lửng. Ngày 27 tháng 5, địch chiếm được điểm tựa phía Tây các điểm cao 1800, 2063, Thẩm Lửng. Tại Điểm cao 1800, chúng chiếm thêm được mỏm 2. Ở Điểm cao 1978, một mũi gồm 2 tiểu đoàn quân Thái Lan từ Điểm cao 1900B đánh vào chiếm Hin Đăm - Thẩm Lửng, nhưng bị ta chặn đánh quyết liệt. Tới ngày 3 tháng 7, các đơn vị quân đội phái hữu Lào và quân Thái Lan tại khu vực Điểm cao 1800 và 6 tiểu đoàn (có 2 tiểu đoàn quân Thái Lan) ở Hin Đăm - Thẩm Lửng đã bị lực lượng liên quân Việt Nam - Lào đánh tan.


Trên hướng Đông Nam, từ căn cứ Tôm Tiêng (Điểm cao 1455) và Điểm cao 1863, quân phái hữu Lào và quân Thái Lan chia làm 2 mũi đánh vào trận địa phòng ngự của ta. Mũi thứ nhất gồm 1 tiểu đoàn quân Thái Lan và GM 30 với 2 tiểu đoàn đặc biệt từ Điểm cao 1863 tiến lên đánh chiếm Phu Phaxay, nhưng bị quân ta chặn đánh kịch liệt tại các điểm cao 1863, 2063, 1804, 2100, 1516 thuộc khu vực Nam Phu Pha Xay. Ngày 6 tháng 6, lực lượng địch trên hướng này bị đẩy lui về căn cứ Tôm Tiêng. Đồng thời, nhiều cuộc tiến công khác của địch vào Mường Sủi cũng bị đẩy lui. Các chốt của địch thường xuyên bị ta tập kích bằng đặc công và hỏa lực pháo binh.


Khoảng thời gian từ ngày 11 tháng 8 đến ngày 10 tháng 9, địch sử dụng một số tiểu đoàn quân Thái Lan và quân phái hữu Lào, cùng với GM 31 tiếp tục giành giật với ta ở khu trung gian; còn lại, chúng tập trung một số lực lượng phái hữu cùng khoảng 6 GM lực lượng đặc biệt Vàng Pao tiến công quy mô lớn vào Cánh Đồng Chum. Ngày 11 tháng 8, cùng với sử dụng các GM từ 3 hướng: Đông Nam, Tây và Đông Bắc Cánh Đồng Chum thọc sâu đánh chiếm các mục tiêu trọng yếu ở trung tâm Cánh Đồng Chum, địch sử dụng 16 tiểu đoàn quân phái hữu tiến công vào các mục tiêu khu vực Mường Sủi.


Trên hướng Đông Nam, trong 2 ngày 11 và 12 tháng 8, địch dùng máy bay lên thẳng cơ động GM 23 ra Bản Pha (Phu Hủa Sang) và một số tiểu đoàn đặc biệt từ Tôm Tiêng luồn rừng ra Phu Nậm Xan. Ngày 13 tháng 8, địch sử dụng 2 mũi tiến công, trong đó, một mũi do 2 tiểu đoàn đặc biệt cùng với 1 tiểu đoàn của GM 23 từ Phu Nậm Xan phát triển lên Khang Kho, đánh chiếm Phu Xa Coi và Phu Hủa Sang. Bị quân ta chặn đánh kịch liệt, nhưng chiều ngày 19 tháng 8, địch vẫn chiếm được Phu Luông và tổ chức tiến công Phu Hủa Sang. Đến ngày 21 tháng 8, lực lượng địch ở đây, trong đó có 2 tiểu đoàn quân phái hữu Lào, bị Trung đoàn 148 và lực lượng phòng ngự tại chỗ phản kích đánh bật khòi Phu Luông và buộc phải rút lui khỏi Phu Hủa Sang, co về Khang Kho.


Hướng Tây, ngày 12 tháng 8, địch dùng máy bay lên thẳng đổ GM 22 xuống Nậm Pít. Ngày 13 tháng 8, GM 22 từ Nậm Pít luồn rừng đánh ra Bản Khống và bám vào sườn Tây Nam Phu Thông. Ngày 15 tháng 8, địch chiếm được Phu Thông, tiếp tục giành giật với Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 866 tại đây. Ngày 23 tháng 8, được không quân chi viện đắc lực, địch tổ chức đánh bật lực lượng phòng ngự của ta, chiếm trọn Phu Thông và giao cho 1 tiểu đoàn quân Thái Lan chốt giữ. GM 22 đánh ra đồi Năm Mỏm và Phu Keng. Tuy vậy, liên tục bị quân ta tập kích tiêu hao, tiêu diệt, quân địch chốt giữ ở đây buộc phải co về Tây Bắc Bản Khổng và Tây Nam Phu Thông.


Trên hướng Đông Bắc, ngày 15 tháng 8, GM 24 từ Buôm Loọng đánh ra Bản Lao bị Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 148 và lực lượng bạn Lào đánh chặn, chịu tổn thất đáng kể. Ngày 18 tháng 8, GM 27 vào tham chiến, tổ chức 2 mũi tiến công vào Phu Học. Hai GM 24, GM 27 bị quân ta phân kích lại thiệt hại 600 tên, buộc phải dừng rút về Chông Ly - Mường Nọi (Nam Buôm Loọng).


Hướng Tây Bắc, ngày 21 tháng 8, 72 lần/chiếc máy bay lên thẳng đổ GM 21 xuống Điểm cao 1098 (Đông Bắc Phu Keng 5km). Ngày 22 tháng 8, địch lại đùng 100 lần/chiếc máy bay lên thẳng đồ thêm GM 26 xuống khu vực này, mở rộng bàn đạp tiến công, bất ngờ thọc sâu chia cắt trận địa phòng ngự của ta. Từ ngày 30 tháng 8 đến ngày 3 tháng 9, hai GM 21, GM 26 của quân phái hữu Lào bị liên quân Việt Nam - Lào đánh phản đột kích, bị tổn thất nặng nề với 679 bị loại khỏi vòng chiến đấu và hàng trăm khẩu súng bị tịch thu phải mất hơn 2 tháng củng cố mới trở lại chiến đấu được.


Khoảng thời gian từ ngày 11 đến ngày 30 tháng 9, trên hướng Tây Cánh Đồng Chum, từ bàn đạp Phu Thông, Tiểu đoàn 619 quân đội Thái Lan cùng với GM 22, GM 30 tiến đánh Phu Keng, đồi Năm Mỏm để phối hợp với lực lượng từ hướng Nam đánh chiếm cánh đồng Căng Xẻng, tiếp tục phát triển vào Phu Tâng. Một số tiểu đoàn độc lập quân đội phái hữu Lào cùng với GM 23 ở Khang Kho, Nậm Cọ và GM 15 từ hướng Nam tiến công Phu Hủa Sang, phát triển chiếm cánh đồng Căng Xẻng, sau đó phối hợp với Tiểu đoàn quân Thái Lan cùng với GM 22, GM 30 đánh chiếm Phu Tâng.


Hướng Đông Bắc, GM 24 và GM 27 từ Chông Ly - Mường Nọi chuyển hướng tiến công từ Phu Lạt Tây - Xiêng Ai - Bản Lào nhằm chiếm Lạt Buột, Phi Long (Điểm cao 1580) đánh thẳng vào Bắc Cánh Đồng Chum để phối hợp với GM 22, GM 30 và Tiểu đoàn 619 quân đội Thái Lan.


Song song, trên hướng Đông, địch đổ 1 tiểu đoàn biệt kích xuống Ta Li Nọi quấy phá hậu phương ta. Chúng bị công binh và vệ binh ta kịp thời chặn đánh, tiêu hao một bộ phận, buộc phải tháo chạy. Địch tiếp tục tổ chức tiến công vào Hin Đăm, Thẩm Lửng, các điểm cao 1978, 1316, 1900A; tập trung GM 21 và GM 26 về Nậm Pít làm lực lượng dự bị chiến lược, sẵn sàng chi viện cho các mũi tiến công.


Thực hiện toan tính đó, trên hướng Tây, ngày 11 tháng 9, GM 30 chiếm các điểm cao 1411,1294 và Bản Khổng; GM 22 chiếm được Bản Thang và các điểm cao 1276, 1244; Tiểu đoàn 619 quân đội Thái Lan cùng với GM 22 chiếm Bản Thang. 7 giờ ngày 17 tháng 9, quân địch (trong đó có Tiểu đoàn 619 quân đội Thái Lan) ở khu vực Bản Khổng, Bản Thang, Phu Thông và các điểm cao 1411, 1294, 1276, 1244 bị quân ta tiến công mạnh mẽ. GM 30 chốt giữ Điểm cao 1294 đánh trả cuộc tiến công của Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 148 của ta. GM 22 địch chốt giữ Phu Thông, Bản Thang cũng chống trả quyết liệt cuộc tiến công của Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 866. Ngày 19 tháng 9, GM 22 phản kích đánh bật Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 148 ra khỏi Điểm cao 1244. Trong 18 ngày liên tục chiến đấu (11 - 19.9), ta và địch giành giật nhau tại chỗ, quân phái hữu Lào và quân Thái Lan vẫn giữ được các mục tiêu.


Sau 7 ngày chiếm giữ các mục tiêu, sáng ngày 26 tháng 9 năm 1972, lực lượng phía Tây gồm Tiểu đoàn 619 quân đội Thái Lan cùng với các GM 22, GM 30, GM 23, GM 15 quân ngụy Lào bị Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 335 của ta phản kích chiếm lại Phu Thông, phát triển xuống Điểm cao 1276; Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 866 chiếm được Điểm cao 1244 và Bản Thang; Trung đoàn 148 từ phía Nam đánh lên chiếm Điểm cao 1294, phát triển về Bản Kliổng. Các GM địch rút chạy về Nậm Pít.


Trên hướng Nam, GM 23, GM 15 lấn ra Phu Vai, Nậm Cọ bị Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 148 của ta đánh thiệt hại một bộ phận, nhưng không cản được sức tiến công của địch. Ngày 22 tháng 9 năm 1972, chúng chiếm được Nậm Cọ, phát triển chiếm tiếp các điểm cao 1388, 1236 (23.9); một mũi khác tiến công vào Phu Luông, bị ta giáng trả buộc phải co lại.


Hướng Đông Bắc, GM 24 bị 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 866 của ta đẩy ra khỏi Bản Lao và GM 27 ở Phu Học cũng bị tiêu hao một bộ phận binh lực. Địch mất thêm Phu Lạt Tày.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #112 vào lúc: 11 Tháng Sáu, 2025, 08:31:34 pm »

Trong 20 ngày cuối tháng 9, lúc đầu lực lượng địch trên hướng Tây gồm Tiểu đoàn 619 quân đội Thái Lan cùng với GM 22, GM 30, GM 23, GM 15 quân phái hữu Lào, trong đó có 16 tiểu đoàn quân phái hữu Lào đã chiếm được nhiều mục tiêu quan trọng. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Chiến dịch phải tổ chức củng cố, chuẩn bị kỹ thêm một bước, trước khi tiếp tục tổ chức phản đột kích trên hướng này.


Khoảng thời gian từ ngày 1 tháng 10 đến ngày 15 tháng 11, sau các đợt tiến công thất bại, hy vọng chiếm được Cánh Đồng Chum rất mỏng manh, nhưng do bị thúc ép về chính trị, Mỹ và chính quyền ngụy Lào buộc phải nỗ lực đánh chiếm cho được một phần phía Nam Cánh Đồng Chum để tạo lợi thế cho đàm phán chính trị giữa hai bên vào ngày 15 tháng 10 năm 1972. Đặc biệt trong đợt này, chúng đã tận dụng mọi biện pháp tác động tâm lý như treo cờ, gắn huy hiệu Cánh Đồng Chum, treo thưởng cho mỗi đơn vị chiếm được 1 mục tiêu là 50.000 kíp Lào... Địch huy động hơn 60 tiểu đoàn quân phái hữu Lào và quân Thái Lan vào đợt này, trong đó có 20 tiểu đoàn tác chiến trên hướng Nam - hướng chủ yếu mới của chúng.


Dựa vào bàn đạp đứng chân tạo được từ đợt trước, địch điều GM 32 từ Hạ Lào lên, các GM 30, GM 21, GM 26 từ phía Tây đến, 2 tiểu đoàn quân đội Thái Lan cùng với 2 đại đội pháo binh từ Loong Chẹng ra... kết hợp với GM 15, GM 23 tại chỗ, hình thành cánh quân chủ yếu tiến công vào phía Nam Cánh Đồng Chum. Chúng bố trí và sử dụng: GM 23 ở giữa đánh chiếm Phu Huột và Điểm cao 1236, tiếp tục phát triển đánh chiếm Điểm cao 1299; GM 30 (trái) đánh chiếm Điểm cao 1172 và Bản Xưa, rồi phát triển đánh chiếm Điểm cao 1228, chuẩn bị tiến công vào Phu Seo; GM 13 (phải) từ Điểm cao 1243 đánh chiếm Cha Ho, sau đó phối hợp với GM 23 đánh lên Phu Tàng, triển khai một mũi uy hiếp Tây Phu Hủa Sang; GM 21 đứng chân tại Điểm cao 1243 và Keo Khoang làm lực lượng dự bị, sẵn sàng chi viện cho các mũi tiến công vào các mục tiêu của liên quân Việt - Lào; GM 26 cùng 2 tiểu đoàn quân Thái Lan và một số tiểu đoàn độc lập chiếm giữ Nậm Cọ, Khang Kho, cho một mũi qua Phu Luông, uy hiếp sườn Đông Phu Hủa Sang.


Ngày 8 tháng 10 năm 1972, GM 30 ở Điểm cao 1172 và Bản Xủa bị liên quân Việt Nam - Lào tập kích bất ngờ, gây ra một số tổn thất về người và trang bị; GM 23 phải chiến đấu giành giật quyết liệt với các đơn vị Việt Nam - Lào tại Phu Huột và Phu Keng Luông. Ngày 9 tháng 10 năm 1972, các GM 23, GM 30 bị liên quân Việt Nam - Lào gồm Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 335 và 1 đại đội thuộc Trung đoàn 866, 5 xe tăng, 2 xe thiết giáp được hỏa lực pháo binh chi viện đánh bật khỏi Bản Ngua và các điểm cao 1228, 1239. Ngay lập tức, địch sử dụng máy bay chiến lược B-52 đánh phá liên tục vào các khu vực nghi liên quân Việt Nam - Lào tập kết hoặc kho tàng và từ 100 đến 120 lần/chiếc không quân chiến thuật chi viện đắc lực cho các GM 30, GM 23 tái chiếm các điểm cao 1228, 1239. Cuộc chiến đấu ở khu vực 2 điểm cao này diễn ra vô cùng ác liệt. Sau 3 ngày giao tranh, tới ngày 12 tháng 10 tháng 1972, GM 30, GM 23 bị 1 tiểu đoàn bộ binh thuộc Trung đoàn 866 cùng một số xe tăng tiến công chính diện đánh bật ra khỏi các điểm cao 1228, 1239.


Cùng ngày, 2 tiểu đoàn quân Thái Lan và GM 23, GM 30 bị Trung đoàn 148 của ta phản kích đánh bật khỏi Bản Xưa và các điểm cao 1236, 1172. Chỉ huy sở GM 23 ở Phu Huột cũng bị tiêu diệt. GM13 quân phái hữu Lào chiếm giữ Cha Ho bị Trung đoàn 335 của ta từ Điểm cao 1782 đánh bật; GM 23 và GM 32 từ Điểm cao 1239 rút về cũng bị chặn đứng. Đêm 12 tháng 10 năm 1972, các GM 23, 32, 30, 2 tiểu đoàn quân Thái Lan bị Trung đoàn 335 và 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 148 liên tục tập kích, bao vây chặt. Ngày 13 tháng 10 năm 1972, các GM 23, 30, 21 và 13 trên các điểm cao 1129, 1189, 1239, 1228, 1213, 1172, 1.236, Bản Xưa, Bản Ngua, Bản Quay, Phu Huột... bị liên quân Việt Nam - Lào đẩy lùi về tuyến Nậm Cọ, Khang Kho.


Sau khi được bổ sung quân số, tăng cường trang bị, quân phái hữu Lào cùng 2 tiểu đoàn quân Thái Lan tiến ra Nậm Cọ, lập trận địa pháo 105mm và tổ chức đợt tiến công mới, có phi pháo yểm trợ với mật độ cao. Từ ngày 21 đến ngày 23 tháng 10 năm 1972, các GM 30, 23, 32 và 2 tiểu đoàn quân Thái Lan tổ chức đánh chiếm các điểm cao 1172, 1236, 1239, Bản Xưa, phát triển đánh chiếm Phu Seo, Bản Ngua, Phu Tâng. Ngày 25 tháng 10 năm 1972, địch sử dụng: GM 30 và một số tiểu đoàn độc lập đánh chiếm Na Van, Điểm cao 1213, Bản Xưa, Xiêng Nưa để chuẩn bị tiến công vào Phu Seo; GM 32 và GM 23 đánh chiếm các điểm cao 1228, 1239 và 1129, chuẩn bị tiến công vào Phu Tâng; Tiểu đoàn biệt kích luồn rừng tiến về phía Phu Khe. Các tiểu đoàn 616, 618 quân đội Thái Lan đang chốt giữ Điểm cao 1236, chuẩn bị lên chốt giữ Điểm cao 1239 thay cho GM 23, GM 32; 1 tiểu đoàn quân đội Thái Lan khác chốt giữ Cha Ho tạo thế uy hiếp với ta. Các GM 21, GM 26 chốt giữ khu vực Nậm Cọ, Keo Khoang và Điểm cao 1243; GM 15 và 2 tiểu đoàn quân đội Thái Lan đứng chân ở Khang Kho làm lực lượng dự bị, sẵn sàng chi viện cho các mũi tiến công vào các trận địa của ta.


Đúng 3 giờ 10 phút ngày 26 tháng 10 năm 1972, bị phản kích bất ngờ, đội hình tiến công của địch bị rối loạn. Địch sử dụng không quân ngăn chặn các mũi tiến công của liên quân Việt Nam - Lào, bảo vệ cho đội hình rút lui. GM 23, GM 32 bị một bộ phận của Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 335 chặn đứng tại Bản Phồn, thiệt hại hàng trăm tên. Tại Na Van, Na Hung, địch cũng bị Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 148 gây diệt trên 300 lính; 70 lính và 2 máy bay cũng bị lực lượng quân đội Việt Nam - Lào tiêu diệt tại Điểm cao 1236. Đêm 26 tháng 10, quân phái hữu Lào và quân Thái Lan tiếp tục luồn rừng rút về Nậm Cọ, Khang Kho (có trên 200 lính chạy nhầm vào Sở Chỉ huy Trung đoàn 335 tại phía Đông Bản Phồn 5km, bị ta tiêu diệt gọn). Trong trận phản đột kích ngày 26 tháng 10 địch bị tổn thất 1.240 tên và 1.500 súng các loại (có 21 khẩu cối và ĐKZ)


Sau thất bại ngàỵ 26 tháng 10, GM 28 từ hướng Đông Bắc kéo về Khang Kho tổ chức lực lượng phòng ngự tại các khu vực Đông Nam Cánh Đồng Chum: Khang Kho, Phu Xa Coi do GM 15 GM 28 và 2 tiểu đoàn quân Thái Lan đóng thành 9 điểm; khu vực Phu Vai, Nậm Cọ do GM 26, một phần GM 23, 1 tiểu đoàn quan Thái Lan và một số tiểu đoàn độc lập tổ chức phòng ngự; khu vực Phu Tu Ngua, Điểm cao 1503 do 1 tiểu đoàn quân Thái Lan va một số tiểu đoàn phái hữu Lào chiếm giữ. Các lực lượng còn lại rút về Loong Chẹng, Tôm Tiêng để bổ sung, củng cố làm dự bị. Địch sử dụng máy bay B-52 và không quân chiến thuật đánh phá ác liệt toàn bộ phía Nam Cánh Đồng Chum bảo đảm an toàn cho lực lượng co cụm tại đây.


3 giờ ngày 3 tháng 11, địch ở Phu Tu Ngua và Điểm cao 1503 bị Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 148 của ta đánh bật, sau đó, ta phát triển tiêu diệt Bộ Chỉ huy Tiểu đoàn 612 quân đội Thái Lan ở Nậm Cọ. Địch cũng không giữ được Nậm Cọ, Phu Vai; ở Khang Kho cũng bị đặc công liên quân Việt Nam - Lào tập kích vào trận địa pháo binh và chiếm mất 1 điểm. Ngày 4 tháng 11, các đơn vị địch đóng tại các khu vực Đông Nam Cánh Đồng Chum bị liên quân Việt Nam - Lào liên tiếp tiến công. Ngày 5 tháng 11, quân địch ở Đông Nam Cánh Đồng Chum bị đánh bật.


Song song với hướng chính, trên hướng Đông Bắc, quân phái hữu Lào sử dụng GM 28 đổ quân bằng máy bay lên thẳng xuống Tây Bắc Bản Ban, lấn chiếm ra Đường số 6, Bản Chô uy hiếp Bản Ban, lùng phá kho trạm, cắt Đường số 7A của ta. Lực lượng này bị Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 88 và lực lượng địa phương của bạn bám đánh liên tục, buộc phải rút về Phu Pha Tung, Phu Chom Xi, sau đó tiếp tục rút về Khang Kho. GM 24, GM 27 và 2 tiểu đoàn độc lập chia thành 2 mũi: 1 mũi đánh ra Lạt Buột, uy hiếp Đường số 7; 1 mũi đánh ra Phu Học bị Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 866 của Việt Nam kết hợp với đơn vị bạn chặn đứng tại Đông Bắc Lạt Buột và bị đầy ra khỏi Phu Học; GM 24 buộc phải co cụm ở Điểm cao 1521, GM 27 co cụm ở Điểm cao 1401. Chiều ngày 11 tháng 11, GM 24 và GM 27 bị Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 88 và Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 866 đánh bật khỏi các điểm cao 1401 và 1521, buộc địch tháo chạy về Buôm Loọng.


Ở hướng Tây, GM 22 lấn chiếm ra Tây Bản Khổng, tổ chức 1 mũi đánh vào Điểm cao 1503 (Tây Nam Phu Seo) để phối hợp với hướng Nam, nhưng bị Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 866 chặn đánh, buộc phải rút từng bước. GM 22 phải rút về Nậm Pít, Bản Na, bản Pha Đeng rồi rút về Điểm cao 1412 để tránh bị tiêu diệt.


Tại hướng Mường Sủi, trong đợt 4 của chiến dịch, 2 lữ đoàn quân phái hữu Lào đổ xuống Mường Chắt (Tây Mường Sủi 20km) dự định tiến công Mường Sủi phối hợp với đánh trên quy mô lớn vào Cánh Đồng Chum. Nhưng cánh quân này bị 3 tiểu đoàn của bạn chặn ngay từ đầu (16.10.1972), buộc phải co lại Nậm Chắt.


Sau 6 tháng gần như liên tục tiến công quy mô lớn Cánh Đồng Chum, với nỗ lực cao nhất, nhưng quân phái hữu Lào và quân Thái Lan đã bị thất bại hoàn toàn. Trải qua 244 trận đánh, đã có 5.607 tên của quân phái hữu và quân Thái Lan bị khỏi vòng chiến đấu, 800 khẩu súng các loại bị thu, 38 máy bay các loại bị bắn rơi1 (Bộ Quốc phòng - Trung tâm từ điển bách khoa quân sự, Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Sđd, tr. 190); các GM 21, 23, 26 và 3 tiểu đoàn quân Thái Lan bị đánh thiệt hại nặng; các GM 15, 22, 24, 30 và 32 bị đánh thiệt hại2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1987, tr. 62-63).


Thất bại này, chứng tỏ sự bất lực và thất thế của quân đội phái hữu Lào và quân đội Thái Lan trên chiến trường Cánh Đồng Chum. Học thuyết Níchxơn ở Lào bị đánh bại thêm một bước công thức chiến tranh: Quân phái hữu Lào + quân đánh thuê Thái Lan + yểm trợ tối đa của không quân và hậu cần Mỹ đã bị phá sản hoàn toàn. Địch vừa bị thất bại nặng trong phòng ngự lại tiếp tục bị đánh bại trong tiến công. Đội quân xung kích của Vàng Pao liên tiếp bị tổn thất nặng nề, tinh thần bị sa sút nghiêm trọng- quân Thái Lan không đảm đương nổi là chỗ "dựa" của quân ngụy Lào.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #113 vào lúc: 11 Tháng Sáu, 2025, 08:33:49 pm »

CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG TRONG ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA ĐẾ QUỐC MỸ VÀ TAY SAI NĂM 1972


Trung tá, TS CÔNG PHƯƠNG KHƯƠNG
Phó Trưởng phòng Lịch sử nghệ thuật quân sự,
Viện Lịch sử quân sự - Bộ Quốc phòng


Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là một cao nguyên rộng lớn giữa vùng Đông Bắc nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, tiếp giáp tỉnh Nghệ An (Việt Nam) về phía Đông, Sầm Nưa và Luông Pha Băng về phía Bắc, Viêng Chăn về phía Tây Nam và Bô Ly Khăm Xay về phía Nam. Về mặt địa - quân sự, Xiêng Khoảng là nơi hiểm yếu, có rừng rậm nhiều tầng, rừng thông, núi đá trùng điệp, nhưng cũng có cánh đồng cỏ rộng và khá bằng phẳng. Nhiều ngọn núi có giá trị quan trọng về quân sự, nhất là Phu Kẹt án ngữ cửa ngõ ra vào Mường Sủi, Phu Kụt là vị trí tiền tiêu của Cánh Đồng Chum, cùng với Phu Keng, Phu Xũng tạo thành một thế đứng lợi hại, khống chế toàn bộ khu vực... Lãnh đạo Neo Lào Hắc Xạt từng đánh giá nước Lào như một con voi trắng, trong đó khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là đầu voi, ai cưỡi được trên đầu voi, thì người đó làm chủ nước Lào1 (Thiếu tướng Vi Say Chăn Tha Mạt, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng - vị trí chiến lược quân sự quan trọng, trong sách Liên minh chiến đấu Lào - Việt Nam trên chiến trường Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2009, tr. 93). Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng không chỉ là địa bàn có ý nghĩa chiến lược đối với Bắc Lào mà còn giữ vị trí quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của ba nước Đông Dương. Kiểm soát khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng sẽ bảo vệ được biên giới Lào - Việt, đặc biệt là tuyến vận chuyển chi viện chiến lược từ miền Bắc Việt Nam cho các chiến trường Việt Nam, Lào và Campuchia.


Xác định Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là bàn đạp có thể uy hiếp trực tiếp căn cứ cách mạng Lào và miền Bắc Việt Nam nên trong nhiều năm, qua nhiều đời Tổng thống, đế quốc Mỹ và tay sai luôn dành sự quan tâm đặc biệt, tiến hành các hoạt động ngày càng quyết liệt nhằm giành giật bằng được địa bàn có ý nghĩa chiến lược quan trọng này1 (Từ năm 1969, hoạt động của địch tại Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đã trở thành quy luật: Nhằm lúc ta vừa kết thúc chiến dịch tiến công trong mùa khô, gặp nhiều khó khăn về tiếp tế vận chuyển hoặc cơ động lực lượng trong mùa mưa, chúng tổ chức các cuộc hành quân giành lại địa bàn đã bị chiếm đóng). Để đánh chiếm Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Mỹ và tay sai đã tổ chức nhiều cuộc hành quân với lực lượng đông, hoả lực mạnh và tập trung, kéo dài từ 3 tới 6 tháng. Tháng 12 năm 1963, 5 tiểu đoàn quân đội phái hữu Lào và "lực lượng đặc biệt" của Vàng Pao tiến công lấn chiếm Cánh Đồng Chum. Trong cuộc hành quân Xảm Xon (7.1964) với lực lượng 4 binh đoàn cơ động (GM 11, GM 15, GM 16 và GM 17), 5 tiểu đoàn (BV12, BV52, BV53, BV55 và BR160) có không quân và pháo binh Mỹ yểm trợ đánh vào vùng Bắc Viêng Chăn, rồi tiến công Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Tháng 12 năm 1964, Mỹ và tay sai mở cuộc hành quân với lực lượng gồm 5 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo 105mm, 1 đại đội pháo 155mm và từ 30 đến 35 lần chiếc máy bay chi viện trong 1 ngày, tiến công Phu Kụt liên tục trong 10 ngày. Trong những năm 1966 - 1968, Mỳ ra sức củng cố lực lượng, nhất là "lực lượng đặc biệt Vàng Pao", kết hợp với không quân đánh phá với cường độ ngày càng tăng trên toàn bộ tuyến hành lang từ Thượng Lào, Trung Lào đến Hạ Lào. Địch tổ chức nhiều cuộc tiến công quy mô vừa và nhỏ vào Phu Kụt. Cuộc tiến công lớn nhất vào Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (4.1966) gồm 3 binh đoàn cơ động của quân đội phái hữu và một số đơn vị của Coongle. Đầu năm 1969, cùng với tăng cường đánh phá bằng không quân, quân đội phái hữu Lào được Mỹ chi viện không quân và có sự tham gia của quân Thái Lan liên tiếp mở các cuộc hành quân Xamakhi I, II, III với lực lượng 22 tiểu đoàn bộ binh, đánh ra khu vực Pa Thí, Na Khằng - Thẩm La và Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Tiếp theo các cuộc hành quân trên, tháng 7 năm 1969, lợi dụng thời tiết giữa mùa mưa khi các đơn vị bộ đội Việt Nam và Lào củng cố lực lượng, thì dưới sự chỉ huy của cố vấn Mỹ, quân phái hữu Lào phối hợp cùng quân Thái Lan mở cuộc hành quân Cù Kiệt ra Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Trong cuộc hành quân này, đế quốc Mỹ đã huy động từ 100 đến 150 lượt máy bay mỗi ngày, chi viện hỏa lực tối đa cho quân phái hữu Lào, tổ chức từng đợt oanh tạc, đánh phá có tính hủy diệt vùng giải phóng Cánh Đồng Chum và Sầm Nưa...


Tính đến năm 1972, sau 10 năm tiến hành chiến lược "Chiến tranh đặc biệt", rồi "Chiến tranh đặc biệt tăng cường" ở Lào, Mỹ vẫn chưa thể giành được quyền kiểm soát. Tổng thống Níchxơn cùng bộ máy chiến tranh mặc dù đã huy động tất cả lực lượng có trong tay, phối hợp tiến công tổng lực trên các lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế nhưng "vẫn không thể tránh khỏi thất bại nặng nề"1 (Phan Gia Bền, Đặng Bích Hà, Phạm Nguyên Long, Huỳnh Lứa, Lê Duy Lương, Nguyễn Hữu Thuỳ, Lược sử nước Lào, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1978, tr. 295). Chính quyền tay sai ở Lào vẫn trong tình trạng bất lực với một nền kinh tế hoàn toàn lệ thuộc vào viện trợ của Mỹ. Lực lượng xung kích quân sự được xem là "đội quân bí mật" người Mông mà Mỹ dày công nuôi dưỡng không đảm bảo về số lượng, tinh thần ngày càng giảm sút...


Không muốn "là Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ thất bại trong một cuộc chiến tranh"2 (Neil Sheehan, Sự lừa dối hào nhoáng, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2003, tr. 576), trong năm 1972, Níchxơn vẫn cố gắng đẩy mạnh hoạt động quân sự hòng tiêu diệt cách mạng Lào, cắt đứt tuyến vận tải chiến lược của miền Bắc Việt Nam cho chiến trường Đông Dương. Mỹ tăng cường viện trợ cho chính quyền Viêng Chăn, dùng lực lượng đặc biệt Vàng Pao ở Thượng Lào để luồn sâu vào vùng giải phóng, tăng cường càn quét, chống lại cách mạng Lào; ra sức củng cố vùng đất ít ỏi còn lại ở Trung Lào, đặc biệt là dọc sông Mê Kông...


Học thuyết Níchxơn và chiến lược "Đông Dương hóa chiến tranh" đứng trước nguy cơ phá sản sau cuộc tiến công chiến lược của quân và dân miền Nam Việt Nam vào các mục tiêu then chốt trên địa bàn Trị - Thiên, Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ nửa đầu năm 1972. Để cứu vãn tình thế, Níchxơn tiến hành "Mỹ hoá" trở lại chiến tranh Việt Nam, huy động lực lượng lớn không quân và hải quân, ồ ạt tham chiến ở miền Nam1 (Lực lượng không quân được Mỹ huy động tham chiến trở lại ở miền Nam Việt Nam bằng tồng số không quân của Anh, Pháp và Cộng hòa liên bang Đức). Cùng với việc gia tăng các hoạt động quân sự, ném bom trở lại miền Bắc Việt Nam, trên chiến trường Lào, Mỹ và tay sai tập trung lực lượng với hàng chục tiểu đoàn gồm quân ngụy Viêng Chăn, lực lượng đặc biệt và quân đội đánh thuê Thái Lan, mở các cuộc hành quy mô nhằm chiếm lại hai cao nguyên chiến lược quan trọng là Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng - Bắc Lào và Bôlôven (Nam Lào)2 (Nguyễn Hùng Phi, Buasi Chalơnsúc, Lịch sử Lào hiện đại, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 195).


Ở khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, kế hoạch của Mỹ và lực lượng tay sai là lợi dụng khi ta kết thúc chiến dịch tiến công, tranh thủ tổ chức nống lấn, giải tỏa uy hiếp đối với Loong Chẹng, đánh chiếm lại Sảm Thông, Nam Phu Phaxay và một số điểm cao có giá trị chiến thuật, chiến lược (1.800, 1.900B)... sau đó phát triển, mở rộng phạm vi chiếm đóng chuẩn bị khu vực bàn đạp cho các đợt đánh lớn làm chủ toàn bộ Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Bởi vậy ngay sau khi Quân tình nguyện Việt Nam và Quân đội giải phóng nhân dân Lào kết thúc các đợt tiến công (4.1972), Mỹ và tay sai khẩn trương nống lấn xây dựng Cánh Đồng Chum thành một khu vực phòng ngự liên hoàn, có công sự, trận địa vững chắc với những chốt được bố trí trên các điểm cao có khả năng kiểm soát, khống chế toàn bộ địa bàn. Các binh đoàn cơ động của lực lượng đặc biệt Vàng Pao bị thiệt hại nặng trong các đợt tiến công mùa khô của Quân tình nguyện Việt Nam và Quân giải phóng nhân dân Lào được thay thế, tăng cường. Tính đến trước ngày 20 tháng 5 năm 1972, lực lượng địch tại Cánh Đồng Chum có 76 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh với tổng quân số khoảng 18.400 quân1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1987, tr. 16) (trong đó có 8 GM, 9 tiểu đoàn đặc biệt, 4 tiểu đoàn tình nguyện, 1 tiểu đoàn pháo binh thuộc Quân khu 2; 18 tiểu đoàn bộ binh và 2 tiểu đoàn pháo binh thuộc lực lượng Thái Lan; 1 GM thuộc Quân khu 1, 1 GM thuộc Quân khu 3; ngoài ra còn có 2 lữ đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn quân trung lập, 1 tiểu đoàn đặc biệt và 1 đại đội pháo binh tại khu vực Sa La Phu Khun).


Lực lượng này được bố trí thành 4 khu vực phòng thủ bao quanh Cánh Đồng Chum: Khu vực Sảm Thông - Loong Chẹng có 18 tiểu đoàn bộ binh (16 tiểu đoàn Thái Lan); khu vực Buôm Loọng có 5 tiểu đoàn bộ binh (3 tiểu đoàn bộ binh và 2 tiểu đoàn đặc biệt); khu vực Tôm Tiêng - Pa Đông có 9 tiểu đoàn (2 tiểu đoàn Thái Lan, 2 tiểu đoàn đặc biệt); khu vực Xa La Phu Khum có 9 tiểu đoàn. Pháo binh địch có 3 tiểu đoàn (16 khẩu), không quân tại Loong Chẹng có 2 phi đội máy bay T-28 (9 chiếc). Không quân Mỹ và không quân quân đội Chính phủ Hoàng gia Lào chi viện hỏa lực cho các đơn vị trong quá trình tác chiến.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #114 vào lúc: 11 Tháng Sáu, 2025, 08:35:30 pm »

Để đạt được mục tiêu, thủ đoạn của Mỹ và tay sai là sử dụng tối đa sức mạnh hỏa lực không quân và pháo binh tiêu diệt các vị trí chiến lược sau đó đưa lực lượng bộ binh luồn sâu thực hành xung phong đánh chiếm làm chủ các mục tiêu trong Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Khắc phục những khó khăn về địa hình và thời tiết, đồng thời tranh thủ yếu tố bất ngờ, không quân được sử dụng trong việc cơ động lực lượng bộ binh đổ quân xuống các vị trí triển khai thực hành xung phong đánh chiếm làm chủ địa bàn.


Ngày 21 tháng 5 năm 1972, hỏa lực không quân và pháo binh của Mỹ và tay sai đồng loạt tập kích các điểm cao có giá trị chiến lược, các tuyến đường dẫn vào khu trung tâm Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.


Trong tình thế sau những thắng lợi liên tiếp của quân và dân Việt Nam cả trên chiến trường và trên bàn đàm phán, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng trong kế hoạch của Mỹ và tay sai năm 1972 không chỉ là hoạt động đánh chiếm theo quy luật thông thường mà còn là "canh bạc dốc túi" của Tổng thống Níchxơn cùng giới diều hâu. Cao nguyên Cánh Đồng Chum "trở thành vùng "tự do bắn", nơi những chiếc B-52 bay tiến hành những đợt ném bom tàn khốc"1 (Grant Evans, A short history of Laos: the land in between, Allen & Unwin, Australia, 2002, p. 149). Tính chung trong thời gian tiến hành cuộc hành quân vào Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng năm 1972, Mỹ và tay sai đã sử dụng không quân với mật độ từ 100 - 150 lần chiếc/ngày làm nhiệm vụ oanh tạc và cơ động lực lượng2 (Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972, Sđd, tr. 115). Mỹ và tay sai lợi dụng triệt để ưu thế phương tiện, sử dụng máy bay trực thăng đổ bộ lực lượng xuống các vị trí chiến lược. Trong đợt tiến công thứ nhất, lực lượng không quân được huy động tối đa, trong đó mỗi ngày có 80 - 100 lần/chiếc không quân chiến thuật và 20 - 25 lần chiếc B-52 đánh phá các chốt, các kho, các trạm ở Bản Tôn, Lạt Huổng, Khang Khay, Noọng Pẹt, Bản Phồn và những khu vực nghi có lực lượng ta tập kết. Trên hướng Đông Nam, trong 2 ngày 11 và 12 tháng 8 năm 1972, địch dùng máy bay lên thẳng cơ động GM 23 ra Bản Pha (Phu Hủa Sang) và một số tiểu đoàn đặc biệt từ Tôm Tiêng luồn rừng ra Phu Nậm Xan. Trên hướng Tây, ngày 12 tháng 8 năm 1972, địch dùng máy bay lên thẳng đổ GM 22 xuống Nậm Pít. Hướng Tây Bắc, ngày 21 tháng 8 năm 1972, địch dùng 72 lần/chiếc máy bay lên thẳng đổ GM 21 xuống Điểm cao 1098 (Đông Bắc Phu Keng 5km). Ngày ngày 22 tháng 8 năm 1972, địch lại dùng 100 lần/chiếc máy bay lên thẳng đổ thêm GM 26 xuống khu vực này, mở rộng bàn đạp, bất ngờ thọc sâu chia cắt chiến dịch nhanh chóng dứt điểm Cánh Đồng Chum. Trong đợt tiến công thứ tư, song song với hướng chính, trên hướng Đông Bắc, địch sử dụng GM 28 đổ quân bằng máy bay lên thẳng xuống Tây Bắc Bản Ban, lấn chiếm Đường số 6, Bản Chô uy hiếp Bản Ban, lùng phá kho trạm, cắt Đường số 7A. Cùng lúc đó, 2 lữ đoàn quân phái hữu Lào cũng được đố xuống Mường Chắt (Tây Mường Xủi 20km) nhằm tiến công vào Mường Sủi sau đó phối hợp với các lực lượng tiến công quy mô lớn vào Cánh Đồng Chum. So với các cuộc hành quân đánh chiếm Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng được tiến hành vào các năm trước đó, số lượng không quân được sử dụng trong năm 1972 tương đương với các cuộc hành quân đánh chiếm Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng vào tháng 7 năm 1969 và tháng 6 năm 19711 (Lực lượng không quân được Mỹ và tay sai sử dụng trong các cuộc hành quân tiến công vào Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng: Tháng 7 năm 1969 là 100 - 200 lần/chiếc/ngày; tháng 8 năm 1970 là 60 - 80 lần/chiếc/ngày; tháng 6 năm 1971 là 100 - 150 lằn/chiếc/ngay).


Cùng với lực lượng không quân và pháo binh chi viện, các tiểu đoàn bộ binh, pháo binh Thái Lan và lực lượng Vàng Pao đã được huy động tham gia cuộc hành quân. Trong đợt tiến công thứ nhất 1 (21.5 - 10.8.1972), địch sử dụng không quân đánh phá ác liệt các điểm cao trọng yếu và trục đường giao thông. Ngày 25 tháng 5, địch tập trung lực lượng tiến công vào khu trung gian trên các hướng Tây Nam, Đông Nam và Sa La Phu Khun.


Trong đợt tiến công thứ hai (11.8 - 10.9.1972), sau hàng loạt cuộc tiến công giành giật không thành công với liên quân chiến đấu Việt Nam - Lào ở khu trung gian, địch chuyển hướng tiến công vào Cánh Đồng Chum. Một số tiểu đoàn Thái Lan và quân phái hữu Lào cùng với GM 31 tiếp tục giành giật với ta ở khu trung gian. Bộ phận lực lượng phái hữu còn lại cùng khoảng 6 GM lực lượng đặc biệt Vàng Pao tiến công trên quy mô lớn vào Cánh Đồng Chum. Âm mưu của địch là sử dụng một bộ phận tiến công nghi binh thu hút lực lượng theo 3 hướng (Đông Nam, Tây và Đông Bắc) sau đó kết hợp với lực lượng đổ bộ đường không xuống Phu Keng tiến công vào hướng Tây Bắc. Với thủ đoạn này, từ ngày 11 đến ngày 20 tháng 8,4 binh đoàn địch đồng loạt tiến công thọc sâu nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu trọng yếu ở trung tâm Cánh Đồng Chum từ ba hướng: Đông Nam, Tây và Đông Bắc. Sau đó trong 2 ngày 21 và 22 tháng 8, địch dùng máy bay trực thăng cơ động GM 21 và GM 26 đổ bộ xuống khu vực Đông Bắc Phu Keng, hình thành cánh tiến công chủ yếu ở hướng Tây Bắc để thọc sâu, đánh chiếm vào khu vực trung tâm Cánh Đồng Chum. Cùng lúc, quân phái hữu Lào dùng 16 tiểu đoàn mở cuộc tiến công vào Mường Sủi.


Trong đợt tiến công thứ ba (11 - 30.9.1972), bị thất bại trên hướng chính Tây Bắc, địch tăng cường lực lượng, lấy hướng Tây là hướng chủ yếu và tiến công từ ngoài vào, tập trung lực lượng chiếm đồi Năm Mỏm - Phu Keng để phối hợp với các cánh quân phía Nam tiến công đánh chiếm Căng Xẻng. Trên hướng Đông Bắc, GM 24 và GM 27 chuyển sang tiến công Phu Lạt Tây, nhằm phát triển xuống Lạt Buột, Phu Keng; đồng thời, 1 tiểu đoàn biệt kích đổ bộ trực thăng xuống Ta Li Nọi nhằm quấy rối hậu phương ta. Trên hướng Tây, từ bàn đạp Phu Thông, Tiểu đoàn 619 quân đội Thái Lan cùng với GM 22, GM 30 hình thành lực lượng tiến công chủ yếu tiến đánh Phu Keng, đồi Năm Mỏm, sau đó phát triển phối hợp với lực lượng từ hướng Nam đánh chiếm cánh đồng Căng Xẻng, tiếp tục phát triển vào Phú Tâng. Một số tiểu đoàn độc lập thuộc quân đội phái hữu Lào cùng với GM 23 ở Khang Kho và Nậm Cọ và GM 15 từ hướng Nam tiến công Phu Hủa Sang, phát triển chiếm cánh đồng Căng Xẻng, sau đó phối hợp với Tiểu đoàn quân Thái Lan cùng với GM 22, GM 30 đánh chiếm Phu Tâng. Ở hướng Đông Bắc, GM 24 và GM 27 từ Chông Ly - Mường Nọi chuyển hướng tiến công từ Phu Lạt Tây - Xiêng Ai - Bản Lào nhằm chiếm Lạt Buột, Phi Long (Điểm cao 1580) đánh thẳng vào Bắc Cánh Đồng Chum để phối hợp với GM 22, GM 30 và Tiểu đoàn 619 quân đội Thái Lan.


Trong đợt tiến công thứ tư (1.10 - 15.11.1972), thời tiết chuyển dần sang mùa khô, quân địch tập trung lực lượng tiến công chủ yếu ở phía Nam Cánh Đồng Chum. Sau 3 đợt tiến công trực tiếp vào các mục tiêu nhưng đều thất bại, hy vọng chiếm được Cánh Đồng Chum rất mòng manh, nhưng do bị thúc ép về tình hình chính trị đang rất cấp bách, Mỹ và chính quyền tay sai đã tập trung nỗ lực cao nhất nhằm đánh chiếm bằng được khu vực phía Nam Cánh Đồng Chum để gây áp lực trong đàm phán. Đặc biệt trong đợt tiến công này, địch đã tận dụng mọi biện pháp tác động tâm lý như treo cờ, gắn huy hiệu Cánh Đồng Chum, đặt thường mỗi đơn vị chiếm được 1 mục tiêu là 50.000 kíp Lào...


Càng thất bại, quy mô sử dụng lực lượng của địch càng lớn, hoạt động càng liều lĩnh, thủ đoạn càng xảo quyệt. Dựa vào bàn đạp đứng chân cuối đợt 3, địch điều GM 32 từ Hạ Lào lên, các GM 30, GM 21, GM 26 từ phía Tây đến, 2 tiểu đoàn quân đội Thái Lan cùng với 2 đại đội pháo binh từ Loong Chẹng ra... kết hợp với GM 15, GM 23 tại chỗ hình thành cánh quân chủ yếu tiến công vào phía Nam Cánh Đồng Chum. Trong đó, GM 23 ở giữa đánh chiếm Phu Huột và Điểm cao 1236, tiếp tục phát triển đánh chiếm Điểm cao 1299. Từ phía bên trái, GM 30 đánh chiếm Điểm cao 1172 và Bản Xưa, rồi phát triển đánh chiếm Điểm cao 1228 chuẩn bị tiến công vào Phu Seo. Ở phía bên phải, GM 13 từ Điểm cao 1243 đánh chiếm Cha Ho, sau đó phối hợp với GM 23 đánh lên Phu Tâng, triển khai một mũi uy hiếp Tây Phu Hủa Sang. GM 21 đứng chân tại Điêm cao 1243 và Keo Khoang làm lực lượng dự bị chiến lược, sẵn sàng chi viện cho các mũi tiến công vào các mục tiêu của liên quân Việt Nam - Lào. GM 26 cùng 2 tiểu đoàn quân Thái Lan và một số tiêu đoàn độc lập chiếm giữ Nậm Cọ Khang Kho, cho một mũi qua Phu Luông, uy hiếp sườn đông Phu Hủa Sang.


Sau thất bại ngày 26 tháng 10, địch điều GM 28 từ hướng Đông Bắc về Khang Kho và tổ chức lực lượng phòng ngự tại các khu vực Đông Nam Cánh Đồng Chum: khu vực Khang Kho, Phu Xa Coi do GM 15, GM 28 và 2 tiểu đoàn quân Thái Lan đóng thành 9 điểm (có trận địa pháo 105 và 155mm trong đội hình); khu vực Phu Vai, Nậm Cọ do GM 26, một phần GM 23, 1 tiểu đoàn quân đội Thái Lan và một số tiểu đoàn độc lập tổ chức phòng ngự; khu vực Phu Tu Ngua, Điểm cao 1503 do 1 tiểu đoàn quân Thái Lan và một số tiểu đoàn ngụy Lào chiếm giữ. Các lực lượng còn lại, địch lệnh rút về Loong Chẹng, Tôm Tiêng để bổ sung, củng cố làm dự bị chiến lược; sử dụng máy bay B-52 và không quân chiến thuật đánh phá toàn bộ phía Nam Cánh Đồng Chum bảo đảm an toàn cho lực lượng co cụm tại đây.


Nằm ở vị trị có giá trị chiến lược, khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng sớm trở thành một trung tâm triển khai các kế hoạch của đế quốc Mỹ và tay sai ở Lào trong quá trình xây dựng Đông Dương thành thuộc địa kiểu mới. Trong bối cảnh cuộc đấu tranh giữa ta và Mỹ trên các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao đang diễn ra quyết liệt, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng càng trở thành tâm điểm thu hút sự quan tâm và thể hiện những nỗ lực của Tổng thống Níchxơn cùng giới hiếu chiến. Trên chiến trường Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, bằng nhiều thủ đoạn, Mỹ và lực lượng tay sai quyết tâm thực hiện âm mưu chiếm giữ địa bàn chiến lược quan trọng, phá vỡ thế liên hoàn giữa các vùng căn cứ địa của bạn Lào, đồng thời trực tiếp uy hiếp sườn phải Chiến dịch Trị - Thiên và Chiến dịch Bắc Tây Nguyên trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972 của quân và dân Việt Nam.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #115 vào lúc: 11 Tháng Sáu, 2025, 08:45:13 pm »

CHIẾN THẲNG CỦA CHIẾN DỊCH PHÒNG NGỰ CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG DẤU MỐC TRƯỞNG THÀNH CỦA QUÂN TÌNH NGUYỆN VIỆT NAM TRONG KHÁNG CHIẾN CHỒNG MỸ, CỨU NƯỚC


Trung tá, TS TRẦN ANH TUẤN
Trưởng phòng Lịch sử quân sự Thế giới,
Viện Lịch sử quân sự - Bộ Quốc phòng


Cách đây 50 năm, Quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với quân và dân Lào chủ động mở Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, đập tan cuộc tiến công quy mô lớn của đế quốc Mỹ và tay sai, giữ vững địa bàn chiến lược, góp phần làm xoay chuyển cục diện chiến trường có lợi cho cách mạng, tạo tiền đề cho những thắng lợi tiếp theo trên các chiến trường. Chiến thắng trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa năm 1972 đánh dấu bước phát triển toàn diện của Quân tình nguyện Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


1. Lần đầu tiên bộ đội tình nguyện phối hợp với bạn tiến hành một chiến dịch phòng ngự hoàn chỉnh và giành thắng lợi toàn diện

Trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ xâm lược, Quân tình nguyện Việt Nam đã phối hợp với quân và dân Lào tiến hành nhiều chiến dịch tiến công, phản công lớn như: Nậm Thà (1962), 128, 74A(1964), Nậm Bạc (1968), Mường Sủi (1969), Toàn Thắng (10.1969 - 4.1970), 74B, Đường 9 - Nam Lào (1971), Cánh Đồng Chum - Mường Sủi (12.1971 - 4.1972)... Từ cuối năm 1969 đến đầu năm 1972, ở khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đã hình thành quy luật, mùa khô ta tiến công địch làm chủ địa bàn, mùa mưa địch lại tổ chức tiến công ta hòng chiếm lại.


Bước vào mùa mưa năm 1972, trước yêu cầu chiến lược phải giữ vững địa bàn Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng và trên cơ sở phân tích, đánh giá cục diện chiến trường, dự báo chính xác âm mưu, thủ đoạn của địch, Đoàn 595 và Bộ Tổng Tham mưu đã sớm đề xuất với Quân ủy Trung ương ta mở chiến dịch phòng ngự. Tháng 2 năm 1972, Bộ Tư lệnh Chiến dịch Cánh Đồng Chum - Mường Sủi đã nhận được chỉ thị sơ bộ: Sau chiến dịch tiến công, liên quân Lào - Việt sẽ chuyển sang phòng ngự chiến dịch1 (Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ Tổng Tham mưu, Biên niên Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975, Tập 4 (1969 - 1972), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010, tr. 415). Đầu tháng 4 năm 1972, ngay sau chiến dịch tiến công, Quân ủy Trung ương hai nước quyết định mở Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Bộ Tư lệnh Chiến dịch gồm 6 đồng chí, do đồng chí Vũ Lập làm Tư lệnh, đồng chí Lê Linh làm Chính ủy; phía Lào có đồng chí Xiphon Phalikhăn - Tư lệnh Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng làm Phó Tư lệnh Chiến dịch về quân sự.


Trước đây, ta và Bạn đã tổ chức một số trận phối hợp phòng ngự ở Phu Kụt, Sa La Phu Khun (1961), Luông Nậm Thà (1962) quy mô cấp chiến thuật, phạm vi hẹp. Trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, lần đầu tiên, liên quân Việt - Lào, nòng cốt là Quân tình nguyện Việt Nam đã xây dựng một khu vực phòng ngự rộng lớn, gồm khu tứ giác Mường Sủi - Noọng Pẹt - thị xã Xiêng Khoảng - Thẩm Lửng dài khoảng 60km, rộng khoảng 50km, được chia thành năm khu vực: Khu trung tâm Cánh Đồng Chum là khu vực phòng ngự chủ yếu (trong đó hướng chủ yếu là hướng Nam và Tây Nam; hướng thứ yếu là hướng Bắc và Tây Bắc); khu Noọng Pẹt là khu vực phòng ngự thử yếu; khu vực Hin Tặng (khu trung gian) là khu vực phòng ngự cơ bản phía trước; khu vực Mường Sủi và thị xã Xiêng Khoảng là 2 khu vực tác chiến phối hợp nhằm đánh địch từ xa, bảo vệ phía Tây Bắc và phía Đông của khu trung tâm.


Ở khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng lúc này địch có 76 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh; bố trí theo 4 khu vực quanh Cánh Đồng Chum, được không quân Mỹ chi viện. Để đánh bại các đợt tiến công quy mô lớn của địch, lần đầu tiên ta và bạn tổ chức lực lượng lớn, gồm 5 trung đoàn bộ binh (174, 148, 866, 335 và 881 (Trung đoàn 88 (Sư đoàn 308C) được Bộ tăng cường cho chiến dịch vào tháng 10 năm 1972)), 2 tiểu đoàn đặc công, 8 tiểu đoàn binh chủng Quân tình nguyện Việt Nam; 7 tiểu đoàn chủ lực và 4 đại đội bộ đội địa phương, 6 đại đội binh chủng Quân giải phóng nhân dân Lào trong một chiến dịch phòng ngự. Đây là những đơn vị đã hoạt động nhiều năm trên chiến trường Cánh Đồng Chum, nắm vững đặc điểm tiến công của địch.


Sự trưởng thành về tư duy tổ chức một chiến dịch phòng ngự của Quân tình nguyện Việt Nam còn thể hiện ở việc bố trí, sử dụng lực lượng khoa học với 2 bộ phận chính: Bộ phận cơ động đánh địch trên các hướng phòng ngự bị địch uy hiếp gồm 2 trung đoàn bộ binh 148, 335 (xây dựng trận địa bố trí đứng chân ở khu vực Bắc Noọng Tai, Nam Phu Keng Luông); bộ phận phòng ngự tại chỗ gồm 2 trung đoàn 174, 866, 1 đại đội xe tăng - thiết giáp và toàn bộ pháo binh chiến dịch (xây dựng trận địa thành các chốt, cụm chốt để ngăn chặn địch tiến công). Các đơn vị, lực lượng tham gia chiến dịch được Bộ Tư lệnh Chiến dịch phân công nhiệm vụ cụ thể.


Mặc dù phải chuyển ngay sang chiến dịch phòng ngự, khối lượng công việc chuẩn bị rất lớn, song bằng ý chí quyết tâm, chỉ trong một thời gian ngắn, ta và bạn đã xây dựng, phát triển một hệ thống trận địa phòng ngự vững chắc, nhiều tuyến, có chiều sâu. Trước khi địch tiến công lớn ra Cánh Đồng Chum, ta đã xây dựng được hàng trăm mét đường hầm xuyên núi ở Phu Tâng, Phu Keng, Phu Học; từng khu vực phòng ngự đều tổ chức các chốt và cụm chốt với nhiều công trình kiên cố, hình thành thế liên hoàn, chi viện và hỗ trợ lẫn nhau, bảo đảm đánh địch từ xa, từ bốn hướng đến và từ trên không đổ bộ xuống.


Dựa vào thế trận phòng ngự liên hoàn, vững chắc, vận dụng cách đánh sáng tạo, linh hoạt, suốt gần 6 tháng liên tục chiến đấu, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đã kết thúc thắng lợi. Trong chiến dịch này, ta và bạn đã đánh 244 trận (trong đó Quân tình nguyện Việt Nam đánh 170 trận; bạn Lào đánh 74 trận), loại khỏi vòng chiến đấu 5.759 tên, đánh thiệt hại nặng 3 GM (21, 23 và 26), 3 tiểu đoàn Thái Lan, tiêu hao sinh lực 5 GM, bắn rơi 38 máy bay, thu hơn 859 súng các loại và nhiều phương tiện chiến tranh khác của địch1 (Viện Khoa học quân sự - Khoa Nghệ thuật quân sự, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum mùa mưa 1972, tài liệu lưu hành nội bộ, Viện Khoa học quân sự xuất bản năm 1977, tr. 87-88).


Lần đầu tiên trên chiến trường Lào, liên quân Việt - Lào đã tiến hành một chiến dịch phòng ngự hoàn chỉnh, đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công quy mô lớn có tính chất chiến lược của Mỹ và phái hữu Lào, bảo vệ được vùng giải phóng có ý nghĩa chiến lược trọng yếu đối với cách mạng. Thắng lợi của chiến dịch đã làm thất bại âm mưu của Mỹ nhằm kéo dài và mở rộng chiến tranh ở Lào, tạo ra những chuyển biến mới về so sánh tương quan lực lượng có lợi cho cách mạng, mở ra triển vọng đấu tranh chính trị, ngoại giao, pháp lý trong việc giải quyết vấn đề Lào. Thắng lợi của chiến dịch còn làm phá sản âm mưu địch muốn thu hút, giam chân, phân tán chủ lực Việt Nam ở Lào để đỡ đòn cho các chiến trường khác ở Đông Dương, tạo nên thể phối hợp cùng "chia lửa" với chiến trường miền Nam Việt Nam. Kết quả chiến dịch thể hiện sự thống nhất về mặt chủ trương, sự phân công, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa ta và bạn suốt quá trình chuẩn bị và thực hành chiến dịch; đánh dấu bước phát triển mới về trình độ tổ chức, nghệ thuật tác chiến của Quân tình nguyện Việt Nam trong chiến dịch phòng ngự quy mô lớn, dài ngày.


2. Quân tình nguyện Việt Nam có bước trưởng thành về nghệ thuật chỉ đạo và thực hành tác chiến chiến dịch phòng ngự

Đảng ta xác định tư tưởng chiến lược của chiến tranh cách mạng là tư tưởng tiến công. Còn hình thức tác chiến thì có tiến công, phòng ngự, kể cả phòng ngự chiến thuật, phòng ngự chiến dịch. Do nhận thức chưa đúng về tư tưởng chiến lược tiến công của Đảng và sự thiểu hiểu biết về tác chiến phòng ngự, nên có một số trận ta tổ chức phòng ngự thụ động, sử dụng lực lượng, tổ chức đội hình chiến đấu không phù hợp, dẫn đến bị hao tổn về lực lượng. Thậm chí, một số cán bộ cho rằng, trong chiến tranh cách mạng chỉ có tiến công, phủ nhận phòng ngự.


Bước vào Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, quán triệt tư tưởng chiến lược tiến công của Đảng, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã đề ra phương châm tác chiến: Phòng ngự tích cực, nghĩa là kết hợp nhuần nhuyễn, chặt chẽ giữa phòng ngự và tiến công; luôn thấu triệt tinh thần tích cực, chủ động tiến công tiêu diệt địch, kiên quyết chiến đấu giữ vững trận địa, giữ vững khu vực làm mục tiêu phấn đấu. Đây là tư tưởng chỉ đạo đúng đắn, được quán triệt, vận dụng sáng tạo suốt quá trình chuẩn bị và thực hành chiến dịch.


Trong chiến tranh, thông thường bên phòng ngự là bị động về cả hướng, mục tiêu, thời gian, lực lượng tiến công của đối phương. Mặc dù Quân tỉnh nguyện Việt Nam và lực lượng vũ trang cách mạng Lào chưa có nhiều kinh nghiệm chiến dịch phòng ngự nhưng nhờ quán triệt chủ trương của Đảng, chủ động nắm chắc tình hình, đánh giá đúng âm mưu, quy luật hành động của địch Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã sớm chuyển sang phòng ngự đúng lúc, kịp thời; phán đoán đúng thời gian, lực lượng và hướng tiến công của địch để chủ động xác định khu vực phòng thủ, xây dựng thế trận phòng ngự vững chắc, hiểm hóc, có chiều sâu. Thế trận đó được tạo bơi "thế lợi của địa hình, thế vững chắc của hệ thống công sự; thế hiểm hóc, bất ngờ của nghệ thuật bố trí và sử dụng binh lực, hỏa lực, công sự, vật cản; thế liên hoàn hỗ trợ lẫn nhau giữa các chốt, các cụm chốt liên quan; thế hiệp đồng chi viện của lực lượng cấp trên đối với lực lượng tại chỗ"1 (Viện Khoa học quân sự - Khoa Nghệ thuật quân sự, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum mùa mưa 1972, Tlđd, tr. 119).


Nghệ thuật tổ chức và sử dụng lực lượng của quân tình nguyện Việt Nam trong chiến dịch phòng ngự có bước phát triển mới. Ta sử dụng lực lượng ít mà tinh, lấy chất lượng chiến đấu cao để đối phó với số lượng đông và sức mạnh binh khí kỹ thuật hiện đại của địch; phát huy cao nhất khả năng của mọi lực lượng trong chiến dịch phòng ngự. Các lực lượng cơ động, giữ chốt và lực lượng dự bị được bố trí, sử dụng hợp lý, linh hoạt, hiệu quả. Trong quá trình thực hành tác chiến, Bộ Tư lệnh Chiến dịch có kế hoạch chu đáo bảo đảm vừa tác chiến, vừa củng cố, bổ sung lực lượng chiến đấu liên tục, dài ngày; kịp thời tăng cường lực lượng chiến đấu cho các khu vực bị uy hiếp nhất; kiên quyết tổ chức bẻ gãy các mũi tiến công của địch, nhanh chóng khôi phục lại các địa bàn trọng yếu đã mất.


Chiến dịch đã vận dụng nhiều cách đánh linh hoạt, sáng tạo, lần lượt đánh bại mọi biện pháp, thủ đoạn tiến công của địch. Trong đó, nét nổi bật là ta đã khéo kết hợp giữa phòng ngự khu vực (trọng điểm là việc xây dựng các điểm tựa, cụm điểm tựa làm nòng cốt) với tích cực phản kích và tiến công ra ngoài công sự, chóp thời cơ, mở các trận phản đột kích then chốt tiêu diệt lực lượng tiến công chủ yếu của địch; vừa biết lấy ít đánh nhiều là phổ biến, vừa biết tập trung lực lượng thích hợp đánh lớn, đánh hiệp đồng binh chủng ở những trận then chốt, giành thắng lợi quyết định.


Quán triệt tư tưởng "phòng ngự tích cực", "phòng ngự thế công", lực lượng phòng giữ trên các cụm, chốt đã sử dụng lực lượng nhỏ lẻ, chủ động đánh địch từ xa bằng các chiến thuật như phục kích, tập kích, bắn tỉa vào các khu vực, mục tiêu quan trọng. Lực lượng của cấp trên cũng thực hiện đánh nhỏ, đánh vừa vào trận địa pháo binh, bãi đỗ trực thăng, đánh sâu vào đội hình phía sau, các căn cứ hậu phương của địch. Nhờ vận dụng cách đánh linh hoạt, ta đã kìm chân, ngăn chặn, tiêu hao, buộc địch phải sớm triển khai đội hình để đối phó, phá thế tiến công hoàn chỉnh của chúng. Khi địch tiến công, dựa vào thế trận phòng ngự vững chắc, có chiều sâu và sự liên kết, phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng, ta đã liên tục tiến công ở cả phía trước, bên sườn, phía sau, đẩy lùi các đợt tiến công của địch từ nhiều hướng, giữ vững các chốt trọng yếu như Phu Phaxay, Phu Hủa Sang, Phu Học...


Nhưng nếu chỉ tác chiến ngăn chặn, giữ vững trận địa thì không thể đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn của địch, do đó ta phải tổ chức những trận phản đột kích lớn, nhằm làm đảo lộn thế tiến công của địch, làm thay đổi tương quan lực lượng, buộc địch mất dần quyền chủ động, đi đến thất bại hoàn toàn. Trên cơ sở nắm vững thời cơ, ta biết tập trung lực lượng thích hợp, đúng lúc, dùng cách đánh tiến công hiệp đồng binh chủng, thực hành các trận đánh phản đột kích để phát triển chiến dịch, tạo điều kiện đế đánh trận then chốt quyết định, giành thắng lợi. Các trận phản đột kích địch ở khu vực Bản Sang, Điểm cao 1098 phía Tây Bắc Cánh Đồng Chum; khu vực Phu Thông, Bản Khổng, đồi Năm Mỏm ở phía Tây Cánh Đồng Chum và trận then chốt quyết định ở khu vực từ Bàn Quay đến Khang Kho, Phu Hủa Sang, Phu Keng Luông trên cánh đồng Căng Xèng phía Nam Cánh Đồng Chum... là những điển hình về nghệ thuật tập trung lực lượng đánh lớn, đánh hiệp đồng binh chủng.


Chiến thắng của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa năm 1972 là dấu mốc đánh dấu sự trưởng thành về nghệ thuật chỉ đạo và thực hành tác chiến chiến dịch phòng ngự của Quân tình nguyện Việt Nam. Qua chiến dịch, cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam đã nâng cao một bước về nhận thức tư tưởng, về kỹ thuật, chiến thuật; thực hiện được phương châm càng đánh càng trưởng thành trong một chiến dịch kéo dài, điều kiện vật chất bảo đảm có hạn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #116 vào lúc: 11 Tháng Sáu, 2025, 08:47:11 pm »

3. Quân tình nguyên Việt Nam không ngừng được xây dựng vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng huấn luyện quân sự

Chuyển sang chiến dịch phòng ngự trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt (mùa mưa), phạm vi phòng ngự rộng, bộ đội ta chưa có kinh nghiệm tác chiến phòng ngự, thời gian kéo dài... đã phát sinh tư tưởng thiếu tin tưởng vào khả năng bảo vệ, giữ vững Cánh Đồng Chum và tâm lý lo ngại tác chiến kéo dài, gian khổ, ác liệt trong một bộ phận cán bộ, chiến sĩ,... Vì vậy, việc tiến hành công tác đảng, công tác chính trị trong chiến dịch phòng ngự có những nội dung, đặc điểm riêng.


Để nâng cao sức mạnh chiến đấu, Đảng ủv, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã tiến hành kiện toàn tổ chức, biên chế, đưa những cán bộ có năng lực, kinh nghiệm xuống đơn vị trực tiếp chỉ huy chiến đấu. Cùng với quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đặc biệt coi trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, trọng tâm là làm cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc ý nghĩa, tầm quan trọng của chiến dịch; yêu cầu, nhiệm vụ của chiến dịch và từng đơn vị; thấy rõ những điểm yếu và hạn chế không thể khắc phục được của kẻ thù; vững tin vào thế trận phòng ngự liên hoàn, vững chắc của ta,... từ đó củng cố thêm niềm tin chiến thắng, quyết tâm khắc phục mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.


Do là lần đầu tiên ta và bạn tổ chức chiến dịch phòng ngự nên việc quán triệt, nâng cao tinh thần đoàn kết, hiệp đồng tác chiến giữa các đơn vị ta và giữa ta và bạn cho bộ đội được Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đặc biệt quan tâm. Nội dung giáo dục tập trung vào xây dựng tinh thần tự lực, tự cường, đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể; nhận thức đúng tầm quan trọng của việc liên minh chiến đấu giữa ta và bạn; tinh thần tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau vì lợi ích chung của cách mạng hai nước. Trong chiến dịch, tuy mỗi lực lượng được phân công phụ trách một khu vực để phát huy tính độc lập, chủ động, nhưng ta không phó mặc mà luôn chủ động, có kế hoạch phối hợp, chi viện cho bạn trong chiến đấu, nhất là trong tình huống phức tạp và ở khu vực tiếp giáp.


Để tìm tòi phương án tác chiến hiệu quả nhất, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đặc biệt coi trọng phát huy dân chủ, trí tuệ tập thể. Nhờ thực hiện tốt dân chủ quân sự ở các cấp, phát huy được trí tuệ của tập thể quân nhân, ta đã từng bước xây dựng, hoàn thiện phương án tác chiến chiến dịch cũng như cách đánh của từng đơn vị, từng lực lượng tham gia chiến dịch. Trong quá trình chiến đấu, nhờ thường xuyên tổ chức thay phiên, đổi và bổ sung quân ở những chốt, những khu vực phải bám trụ, chốt giữ dài ngày, đã tạo cho bộ đội có tâm lý thoải mái, được nghỉ ngơi dưỡng sức, không bị căng thẳng, sẵn sàng vào trận đánh mới.


Sau khi có phương án tác chiến, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã tổ chức tập huấn cán bộ; chỉ đạo các đơn vị tổ chức huấn luyện, diễn tập các phương án phối hợp tác chiến ngay trong khu vực phòng ngự, từ đó rút kinh nghiệm, tìm ra những bài học hay để bổ sung, hoàn chỉnh phương án tác chiến, nhất là về tổ chức hiệp đồng và công tác bảo đảm chiến đấu. Sau từng đợt, từng trận đánh, các đơn vị đều tổ chức rút kinh nghiệm, kiên quyết khắc phục hạn chế, tìm tòi cách xử lý phù hợp, hiệu quả hơn. Nhờ đó, trình độ kỹ thuật, chiến thuật và tinh thần chiến đấu của bộ đội từng bước được nâng cao; các đơn vị đều nắm chắc phương án chiến đấu, thông thạo địa hình khu vực mình phụ trách cũng như các khu vực có liên quan, chủ động phối hợp, hỗ trợ chi viện cho nhau trong chiến đấu.


Thắng lợi của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đã khẳng định bước phát triển mới về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, công tác huấn luyện quân sự. Qua chiến dịch, bộ đội ta càng vững vàng về chính trị, trình độ kỹ thuật, chiến thuật cơ bản được nâng cao. Đội ngũ cán bộ chỉ huy các cấp đã tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm trong chỉ đạo, tổ chức thực hành chiến dịch phòng ngự; về cách đánh địch ngoài công sự, về hiệp đồng, phối hợp tác chiến giữa các lực lượng, giữa bộ binh với pháo binh; rèn luyện thêm phương pháp, tác phong chỉ huy tác chiến phòng ngự...


4. Khẳng định Quân tình nguyện Việt Nam đủ khả năng bảo đảm giao thông, hậu cần, kỹ thuật trong chiến dịch phòng ngự quy mô lớn, liên tục, dài ngày

Địch tiến công ta vào mùa mưa là nhằm đánh vào khả năng tiếp tế, cơ động lực lượng, bảo đảm hậu cần, kỹ thuật có hạn của ta. Trên thực tế, do thời điểm chuẩn bị chiến dịch đúng vào mùa mưa, phạm vi tổ chức phòng ngự rộng, nhiều khu vực, đường sá bị địch phá hủy... nên khối lượng công việc bảo đảm cho chiến dịch phòng ngự rất lớn. Trước tình hình đó, Quân tình nguyện Việt Nam đã chủ động phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với bạn, huy động nhân lực, vật lực để xây dựng công sự, trận địa, làm đường cơ động, vận chuyển vật chất hậu cần, kỹ thuật.


Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Chiến dịch, chỉ trong thời gian ngắn, Quân tình nguyên Việt Nam đã củng cố, làm mới được khoảng 300km đường, bảo đảm vận chuyển và cơ động lực lượng chiến đấu được thông suốt. Các trung đoàn bộ binh đều chủ động xây dựng đường cơ động cho đơn vị mình. Trung đoàn 148 làm mới 2 tuyến đường dài 40km với 80 chiếc câu nhỏ. Trung đoàn 866 làm được hơn 20km đường cơ động, 10km hào giao thông, đồng thời bắc xong một cầu treo qua suối Nậm Khô. Trung đoàn 355 làm được hơn 500 căn hầm trú ẩn, gần 30km giao thông hào và đường cơ động1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân tình nguyện và Chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr. 346).


Bộ đội Thông tin đã tổ chức được hệ thống thông tin liên lạc hoàn chỉnh băng cả ba phương tiện (hữu tuyến điện, vô tuyến điên và thông tin vận động). Riêng về hữu tuyến điện, ta đã tăng cường tuyến đường dây cáp ngầm từ Bộ Tư lệnh Chiến dịch qua Phu Tâng, Phu Seo vào đến khu trung gian; phát triển trên 197km dây điện thoại, bảo đảm cho cấp chiến dịch nắm trực tiếp các trung đoàn cơ động, các phân đội hỏa lực, các trận địa phòng ngự then chốt. Lực lượng công binh đã giải quyết xong đường cơ động cho xe tăng, pháo binh, thậm chí còn làm ngầm qua suối, phòng khi mưa lũ.


Về hậu cần, ta đã chủ động, tích cực triển khai dự trữ trong từng khu vực phòng ngự và tại hậu phương chiến dịch; xây dựng được hệ thống kho, trạm, bệnh viện... cho từng khu vực theo phương án tác chiến. Trước khi địch tiến công, bộ đội ta đã đưa vào địa bàn chiến dịch một lượng lớn vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm và các loại nhu yếu phẩm cần thiết bảo đảm đủ đánh địch từ 3 đến 4 tháng. Hệ thống công sự, giao thông hào, trận địa chiến dịch được khẩn trương xây dựng, củng cố, tạo thế trận phòng ngự liên hoàn, vững chắc, nhiều tầng, nhiều lớp. Trong các cứ điểm quan trọng, bộ đội ta còn xây dựng được hệ thống hầm, hào vững chắc, bảo đảm vừa hạn chế sát thương, vừa cơ động chiến đấu kịp thời.


Chiến thắng của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa năm 1972 đánh dấu bước trưởng thành của Quân tình nguyện Việt Nam cả về thực tiễn và lý luận chiến địch phòng ngự. Đó là bước phát triển của nghệ thuật phân tích, đánh giá đúng tình hình, chuyển sang loại hình chiến dịch phòng ngự đúng thời cơ; nghệ thuật lựa chọn chính xác các khu vực phòng ngự, chủ động lập thế trận phòng ngự vững chắc, hiểm hóc, có chiều sâu; nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng hợp lý và vận dụng cách đánh sáng tạo, linh hoạt, hiệu quả. Qua chiến dịch, quân tình nguyện Việt Nam càng vững vàng về chính trị và trình độ kỹ chiến thuật; khẳng định bộ đội ta có đủ khả năng bảo đảm giao thông, hậu cần, kỹ thuật trong một chiến dịch phòng ngự quy mô lớn, liên tục, dài ngày. Đây là lần đầu tiên ta và bạn tiến hành một chiến dịch phòng ngự hoàn chỉnh, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý, góp phần làm phong phú thêm lý luận nghệ thuật chiến dịch, đặc biệt là loại hình chiến dịch phòng ngự; khẳng định chiến dịch phòng ngự là một hình thức tất yếu không thể thiếu trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, nhất là khi yêu cầu chiến lược đặt ra phải bảo vệ vùng giải phóng, bảo vệ hành quả cách mạng và khi lực lượng cách mạng đủ sức đảm đương được nhiệm vụ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #117 vào lúc: 11 Tháng Sáu, 2025, 08:48:51 pm »

NHẬN ĐỊNH ĐÁNH GIÁ ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA ĐỊCH TRONG CHIẾN DỊCH PHÒNG NGỰ CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG


Thượng tá, TS VŨ BÌNH TUYỂN
Viện Lịch sử quân sự - Bộ Quốc phòng


Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng được ví như "chìa khóa" của nước Lào, có giá trị chiến lược quan trọng cả về quân sự, chính trị, kinh tế, là một hướng chiến lược của 3 nước Đông Dương trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ và có tính chất phối hợp với chiến trường chung rất quan trọng, nhất là đối với cách mạng Việt Nam. Nhiệm vụ hàng đầu của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là phải giữ bằng được địa bàn chiến lược này trong thời điểm mà thắng lợi ở chiến trường gắn chặt với đấu tranh chính trị, trong đó Cánh Đồng Chum là khu vực phòng ngự chủ yếu của chiến dịch. Thắng lợi của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng có ý nghĩa to lớn, làm thất bại thêm một bước học thuyết Níchxơn ở Lào, góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường chung, thúc đẩy phong trào cách mạng ở mỗi nước tiếp tục giành thắng lợi mới; thắt chặt tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt - Lào, củng cố niềm tin của hai Đảng, hai Nhà nước, hai dân tộc trong chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ và tay sai; làm phong phú thêm một bước về lý luận nghệ thuật chiến dịch Việt Nam.


Từ sau năm 1954, nước Lào đã hình thành 2 vùng có chế độ chính trị khác nhau, từ đó cuộc đấu tranh giữa 2 lực lượng (Pathét Lào và Chính phủ Vương quốc) đã liên tục diễn ra gay go, phức tạp, quyết liệt, lâu dài mang tính chất dân tộc, giai cấp và quốc tế. Tận dụng mối quan hệ của lực lượng phản động ở Thái Lan và Lào, đế quốc Mỹ đã xây dựng căn cứ quân sự trên đất Thái Lan làm nơi xuất phát, đánh phá 3 nước Đông Dương, thực hiện chính sách "lấy người châu Á đánh người châu Á", tăng cường đưa quân đánh thuê Thái Lan vào Lào để mở rộng chiến tranh xâm lược. Trên chiến trường Đông Dương, từ sau thất bại cuộc hành quân Lam Sơn 719, về cơ bản địch đã bị lâm vào thế bị động chiến lược, buộc phải chuyển vào thế phòng ngự với ý đồ duy trì cho cục diện chiến trường khỏi bị đảo lộn, đồng thời xúc tiến tìm một giải pháp chính trị có lợi trên bàn hội nghị.


Trong khi quân đội Sài Gòn phải co lại phòng ngự thì Mỹ thúc quân ngụy Lào và Campuchia đẩy nhanh các hoạt động quân sự nhằm phối hợp chiến trường hỗ trợ lẫn nhau, đồng thời tăng cường không quân đánh phá miền Bắc Việt Nam, tập trung vào tuyến vận chuyển chiến lược của ta từ Bắc vào Nam. Mặc dù quân Mỹ đang trong thế bị o ép về chính trị, buộc phải rút quân nhưng vẫn sử dụng hỏa lực của không quân và hải quân ở mức độ tối đa nhằm chi viện cho quân đội tay sai ở Đông Dương. Cho đến đầu năm 1972, Mỹ và tay sai đang đứng trước một tình thế hết sức khó khăn. Vì vậy, chúng đang nỗ lực rất lớn nhằm giữ thế ổn định, cải thiện tình hình bị động lúng túng, tạo điều kiện thuận lợi trên bàn đàm phán.


Ở Lào, Mỹ - ngụy Lào đang chuẩn bị cho một cuộc phản công quy mô lớn vào đầu mùa mưa nhằm chiếm lại Cánh Đồng Chum. Với địa bàn có giá trị chiến lược quan trọng như vậy nên nếu Mỹ - ngụy Lào chiếm được khu vực này chúng sẽ có thế công và thế thủ, uy hiếp vùng giải phóng Lào và đường vận chuyển chiến lược của ta từ Bắc vào Nam. Nhận thấy tầm quan trọng của khu vực này nên ngay từ năm 1961 đến năm 1972, tranh chấp giữa ta và địch diễn ra rất quyết liệt ở khu vực Cánh Đồng Chum. Qua 5 lần tiến công trong mùa khô, ta đã giành thắng lợi, nhưng đến mùa mưa hằng năm, địch biết được những khó khăn của ta về bảo đảm hậu cần, tiếp tế nên chúng giành giật lại. Sau mỗi lần thất bại, quy mô sử đụng lực lượng của địch càng lớn, hành động liều lĩnh, thủ đoạn xảo quyệt hơn.


Trước tình hình đó, Thường trực Quân ủy Trung ương nhận định: "Do mùa mưa đã đến, địch tranh thủ giành giật quyết liệt với ta, nhất là ở khu vực Cánh Đồng Chum. Để giành lợi thế về quân sự, chính trị cũng như ngoại giao, địch có thể dùng lực lượng tương đối lớn lấn chiếm lại Cánh Đồng Chum. Vàng Pao đang tích cực chuẩn bị lực lượng và xin thêm viện trợ, Mỹ có thể cung cấp thêm trang bị kỹ thuật cho chúng và có thể tăng thêm quân Thái Lan vào"1 (Thường vụ Quân ủy Trung ương quyết nghị về nhiệm vụ sắp tới của Mặt trận Cảnh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, Phông Cục Tác chiến, HSS 5770). Dự kiến đây là đợt hành quân lấn chiếm quy mô tương đối lớn của địch có thể diễn ra trong mùa mưa hoặc đầu mùa khô. Lực lượng nòng cốt của địch ở Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là các GM2 (Binh đoàn cơ động của địch tương đương các trung đoàn) của lực lượng đặc biệt Vàng Pao (khoảng 8 GM, từ GM 21 đến GM 28); quân phái hữu Lào thường làm nhiệm vụ hỗ trợ hoặc độc lập phụ trách trên một hướng; quân đánh thuê Thái Lan giữ bàn đạp phía sau và chốt giữ các khu vực mới chiếm. Cả ba loại quân này đều do Mỹ trực tiếp tổ chức và chỉ huy, nhưng mỗi loại lại có sở trường riêng và được sử dụng trong những nhiệm vụ khác nhau.


Khi tổ chức đánh lớn, chúng có thể sử dụng quân Thái Lan trực tiếp tiến công. Lực lượng phái hữu Lào làm nhiệm vụ hỗ trợ và hoạt động trên hướng phối hợp. Lực lượng địch có thể tập trung 40 - 50 tiểu đoàn bộ binh; 2 - 3 tiểu đoàn pháo binh. Không quân Mỹ chi viện có thể bị hạn chế do phải đối phó ở miền Nam Việt Nam, nhưng khi tập trung có thể huy động từ 60 - 80 lần chiếc/ngày, cao nhất lên tới 150 lần chiếc/ngày, kết hợp sử dụng máy bay B-52 với số lượng cao hơn trước đây. Cơ động bằng máy bay lên thẳng chờ quân với khả năng được 1 GM (2-3 tiểu đoàn quân Thái Lan) trong 1 ngày.


Nhận định về khả năng tác chiến của địch, ta cho rằng trình độ tác chiến của quân ngụy Lào và quân Thái Lan về cơ bản bị hạn chế, tinh thần giảm sút do bị thất bại liên tiếp trên chiến trường, nhưng chúng được Mỹ trang bị, chi viện và trực tiếp chỉ huy để thực hiện mưu đồ của Mỹ, các biện pháp, thủ đoạn tác chiến thực chất là của Mỹ, do Mỳ điều hành nên khả năng tác chiến rất linh hoạt và phối hợp nhịp nhàng. Trong tiến công, địch mạnh ở chỗ: Quân đông, hỏa lực nhiều, chủ động về thời gian và địa điểm, năng lực cơ động nhanh để tạo sự bất ngờ đối với ta, lại được kích động bằng chiến tranh tâm lý, được kích thích bằng lợi ích vật chất nên từng lúc, từng nơi địch thể hiện rõ bản chất ngoan cố.


Thủ đoạn tác chiến của địch: Kết hợp sức mạnh của không quân Mỹ với sở trường của quân tay sai. Địch rất coi trọng việc chi viện bằng không quân, xem đó là biện pháp hỗ trợ hàng đầu trong tiến công. Trong chiến dịch này, không quân Mỹ bị phân tán nên có hạn chế hơn trước, song từng thời điểm, trên từng khu vực nhất định, chúng vẫn sử dụng tập trung nên mật độ còn rất cao; đặc biệt chúng tận dụng loại máy bay T-28 rất quen thuộc địa hình, có khả năng đánh bám dai dẳng với độ chính xác cao. Ngoài ra, máy bay B-52 đánh "rải thảm" phía sau cũng gây nhiều khó khăn trong việc tiếp tế, vận chuyển, cơ động lực lượng. Tận dụng sức mạnh của không quân, pháo binh phá hủy công sự, sát thương ta trước lúc tiến công; chú trọng đánh chiếm bàn đạp để triển khai lực lượng khu trung gian; nghi binh rộng rãi nhằm buộc ta phân tán lực lượng, bị động đối phó, trước khi địch hình thành hướng tiến công chủ yếu; phát huy sở trường luồn lách của quân phỉ Mẹo, vòng tránh các chốt mạnh để đánh vào bên sườn hoặc phía sau ta; kết hợp đột phá phía trước với quấy rối hậu phương, triệt phá hoặc ngăn chặn tiếp tế vận chuyển của ta.


Đây là mặt mạnh của địch, do đó việc tổ chức đánh máy bay địch một cách rộng rãi, nhất là loại máy bay T-28 và máy bay lên thẳng là yêu cầu vô cùng quan trọng. Thủ đoạn phổ biến của địch là thường tận dụng yếu tố bất ngờ tiến công nhiều hướng từ bên ngoài kết hợp đổ bộ bằng máy bay lên thẳng vào giữa và sau đội hình phòng ngự của ta và đánh phá hậu phương, triệt cắt tiếp tế vận chuyển của ta. Do ta đánh trên đất bạn, mọi mặt bảo đảm phải vận chuyển từ miền Bắc Việt Nam sang trên một trục duy nhất kéo dài trong điều kiện khó khăn của mùa mưa nên địch đã triệt để tận dụng nhược điểm này của ta để đánh phá ác liệt bằng mọi biện pháp: Hỏa lực không quân, đổ quân biệt kích, các toán phỉ chốt đường phá hoại..., mưu đồ của địch là cô lập phía trước với phía sau của ta, buộc ta phải phân tán đối phó, tạo ra tình hình không ổn định ở hậu phương đế chúng đánh chiếm các địa bàn phía trước.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #118 vào lúc: 11 Tháng Sáu, 2025, 08:49:44 pm »

Về hướng tiến công của địch: Trên cơ sở đánh giá về địch, Bộ Tư lệnh Chiến dịch nhận định, từ căn cứ ở Sảm Thông - Loong Chẹng, Tôm Tiêng, hướng tiến công chủ yếu của địch có thể từ hướng Nam và Tây Nam đánh vào Cánh Đồng Chum. Để thực hiện được ý đồ đó, trước hết chúng phải chiếm được khu trung gian làm bàn đạp giải tỏa áp lực của ta để triển khai lực lượng. Nếu ta giữ vững khu trung gian, địch có thể tiến công chủ yếu từ hướng Tây hoặc hướng Nam. Có thể cùng một lúc tiến công trên nhiều hướng kết hợp với đổ bộ bằng máy bay lên thẳng bất ngờ đánh vào sườn hoặc phía sau khu vực phòng ngự then chốt của ta. Khi bị chặn lại hoặc có nguy cơ bị tiêu diệt, địch có thể lật cánh, chuyển hướng.


Về sử dụng lực lượng: Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã nắm chắc thành phần, lực lượng, phiên hiệu đơn vị và khả năng tác chiến của lừng đơn vị địch, nhất là các GM. Đối với các binh đoàn cơ động của địch, dự kiến cuối tháng 7 hoặc đầu tháng 8 năm 1972 mới có thể tập trung tiến công quy mô lớn ra Cánh Đồng Chum vì chúng đang trong giai đoạn huấn luyện tại Thái Lan. Trước mắt địch có thể sử dụng các GM mới tăng cường đến, kết hợp với quân Thái Lan tổ chức tiến công khu trung gian với mục đích thăm dò ta, đồng thời vừa để tạo bàn đạp. Khi tiến công, địch sẽ tập trung binh lực, hỏa lực đột phá trận địa với ưu thế lực lượng, phương tiện vượt trội so với ta, nhất là trên hướng tiến công chủ yếu, với sự chi viện hỏa lực mạnh của không quân, pháo binh. Nếu khả năng giữ chốt của ta có hạn, địch sẽ từng bước lấn đánh liên tục, bám được chốt sẽ phát triển chiếm chốt1 (Chốt 1900B, 1800 ở khu trung gian; các điểm cao ở các cụm chốt Phu Hủa Sang, Phu Keng Luông, Phu Thông... ở phía Tây Nam, Phu Học ở hướng Đông Bắc địch đã sử dụng thủ đoạn này đố chiếm chốt). Ở rừng núi, địch phát huy sở trường luồn lách để đánh vào bên sườn, phía sau lưng ta, tổ chức tiến công nhiều đợt. Khi tiến công bị thất bại, chúng có thể tăng cường lực lượng, thay đổi thủ đoạn tác chiến để đối phó.


Nhận định chính xác âm mưu, thủ đoạn của địch là yêu cầu rất cơ bản trong tác chiến vì "biết địch biết ta, trăm trận không nguy", có như vậy ta mới phát huy sở trường, cách đánh của ta, khoét sâu chỗ yếu của địch, đẩy địch vào thế bị động lúng túng. Trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng "do ta nắm bắt kịp thời quy luật của chiến tranh và quy luật hoạt động của địch trên chiến trường Lào"2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1987, tr. 111) nên đã giành thế chủ động trong suốt quá trình chuẩn bị và thực hành chiến dịch. Việc nhận định âm mưu, thủ đoạn hành động của địch, hướng mũi tiến công, lực lượng phương tiện, thời gian địch tiến công... được Bộ Tư lệnh Chiến dịch tiến hành khá chặt chẽ nên đã chuẩn bị phương án chiến đấu và dự kiến được các tình huống sát với diễn biến chiến dịch.


Đúng như nhận định của Bộ Tư lệnh Chiến dịch, khi bước vào mùa mưa (giữa tháng 4), địch ra sức nống lấn nhằm đẩy lui áp lực của ta đang uy hiếp Loong Chẹng, đồng thời gấp rút điều động lực lượng từ nơi khác tới tăng cường cho Quân khu 2 nhằm thay thê các GM của lực lượng đặc biệt Vàng Pao. Nhiệm vụ tác chiến của ta là sử dụng phân đội nhỏ kết hợp đặc công, pháo cối thường xuyên đánh tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận quân địch trong phạm vi chúng chiếm đóng, chủ động phá kế hoạch của địch chuẩn bị tiến công lấn chiếm vùng giải phóng. Trường hợp địch lấn chiếm từng bước thì ta tập trung từng trung đoàn, tiểu đoàn đánh tiêu diệt, bẻ gãy từng cánh quân lấn chiếm của địch. Trường hợp địch tiến công lấn chiếm lớn từ nhiều hướng, nhiều đường hoặc kết hợp giữa lực lượng trên bộ với quân đổ bộ bằng trực thăng, ta sử dụng toàn bộ lực lượng hiện có, kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng phòng ngự và lực lượng cơ động, kết hợp giữa đánh nhỏ, đánh vừa, đánh lớn tiêu diệt địch.


Trong đợt 1 của chiến dịch, địch đã đánh chiếm khu trung gian làm bàn đạp chuẩn bị cuộc tiến công lớn ra Cánh Đồng Chum. Nhung tình huống này Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã dự kiến từ trước nên ta đã đánh tan 2 tiểu đoàn quân Thái Lan, 4 tiểu đoàn ngụy Lào; đồng thời, tổ chức lực lượng đặc công, pháo binh đánh phá sân bay, kho tàng, sở chỉ huy của Vàng Pao, buộc chúng phải bị động đối phó. Sau khi giành giật với ta không thành ở khu trung gian, địch đã tổ chức 40 tiểu đoàn tiến công vào Cánh Đồng Chum trên 3 hướng. Lúc này (11.8.1972), Bộ Tư lệnh Chiến dịch nhận định: Cuộc tiến công của địch đã thực sự bắt đầu (đợt 2), nhưng chúng mới sử dụng 4 GM trên 3 hướng, còn 3 GM chưa xuất hiện, trong đó có 2 GM mạnh nhất (GM 21 và GM 26) nên đã chủ động nấm đội dự bị chiến dịch đề phòng. Khi địch sử dụng máy bay lên thẳng bất ngờ đổ GM 21 và GM 26 xuống Bắc Phu Keng hình thành hướng chủ yếu đánh hiểm, thọc sâu, chia cắt chiến dịch thì ta đã kịp thời tổ chức lực lượng phản đột kích, đánh bại lực lượng thọc sâu của địch.


Khi bị đánh thua đau, địch tăng cường lực lượng và sử dụng các thủ đoạn thọc sâu, vu hồi, đánh vào hậu phương ta. Thủ đoạn này của địch đã được Bộ Tư lệnh Chiến dịch dự kiến ngay từ trong kế hoạch tác chiến. Trong đợt 3, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã sử dụng lực lượng dự bị bẻ gãy cánh tiến công chủ yếu mới hình thành của địch ở hướng Tây, chặn đánh biệt kích khi chúng đổ bộ xuống hậu phương ta. Sau 3 đợt tiến công không thành, mùa mưa sắp qua, hy vọng chiếm lại Cánh Đồng Chum rất mong manh, nhưng do bị thúc ép trước tình hình chính trị đang hết sức khẩn trương, Mỹ và tay sai phải tập trung nỗ lực cao nhất, huy động 60 tiểu đoàn quân ngụy Lào và Thái Lan vào cuộc tiến công cuối cùng, với hy vọng giành thắng lợi để thuận lợi trên bàn đàm phán vào ngày 15 tháng 10 năm 1972. Trước tình hình đó, ngày 26 tháng 10 năm 1972, Bộ Tư lệnh Chiến dịch hạ quyết tâm đánh trận then chốt quyết định ở Nam cánh đồng Căng Xẻng. BỊ đánh bất ngờ "địch rối loạn ngay từ phút đầu, tháo chạy về phía Nam, đồng thời dùng không quân ngăn chặn các mũi tiến công của ta"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cảnh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972, Sđd, tr. 59), và cuối cùng chúng vẫn bị thất bại nặng nề.


Như vậy, sau hơn 5 tháng tiến công vào Cánh Đồng Chum với nỗ lực cao nhất, nhưng cuối cùng địch hoàn toàn thất bại trước thế trận vững chắc của ta. Thắng lợi của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng bắt nguồn từ nhiều nhân tố, như vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Chiến dịch, công tác chỉ huy- tham mưu tác chiến của Bộ Tư lệnh Chiến dịch, công tác tổ chức chuẩn bị chiến đấu chu đáo, tinh thần chiến đấu quả cảm của cán bộ, chiến sĩ, tinh thần đoàn kết liên minh chiến đấu của các lực lượng vũ trang Việt - Lào..., trong đó công tác nhận định đánh giá âm mưu, thủ đoạn của địch giữ vai trò quan trọng. Do nắm chắc về tình hình địch (cả về chiến lược, chiến dịch, chiến thuật) nên ta đã tiến hành tốt công tác tổ chức chuẩn bị chiến đấu, dự kiến sát đúng các tình huống chiến dịch, vận dụng linh hoạt, kịp thời các tình huống chiến đấu, đẩy địch vào thế bị động lúng túng. Từ công tác nghiên cứu, dự báo tình hình địch trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, ta tiếp tục vận dụng, nghiên cứu âm mưu, thủ đoạn chống phá của địch trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, ngoại giao... Đặc biệt, tận dụng lợi thế của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta bằng các bài viết tuyên truyền xuyên tạc, nói xấu, kích động trên không gian mạng làm giảm niềm tin của quần chúng nhân dân với Đảng. Đây là một trong những thủ đoạn "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch mà chúng ta càn đấu tranh phản bác bằng các bài viết, bài nói trên không gian mạng. Chỉ có trên cơ sở nắm chắc về địch ta mới có các giải pháp đấu tranh hiệu quả nhằm giữ vững ổn định chính trị, không để đất nước bị bất ngờ trong mọi tình huống.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #119 vào lúc: 11 Tháng Sáu, 2025, 08:53:20 pm »

CHIẾN TRƯỜNG CAMPUCHIA TRONG THỜI GIAN DIỄN RA CHIẾN DỊCH PHÒNG NGỰ CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG


Thượng tá ĐỖ CÁC ĐÔNG
Viện Lịch sử quân sự - Bộ Quốc phòng


Những thắng lợi to lớn về quân sự giành được trong năm 1971 - 1972 của quân và dân Việt Nam, Lào, Campuchia tại chiến trường Đông Dương đã làm thất bại một bước cơ bản chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" và "Đông Dương hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ. Sau một quá trình cố gắng cao độ trong nỗ lực xây dựng và tăng cường sức mạnh binh hỏa lực cho quân đội Sài Gòn, Mỹ từng bước chuyển trách nhiệm chiến đấu cho quân đội và chính quyền tay sai thực hiện vai trò nòng cốt cho chiến lược phi Mỹ hóa chiến tranh tại Đông Dương, để quân Mỹ rút dần về nước, mà vẫn giữ được miền Nam Việt Nam và cả bán đảo Đông Dương trong tầm ảnh hưởng của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, những toan tính và âm mưu nói trên của chính quyền Níchxơn đã bị phá sản bởi liên minh đoàn kết chiến đấu của ba dân tộc Việt Nam - Lào - Campuchia từng được hình thành trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và ngày càng phát triển trong công cuộc chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ và tay sai.


1. Chiến trường Campuchia trước khi diễn ra Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng

Tại Campuchia, với nguồn viện trợ vũ khí trang bị khá dồi dào và cả cố vấn quân sự Mỹ, quân đội Cộng hòa Khơme dưới sự chỉ huy của Tổng thống Lon Non (Lon Nol) đã bị thao túng và trở thành tay sai đắc lực của đế quốc Mỹ. Chính quyền Lon Non khẳng định cho phép quân đội Sài Gòn có quyền đóng quân lâu dài ở Campuchia chừng nào còn "quân Bắc Việt Nam" và "Việt cộng" ở Campuchia1 (Tài liệu lưu trữ Ban Dối ngoại Trung ương Đảng, Vụ Lào - Campuchia, Cặp hồ Sơ tài liệu: Quan hệ Việt Nam - Campuchia (1954 - 1975)). Được Mỹ yểm trợ bằng không quân và pháo binh hạng nặng, chính quyền Sài Gòn và Thái Lan giúp huấn luyện, điều quân trực tiếp tham chiến hỗ trợ, quân đội Cộng hòa Khơme mở các chiến dịch tiến công quân sự nhằm đối phó với tình trạng khẩn cấp trong cuộc nội chiến Campuchia, đáp ứng yêu cầu về chiến lược của Mỹ, đồng thời trục xuất tất cả lực lượng quân sự của ta ra khỏi các vùng căn cứ trên lãnh thổ Campuchia, bình định hậu phương và giải tỏa các đường giao thông chiến lược, triệt phá chủ trương giải phóng miền Nam của ta.


Đối lập với chính quyền Lon Non là Quân cách mạng Campuchia gồm các nhóm vũ trang độc lập của những người Cộng sản Khơme liên minh với Mặt trận Đoàn kết dân tộc Campuchia (FUNK) và Chính phủ Hoàng gia Đoàn kết dân tộc Campuchia (GRIINK) do Xihanúc (Sihanouk) đứng đầu. Sau đó, Quân cách mạng Campuchia được cải tổ trở thành Lực lượng vũ trang giải phóng quốc gia nhân dân Campuchia (CPNLAF), nhanh chóng mở rộng quyền lực và ảnh hưởng của mình ở những vùng nông thôn, tiến hành các hoạt động quân sự rộng khắp, với mục tiêu chống lại quân đội của chính phủ Lon Non và sự can thiệp của đế quốc Mỹ, xây dựng đất nước Campuchia độc lập, dân chủ.


Kiên định phương châm "Đông Dương là một chiến trường", "chung chiến hào đánh Mỹ", trên chiến trường Campuchia, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam chủ trương chỉ đề một số chủ lực, phối hợp với bạn làm sao giữ vững được căn cứ hành lang, đồng thời tiếp tục củng cố và mở rộng vùng giải phóng1 (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Lịch sử Đảng, Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954 - 1975), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002), tạo thế đứng chân chiến lược và thế mạnh mới cho chủ lực ta. Trong năm 1971, ta và bạn đã tổ chức chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân "Toàn thắng 1/71 NB"2 (Bộ Quốc phòng - Trung tâm Từ điển Bách khoa quân sự, Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 170) của Mỹ và tay sai tại khu vực Cratích (Kratich), Đường số 7 - Đầm He - Xuông Chúp (Soung Cliup) thuộc Côngpông Chàm (Kampong Cham), Đường số 13 - Xnun (Snoul) (4.2 - 31.5) nhằm củng cố, giữ vững vùng giãi phóng bao gồm các tỉnh Xtung Treng, Ratanakiri, Crachiê (Kratié) và Mônđônkiri ( Mondolkiri); làm bàn đạp xây dựng hậu phương, giải quyết những khó khăn về cơ sở vật chất, nối liền được tuyến vận chuyển chiến lược đường Trường Sơn - Hồ Chí Minh, hệ thống bảo đảm hậu cần được tổ chức tương đối hoàn chỉnh. Những tháng cuối năm 1971, ta và bạn đã phối hợp đánh bại cuộc hành quân "Chenla II" (20.8 - 3.12) của quân Cộng hòa Khơme dưới sự hỗ trợ của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn. Kết thúc năm 1971, trên chiến trường Campuchia, lực lượng cách mạng của bạn có những bước phát triển mạnh mẽ cả về tổ chức, trang bị và tác chiến, tiếp tục tiến công, kiểm soát được đa phần lãnh thổ và 25% dân số Campuchia, cô lập quân đội Cộng hòa Khcrme trên khắp các mặt trận, góp phần làm thất bại một bước quan trọng trong chiến lược "Khmer hóa chiến tranh" của Mỹ ở Campuchia. Việt Nam có điều kiện để kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao, tiếp tục phát huy quyền chủ động tiến công giành những thắng lợi to lớn hơn trong năm 1972.


Bước sang năm 1972, tình hình chính trị của chính phủ Cộng hòa Khơme diễn biến phức tạp, mâu thuẫn nội bộ giữa các phe cánh tiếp tục diễn ra ngày một sâu sắc; mặc dù trực tiếp đứng ra dàn xếp nội bộ trong chính quyền Campuchia, nhưng Mỹ vẫn bị động trong việc điều chỉnh, sử dụng lực lượng. Để cố gắng giữ cho cục diện chiến trường Đông Dương nói chung và tình thế tại Campuchia nói riêng không rơi vào bi đát, Mỹ tiếp tục đẩy cao mục tiêu chiến lược "Đông Dương hóa chiến tranh" như đã xác định, thúc ép chính phủ Lon Non mở các cuộc hành quân lấn đất, chiếm dân, hòng mở rộng địa bàn chiếm đóng. Các chiến dịch quân sự của quân đội Cộng hòa Khơme được phát động có giới hạn nhằm duy trì sự liên hệ với vùng sản xuất lúa gạo đồng bằng Tây Bắc, dọc sông Mê Kông và Quốc lộ 5, tuyến đường liên kết Campuchia với miền Nam Việt Nam. Nhiều cuộc chiến đã diễn ra dọc theo các trục giao thông lớn ở phía Bắc và Nam của Thù đô Phnôm Pênh. Cùng với đó, phía quân đội Sài Gòn đã duy trì các đơn vị biệt động quân của Biệt khu 44 chiến thuật (44th Special Tactical Zone - khu vực Đồng Tháp Mười ở phía Tây Bắc Đồng bằng sông Cửu Long dọc biên giới Việt Nam - Campuchia) để bảo vệ 2 căn cứ tiền phương của chúng là Niếc Lương (Neak Luong)1 (Niếc Lương nằm trên Quốc lộ 1 đi từ Phnôm Pênh đến thị trấn Bavét gần vùng biên giới Campuchia - Việt Nam. Bến phà Niếc Lương ở phía tả ngạn của sông Mê Kông và cách Thủ đô Phnôm Pênh khoảng 61km về phía Đông Nam) và Côngpông Trạch (Kampong Trach)2 (Căn cứ Côngpông Trạch thuộc tỉnh Campốt (Kampot) cách tỉnh Hà Tiên khoảng 19km về phía Bắc), nhằm ngăn chặn từ xa những lực lượng của ta tiếp cận các vùng chiến lược miền Nam từ phía lãnh thổ Campuchia.


Trong kế hoạch chiến lược Xuân - Hè 1972, Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam xác định: Chiến trường Campuchia3 (Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ Tổng tham mưu, Biên niên sự kiện Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2007, tr.7) giữ một vị trí quan trọng ở Đông Dương về chính trị, quân sự và các mặt khác. Mặc dù phải tập trung nỗ lực vào chiến trường chính miền Nam, nhưng phải chú ý thích đáng đến chiến trường Campuchia vì đây là hậu phương trực tiếp của chiến trường Nam Bộ. Phương hướng nhiệm vụ của chiến trường Campuchia năm 1972 là tiếp tục giữ vững và phát triển thế tiến công chiến lược, sử dụng một bộ phận lực lượng phối hợp với bạn tiêu diệt, tiêu liao và làm tan rã một bộ phận quân đội Cộng hòa Khơme, phá âm mưu tổng động viên, xây dựng lực lượng và bình định gom dân của địch; giữ vững cục diện hiện tại, nhất là các vùng căn cứ, hành lang và vùng lúa gạo, khi có điều kiện thì mở rộng thêm, nhất là vùng tả ngạn sông Mê Kông. Không ngừng phát triển chiến tranh du kích, cắt giao thông, uy hiếp đô thị, đánh bại các cuộc hành quân lấn chiếm của địch. Giải quyết tốt mối quan hệ giữa ta và bạn, giúp bạn xây dựng lực lượng chính trị, vũ trang có đủ sức hoạt động, tạo nên cục diện có lợi cho cách mạng Campuchia cả khi có giải pháp chính trị hoặc chiến tranh còn tiếp tục.


Về phía cách mạng Campuchia, nhận thức và giác ngộ chính trị của cán bộ, quần chúng được nâng lên, lực lượng vũ trang phát triển cả về số lượng và chất lượng. Bạn chủ trương xây dựng vùng giải phóng về mọi mặt, chống chia rẽ mặt trận, tích cực phát huy nội lực, tăng cường đoàn kết nhân dân Đông Dương, phối hợp tác chiến, sớm hoàn thành các mục tiêu chiến lược đề ra1 (Tài liệu kho lưu trữ Trung ương Đảng, Phông Ban Chấp hành Trung ương khóa III, Hồ sơ: Thư (điện) của Trung ương Đảng K, Trung ương Cục miền Nam gửi Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Bộ Chính trị, anh Thọ về quan hệ và nội dung trao đổi giữa các anh Bảy Cường, anh Bảy Linh với các đồng chí Hai (Bạn) Năm Chính năm1972, Phông số 11, mục lục số 03. Đ.V.B.Q số 1460).


Về phía ta, nhân lúc Mỹ và tay sai đang thất bại nặng nề trên chiến trường ba nước Đông Dương, các chính khách Mỹ đang trong thời điểm chạy đua vào Nhà Trắng, trên cơ sở quyết tâm của Bộ Chính trị, tháng 2 năm 1972, Quân ủy Trung ương xác định nhiệm vụ quan trọng bậc nhất là tập trung chỉ đạo chiến tranh và tăng cường lực lượng mọi mặt cho chiến trường miền Nam. Đồng thời tiếp tục đẩy mạnh hiệu quả hoạt động liên minh chiến đấu trên các chiến trường Lào và Campuchia, nhằm tăng cường sự chi viện của hậu phương miền Bắc và bạn bè quốc tế cho chiến trường miền Nam, cũng như cách mạng Lào, cách mạng Campuchia; cổ vũ nhân dân ba nước Đông Dương quyết tâm chống Mỹ, tiến lên giành thắng lợi.


Trong mùa khô và 2 thảng đầu mùa mưa năm 1972, ta và bạn giữ và phát huy thế chủ động, liên tục tổ chức phản công các cuộc hành quân của địch. Điển hình là tháng 1 năm 1972, quân đội Cộng hòa Khơme huy động 15 tiểu đoàn chủ lực, 22 tiểu đoàn địa phương quân và Binh đoàn 9, phối hợp với quân ngụy Sài gòn mở cuộc hành quân thứ nhất mang mật danh Prekta để giải tỏa Quốc lộ 1 của Campuchia. Ngay cuối tháng 1, địch tiếp tục mở cuộc hành quân thứ hai mang mật danh Ăngco Chay (Angkor Chey) đánh ra khu vực Ba Rai - Ăngco Vát (Angkor Wat) hòng giải tỏa áp lực của lực lượng của ta tại đây. Trong khi Mỹ dùng không quân ném bom và máy bay chiến thuật yểm trợ cho các nỗ lực của chính quyền Lon Non, song các lực lượng của quân Cộng hòa Khơme và quân đội Sài Gòn vẫn bị chia cắt, phân tán không thể phối hợp chi viện cho nhau, liên tiếp chịu thất bại nặng nề, buộc phải rút về Niếc Lương. Các lực lượng cách mạng Campuchia ngày càng tỏ ra thiện chiến, phối hợp tốt với lực lượng của ta chiếm giữ tỉnh Côngpông Chàm, chặn đứng cuộc hành quân dài 2 tháng của địch vào ngày 21 tháng 2. Đến ngày 20 tháng 3, ta và bạn quay sang tấn công tỉnh lỵ Prây Viêng (Prey Veng) và căn cứ Niếc Lương, thực hiện chiến lược đánh lấn chiếm các khu dân cư, đô thị lớn, lần lượt cắt dứt dần những tuyến giao thông quan trọng, phá hủy cầu Chơroichongva (Chroichongva), áp sát và pháo kích vào Thủ đô Phnôm Pênh, buộc địch phải tạm chấm dứt các hoạt động quân sự vào ngày 29 tháng 3. Khoảng trung tuần tháng 4, quân đội Cộng hòa Khơme tăng cường lực lượng tại Niếc Lương để cố gắng giải tỏa Quốc lộ 1 đi Côngpông Trabéc (Kampong Trabek) nhưng bị thất bại. Đến ngày 30 tháng 4 ta và bạn đã chiếm được thị trấn Côngpông Trạch, đồng thời vẫn chốt giữ vững chắc vùng Ăngco Vát.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM