Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:15:28 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: 50 năm chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng  (Đọc 52294 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #120 vào lúc: 11 Tháng Sáu, 2025, 08:54:10 pm »

2. Chiến trường Campuchia "chia lửa" với Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng

Cuối tháng 5 năm 1972, trong khi Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng của liên quân Việt Nam - Lào tại chiến trường Lào bắt đầu, trên chiến trường Campuchia, ta và bạn cũng đã tích cực thực hiện kế hoạch chiến lược Xuân - Hè 1972.


Ngày 18 tháng 5, Quân giải phóng miền Nam tập kết tại Túc Mét (Tuk Meas), giáp ranh biên giới Campuchia - Việt Nam sẵn sàng đột nhập vào tỉnh Châu Đốc và thị trấn Kiên Lương thuộc tỉnh Kiên Giang. Quân ngụy Sài Gòn đã sử dụng trực thăng đưa 3 tiểu đoàn biệt động quân thuộc Biệt khu 44 chiến thuật, phối hợp 1 chi đoàn thiết giáp đón lõng, ngăn chặn. Đẻ bảo toàn lực lượng và chờ thời cơ thuận lợi, cuối tháng 6 quân ta đã dời đi, tránh giao tranh. Cùng với đó, từ tỉnh Prây Viêng, Sư đoàn 5 Quân giải phóng miền Nam đã xuất kích tấn công vào hướng Mộc Hóa thuộc tỉnh Kiến Tường và thị trấn Tuyên Bình. Tuy nhiên cuộc tấn công không thành khi Sư đoàn 7 quân đội Sài Gòn chặn đánh, ta buộc phải rút về lại Campuchia vào giữa tháng 6. Sang tháng 7 Sư đoàn 7 quân đội Sài Gòn được điều động phối hợp với 1 sư đoàn quân đội Cộng hòa Khơme định họp vây chủ lực Sư đoàn 5 ta ở đoạn Niểc Lương - Côngpông Trabéc. Ngày 4 tháng 7, 2 tiểu đoàn quân đội Sài Gòn bị phục kích và chịu thiệt hại nặng ở phía Bắc khu vực sông Mê Kông. Sau 3 tuần giao tranh, Sư đoàn 5 của ta chủ động rút khỏi Quốc lộ 1 đi Côngpông Trabéc, nhưng lại gây áp lực lớn tại Định Tường, buộc quân ngụy Sài Gòn phải rút phần lớn lực lượng về Việt Nam.


Cuối tháng 7 năm 1972, quân đội Sài Gòn và quân Cộng hòa Khơme sử dụng 18 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn xe tăng và Liên đoàn 7 Bộ binh (lực lượng cơ động) mở cuộc hành quân "Soria II" tái chiếm tuyến hành lang biên giới ở khu vực đường 1 của tỉnh Prây Veng, giáp Tân Hồng (Đồng Tháp) và Tân Hưng (Long An) của Việt Nam. Trước tình hình đỏ, Quân giải phóng miền Nam Việt Nam gồm có Trung đoàn 174 (Sư đoàn 5), Trung đoàn 207 chủ lực Miền và đơn vị C501 (tương đương sư đoàn gồm 4 tiểu đoàn 1, 2, 3, 10), 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn cơ giới, phối hợp với lực lượng bạn gồm 5 tiểu đoàn bộ binh (1,2, 14, 14 và 17), mở chiến dịch phản công tại khu vực Ta Péc (Ta Pek) (Côngpông Trabéc, Prây Veng), nhằm thu hút, ghìm chân và tiêu diệt một bộ phận quân đội Sài Gòn trên đất Campuchia, hỗ trợ lực lượng vũ trang đồng bằng sông Cửu Long chống chương trình "bình định" của Mỹ - ngụy, bảo vệ hành lang chiến lược. Đồng thời, giúp cách mạng Campuchia xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang, đẩy mạnh phong trào cách mạng. Bộ Tư lệnh Chiến dịch xác định phương châm tạo thế bao vây, chia cắt ngay từ đầu, kết hợp thọc sâu, đánh sau lưng địch, đánh trận mở đầu bảo đảm chắc thắng; sử dụng lực lượng, vận dụng chiến thuật linh hoạt, phù hợp với từng đối tượng. Kết quả sau 2 đợt phản công (6.8 - 11.9), ta và bạn phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ, tiêu diệt và bắt sống gần 3.000 quân địch; phá hủy và thu được nhiều vũ khí, trang bị; giải phóng khu vực Ta Péc, uy hiếp vùng Niếc Lương, phá vỡ âm mưu lấn chiếm của địch.


Đồng thời với cuộc phản công chống lại cuộc hành quân "Soria II", theo yêu cầu của cách mạng Campuchia, Quân ủy Trung ương giao cho Bộ Tư lệnh Miền thống nhất với bạn mở chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân Ăngco Chay của quân đội Cộng hòa Khơme tại khu vực Bakheng - hồ Barai - Cốclachan (Ăngco Vát và Ăngco Thom, Xiêm Riệp). Mục tiêu chiến dịch là tiêu diệt một phần sinh lực địch, bảo vệ vùng giải phóng, địa bàn chiến lược của cách mạng Campuchia; đập tan tham vọng muốn phô trương thanh thế và tranh thủ dư luận thế giới của chính quyền Cộng hòa Khơme; hiệp đồng tác chiến, giúp nâng cao trình độ tổ chức chỉ huy và khả năng chiến đấu của lực lượng cách mạng Campuchia. Lực lượng tham gia chiến dịch của ta gồm 5 tiểu đoàn bộ binh thuộc Đoàn 203, Tiểu đoàn Đặc công 28, Đoàn 1 pháo binh Miền; phía quân cách mạng Campuchia có 5 tiểu đoàn bộ binh thuộc Đoàn 304, 1 đại đội trợ chiến, 6 đại đội độc lập. Sau 20 ngày phối hợp tiến công (8 - 28.Cool, ta và bạn đã loại khỏi vòng chiến đấu và bắt sống hơn 500 tên địch, phá hủy một số vũ khí trang bị, đập tan âm mưu lấn chiếm của chính quyền Lon Non1 (Bộ Quốc phòng - Trung tâm Từ điển Bách khoa quân sự, Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Sđd, tr. 166), góp phần giữ vững vung giải phóng Campuchia.


Trên cơ sở những tiến triển thuận lợi mới trong quan hệ ở chiến trường Đông Dương, ngày 28 tháng 8, Thường vụ Trung ương Cục chỉ đạo công tác tăng cường tình đoàn kết chiến đấu và quan hệ hợp tác hữu nghị Việt Nam - Campuchia: "Trong giai đoạn quyết định và hết sức khẩn trương hiện nay, chúng ta phải nỗ lực vượt bậc, một mặt kiên quyết giành thắng lợi lớn nhất trước mắt, mặt khác phát huy hơn nữa thành quả cách mạng tốt đẹp của sự hợp tác chiến đấu giữa Việt Nam - Carapuchia để tạo thành sức mạnh chung tấn công đế quốc Mỹ và bọn tay sai trên chiến trường ba nước Đông Dương"2 (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Lịch sử Đảng, Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung trong Cục miền Nam (1954 - 1975), Sđđ).


Ngày 8 tháng 9, ta và bạn họp lực đánh chiếm lại Côngpông Trabéc, sau đó tiến về hướng Thủ đô Phnôm Pênh. Quân Cộng hòa Kiiơme tăng cường lực lượng ra sức ngăn chặn nhưng chúng đã chịu tổn thất lớn khi mất tới 7 xe thiết giáp M113. Những cuộc đụng độ rải rác xung quanh Côngpông Trabéc diễn ra tới tận tháng 10. Những tháng cuối năm 1972, trong khi chính quyền Lon Non ngày càng rối ren, khốn khó nghiêm trọng khi liên tiếp thất bại về quân sự, cô lập về chính trị và kiệt quệ về kinh tế, thỉ cách mạng Campuchia ngày càng có nhiều thuận lợi, lực lượng gia tăng nhanh về số lượng, quân chủ lực phát triển vững mạnh trên mọi miền khắp toàn quốc, được đông đảo quần chúng ủng hộ, tích cực đẩy mạnh các hoạt động bằng cả chính trị và quân sự.


Như vậy, những thắng lợi trên chiến trường Campuchia trong năm 1972 đã "chia lửa" và góp phần hỗ trợ trực tiếp cho Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, giữ vững thế chiến lược của ta ở Bắc Lào, phối hợp với cuộc tiến công 1972 ở chiến trường Trị - Thiên và Bắc Tây Nguyên, chiến dịch tiến công tổng hợp ở Đồng bằng sông Cửu Long giành thắng lợi; từng bước làm phá sản chiến lược "Đông Dương hóa chiến tranh" tạo bước ngoặt có ý nghĩa chiến lược cho cách mạng ba nước Đông Dương chuyển sang giai đoạn mới. Đặc biệt đã tạo thế thuận lợi cho ta trên bàn đàm phán, buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pari, chấm dứt dính líu về quân sự, rút hết quân Mỹ và quân đồng minh Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #121 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2025, 03:38:41 pm »

CHIẾN THẮNG CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG MÙA MƯA NĂM 1972 GÓP PHẦN QUAN TRỌNG BUỘC MỸ VÀ CHÍNH QUYỀN PHÁI HỮU LÀO KÝ HIỆP ĐỊNH VIÊNG CHĂN (21.2.1973)

TS DUY THỊ HẢI HƯƠNG
Học Viện Khoa học xã hội
- Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam


Cánh Đồng Chum là một cao nguyên rộng lớn thuộc tỉnh Xiêng Khoảng, là địa bàn có giá trị chiến lược cả về quân sự, chính trị và kinh tế của nước bạn Lào. Trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972, trên chiến trường Lào, liên quân hai nước Việt Nam - Lào đã phối hợp mở nhiều chiến dịch quan trọng, giành thắng lợi to lớn, trong đó có Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Chiến thắng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa năm 1972 đã góp phần quan trọng buộc Mỹ và chính quyền phái hữu Lào ký Hiệp định Viêng Chăn vào ngày 21 tháng 2 năm 1973.


Thắng lợi to lớn của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, cùng với chiến thắng ở Đông Bắc, Đường số 6 (Campuchia) năm 1971 đã tạo thành thắng lợi to lớn, có ý nghĩa chiến lược của nhân dân ba nước Đông Dương, đánh dấu bước trưởng thành của các lực lượng vũ trang cách mạng, mở ra khả năng hiện thực đánh bại học thuyết Níchxơn của Mỹ ở Đông Dương. Lực lượng cách mạng của nhân dân ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia ngày càng lớn mạnh. Lúc này, miền Bắc Việt Nam vẫn là hậu phương lớn của các chiến trường, tiếp tục xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và làm tốt nhiệm vụ chi viện cho mặt trận. Tinh thần đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương được củng cố và phát triển.


Trên mặt trận ngoại giao, do bị thất bại nặng nề ở chiến trường Đông Dương và bị dân Mỹ phản đối kịch liệt cuộc chiến tranh, chính quyền Níchxơn buộc phải rút hơn 40 vạn quân về nước. Tuy vậy, chúng vẫn còn để lại một bộ phận lục quân, không quân và hải quân để làm chỗ dựa cho quân đội Sài Gòn, Lào và Campuchia. Mặc dù tình hình quốc tế có những diễn biến phức tạp nhưng lãnh đạo ba nước Đông Dương vẫn luôn chủ động, tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ ngày càng to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và của nhân dân thế giới, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ba nước Đông Dương.


Trước tình hình cục diện chiến trường thay đổi, có lợi cho cách mạng ba nước Đông Dương, đầu năm 1972, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam họp Hội nghị Trung ương lần thứ 19. Hội nghị nhận định: "Từ khi chính quyền Níchxơn thực hiện chuyển hướng chiến lược và tiếp tục chiến tranh xâm lược, cuộc kháng chiến của nhân dân ta và nhân dân hai nước Lào và Campuchia anh em đã giành được thắng lợi to lớn, có ý nghĩa chiến lược, đánh bại một bước quan trọng chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" và học thuyết Níchxơn ở Đông Dương. Năm 1971 là năm địch đã có cố gắng lớn mà cũng là năm ta đã thắng to, chúng đã bị thua nặng"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đáng toàn tập, Tập 33, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr. 30). Từ nhận định trên, Hội nghị đề ra nhiệm vụ cần kíp cho cách mạng Việt Nam và ba nước Đông Dương: "Nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta lúc này... Đánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ, đánh bại học thuyết Níchxơn trên toàn chiến trường Đông Dương, tạo ra một chuyển biến căn bản làm thay đổi cục diện chiến tranh ở miền Nam và trên cả bán đảo Đông Dương, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh trên thế thua bằng một giải pháp chính trị có lợi cho ta mà chúng có thể chấp nhận được"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 33, Sđd, tr. 37, 151).


Tại Lào, từ ngày 3 đến ngày 6 tháng 2 năm 1972, Đảng Nhân dân Lào tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II. Đại hội quyết định đổi tên Đảng Nhân dân Lào thành Đảng Nhân dân cách mạng Lào; thông qua Cương lĩnh chính trị. Cương lĩnh chính trị nêu rõ nhiệm vụ chủ yếu của cách mạng Lào là: "Giương cao ngọn cở cách mạng dân tộc, dân chủ, tăng cường đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết mọi lực lượng cách mạng, mọi lực lượng yêu nước và tiến bộ, đoàn kết chặt chẽ với nhân dân Việt Nam... Tích cực góp phần vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội ở Đông Dương, Đông Nam Á và trên toàn thế giới"2 (Ban Chỉ đạo nghiên cứu lý luận và thực tiễn Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Lịch sử Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005.tr. 158-159). Đại hội thông qua nghị quyết về tăng cường sự đoàn kết Lào - Việt Nam, xác định tình đoàn kết Lào - Việt Nam trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và trên tinh thần quốc tế vô sản, đồng thời đó là mối quan hệ đặc biệt.


Trước những bước phát triển mới của cách mạng ba nước Đông Dương, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam họp Hội nghị lần thứ 20 (4.1972). Hội nghị khẳng định tương quan lực lượng giữa ta và địch cả về thế và lực đã thay đổi căn bản có lợi cho ta: "Diễn biến cơ bản của tình hình là ta đang ở thế thắng, thể chủ động, thế thuận lợi, thế đi lên; địch đang ở thế thua, thế bị động, thế khó khăn, thế đi xuống"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 33, Sđd, tr. 37, 151). Từ những nhận định quan trọng đó, Hội nghị đề ra nhiệm vụ của cách mạng ba nước Đông Dương: "Với tinh thần kiên trì kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn, phải động viên toàn lực, cố gắng vượt bậc, anh dũng tiến lên đẩy mạnh cuộc kháng chiến; đoàn kết phối hợp chiến đấu chặt chẽ với quân và dân Lào, quân và dân Campuchia anh em, đánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ, đánh bại học thuyết Níchxơn, giành lấy thắng lợi to lớn hơn nữa cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 33, Sđd, tr. 151).


Thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, đầu năm 1972, Hội nghị Quân ủy Trung ương xác định: Phải giành thắng lợi to lớn, tạo nên so sánh lực lượng và cục diện mới có lợi cho ta, buộc địch phải chấm dứt chiến tranh năm 1972 theo điều kiện của ta, đồng thời có sự chuẩn bị mọi mặt để tiếp tục đánh mạnh hơn nữa vào mùa khô 1972 - 1973 nếu địch còn ngoan cố kéo dài chiến tranh.


Đặc biệt, trước yêu cầu chiến lược phải giữ vững địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng và trên cơ sở phân tích, đánh giá khoa học cục diện chiến trường, dự báo chính xác âm mưu, thủ đoạn của địch, tháng 2 năm 1972, Quân ủy Trung ương (Việt Nam) ta đã chỉ thị sơ bộ cho Bộ Tư lệnh Chiến dịch tiến công Cánh Đồng Chum - Mường Sủi: "Sau chiến dịch tiến công, liên quân Lào - Việt Nam sẽ chuyển sang phòng ngự chiến dịch"2 (Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ Tổng Tham mưu, Biên niên Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975, Tập 4 (1969 - 1972), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010, tr. 415).


Đầu tháng 4 năm 1972, ngay sau Chiến dịch tiến công Cánh Đồng Chum - Mường Sủi, Quân ủy Trung ương hai nước quyết định mở Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, kiên quyết đánh bại âm mưu tiến công của địch trong mùa mưa năm 1972; đánh bại chiến lược "Đông Dương hóa chiến tranh", "Học thuyết Níchxơn" của đế quốc Mỹ, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ba nước Đông Dương sang giai đoạn giành thắng lợi hoàn toàn.


Xiêng Khoảng là tỉnh nằm ờ Đông Bắc nước Lào, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong cuộc chiến tranh Đông Dương và trong cuộc đấu tranh chống Mỹ, giải phóng dân tộc của nhân dân Lào. Phía Tây Bắc Xiêng Khoảng là Cánh Đồng Chum rộng lớn, địa hình tương đối bằng phẳng. Đây là vị trí chiến lược quan trọng trong chiến tranh giải phóng của nhân dân Lào, lực lượng nào nắm được vùng này là làm chủ được Xiêng Khoảng, làm chủ được khu đệm giữa vùng giải phóng với vùng kiểm soát của Mỹ và chính quyền Viêng Chăn.


"Đối với Đông Dương, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là một hướng chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ của cả ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia, mang tính chất phối hợp chiến trường chung rất quan trọng; có quan hệ mật thiết tới việc bảo vệ trị an vùng biên giới Việt - Lào; có liên quan chặt chẽ đến tuyến vận chuyển chiến lược từ miền Bắc Việt Nam cho các chiến trường ở Đông Dương"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972 (Lưu hành nội bộ), Hà Nội, 1987, tr. 9-10).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #122 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2025, 03:40:02 pm »

Với vị thế chiến lược quan trọng như vậy nên trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975) cả phía Mỹ, chính quyền Vìêng Chăn và phía lực lượng cách mạng, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là địa bàn tranh chấp, nơi diễn ra nhiều cuộc chiến đấu giành giật quyết liệt với quy mô rất lớn2 (Theo ước tính, từ năm 1959 (khi Chính phủ Liên hiệp Lào tan vỡ) đến năm 1973 (khi Hiệp định định Viêng Chăn được ký kết), tại Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đã diễn ra 5 chiến dịch lớn, nhiều chiến dịch kéo dài từ 3 tới 6 tháng) giữa liên quân chiến đấu Việt Nam - Lào với địch theo quy luật: Mùa khô liên quân Việt Nam - Lào đánh địch, giành quyền làm chủ nhưng đến mùa mưa thì địch lại tổ chức đánh chiếm lại. Đến đầu năm 1972 cách mạng Việt Nam và Lào có bước phát triển mới, hai Đảng đã có chủ trương mở cuộc chiến công chiến lược trong năm 1972. Tại Việt Nam, ngày 30 tháng 3 năm 1972, cuộc tiến công chiến lược ở miền Nam Việt Nam bắt đầu, thu được nhiều thắng lợi trên các hướng tiến công1 (Tại Quảng Trị, quân ta đã phá vỡ tuyến phòng ngự kiên cố của địch, ngày 2 tháng 5 tỉnh Quảng Trị được giải phóng. Tại Tây Nguyên, quân ta dành chiến thang tại Đắk Tô - Tân Cảnh, góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đợt 1 Chiến dịch Bắc Tây Nguyên. Tại Khu V, quân ta giải phóng hoàn toàn phía Bắc tỉnh Bình Định, một phần phía Đông tỉnh Quảng Ngãi và huyện Hiệp Đức của tỉnh Quảng Nam. Ở Nam Bộ, ngày 7 tháng 4, ta giải phóng được Lộc Ninh, vây hãm địch dài ngày tại An Lộc nhằm kéo viện ra để diệt...). Tại Lào, trong năm 1972, quân dân Hạ Lào liên tiếp đánh bại cuộc hành quân Xỏn Xây, Phạ Ngừm và Xỉng Đâm của địch.


Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng diễn ra từ ngày 21 tháng 5 đến ngày 15 tháng 11 năm 1972. Bộ Tư lệnh Chiến dịch gồm 6 đồng chí, do đồng chí Vũ Lập làm Tư lệnh đồng chí Lê Linh làm Chính ủy; phía Lào có đồng chí Xiphon Phalikhăn, Tư lệnh Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng làm Phó Tư lệnh về quân sự. Tham gia chiến dịch, về phía Quân tình nguyện Việt Nam, gồm: 5 trung đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn pháo binh, 4 tiểu đoàn pháo cao xạ và súng máy phòng không, 1 tiểu đoàn xe tăng và 2 tiểu đoàn công binh. Lực lượng vũ trang cách mạng Lào gồm: 7 tiểu đoàn chủ lực, 1 đại đội xe tăng, 2 đại đội pháo binh, 2 đại đội súng máy phòng không, 1 đại đội công binh và 4 đại đội bộ đội địa phương2 (Nguyễn Mạnh Hà, Bài học về chủ động xây dựng thế trận phòng ngự trong Chiến dịch Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (Nguồn:http://tapchiqptd.vn/vi/tim-hieu-truyen-thong-quan-su/bai-hoc-ve-chu-dong-xay-dung-the-tran-phong-ngu- trong-chien-dich-canh-dong-chum-xieng-khoang/1252.html. truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2022)).


Về phía địch, với quyết tâm chiếm lại địa bàn chiến lược đã mất, chúng tổ chức bố trí lực lượng lớn trên 4 khu vực, bao quanh Cánh Đồng Chum: Khu vực Sảm Thông - Loong Chẹng có 18 tiểu đoàn (10 tiểu đoàn Thái Lan); khu vực Buôm Loọng có 5 tiểu đoàn; khu vực Tôm Tiêng - Pha Đông có 9 tiểu đoàn (2 tiểu đoàn lính Thái Lan); khu vực Sa La Phu Khun có 9 tiểu đoàn. Pháo binh địch có 3 tiểu đoàn (16 khẩu), không quân tại Loong Chẹng có 2 phi đội máy bay T-28 (9 chiếc). Tính đến ngày 20 tháng 5 năm 1972, lực lượng địch ở Quân khu 2 (Lào) có 76 tiểu đoàn bộ binh và 3 tiểu đoàn pháo binh1 (Nguyễn Xuân Đài, Thắng lợi to lớn của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (Nguồn: https://www.qdnd.vn/ho-so-su-kien/70-nam-quan-doi-nhan-dan-viet-nam-anh-hung/thang-loi-to-lon-cua-chien-dich-phong-ngu-canh-dong-chum-xieng-khoang-261588, truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2022)).


Địa bàn chiến dịch phòng ngự của ta có phạm vi rộng lớn, gồm khu tứ giác Mường Sủi - Noọng Pẹt - thị xã Xiêng Khoảng - Thẩm Lửng (dài 60km, rộng 50km), được chia thành 5 khu vực: Khu trung tâm (Cánh Đồng Chum), khu trung gian (Hin Tặng), khu thứ yếu (Noọng Pẹt) và 2 khu tác chiến phối hợp (Mường Sủi và thị xã Xiêng Khoảng); mỗi khu vực có một số chốt, cụm chốt.


Dựa vào thế trận phòng ngự liên hoàn, vững chắc, vận dụng cách đánh sáng tạo, linh hoạt, suốt gần 6 tháng kiên cường chiến đấu, liên quân Việt Nam - Lào đã đánh 244 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 5.759 tên địch (bắt 179 tên), đánh thiệt hại nặng 3 GM (21, 23, 26), 3 tiểu đoàn quân Thái Lan, đánh thiệt hại nặng 5 GM khác; bắn rơi 38 máy bay, thu 859 khẩu súng các loại (trong đó có 4 khẩu pháo 105mm và 4 khẩu cối 106,7mm)2 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tóm tất các chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975). Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr. 604). Địch đã hoàn toàn thất bại trước chiến dịch phòng ngự chủ động, sự phối hợp chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân giải phóng nhân dân Lào.


Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa năm 1972 là chiến dịch phòng ngự hoàn chỉnh đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân giải phóng nhân dân Lào. Thắng lợi của chiến dịch đã thể hiện sự thống nhất về mặt chủ trương, tinh thần đoàn kết chiến đấu bền chặt, hiệu quả của quân đội hai nước Việt Nam - Lào suốt quá trình chuẩn bị và thực hành chiến dịch; đánh dấu bước phát triển mới về trình độ tổ chức, nghệ thuật tác chiến của liên quân Việt Nam - Lào trong một chiến dịch phòng ngự quy mô lớn, dài ngày.


Thắng lợi của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa năm 1972 có ý nghĩa to lớn đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ba nước Đông Dương nói chung, cách mạng Lào nói riêng. Liên quân Việt Nam - Lào đã đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công quy mô lớn có tính chất chiến lược của Mỹ và phái hữu Lào, bảo vệ được vùng giải phóng có ý nghĩa chiến lược trọng yếu đối với cách mạng; giữ được thế liên hoàn vững chắc giữa các vùng căn cứ địa cách mạng của bạn; tạo ra một bàn đạp lợi hại để ta tiếp tục phát triển thể tiến công, đẩy mạnh hoạt động quân sự và mở rộng vùng giải phóng. Đồng thời làm phá sản âm mưu địch muốn thu hút, giam chân, phân tán chủ lực Việt Nam ở Lào để đỡ đòn cho các chiến trường khác ở Đông Dương, tạo nên thế phối hợp cùng "chia lửa" với chiến trường miền Nam Việt Nam.


Thất bại của đế quốc Mỹ và tay sai ở Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đánh dấu bước thất bại về quân sự của chiến lược "Chiến tranh đặc biệt tăng cường" ở Lào; trực tiếp làm phá sản công thức "Quân ngụy Lào + quân đánh thuê Thái Lan + cố vấn và chi viện hỏa lực tối đa, bảo đảm hậu cần của Mỹ". Tham vọng giành thắng lợi quân sự trên chiến trường để giành thế mạnh trên bàn đàm phán, buộc nhân dân Lào phải chấp nhận các điều kiện có lợi cho Mỹ và tay sai đã bị thất bại hoàn toàn.


Thắng lợi của Chiến dịch đã làm thất bại âm mưu của Mỹ nhằm kéo dài và mở rộng chiến tranh ở Lào, tạo ra những chuyển biến mới về so sánh tương quan lực lượng có lợi cho cách mạng, mở ra triển vọng đấu tranh chính trị, ngoại giao trong việc giải quyết vấn đề Lào. Trước những thắng lợi liên tiếp của cách mạng Lào ở Áttapư, Xalavan, cao nguyên Bôlôven, Đường số 9 và đặc biệt là những thắng lợi của ta trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa năm 1972, từ tháng 10 năm 1972, Mỹ và tay sai ở Lào buộc phải chấp nhận đàm phán với lực lượng cách mạng Lào. Sau 5 tháng đàm phán, ngày 21 tháng 2 năm 1973, tại Viêng Chăn, hai bên đã ký kết Hiệp định về lập lại hoà bình, thực hiện hòa hợp dân tộc ở Lào, gọi tắt là Hiệp định Viêng Chăn năm 1973. Đây là cơ sở chính trị, pháp lý bảo vệ quyền lợi cơ bản của dân tộc, nền trung lập của đất nước và là cơ sở để thực hiện hòa hợp dân tộc, thống nhất quốc gia Lào.


Như vậy, Chiến thắng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa năm 1972 không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với cục diện chiến trường Đông Dương mà còn trực tiếp tạo điều kiện cho các chiến trường khác tiếp tục tiến công, tiến lên đánh bại hoàn toàn chiến lược "Chiến tranh đặc biệt tăng cường" của đế quốc Mỹ ở Lào; góp phần quan trọng buộc Mỹ và chính quyền phái hữu Lào ký Hiệp định Viêng Chăn vào ngày 21 tháng 2 năm 1973, đưa cách mạng Lào bước sang một giai đoạn phát triển mới.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #123 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2025, 07:37:29 pm »

ĐOÀN 463 CHUYÊN GIA QUÂN SỰ TRONG CHIẾN DỊCH PHÒNG NGỰ CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG

Đại úy, ThS NGUYỄN VĂN TÙNG
Viện Lịch sử quân sự - Bộ Quốc phòng


Từ ngày 21 tháng 5 đến ngày 15 tháng 11 năm 1972, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương hai nước Việt Nam và Lào, liên quân Việt Nam - Lào tiến hành chiến dịch phòng ngự trên chiến trường Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn có tính chất chiến lược của Mỹ và quân đội phái hữu Lào, lực lượng đặc biệt Vàng Pao, quân Thái Lan, bảo vệ vững chắc địa bàn có ý nghĩa chiến lược đối với cách mạng Lào, phối hợp với các chiến trường ở miền Nam Việt Nam trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Thắng lợi của chiến dịch để lại nhiều bài học quý cả về lý luận và thực tiễn để vận dụng và phát triển nghệ thuật chiến dịch Việt Nam sau đó. Trong chiến thắng to lớn ấy có đóng góp quan trọng của Đoàn 463 chuyên gia quân sự Việt Nam1 (Đoàn 463 chuyên gia quân sự Việt Nam bên cạnh Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng thành lập ngày 15 tháng 4 năm 1963. Đến cuối tháng 6 năm 1973, Đoàn 463 kết thúc thực hiện nhiệm vụ tại Lào. Tính đến trước ngày ta và bạn mở Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng năm 1972, song song với nhiệm vụ giúp bạn xây dựng và phát triển lực lượng, củng cố chính quyền cách mạng, vùng giải phóng ở địa bàn có ý nghĩa chiến lược đối với cách mạng Lào, Đoàn 463 luôn sát cánh cùng Bộ Tư lệnh Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, với lực lượng vũ trang và nhân dân bạn, các đơn vị quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tham gia nhiều chiến dịch quan trọng, như: Chiến dịch 74A (27.4 - 8.6.1964), Mường Sủi (6-7.1969), Toàn Thắng (10.1969 - 4.1970), 74B (3.2 - 30A1971), Cánh Đồng Chum - Mường Sủi (2.1971 - 4.1972)..., qua đó, cùng bạn giành thắng lợi từng bước, giữ vững địa bàn chiến lược của cách mạng Lào và thực hiện phối hợp chiến trường chung ba nước Đông Dương) trên chiến trường Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.


Đến đầu năm 1972, trước sự chuyển biến mau lẹ của tình hình chiến trường ba nước Đông Dương, nhất là sự phát triển của cách mạng Lào đang tiến đến một giải pháp chính trị, đặc biệt là những thắng lợi to lớn của liên quân Việt Nam - Lào trên chiến trường Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, cán bộ Đoàn 463 và Đoàn 959 chuyên gia quân sự đã chủ động, tích cực tổ chức nghiên cứu, đánh giá âm mưu, thủ đoạn của địch, thế và lực của liên quân Việt Nam - Lào trên chiến trường này, tiến hành trao đổi, bàn thảo với Bộ Tư lệnh Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, thống nhất đề nghị Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng hai nước Việt Nam và Lào tổ chức Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng ngay sau khi Chiến dịch Cánh Đồng Chum - Mường Sủi mùa khô 1971 - 1972 kết thúc. Đây là hướng đề xuất chưa từng có tiền lệ trên địa bàn chiến lược này, bởi các cuộc đụng đầu giữa liên quân Việt Nam - Lào với địch trên địa bàn này thường diễn ra theo quy luật: Mùa khô ta tiến công và giành quyền kiểm soát; mùa mưa địch nống lấn và giành lại quyền kiểm soát. Chủ trương tổ chức chiến dịch phòng ngự khu vực chiến lược Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng được Quân ủy Trung ương ta và bạn nhanh chóng nhất trí. Ngay trong tháng 2 năm 1972, Bộ Tư lệnh Chiến dịch Cánh Đồng Chum - Mường Sủi đã nhận được chỉ thị sơ bộ: Sau chiến dịch tiến công, liên quân Lào - Việt sẽ chuyển sang phòng ngự chiến dịch1 (Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Tập 4 (1969 - 1972), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010, tr. 415).


Ngày 1 tháng 4 năm 1972, Thường vụ Quân ủy Trung ương ta chỉ đạo Đảng ủy và Bộ Tư lệnh 959 và các lực lượng tác chiến ở khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng: "Trong bất cứ tình huống nào cũng phải kiên quyết bảo vệ vững chắc vùng Cánh Đồng Chum, bao gồm cả tuyến trung gian; tiếp tục tiến công địch bằng phương thức thích hợp, đẩy địch xa hơn nữa ở Loong Chẹng... Có kế hoạch tác chiến thích hợp, dùng lực lượng không lớn tiếp tục hoàn thành đánh chiếm những địa hình có lợi cho ta và tích cực tiêu diệt quân địch ra phản kích; ra sức củng cố chỗ đứng chân của ta để từ đó tiếp tục dùng phân đội nhỏ, đặc công, pháo, cối, tiêu diệt địch ở Loong Chẹng; củng cố chỗ đứng chân trong vùng Sảm Thông. Đẩy mạnh việc triển khai kế hoạch phòng thủ khu vực Cánh Đồng Chum, bao gồm cả tuyến trung gian, kể cả Sảm Thông theo chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu. Tư tưởng chỉ đạo của kế hoạch phòng thủ là giữ vững địa bàn, tiêu diệt lực lượng địch khi chúng tiến hành phản công..."1 (Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ Tổng Tham mưu, Biên niên sự kiện Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975, Tập VIII (1972), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2008, tr. 120 - 121). Thường vụ Quân ủy Trung ương đặc biệt nhấn mạnh: "Bộ Tư lệnh 959 cần thấy hết những thuận lợi của ta, những khó khăn của địch để kịp thời khai thác mọi khả năng có lợi nhằm hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ đã đề ra. Đối với bạn, càn có sự bàn bạc cần thiết để bạn thấy rõ phương hướng nhiệm vụ đề ra như trên là chính xác, đồng thời cần có kế hoạch giúp bạn về tác chiến, xây dựng lực lượng và củng cố vùng giải phóng"2 (Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ Tổng Tham mưu, Biên niên sự kiện Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 -1975, Tập VIII (1972), Sđd, tr 122).


Dù thất bại nặng trong mùa khô 1971 - 1972, nhưng địch khẩn trương điều lực lượng từ các quân khu khác đến tăng cường cho Quân khu 2, chuẩn bị đánh chiếm Cánh Đồng Chum trong mùa mưa 1972, tạo thế mạnh trên bàn đàm phán3 (Đến ngày 20 tháng 5 năm 1972, địch đã tập trung ở Quân khu 2 tới 76 tiểu đoàn bộ binh (trong đó có 18 tiểu đoàn quân Thái Lan), 3 tiểu đoàn pháo binh, nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại, được không quân Mỹ chi viện, hình thành 4 khu vực xung quanh Cánh Đồng Chum là: Sâm Thông - Loong Chẹng, Buôm Loọng, Tôm Tiêng - Pha Đông và Sa La Phu Khun).


Nhờ nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của địch và qua kinh nghiệm trong các mùa mưa trước ở chiến trường này, trên cơ sở đề xuất của Đoàn 959, đầu tháng 4 năm 1972, Quân ủy Trung ương hai nước Việt Nam và Lào quyết định tổ chức Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Để thống nhất chỉ huy các lực lượng tham gia chiến dịch, Quân ủy Trung ương ta và bạn quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Chiến dịch, gồm 6 đồng chí, do đồng chí Vũ Lập làm Tư lệnh, đồng chí Lê Linh làm Chính ủy. Bạn Lào có đồng chí Xiphon Phalikhăn - Tư lệnh Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng làm Phó Tư lệnh về quân sự1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử các đoàn 335, 766, 866 quân tình nguyện và 463, 565 chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào (1954 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 203). Lực lượng ta tham gia chiến dịch lúc đầu có 4 trung đoàn bộ binh (174, 148, 866, 335) từ tháng 10 năm 1972 được tăng cường thêm Trung đoàn 88 Sư đoàn 308C, 2 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn pháo binh, 4 tiểu đoàn pháo và súng máy phòng không, 1 tiểu đoàn xe tăng và 2 tiểu đoàn công binh. Lực lượng bạn Lào có 7 tiểu đoàn chủ lực, 1 đại đội xe tăng, 2 đại đội pháo binh, 2 đại đội súng máy phòng không, 1 đại đội công binh và 4 đại đội địa phương và dân quân du kích tỉnh Xiêng Khoảng.


Toàn bộ địa bàn chiến dịch được chia thành 5 khu vực: Khu vực trung tâm Cánh Đồng Chum là khu vực chủ yếu, trong đó hướng phòng ngự chủ yếu là hướng Nam và Tây Nam, hướng phòng ngự thứ yếu là Bắc và Tây Bắc; khu vực Hin Tặng (khu trung gian) là khu vực phòng ngự cơ bản phía trước rất quan trọng của hướng phòng ngự chủ yếu; khu Noọng Pẹt là khu vực phòng ngự thứ yếu; khu Mường Sủi và thị xã Xiêng Khoảng là 2 khu vực hoạt động tác chiến phối hợp, đánh địch từ xa, bảo vệ phía Tây Bắc và Đông cho khu trung tâm. Theo thống nhất giữa ta và bạn: Lực lượng ta sẽ phụ trách khu vực trung tâm Cánh Đồng Chum, khu trung gian, khu Noọng Pẹt; lực lượng bạn phụ trách khu vực thị xã Xiêng Khoảng và khu vực Mường Sủi. Bên cạnh đó, các đơn vị binh chủng, một số đơn vị của bạn được bố trí xen kẽ ở các khu vực phòng ngự để hỗ trợ hiệp đồng chi viện cho bộ binh đánh địch, bảo vệ địa bàn.


Quán triệt và thực hiện quyết tâm của Thường vụ Quân ủy Trung ương hai nước Việt Nam và Lào, của Bộ Tư lệnh Chiến dịch, trên cơ sở phân chia các khu vực và bố trí lực lượng ta và bạn trên địa bàn chiến dịch, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Đoàn 959 tích cực chỉ đạo Đoàn 463 và các lực lượng quân tình nguyện trên chiến trường Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng phối hợp với các lực lượng bạn khẩn trương tiến hành mọi công tác chuẩn bị chiến dịch. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đoàn 959, với phương châm "giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 8 (1953 - 1954), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 105.), cán bộ Đoàn 463 với vai trò là chuyên gia bên cạnh, trực tiếp giúp Bộ Tư lệnh Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đã chủ động trao đổi, thảo luận và thống nhất cao trong các cấp chỉ huy của bạn về chủ trương phối hợp với quân tình nguyện Việt Nam mở chiến dịch phòng ngự; tham vấn cùng Bộ Tư lệnh Quân khu trong công tác chỉ đạo, huy động lực lượng và hướng dẫn các đơn vị vũ trang Quân khu, nhân dân Xiêng Khoảng rốt ráo làm công tác chuẩn bị, xây dựng và củng cố thế trận phòng thủ địa bàn, hiệp đồng với các đơn vị tình nguyện Việt Nam trong thực hành chiến đấu.


Đặc biệt, do đây là lần đầu tiên ta và bạn tổ chức và điều hành một chiến dịch phòng ngự trên địa bàn rộng, quá trình chuẩn bị thế trận phòng ngự, trận địa phòng ngự trong điều kiện địch đánh phá liên tục và mùa mưa đã bắt đầu, với một khối lượng công việc đồ sộ, đòi hỏi cả lực lượng ta và bạn phải có phương pháp đúng đắn, sáng tạo, kịp thời và hiệu quả, với tinh thần lao động quên mình để hoàn thành. Phát huy tinh thần quốc tế vô sản, cùng với các đơn vị tiến hành công tác chuẩn bị chiến dịch, các cán bộ chuyên gia Đoàn 463 trực tiếp cùng các cấp chỉ huy của bạn làm tốt công tác tư tưởng, tuyên truyền vận động và huy động được một lực lượng lớn dân quân du kích và nhân dân Xiêng Khoảng đảm bảo phần lớn tre, gỗ, tôn đưa đến các đơn vị; giúp nhiều ngày công cùng bộ đội xây dựng hệ thống đường cơ động, giao thông hào, cầu, cống, hầm trú ẩn... Nhờ sự nỗ lực cao độ của ta và bạn, chỉ trong một thời gian ngắn, mọi công tác chuẩn bị cho chiến dịch phòng ngự cơ bản hoàn thành. Đây là những yếu tố quan trọng để các đơn vị liên quân Việt Nam - Lào trụ vững và đánh thắng địch trong chiến dịch phòng ngự dài ngày, liên tục.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #124 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2025, 07:38:30 pm »

Từ đầu tháng 4 đến cuối tháng 5 năm 1972, khi ta và bạn đang điều chỉnh tổ chức lại lực lượng theo phương hướng mới, thực hiện việc chuyển tiếp từ chiến dịch tiến công sang chiến dịch phòng ngự ở khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng thì địch mở một loạt các cuộc tiến công nhỏ, lẻ, nhằm thăm dò và chiếm lại một số địa bàn đã mất. Đến ngày 21 tháng 5 năm 1972, địch dùng không quân đánh phá dữ dội các điểm trọng yếu ở khu trung gian và các trục đường vào Cánh Đồng Chum. Nhờ dự kiến sát các tình huống, dựa vào thế trận đã chuẩn bị sẵn, liên quân Việt Nam - Lào vừa kiên quyết đánh trả bảo vệ trận địa, vừa cơ động lực lượng đánh địch trên các hướng. Trên các trận địa, cán bộ Đoàn 463 bám sát các đơn vị chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích bạn phối hợp với các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam kiên cường ngăn chặn địch. Những chiến thắng của liên quân Việt Nam - Lào trong đợt 1 chiến dịch, tạo điều kiện để ta và bạn tổ chức phòng ngự hoàn chỉnh hơn ớ khu vực Cánh Đồng Chum.


Thất bại trong tiến công khu vực phòng ngự cơ bản phía trước của ta, ngày 11 tháng 8 năm 1972, địch tập trung 4 GM (binh đoàn cơ động) từ 3 hướng Đông Nam, Tây và Đông Bắc ồ ạt tiến công trung tâm Cánh Đồng Chum. Bộ Tư lệnh Chiến dịch xác định: Quyết tâm giữ vững khu vực phòng ngự trung tâm phía trước, ngăn chặn giữ vững các điểm tựa phòng ngự ở phía Tây và Nam Cánh Đồng Chum. Tập trung lực lượng phản kích địch trên hướng tiến công chủ yếu (hướng Tây) của địch. Thực hiện quyết tâm đó, Đoàn 463 phối hợp với Bộ Tư lệnh Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng tổ chức các tổ công tác bám sát các trận địa, kịp thời giúp bạn triển khai các kế hoạch hiệp đồng với các đơn vị chủ lực quân tình nguyện, đồng thời động viên các đơn vị vũ trang và nhân dân địa phương bạn trên các hướng khác anh dũng chiến đấu đánh lui các đợt phản kích của địch, giữ vững trận địa. Đặc biệt, cán bộ Đoàn 463 đã sát cánh cùng các đơn vị bạn phối hợp chặt chẽ với các đơn vị thuộc Trung đoàn 335 và Trung đoàn 866 quân tình nguyện Việt Nam tiến công, truy kích địch và giành thắng lợi lớn trong trận then chốt Phu Keng (30.8 - 3.9.1972), góp phần đánh bại đợt tiến công của địch, giữ vững trận địa phòng ngự.


Thất bại trên hướng Tây Bắc, từ ngày 11 tháng 9, địch tăng cường lực lượng, chọn hướng Tây làm hướng chủ yếu tiến công vào trung tâm Cánh Đồng Chum, đồng thời cho lực lượng tiến công ở hướng Đông Bắc, đổ bộ tiểu đoàn biệt kích xuống Ta Li Nọi quấy rối hậu phương của ta. Trước âm mưu, thủ đoạn mới của địch, Bộ Tư lệnh Chiến dịch tập trung lực lượng cả ta và bạn chặn đánh địch trên cả hướng chính (Tây), Nam, Đông và Đông Bắc, nhằm tiêu diệt các đơn vị cơ động của địch, giữ vững địa bàn phòng ngự. Do địch đánh phá ác liệt, yêu cầu công tác chuẩn bị rất khẩn trương, chuyên gia quân sự các đoàn 463 và 959 đã cùng cán bộ chỉ huy các đơn vị kịp thời tổ chức mọi mặt công tác chuẩn bị, xây dựng quyết tâm chiến đấu, động viên bộ đội và cơ động lực lượng vào các vị trí triển khai chiến đấu đúng thời gian.


Những ngày đầu đợt 3 chiến dịch, cuộc đụng đầu giữa liên quân Việt Nam - Lào với quân địch diễn ra rất quyết liệt. Trong hai ngày 17, 18 tháng 9 năm 1972, tại các điểm cao 1276, 1244 và 1294, khu vực Bản Thang diễn ra các trận đánh ác liệt, thậm chí có mỏm đồi 2 bên giành đi, giật lại đến 4-5 lần. Trong chiến đấu ác liệt, trước quân địch mạnh, trang bị hiện đại, có không quân Mỹ yểm trợ, lực lượng ta và bạn chịu nhiều thương vong, sức chiến đấu giảm. Vì thế, có thời điểm cán bộ, chiến sĩ ta và bạn nảy sinh biểu hiện ngại khó, ngại khổ. Phát hiện kịp thời vấn đề này, cán bộ Đoàn 463 và Đoàn 959 đã đến từng chiến hào cùng chỉ huy các đơn vị làm công tác tư tưởng, động viên bộ đội giữ vững quyết tâm chiến đấu. Đồng thời Bộ Tư lệnh Chiến dịch quyết định tạm ngưng tiến công để tăng cường công tác chuẩn bị và điều lực lượng của Trung đoàn 335 cùng 1 trung đội xe tăng vào thay thế cho đơn vị tổn thất rút ra để củng cố, bổ sung lực lượng.


Sau khi lực lượng được tăng cường, liên quân Việt Nam - Lào anh dũng chiến đấu, lần lượt chiếm được Phu Thông, các điểm cao 1286 và 1244 và khu vực Bản Thang, Bản Khổng, buộc địch phải rút chạy, co cụm về Nậm Pít. Đến cuối tháng 9 năm 1972, trận phản đột kích của liên quân Việt Nam - Lào kết thúc. Cùng lúc đó, trên các hướng Nam, Đông Bắc và Đông, các đơn vị ta và bạn cũng phối hợp chặt chẽ, ngăn chặn nhiều đợt tiến công, tiêu hao, tiêu diệt địch, buộc chúng phải tháo chạy. Ta và bạn tiếp tục giữ vững trung tâm Cánh Đồng Chum.


Đầu tháng 10 năm 1972, thời tiết chuyển dần sang mùa khô, quân địch tập trung tới 60 tiểu đoàn đánh chiếm phía Nam Cánh Đồng Chum, nhằm tạo thế cho cuộc đàm phán được ấn định vào ngày 15 tháng 10 năm 1972. Trước diễn tình hình này, Bộ Tư lệnh Chiến dịch quyết định sử dụng lực lượng thích hợp ngăn chặn các mũi tiến công của địch, tạo thế và thời cơ tập trung lực lượng đánh trận then chốt quyết định tiêu diệt lực lượng quan trọng, tiến tới đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công của địch. Cán bộ Đoàn 463 từ cấp Bộ Tư lệnh Quân khu, Tỉnh đội Xiêng Khoảng đến cấp tiểu đoàn, đại đội của bạn đã tích cực, chủ động bám nắm cán bộ chiến sĩ của bạn, lượng định tình hình, cùng chỉ huy các đơn vị của bạn quán triệt nhiệm vụ và quyết tâm của Bộ Tư lệnh Chiến dịch, thống nhất kế hoạch tác chiến hiệp đồng chặt chẽ, nhịp nhàng với các lực lượng trên các hướng chiến dịch. Nhờ sự chủ động, tích cực của cán bộ Đoàn 463 và Bộ Tư lệnh Quân khu, phối hợp với hướng chính ở Nam Cánh Đồng Chum, trên các hướng khác, các đơn vị chủ lực Quân giải phóng nhân dân Lào, lực lượng trung lập yêu nước và các đơn vị bộ đội địa phương và dân quân du kích Xiêng Khoảng tích cực chặn đánh, đẩy lùi các đợt tiến công của quân địch, buộc chúng phải rút về Nậm Pít, Buôm Loọng...


Ngày 15 tháng 11 năm 1972, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng kết thúc thắng lợi. Trong chiến dịch này, ta và bạn đã đánh 244 trận, loại khòi vòng chiến đấu 5.759 tên, đánh thiệt hại nặng 3 GM (21, 23 và 26), 3 tiểu đoàn quân Thái Lan và đánh thiệt hại 5 GM khác, bắn rơi 38 máy bay, thu 859 súng các loại1 (Bộ Quốc phòng, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, Quyển 1: Lịch sử quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 250). Liên quân Việt - Lào đã đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công quy mô lớn của địch, giữ vững địa bàn chiến lược quan trọng Cánh Đồng Chum, làm thay đổi cục diện chiến trường có lợi cho cách mạng Lào. Đoàn 463 chuyên gia quân sự Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cùng các lực lượng ta và bạn chuẩn bị thế trận phòng ngự, đồng thời giúp Bộ Tư lệnh Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Tỉnh đội Xiêng Khoảng, ban chỉ huy các tiểu đoàn, đại đội của bạn chỉ huy các đơn vị bạn tham gia chiến dịch đánh 74 trận, tiêu diệt hàng trăm tên địch, góp phần to lớn vào thắng lợi chung của chiến dịch.


Có thể nói, quá trình thực hiện nhiệm vụ chuyên gia bên cạnh Bộ Tư lệnh Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, cán bộ Đoàn 463 luôn nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đoàn kết chặt chẽ với quân và dân Lào nói chung, quân và dân Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng nói riêng, hoàn thành nhiệm vụ quốc tế giúp bạn. Tiêu biểu là việc thực hiện nhiệm vụ chuyên gia giúp bạn, phối hợp các đơn vị quân tình nguyện, hiệp đồng chiến đấu nhịp nhàng, hiệu quả trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng 1972, góp phần xứng đáng vào thắng lợi của chiến dịch; qua đó góp phần tăng cường và củng cố liên minh chiến đấu đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam. Đánh giá về vai trò của Đoàn 463 giúp Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, sinh thời, đồng chí Khămtày Xiphănđon - Tổng Tư lệnh Quân giải phóng nhân dân Lào từng khẳng định: "Tất cả các khúc sông, ngọn suối có dấu chân bộ đội Lào là ở đó có mặt chuyên gia Đoàn 463. Phải nói với Đoàn 463, ở đâu khó, ở đó có chuyên gia"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử các đoàn 335, 766, 866 quấn tình nguyện và 463, 565 chuyên gia quân sự Việt Nơm tại Lào (1954 - 1975), Sđd,tr 21).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #125 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2025, 07:59:12 pm »

CHIẾN THẮNG CÁNH ĐỒN CHUM - XIÊNG KHOẢNG MÙA MƯA NĂM 1972 BƯỚC TRƯỞNG THÀNH CỦA QUÂN GIẢI PHÓNG NHÂN DÂN LÀO

Trung tá THÔNGXÂY PHILALACIK
Nghiên cứu sinh Quân đội nhân dân Lào tại Học viện Chính trị
- Bộ Quốc phòng Việt Nam


Từ sau năm 1954, nước Lào đã hình thành 2 vùng có chế độ chính trị khác nhau và từ đó cuộc đấu tranh giữa hai lực lượng (Pathét Lào và Vương quốc) đã liên tục diễn ra gay go, phức tạp, quyết liệt, lâu dài, mang tính chất dân tộc, giai cấp và quốc tế. Khi xâm lược Đông Dương, đế quốc Mỹ muốn biến Lào thành một căn cứ quan trọng trong vành đai bao vây, chống phá phe xã hội chủ nghĩa và ngăn chặn phòng trào cách mạng đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á. Để chống lại kẻ thù chung, nhân dân hai nước Việt Nam và Lào đã từng kề vai sát cánh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và tiếp đó là chống đế quốc Mỹ. Đây là mối quan hệ đặc biệt, kiểu mẫu giữa hai Đảng, hai dân tộc, hai quân đội. Do vậy, những thắng lợi trên chiến trường Lào đều là thắng lợi chung của Đảng, quân đội, nhân dân hai nước. Bước trưởng thành của Quân đội Pathét Lào gắn liền với sự giúp đỡ của Quân tình nguyện Việt Nam. Thông qua các trận đánh, các chiến dịch, các đợt hoạt động, Quân đội Pathét Lào đã trưởng thành về lực lượng, có trình độ kỹ, chiến thuật chiến đấu tốt, có khả năng đảm nhiệm độc lập trên từng hướng hoặc nhiệm vụ. Thực tiễn Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đã thể hiện rõ nét bước phát triển của Quân đội Pathét Lào.


Do vị trí chiến lược của khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, nên từ năm 1961, Liên quân Lào - Việt đã liên tục chiến đấu với quân đội Mỹ và tay sai Lào để làm chủ khu vực này. Tuy nhiên, do khó khăn về bảo đảm hậu cần nên đến mùa mưa hằng năm, địch lại chiếm khu vực Cánh Đồng Chum. Bước vào mùa mưa năm 1972, cùng với đẩy mạnh lấn chiếm vùng giải phóng Nam Lào, địch ra sức nống lấn, giải tỏa hòng cải thiện hình thái bị uy hiếp ờ Loong Chẹng. Âm mưu của địch là tập trung lực lượng đánh chiếm Cánh Đồng Chum, hòng tạo thế mạnh làm cơ sở mặc cà với ta trên bàn đàm phán.


Nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của địch, trên cơ sở thống nhất của Quân ủy Trung ương Đảng hai nước Lào và Việt Nam, Bộ Chỉ huy tối cao Quân giải phóng nhân dân Lào quyết định phối hợp với Quân tình nguyện Việt Nam mở chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Lực lượng tham gia phía Lào, gồm có: 7 tiểu đoàn bộ binh, 1 đại đội xe tăng, 2 đại đội pháo binh, 2 đại đội súng máy phòng không, 1 đại đội công binh và 4 đại đội địa phương của Quân đội giải phóng nhân dân Lào và lực lượng trung lập yêu nước. Quân tình nguyện Việt Nam có 5 trung đoàn bộ binh (174, 148, 866, 335 và 88), 2 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn pháo binh, 4 tiểu đoàn pháo và súng máy phòng không, 1 tiểu đoàn xe tăng và 2 tiểu đoàn công binh1 (Bộ Quốc phòng, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, Quyển 1: Lịch sử quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, tr. 246-247). Tư lệnh Chiến dịch Vũ Lập, Chính ủy Chiến dịch Lê Linh.


Bước vào Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, bên cạnh lực lượng du kích, bộ đội Quân giải phóng nhân dân Lào đã chủ động phối hợp với Quân tình nguyện Việt Nam tích cực tiến công địch. Trong đợt 1 của chiến dịch (21.5 - 10.8 ), Quân giải phóng nhân dân Lào đã phối hợp với bộ đội Việt Nam đẩy lui nhiều đợt tiến công của địch ở khu vực Mường Sủi. Trong đợt 2, ngày 15 tháng 8, Quân giải phóng nhân dân Lào phối hợp với Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 866) và Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 335) ngăn chặn địch tiến công vào Bản Lao, Phu Học diệt 600 tên, buộc chúng phải rút chạy về Mường Nọi - Nam Buôm Loọng. Đến cuối tháng 8, địch lại tổ chức tiến công Cánh Đồng Chum. Để ngặn chặn địch, Bộ Tư lệnh Chiến dịch sử dụng Tiểu đoàn 2 Quân giải phóng nhân dân Lào, được tăng cường 4 xe tăng, tiến công trên hướng thứ yếu từ hướng Đông Bắc đánh xuống Bắc Phu Keng. Lực lượng bao vây đón lõng có 2 đại đội Quân giải phóng nhân dân Lào ém sẵn ở bờ Tây sông Nậm Ngừm cùng với 1 đại đội của Trung đoàn 8661 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa năm 1972, Hà Nội, 1987, tr. 50). Sự phối hợp nhịp nhàng của lực lượng liên minh đã buộc địch phải co cụm ở Bản Sang. Nhận thấy thời cơ thuận lợi diệt địch đã tới, 18 giờ ngày 30 tháng 8, Bộ Tư lệnh Chiến dịch lệnh cho Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 335) phối hợp với Tiểu đoàn 2 Quân giải phóng nhân dân Lào, có sự yểm trợ của xe tăng tiến công địch ở Bản Sang, buộc địch phải rút về đồi Năm Mỏm. Trong các đợt 3 và 4, Quân giải phóng nhân dân Lào phối hợp với Quân tình nguyện Việt Nam giành được nhiều thắng lợi.


Có thể nói rằng, chỉ đến Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng thì Quân giải phóng nhân dân Lào mới có bước phát triển về cả nhận thức lý luận và thực tiễn chiến dịch phòng ngự, cách thức tổ chức, phương pháp, hình thức, lực lượng tham gia chiến đấu. Trước đây, Quân giải phóng nhân dân Lào chưa được trang bị lý luận hoàn chỉnh về chiến đấu phòng ngự, tư tưởng chỉ đạo tác chiến phòng ngự cũng chưa được xác định rõ ràng dứt khoát, khâu tổ chức chuẩn bị chưa hình thành hệ thống trận địa vững chắc, liên hoàn theo yêu cầu chiến đấu phòng ngự... nên trong mấy mùa mưa trước, mặc dù lực lượng vũ trang cách mạng Lào đã nỗ lực chiến đấu, tiêu diệt được sinh lực địch, nhưng cuối cùng địch vẫn chiếm được địa bàn chiến lược trọng yếu này, gây nhiều khó khăn cho cách mạng Lào. Trong mùa mưa năm 1972, Bộ Chỉ huy tối cao Quân giải phóng nhân dân Lào đã thống nhất với Bộ Chỉ huy Quân tình nguyện Việt Nam về kế hoạch tác chiến phòng ngự Cánh Đồng Chum. Trên cơ sở đó, mọi công tác chuẩn bị được Quân giải phóng nhân dân Lào tiến hành khẩn trương, chặt chẽ bảo đảm chiến đấu dài ngày.


Về tổ chức chỉ huy: Khi tham gia chiến dịch này, phía Lào cũng thành lập Sở Chỉ huy Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (đóng ở Phen Leng) dưới sự chỉ huy của đồng chí Xiphon Phalikhăn, Tư lệnh Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Mối quan hệ giữa Sở Chỉ huy Quân giải phóng nhân dân Lào với Bộ Tư lệnh Chiến dịch Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là mối quan hệ hiệp đồng theo phân công phụ trách riêng từng khu vực và có sự bàn bạc, phối hợp từng bộ chỉ huy của hai bên. Việc thành lập Sở Chỉ huy Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng vừa thể hiện sự phối hợp hiệp đồng trong chiến dịch, vừa thể hiện khả năng độc lập tác chiến của Quân giải phóng nhân dân Lào. Trong sử dụng lực lượng theo sự phối hợp, hiệp đồng, Bộ Chỉ huy Quân giải phóng nhân dân Lào chủ động, tự quyết định việc sử dụng lực lượng theo phạm vi, mục tiêu đảm nhiệm. Đây là bước phát triển trong tổ chức, sử dụng lực lượng vũ trang cách mạng Lào, ở cả cấp chiến dịch và chiến thuật.


Về tổ chức sử dụng lực lượng tham gia chiến dịch có bước phát triển vượt bậc, mang tính chủ động cao. Nếu trong Chiến dịch tiến công Cánh Đồng Chum lần thứ 2 (13.3 - 26.6.1964), bộ đội Pathét Lào chỉ có 2 tiểu đoàn tham gia thì đến Chiến dịch phản công giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng lần 3 (mang tên Chiến dịch 319 hay Chiến dịch Toàn Thắng (25.10.1969 - 25.4.1970), Quân giải phóng nhân dân Lào đã có 10 tiểu đoàn tham gia1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, 55 năm Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 302). Đánh giá về bước phát triển của Quân giải phóng nhân dân Lào, đầu tháng 5 năm 1970, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng tổ chức Hội nghị tổng kết chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân Cù Kiệt của địch. Trong kết luận Hội nghị của đồng chí Khămtày Xiphănđon - Tổng Tư lệnh Quân giải phóng nhân dân Lào khẳng định: "Qua nhiều năm liên tục chiến đấu, đặc biệt sự thử thách, rèn luyện trong chiến dịch vừa qua, lực lượng vũ trang và bán vũ trang của Quân khu đã có tiến bộ nhiều mặt, vững vàng hơn trước; đoàn kết quân dân, đoàn kết Lào - Việt gắn bó hơn, đoàn kết liên minh với lực lượng trung lập yêu nước chặt chẽ hơn"2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử các đoàn 335, 766, 866 Quân tình nguyện và 463, 565 chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào (1954 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 181). Trong Chiến dịch Cánh Đồng Chum - Mường Sủi (18.12.1971 - 6.4.1972), "Liên quân Lào - Việt đã đập tan toàn bộ tập đoàn phòng ngự vòng ngoài của địch từ Cánh Đồng Chum đến Mường Sủi"1 (Viện Khoa học xã hội Quốc gia Lào - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Liên minh chiến đấu Lào - Việt Nam trên chiến trường Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2009, tr. 184). Những thắng lợi trong các trận đánh, chiến dịch tnrớc đây của Quân giải phóng nhân dân Lào tiếp tục được phát triển lên tầm cao hơn trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, khi đã có 7 tiểu đoàn, 10 đại đội tham gia đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Sở Chỉ huy Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng và Bộ Tư lệnh Chiến dịch.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #126 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2025, 08:00:56 pm »

Sát cánh chiến đấu cùng Quân giải phóng nhân dân Lào còn có lực lượng dân quân, du kích. Đây là lực lượng hỗ trợ đắc lực cho bộ đội chủ lực chiến đấu ngoài mặt trận. Để xây dựng lực lượng này, trước khi chiến dịch diễn ra, Đảng ủy Quân sự Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Đảng ủy - Tỉnh ủy Xiêng Khoảng đã chủ trương xây dựng cơ sở chính trị ở các địa phương, đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động đường lối chính sách của Đảng và tăng xây dựng các tổ chức cách mạng, sắp xếp, điều chỉnh lực lượng quân sự. Các tổ chức đảng đã thành lập và củng cố các đơn vị du kích tại các bản làng với tinh thần sẵn sàng chiến đấu bảo vệ làng xã, bảo vệ nhân dân chống lại các cuộc tiến công càn quét, dồn dân của địch. Các đơn vị du kích vừa đánh giặc, vừa tuyên truyền quân phái hữu, quân Vàng Pao bỏ ngũ. Thanh niên nam, nữ tình nguyện tham gia quân đội ngoài mặt trận; tổ chức vận chuyển vũ khí, đạn dược, thuốc men, lương thực, thực phẩm đến với anh em chiến sĩ... Phong trào cách mạng đã lôi cuốn, thành lập nhiều đơn vị nữ chiến đấu. Họ đã cùng với các nam chiến sĩ chiến đấu tiêu diệt địch, bảo vệ Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng...


Trải qua những chiến dịch sát cánh cùng Quân tình nguyện Việt Nam, Quân giải phóng nhân dân Lào từng bước trưởng thành về mọi mặt. Ban đầu tham gia chiến đấu dưới sự "dìu dắt" của Quân tình nguyện Việt Nam, thì đến Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đã hình thành quyết tâm giành thắng lợi một cách chủ động, có dự kiến, có kế hoạch tác chiến dứt khoát, có triển khai công tác chuẩn bị mọi mặt, đặc biệt là xây dựng hệ thống trận địa phòng ngự chu đáo. Trước đây chiến đấu nhỏ lẻ, thường là một mũi tiến công hoặc phòng ngự ở một vài chốt thì nay đảm nhiệm độc lập trên một hướng chiến đấu (hướng thứ yếu trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng trên 2 khu vực (Xiêng Khoảng và Mường Sủi) trong tổng sô 5 khu vực phòng ngự của chiến dịch. Lực lượng tham gia chiến dịch trước đây chủ yếu là bộ binh với số lượng hạn chế (từ một vài đại đội đến vài tiểu đoàn) thì nay tham gia với số lượng lớn (cỡ trung đoàn thiêu), với nhiều thành phần, cả bộ binh, xe tăng, pháo binh, phòng không, công binh, dân quân du kích. Trong chiến dịch này, Quân giải phóng nhân dân Lào đã đánh được 74 trận, trong đó có 1 trận cấp trung đoàn. Đây thực sự là bước biến đổi về chất, bước phát triển vượt bậc, có tính chất bước ngoặt của Quân giải phóng nhân dân Lào nói riêng, lực lượng vũ trang cách mạng Lào nói chung.


Quá trình sát cánh chiến đấu cùng với Quân tình nguyện Việt Nam, Quân giải phóng nhân dân Lào đã không ngừng trưởng thành về mọi mặt, trước nhất là trong tác chiến. Từ chỗ nhiều năm chỉ chuyên thực hành chiến đấu tiến công với những hình thức tập kích, phục kích; chiến đấu phòng ngự mới chỉ xuất hiện ờ một số ít trận đánh quy mô nhỏ, nên kết quả đạt được không vững chắc. Đến Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, đây là lần đầu tiên trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Quân giải phóng nhân dân Lào cùng với Quân tình nguyện Việt Nam tổ chức thành công loại hình tác chiến chiến dịch phòng ngự một cách hoàn chỉnh, chủ động, đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công quy mô lớn của liên quân phản cách mạng Lào đo Mỹ chỉ huy. Đến nay, những kinh nghiệm thực tiễn vô cùng quý giá được rút ra từ Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa năm 1972 đã trở thành một nội dung quan trọng trong chương trình đào tạo, huấn luyện quân sự của quân đội hai nước.


50 năm đã trôi qua, nhìn lại thắng lợi của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng cũng như những bước trưởng thành của Quân đội nhân dân Lào cho thấy: Quân đội nhân dân Lào đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng Nhân dân cách mạng Lào luôn chiến đấu vì một nước Lào độc lập, dân chủ, hòa bình. Những năm tháng chiến đấu cùng với Quân tình nguyện Việt Nam chống Mỹ và tay sai Lào đã để lại cho Quân đội nhân dân Lào nhiều bài học kinh nghiệm thực tiễn vô cùng quý giá, nhất là những kinh nghiệm về chỉ huy, về vận dụng các hình thức tác chiến. Tư duy nghệ thuật quân sự trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc của Quân đội nhân dân Lào cũng có bước phát triển từ sau Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, đó là sự cần thiết phải tổ chức những chiến dịch, trận đánh phòng ngự. Phòng ngự ở đây không phải là thụ động, mà phòng ngự mang tính tích cực, chủ động để giữ vững địa bàn, giành thế chủ động trên chiến trường, khi có điều kiện và thời cơ chuyển sang tổ chức tiến công giành thắng lợi quyết định trong chiến tranh.


Nghiên cứu về nghệ thuật quân sự trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đòi hỏi quân đội hai nước cần tiếp tục hợp tác và phát triển lên với một tầm cao hơn trong giai đoạn mới. Mối quan hệ đặc biệt Lào - Việt trước đây cần được phát triển để cùng thực hiện nhiệm vụ giữ vững hòa bình, an ninh của mỗi nước và khu vực. Trong hợp tác về quốc phòng - quân sự, Lào - Việt cần thiét thực và đi vào chiều sâu hơn nữa, nhất là hợp tác trong đào tạo cán bộ quân sự, nghiên cứu, tổng kết nghệ thuật quân sự Việt Nam và Lào... Mối quan hệ đặc biệt tốt đẹp giữa hai Đảng, hai Nhà nước, quân đội hai nước sẽ mãi mãi là niềm tự hào, là tài sản vô giá của nhân dân hai nước, để cho tình hữu nghị đó "mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững".
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #127 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2025, 08:03:38 pm »

Phần thứ ba
GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VÀ HIỆN THỰC

PHÁT HUY KINH NGHIỆM PHỐI HỢP,
HIỆP ĐỒNG TÁC CHIẾN VỚI LỰC LƯỢNG VŨ TRANG CÁCH MẠNG LÀO TRONG CHIẾN DỊCH PHÒNG NGỰ CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG VÀO XÂY DỰNG BIÊN GIỚI VIỆT NAM - LÀO HÒA BÌNH, ỔN ĐỊNH, HỮU NGHỊ, HỢP TÁC VÀ PHÁT TRIỂN

Trung tướng LÊ ĐỨC THÁI
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Ủy viên Quân ủy Trung ương
Tư lệnh Bộ đội Biên phòng


Trong lịch sử quan hệ quốc tế, quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về liên minh chiến đấu. Từ rất sớm, nhân dân hai nước đã đoàn kết gắn bó cùng chống thù chung, bảo vệ độc lập, chủ quyền dân tộc. Năm 1930, Đảng Cộng sân Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng, mối quan hệ, tình đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào được nâng lên tầm cao, trở thành tài sản vô giá và là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp cách mạng của mỗi nước. Qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào ngày càng được củng cố bền chặt, qua những chiến công vang dội trên chiến trường, trong đó có chiến thắng của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972.


Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là chiến dịch quy mô tương đối lớn đầu tiên của liên quân Việt Nam - Lào1 (Lực lượng Việt Nam tham gia chiến dịch gồm Sư đoàn 316 (2 trung đoận 174 và 148); 2 trung đoàn độc lập (335, 866), 2 tiểu đoàn đặc công (27, 41), 1 tiểu đoàn tăng - thiết giáp, 2 tiểu đoàn cao xạ 37mm, 2 tiểu đoàn súng phòng không 14,5 và 12,7mm, Tiểu đoàn Pháo binh 42... Trung đoàn 88 Sư đoàn 308C (từ 10.1972). Lực lượng của Lào có 7 úểu đoàn bộ binh, 6 đại đội binh chủng cùng 1 đại đội (Quân khu), 1 đại đội của tinh và 8 trung đội của các huyện Mường Pẹc và Mường Khăm) diễn ra trong thời gian dài nhất trên chiến trường Lào (21.5 - 15.11.1972), đánh bại kế hoạch lấn chiếm mùa mưa của quân phái hữu Lào và quân đội Thái Lan2 (Lực lượng địch gồm: 76 tiểu đoàn bộ binh (trong đó có 18 tiểu đoàn Thái Lan, 3 tiểu đoàn pháo binh) được không quân Mỹ yểm trợ), bảo vệ vùng mới giải phóng, giữ vững thế chiến lược của ta ở Bắc Lào. Công an nhân dân vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng) được giao nhiệm vụ tăng cường hoạt động, phối hợp với bạn Lào, hỗ trợ chiến dịch giành thắng lợi. Các đội công tác ngoại biên Công an nhân dân vũ trang tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh phối hợp chặt chẽ với bạn Lào tổ chức huấn luyện lực lượng dân quân, công an, vận động quần chúng nhân dân tham gia bảo vệ an ninh xã, bản, tiêu diệt phỉ, biệt kích, trấn áp phản động ở Mường Chồn, Phà Cạt, Mường xằng, Moong Long; giúp bạn củng cố chính quyền, xây dựng các đoàn thể quần chúng...3 (Phân đội 56 phối hợp với bộ đội địa phương của bạn đánh Phà Cạt lần thứ 3 (18.10.1972). Sau 3 ngày chiến đấu, ta tiêu diệt được 20 tên, đánh bật địch ra khỏi Tà Xẻng, Phà Cạt; giúp bạn đưa 800 đối tượng vào diện cải tạo. Qua đó, ta phát hiện thêm 5 đường dây và 10 toán gián điệp, biệt kích xâm nhập phá hoại biên giới ta) góp phần cho chiến dịch giành thắng lợi.


Thắng lợi của chiến dịch làm phá sản kế hoạch và cố gắng cao nhất của Mỹ và tay sai hòng chiếm địa bàn chiến lược, giành thế có lợi cho giải pháp chính trị của chúng. Chiến dịch này để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý, trong đó, bài học về phối hợp, hiệp đồng tác chiến với lực lượng vũ trang cách mạng Lào - nhân tố quan trọng quyết định thắng lợi chiến dịch. Là chiến dịch phòng ngự diễn ra trên địa bàn trọng yếu, có tầm ảnh hưởng chiến lược không chỉ đối với sự tồn vong của khu căn cứ địa cách mạng Lào, mà còn với cách mạng ba nước Đông Dương, lực lượng địch có sự chi viện tối đa của đế quốc Mỹ, đòi hỏi công tác chỉ huy, chỉ đạo phối hợp, hiệp đồng tác chiến nhịp nhàng giữa các lực lượng phải được đặt lên hàng đầu. Nguyên tắc cơ bản của ta trong phối hợp, hợp đồng tác chiến với bạn là bình đẳng, tôn trọng chủ quyền, độc lập, tự chù của bạn. Thấm nhuần quan điểm đó, căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ, khả năng, sở trường, so sánh lực lượng giữa ta và địch, Bộ Tư lệnh Chiến dịch có sự phối hợp với bạn giải quyết nhiệm vụ chung và yêu cầu riêng của mỗi lực lượng. Ta và bạn đã nhất trí cao trong đề ra chủ trương, phân công nhiệm vụ và hạ quyết tâm chiến dịch, coi đây là cơ sở để các cấp hai lực lượng cùng phối hợp hành động. Ta chủ động bàn bạc với bạn, duy trì chế độ làm việc tập thể, kịp thời trao đổi tình hình để quyết định phương hướng chỉ đạo, chỉ huy chung; trong phân công nhiệm vụ chiến dịch đảm bảo tính hợp lý, đảm bảo cho các lực lượng tham gia đều giành thắng lợi. Đặc biệt, trong quá trình chiến dịch, ta và bạn phân công, phân nhiệm rõ ràng, từ việc nắm chắc sự lãnh đạo, chỉ đạo của hai Đảng, hai Nhà nước, tình hình địa hình, khí hậu thời tiết, lực lượng ta và địch... nhằm phát huy được thế mạnh, sở trường của bạn (như am hiểu địa hình, phong tục tập quán...).


Những bài học kinh nghiệm này không chỉ có giá trị trong thời điểm chiến tranh mà còn giữ nguyên giá trị và được Công an nhân dân vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng)1 (Ngày 11 tháng 12 năm 1979, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 1148/QĐ-QP, chuyển lực lượng Công an nhân dân vũ trang thành Bộ đội Biên phòng. Xem: Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, 60 năm Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 403) vận dụng có hiệu quả vào xây dựng biên giới Việt Nam - Lào hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển.


Với đường biên giới Việt Nam - Lào dài 2.337,459km, tiếp giáp giữa 10 tỉnh của nước ta với 10 tỉnh của Lào2 (Tiếp giáp 10 tỉnh của nước ta (Điện Biên, Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam và Kon Tum) với 10 tỉnh của Lào (Phong Xa Lỳ, Luông Phabăng, Hủa Phăn, Bô Ly Khăm Xay, Khăm Muộn, Xavanakhẹt, Xalavan, Xiêng Khoảng, Xê Công, Áttapư)), biên giới Việt Nam - Lào được hai nước xác định là những khu vực có vị trí chiến lược hết sức quan trọng về quốc phòng, an ninh và kinh tế - xã hội, là cầu nối quan trọng và là nền tảng vững chắc cho việc duy trì, thúc đẩy quan hệ láng giềng hữu nghị, cũng như giao lưu và hợp tác trên tất cả các lĩnh vực giữa các quốc gia có chung đường biên giới. Để xác lập đường biên giới pháp lý rõ ràng, tạo cơ sở chính trị và pháp lý cho việc giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa hai nước, ngày 18 tháng 7 năm 1977 Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào" được ký kết.


Một năm sau khi ký Hiệp ước, hai nước bắt đầu tiến hành phân giới cắm mốc trên thực địa. Trong công tác đặc biệt quan trọng này, Công an nhân dân vũ trang được giao nhiệm vụ trực tiếp tham gia vào việc phân giới cắm mốc. Công an nhân dân vũ trang dù đã có nhiều kinh nghiệm trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nội địa, bảo vệ Đảng, nhưng khi tham gia thực hiện nhiệm vụ phân giới cắm mốc còn nhiều bỡ ngỡ; thành phần lực lượng tham gia phân giới cắm mốc đa dạng, gồm cả các cấp chính quyền nên cần có sự phối hợp, hiệp đồng với các lực lượng chức năng trong nước, đặc biệt là phối hợp lực lượng tham gia phân giới cắm mốc của bạn để hoàn thành nhiệm vụ. Phát huy kinh nghiệm phối hợp, hiệp đồng trong Chiến địch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Công an nhân dân vũ trang đã phối hợp với các lực lượng chức năng của bạn nghiên cứu, nắm chắc tình hình địa bàn, hoạt động của các nhóm phỉ và phần tử phản động lưu vong, từ đó, tham mun cho các cấp chính quyền xây dựng kế hoạch phối hợp với bạn tra cứu lịch sử đường biên giới trên bản đồ, nghiên cứu khảo sát thực địa, thống nhất các yếu tố pháp lý, kế hoạch rà soát bom mìn, bảo đảm an ninh trật tự, an toàn cho hàng vạn lượt cán bộ hai bên tham gia khảo sát, xây dựng cột mốc; bảo đảm công tác thông tin, cơ yếu, cử cán bộ tham gia làm đội trưởng các đội cắm mốc, tham gia bảo vệ, dẫn đường và tạo điều kiện cho các đội cắm mốc trên thực địa1 (Công an nhân dân vũ trang và lực lượng vũ trang của bạn phối hợp đấu tranh, bất giữ 81 vụ, với 352 tên phi và gián điệp, xử lý 54 đối tượng là cơ sở ngầm của phi, bắt giữ và xử lý 396 vụ buôn lậu, gây mất trật tự, an toàn xă hội)...
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #128 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2025, 08:05:31 pm »

Sau 6 năm công tác trên những đỉnh cao hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt, với quyết tâm và tinh thần tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, ngày 24 tháng 8 năm 1984, lực lượng phân giới cắm mốc hai nước đã hoàn thành phân giới cắm mốc biên giới Việt Nam - Lào trên thực địa với tổng số 202 mốc/2.067km đường biên giới. Kết quả đó đã minh chứng mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước trong phối hợp thực hiện nhiệm vụ. Ngày 24 tháng 1 năm 1986, hai bên ký Nghị định thư ghi nhận kết quả phân giới cắm mốc và ký Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới năm 19772 (Thực hiện xử lý các mốc không cần thiết và cắm mốc quốc giới trên các đoạn sông, suối biên giới được sửa đổi theo Điều VII, Hiệp ước bổ sung. Từ tháng 12 năm 1986 đến tháng 4 năm 1987, hai bên đã phối hợp cắm 6 cụm mốc ba, 2 cụm mốc đôi và xây dựng lại 1 mốc đơn, đồng thời phá bỏ 5 mốc không cần thiết trên sông, suối biên giới. Ngày 16 Iháng 10 năm 1987, hai bên đã ký Nghị định thư bổ sung ghi nhận toàn bộ kết quả phân giới cắm mốc đường biên giới quốc gia giữa Việt Nam và Lào theo Hiệp ước bổ sung. Theo đó, chính thức ghi nhận tổng số mốc đã xây dựng trên thực địa tuyến biên giới Việt Nam - Lào là 199 vị trí/214 mốc quốc giới (190 mốc đơn, 3 mốc đôi và 6 mốc ba)), cơ sở pháp lý đầy đủ để hai bên tổ chức quản lý, bảo vệ biên giới.


Trong thời gian tham gia nhiệm vụ phân giới cắm mốc, thực hiện Chỉ lệnh số 145/CL-BTL ngày 5 tháng 10 năm 1984 của Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng hướng dẫn thực hiện Chỉ thị số 160/CT-TM ngày 19 tháng 5 năm 1984 của Bộ Tổng Tham mưu về nhiệm vụ bảo vệ an ninh biên giới Việt Nam - Lào, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng các tỉnh có chung đường biên giới với Lào vừa thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới trên địa bàn được phân công, vừa nắm tình hình địch, tình hình nhân dân, khả năng lực lượng của bạn ở các xã ngoại biên, tập trung nghiên cứu các trọng điểm; những yêu cầu của bạn về địa bàn, lĩnh vực hoạt động và sử dụng lực lượng; ý định, nguyên tắc phối hợp lực lượng; giúp bạn củng cố cơ sở đảng, chính quyền địa phương từng bước vững mạnh hoạt động có hiệu quả; giúp bạn xây dựng phòng tuyến nhân dân bảo vệ biên giới ở địa bàn điển hình, xây dựng các phương án chiến đấu bảo vệ làng bản, đồng thời huấn luyện quân sự cho dân quân, du kích bạn tiến tới thực hiện "Làng bản an toàn, tự làm chủ"; hướng dẫn xây dựng kế hoạch, lãnh đạo chỉ huy triển khai từng bước trên từng vùng phù hợp để đánh tan các cụm phỉ, giải thoát cho nhân dân thoát khỏi sự cưỡng ép của chúng thiết lập lại an ninh trật tự ở các tỉnh của Lào với phương châm: Ta và bạn cùng đi, cùng làm, sau đó giới thiệu rút kinh nghiệm chung để bạn tự làm1 (Năm 1984, Bộ đội Biên phòng Sơn La tổ chức 2 đội công tác phối hợp với bạn xây dựng và bảo vệ an ninh biên giới đoàn kết, hữu nghị; Bộ đội Biên phòng Thanh Hóa tổ chức 5 đội công tác phối hợp với bạn xây dựng thí điểm 11 xã trong 5 huyện vững mạnh về an ninh chính trị toàn diện, xây dựng phương án bảo vệ làng xã cho 20 xã, củng cố 20 trung đội dân quân, 2.500 dân quân và công an được bồi dưỡng huấn luyện quân sự và nghiệp vụ. Năm 1985, Bộ đội Biên phòng tỉnh Thanh Hóa phối hợp với các lực lượng khác ở Quân khu 4 và lực lượng bạn tiêu diệt 37 tên phi, thu 25 khẩu súng; Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Nghệ An cử Đại đội 11 cơ động chiến đấu giúp bạn, đóng quân tại huyện Noọng Hét, tỉnh Xiêng Khoảng, sau đó tăng cường 1 đơn vị sang Xiêng Khoảng phối hợp với bạn tiêu diệt 135 tên phi, bắt 138 tên, gọi hàng 34 tên và thu 105 súng các loại).


Từ năm 1986 đến nay, Bộ đội Biên phòng thường xuyên phối hợp giúp bạn xây dựng và củng cố hệ thống chính trị cơ sở ở các bản vùng biên, nâng cấp hạ tầng cơ sở vật chất, xây dựng phong trào bảo vệ an ninh và vận động nhân dân tham gia tự quản đường biên mốc giới, nêu cao tinh thần tự giác cách mạng và tham gia củng cố, xây dựng các tổ chức đoàn thể, lực lượng vũ trang trên tinh thần tôn trọng độc lập, chủ quyền của bạn1 (Bộ đội Biên phòng Việt Nam đã triển khai giúp bạn phát triển kinh tế - xã hội tại 5 cụm bản, trao tặng 15 nhà hữu nghị trị giá 900 triệu đòng, 2 nhà văn hóa cộng đông trị giá gần 2 tỷ đồng, 1 điểm trường tiểu học trị giả 800 triệu đồng, 4 trạm quân y trị giá 2 tỷ đồng...). Mô hình kết nghĩa bản - bản khởi nguồn từ cặp bản Ka Tăng (xã Lao Bảo, huyện Hướng Hóa, Quảng Trị, Việt Nam) và cụm bản Đensavẳn (huyện Sê Pôn, tỉnh Xavanakhẹt, Lào), 17 năm qua đã chứng minh hiệu quả và ảnh hưởng của mô hình. Từ mô hình này, trên các tuyến biên giới triển khai nhân rộng hoạt động kết nghĩa với cách gọi mới là "Kết nghĩa cụm dân cư hai bên biên giới"2 (Đến nay, trên tuyến biên giới Việt Nam - Lào có 103 cặp cùng nhau ký kết bản kết nghĩa). Ngoài ra, Bộ đội Biên phòng đã thực hiện tốt Chương trình "Nâng bước em đến trường", khám chữa bệnh cho người dân và lực lượng vũ trang của Lào3 (Bộ đội Biên phòng đã nhận đỡ đầu hơn 100 lượt học sinh của Lào ở khu vực biẽn giới có hoàn cảnh khó khăn với mức hỗ trợ 500.000 đồng/cháu/tháng. Các trạm quân dân y Biên phòng đã tổ chức khám, chữa bệnh và cấp thuốc miễn phí cho 31.318 lượt người dân, lực lượng vũ trang của Lào), góp phần giữ vững ổn định an ninh chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, xóa đói giảm nghèo... ở khu vực biên giới hai nước.


Sau những năm tháng phối hợp phân giới cắm mốc, lực lượng chức năng hai nước lại tiếp tục đồng hành bên nhau vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ để hoàn thành Dự án "Tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Việt Nam - Lào" với 1.002 cột mốc và cọc dấu tại 905 vị trí, được ghi nhận chi tiết tại Nghị định thư về đường biên giới và mốc quốc giới Việt Nam - Lào, "Hiệp định về quy chế biên giới và cửa khẩu biên giới đất liền Việt Nam - Lào" ký ngày 16 tháng 3 năm 2016, mở ra một thời kỳ hợp tác và phát triển toàn diện cho hai nước nói chung và khu vực biên giới nói riêng. Đặc biệt, sau ngày 12 tháng 10 năm 2018, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng Việt Nam và Cục Biên phòng Lào ký kết Thỏa thuận hợp tác biên phòng, quan hệ phối hợp giữa hai lực lượng phát triển lên tầm cao mới.


Tuyến biên giới Việt Nam - Lào cũng là điển hình trong hoạt động hợp tác quốc tế của Bộ đội Biên phòng Việt Nam trong quản lý, bảo vệ biên giới và đấu tranh phòng, chống tội phạm. Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng các tỉnh đã chủ động phối hợp với lực lượng chức năng của bạn tổ chức nhiều hoạt động đào tạo, tập huấn nghiệp vụ, trao đổi kinh nghiệm, diễn tập phòng, chống các loại tội phạm và phối hợp bắt giữ, triệt phá nhiều đường dây tội phạm nguy hiểm. Trên trận tuyến này, lực lượng quản lý, bảo vệ biên giới hai nước Việt Nam - Lào luôn phối hợp chặt chẽ, cùng nhau triệt phá hàng trăm đường dây, ổ nhóm tội phạm xuyên quốc gia, thu giữ hàng nghìn bánh heroin, hàng tấn thuốc phiện, cần sa và hàng triệu viên ma túy tổng hợp1 (Từ năm 2016 đến nay, Bộ đội Biên phòng đã phối hợp với lực lượng chức năng Lào đấu tranh thắng lợi 94 chuyên án, bắt 229 đối tượng, thu 3.012kg ma túy các loại cùng nhiều vũ khí, phương tiện)... Bên cạnh phối hợp điều tra, đấu tranh phá án, Bộ đội Biên phòng phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng quản lý, bảo vệ biên giới của bạn tổ chức diễn tập và triển khai các hành động liên hợp xử lý các tình huống theo thực tế nhằm duy trì an ninh trật tự khu vực biên giới như: Tổ chức thành công diễn tập liên họp trên bản đồ; diễn tập về ngăn chặn người di cư tự do và xuất, nhập cảnh trái phép2 (Diễn tập liên hợp ngăn chặn người di cư tự do và xuất, nhập cảnh trái phép qua biên giới Việt Nam - Lào giữa Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Nghệ An - Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Xiêng Khoảng (2017), Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Điện Biên - Bộ Chỉ huy Quân sự tinh Phong Xa Lỳ (2017), Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Thanh Hóa - Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Hủa Phăn (2018)); phối hợp chỉ đạo tổ chức thành công các hoạt động giao lưu, tọa đàm, kết nghĩa "Đồn - Trạm - Tiểu đoàn hữu nghị" giữa các đơn vị biên phòng để trao đổi thông tin, kinh nghiệm trong công tác quản lý, bảo vệ biên giới, phòng, chống tội phạm, xử lý các vụ việc ở biên giới và xây dựng lực lượng Bộ đội Biên phòng hai nước. Tổ chức tuần tra song phương, tuần tra liên ngành và làm tốt công tác phối hợp trong đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia và chống di cư tự do1 (Phối hợp tổ chức giao lưu "Biên cương thắm tình hữu nghị", giao lưu "Hữu nghị biên giới Việt Nam - Lào" cấp tỉnh tại Quảng Trị và Thanh Hoa. Năm 2017, phối hợp với Tổng cục An ninh, Bộ An ninh và Cục Biên phòng Lào tổ chức thành công giao lưu "Hữu nghị biên giới Việt Nam - Lào" cấp Bộ Tư lệnh. Đặc biệt, cuối năm 2021, phối hợp với bạn tổ chức thành công giao lưu "Hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam - Lào" cấp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng lần thứ nhất tại tỉnh Quảng Trị; cơ bản hoàn thành mô hình kết nghĩa giữa 94 đồn biên phòng Việt Nam với 30 đại đội Bộ đội Biên phòng Lào; tổ chức kết nghĩa 66 cặp kết nghĩa "Đồn - Trạm - Tiểu đoàn hữu nghị" giữa các đơn vị biên phòng. Từ năm 2018 đến nay, hai bên đã tổ chức tuần tra chung gần 3.000 lần, đã có hàng chục kế hoạch xâm nhập biên giới của nhiều toán phản động lưu vong nhằm chống phá cách mạng đã được nhân dân và lực lượng bảo vệ biên giới hai nước phát hiện và ngăn chặn. Tình trạng di cư tự do, kết hôn không giá thú, săn bắt động vật hoang dã, phá rừng... được hạn chế, giữ vững ổn định tình hình an ninh khu vực biên giới).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #129 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2025, 08:06:40 pm »

Tại 33 cửa khẩu trên tuyến biên giới Việt Nam - Lào, việc thực hiện "Hiệp định về quy chế biên giới và cửa khẩu biên giới đất liền Việt Nam - Lào" đã được các cơ quan chức năng hai nước thực hiện nghiêm túc. Cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính về xuất, nhập cảnh, tạo điều kiện thuận lợi cho người, phương tiện lưu thông. Mô hình kiểm tra "một cửa, một điểm dừng" tại cặp cửa khẩu quốc tế Lao Bảo - Đensavẳn là bước đột phá thành công về cải cách thủ tục hành chính; góp phần thúc đẩy sự giao lưu kinh tế và hội nhập toàn diện trong khu vực các quốc gia tiểu vùng sông Mê Kông.


Cùng với những hoạt động phối hợp hiệu quả trong xây dựng, quản lý và bảo vệ biên giới, Bộ đội Biên phòng phối hợp với bạn đào tạo đội ngũ cán bộ cho lực lượng bảo vệ biên giới nước bạn. Vừa đồng thời cử cán bộ, chuyên gia sang tập huấn, trao đổi kinh nghiệm về công tác biên phòng, vừa mở lớp đào tạo cán bộ bảo vệ biên giới1 (Từ năm 2004 đến nay, Bộ đội Biên phòng đã tổ chức tập huấn nghiệp vụ, đào tạo ngắn hạn cho 257 cán bộ quản lý biên giới Lào, đào tạo cho Lào 16 khóa cử nhân quân sự với 100 học viên và 5 khóa chỉ huy biên phòng với 14 học viên).


Trước diễn biến phức tạp của đại dịch COVID-19, Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng báo cáo, xin chủ trương của Bộ Quốc phòng và tổ chức chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị tuyến biên giới Việt Nam - Lào tích cực, chủ động đổi mới các hình thức đối ngoại biên phòng để phù hợp với tình hình thực tế, như: Tăng cường gặp gỡ trên biên giới, phát huy hiệu quả cơ chế liên lạc qua đường dây nóng với lực lượng bảo vệ biên giới Lào, kịp thời trao đổi tình hình liên quan đến hoạt động của tội phạm, biện pháp phòng, chống dịch COVID-19 của mỗi bên...2 (Tính riêng năm 2021, Bộ đội Biên phòng Việt Nam đã hỗ trợ cho lực lượng quản lý, bảo vệ biên giới, cửa khẩu Lào trong phòng, chống dịch COVID-19 với tổng giá trị là 5 tỷ 472 triệu Việt Nam đồng)


Như vậy, đi qua những "đắng cay, ngọt bùi", sát cánh cùng lực lượng bảo vệ biên giới Lào, Bộ đội Biên phòng Việt Nam luôn chủ động phối hợp, hiệp đồng trong quá trình quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, xử lý các vụ việc hai bên biên giới, coi việc giữ vững biên giới của Lào như của chính Việt Nam. Đó cũng là quan hệ phối hợp, giúp đỡ hai chiều, "giúp bạn là mình tự giúp mình", giữ vững hệ thống đường biên, mốc quốc giới Việt Nam - Lào.


Những năm tới, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn trên thế giới; quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh. Kinh tế thế giới tiếp tục tăng trưởng và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi mới. Tuy nhiên, tình hình thế giới, khu vực vẫn còn diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn, khó lường; đặc biệt là sự biến động "hướng Lào" của các nước lớn đối với bạn. Đại dịch COVID-19 tiếp tục diễn biến khó lường, tác động và ảnh hưởng sâu sắc đến các quốc gia. Trước yêu cầu mới, xây dựng biên giới Việt Nam - Lào hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển, cần thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:


Một là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp trong Bộ đội Biên phòng đối với hoạt động hợp tác quốc tế xây dựng, bảo vệ biên giới quốc gia. cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10 tháng 4 năm 2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế; Nghị quyết số 806-NQ/QƯTW ngày 31 tháng 12 năm 2013 của Quân ủy Trung ương về hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng; Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 28 tháng 9 năm 2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ biên giới và Luật Biên phòng Việt Nam.


Hai là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, Quân đội về hội nhập quốc tế, hợp tác quốc phòng và hợp tác biên phòng trong tình hình mới. Tập trung tuyên truyền các nghị quyết của Đảng, của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, quán triệt phổ biến sâu rộng Luật Biên phòng Việt Nam; Thỏa thuận cấp cao giữa Bộ Chính trị Đảng ta với Đảng Nhân dân cách mạng Lào, các điều ước quốc tế về biên giới lãnh thổ, các chỉ thị, nghị quyết, chương trình, đề án, kế hoạch của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng về quan hệ hợp tác với Lào.


Ba là, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tổng hợp, phân tích, dự báo tình hình, những vấn đề liên quan đến quốc phòng, an ninh và quản lý, bảo vệ biên giới Việt Nam - Lào tác động tới hợp tác quốc tế về biên phòng. Phối hợp chặt chẽ giữa các ban bộ ngành Trung ương và địa phương, các lực lượng ở khu vực biên giới với lực lượng bảo vệ biên giới Lào nhằm tăng cường các hoạt động bảo vệ biên giới, cửa khẩu, làm tốt công tác phòng, chống tội phạm vi phạm pháp luật; đẩy mạnh giao lưu, kết nghĩa các đơn vị, lực lượng bảo vệ biên giới Lào, kết nghĩa cụm dân cư hai bên biên giới. Tiếp tục đẩy mạnh hợp tác về giáo dục - đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho bạn; nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế, văn hóa, y tế, khoa học - kỹ thuật trên cơ sở phát huy tiềm năng thế mạnh của mỗi nước.


Bốn là, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng bảo vệ biên giới Lào trong quản lý, bảo vệ đường biên giới, hệ thống mốc quốc giới và giữ gìn an ninh, trật tự ở khu vực biên giới, quản lý cửa khẩu kiểm soát xuất nhập cảnh; kịp thời phát hiện, giải quyết có hiệu quả hoạt động xâm canh, xâm cư, xuất nhập cảnh trái phép, di, dịch cư tự do; đấu tranh chống buôn lậu, mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy, vũ khí, mua bán người qua biên giới, khủng bố và các loại tội phạm khác.


Năm là, tích cực, chủ động tham mưu cho Bộ Quốc phòng đẩy mạnh tham mưu cho các cấp, các ngành và chính quyền địa phương phối hợp chặt chẽ, hợp tác bảo đảm giữ vững ổn định chính trị, an ninh, trật tự an toàn xã hội ở mỗi nước, thực hiện hiệu quả Nghị định thư về hợp tác quốc phòng giai đoạn 2020 - 2024 và Kế hoạch hợp tác năm 2022 giữa 2 Bộ Quốc phòng và Bộ Công an của hai nước Việt Nam - Lào. Tăng cường hợp tác quốc phòng, an ninh và đối ngoại, tiếp tục coi đây là trụ cột hết sức quan trọng trong quan hệ hợp tác; xây dựng tuyến biên giới Việt Nam - Lào hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM