Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:24:01 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: 50 năm chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng  (Đọc 52377 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #130 vào lúc: 06 Tháng Tám, 2025, 09:02:33 pm »

PHÁT HUY GIÁ TRỊ LỊCH SỬ CHIẾN THẮNG CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG MÙA MƯA NĂM 1972, GÓP PHẦN THỰC HIỆN THẮNG LỢI NHIỆM VỤ ĐỐI NGOẠI QUÂN SỰ - QUỐC PHỎNG CỦA QUÂN KHU 4 HIỆN NAY

Trung tướng TRẦN VÕ DŨNG
Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân khu 4


Việt Nam - Lào là hai nước láng giềng, có sự tương đồng về văn hóa và đặc biệt là lịch sử cùng nhau chống kẻ thù chung, là cơ sở, nền tảng quan trọng gắn kết hai dân tộc Việt - Lào như anh em một nhà. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào, quân và dân hai nước Việt - Lào đã luôn kề vai sát cánh, ủng hộ, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau khắc phục mọi khó khăn, chia ngọt sẻ bùi "hạt gạo cắn đôi, cọng rau bẻ nửa", đưa sự nghiệp cách mạng của hai dân tộc đến thắng lợi hoàn toàn.


Hơn 75 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Quân khu 4 luôn kề vai sát cánh cùng lực lượng vũ trang và nhân dân các bộ tộc Lào anh em kiên cường chiến đấu giành nhiều thắng lợi, giải phóng quê hương, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc ở mỗi nước. Trong những chiến công vang dội đó, hoạt động phối hợp chiến đấu của quân và dân Quân khu 4 cùng quân và dân Trung Lào trên chiến trường bạn, góp phần "chia lửa" cùng chiến trường Bắc Lào trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972 chính là điểm nhấn quan trọng.


Từ ngày 21 tháng 5 đến ngày 15 tháng 11 năm 1972, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương hai nước Việt Nam và Lào, trực tiếp là Bộ Tư lệnh Chiến dịch liên quân Việt Nam - Lào tiến hành Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Trong toàn bộ chiến dịch, ta và bạn đã đánh tổng cộng 244 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 5.759 tên địch, đánh thiệt hại nặng 3 GM, 3 tiểu đoàn quân Thái Lan và đánh thiệt hại 5 GM khác, bắn rơi 38 máy bay, thu 859 súng các loại...1 (Bộ Quốc phòng, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, Quyển 1: Lịch sử quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 250). Liên quân Việt Nam - Lào đã đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công quy mô lớn của địch, giữ vững địa bàn chiến lược quan trọng Cánh Đồng Chum, làm thay đổi cục diện chiến trường có lợi cho cách mạng Lào, tạo thế phối hợp trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972 của quân và dân ta trên chiến trường miền Nam Việt Nam. Đây là lần đầu tiên liên quân Việt Nam - Lào tiến hành một chiến dịch phòng ngự hoàn chỉnh trên chiến trường Lào, để lại nhiều bài học quý cả lý luận và thực tiễn phát triển của nghệ thuật chiến dịch.


Trong thời gian Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972 bước vào đợt chiến đấu ác liệt, quán triệt và thực hiện nhiệm vụ Quân ủy Trung ương giao, Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu 4 có nhiệm vụ tiếp tục lãnh đạo, chỉ huy các hoạt động quân sự và giúp bạn về mọi mặt ở khu vực từ Đường số 7 đến Đường số 12 bao gồm tỉnh Bô Ly Khăm Xay và huyện Mường Mộc (Xiêng Khoảng); chỉ đạo các chuyên gia quân sự và lực lượng quân tình nguyện ở khu vực này tích cực phối hợp với bạn chiến đấu, nhằm: "Mở rộng thêm vùng giải phóng mới, đông dân dọc sông Mê Kông thuộc tỉnh Khăm Muộn, uy hiếp Đường số 13, bảo vệ hành lang chiến lược của ta, phối hợp các chiến trường khác ở Lào tạo chuyển biến mới trong cục diện chiến tranh ở Lào"1 (Dẫn theo: Bộ Quốc phòng - Bộ Tư lệnh Quân khu 4, Lịch sử Quân khu 4 (1945 - 2015), Tập II - Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 416).


Hoạt động phối hợp chiến đấu của các đơn vị tình nguyện Quân khu 4 với quân và dân Trung Lào trên cả 3 hướng (Đường số 7, Đường số 8 và Đường số 12) trong thời gian cuối mùa mưa 1972 đã góp phần giữ vững và mở rộng vùng giải phóng Trung Lào, đồng thời thu hút và giam chân một lực lượng quan trọng quân đội phái hữu Lào ở khu vực Thà Khẹt, tạo điều kiện cho các chiến trường khác giành thắng lợi, nhất là chiến trường Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.


Chiến thắng trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng cũng như thắng lợi của liên quân Việt Nam - Lào trên chiến trường Trung Lào mùa mưa 1972, không chỉ có tác động to lớn, khích lệ tinh thần đấu tranh của quân và dân hai nước Việt Nam - Lào trong thời điểm lịch sử đó, mà cho đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý giá cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo vào thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đối ngoại quân sự - quốc phòng của lực lượng vũ trang Quân khu 4 trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.


Ngày nay, Quân khu 4 có 6/6 tinh tiếp giáp với 7 tỉnh của nước bạn Lào (Hủa Phăn, Xiêng Khoảng, Bô Ly Khăm Xay, Khăm Muộn, Xavanakhẹt, Xalavan và Sê Kông) với chiều dài đường biên giới 1.337,038km. Có 13 cửa khẩu, 87 đồn biên phòng (55 đồn tuyến núi, 32 đồn tuyến biển), 52 trạm kiểm soát, 40 lối mở tiểu ngạch, 214 đường mòn dân sinh; 283,1km đường tuần tra biên giới, đi qua địa bàn 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và 6 tuyến quốc lộ chính từ các tỉnh của Lào đến các tỉnh thuộc địa bàn Quân khu. Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, lực lượng vũ trang Quân khu 4 tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ đối ngoại quân sự - quốc phòng, đặc biệt là đối với bạn Lào trong điều kiện mới. Các tỉnh và sư đoàn của Quân khu 4 cũng thường xuyên duy trì mối quan hệ kết nghĩa và hợp tác với 7 tỉnh có chung đường biên giới với địa bàn Quân khu, 2 tỉnh nội địa (Viêng Chăn và Xay Xổm Bun) và 2 sư đoàn của bạn (Sư đoàn 1 và Sư đoàn 4). Ngoài ra, Quân khu 4 thường xuyên duy trì mối quan hệ khăng khít với một số bộ, ngành, lãnh đạo Nhà nước và các địa phương của bạn, tăng cường các hoạt động giúp đỡ nhau ngày càng gắn bó. Từ những kết quả đạt được trong quan hệ đối ngoại quân sự - quốc phòng với bạn, rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:


Một là, thường xuyên quản triệt, thực hiện nghiêm công tác đối ngoại quân sự - quốc phòng với bạn Lào theo đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng

Mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào được xây dựng, vun đắp qua nhiều năm lịch sử, được thử thách trong chiến tranh ác liệt, bằng sự hy sinh xương máu của nhiều thế hệ, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào, trở thành mối quan hệ hiếm có trên thế giới, là tài sản vô giá của hai dân tộc Việt Nam và Lào. Trong điều kiện ngày nay, một trong những nhiệm vụ chính trị trọng tâm của lực lượng vũ trang Quân khu 4 là thường xuyên quán triệt sâu sắc các quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước; sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về công tác đối ngoại quân sự - quốc phòng, để từ đó ban hành các nghị quyết, chỉ thị lãnh đạo, chỉ đạo và kế hoạch triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ đối ngoại quân sự - quốc phòng với bạn Lào. Trên cơ sở chủ trương, đường lối của Đảng, Quân đội, lực lượng vũ trang Quân khu 4 căn cứ vào đặc điểm nhiệm vụ, địa bàn đứng chân cụ thể của từng cơ quan, đơn vị để ban hành nghị quyết lãnh đạo chuyên đề thực hiện nhiệm vụ đối ngoại quân sự - quốc phòng hoặc đưa vào các nội dung, giải pháp nghị quyết thường kỳ, xác định lực lượng vũ trang Quân khu 4 là một trong những lực lượng nòng cốt trong công tác đối ngoại nói chung và đối ngoại quân sự - quốc phòng nói riêng với bạn Lào, trên cơ sở kế thừa truyền thống liên minh chiến đấu giữa hai quân đội, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của hai Đảng, hai Nhà nước và Quân đội nhân dân hai nước Việt Nam - Lào.


Hai là, chủ động phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với các cấp, các ngành, địa phương bạn, dự báo, đánh giá đúng tình hình, kịp thời tham mưu cho Đảng, Nhà nước và Quân đội ban hành những chủ trương, chính sách, phương hướng lãnh đạo, chỉ đạo đúng đản, toàn diện về công tác đối ngoại quân sự - quốc phòng

Thường xuyên phối hợp chặt chẽ với bạn Lào để nắm chắc tình hình, chủ động về mọi mặt, dự báo đánh giá đúng tình hình khu vực, nước bạn, cũng như tình hình trong nước; trên cơ sở đó ban hành các văn bản, nghị quyết chuyên đề xác định chủ trương, giải pháp cụ thể về lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác đối ngoại quốc phòng. Hằng năm, căn cứ vào các chỉ thị giao nhiệm vụ hợp tác với bạn Lào của Bộ Quốc phòng, Quân khu xây dựng chương trình, kế hoạch và thực hiện nhiệm vụ hợp tác với bạn Lào; đồng thời chỉ đạo bộ chỉ huy quân sự 6 tỉnh (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế) căn cứ vào khả năng và điều kiện thực tế của địa phương để tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các cấp đề ra những chủ trương, chính sách, phương hướng lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn toàn diện về công tác đối ngoại quân sự - quốc phòng, trích các nguồn ngân sách địa phương để viện trợ, giúp đỡ cho các tỉnh của bạn có chung đường biên giới. Tổ chức các đoàn công tác đi kiểm tra việc triển khai thực hiện nhiệm vụ đối ngoại quân sự - quốc phòng ở các cơ quan, đơn vị, kịp thời đánh giá, rút kinh nghiệm và động viên khen thưởng cho các tập thể, cá nhân có thành tích trong thực hiện nhiệm vụ.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #131 vào lúc: 06 Tháng Tám, 2025, 09:03:25 pm »

Ba là, phát huy sức mạnh tổng hợp của tất cả các cấp, các ngành, tạo quan hệ hợp tác hữu nghị toàn diện với bạn; đồng thời thường xuyên quan tâm làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục bộ đội biết quý trọng mối quan hệ truyền thống vĩ đại, đặc biệt giữa hai Đảng, hai Nhà nước, Quân đội và nhân dần hai nước đã dày công vun đắp qua nhiều thế hệ


Trên tinh thần "giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình", lực lượng vũ trang Quân khu 4 và Quân đội nhân dân Lào thường xuyên phối hợp giúp nhau trong công tác tuyên truyền, phổ biến các kiến thức về kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ bí mật quân sự, bảo vệ chính trị nội bộ. Hợp tác trao đổi đoàn, tìm kiếm hài cốt liệt sĩ Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam hy sinh trên đất Lào. Tổ chức học tập, quán triệt các nội dung phục vụ cho công tác tham mưu, cử chuyên gia giúp bạn về công tác quân sự, hậu cần, kỹ thuật, hợp tác giúp bạn xây dựng bản, cụm bản, các công trình dự án, phát triển kinh tế - xã hội. Duy trì tổ chức tốt Hội nghị liên tịch thường niên với Sư đoàn 1, Sư đoàn 4, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Viêng Chăn, Xay Xổm Bun và Bộ Chỉ huy quân sự các tỉnh Trung Lào có chung đường biên giới với Quân khu, giúp bạn ổn định tình hình địa bàn, củng cố quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân nước bạn.


Hằng năm, nhân các ngày lễ lớn, các sự kiện chính trị trọng đại của Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân hai nước, Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu 4 đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị tích cực đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống và tổ chức các hoạt động sinh hoạt văn hóa văn nghệ, giao lưu, kết nghĩa, gặp mặt theo phong tục tập quán và truyền thống của hai nước, góp phần làm cho cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Quân khu 4 và cán bộ Quân đội nhân dân Lào nhận thức ngày càng sâu sắc hơn về mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, tình đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện giữa hai dân tộc Việt Nam và Lào.


Bốn là, thực hiện đối ngoại quân sự - quốc phòng trên cơ sở tự nguyện, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của hai nước; tôn trọng các quyền tự do, dân chủ, phong tục tập quán của nhân dân hai nước Việt Nam - Lào anh em

Xuất phát từ chủ trương của Đảng, Nhà nước, Quân đội, cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện lực lượng vũ trang Quân khu 4 sang giúp đỡ bạn luôn quán triệt và nhận thức rõ về sự quan hệ mật thiết giữa Lào và Việt Nam xuất phát từ vị trí địa lý, quân sự và có mối quan hệ truyền thống lâu đời đoàn kết chống kẻ thù chung. Quan hệ giữa Việt Nam và Lào dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tôn trọng chủ quyền, độc lập của nhau, vì vậy, trong bất cứ giai đoạn cách mạng nào, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Quân khu 4 sang giúp bạn là xác định làm nhiệm vụ quốc tế vẻ vang. Cán bộ, chiến sĩ thường xuyên được giáo dục và thực hiện nghiêm các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, cũng như tôn trọng phong tục tập quán, tự do tín ngưỡng của nhân dân nước bạn, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân nước bạn như bảo vệ tài sản, tính mạng nhân dân Việt Nam. Thực hiện đúng theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Nêu cao tinh thần quốc tế, tôn trọng chủ quyền, tôn trọng phong tục tập quán, kính yêu nhân dân của nước bạn; Tuyệt đối giữ gìn kỷ luật, giữ gìn danh tiếng của Quân đội nhân dân Việt Nam..."1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 8 (1953 - 1954), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 105)
   Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, sự nghiệp đổi mới, mở cửa, hội nhập quốc tế mà Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước tiến hành đã và đang tạo ra những thành tựu to lớn; đồng thời đặt ra yêu cầu khách quan cần tiếp tục tăng cường mối quan hệ đặc biệt giữa Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam phù hợp với xu thế phát triển của thế giới và yêu cầu cách mạng hai nước. Việc thực hiện nghiêm các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; các nghị quyết, chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về công tác đối ngoại nói chung và công tác đối ngoại quân sự - quốc phòng nói riêng; đặc biệt là Nghi quyết Trung ương 8 (khóa IX và khóa XI) "về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới", Nghị quyết số 806-NQ/QƯTW ngày 31 tháng 12 năm 2013 của Quân ủy Trung ương về "Hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án "Hội nhập quốc tế về quốc phòng đến năm 2020, tầm nhìn năm 2030", chương trình hành động thực hiện nghị quyết đại hội Đảng các cấp sẽ mang lại hiệu quả thiết thực trong quan hệ đối ngoại giữa hai nước Việt Nam - Lào. Cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Quân khu 4 nhận thức rõ nhiệm vụ tăng cường mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai nước Việt Nam - Lào là một trong những yếu tố sống còn của cách mạng hai nước và xác định trong tình hình mới cần tiếp tục tổng kết thực tiễn, bổ sung lý luận để kịp thời nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại quân sự - quốc phòng theo quan điểm "giúp bạn là mình tự giúp mình" và chiến lược "bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa ", góp phần vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #132 vào lúc: 06 Tháng Tám, 2025, 09:16:09 pm »

BẢO ĐẢM HẬU CẦN CHIẾN DỊCH PHÒNG NGỰ CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG BÀI HỌC VẬN DỤNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Trung tướng TRẦN DUY GIANG
Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần


Thắng lợi của liên quân Việt Nam - Lào trong mùa khô 1971 - 1972 đã giáng một đòn nặng nề vào chiến lược "Chiến tranh đặc biệt tăng cường" của Mỹ ở Lào. Lực lượng quân đội phái hữu và lực lượng đặc biệt Vàng Pao bị thiệt hại nặng nề và ngày càng bị suy yếu. Ngược lại, Quân giải phóng nhân dân Lào, được sự chi viện và phối hợp chiến đấu của Quân tình nguyện Việt Nam, ngày càng lớn mạnh, trình độ tổ chức, tác chiến ngày càng được nâng cao.


Trước bước phát triển của cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung của nhân dân 3 nước Đông Dương, Hội nghị lần thứ 20 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (27.1 - 11.2.1972) xác định nhiệm vụ cần kíp của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta là: "Với tinh thần kiên trì kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn, phải động viên toàn lực, cố gắng vượt bậc, kịp thời nắm vững những thời cơ thuận lợi và tạo nên thời cơ mới. Đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và binh vận, phát triển thế tiến công chiến lược mới trên toàn chiến trường miền Nam là chiến trường chính; đồng thời đẩy mạnh tiến công ngoại giao... tạo ra chuyển biến căn bản làm thay đổi cục diện chiến tranh ở miền Nam Việt Nam và trên cả bán đào Đông Dương, giành thắng lợi to lớn, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh trên thế thua bằng một giải pháp chính trị có lợi cho ta, mà chúng phải và có thể chấp nhận được"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 33, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004.tr. 143-144).


Chấp hành chủ trương của Trung ương Đảng và của Quân ủy Trung ương hai nước, Quân tình nguyện Việt Nam và Quân giải phóng nhân dân Lào quyết định mở chiến dịch phòng ngự nhằm đánh bại cuộc hành quân lấn chiếm quy mô lớn của quân phái hữu Lào và quân Thái Lan, bảo vệ vùng giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, giữ vững căn cứ địa, tạo thế cho cách mạng Lào phát triển.


Địa bàn phòng ngự của chiến dịch là khu tứ giác Mường Sủi - Noọng Pẹt - thị xã Xiêng Khoảng - Thẩm Lửng với diện tích khoảng 3.000km2 (dài 60km, rộng 50km), được tổ chức thành 5 khu vực phòng ngự: Khu vực phòng ngự chủ yếu là trung tâm Cánh Đồng Chum (cụm Phu Tôn - Phu Tâng), khu vực phòng ngự quan trọng là khu trung gian (Tây Nam Cánh Đồng Chum), khu vực phòng ngự thứ yếu là Noọng Pẹt, 2 khu vực phối hợp là Mường Sủi và thị xã Xiêng Khoảng. Lực lượng địch trên địa bàn chiến dịch có 8 binh đoàn cơ động (từ GM 21 đến GM 28), 13 tiểu đoàn bộ binh và 1 tiểu đoàn pháo binh thuộc Quân khu 2 phái hữu Lào; 18 tiểu đoàn bộ binh và 2 tiểu đoàn pháo binh quân đội Thái Lan, được tăng cường thêm 2 binh đoàn cơ động (GM 10B Quân khu 1 và GM 30 Quân khu 3), 2 lữ đoàn bộ binh (11,13) thuộc Sư đoàn 1 Bộ binh; 3 tiểu đoàn pháo binh (trên 70 khẩu pháo từ 75 - 155mm), 2 phi đội máy bay T-28.


Lực lượng Quân tình nguyện Việt Nam lúc đầu có 4 trung đoàn bộ binh (Trung đoàn 174 và 148 Sư đoàn 316, 2 trung đoàn độc lập 866 và 335) từ tháng 10 năm 1972 được tăng cường thêm Trung đoàn 88 Sư đoàn 308C; 2 tiểu đoàn đặc công (41, 27); Tiểu đoàn Pháo binh 42; 2 tiểu đoàn pháo phòng không 37mm; 1 tiểu đoàn súng máy phòng không 14,5mm; 1 tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7mm; 1 tiểu đoàn xe tăng; 2 tiểu đoàn công binh. Quân giải phóng nhân dân Lào có 7 tiểu đoàn chủ lực, 1 đại đội xe tăng, 1 đại đội pháo xe kéo, 1 đại đội pháo mang vác, 2 đại đội súng máy phòng không, 1 đại đội công binh, 4 đại đội bộ đội địa phương và dân quân du kích. Tư lệnh Chiến dịch là đồng chí Vũ Lập, Chính ủy là đồng chí Lê Linh.


Chiến dịch diễn ra 4 đợt. Đợt 1 (21.5 - 10.8.1972), địch tiến công khu trung gian, chiếm một số điểm tựa phía Tây gồm các điểm cao 1800, 2063, Thẩm Lửng. Ta phản kích trên hướng Phu Phaxay, đẩy lùi địch về Tôm Tiêng (6.6), sau đó ta tiêu diệt 2 tiểu đoàn quân Thái Lan và 4 tiểu đoàn quân phái hữu Lào ở Hin Đăm, Thẩm Lửng, khôi phục lại trận địa phòng ngự ở Điểm cao 1800 (3.7). Đợt 2 (11.8 - 10.9.1972), địch mở cuộc tiến công lớn vào trung tâm Cánh Đồng Chum theo 3 hướng (Nam, Tây, Đông Bắc), đồng thời sử dụng máy bay đổ quân xuống Tây Bắc Phu Keng. Ta một mặt ngăn chặn địch trên các hướng, mặt khác tập trung lực lượng đánh trận then chốt chiến dịch ở Phu Keng (trận phản đột kích 1), diệt 679 địch, bắt 43, thu nhiều vũ khí (30.8 - 3.9), giữ vững trận địa phòng ngự. Đợt 3 (11 - 30.9.1972), địch chuyển hướng tiến công chủ yếu sang phía Tây đánh chiếm đồi Năm Mỏm - Phu Keng, phối hợp với cánh phía Nam tiến công vào cánh đồng Căng Xẻng, đồng thời tung biệt kích xuống Ta Li Nọi nhằm đánh phá, quấy rối hậu phương ta. Ta tổ chức trận phản đột kích 2 giành lại được Bản Thang, Bản Khổng và các điểm cao 1276, 1244. Đợt 4 (1.10- 15.11.1972), địch dồn sức tiến công hòng chiếm khu vực Nam Cánh Đồng Chum. Ta tập trung lực lượng đánh trận then chốt quyết định (trận phản đột kích 3) ở Nam Bản Quay - Bắc Khang Kho (26.10), sau đó tiếp tục tiến công làm chủ khu trung gian Nam Cánh Đồng Chum, đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công lớn của địch vào Cánh Đồng Chum. Kết quả chiến dịch, ta đã loại khỏi chiến đấu 5.759 địch (bắt 179) thu 859 súng các loại (có 4 khẩu pháo 105mm, 4 khẩu cối 106,7mm), bắn rơi 38 máy bay1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Từ điển Lịch sử quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010, tr. 76-77).


Nhìn lại thắng lợi của Chiến địch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, có thể thấy: Công tác bảo đảm hậu cần giữ vai trò quan trọng trong suốt quá trình chuẩn bị, thực hành và kết thúc chiến dịch. Ngay từ khi kết thúc chiến dịch tiến công mùa khô năm 1972, Quân ủy Trung ương đã chỉ đạo: "Công tác hậu cần, tiếp tế có ý nghĩa quyết định đối với việc bảo vệ Cánh Đồng Chum cũng như việc tiếp tục tác chiến trong mùa mưa ở Sảm Thông, Loong Chẹng. Vì vậy, cần phải có kế hoạch cụ thể và đôn đốc ráo riết để bất luận trong tình huống nào cũng không để xảy ra bị động do khó khăn về hậu cần"2 (Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ Tổng Tham mưu, Biên niên sự kiện Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Tập VIII (1972), Nxb Quân đội nhân dân, tr. 121). Cùng với đó, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo Tổng cục Hậu cần "giải quyết ngay vấn đề dự trữ lương thực, đạn dược và giúp mặt trận trong việc đẩy mạnh tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống. Mặt trận phải thật chú ý khâu nuôi quân, chăm lo sức khỏe bộ đội, đẩy mạnh tăng gia sản xuất3 (Thường vụ Quân ủy Trung ương, Quyết nghị vế nhiệm vụ sắp tới của Mặt trận Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, Phông Cục Tác chiến, Hồ sơ số 5770). Do vậy, từ trước khi quyết định mở Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, ngành Hậu cần các cấp đã tổ chức quán triệt đầy đủ về tình hình, yêu cầu nhiệm vụ chuyển thế từ tiến công sang phòng ngự và kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, củng cố thế trận bảo đảm hậu cần của chiến dịch phòng ngự vững chắc; phân cấp dự trữ hợp lý... Mặc dù trong điều kiện mùa mưa, gian khổ và ác liệt, nhưng chỉ huy ngành Hậu cần đã tích cực động viên, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị hậu cần các cấp hoàn thành các chỉ tiêu bảo đảm hậu cần cho chiến dịch phòng ngự dài ngày (từ 4 đến 6 tháng).


Thực hiện chỉ đạo của trên, Cơ quan Hậu cần chiến dịch đã tính toán nhu cầu vật chất chiến đấu và sinh hoạt dài ngày cho từng khu vực, kho trạm theo phương án tác chiến, trước mắt ưu tiên cho khu trung gian. Từ trước mùa mưa, hậu cần chiến dịch đã lót đạn, gạo cho các khu vực, đơn vị. Đặc biệt, đã chỉ đạo chuẩn bị và bảo đảm một khối lượng lớn vật chất hậu cần lên tới 3.918 tấn, trong đó 2.876 tấn lương thực, thực phẩm (73,4%), 442 tấn đạn (11,3%), 400 tấn nhiên liệu (10,2%), 200 tấn vật chất khác (5,1%), đáp ứng cho từ 12.000 đến 13.000 người. Kế hoạch bảo vệ kho, trạm được xây dựng chặt chẽ để giữ vững thế trận suốt mùa mưa. Các lực lượng phía sau (kho, bệnh xá, cơ quan...) đã tổ chức chặt chẽ, trang bị phù hợp để chiến đấu tại chỗ đề phòng địch đổ quân bằng trực thăng bất ngờ đánh vào hậu phương ta. Công tác quân y đã cứu chữa 1.662 thương binh (10,5% quân số)1 (Tổng kết công lác hậu cần trong kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr. 393)... Với việc bảo đảm hậu cần chu đáo, chặt chẽ nên mặc dù tuyến vận chuyển xa, địch đánh phá liên tục, mùa mưa ngập lụt nhưng công tác hậu cần đã góp phần quan trọng cho chiến dịch giành thắng lợi.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #133 vào lúc: 06 Tháng Tám, 2025, 09:16:54 pm »

Thắng lợi của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng có ý nghĩa to lớn cả về chính trị và quân sự. Đây là chiến dịch phòng ngự quy mô lớn đầu tiên của ta và bạn, lần đầu tiên Quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với Quân giải phóng nhân dân Lào tổ chức một chiến dịch phòng ngự hoàn chỉnh với cách đánh sáng tạo, hiệu quả trên địa bàn chiến lược quan trọng bậc nhất của chiến trường Lào, nơi đọ sức quyết liệt giữa lực lượng cách mạng với đế quốc Mỹ và tay sai; để lại nhiều bài học quý về tổ chức sử dụng lực lượng, xử lý tình huống chiến dịch và chiến thuật. Công tác bảo đảm hậu cần chiến dịch đã để lại nhiều bài học có giá trị như: - Phải quản triệt sâu sắc quyết tâm chiến lược, chiến dịch, chuẩn bị tốt công tác hậu cần; - Nhanh chóng chuyển thế bảo đảm từ tiến công sang phòng ngự; - Xây dựng, củng cố vững chắc mạng đường vận tải, sử dụng kết hợp linh hoạt các phương thức vận chuyển, lẩy vận tải cơ giới là chủ yếu; - Chú trọng phát huy sức mạnh đoàn kết Việt - Lào trong liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung.


Những bài học kinh nghiệm về bảo đảm hậu cần cho liên minh chiến đấu Việt - Lào nói chung, trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng nói riêng đã được nghiên cứu, kế thừa, phát huy, vận dụng sáng tạo trong các chiến dịch ở giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước và ngày nay vẫn còn nguyên giá trị cần được tiếp tục nghiên cứu, kế thừa, phát triển trong chuẩn bị tiềm lực, thế trận hậu cần đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới; ngăn ngừa, làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động của các thế lực thù địch gây mất ổn định chính trị - xã hội, xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ..., sẵn sàng ứng phó thắng lợi mọi tình huống và chiến tranh xâm lược kiểu mới của địch.


Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đó, vận dụng trong giai đoạn hiện nay phải chuẩn bị tiềm lực và thế trận hậu cần của quốc phòng toàn dân, sẵn sàng chuyển thành thế trận hậu cần của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện nhất quán đường lối quốc phòng toàn dân và chiến tranh nhân dân phát triển lên trình độ cao trong điều kiện mới: Kết hợp tác chiến của các lực lượng vũ trang, lấy tác chiến tại chỗ của khu vực phòng thủ làm nền tảng, kết hợp với tác chiến của các binh đoàn chủ lực. Bên cạnh đó cần kết hợp các quy mô tác chiến, đánh địch trên các vùng chiến lược, kết hợp mưu kể, thế trận, thời cơ, nỗ lực giành thắng lợi trong thời gian ngắn. Đồng thời, phải chủ động chuẩn bị tốt mọi mặt để giữ vững và giành thắng lợi trong trường hợp chiến tranh có thể kéo dài.


Hiện nay, nền kinh tế ở Lào từng bước phát triển, nhất là các khu vực trong chiến tranh ta đã giúp đỡ, xây dựng, như: Sầm Nưa, Bắc Lào, Cánh Đồng Chum, Khăm Muộn, Đường 9 - Nam Lào và khu vực Hạ Lào là cơ sở để kết hợp với Việt Nam, như Trung Lào, Hạ Lào liên hoàn với hậu phương Quân khu 4; Bắc Lào liên hoàn với hậu phương Quân khu 2; Sầm Nưa, Cánh Đồng Chum nối với Thanh Hóa, Nghệ An, Sơn La, tạo được thế bố trí liên hoàn tương đối vững chắc, nhằm phát huy khả năng hậu cần tại chỗ và động viên được sức người, sức của cho tác chiến (nếu xảy ra) trong thời gian ngắn nhất. Trên cơ sở Kết luận số 64-KL/TW ngày 30 tháng 10 năm 2019 của Bộ Chính trị tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 28/NQ-TW đẩy mạnh xây dựng hậu cần khu vực phòng thủ tỉnh, thành phổ vững mạnh toàn diện, đi vào chiều sâu; Nghị định số 21/2019/NĐ-CP ngày 22 tháng 2 năm 2019 của Chính phủ về khu vực phòng thủ, càn nghiên cứu, đề xuất chủ trương và giải pháp phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh quốc tế để củng cố và phát triển mối quan hệ chi viện, giúp đỡ lẫn nhau về mặt hậu cần giữa Việt Nam - Lào nói riêng và Việt Nam - Lào - Campuchia nói chung trên quan điểm "Đông Dương là một chiến trường" và với tinh thần "Giúp bạn là mình tự giúp mình". Phát huy truyền thống đó, trong điều kiện mới, thực hiện quy chế đối ngoại quân sự, quốc phòng, đối ngoại hậu cần cần có các phương thức hợp tác phù hợp như: Trao đổi hàng hóa, đầu tư phát triển kinh tế, tham gia các hoạt động nhân đạo, khắc phục thảm họa, hậu quả chiến tranh; hợp tác sản xuất, dịch vụ theo thỏa thuận... và các hình thức giúp đỡ khác nhằm nâng cao đời sống nhân dân, giao lưu quốc phòng trên cơ sở quy chế đối ngoại quân sự, quốc phòng, đối ngoại hậu cần, nhất là vùng hai nước có chung đường biên giới. Khi có chiến tranh cần có sự phối hợp, giúp đỡ lẫn nhau trong chuẩn bị thế trận và tiềm lực hậu cần, phối hợp tác chiến bảo vệ và duy trì khả năng bảo đảm hậu cần kịp thời, liên tục trong mọi tình huống và chi viện lẫn nhau có hiệu quả. Mặt khác, kiên quyết không để các thế lực thù địch lợi dụng, viện cớ, sử dụng lãnh thổ nước này để tiến công vào nước kia và ngược lại.


50 năm đã trôi qua, những bài học về bảo đảm hậu cần trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng vẫn vẹn nguyên giá trị, cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và phát triển trong điều kiện mới đê tình hữu nghị và mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước Việt - Lào ngày càng gắn bó, keo sơn, thủy chung, trong sáng. Trên cơ sở đó, Quân đội hai nước nói chung, ngành Hậu cần nói riêng phải có trách nhiệm tiếp tục giữ gìn, vun đắp và phát triển, góp phần xây dựng Quân đội tiến lên hiện đại, vì sự nghiệp cách mạng của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định của khu vực Đông Nam Á và trên toàn thế giới.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #134 vào lúc: 06 Tháng Tám, 2025, 09:19:05 pm »

PHÁT HUY MỐI QUAN HỆ HỮU NGHỊ, ĐOÀN KẾT CHIẾN ĐẤU ĐẶC BIỆT GIỮA HAI TỈNH NGHỆ AN VÀ XIÊNG KHOẢNG TRONG HỢP TÁC VÀ PHÁT TRIỂN HIỆN NAY

Đồng chí LÊ HỒNG VINH
Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy,
Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An


Việt Nam và Lào cùng tựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ, tái qua bao thăng trầm của lịch sử, tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động, nhưng truyền thống hữu nghị, đoàn kết đặc biệt, thủy chung son sắt, chí nghĩa, chí tình giữa Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang và nhân dân hai nước Việt Nam, Lào vẫn "mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững". Trong mối quan hệ tốt đẹp của hai dân tộc, hai đất nước, quan hệ giữa tỉnh Nghệ An và tỉnh Xiêng Khoảng còn nhiều đặc điểm tương đồng về địa lý, lịch sử, văn hóa, truyền thống cách mạng... Hai tỉnh cùng chung 167,626km đường biên giới, cùng uống chung nguồn nước của dòng sông Nậm Nơm, Nậm Mộ, nhân dân có mối giao thoa văn hóa, có truyền thống yêu nước, cách mạng. Đây là những yếu tố quan trọng góp phần thắt chặt mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết chiến đấu đặc biệt trong chiến tranh giải phóng cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của hai nước hiện nay.


Nghệ An là quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu và nhiều lãnh tụ xuất sắc của Đảng, Nhà nước. Nằm ở vị trí địa - chính trị chiến lược của khu vực Bắc miền Trung, Nghệ An là tỉnh có diện tích tự nhiên lớn nhất cả nước với 16.490,25km2, dân số hơn 3,3 triệu người (2017); có 17 huyện, 3 thị xã và 1 thành phố với nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng, di tích lịch sử văn hóa lâu đời; với hệ thống giao thông thủy, bộ, sân bay... thuận lợi cho giao thương kinh tế - văn hóa - xã hội trong nước và quốc tế.


Tỉnh Xiêng Khoảng nằm ở Đông Bắc nước Lào, giáp phía Tây của tỉnh Nghệ An cũng là địa bàn có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong tiến trình lịch sử dựng nước, giữ nước Lào và giai đoạn hiện nay. Nhân dân các bộ tộc trong tỉnh có truyền thống yêu nước, dũng cảm trong chiến đấu, cần cù, sáng tạo trong lao đọng sản xuất, góp phần đem lại độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho dân tộc Lào.


Mối quan hệ giữa hai tỉnh Nghệ An và Xiêng Khoảng bắt nguồn từ quan hệ truyền thống láng giềng hữu nghị và được nâng lên tầm cao mới khi đặt dưới sự lãnh đạo chung của Đảng Cộng sản Đông Dương1 (Ngày nay là sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào). Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh "giúp nhân dân nước bạn là mình tự giúp mình"2 (Thư gửi các đơn vị bộ đội ta có nhiệm vụ tác chiến ở Thượng Lào, trong Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 8 (1953 - 1954), (xuất bản lần thứ ba, có sửa chữa), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 105), nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ và thanh niên xung phong tỉnh Nghệ An đã kề vai, sát cánh cùng các lực lượng kháng chiến của cách mạng Lào, không sợ gian khổ ác liệt, chấp nhận hy sinh để giúp bạn xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, phát động nhân dân đấu tranh, xây dựng củng cố căn cứ địa, mở rộng vùng giải phóng; cùng phối hợp với bạn chiến đấu trong các chiến dịch Thượng Lào (1953), Chiến dịch giải phóng Cánh Đồng Chum (27.4 - 8.6.1964); Chiến dịch phản công Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (25.10.1969 - 25.4.1970)3 (Còn gọi là Chiến dịch Toàn thắng hay Chiến dịch 139)... góp phần vào thắng lợi cuộc kháng chiến của nhân dân hai nước.


Thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ đã buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, công nhận nền độc lập, toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia. Tuy nhiên, đế quốc Mỹ đã từng bước leo thang chiến tranh, hòng biến các nước Đông Dương thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Trước tình thế ấy, nhân dân hai nước Việt Nam - Lào lại kề vai sát cánh chống kẻ thù chung, từng bước đánh bại các âm mưu của đế quốc Mỹ. Từ năm 1959 đến năm 1972, quân và dân Nghệ An đã chi viện, giúp đỡ nhân tài, vật lực giúp cách mạng Lào - trực tiếp là tỉnh Xiêng Khoảng không ngừng duy trì và phát triển thế và lực, đẩy Mỹ và tay sai Lào vào thế chống đỡ. Mùa mưa năm 1972, ta và bạn tiến hành Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Tỉnh Nghệ An được giao nhiệm vụ tổ chức lực lượng trực tiếp phối hợp với lực lượng của bạn tác chiến trên tại mặt trận 772 trong Chiến dịch 972 do Quân khu 4 tiến hành, đồng thời giúp bạn xây dựng, củng cố căn cứ địa cách mạng. Với tinh thần "giúp nhân dân nước bạn là mình tự giúp mình", triệt để chấp hành chỉ thị, mệnh lệnh của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng, trực tiếp là Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 4, quân và dân Nghệ An đã nêu cao chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng, yêu nhân dân Lào như anh em ruột thịt của mình; đồng cam cộng khổ "hạt muối cắn đôi, cọng rau bẻ nửa", nhận khó khăn về mình, giành thuận lợi cho bạn, kê vai sát cánh, sống chết bên nhau trong từng chiến hào để chiến đấu và chiến thắng kẻ thù chung.


Tỉnh Nghệ An đã thành lập một lực lượng thường xuyên, trong đó Tiểu đoàn 43 bộ đội địa phương và một đội công tác cơ sở, lấy phiên hiệu là Đoàn 7 tại huyện Mường Mộc, tỉnh Xiêng Khoảng, nhằm phối hợp với bạn đẩy mạnh mọi mặt hoạt động, xây dựng tạo thời cơ và tranh thủ thời cơ để giành thắng lợi to lớn, làm chuyển biến mạnh mẽ cục diện chiến trường ở Lào hoàn toàn có lợi cho cách mạng hai nước. Có thể nói, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là một trong những biểu tượng sâu đậm về tình quân - dân của hai tỉnh, là bức tượng đài chiến thắng, minh chứng cho mối tình đoàn kết đặc biệt, liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào nói chung. Chiến thắng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đã lùi xa cách đây nửa thế kỷ, nhưng ý nghĩa và giá trị lịch sử của vẫn tiếp tục được các thế hệ lãnh đạo cùng nhân dân Việt Nam - Lào nói chung, hai tỉnh Nghệ An - Xiêng Khoảng không ngừng giữ gìn, vun đắp và phát triển toàn diện. Việc tiếp tục tôn vinh, trân trọng quá khứ hào hùng của hai dân tộc, mối quan hệ tốt đẹp của 2 tỉnh Nghệ An - Xiêng Khoảng trong kháng chiến để tiếp tục kế thừa, phát huy trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc càng có ý nghĩa hơn khi chúng ta đang hướng tới kỷ niệm 60 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào (5.9.1962 - 5.9.2022), 45 năm Ngày ký Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Lào (18.7.1977 - 18.7.2022). Đặc biệt đây cũng là năm mà Đảng, Nhà nước, nhân dân hai nước cùng nhau phát động "Năm Đoàn kết hữu nghị Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (2022)" với nhiều sự kiện ý nghĩa, góp phần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục truyền thống để các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ hai nước, hiểu sâu sắc hơn và không ngừng phát triển mối quan hệ đặc biệt thủy chung, trong sáng giữa Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #135 vào lúc: 06 Tháng Tám, 2025, 09:20:19 pm »

Với những giá trị tốt đẹp và truyền thống hữu nghị, đoàn kết đặc biệt giữa Nghệ An và Xiêng Khoảng được tiếp tục được phát huy, đặc biệt sự hợp tác đó không chỉ dừng lại ở mặt quân sự mà là sự hợp tác toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội, giáo dục đào tạo, y tế, du lịch, quốc phòng, an ninh..., nhằm phát huy lợi thế tiềm năng của hai tỉnh Nghệ An và Xiêng Khoảng, trong những năm qua, sự hợp tác đã thu được nhiều thành quả to lớn:

1. Về kinh tế, chính trị

Theo sự chỉ đạo chung giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Lào, tỉnh Nghệ An và tỉnh Xiêng Khoảng đã chủ động triển khai thực hiện nhiều dự án đầu tư trên đất nước bạn, tạo điều kiện thuận lợi đổ doanh nghiệp và tiểu thương hoạt động sản xuất, kinh doanh có hiệu quả. Về phía tỉnh Nghệ An có khoảng 90 doanh nghiệp xuất, nhập khẩu và đầu tư vào thị trường Lào trên các lĩnh vực với tổng vốn đầu tư ở các dự án hơn 200 triệu USD. Các doanh nghiệp Nghệ An chú trọng các hoạt động hợp tác sản xuất, kinh doanh tại Lào trong các lĩnh vực như: Khai thác khoáng sản, thủy điện, sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng, trồng và khai thác rừng, du lịch lữ hành, kinh doanh xe vận tải nhỏ, kinh doanh nông thủy sản, hàng tiêu dùng, thông tin và truyền thống.


Nhiều đoàn đại biểu cấp cao hai tỉnh đã sang thăm và làm việc qua lại, cùng ký Biên bản ghi nhớ những nội dung hợp tác giữa hai tỉnh, nhằm chia sẻ kinh nghiệm trong công tác quản lý nhà nước, đấu tranh phòng chống các loại tội phạm, vì lợi ích chung của nhân dân hai tỉnh. Những việc làm đó càng góp phần khẳng định, phát huy mối quan hệ gắn bó chặt chẽ và tinh thần tương thân tương ái, giúp nhau vượt qua khó khăn giữa hai tỉnh.


2. Về giáo dục - đào tạo, y tế, du lịch, tìm kiếm quy tập hài cốt liệt sĩ

Các hoạt động hợp tác trên các lĩnh vực giáo dục đào tạo, văn hóa, thể thao, du lịch, thông tin tuyên truyền được hai bên quan tâm. Nghệ An hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho tỉnh Xiêng Khoảng theo diện học bổng; giúp đào tạo, tập huấn các vận động viên, hỗ trợ công tác chuẩn bị Đại hội Thể thao toàn quốc Lào lần thứ 11 do tỉnh Xiêng Khoảng đăng cai (2017); tổ chức các đoàn công tác đi khảo sát, nghiên cứu văn hóa Ơ Đu tại bản Kháp (huyện Mường Khun tỉnh Xiêng Khoảng); chỉ đạo các doanh nghiệp lữ hành Nghệ An phối hợp tổ chức chương trình Famtrip "Hành trình liên kết" - Hà Nội - Điện Biên - Luông Phabăng - Xiêng Khoảng - Nghệ An, quảng bá tiềm năng, thế mạnh phát triển du lịch của các địa phương.


Về lĩnh vực y tế, đã triển khai thực hiện dự án đầu tư xây dựng Bệnh viện Hữu nghị tỉnh Xiêng Khoảng với quy mô 200 giường bệnh, tổng mức đầu tư 497,25 tỷ đồng; hỗ trợ công tác đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ y bác sĩ; tạo điều kiện cho nhân dân khám, chữa bệnh và điều trị tại các bệnh viện trẽn địa bàn tỉnh Nghệ An. Trong công tác phòng, chống đại dịch COVID-19, tỉnh Nghệ An đã kịp thời hỗ trợ tỉnh Xiêng Khoảng lương thực, thực phẩm, trang thiết bị y tế phục vụ công tác phòng, chống dịch với tổng giá trị hơn 1,1 tỷ đồng.


Tỉnh Xiêng Khoảng thường xuyên giúp đỡ Đội Quy tập tỉnh Nghệ An trong công tác tìm kiếm, quy tập và hồi hương hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh tại tỉnh Xiêng Khoảng. Đến nay, hai bên đã phối hợp tổ chức tìm kiếm, quy tập, di chuyển được 12.478 hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh tại 3 tỉnh: Xiêng Khoảng, Viêng Chăn và Xay Xổm Bun (trong đó, tại Xiêng Khoảng tìm kiếm, quy tập được 11.915 hài cốt liệt sĩ) đưa về nước an táng tại các nghĩa trang liệt sĩ. Tỉnh Xiêng Khoảng hỗ trợ tỉnh Nghệ An 900m3 gỗ để xây dựng nhà thờ, nhà bia tại Nghĩa trang liệt sĩ quốc tế Vĩệt - Lào (huyện Anh Sơn) đảm bảo trang nghiêm.


3. Về quốc phòng, an ninh

Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn khu vực biên giới hai tỉnh nhìn chung cơ bản ổn định, chủ quyền lãnh thổ biên giới được giữ vững. Hai tỉnh đã cùng nhau thực hiện tốt Đề án "Thỏa thuận giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào về giải quyết vấn đề người di cư tự do, kết hôn không giá thú trong vùng biên giới hai nước", qua đó phòng ngừa, ngăn chặn được tình trạng người dân di cư tự do, trái pháp luật sang Lào và các hoạt động tuyên truyền, kích động, lôi kéo của các thế lực thù địch và đối tượng xấu nhằm tập hợp lực lượng thực hiện ý đồ thành lập "Nhà nước Mông" tự trị. Lực lượng công an, biên phòng hai tỉnh đã phối hợp có hiệu quả, duy trì, nâng cao chất lượng giao ban, thực hiện ký kết đảm bảo an ninh trật tự hằng năm. Công an tỉnh Nghệ An đã hỗ trợ xây dựng hàng chục trụ sở công an bản của tỉnh Xiêng Khoảng.


Công tác quản lý và bảo vệ đường biên, cột mốc được hai tỉnh phối hợp triển khai thực hiện chặt chẽ và hiệu quả, góp phần giữ vững đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển của hai nước. Lực lượng chức năng hai tỉnh đã phối hợp bàn giao quản lý hồ sơ và phân công bảo vệ hệ thống mốc quốc giới trên thực địa theo Nghị định thư về đường biên giới và mốc quốc giới Việt Nam - Lào. Hai bên thường xuyên phối hợp tuyên truyền, vận động nhân dân hai bên biên giới tham gia bảo vệ đường biên mốc giới, đấu tranh với hoạt động phá hoại đường biên mốc giới- phối hợp tổ chức tuần tra song phương bảo vệ biên giới, phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý các hoạt động khai thác lâm sản trái phép, buôn bán ma túy, các loại tội phạm trên địa bàn biên giới. Đặc biệt lãnh đạo hai tỉnh chỉ đạo các lực lượng chức năng quản lý, kiểm soát tốt các hoạt động xuất nhập cảnh trái phép trên biên giới, để phòng chống hiệu quả dịch COVID-19; tăng cường chỉ đạo phát huy vai trò và mối quan hệ của các cặp bản - bản kết nghĩa, các đồn biên phòng kết nghĩa với lực lượng bảo vệ biên giới hai bên, qua đó góp phần củng cố thêm tình đoàn kết hữu nghị giữa hai tỉnh Nghệ An và Xiêng Khoảng nói riêng và tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào nói chung trong giai đoạn mới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.


Để tiếp tục phát huy mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt giữa hai tỉnh trong giai đoạn hiện nay, trong thời gian tới, tỉnh Nghệ An tiếp tục chủ động phối hợp với tỉnh Xiêng Khoảng thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, Đảng bộ, chính quyền, nhân dân và các cấp, các ngành tỉnh Nghệ An phải quán triệt sâu sắc chủ trương, đường lối quan điểm lãnh đạo của hai Đảng, hai Nhà nước Việt Nam - Lào- coi đây là nhân tố quyết định mọi thắng lợi trong quan hệ hợp tác đối ngoại và phát triển giữa Nghệ An với Xiêng Khoảng.

Hai là, thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo các cấp các ngành của tỉnh tích cực, chủ động phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với các cấp, các ngành của tỉnh bạn trên tất cả các lĩnh vực. Phát huy vai trò của người lãnh đạo, chỉ huy trên từng lĩnh vực hợp tác theo tinh thần từ thấp đến cao, từ dễ đến khó, từ gặp gỡ quen biết đến thân thiết, vì mục tiêu phát triển ổn định và thịnh vượng chung của hai tỉnh.

Ba là, không ngừng tuyên truyền giáo dục cho nhân dân toàn tỉnh thấm nhuần và nâng cao nhận thức về mối quan hệ đặc biệt truyền thống tốt đẹp lâu đời giữa nhân dân hai tỉnh về những chiến công trong các cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung và những kết quả đạt được trong thời kỳ xây dựng, hợp tác, phát triển toàn diện về kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng, an ninh hiện nay.

Bốn là, trong từng thời kỳ, từng giai đoạn, cần cụ thể hóa các chương trình hành động ký kết, hợp tác thành những nội dung công việc cụ thể và bám sát các mục tiêu, chỉ tiêu để thực hiện. Thường xuyên trao đổi rút kinh nghiệm, khắc phục những điểm còn tồn tại, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, điều chỉnh, bổ sung chương trình ký kết phù hợp với điều kiện cụ thể của hai tỉnh, bảo đảm đạt hiệu quả cao nhất.

Năm là, phải thể hiện sự chân thành, cởi mở và tin tưởng lẫn nhau, hợp tác để hai bên cùng có lợi; không ngừng công tác xây dựng, củng cố chính quyền, các tổ chức quần chúng và lực lượng vũ trang ngày càng vững mạnh, thực hiện tốt các mặt quốc phòng, an ninh, chính trị, kinh tế, văn hóa - xà hội; cải thiện nâng cao đời sống nhân dân của hai tỉnh, nhất là nhân dân hai bên biên giới.


Trong tình hình mới, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở mỗi nước có những ycu cầu mới cao hơn, cùng với việc phát triển kinh tế, văn hóa - xà hội, củng cố quốc phòng, an ninh... cần tiếp tục tăng cường, củng cố mối quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hai tỉnh phù hợp với tình cảm, nguyện vọng và tiềm năng, lợi thế sẵn có của cả hai bên. Đây là nhiệm vụ chiến lược có ý nghĩa sâu sắc đối với sự nghiệp cách mạng của hai nước nói chung, tỉnh Nghệ An và tỉnh Xiêng Khoảng nói riêng, góp phần nâng cao mối quan hệ hợp tác toàn diện giữa tỉnh Nghệ An và tỉnh Xiêng Khoảng lên tầm cao mới, xứng đáng với lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Việt - Lào hai nước chúng ta/ Tình sâu hơn nước Hồng Hà - Cửu Long".
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 4021



WWW
« Trả lời #136 vào lúc: 06 Tháng Tám, 2025, 09:21:54 pm »

CHIẾN THẮNG CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG MÙA MƯA NĂM 1972 BÀI HỌC VỀ CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU DỰ BÁO CHIẾN LƯỢC GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Thiếu tướng, TS TRẦN MINH TUẤN
Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Quốc phòng - Bộ Quốc phòng


Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng năm 1972 là một mốc son lịch sử quan trọng trong tiến trình kháng chiến của cách mạng ba nước Đông Dương. Thắng lợi của chiến dịch đã góp phần đánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" nước ta và chiến lược "Chiến tranh đặc biệt tăng cường" của Mỹ ở Lào, tạo thế thuận lợi cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của hai dân tộc Việt Nam - Lào tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.


Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng của liên quân Việt - Lào diễn ra cùng thời điểm với cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên chiến trường miền Nam; nằm trong phương hướng chung mở các chiến dịch lớn trên toàn chiến trường Đông Dương mà Bộ Chính trị đề ra cho cả năm 1972 và Nghị quyết của Thường vụ Quân ủy Trung ương ngày 17 tháng 3 năm 1972 về phương hướng tiến hành cuộc tiến công chiến lược năm 1972.


Với tầm nhìn chiến lược, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã sớm phát hiện âm mưu, thủ đoạn của địch, quyết tâm bảo vệ bằng được địa bàn chiến lược quan trọng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, góp phần quan trọng vào những thắng lợi trên toàn chiến trường Đông Dương mà Bộ Chính trị đề ra cho cả năm 1972. Đồng thời, chiến thắng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa năm 1972 còn đánh dấu bước phát triển về nghệ thuật quân sự Việt Nam, đặc biệt là bài học về coi trọng công tác nghiên cứu dự báo chiến lược, thể hiện trên một số nội dung cụ thể sau đây:


Một là, nắm chắc tình hình, dự bảo chính xác âm mưu, thủ đoạn của địch, nhanh chóng chuyển hóa thế trận từ tiến công sang phòng ngự là yếu tố quan trọng, quyết định thắng lợi

Từ tháng 9 năm 1969 đến tháng 12 năm 1971, trên địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đã diễn ra quy luật thực tế đó là: Mùa khô ta đánh chiếm, làm chủ; mùa mưa địch nống ra chiếm lại. Đặc biệt, sau thất bại nặng nề của quân phái hữu Lào và quân Thái Lan trong mùa khô năm 1971 - 1972 ở chiến trường Thượng Lào đã đẩy Mỹ và tay sai vào thế bất lợi. Học thuyết Níchxơn ở Lào có nguy cơ bị thất bại hoàn toàn. Quân phái hữu Lào không còn khả năng chiến đấu, đế quốc Mỹ đã ồ ạt tăng cường lực lượng quân Thái Lan sang để cố thủ vùng Loong Chẹng và cố giữ cho quân phái hữu Lào không bị sụp đổ. Tuy vậy, mục tiêu đánh chiếm làm chủ địa bàn chiến lược quan trọng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng vẫn không thay đổi. Để chuẩn bị tiến công đánh chiếm lại Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng trong mùa mưa năm 1972, Mỹ và tay sai ở Lào đã tổ chức một lực lượng quân sự lớn và hình thành 4 khu vực bao quanh Cánh Đồng Chum.


Về ta, mùa khô năm 1971 - 1972 trên chiến trường Lào, liên quân Lào - Việt đã giành được thắng lợi trong chiến dịch tiến công giải phóng Cánh Đồng Chum - Mường Sủi. Do nắm chắc âm mưu của địch, rút kinh nghiệm những năm trước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã nhận định: Tham vọng của đế quốc Mỹ và bọn tay sai ở Lào vẫn không thay đổi. Địch có thể lợi dụng mùa mưa lấn chiếm vùng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Mường Sủi. Đây cũng sẽ là một trong những cố gắng cuối cùng của địch để giành thế mạnh trên bàn đàm phám, hay ít nhất cũng giữ cho được thế cân bằng về quân sự trước khi có giải pháp chính trị ở Lào. Từ nhận định trên, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng Việt Nam cùng Quân ủy Trung ương, Bộ Chỉ huy Tối cao Quân giải phóng nhân dân Lào đã quyết định chủ trương: Sau chiến dịch tiến công, lực lượng ta sẽ chuyển sang phòng ngự chiến dịch. Tiếp đó, Bộ Tư lệnh Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng được thành lập và trực tiếp nắm ý định của cấp chiến lược. Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã chủ động chuẩn bị trước các công việc của chiến dịch phòng ngự. Quá trình kết thúc chiến dịch tiến công, ta đã rút một số đơn vị về phía sau để chuẩn bị cho chiến dịch phòng ngự. Ta bắt đầu triển khai chiến dịch phòng ngự và chỉ trong 1 tháng bộ đội ta đã hoàn thành công tác chuẩn bị ở các khu phòng ngự tuyến 1. Và, đúng như dự đoán, từ ngày 5 tháng 5 năm 1972, địch bắt đầu tung thám báo ra nắm tình hình, sử dụng 6 tiểu đoàn quân Thái Lan đánh chiếm Sảm Thông và Điểm cao 1900B. Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã lệnh cho Trung đoàn 174 triển khai lực lượng đánh bại các đợt tiến công của địch ngay từ đầu, bảo vệ vững chắc khu vực trung gian, làm đảo lộn hoàn toàn kế hoạch tiến công của địch.


Như vậy, với thời gian rất ngắn các lực lượng của ta đang triển khai chiến dịch tiến công, đã nhanh chóng chuyển sang thế trận phòng ngự; kịp thời đánh địch giành thắng lợi ngay từ đầu. Kết quả đó khẳng định chủ trương lãnh đạo đúng đắn, tư duy chiến lược trong nhận định, dự báo và quyết định chủ trương tác chiến chính xác; thông báo, chỉ đạo kịp thời từ Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng. Đồng thời, nó thể hiện quyết tâm tích cực, chủ động của Bộ Tư lệnh Chiến dịch và các lực lượng Quân tình nguyện Việt Nam và Quân giải phóng nhân dân Lào trên chiến trường. Nắm chắc ý định tác chiến của trên, Bộ Tư lệnh Chiến dịch nhanh chóng và chủ động chuyển hóa thế trận, triển khai các công tác của chiến dịch phòng ngự.


Hai là, đánh giá, nhận định chính xác về địch là cơ sở quan trọng nhất để quyết định tổ chức chiến dịch phòng ngự.

Thắng lợi to lớn trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa năm 1972 bắt nguồn từ nhiều yếu tố, trong đó việc phân tích, đánh giá, dự báo không gian, thời gian, số lượng và thủ đoạn của các lực lượng địch tham gia tác chiến có vai trò quan trọng đặc biệt. Sau những thất bại nặng nề trong năm 1971, có ý kiến cho rằng địch không còn đủ sức để tiến công ra Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng nữa, mà chỉ tiến ra khu trung gian, hoặc nếu địch có tiến ra Cánh Đồng Chum thì cũng chỉ với một lực lượng nhỏ. Nhận thức của một số cán bộ, chiến sĩ của ta chưa đúng như vậy biểu hiện tư tưởng chủ quan, coi thường địch. Tuy nhiên, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Chiến dịch nhận định và thống nhất nhận thức: Tình hình cuộc kháng chiến của nhân dân Đông Dương đang giành thắng lợi lớn và tất yếu sẽ có giải pháp chính trị. Đế quốc Mỹ và tay sai Lào sẽ ngoan cố đánh chiếm lại Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng để duy trì trạng thái chiến trường như trước, để làm chủ địa bàn chiến lược, tạo bàn đạp tiến công căn cứ địa cách mạng và vùng giải phóng của cách mạng Lào. Thời gian có thể sớm, quy mô và tính chất của cuộc hành quân sắp tới của địch không những lớn mà còn ác liệt, dai dẳng, phức tạp hơn. Nếu ta không có nhận thức đầy đủ nhiệm vụ chiến lược phải giữ vững địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum, không chuẩn bị lực lượng và tổ chức phòng ngự vững chắc để đánh bại các cuộc tiến công lớn của địch thì nhất định không giữ được địa bàn này. Đây là một nhận định rất chính xác, là cơ sở để ta có chủ trương đúng đắn, tổ chức phòng ngự kiên cố, giữ vững Cánh Đồng Chum.


Trên cơ sở dự báo và nhận định chiến lược đúng đắn, ta chủ trương tổ chức xây dựng thế trận chiến dịch phòng ngự tương đối kiên cố, vững chắc; có đầy đủ hệ thống công sự chiến đấu, giao thông, đường hầm xuyên núi nổi liền các khu vực phòng ngự. Ta và bạn cũng bố trí các lực lượng phòng ngự phù hợp, linh hoạt có khả năng đánh địch trên các hướng. Trên thực tế, nếu không xác định quyết tâm xây dựng hệ thống công sự trận địa và các khu vực phòng ngự tương đối kiên cố, liên hoàn, vững chắc ngay từ đầu, ta không thể ngăn chặn được địch và khó thực hiện được nhiệm vụ của chiến dịch phòng ngự.


Ba là, dự báo chính xác các hướng, các mũi tiến công của địch, tổ chức các trận đánh có ý nghĩa đột biến là yếu tố đặc biệt quan trọng để giành thế chủ động trên chiến trường

Để thực hiện nhiệm vụ đánh địch thắng lợi trong mùa mưa năm 1972, ta và bạn đã chủ động triển khai nắm địch một cách tương đối toàn diện từ cấp chiến lược đến chiến thuật. Ta và bạn thường xuyên thông báo, trao đổi tình hình địch, nhất là địch trên hướng mặt trận Bắc Lào. Nắm chắc được ý định tác chiến, lực lượng và quy luật hoạt động của địch. Quá trình xây dựng quyết tâm, ta đã dự báo chính xác các hướng và các trận đánh có ý nghĩa quan trọng nếu giành thắng lợi, có thể tạo đột biến chiến dịch, thay đổi tương quan lực lượng giữa ta và địch, đẩy quân địch vào thế bị động.


Đúng như ta dự đoán, quá trình tiến công đánh chiếm Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, địch liên tục bị ta ngăn chặn, phải chuyển hướng tiến công nhiều lần. Trên các hướng tiến công, địch huy động lực lượng và phương tiện chiến tranh lớn, kết họp cả tiến công đường bộ với đổ bộ đường không hòng tạo thay đổi về tương quan lực lượng. Trong thế bị thúc ép về chính trị và mùa mưa sắp hết, tuy lực lượng đã bị tiêu hao nặng nề, nhưng địch vẫn dốc sức mở đợt tiến công đánh chiếm cho được phía Nam Cánh Đồng Chum. Xác định đây là trận then chốt quyết định của chiến dịch, ta tập trung lực lượng đánh trận phản đột kích thứ 3, đánh bại hoàn toàn quân địch tiến công quy mô lớn vào Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Địch đã hoàn toàn thất bại trước cách thức phòng ngự rắt chủ động và hiệu quả của các lực lượng ta; buộc phải rút khỏi các bàn đạp ở xung quanh Cánh Đồng Chum.


Có được thắng lợi to lớn của chiến dịch là do ta đã nhận định đúng về địch, xác định chính xác địa bàn, đặc biệt là tổ chức phòng ngự linh hoạt đối phó với địch tiến công từ nhiều hướng. Trong đó, ta đã dự kiến chính xác hướng diễn ra các trận đánh quan trọng có ý nghĩa quyết định, từ đó tập trung lực lượng tiêu diệt địch, giành thắng lợi.


Bốn là, đánh giá chính xác tình hình ta và bạn, xác định phương thức tác chiến liên minh phù hợp là một trong những yếu tố quyết định thắng lợi của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng

Việt Nam - Lào là hai dân tộc có quan hệ đoàn kết hữu nghị đặc biệt, tình đoàn kết đó được thể hiện sâu sắc trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trong đó thể hiện rõ nét nhất là mối đoàn kết, hiệp đồng chặt chẽ giữa các đơn vị Quân tình nguyện Việt Nam và Quân giải phóng nhân dân Lào trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.


Tuy chiến dịch diễn ra trên đất bạn, nhưng với tinh thần chiến đấu chống kẻ thù chung, tôn trọng độc lập của bạn, Việt Nam giúp đỡ, chi viện một cách tận tình, tạo điều kiện cho bạn ngày càng trưởng thành, có thể tự bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ đất nước và nhân dân các bộ tộc Lào. Đặc biệt, khi Quân tình nguyện chiến đấu trên chiến trường của bạn, cùng bạn chống đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai trong điều kiện địa hình rừng núi, dân thưa, lực lượng vũ trang địa phương của bạn còn ít, lực lượng ta cũng không nhiều. Trong khi đó, kẻ địch thông thuộc địa bàn hơn ta, được trang bị và chi viện rất lớn từ Mỹ. Vì vậy, liên minh chiến đấu với bạn trở thành nguyên tắc và cùng là kinh nghiệm để giành thắng lợi.


Ta và bạn đã thống nhất phân công và hiệp đồng chặt chẽ theo phương hướng, nhiệm vụ của chiến dịch trên từng khu vực. Những khu vực nào chỉ có lực lượng vũ trang của bạn, thì do bạn đảm nhiệm hoàn toàn. Với một số khu vực tuy bạn đảm nhiệm, nhưng có vị trí quan trọng, ta vẫn chuẩn bị sẵn sàng một bộ phận cơ động chiến dịch để chi viện cho bạn khi cần thiết. Những khu vực nào có bộ đội ta mà phía bạn chỉ có lực lượng vũ trang địa phương, thì ta và bạn cùng đảm nhiệm nhưng ta chủ trì hiệp đồng, thông qua chuyên gia, có khi trực tiếp với bạn. Những khu vực tiếp giáp có cả lực lượng chủ lực của ta và bạn, thì cùng bàn bạc kế hoạch hiệp đồng tác chiến thật cụ thể. Có những trận đánh, ta và bạn đã cùng tổ chức một đài quan sát hỗn hợp để nắm địch và hiệu chỉnh pháo cho cả ta và bạn. So với các mùa mưa trước đây, trong mùa mưa năm 1972, ta và bạn hiệp đồng chặt chẽ hơn, kể cả trong công tác bảo đảm chiến đấu và giải quyết chiến trường... Qua các trận đánh, qua từng giai đoạn tác chiến chiến dịch, Bộ Tư lệnh Chiến dịch và các chuyên gia trao đổi thống nhất với bạn về nhận định tình hình, kế hoạch tác chiến chung và rút kinh nghiệm trong hiệp đồng tác chiến giữa hai bên.


Chiến thắng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa năm 1972 đã củng cố thêm lòng tin và tình đoàn kết hữu nghị giữa ta và bạn, để lại bài học về tăng cường sức mạnh của tình đoàn kết đặc biệt giữa Đảng, Nhà nước, nhân dân và quân đội hai nước.

Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay, đế chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; trước hết phải dự báo chiến lược chính xác. Dự báo chiến lược là tiến hành công việc của tương lai, nên rất khó và phức tạp. Dự báo chiến lược trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng phụ thuộc vào đặc điểm, tính chất đặc thù của hoạt động này. Đây là lĩnh vực được bảo vệ, bảo mật nghiêm ngặt, mọi hoạt động nghiên cứu, nắm bắt tình hình đều hết sức khó khăn. Mặt khác, trong chiến tranh hiện đại (nếu xảy ra), tính biến động cao, bất ngờ, rất khó dự đoán. Nếu dự báo không chính xác có thể dẫn đến sai lầm về chiến lược, tạo ra nguy cơ đe dọa chế độ và đe dọa độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ. Vì vậy, công tác nghiên cứu dự báo chiến lược trong tình hình hiện nay trên cơ sở vận dụng hợp lý các bài học trong lịch sử, cần phải được củng cố, phát triển về mọi mặt, nhất là tư duy chiến lược, làm cơ sở tham mưu cho Đảng, Nhà nước Quân đội lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng và thực hiện các chiến lược đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #137 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2025, 08:02:44 pm »

VẬN DỤNG KINH NGHIỆM CHIẾN DỊCH PHÒNG NGỰ CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG VÀO CÔNG TÁC ĐÀO TẠO CÁN BỘ Ở TRƯỜNG SĨ QUAN LỤC QUÂN 1 HIỆN NAY

Thiếu tướng, TS NGUYỄN VĂN THANH
Phó Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 1


Thắng lợi của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa năm 1972 thể hiện trình độ vận dụng sáng tạo nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Đến nay, những nét đặc sắc về nghệ thuật quân sự của chiến dịch này vẫn giữ nguyên giá trị và là những bài học kinh nghiệm quý vận dụng vào thực tiễn công tác đào tạo cán bộ ở Trường Sĩ quan Lục quân 1, góp phần xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.


Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng diễn ra từ ngày 21 tháng 5 đến ngày 15 tháng 11 năm 1972. Đây là lần đầu tiên Quân đội ta tổ chức phòng ngự quy mô cấp chiến dịch một cách hoàn chỉnh trong liên minh chiến đấu với Quân giải phóng nhân dân Lào. Trải qua 179 ngày đêm chiến đấu, liên quân Việt Nam - Lào đã đánh 244 trận, đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công quy mô lớn của địch, giữ vững địa bàn chiến lược quan trọng Cánh Đồng Chum, loại khỏi vòng chiến đấu 5.759 tên; đánh thiệt hại nặng 3 GM (21, 23, 26) và 3 tiểu đoàn quân đánh thuê Thái, đánh thiệt hại 5 GM khác (15, 22, 24, 30, 32).


Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng thắng lợi đã giữ được thế liên hoàn vững chắc giữa ba vùng căn cứ địa cách mạng của Lào và để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý. Đối với ta, đây là lần đầu tiên bộ đội ta và Quân giải phóng nhân dân Lào tiến hành một chiến dịch phòng ngự hoàn chỉnh và giành thắng lợi nhiều mặt, tích lũy được nhiều kinh nghiệm, góp phần làm phong phú thêm lý luận nghệ thuật chiến dịch; khẳng định chiến dịch phòng ngự là một hình thức chiến dịch tất yếu không thể thiếu được trong quá trình chiến tranh nhằm giành đất, giành dân, giữ vững các khu vực, mục tiêu trọng yếu nhằm thay đổi cục diện chiến trường có lợi cho ta. Trong quá trình tiến hành chiến dịch phòng ngự, bộ đội ta đã trưởng thành về nhận thức tư tưởng, về kỹ thuật, chiến thuật; lần lượt đánh bại mọi biện pháp, thủ đoạn tiến công của địch; vận dụng sáng tạo cách đánh trong phòng ngự; kết hợp khéo léo giữa phòng ngự trận địa với phản kích liên tục, tiến công diệt địch; tập trung lực lượng thích hợp đánh lớn, đánh hiệp đồng binh chủng ở những trận then chốt, giành thắng lợi lớn; thực hiện phương châm càng đánh càng trưởng thành trong chiến dịch phòng ngự mà thời gian kéo dài, ác liệt, trong khi điều kiện vật chất bảo đảm cỏ hạn. Đồng thời, thực hiện tốt liên minh chiến đấu chặt chẽ giữa ta và bạn trong chủ trương cũng như trong tổ chức, thực hiện, phân công, phân nhiệm; giúp đỡ bạn, tạo điều kiện để bạn hoàn thành nhiệm vụ; củng cố mối quan hệ gắn bó giữa hai Đảng, hai dân tộc và quân đội hai nước trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng thắng lợi để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu về nghệ thuật quân sự, có giá trị cả về lý luận và thực tiễn, bổ sung và góp phần làm phong phú thêm lý luận nghệ thuật chiến dịch, đặc biệt là với loại hình chiến dịch phòng ngự.


Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, chúng ta đang thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quán triệt sâu sắc các quan điểm, đường lối chính trị, quân sự của Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Trường Sĩ quan Lục quân 1 đang từng bước vận dụng sáng tạo và cụ thể hóa những bài học kinh nghiệm trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trong đó có bài học kinh nghiệm Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng vào nhiệm vụ đào tạo cán bộ ở Nhà trường nhằm gắn Nhà trường với chiến trường; huấn luyện những gì mà chiến trường (chiến tranh) cần trong cả quá khứ hiện tại và tương lai.


Thứ nhất, vận dụng phân tích đánh giá tình hình, hạ quyết tâm chiến đấu của Chiến dịch vào trong quá trình huấn luyện chiến thuật, diễn tập đối với học viên.

Một trong những yếu tố giành thắng lợi của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là nhận định, đánh giá chính xác tình hình địch ở cả giai đoạn chuẩn bị và thực hành chiến dịch, từ đó hạ quyết tâm chính xác nên ta đã đánh bại mọi cuộc tiến công quy mô lớn của địch, giữ vững tuyến trung gian và khu vực phòng ngự then chốt. Từ bài học kinh nghiệm này, Nhà trường đã nghiên cứu, vận dụng sáng tạo trong huấn luyện chiến thuật và diễn tập ở các cấp (trung đội, đại đội, tiểu đoàn), nhằm rèn luyện tư duy khoa học cho học viên, vận dụng linh hoạt những kiến thức đã học vào xử trí các tình huống. Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trong tương lai (nếu xảy ra) được dự báo sẽ rất ác liệt, các trận chiến đấu diễn ra rất khẩn trương, tính biến động cao, đòi hỏi các đơn vị trực tiếp tham gia chiến đấu phải đánh giá, kết luận chính xác tình hình, hạ quyết tâm chiến đấu chính xác, kịp thời chuyển vào phòng ngự, giành thế chủ động trên chiến trường có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của từng trận đánh. Vì vậy, Nhà trường luôn coi trọng huấn luyện, rèn luyện tư duy khoa học, năng lực phán đoán, xử trí tình huống cho học viên. Đặc biệt, ữong huấn luyện, kết cấu về địch, ta, địa hình trong từng tưởng định, phương án, tình huống chiến thuật, giảng viên phải chủ động rèn luyện nâng cao tư duy chiến thuật cho học viên trong nhận định, đánh giá, kết luận tình hình, xử trí các tình huống phức tạp. Đối với các tình huống có nhiều phương án, ỷ kiến khác nhau, người dạy phải phát huy dân chủ, tôn trọng tư duy sáng tạo, các ý kiến trái chiều, ý kiến thuộc về thiểu số; định hướng các nguyên tắc lý luận, thực tiễn và phương pháp giải quyết vấn đề để thống nhất về nhận thức, hành động cho học viên. Khi gặp tình huống khó khăn, tình huống ngoài dự kiến, giảng viên cần định hướng để học viên bình tĩnh, linh hoạt, sáng tạo trong xử trí, điều chỉnh lực lượng, bố trí lại đội hình phù hợp; linh hoạt trong vận dụng các thủ đoạn chiến đấu nhằm phát huy điểm mạnh của ta; khoét sâu vào điểm yếu của địch. Khi tình hình thuận lợi, giảng viên định hướng cho học viên đánh giá đúng tình hình, nắm thời cơ, tập trung lực lượng, chỉ huy bảo đảm để xử trí tình huống đúng nguyên tắc chiến thuật, sát với diễn biến chiến đấu. Những đơn vị kiến thức trong huấn luyện được Nhà trường vận dụng vào diễn tập chiến thuật phòng ngự các cấp (trung đội, đại đội, tiểu đoàn). Đối với tình huống diễn tập chiến thuật phòng ngự, học viên phải dự kiến địch tiến công từ hướng nào tới để xây dựng quyết tâm phòng ngự. Trên cơ sở nhận định đúng về địch để triển khai công tác chuẩn bị chiến đấu phòng ngự, nhập vai trên từng cương vị chỉ huy bộ đội. Hình thức diễn tập là cơ sở quan trọng để đánh giá năng lực chỉ huy của học viên sau này khi ra trường.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #138 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2025, 08:03:22 pm »

Hai là, vận dụng trong huấn luyện xây dựng trận địa phòng ngự ở cấp phân đội gắn với từng cương vị chỉ huy

Trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã quyết định tổ chức phòng ngự khu vực; đồng thời, bố trí khu vực phòng ngự ở nơi hiểm yếu, có địa hình khống chế quan trọng, lập thế trận phòng ngự "hình tròn" để các lực lượng có thể phối, kết hợp đánh ngăn chặn, đánh lui, đánh bại các cuộc tiến công của địch từ tất cả các hướng: Chính diện, vu hồi hay luồn lách thọc sâu vào phía sau trận địa của ta. Trong xây dựng công sự trận địa, nhất là lực lượng ở khu vực phòng ngự chủ yếu có hầm ngầm, vật cản, các trận địa hỏa lực, đường cơ động cho các lực lượng (bộ binh, tăng thiết giáp, pháo binh, pháo phòng không...), khu vực tích trữ vật chất hậu cần, kỹ thuật và khai thác triệt để nguồn lực tại chỗ (lương thực, thực phẩm, nguồn nước, cứu chữa thương bệnh binh...); tổ chức nhiều trận địa nghi binh; tổ chức thông tin liên lạc, tổ chức phòng hóa... bảo đảm cho các đơn vị chiến đấu liên tục, dài ngày.


Vận dụng kinh nghiệm này vào trong quá trình huấn luyện, Nhà trường chỉ đạo giảng viên khi huấn luyện phải chú trọng trang bị cho học viên kiến thức, kỹ năng, phương pháp xây dựng trận địa phòng ngự. Theo đó, để xây dựng công sự trận địa liên hoàn, vững chắc, kiên cố, có chiều sâu phải bảo đảm cả số lượng, chất lượng, chủng loại, đạt được ý định chiến thuật, bảo đảm đúng kỹ thuật, đủ cho tất cả các lực lượng phòng ngự. Mức độ vững chắc của công sự trận địa phụ thuộc vào thời gian tổ chức xây dựng dài hay ngắn, khối lượng công việc, sự nỗ lực, tích cực và quyết tâm của đơn vị, kỹ năng, kinh nghiệm của người chỉ huy... Để bảo đảm đánh địch được liên tục, dài ngày, người chỉ huy cần chủ động xác định kế hoạch và tổ chức xây dựng trận địa phòng ngự vững chắc, kiên cố ngay từ đầu và thường xuyên củng cố, tu sửa trong quá trình chiến đấu, bảo đảm hệ thống công sự trận địa của các đơn vị ngày càng hoàn chỉnh, vững chắc hơn. Kết hợp chặt chẽ với hệ thống hỏa lực để sát thương sinh lực, phá huỷ phương tiện địch tiến công, nhất là giai đoạn bộ binh, xe tăng địch xung phong vào tiền duyên hoặc ngăn chặn, chi viện cho bộ binh cơ động, tiến công địch đột nhập. Tổ chức hệ thống hỏa lực trong phòng ngự phải khéo léo, kết hợp chặt chẽ giữa hoả lực cấp trên với hỏa lực cấp mình, bố trí xen kẽ và kết hợp giữa các loại hỏa khí có tầm bắn gần với hỏa khí có tầm bắn xa, giữa hỏa lực cầu vồng với hỏa lực bắn thẳng... tạo thành hệ thống hỏa lực nhiều tầng, nhiều tầm, khống chế được toàn bộ phạm vi khu vực phòng ngự, đánh địch hiệu quả từ xa đến gần, có thể tập trung đúng lúc, đúng thời điểm vào hướng phòng ngự chủ yếu, khu vực tập trung diệt địch, nơi quan trọng để sát thương địch tạo thành hệ thống hỏa lực dày đặc, cả ở chính diện, bên sườn và cơ động hỏa lực thuận lợi đánh địch ở phía sau.


Hệ thống vật cản là thành phần quan trọng để sát thương tiêu hao sinh lực địch, làm chậm tốc độ tiến công của chúng, tạo điều kiện cho các bộ phận phát huy hỏa lực tiêu diệt địch. Hệ thống vật cản trong phạm vi trận địa phòng ngự phải bố trí xen kẽ giữa vật cản nổ với vật cản không nổ, giữa vật cản tự tạo với vật cản tự nhiên. Bố trí tập trung, có trọng điểm với nhiều chủng loại và không thành quy luật, bảo đảm bí mật, bất ngờ. Kết hợp giữa bố trí vật cản tại chỗ với vật cản cơ động, kết hợp cả trong và ngoài trận địa tạo thành hệ thống vật cản đa dạng, phức tạp để ngăn chặn địch. Người chỉ huy phải tận dụng triệt để thế có lợi của địa hình, tích cực cải tạo công sự sẵn có, khai thác vật liệu tại chỗ, phát huy tối đa khả năng của các lực lượng trong đơn vị, kết hợp với sự giúp đỡ của đơn vị bạn, lực lượng vũ trang địa phương trong khu vực phòng thủ. Tận dụng thời gian trước và trong quá trình chiến đấu để xây dựng, củng cố công sự trận địa ngày càng hoàn chỉnh, đồng thời kết hợp nhiều biện pháp như ngụy trang, nghi binh để hạn chế hỏa lực địch đánh phá.


Ba là, kịp thời động viên cán bộ, chiến sĩ khắc phục khó khăn trong quá trình huấn luyện, diễn tập cũng như sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.

Nhân tố chính trị, tinh thần có vị trí, vai trò rất quan trọng, nhất là trong chiến đấu phòng ngự. Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trong tương lai (nếu xảy ra), chúng ta không chỉ đối phó với quân địch có vũ khí thông minh, uy lực sát thương lớn mà còn phải đứng vững và chiến thắng các thủ đoạn chiến tranh tâm lý của kc thù. Chỉ có bản lĩnh chiến đấu vững vàng thì cán bộ, chiến sĩ mới vượt qua khó khăn, gian khổ giành thắng lợi, tiến tới đánh bại chiến tranh xâm lược của địch. Nhân tố chính trị, tinh thần có sức mạnh to lớn khi được bồi dưỡng, rèn luyện, kết tinh trong từng cán bộ, học viên, được bộc lộ ra bên ngoài thông qua hành động, công việc cụ thể của mỗi người.


Vì vậy, để xây dựng, phát huy tốt nhân tố chính trị, tinh thần của cán bộ, học viên, trong hoạt động giảng dạy, huấn luyện, diễn tập, giảng viên, cán bộ quản lý cần tập trung rèn luyện, hun đúc cho học viên tinh thần chịu đựng gian khổ, ý chí quyết tâm cao, kiên quyết khắc phục khó khăn để hoàn thành các mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ được giao. Nhà trường cần tiếp tục điều chỉnh nội dung, phương pháp giáo dục chính trị, giảng dạy khoa học xã hội và nhân văn, nhất là trong giảng dạy các môn lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chú trọng xây dựng, củng cố niềm tin, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, lòng trung thành vô hạn đối với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân cho học viên. Khuyến khích, động viên học viên tích cực, tự giác tham gia đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình", "phi chính trị hóa" Quân đội của các thế lực thù địch. Đối với nhiệm vụ huấn luyện quân sự, nhất là huấn luyện chiến thuật, trong từng đề mục chiến thuật, Nhà trường luôn chú trọng kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện chuyên ngành quân sự với làm tốt công tác đảng, công tác chính trị, xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cao cho người học, phát huy dân chủ quân sự, thông qua kế hoạch chiến đấu với chi bộ, hội nghị dân chủ quân sự... luôn được huấn luyện, tổ chức ôn luyện chặt chẽ. Quá trình tập bài, học viên ở cương vị bí thư chi bộ, tổ trưởng đảng xác định những vấn đề cần tập trung lãnh đạo; những nội dung, biện pháp chủ yếu để thực hiện thắng lợi trận chiến đấu. Trong tập bài thực hành chiến đấu, giảng viên định hướng, đạo diễn cho người chỉ huy, chính trị viên đơn vị thường xuyên có mặt tại các nơi gặp nhiều khó khăn để giúp đỡ học viên thực hành tập bài; chú trọng tiến hành công tác đảng, công tác chính trị cho học viên, thông qua đó, bồi dưỡng cho người học cả về nội dung và phương pháp quản lý, chỉ huy rèn luyện bộ đội trong huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu.


Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa năm 1972 diễn ra cách đây 50 năm, nhưng những bài học kinh nghiệm của Chiến dịch đến nay có giá trị lịch sử và hiện thực, cần tiếp tục nghiên cứu, phân tích, luận giải làm rõ những vấn đề mới, để vận dụng linh hoạt, sáng tạo, thiết thực, hiệu quả vào công tác đào tạo cán bộ ở Trường Sĩ quan Lục quân 1, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #139 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2025, 08:05:25 pm »

VẬN DỤNG BÀI HỌC VỀ TIẾN HÀNH CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ TRONG CHIẾN DỊCH PHÒNG NGỰ CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG VÀO ĐÀO TẠO CÁN BỘ CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Thiếu tướng, PGS, TS NGUYỄN HÙNG OANH
Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Chính trị - Bộ Quốc phòng


Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng lần đầu tiên bộ đội ta triển khai nhiệm vụ phòng ngự ở quy mô chiến dịch một cách hoàn chỉnh trong liên minh chiến đấu với lực lượng vũ trang cách mạng Lào và đã giành thắng lợi to lớn, đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn nhất của quân phái hữu Lào và quân đội Thái Lan (được không quân Mỹ yểm trợ), giữ vững địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum. Đây là chiến dịch phòng ngự được tiến hành kế tiếp ngay sau chiến dịch tiến công, có dự kiến, có chỉ đạo chủ động từ lúc mở đầu đến lúc kết thúc. Thắng lợi của chiến dịch này đã đưa nghệ thuật chiến dịch phòng ngự phát triển lên một bước quan trọng, từ tổ chức, điều hành các trận, các đợt chiến đấu phòng ngự tiến lên chỉ đạo, tổ chức, điều hành một chiến dịch phòng ngự hoàn chỉnh; đồng thời để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý về tiến hành công tác đảng, công tác chính trị chiến dịch phòng ngự.


Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng diễn ra trên địa bàn khu vực Cánh Đồng Chum - Mường Sủi - Noọng Pẹt, thị xã Xiêng Khoảng (Lào) từ ngày 21 tháng 5 đến ngày 15 tháng 11 năm 1972. Kết quả chiến dịch, ta và bạn "đã đánh 244 trận (ta đánh 170 trận, bạn đánh 74 trận), loại khỏi vòng chiến đấu 5.759 tên địch, trong đó bắt 179 tên, đánh thiệt hại nặng 3 GM (21, 23, 26), 3 tiểu đoàn quân Thái Lan, đánh thiệt hại nặng 5 GM khác, bắn rơi 38 máy bay, thu 859 súng các loại (có 4 khẩu pháo 105mm, 4 khẩu cối 106,7mm), đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công quy mô lớn của địch"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1987, tr. 72, 73). Thắng lợi của chiến dịch là kết tinh của nhiều yếu tố, trong đó có đóng góp quan trọng của hoạt động công tác đảng, công tác chính trị. Thành công của hoạt động công tác đảng, công tác chính trị để lại nhiều bài học kinh nghiệm có giá trị sâu sắc.


Một là, làm tốt công tác giáo dục, xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu kiên cường, phòng ngự tích cực, chủ động cho bộ đội.

Trước và trong chiến dịch, cấp ủy, cán bộ chủ trì các cấp đã lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ nắm vững đối tượng tác chiến, âm mưu, thủ đoạn, những mặt mạnh, yếu của địch, thấy hết thuận lợi, khó khăn; nhận thức sâu sắc nhiệm vụ chiến dịch là "phải bảo vệ bằng được khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, củng cố vững chắc vùng căn cứ giải phóng của bạn; phục vụ cho yêu cầu đấu tranh chính trị trong tình hình mới"2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr. 604); quán triệt sâu sắc phương châm, tư tưởng chỉ đạo tác chiến phòng ngự là tư tưởng phòng ngự tích cực, tinh thần tích cực tiến công địch, lấy việc tiến công tiêu diệt địch để bảo vệ địa bàn; lấy tinh thần quyết tâm chiến đấu kiên quyết ngoan cường giữ vững trận địa, khu vực để tạo điều kiện tiến công tiêu diệt địch, từ đó, xây dựng lòng tin từng bước nhất trí về nhận thức và hành động, xây dựng ý chí quyết tâm phòng ngự dũng cảm, kiên cường bám trụ, giữ vững trận địa.


Thường xuyên bám sát bộ đội, nhiệm vụ tác chiến, cả khi thuận lợi cũng như khi gặp khó khăn để tiến hành giáo dục kịp thời có hiệu quả. Khi trận đánh phát triển thuận lợi, đập tan các cuộc tiến công của địch, giữ vững trận địa phòng ngự thì kịp thời cổ vũ động viên bộ đội, nhanh chóng tuyên truyền tin chiến thắng, chỉ đạo các đơn vị rút kinh nghiệm, kịp thời củng cố đơn vị chuẩn bị cho những trận đánh tiếp theo, chấn chỉnh kịp thời những biểu hiện tư tưởng lệch lạc, chủ quan thỏa mãn của một số cán bộ chiến sĩ. Khi trận đánh diễn ra phức tạp, khó khăn, trận địa phòng ngự bị địch đột nhập, bộ đội thương vong nhiều thì tiến hành củng cố tư tưởng, giữ vững ý chí chiến đấu; động viên cán bộ, chiến sĩ phát huy tinh thần độc lập, chủ động, sáng tạo, kiên cường bám trụ khôi phục và giữ vững trận địa phòng ngự, khắc phục tư tưởng sợ địch. Thực tế cho thấy, do tiến hành tốt công tác động viên tư tưởng nên cán bộ, chiến sĩ "Trung đoàn 174 kiên cường bám trụ suốt 179 ngày đêm tại khu trung gian, góp phần quan trọng vào việc giữ vững khu vực phòng ngự chủ yếu; còn Trung đoàn 335 phát huy khả năng tiến công vận động tốt, có hiệu suất chiến đấu cao (thương vong ta 1/địch 16,1)"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972, Sđd, tr. 94).


Hai là, phát huy dân chủ quân sự, huy động trí tuệ của bộ đội tìm tòi, sáng tạo cách đánh hiệu quả, kiên cường trụ bám, chiến đấu mưu trí, dũng cảm, đập tan các thủ đoạn tác chiến của địch

Trên cơ sở nắm vững quyết tâm của Quân ủy Trung ương về tổ chức phòng ngự và dự đoán được âm mưu địch tập trung đánh chiếm Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã lãnh đạo, chỉ đạo mở hội nghị cán bộ chủ chốt để vừa quán triệt nhiệm vụ, vừa trao đổi kinh nghiệm thực tế, phát động sâu rộng trong mọi đơn vị, mọi lực lượng tạo thành cuộc vận động lớn huy động trí tuệ, sáng kiến của cán bộ, chiến sĩ hiến kế lập công. Lãnh đạo, chỉ huy các cấp đã kịp thời tổ chức các hội nghị chuyên đề phổ biến quyết tâm của trên, trao đổi kinh nghiệm, dân chủ thảo luận để khắc phục khó khăn, đề xuất cách đánh tối ưu nhất để đánh bại các thủ đoạn tiến công của địch.


Công tác đảng, công tác chính trị chiến dịch đã động viên các tổ chức quần chúng phát huy sáng kiến, ra sức thi đua chiến đấu, thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên, hướng vào giải quyết những khó khăn về bảo đảm hậu cần kỹ thuật trong điều kiện mùa mưa, địch đánh phá ác liệt, cấp ủy chỉ huy các cấp quan tâm củng cố tổ chức, kiện toàn đội ngũ can bộ, tổ chức hiệp đồng chiến đấu giữa các lực lượng tham gia chiến dịch; coi trọng công tác lãnh đạo, chỉ đạo, giáo dục, động viên đoàn viên, thanh niên phát huy sáng kiến, tham gia vào việc nghiên cứu đề xuất cách đánh theo chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị.


Thực hiện dân chủ quân sự ở mỗi cấp hết sức linh hoạt sáng tạo, không rập khuôn máy móc, có thể tổ chức hội nghị theo từng đơn vị, theo nhiệm vụ, thảo luận trên bản đồ, sa bàn hay trên thực địa vào thời điểm thích hợp. Các phân đội đã hướng cho bộ đội thảo luận kỹ nhiệm vụ và cách đánh cụ thể của đơn vị, của từng trận đánh, từng mục tiêu và nhiệm vụ của từng người.


Ba là, coi trọng việc củng cố, kiện toàn tổ chức và phát huy vai trò đội ngũ cán bộ các cấp

Trong chiến dịch này, việc sáp nhập Bộ Tư lệnh và cơ quan Sư đoàn 316 vào Bộ Tư lệnh Chiến dịch và cơ quan chiến dịch vừa thực hiện được sự lãnh đạo, chỉ huy thống nhất, kịp thời đối với các lực lượng của ta, vừa thực hiện tốt quan hệ hiệp đồng với bạn. Riêng đối với lực lượng ta, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp từng trung đoàn bộ binh và từng tiểu đoàn binh chủng, tổ chức điều động, sử dụng lực lượng để thực hiện quyết tâm tác chiến. Trong thành phần của Bộ Tư lệnh Chiến dịch có cán bộ am hiểu tình hình, đặc trách việc tổ chức hiệp đồng với bạn, đảm bảo việc lãnh đạo, chỉ huy thống nhất đối với 2 lực lượng riêng biệt cùng thực hiện nhiệm vụ chung của chiến dịch.


Cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp thường xuyên nắm chắc tình hình, kịp thời củng cố, kiện toàn các chi bộ, điều chỉnh đảng viên; chú trọng bổ sung cho các đơn vị trên hướng phòng ngự chủ yếu, lực lượng chốt; thường xuyên nắm chắc đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì các cấp, kịp thời bổ sung, thay thể những cán bộ bị hy sinh, thương vong; gắn kết chặt chẽ giữa việc bồi dưỡng phát triển đảng viên với bồi dưỡng tạo nguồn cán bộ thông qua thực tế chiến đấu. Do đó, đã duy trì được hoật động lãnh đạo, chỉ huy liên tục trong suốt quá trình tác chiến; kịp thời điều chỉnh, thực hiện luân phiên lực lượng cho các đơn vị làm nhiệm vụ chủ yếu và các đơn vị bị tiêu hao, nhất là các đơn vị làm nhiệm vụ chốt, đáp ứng được yêu cầu phát triển chiến đấu liên tục, dài ngày, quyết liệt của tác chiến phòng ngự.


Vai trò tiền phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên được phát huy cao độ. Đội ngũ cán bộ các cấp thường xuyên có mặt tại những nơi xung yếu, hướng chủ yếu, đặc biệt là lực lượng giữ chốt, kịp thời động viên tư tưởng cán bộ, chiến sĩ, củng cố ý chí quyết tâm chiến đấu vững chắc, kiên cường bám trụ. Trong quá trình diễn biến chiến dịch, có những tình huống giằng co quyết liệt giữa ta và địch, một số cán bộ, chiến sĩ "Trung đoàn 866 có biểu hiện tư tưởng ngại hy sinh, gian khổ, song được sự quan tâm, động viên đúng lúc của cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, Trung đoàn đã khắc phục kịp thời hạn chế, giữ vững quyết tâm chiến đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử các đoàn 335, 776, 866 quân tình nguyện và 463, 565 chuyên gia quân sự tại Lào, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 471). Hình ảnh Tiểu đoàn trưởng Đào Trọng Lịch, Chính trị viên Trịnh Ngọc Nhu (Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 148) trong trận Him Đăm, Thẩm Lửng (3.7.1972) xông xáo, mưu lược, quyết đoán, bám sát các mũi tiến công, kịp thời chỉ đạo, động viên bộ đội, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của chiến dịch có tác động nêu gương, cổ vũ tinh thần lớn đối với cán bộ, chiến sĩ.


Bốn là, làm tốt công tác phối hợp hiệp đồng, đoàn kết liên minh chiến đấu với Quân giải phóng nhân dân Lào để giành thắng lợi

Cấp ủy, chỉ huy, cán bộ chính trị, cơ quan chính trị các cấp đã phối hợp với lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị bạn chăm lo giáo dục, làm cho bộ đội ta và bạn quán triệt quan điểm liên minh chiến đấu, đoàn kết chặt chẽ cùng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chung của chiến dịch, vì lợi ích của 2 dân tộc. Các cấp ủy, chỉ huy các cấp đặc biệt coi trọng giáo dục, làm cho cán bộ, chiến sĩ quán triệt quan điểm của Đảng về tôn trọng chủ quyền, giữ gìn mối quan hệ bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau vì lợi ích chung và lợi ích chính đáng của mỗi dân tộc. Do vậy, bộ đội ta đều nhận thức rõ ý nghĩa quan trọng của việc đoàn kết, hiệp đồng liên minh chiến đấu giữa ta và bạn; phát huy tốt vai trò và chức năng của một đội quân chiến đấu đồng thời là đội quân chính trị, đội quân công tác, thực hiện tốt mối quan hệ hiệp đồng chiến đấu trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau, vì thắng lợi chung của cách mạng hai nước.


Khi liên hệ với nhân dân, cán bộ, chiến sĩ đều thông qua ý kiến với địa phương bạn và do cán bộ địa phương giúp đờ; tôn trọng phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc thiểu số. Đối với dân công, cấp ủy, chỉ huy các cấp được yêu cầu sử dụng dân công đảm bảo hết sức tiết kiệm và hợp lý, đỡ gánh nặng cho nhân dân và đáp ứng cho kế hoạch tác chiến chiến dịch dài ngày; cử cán bộ có năng lực công tác chính trị phụ trách dân công, phối hợp chặt chẽ với cán bộ địa phương của các đội dân công trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Nhờ làm tốt công tác dân vận nên trong chiến dịch, thế trận chiến tranh nhân dân đã được phát huy cao độ; đồng bào từ miền núi đến đồng bằng trong vùng đang bị địch chiếm đều hết sức, hết lòng phục vụ chiến đấu, cưu mang bộ đội.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM