Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:10:08 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: 50 năm chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng  (Đọc 52320 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #140 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2025, 08:07:00 pm »

Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực đang thay đổi nhanh chóng với nhiều diễn biến phức tạp, khó lường. Ở trong nước, sau 36 năm đổi mới, sức mạnh tổng hợp, uy tín, vị thế của đất nước đã tăng lên rõ rệt; song cũng còn nhiều khó khăn, thách thức. Nhiệm vụ của Quân đội có sự phát triển, yêu cầu xây dựng Quân đội ngày càng "tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân... cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 158) đòi hỏi phải nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội. Để vận dụng sáng tạo bài học kinh nghiệm công tác đảng, công tác chính trị của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng vào công tác đào tạo cán bộ chính trị trong Quân đội, cần tập trung vào những vấn đề cơ bản sau:

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho các lực lượng về vị trí vai trò, tầm quan trọng của hoạt động đào tạo cán Bộ Chính trị. Điều này giúp cho đội ngũ giảng viên nuôi dưỡng tâm huyết, tích cực sáng tạo, đổi mới trong nghiên cứu, giảng dạy, giúp người học hình thành tình cảm, niềm tin, động cơ đúng đắn trong quá trình học tập, từng bước chuyển biến tâm thê của người học từ thụ động tiếp thu sang chủ động tìm tòi, khám phá. Bên cạnh đó, nó còn giúp lãnh đạo, chỉ huy và cơ quan quản lý giáo dục, đào tạo các cấp có sự đầu tư đúng mức cho chiến lược hành động, nội dung, chương trình, giáo trình, công tác tổ chức và quản lý đào tạo, cơ chế tài chính, cơ sở vật chất phục vụ đào tạo cán bộ chính trị. Theo đó, cần tập trung quán triệt, phổ biến, giáo dục, nâng cao nhận thức cho các lực lượng về các quan điểm, chủ trương của Đảng, Quân ủy Trung ương về vị trí, vai trò của công tác đảng, công tác chính trị và của cán bộ chính trị; về yêu cầu đào tạo cán bộ chính trị, từ đó nâng cao nhận thức trách nhiệm của từng lực lượng, từng cá nhân trong tham gia đào tạo cán bộ chính trị.


Hai là, đẩy mạnh đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo cán bộ Chính trị theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, sát thực tế. Theo đó, việc đổi mới nội dung, chương trình đào tạo cán bộ chính trị, nhất là các môn chuyên ngành phải chú trọng gắn với việc xây dựng tiêu chuẩn phẩm chất, năng lực và phong cách người cán bộ chính trị; trong đó, chú trọng hệ tiêu chí về bản lĩnh chính trị, trình độ tư duy lý luận, năng lực công tác đảng, công tác chính trị và phong cách, đạo đức, lối sống của người cán bộ chính trị. Trong điều chỉnh kế hoạch đề bài, đề cương chi tiết môn học bảo đảm tỷ lệ phù hợp giữa kiến thức cơ bản với kiến thức chuyên ngành, lý thuyết và thực hành; tránh sự trùng lắp về nội dung giữa các môn học, cấp học, bậc học. Đặc biệt, cần hoàn thiện chuẩn đầu ra làm cơ sở cho việc điều chỉnh, đổi mới nội dung, chương trình đào tạo. Trong phương pháp dạy học, để đổi mới theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, lấy người học làm trung tâm, vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề, phát vấn, thảo luận nhóm,... cho phù hợp. Chú trọng kết hợp đào tạo chính khóa với hoạt động ngoại khóa, xây dựng mô hình tổ, nhóm học tập; đổi mới tổ chức, phương pháp thực tập cho học viên.


Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ giảng viên, cán bộ nghiên cứu đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Đây là nhân tố then chốt trong nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ chính trị. Vì vậy, cần quán triệt quan điểm Đại hội XIII của Đảng về "chăm lo xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Sđd, tr. 138), Nghị quyết số 109-NQ/QUTW, ngày 11 tháng 2 năm 2019 của Quân ủy Trung ương về xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội, nhất là cán bộ cấp chiến địch, chiến lược đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, coi trọng xây dựng, phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục có năng lực toàn diện về kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn, đù "tâm, tầm, trí" làm nòng cốt thực hiện đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, độ tuổi, chuyên ngành; từng bước chuẩn hóa về học vấn, chức danh, trình độ tin học, ngoại ngữ, nghiệp vụ sư phạm, kinh nghiệm thực tiễn, đạo đức nghề nghiệp, thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa và mô hình "nhà trường thông minh" tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.


Bốn là, nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học gắn với tăng cường đầu tư, xây dựng cơ sở kỹ thuật đồng bộ, liên thông, hiện đại. Tăng cường đa dạng các đề tài nghiên cứu khoa học, đổi mới công tác quản lý khoa học, nâng cao tính ứng dụng vào thực tiễn; hướng hoạt động nghiên cứu khoa học vào phục vụ trực tiếp công tác giáo dục - đào tạo và giải quyết những đòi hỏi bức thiết của công tác đảng, công tác chính trị ờ đơn vị. Ưu tiên nghiên cứu hoàn thiện nội dung, chương trinh đào tạo, chuẩn hóa hệ thống giáo trình, học liệu, ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ mô phỏng, trí tuệ nhân tạo trong giảng dạy,... và giải quyết các vấn đề thực tiễn đòi hỏi trong đào tạo cán bộ chính trị. Làm tốt việc đầu tư hoàn thiện hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin; việc tích hợp hóa, tin học hóa, hiện đại hóa công tác quản lý và đào tạo trong Quân đội. Hoàn thiện và khai thác hiệu quả mạng truyền số liệu quân sự gắn với triển khai hình thức học tập trên mạng; tập trung xây đựng, bổ sung và khai thác, sử dụng có hiệu quả kho bài giảng kho học liệu số phục vụ nhu cầu tự học.


Năm là, quan hệ phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương, đơn vị bạn trong thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, đào tạo. Việc phối hợp hiệp đồng này sẽ tạo môi trường thuận lợi để các nhà trường thực hiện tốt nhiệm vụ huấn luyện dã ngoại, diễn tập, thực tập... đồng thời cũng là bài học thực tiễn sinh động về công tác dân vận cho học viên. Theo đó, phải thường xuyên giữ mối liên hệ với cấp ủy, chính quyền địa phương, đơn vị bạn có liên quan. Duy trì có nền nếp việc giao ban, tiếp xúc trao đổi, tổ chức hoạt động dân vận, giao lưu, kết nghĩa, hoạt động hè tình nguyện, tổ chức sơ tổng kết, rút kinh nghiệm hoạt động công tác dân vận. Kịp thời nắm thông tin tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh, những quy định của địa phương, hoạt động của các thế lực thù địch, những tiêu cực xã hội nảy sinh, kịp thời cung cấp thông tin đến mọi cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, để trong quá trình tổ chức thực hiện các nhiệm vụ huấn luyện, đào tạo không vi phạm kỷ luật dân vận hoặc mất cảnh giác, không bị lôi kéo, vi phạm pháp luật Nhà nước.


Bài học kinh nghiệm công tác đảng, công tác chính trị trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại hiện nay. Vận dụng đúng đắn, sáng tạo những bài học kinh nghiệm đó vào đào tạo cán bộ chính trị là vấn đề hết sức quan trọng, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #141 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2025, 08:08:54 pm »

KINH NGHIỆM BẢO ĐẢM CÔNG BINH TRONG CHIẾN DỊCH PHÒNG NGỰ CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG

Thiếu tướng TRẦN TRUNG HÒA
Tư lệnh Binh chủng Công binh


Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, khu vực Cánh Đồng Chum là địa bàn có vị trí, ý nghĩa chiến lược về chính trị, quân sự; là trung tâm chống Chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của cách mạng Lào; là khu vực tác chiến liên quan đến tuyến vận tải chiến lược từ miền Bắc Việt Nam vào chiến trường ba nước Đông Dương. Đây là khu vực liên quân Việt - Lào và địch giành giật quyết liệt: Mùa khô ta tiến công giành quyền làm chủ, đến mùa mưa do khó khăn về tiếp tế buộc ta phải rút bớt lực lượng thì địch lấn chiếm trở lại. Do đó, ngay sau khi liên quân Việt - Lào giải phóng Cánh Đồng Chum - Mường Sủi, ta và bạn thống nhất chủ trương tổ chức chiến dịch phòng ngự chủ động, quyết không để địch lấn chiếm lại trong mùa mưa năm 1972, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng, giữ vững thế chiến lược của ta ở Bắc Lào và bảo vệ sườn phải các chiến dịch Trị - Thiên và Bắc Tây Nguyên trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972.


Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là khu vực rừng núi, xen kẽ rừng rậm, núi cao và có nhiều sông suối; thời tiết trong năm chia hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau; mạng đường chính có Quốc lộ 7A qua Bản Ban, Noọng Pẹt vào Cánh Đồng Chum, qua Mường Sủi đến Ngã ba Sa La Phu Khun, nối với Quốc lộ 13 (Luông Phabăng - Viêng Chăn) và trục Đường số 7B từ Nghệ An qua thị xã Xiêng Khoảng đến Cánh Đồng Chum. Ngoài ra, từ Cánh Đồng Chum vào khu Hin Tặng có các trục đường dân sinh trong trung tâm Xiêng Khoảng. Nhìn chung đường sá ở đây kém phát triển, việc đi lại, vận chuyển khó khăn, nhất là vào mùa mưa, gây trở ngại lớn tới việc cơ động lực lượng.


Lực lượng ta tham gia chiến dịch phòng ngự có 5 trung đoàn bộ binh (174; 148; 866; 335 và 88), 2 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn pháo binh, 4 tiểu đoàn pháo và súng máy phòng không, 1 tiểu đoàn xe tăng và 2 tiểu đoàn công binh (15 và 25). Lực lượng phía bạn Lào có: 7 tiểu đoàn chủ lực, 1 đại đội xe tăng, 2 đại đội pháo binh, 2 đại đội súng máy phòng không, 1 đại đội công binh và 4 đại đội bộ đội địa phương. Lực lượng địch ở Quân khu 2 gồm: 76 tiểu đoàn bộ binh (có 18 tiểu đoàn quân Thái Lan tổ chức thành các binh đoàn cơ động - GM, mỗi GM tương đương trung đoàn), 3 tiểu đoàn pháo binh. Địch bố trí theo 4 khu vực xung quanh Cánh Đồng Chum và được không quân, pháo binh Mỹ chi viện.


Đây là lần đầu tiên ta và bạn tiến hành một chiến dịch phòng ngự, ta đảm nhiệm khu vực trung tâm Cánh Đồng Chum, khu trung gian, khu Noọng Pẹt; bạn đảm nhiệm khu vực thị xã Xiêng Khoảng và khu vực Mường Sủi. về tổ chức phòng ngự, tại các khu vực trọng yếu ta xây dựng trận địa liên hoàn, hình thành hệ thống công trình vững chắc, nhiều tuyến, có chiều sâu. Các khu vực không trọng yếu và chưa thể xây dựng trận địa thì vận dụng hình thức "chốt" có trọng điểm để tiêu hao, ngăn chặn, làm suy yếu địch trước khi chúng tiến công, tạo thế và thời cơ có lợi cho lực lượng phòng ngự phía sau sẵn sàng tổ chức các trận đánh phản đột kích, kết hợp với đánh phản kích trên các hướng để tiêu diệt từng bộ phận, tiến tới đánh bại hoàn toàn các cuộc tiến công của địch, giữ vững vùng giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.


Quán triệt đầy đủ nhiệm vụ chiến dịch, cùng với kinh nghiệm "chốt" và trụ bám chiến đấu chống địch lấn chiếm ở các mùa mưa trước, các đơn vị của ta và bạn đã chủ động khắc phục khó khăn, không kể ngày đêm hoàn thành công tác chuẩn bị. Ngày 21 tháng 5 năm 1972, không quân địch bắt đầu đánh phá các điểm cao trọng yếu; ngày 25 tháng 5 năm 1972, bộ binh địch mở cuộc tiến công vào khu vực Cánh Đồng Chum. Dựa vào thế trận đã chuẩn bị, Quân tình nguyện Việt Nam sát cánh cùng Quân giải phóng nhân dân Lào anh dũng chiến đấu, đánh bại các đợt tiến công của địch:


Đợt 1 (21.5 - 10.8.1972), địch tiến công trên 3 hướng vào khu trung gian và chiếm được một số điểm tựa phía Tây các điểm cao 1800, 2063, Thẩm Lửng. Lực lương ta đã kiên quyết chiến đấu, ngăn chặn, tổ chức nhiều cuộc phản kích và giành thắng lợi ở Phu Phaxay, đẩy lui địch ở hướng Đông Nam, khôi phục trận địa ở Điểm cao 1800, đánh tan 6 tiểu đoàn địch ở Hin Đăm, Thẩm Lửng và đẩy lui địch tiến công ở Mường Sủi. Đồng thời, ta dùng đặc công, pháo binh tập kích địch ở Loong Chẹng. Đến ngày 10 tháng 8, ta đánh bại đợt tiến công đầu tiên của địch, giữ vũng khu vực phòng thủ trung gian.


Đợt 2 (11.8 - 10.9.1972), địch chuyển hướng tiến công vào Cánh Đồng Chum và kết hợp sử dụng 2 GM đổ bộ đường không xuống Phu Keng. Ta kịp thời ngăn chặn, đẩy lui địch ở Phu Luông, Phu Hủa Sang, Phu Thông, đồi Năm Mỏm, Điểm cao 1294, Bản Lao, Phu Học, đồng thời tập trung lực lượng thực hiện thắng lợi trận đánh phản đột kích ở Phu Keng.


Đợt 3 (11 - 30.9.1972), địch tăng cường lực lượng chuyển sang tiến công hướng Tây (Phu Keng, Phu Seo, đồi Năm Mỏm). Các lực lượng ta liên tục chiến đấu không cho địch phát triển.

Bộ Tư lệnh Chiến dịch sử dụng Trung đoàn 148 và một bộ phận Trung đoàn 335 đánh phản đột kích vào hai bên sườn quân địch. Địch tan rã, rút chạy về Nậm Pít, ta giành lại thế chủ động.


Đợt 4 (1.10- 15.11.1972), địch dồn sức tiến công nhằm chiếm một phần phía Nam Cánh Đồng Chum để gây áp lực cho đàm phán chính trị (15.10). Ta tổ chức lực lượng liên tục ngăn chặn, phản kích bỏ gẫy các mũi và hướng tiến công của địch, kết hợp tập kích tiêu hao sinh lực, tạo thế và lực đánh trận then chốt quyết định tiêu diệt phần lớn quân địch từ Nam Bản Quay đến Bắc Khang Kho. Từ ngày 2 tháng 11, ta chuyển sang tiến công truy quét địch, đến ngày 15 tháng 11, ta khôi phục lại toàn bộ trận địa.


Trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, lực lượng công binh đã thực hiện triển khai làm các đoạn đường mới, bảo đảm giao thông trong mùa mưa (công binh chiến dịch); bố trí mìn trước tiền duyên các khu vực phòng ngự (công binh các trung đoàn bộ binh); xây dựng công sự trận địa. Lần đầu tiên bộ đội ta và bạn tiến hành một chiến dịch phòng ngự có hệ thống công sự trận địa khá hoàn chỉnh. Một trong những nguyên nhân thành công của chiến dịch là đã coi trọng xây dựng hệ thống công sự trận địa làm nội dung cơ bản để lập thế trận, phá thể tiến công của địch. Nội dung nổi bật là xây dựng các đường hầm, điểm tựa, cụm điêm tựa làm nòng cốt, có trận địa và lực lượng cơ động mạnh để phản kích và phản đột kích, kết hợp khéo léo phòng ngự trận địa với phản kích liên tục để tiêu diệt địch hiệu quả hơn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #142 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2025, 08:09:50 pm »

Với thắng lợi của chiến dịch này, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng trở thành căn cứ địa trọng yếu của bạn và ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đây là thắng lợi đầu tiên của Quân đội ta khi tiến hành chiến dịch phòng ngự trên chiến trường nước bạn Lào, để lại nhiều kinh nghiệm quý, trong đó có nghệ thuật bảo đảm công binh, thể hiện qua một số nội dung chủ yếu sau:

Một là, sử dụng rộng rãi lực lượng các binh chủng (bộ binh, pháo binh, xe tăng...), trong đó lấy công binh làm nòng cốt, hướng dẫn kỹ thuật để hoàn thành khối lượng lớn các nhiệm vụ bảo đảm công binh

Trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, nhiệm vụ bảo đảm công binh rất phức tạp, tình huống khẩn trương, khối lượng lớn, lực lượng công binh chỉ có 2 tiểu đoàn công binh chiến dịch và một số đại đội công binh của các trung đoàn bộ binh. Với trang bị, phương tiện chủ yếu là thô sơ, trong thời gian ngắn (khoảng trên 1 tháng), lực lượng công binh không thể xây dựng toàn bộ hệ thống trận địa phòng ngự bao gồm: Các chốt, cụm chốt, các công sự chiến đấu, công sự ẩn nấp cho người, pháo binh, xe tăng, cùng hệ thống hào chiến đấu, hào giao thông nối liền các trận địa phòng ngự và các công sự bảo đảm khác... Cho nên, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã huy động mọi lực lượng, phương tiện cùng tham gia vào việc xây dựng hệ thống công trình trong trận địa phòng ngự, với công binh làm nòng cốt, đồng thời triệt để tận dụng cải tạo địa hình, các hang động và mạng đường có sẵn để tạo điều kiện cho các lực lượng cơ động phản lách, phản đột kích giành thắng lợi.


Do được tổ chức chặt chẽ, huy động được nhiều lực lượng tham gia, nên trong thời gian ngắn, bộ đội công binh và bộ đội các binh chủng vừa thực hiện các hoạt động chiến đấu nhỏ đánh địch khi chuyển sang phòng ngự, vừa xây dựng được một hệ thống chốt và trận địa phòng ngự hoàn chỉnh nhất trong các chiến dịch phòng ngự từ trước tới nay (trong đó có tới 658m đường hầm dùng cho bộ đội trực tiếp chiến đấu), lực lượng công binh đã đóng góp quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch.


Hai là, xây dựng các công trình chốt, cụm chốt liên hoàn trong hệ thống các công trình phòng ngự chiến dịch làm hạt nhân, tạo thành các khu vực phòng ngự cơ bản trong suốt chiều sâu phòng ngự, bảo đảm tính kiên cường, vững chắc

Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã xác định được quyết tâm phòng ngự ngay từ sớm, trong đó, xác định cụ thể nội dung cơ bản của trận địa là xây dựng các chốt và cụm chốt trong 4 khu vực phòng ngự. Đây thực sự là một hệ thống tổng hợp các công trình chiến đấu, sinh hoạt bảo đảm cho bộ đội có thể bám trụ chiến đấu lâu dài cũng như thực hiện các hành động phản kích, phản xung phong địch ở từng chốt, cụm chốt và trên từng hướng phòng ngự. Các công trình này bao gồm công sự chiến đấu cho bộ binh, cho hỏa lực, hào chiến đấu, hào giao thông, hầm trú ẩn, hầm quân y, kho và hệ thổng đường cơ động trong các cụm chốt và giữa các khu vực phòng ngự, tạo nên thế phòng ngự liên hoàn vững chắc. Đe bảo đảm sức sống cao hơn cho các trận địa phòng ngự, bộ đội ta chủ động thực hiện một khối lượng không nhỏ các công trình dự bị và trận địa giả. Ngoài ra, bộ đội ta cũng đã cải tạo, nâng cấp và tận dụng các hang đá làm công trình phòng tránh, tận dụng công sự sẵn có trước đây (cả của ta và địch), đồng thời có phương án phá hoại công trình khi bị địch chiếm đóng.


Các công trình chốt và cụm chốt được xây dựng đúng với quyết tâm: Phòng ngự có chiều sâu, có khu vực phòng ngự chủ yếu và các khu vực phòng ngự khác; phòng ngự vững chắc, linh hoạt, tích cực bảo đảm thế tiến công, phản kích và phản đột kích; phát huy được sức mạnh của lực lượng phòng ngự tại chỗ với lực lượng cơ động của chiến dịch. Nhiều đơn vị đã chủ động làm thêm nhiều công trình, như Trung đoàn 148 làm được 40km đường, với 88 cầu các loại trên các trục đường cơ động, đồng thời bộ đội ta còn linh hoạt làm thêm nhiều hầm hố cá nhân để trú ẩn, phòng tránh máy bay, phi pháo địch. Có thể nói, hệ thống công trình phòng ngự trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972 là hệ thống công trình hoàn chỉnh. Đây là đỉnh cao của nghệ thuật bảo đảm công sự trận địa trong chiến đấu phòng ngự của Quân đội ta.


Ba là, trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, việc chuẩn bị và bảo đảm các công trình cho bộ đội ta trên các hướng đánh phản kích và phản đột kích liên tục trong suốt quá trình chiến dịch là nét nổi bật của nghệ thuật bảo đảm công binh

Trong suốt quá trình chiến dịch, ta đã liên tục hàng chục lần đánh phản kích và phản đột kích địch, bẻ gẫy nhiều đợt tiến công quy mô lớn của chúng, góp phần quyết định vào thắng lợi của chiến dịch. Bộ đội ta thực hiện các hoạt động đánh phản kích và phản đột kích có hiệu quả như vậy chính là nhờ vào hệ thống công trình liên hoàn giữa các khu vực phòng ngự. Hệ thống này không những giúp cho lực lượng phòng ngự trụ bám chiến đấu kiên cường dài ngày mà còn bảo vệ được lực lượng phòng ngự (thương vong ít). Trong đó, phải kể đến hệ thống đường hầm, hang đá được cải tạo thành những đường hầm chiến đấu, cơ động bí mật tới các trục đường ngang, dọc, luồn lách giữa các cụm chốt, tạo nên thế cơ động chiến dịch và chiến thuật rất tiện lợi cho bộ đội ta. Hệ thống công trình liên hoàn này đã tạo điều kiện cho các lực lượng phản kích, phản đột kích của ta triển khai bí mật, tiến công tập kích, vây lõng và đánh địch ở nhiều hướng, nhiều khu vực được dự kiến và chuẩn bị trước.


Hệ thống công trình đó còn bao gồm một mạng đường sá luôn được bảo đảm cho cơ động vận chuyển chiến dịch (gồm các đường số 7A, số 7B, số 4, đường Bản Phồn - Sảm Thông) và khoảng 500km đường cơ động vừa cho bộ binh, vừa cho cơ giới trong địa bàn chiến dịch, đường nối liền giữa các chốt, các cụm chốt và giữa các khu vực phòng ngự, hàng chục kilômét đường bí mật dùng cho bộ binh luồn sâu cơ động tới các khu vực đánh phản kích, tới các chốt dự bị và hàng trăm cầu nhỏ vượt sông, suối cho bộ binh trong đó có cả cầu treo bằng dây cáp.


Đồng thời, cả một hệ thống công trình chuẩn bị đó đã được tính toán, phục vụ hiệu quả cao cho việc tổ chức đánh phản kích và phản đột kích, tạo thế phòng ngự vững chắc, kiên cường của chiến dịch. Đây là nét đặc sắc bổ sung vào lịch sử nghệ thuật chuẩn bị và bảo đảm công trình của Quân đội ta trong kháng chiến chống xâm lược.


Bốn là, nắm vững tác dụng và hiệu quả của các loại công trình chiến đấu, biết bố trí đúng vị trí, đúng hướng, đúng với ý định tác chiến và thường xuyên củng cố, hoàn thiện công trình trong suốt quá trình chiến dịch là nghệ thuật chỉ đạo bảo đảm công binh đúng đắn của Bộ Tư lệnh Chiến dịch


Việc xây dựng công trình trong các trận địa chốt và cụm chốt được Bộ Tư lệnh Chiến dịch và cơ quan công binh đặc biệt chú ý ngay từ đầu và được quán triệt tới các cấp (trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội, trang đội) ngay tại thực địa. Vì vậy, các công trình của ta đã đáp ứng được những yêu cầu cơ bản của phương pháp tác chiến chiến dịch, đó là: Đúng vị trí, đúng hướng bảo đảm phòng ngự vòng tròn, mạng lưới hỏa lực phát huy được hiệu quả và liên hoàn hỗ trợ lẫn nhau... Để bảo đảm tính vững chắc của công trình, bộ đội ta đã liên tục củng cố, hoàn thiện và xây dựng bổ sung các công trình mới, ban đầu các công trình làm ở dạng dã chiến, quá trình chiến dịch được củng cố dần thành công trình kiên cố. Trong quá trình thực hiện, bộ đội ta đã vượt qua gian khổ, hy sinh, liên tục vừa chiến đấu vừa làm công trình. Do đó, hệ thống công trình luôn được bổ sung, hoàn thiện bảo đảm cho bộ đội chiến đấu và sinh hoạt thuận lợi, dài ngày mà sức chiến đấu không giảm sút.


Trải qua 179 ngày đêm chiến đấu liên tục, ác liệt, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đã giành thắng lợi trên nhiều mặt, bộ đội ta và bạn đã có bước trưởng thành về phát triển cách đánh trong điều kiện phòng ngự kéo dài suốt mùa mưa, khả năng tiếp tế khó khăn. Thắng lợi của chiến dịch đã xóa bỏ được tiền lệ có tính quy luật trước đó là vào mùa khô ta đánh chiếm Cánh Đồng Chum, đến mùa mưa thì địch chiếm lại. Thực tiễn đã khẳng định, thành công của công tác chuẩn bị hệ thống công trình để thực hiện các nhiệm vụ bảo đảm công binh là một trong những yếu tố góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch, làm phong phú thêm lý luận về nghệ thuật bảo đảm công binh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #143 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2025, 08:38:57 pm »

KINH NGHIỆM SỬ DỤNG PHÁO BINH TRONG CHIẾN DỊCH PHÒNG NGỰ CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG

Thiếu tướng NGUYỄN HỒNG PHONG
Tư lệnh Binh chủng Pháo binh


Sau khi chiến dịch tiến công giải phóng Cánh Đồng Chum - Mường Sủi mùa khô 1971 -1972 kết thúc, thực hiện quyết tâm của Trung ương hai Đảng, Quân ủy Trung ương hai nước Việt Nam và Lào thống nhất chủ trương tổ chức Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, sẵn sàng đánh bại cuộc tiến công lấn chiếm quy mô lớn của địch trong mùa mưa 1972, để bảo vệ vững chắc vùng giải phóng vừa giành được, giữ vững thế chiến lược của ta ở Bắc Lào và bảo vệ sườn phải cho hai chiến dịch tiến công Trị - Thiên và Bắc Tây Nguyên trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên chiến trường miền Nam Việt Nam.


Lực lượng tham gia chiến dịch phòng ngự gồm 5 trung đoàn bộ binh (174, 148, 866, 335 và 88), 2 tiểu đoàn đặc công, 4 tiểu đoàn pháo và súng máy phòng không, 1 tiểu đoàn xe tăng và 2 tiểu đoàn công binh của Quân tình nguyện Việt Nam; 7 tiểu đoàn chủ lực, 1 đại đội xe tăng, 2 đại đội súng máy phòng không, 1 đại đội công binh và 4 đại đội bộ đội địa phương của Quân giải phóng nhân dân Lào. Lực lượng pháo binh tham gia chiến dịch có 237 khẩu pháo các loại, gồm Tiểu đoàn 42 thuộc Trung đoàn Pháo binh dự bị 16 (gồm 5 đại đội, biên chế 4 khẩu 130mm, 8 khẩu pháo lựu 122mm, 4 khẩu 85mm, 4 khẩu ĐKB); pháo binh trong biên chế Sư đoàn Bộ binh 316 và pháo binh của 2 trung đoàn bộ binh độc lập (866, 335); bạn Lào có 1 đại đội pháo xe kéo, 1 đại đội pháo mang vác của địa phương. So sánh tỷ lệ pháo xe kéo giữa ta và địch là 1/1,5.


Lực lượng bộ binh địch gồm lực lượng đặc biệt Vàng Pao, quân phái hừu Lào và quân đội Thái Lan bố trí hình thành 4 khu vực phòng thủ bao quanh Cánh Đồng Chum: Khu vực Loong Chẹng - Sảm Thông có 18 tiểu đoàn (16 tiểu đoàn lính Thái Lan); khu Pa Đông - Tôm Tiêng có 9 tiểu đoàn (2 tiểu đoàn lính Thái Lan); khu Buôn Lọng có 5 tiểu đoàn; khu Sa La Phu Khun có 9 tiểu đoàn. Pháo binh cỡ lớn của địch có thể sử dụng trên địa bàn Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng gồm: Tiểu đoàn pháo binh của Quân khu 2 có 16 khẩu, trong đó có 2 khẩu 155mm, 6 khẩu 105mm, 2 khẩu sơn pháo 75mm, 6 khẩu cối 106,7mm; 2 tiểu đoàn pháo binh Thái Lan có 20 khẩu, trong đó có 4 khẩu 155mm, 8 khẩu 105mm, 8 khẩu cối 106,7mm; pháo trong biên chế các binh đoàn cơ động có 12 khẩu cối 106,7mm; pháo binh trong biên chế các tiểu đoàn bộ binh Thái Lan có 22 khẩu cối 106,7mm... Đến ngày 20 tháng 5 năm 1972, địch ở Quân khu 2 (Lào) có 76 tiểu đoàn bộ binh (Thái Lan có 18 tiểu đoàn). Không quân tại Loong Chẹng có 3 phi đội máy bay T-28 (9 chiếc); không quân Mỹ có thể chi viện từ 50 - 70 lần chiếc/ngày, khi đột xuất có thể tăng lên trên 100 lần chiếc/ngày. Địch đã được tăng cường thêm trực thăng nên có thể cơ động 2-3 tiểu đoàn trong một ngày bằng đường không. Ta phán đoán địch có khả năng tập trung từ 40 - 50 tiểu đoàn bộ binh, từ 2 - 3 tiểu đoàn pháo binh (khi cần thiết địch có thể huy động trên 60 tiểu đoàn bộ binh) khi tiến công ra Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.


Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là một chiến dịch phòng ngự bài bản, có quyết tâm sớm; theo hình thức phòng ngự trận địa vững chắc, nhiều tuyến, có chiều sâu; chuẩn bị chu đảo toàn diện, thiết bị chiến trường hợp lý; phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang bạn Lào. Phạm vi địa bàn chiến dịch với chiều rộng khoảng 50km và chiều dài khoảng 60km trong đó Cánh Đồng Chum là khu trung tâm. Khu trung tâm Cánh Đồng Chum là khu vực phòng ngự chủ yếu, mục tiêu phải bảo vệ đến cùng; hướng phòng ngự chủ yếu là Nam và Tây Nam; cụm chốt Phu Tâng - Phu Tôn là cụm chốt then chốt trong khu vực phòng ngự chủ yếu, đồng thời cũng là cụm chốt then chốt nhất trên toàn địa bàn chiến dịch. Khu trung gian là khu vực phòng ngự phía trước rất quan trọng, trực tiếp tiếp xúc với địch, bảo vệ phía Tây và Tây Nam Cánh Đồng Chum, trên hướng tiến công chủ yếu của địch. Khu Noọng Pẹt được xác định là khu vực phòng ngự thứ yếu, bảo vệ phía Đông Bắc Cánh Đồng Chum. Khu vực Mường Sủi và khu vực thị xã Xiêng Khoảng là hai khu vực phối hợp chiến dịch thực hiện đánh địch từ xa, bảo vệ phía Tây Bắc và phía Đông Cánh Đồng Chum.


Lực lượng phòng ngự tổ chức thành hai bộ phận chủ yếu: Lực lượng phòng ngự trận địa gồm có 2 trung đoàn bộ binh 174 và 866, được tăng cường xe tăng thiết giáp và pháo binh chiến dịch, có nhiệm vụ tổ chức chiếm giữ các chốt và cụm chốt, vừa cố thủ trận địa kìm chân địch, vừa liên tục tổ chức phản kích bằng lực lượng cơ động tác chiến, tạo thời cơ và điều kiện thuận lợi cho các lực lượng cơ động (dự bị) của chiến dịch tiến hành phản đột kích đánh các trận then chốt tiêu diệt địch. Lực lượng cơ động (dự bị) chiến dịch gồm có 2 trung đoàn 148 và 335 (đến tháng 10.1972, Bộ tăng cường thêm Trung đoàn 88), có nhiệm vụ sẵn sàng phái một số bộ phận lực lượng tăng cường trên các khu vực, hướng bị địch uy hiếp để phối hợp cùng với lực lượng phòng ngự tại chỗ, giữ vững các chốt và cụm chốt trọng yếu hoặc phản kích khôi phục lại các địa bàn quan trọng mà địch đã đánh chiếm. Nhiệm vụ chủ yếu là sử dụng tập trung, tác chiến hiệp đồng binh chủng, tổ chức các trận then chốt của chiến dịch nhằm tiêu diệt và bỏ gãy các mũi, các cánh tiến công của địch trên các khu vực đã được dự kiến.


Từ lực lượng pháo binh có trong chiến địch, ta tổ chức một cụm pháo binh gồm 3 đại đội (pháo 130, 85 và 122mm) làm nhiệm vụ chi viện chung; lực lượng còn lại của Tiểu đoàn 42 phối thuộc cho 2 trung đoàn 174 và 866, mỗi trung đoàn 1 đại đội. Lực lượng pháo binh của các trung đoàn, sư đoàn bộ binh tổ chức trong thành phần bộ phận phòng ngự trận địa và bộ phận cơ động tiến công. Sau gần 2 tháng chuẩn bị, ngày 20 tháng 5 năm 1972, mọi công tác tổ chức đội hình, xây dựng trận địa, chuẩn bị cơ sở vật chất kỹ thuật cho chiến đấu phòng ngự đã cơ bản hoàn thành. Các chiến sĩ pháo binh đã xây dựng được hệ thống trận địa bí mật, bất ngờ, hiểm hóc, liên hoàn, nhiều tầng, có chiều sâu; có trận địa chính, trận địa lâm thời, trận địa dự bị, trận địa nghi binh; đủ hầm hào có nắp cho người và xe pháo.


Sau một thời gian liên tục nống lấn giải tỏa với quy mô nhỏ và vừa, ngày 21 tháng 5, không quân địch bắn phá dữ dội các điểm cao trọng yếu ở khu trung gian và trên trục đường từ khu trung gian vào Cánh Đồng Chum. Đến ngày 25 tháng 5, bộ binh địch chính thức mở đầu cuộc tiến công vào khu trung gian. Lực lượng pháo binh chiến dịch đã kịp thời bắn vào đội hình quân địch đang triển khai, hạn chế khả năng tiến quân của chúng. Cụm pháo binh chiến dịch vừa chi viện bộ binh chiến đấu, vừa kiềm chế pháo binh và chế áp sở chỉ huy địch ở Loong Chẹng, bắn phá sân bay, kho tàng gây cho địch nhiều thiệt hại. Đến ngày 10 tháng 8, pháo binh đã cùng bộ binh ngăn chặn, tiêu hao lớn lực lượng địch, giữ vững khu trung gian. Kết thúc đợt 1 chiến dịch, pháo binh đã chi viện cho lực lượng phòng ngự giữ vững được tuyến phòng ngự trung gian, đánh thiệt hại nhiều tiểu đoàn, làm đảo lộn kế hoạch tiến công của địch, tạo điều kiện để ta tổ chức phòng ngự hoàn chỉnh hơn ở khu vực Cánh Đồng Chum.


Sau khi tiến công vào khu vực phòng ngự trung gian của ta không thành công, ngày 11 tháng 8, địch tập trung 40 tiểu đoàn mở cuộc tiến công lớn từ 3 hướng ở Đông Nam, Tây và Đông Bắc Cánh Đồng Chum, đánh chiếm các bàn đạp, áp sát lực lượng vào các mục tiêu then chốt, ồ ạt tiến công, nghi binh thu hút lực lượng ta. Sau đó địch bất ngờ sử dụng 2 binh đoàn cơ động mạnh nhất của lực lượng đặc biệt, đổ bộ bằng trực thăng, hình thành hướng tiến công chủ yếu từ phía Tây Bắc để thọc sâu, đánh chiếm vào khu vực trung tâm Cánh Đồng Chum. Trước tình hình đó, ta tổ chức ngăn chặn quân địch trên các hướng, đồng thời tập trung lực lượng đánh trận then chốt chiến dịch đầu tiên để tiêu diệt quân địch ở Phu Keng. Trong trận này, Trung đoàn 335 được tăng cường 2 khẩu pháo 130mm, 2 khẩu pháo 122mm, 1 khẩu pháo 85mm của cụm pháo binh chiến dịch và một số khẩu cối 120mm chi viện hỏa lực. Thực hiện kế hoạch, đúng 6 giờ ngày 30 tháng 8, quân ta nổ súng tiến công, pháo binh ta đã sử dụng hỏa lực cụm pháo binh tập kích hỏa lực trong khoảng thời gian 15 phút vào đội hình tiến công của địch; khi bộ binh, xe tăng xung phong, cụm pháo binh chiến dịch chuyển sang khống chế các bãi địch đổ quân tăng viện hoặc rút chạy làm cho chúng không ứng cứu được cho nhau, phải luồn rừng tháo chạy và bị tiêu diệt. Kết quả ta tiêu diệt 679 tên địch, bắt 43 tên, thu nhiều vũ khí. Bằng trận đánh phủ đầu then chốt này, ta đã bẻ gãy hoàn toàn cánh quân chủ yếu của địch, tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng mạnh nhất của chúng, phá tan ý đồ đánh nhanh, đánh sâu, đánh hiểm vào khu vực phòng ngự chủ yếu của ta. Trong 31 ngày tác chiến liên tục, các phân đội pháo binh mang vác đã cùng với lực lượng phòng ngự đánh địch, giữ vững từng điểm chốt, cụm chốt, tập trung lực lượng đánh bại cánh quân chủ yếu, giữ vững địa bàn phòng ngự. Trên các hướng khác, ta tiếp tục ngăn chặn địch tiến công; đển ngày 10 tháng 9, đợt 2 của chiến dịch kết thúc, ta giữ vững được địa bàn phòng ngự.


Sau khi cánh quân chủ yếu ở hướng Tây Bắc bị bè gãy hoàn toàn, các cánh quân khác ở hướng Tây, hướng Đông Bắc bị ngăn chặn và đây lùi, địch tạm dừng tiến công, củng cố điều chỉnh và tăng cường lực lượng, chuẩn bị đợt tiến công mới, lấy hướng Tây là chủ yếu, trực tiếp đánh vào Cánh Đồng Chum. Từ ngày 11 đến ngày 30 tháng 9, ta tổ chức trận phản đột kích thử 2 bẻ gãy cánh quân phía Tây của địch, chiếm Phu Thông, Bản Thang, sau đó chuyển sang đánh địch co cụm. Cụm pháo binh chiến dịch đã chi viện có hiệu quả cho lực lượng phòng ngự giữ vững trận địa phòng ngự và đột kích thắng lợi. Hỏa lực pháo binh và hỏa lực cao xạ đã không chê máy bay lên thẳng không cho địch hạ cánh bốc quân rút chạy hoặc đổ bộ đường không.


Sau hơn 2 tháng tiến công trực tiếp vào Cánh Đồng Chum không đạt kết quả lại bị thiệt hại nặng nề, thời gian mùa mưa sắp kết thúc, hy vọng đánh chiếm Cánh Đồng Chum của địch đã bị lung lay. Nhưng bị thúc ép trước tình hình chính trị đang hết sức khấn trương, Mỹ và bọn tay sai đã phải tập trung mọi cố gắng cao nhất dốc tất cả lực lượng có thể để mở cuộc tiến công cuối cùng với mục tiêu hạn chế là nhằm đánh chiếm cho được một phần địa bàn phía Nam Cánh Đồng Chum, tạo điều kiện thuận lợi trên bàn đàm phán. Để thực hiện ý đồ trên, địch đã huy động một lực lượng lớn trên 60 tiểu đoàn quân ngụy Lào và quân Thái Lan, trong đó cánh quân hướng Nam là hướng chủ yếu có trên 20 tiểu đoàn. Ta phát huy thế thắng, tập trung đánh trận phản đột kích thứ 3 ở khu vực phía Nam cánh đồng Căng Xẻng, là trận then chốt quyết định của chiến dịch.


Đúng 3 giờ ngày 26 tháng 10, cụm pháo binh chiến dịch cùng pháo trong biên chế của các đơn vị bộ binh, đồng loạt chế áp các cụm quân địch trong thời gian 25 phút; sau đó chi viện cho bộ binh, xe tăng xuất kích tiến công. Các phân đội cối 82mm, ĐKZ phát hiện địch tháo chạy đã nhanh chóng thọc sâu từ Na Van xuống Bản Phồn, chặn được địch, tạo điều kiện cho bộ binh tiêu diệt gọn. Trong trận phản đột kích này, ta đã tiêu diệt 1.240 tên địch, bắt sống 79 tên, thu hơn 1.500 vũ khí các loại (có 21 khẩu coi và ĐKZ).


Sau hơn 5 tháng tính từ khi địch mở đầu tiến công vào khu phòng ngự trung gian, và hơn 3 tháng kể từ khi địch tiến công lớn ra Cánh Đồng Chum, mặc dù địch đã có những nỗ lực cao nhất về huy động lực lượng, về vận dụng thủ đoạn biện pháp chiến đấu, với sự chi viện của hỏa lực của không quân ở mức độ cao vào các thời gian trọng điểm, cuộc hành quân tiến công Cánh Đồng Chum của địch đã hoàn toàn bị thất bại. Địch buộc phải rút chạy ra khỏi Cánh Đồng Chum. Ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 5.759 tên địch, trong đó có 179 tên bị bắt; đã đánh tất cả 244 trận lớn nhỏ; đánh bại cuộc hành quân tiến công quy mô lớn của địch, giữ vững địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #144 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2025, 08:39:44 pm »

Lần đầu tiên, ta và bạn Lào tiến hành một chiến dịch phòng ngự khá hoàn chỉnh, giành thắng lợi về nhiều mặt, làm phong phú thêm lý luận nghệ thuật chiến dịch Việt Nam, nghệ thuật sử dụng pháo binh trong chiến dịch phòng ngự. Trong điều kiện pháo binh ta ít hơn địch, nhưng ta đã xây dựng hệ thống hỏa lực pháo binh có trận địa tương đối ổn định, hình thành được một mạng lưới hỏa lực hoàn chỉnh, có chuẩn bị sẵn nên pháo binh đã phát huy được tác dụng đánh kịp thời, đánh từ xa, đánh phủ đầu địch khi chúng mới lọt vào trận địa ta hoặc khi quân địch đổ bộ bằng trực thăng mà bộ binh ta chưa có điều kiện tiếp cận đánh địch. Hỏa lực pháo cối trong biên chế các lực lượng phòng ngự đã tích cực góp phần bẻ gãy hầu hết các mũi tiến công của địch, chi viện cho bộ binh phản kích khôi phục lại các chốt bị mất, diệt được nhiều địch, nhiều trận có hiệu suất chiến đấu cao. Hỏa lực pháo xe kéo đã tận dụng tầm bắn xa và sức sát thương lớn trong nhiều nhiệm vụ như tiến công hậu cứ và sở chỉ huy địch, kiềm chế các trận địa pháo binh, kiềm chế các bãi trực thăng đổ quân, bốc quân, vận chuyển tiếp tế của địch, chi viện đánh địch rút chạy, đánh địch co cụm, đồng thời trực tiếp chi viện bộ binh thực hành phản đột kích chiến dịch, tập trung trong những đòn hỏa lực chủ yếu.


Qua Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972, rút ra một số bài học kinh nghiệm về tổ chức sử dụng pháo binh như sau:

Một là, tổ chức sử dụng pháo binh hợp lý, vừa có lực lượng pháo binh chiến dịch làm nhiệm vụ chi viện chung, vừa có lực lượng tăng cường cho các đơn vị phòng ngự trên hướng chủ yếu. Lực lượng pháo binh của các trung đoàn, sư đoàn bộ binh tổ chức trong thành phần bộ phận phòng ngự trận địa và bộ phận cơ động tiến công.


Hai là, phải tận dụng thế tương đối ổn định của phòng ngự, tổ chức bố trí pháo binh các cấp, các loại, hình thành một hệ thống hỏa lực được chuẩn bị sẵn nhiều tầng, nhiều tuyến, có chiều sâu, đánh được địch trên nhiều hướng. Đối với pháo xe kéo, ở một khu vực trận địa nhất định, có thể tham gia đánh địch rộng khắp trên toàn địa bàn chiến dịch. Cơ quan pháo binh chiến dịch đặt giữa Phu Tâng và Phu Tôn trong suốt thời gian chiến dịch đã chỉ huy trực tiếp 3 trận địa pháo của cụm pháo binh chiến dịch, tổ chức hỏa lực pháo binh kịp thời chi viện cho bộ binh đánh địch trên từng hướng.


Ba là, để pháo binh hoàn thành nhiệm vụ, phải coi trọng công tác chuẩn bị chiến đấu, bảo đảm an toàn cho các trận địa, đài quan sát chỉ huy trong quá trình bám trụ chiến đấu liên tục, chống đánh phá của máy bay, pháo binh và bộ binh địch. Phải tranh thủ sự ổn định tạm thời lúc địch chưa tiến công để xây dựng công sự chiến đấu, chuẩn bị kỹ thuật, phán đoán đúng tình huống, tạo được thế chủ động trong điều kiện tác chiến phòng ngự của lực lượng pháo binh.


Bốn là, phát huy cao độ vai trò của hỏa lực pháo binh trong chiến đấu phòng ngự, tập trung pháo binh cho các trận đánh then chốt của chiến địch. Trong chiến đấu giữ chốt, hỏa lực pháo binh góp phần quan trọng để ngăn chặn, tiêu hao, tiêu diệt địch, chi viện cho bộ binh giữ vững trận địa. Những đòn tập kích hỏa lực bất ngờ, chính xác, đúng thời cơ của pháo binh chiến dịch có thể bẻ gãy từng mũi, từng cánh tiến công của địch. Đối với các chốt, phải tận đụng và phát huy cao nhất khả năng hỏa lực pháo, cối trong biên chế, không ỷ lại, chờ đợi vào pháo binh cấp trên; phải sử dụng đúng tính năng tác dụng từng loại pháo; sử dụng đạn tiêu thụ phải phù hợp với khả năng tiếp tế vận chuyển của ta, phù hợp với đặc điểm chiến đấu phòng ngự thời gian dài, tiếp tế vận chuyển bị hạn chế do địch đánh phá; phải thường xuyên duy trì lực lượng dự trữ tối thiểu về đạn dược. Đối với các trận đánh then chốt của chiến dịch, phải sử dụng tập trung pháo binh các cấp, đặc biệt là pháo binh cỡ lớn của chiến dịch đánh phủ đầu vào đội hình địch, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ binh chuyển sang tiến công tiêu diệt địch. Phải sử dụng tiết kiệm đối với các loại pháo có uy lực lớn, dành vào các thời cơ, thời điểm quyết định nhất của chiến dịch. Trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, các trận phản đột kích ta đã tập trung được từ 70 - 80% số pháo của chiến dịch để chi viện chiến đấu, trung bình ở mỗi trận ta đã sử dụng từ 1.000 - 1.200 viên đạn pháo, trận sử dụng nhiều nhất là từ 1.600 - 1.900 viên các loại, đó là một cố gắng lớn về công tác bảo đảm; sự hợp lý cần thiết về sử dụng hỏa lực pháo binh.


Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972 đã hoàn thành nhiệm vụ của chiến lược giao, đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công quy mô lớn của địch, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng của bạn, tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng địch, phối hợp có hiệu quả các hoạt động tác chiến trên chiến trường Đông Dương. Chiến thắng của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là một biểu hiện sinh động về sự đoàn kết, gắn bó đặc biệt Việt - Lào trong chiến đấu. Lần đầu tiên bộ đội ta và bạn Lào tiến hành phòng ngự ở quy mô chiến dịch khá hoàn chỉnh và đã giành thắng lợi về nhiều mặt, góp phần làm phong phú thêm một bước về nghệ thuật, khẳng định chiến dịch phòng ngự là một hình thức chiến dịch tất yếu trong quá trình chiến tranh, thường ở giai đoạn cuối của chiến tranh giải phóng. Bộ đội ta và bạn Lào đã trưởng thành một bước quan trọng cả về thực tiễn và lý luận chiến dịch phòng ngự, về chiến thuật và kỹ thuật trong tác chiến chiến dịch phòng ngự. Thực tiễn sử dụng pháo binh trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đã ghi nhận sự trưởng thành của bộ đội Pháo binh. Thắng lợi to lớn đó một lần nữa khẳng định pháo binh là hỏa lực mặt đất chủ yếu của Quân đội ta. Lực lượng pháo binh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, vừa trực tiếp tiêu diệt địch, vừa chi viện hiệu quả cho bộ binh, xe tăng phòng ngự giữ vững trận địa. Những kinh nghiệm về sử dụng pháo binh trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng được vận dụng trong tác chiến phòng ngự sau này, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #145 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2025, 08:41:27 pm »

CHIẾN DỊCH PHÒNG NGỰ CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG BÀI HỌC VỀ TIẾN HÀNH CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ TRONG QUÂN ĐỘI TA HIỆN NAY

Đại tá, PGS, TS NGUYÊN VĂN SÂU
Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự - Bộ Quốc phòng


Cách đây 50 năm (1972 - 2022), thực hiện chủ trương của Quân ủy Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) và Quân ủy Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với Quân giải phóng nhân dân Lào tổ chức Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa năm 1972. Thắng lợi của Chiến dịch đã tạo bước phát triển cho cách mạng Lào và tác động trực tiếp tới cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam và nhân dân Campuchia, nâng mối quan hệ đoàn kết chiến đấu đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam lên một tầm cao mới. Với độ lùi của thời gian, ta càng có điều kiện để nhìn nhận, đánh giá về thắng lợi to lớn này, từ góc độ lãnh đạo, chỉ đạo, công tác phối hợp hiệp đồng, bảo đảm... trong đó hoạt động công tác đảng, công tác chính trị là nhân tố góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch.


Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng được ví như "chìa khóa" của nước Lào, có giá trị chiến lược quan trọng về quân sự, chính trị, kinh tế đối với nước Lào, là một hướng chiến lược của ba nước Đông Dương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và có tính chất phối hợp với chiến trường chung rất quan trọng, nhất là đối với cách mạng Việt Nam. Nếu ta giữ được Cánh Đồng Chum thì sẽ bảo vệ được căn cứ cách mạng của bạn và là cửa ngõ ngăn chặn địch tiến công vào miền Bắc nước ta. Do vậy, từ năm 1961, ta và bạn đã tổ chức lực lượng kiên quyết giành và giữ khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, nhưng đến mùa mưa hằng năm, địch lại giành lại, vì ta gặp nhiều khó khăn do đường vận chuyển bị ngập lụt, nguồn tiếp tế từ hậu phương ra tiền tuyến bị gián đoạn. Nhận thấy tình hình như vậy sẽ ảnh hưởng xấu đến cục diện chiến trường chung, nên lãnh đạo cấp cao giữa ta và bạn đã thống nhất: Ngay sau khi giành thắng lợi Chiến dịch Cánh Đồng Chum - Mường Sủi trong mùa khô 1971 - 1972, thì nhanh chóng chuyển vào phòng ngự khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, giữ vững và đẩy lui các đợt tiến công của địch. Có như vậy, ta mới giành và giữ được quyền chủ động trên chiến trường. Đây là quyết tâm rất lớn của lãnh đạo cấp cao giữa ta và bạn nhằm giành thắng lợi trong mùa mưa năm 1972, tạo bước ngoặt lớn cho chiến trường 3 nước Đông Dương.


Chuyển từ thế trận chiến dịch tiến công sang chiến dịch phòng ngự đến thời điểm đầu năm 1972 là vấn đề mới trong nhận thức tư tưởng, cùng với những khó khăn khi chiến đấu trên chiến trường nước bạn, nên công tác đảng, công tác chính trị đòi hỏi phải tiến hành trước một bước nhằm thấu suốt nhiệm vụ được giao. Trong chỉ đạo đối với chiến dịch, ngày 1 tháng 4 năm 1972, Thường vụ Quân ủy Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã nhấn mạnh: "Cần có kế hoạch tiến hành công tác chính trị đối với cán bộ, chiến sĩ, trọng tâm là quán triệt sâu sắc nhận định tình hình, nhiệm vụ cấp thiết, chú trọng công tác chấn chỉnh tổ chức, quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội, làm tốt các vấn đề chính sách, nhất là chính sách thương binh. Đạt cho được yêu cầu củng cố ý chí chiến đấu và quyết tâm làm tròn mọi nhiệm vụ, khắc phục mọi hiện tượng tiêu cực, mệt mỏi. Đi đôi với các công tác trên, cần chấn chỉnh bộ máy chỉ huy của mặt trận để làm tròn nhiệm vụ đã nêu"1 (Quân đội nhân dân Việt Nam, Bộ Tổng Tham mưu, Biên niên sự kiện Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Tập VIII (1972), Nxb Quân đội nhân dân, tr. 121 - 122). Quán triệt chỉ đạo đó, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Chiến dịch nhanh chóng kiện toàn tổ chức, phân công giao nhiệm vụ cho các bộ phận, giáo dục động viên bộ đội quyết tâm khắc phục khó khăn trong mùa mưa, kiên quyết đánh bại các đợt tiến công của địch. Do quân số tham gia chiến dịch lớn (từ 12.000 đến 13.500 người), trải dài trên một khu vực khoảng 3.000km2 với 5 khu vực phòng ngự, nên công tác bảo đảm mọi mặt rất khó khăn, trong khi đó địch sử dụng không quân, pháo binh đánh phá rất ác liệt. Mặc dù Bộ Tư lệnh Chiến dịch nhận định chính xác về âm mưu, thủ đoạn của địch; công tác chuyển vào chiến đấu phòng ngự được tiến hành một cách chủ động ngay sau khi kết thúc chiến dịch tiến công mùa khô, nhưng vấn đề tư tưởng cho bộ đội vẫn cần được tiến hành thường xuyên, liên tục ở các cấp. Do vậy "ta đã coi trọng việc quán triệt tình hình nhiệm vụ mới, nên đã động viên chuyển biến nhận thức, tư tưởng, hành động của bộ đội. Về tư tưởng, đã giải quyết kịp thời hiện tượng lệch lạc chủ quan thỏa mãn của một số cán bộ, chiến sĩ như: Đánh giá địch thấp, cho là ta vừa thắng lớn, địch bị thua đau, kiệt sức, không còn khả năng tiến công, hoặc có thì cũng chỉ đánh vừa và nhỏ như mấy năm trước"2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972, Hà Nội, 1987, tr. 67).


Để thực hiện quyết tâm của Bộ Tư lệnh Chiến dịch, tất cả các cơ quan, đơn vị của ta và bạn phải quán triệt tư tưởng tiến công, lấy tiến công là chủ yếu, phòng ngự phải tích cực, "phải dùng hành động tiến công để phòng ngự". Đây là yêu cầu mới trong tác chiến phòng ngự nhằm tạo ra bước chuyển trong nhận thức của bộ đội. Phòng ngự không có nghĩa là thụ động chờ địch tiến công vào trận địa mới tổ chức phản công mà ta tổ chức lực lượng tiến công địch ngay ở khu trung gian khiến địch mất quyền chủ động. Sự thống nhất về tư tưởng phòng ngự tích cực đã được Đảng ủy Chiến dịch, đảng ủy các trung đoàn, tiểu đoàn phổ biến sâu rộng trong tất cả các đảng bộ, chi bộ, đến từng đảng viên nhằm thống nhất hành động trong suốt quá trình chiến dịch.


Trải qua gần 6 tháng tiến hành chiến dịch phòng ngự trong điều kiện mùa mưa hết sức khó khăn, nhưng Quân tình nguyện Việt Nam và Quân giải phóng nhân dân Lào đã đánh bại hoàn toàn các đợt tiến công quy mô lớn của địch, giữ vững địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Để giữ vững quyết tâm chiến đấu cho bộ đội, đội ngũ cán bộ chỉ huy các cấp, đặc biệt là đội ngũ chính ủy, chính trị viên, cơ quan chính trị từ Mặt trận, sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội và đội ngũ đảng viên đã tiến hành tốt công tác chính trị, kịp thời động viên bộ đội vượt qua khó khăn, kiên cường giữ vững trận địa, chủ động xuất phát tiến công địch. Trong quá trình chuẩn bị chiến dịch, đảng ủy các trung đoàn đã sắp xếp, lựa chọn những đơn vị có chất lượng chính trị tốt, có nhiều kinh nghiệm đánh địch đảm nhiệm nhiệm vụ quan trọng; tăng cường tỷ lệ cán bộ, đảng viên ở những hướng, mũi chủ yếu (tuyến trung gian), các chốt và khu vực phòng ngự then chốt...


Sau thắng lợi đợt 1 của chiến dịch, cán bộ chỉ huy các cấp đã tuyên truyền phổ biến kịp thời kết quả trận đánh đến các bộ phận, nhất là kết quả diệt địch trên từng hướng, mũi chiến đấu; tuyên truyền gương chiến đấu dũng cảm; tổ chức các lực lượng rút kinh nghiệm... nên đã tạo ra sự phấn khởi, tin tường cho bộ đội khi bước vào đợt 2. Trong đợt 2, bộ đội chiến đấu với địch trong 31 ngày, với hàng trăm trận đánh nhưng tinh thần chiến đấu vẫn được giữ vững, thậm chí có bộ phận còn phấn khích hơn vì đã đánh thắng các binh đoàn cơ động 21 và 26 của địch, làm cho chúng phải mất hai tháng phục hồi mới quay trở lại chiến đấu dược. Việc đánh bại các binh đoàn cơ động của địch đã được tuyên truyền, phổ biến trong toàn Mặt trận và đúc kết thành các kinh nghiệm để vận dụng trong các trận đánh tiếp theo. Trong đợt 3, "Do lúc đầu ta đánh giá thấp địch, dẫn tới việc tổ chức chiến đấu không chu đáo nên đánh địch nhập nhằng, chưa thực hiện được yêu cầu đánh nhanh, tiến chắc, diệt gọn trong trận phản đột kích ở hướng Tây"1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972, Sđd, tr. 54). Khắc phục tư tưởng xem nhẹ hoặc hạ thấp địch, cán bộ chỉ huy các cấp đã tiến hành sinh hoạt rút kinh nghiệm ngay tại chiến trường đối với tất cả các bộ phận; thậm chí phê bình những đơn vị, cá nhân chấp hành không nghiêm kỷ luật chiến trường... Nhờ đó, ta đã đánh bại các cuộc tiến công của địch vào khu vực phòng ngự chủ yếu của ta. Tiếp tục phát huy thế thắng, đội ngũ chính ủy, chính trị viên các cấp và cơ quan chính trị Mặt trận đã kịp thời thông báo những thiệt hại lớn của địch trong đợt 3 và động viên bộ đội nỗ lực, quyết tâm tập trung đánh trận then chốt quyết định nhằm đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công quy mô lớn của địch ra trung tâm Cánh Đồng Chum. Bộ Tư lệnh Chiến dịch trực tiếp chỉ huy các hướng tiến công và cử cán bộ đốc chiến xuống hai trung đoàn 148 và 335... làm cho tinh thần và khí thế tiến công của bộ đội càng lên cao. Trong đợt 4, bộ đội ta đã phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng với Quân giải phóng nhân dân Lào, đập tan hoàn toàn những cố gắng cuối cùng của địch tiến công ra Cánh Đồng Chum. Ngày 15 tháng 11 năm 1972, Bộ Tư lệnh chủ động kết thúc chiến dịch.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #146 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2025, 08:43:56 pm »

Như vậy, sau hơn 5 tháng huy động lực lượng lớn tiến công ra Cánh Đồng Chum, cuối cùng địch đã hoàn toàn thất bại. Nhìn lại toàn bộ quá trình chuẩn bị và thực hành chiến dịch, có thể nhận thấy: Một trong những nhân tố làm nên thắng lợi của chiến dịch là ta đã tiến hành linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả hoạt động công tác đảng, công tác chính trị. Công tác này đã được đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là đội ngũ chính ủy, chính trị viên, cơ quan chính trị, tiến hành thường xuyên, kịp thời, nhằm khắc phục những khó khăn, thống nhất ý chí và hành động, khích lệ tinh thần bộ đội đánh địch. Những bài học về tiến hành công tác đảng, công tác chính trị trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng vẫn có giá trị lịch sử và hiện thực sâu sắc, cần được vận dụng một cách sáng tạo trong xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức trong giai đoạn hiện nay.


Thứ nhất, hoạt động công tác đảng, công tác chính trị có ý nghĩa quyết định đến việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam góp phần xây dựng phẩm chất, nhân cách, bản lĩnh quân nhân cách mạng; trang bị thế giới quan khoa học, phương pháp luận đúng đắn, niềm tin cộng sản; nêu cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phát huy phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ", kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong cán bộ, chiến sĩ; kịp thời định hướng tư tưởng cho bộ đội trước những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh; cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, "mẫu mực, tiêu biểu"; đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, phản động. Do đó, trong tình hình mới, cần tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, vai trò chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp, phát huy sức mạnh tổng hợp trong tiến hành công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; thực hiện có hiệu quả Đề án "Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới"; đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục chính trị, tư tưởng cho các đối tượng; nâng cao chất lượng, hiệu quả nắm, đánh giá, phân loại và giải quyết tư tưởng ở đơn vị cơ sở; tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện hiệu quả Cuộc vận động "Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới"; tích cực đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình", "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa; phòng chống hiệu quả quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng; đổi mới, tổ chức tập huấn, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm năng lực của đội ngũ cán bộ tiến hành công tác giáo dục chính trị, tư tưởng ở đơn vị... Thực hiện tốt những nội dung trên đây cũng chính là vận dụng những kinh nghiệm được đúc kết từ lịch sử, đặc biệt là kinh nghiệm của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng vào tiến hành hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam thời kỳ mới.


Thứ hai, một trong những nhân tố làm nên thắng lợi của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã kịp thời quán triệt mọi chỉ thị, nghị quyết, mệnh lệnh của cấp trên tới toàn thể cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch, làm cho cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ và nắm chắc nhiệm vụ, từ đó phấn đấu vượt mọi khó khăn gian khổ hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Đây là bài học kinh nghiệm quý trong tiến hành công tác đảng, công tác chính trị của chiến dịch này.


Vận dụng bài học này, hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay cần quán triệt, làm rõ những vấn đề mới, vấn đề cơ bản của Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, nghị quyết của Quân ủy Trung ương về lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, xây dựng Đảng bộ Quân đội... Trong đó, hết sức chú trọng giáo dục, quán triệt, tổ chức thực hiện tốt Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 87-CT/QUTW của Thường vụ Quân ủy Trung ương, "Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân"; Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đầy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến ", "tự chuyển hóa Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28 tháng 12 năm 2021 của Quân ủy Trung ương "về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ", kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới các chỉ lệnh huẩn luyện, sẵn sàng chiến đấu, diễn tập, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai và chỉ thị về công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ cho các đối tượng. Bên cạnh đó, tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, giáo dục quốc phòng và an ninh; đẩy mạnh các phong trào, các cuộc vận động, nhất là Cuộc vận động "Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ"; thực hiện xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, xây dựng đơn vị, địa bàn an toàn, góp phần hạn chế đến mức thấp nhất vi phạm kỷ luật, mất an toàn trong huấn luyện, an toàn bay, an toàn giao thông và các vụ cháy, nổ kho tàng, doanh trại. Công tác giáo dục chính trị phải gắn chặt với định hướng tư tưởng, tạo chuyển bién mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm và hành động của các cấp, các ngành, các lực lượng và mọi cán bộ, chiến sĩ về hai nhiệm vụ chiến lược xây dụng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; nhận thức về đối tác, đối tượng, nhất là đối tượng tác chiến của Quân đội; đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng, củng cố niềm tin vào vũ khí, trang bị hiện có, cách đánh của ta và quyết tâm vượt mọi khó khăn, gian khổ, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Khắc phục những biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác, giảm sút ý chí chiến đấu, thiếu tinh thần trách nhiệm, vô cảm, ngại khó, ngại khổ, dựa dẫm, ỷ lại, làm việc cầm chừng, hiệu quả thấp; xử lý kiến quyẻt vi phạm kỷ luật Quân đội, pháp luật Nhà nước và các quy định của đơn vị.


Thứ ba, trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Đảng ủy Chiến dịch và cấp ủy Đảng các cấp đã luôn bám sát thực tiễn chiến trường để tiến hành hoạt động công tác đảng, công tác chính trị một cách hiệu quả. Đồng thời, do Chiến dịch diễn ra trên đất Lào, lực lượng tham gia gồm cả bộ đội Việt Nam và bộ đội Lào, do đó đảng ủy và cấp ủy Đảng các cấp đã thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tiến hành công tác đảng, công tác chính trị cho phù hợp với các đối tượng, nhiệm vụ, góp phần vào thành công chung của chiến dịch.


Trong tình hình hiện nay, vận dụng bài học được đúc kết từ Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, chúng ta luôn bám sát tình hình thực tiễn, đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tiến hành công tác đảng, công tác chính trị phù hợp với đối tượng, nhiệm vụ. Lực lượng tiến hành công tác đảng, công tác chính trị phải luôn bám sát tình hình tư tưởng, hoạt động của cán bộ, chiến sĩ, thực tiễn đời sống xã hội, tình hình thế giới và khu vực, yêu cầu nhiệm vụ, những vấn đề tác động đến xây dựng Quân đội về chính trị... Qua đó, đề xuất với cấp ủy, tổ chức đảng về chủ trương, biện pháp lãnh đạo sát, đúng; kịp thời định hướng, cổ vũ và phát huy nhân tố tích cực, hạn chế tác động tiêu cực, ngăn chặn và loại bỏ ảnh hưởng xấu đến tư tưởng, ý chí quyết tâm của bộ đội và sức mạnh chiến đấu của Quân đội. Đây vừa là yêu cầu trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị, vừa thể hiện năng lực của cấp ủy, chỉ huy, đội ngũ chính ủy, chính trị viên; đội ngũ cán bộ chính trị và cơ quan chính trị đối với hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện. Trên cơ sở quán triệt, thực hiện nghiêm sự lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của trên, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp phát huy sự năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong tiến hành công tác đảng, công lác chính trị; kết hợp chặt chẽ giữa công tác tư tưởng với công tác tổ chức và chính sách, giữa giáo dục với hành chính, giữa huấn luyện chính trị và quân sự, chuyên môn kỹ thuật, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội.


50 năm đã trôi qua, thắng lợi của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng có giá trị lịch sử và hiện thực sâu sắc. Chiến dịch thắng lợi, ta đã giữ được thế liên hoàn vững chắc giữa ba vùng căn cứ địa cách mạng của Lào và kịp thời phối hợp với các hoạt động khác trên chiến trường ba nước Đông Dương; thể hiện sự liên minh chiến đấu, mối quan hệ gắn bó ngày càng chặt chẽ giữa hai đảng, hai dân tộc, hai quân đội Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam cùng chống kẻ thù chung. Thắng lợi của chiến dịch này là kết tinh từ nhiều yếu tố, trong đó hoạt động công tác đảng, công tác chính trị giữ vai trò quan trọng. Những bài học kinh nghiệm từ chiến dịch này là những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc về tiến hành công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, qua đó góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, xây dựng và củng cố tình đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam "Mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững", góp phần vào hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới. Đồng thời, đó cũng là việc làm thiết thực kỷ niệm 60 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao (5.9.1962 - 5.9.2022), 45 năm Ngày ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam - Lào (18.7.1977 - 18.7.2022) và chào mừng "Năm Đoàn kết Hữu nghị Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam 2022".
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #147 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2025, 08:49:48 pm »

CHIẾN DỊCH CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG MÙA MƯA NĂM 1972 BÀI HỌC VỀ XÁC ĐỊNH KHU VỰC PHÒNG NGỰ

Đại tá, TS NGUYỄN VĂN LƯỢNG
Trưởng phòng Quản lý khoa học, Kế hoạch và đào tạo,
Viện Lịch sử quân sự - Bộ Quốc phòng


Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng diễn ra từ ngày 21 tháng 5 đến ngày 15 tháng 11 năm 1972 trên địa bàn tỉnh Xiêng Khoảng của nước Lào. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm có 5 trung đoàn bộ binh, 17 tiểu đoàn và 10 đại đội binh chủng của liên quân Việt - Lào nhằm đập tan các cuộc tiến công lấn chiếm của quân phái hữu Lào và quân đội Thái Lan, dưới sự chỉ huy của Mỹ trong mùa mưa năm 1972, để bảo vệ vững chắc vùng giải phóng, giữ vững thế chiến lược của ta ở Bắc Lào, bảo vệ sườn phải cho Chiến dịch Trị - Thiên và Chiến dịch Bắc Tây Nguyên trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Sau hơn 4 tháng chiến đấu, lực lượng liên quân Việt - Lào đã đánh 244 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 5.759 tên địch; đánh thiệt hại nặng 3 GM1 (Các binh đoàn cơ động, tương đương cấp trung đoàn), 3 tiểu đoàn quân Thái Lan và đánh thiệt hại 5 GM khác, bắn rơi 38 máy bay, thu 869 súng các loại2 (Bộ Quốc phòng, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, Quyển 1: Lịch sử quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 250). Thắng lợi của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng có ý nghĩa to lớn, làm thất bại thêm một bước học thuyết Níchxơn ở Lào, góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường chung, thúc đẩy phong trào cách mạng ở mỗi nước tiếp tục giành thắng lợi mới; thắt chặt tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt - Lào, củng cố niềm tin của hai đảng, hai nhà nước, hai dân tộc trong chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ và tay sai; làm phong phú thêm một bước về lý luận nghệ thuật chiến dịch Việt Nam và để lại nhiều bài học kinh nghiệm lịch sử, trong đó có bài học về xác định khu vực phòng ngự.


1. Lựa chọn khu vực phòng ngự có giá trị về chiến thuật

Khu vực Cánh Đồng Chum là một cao nguyên lớn thuộc tỉnh Xiêng Khoảng có độ cao trung bình trên 1.000m ở rừng núi với nhiều loại địa hình phức tạp, xen kẽ rừng rậm, núi cao hiểm trở với những lòng chảo rộng, bằng phẳng. Trước đây khu vực này là nơi đông dân nhất của tỉnh Xiêng Khoảng, nhưng từ năm 1969 trở đi, địch đẩy mạnh càn quét lấn chiếm nên đa số nhân dân buộc phải rời đi nơi khác, một số bị cưỡng ép về vùng địch kiểm soát. Đến năm 1972, khu vực này dân cư thưa thớt, nhiều nơi không còn dân, nhà cửa, làng bản hầu như bị hủy diệt. Cứ đến mùa mưa hằng năm, khu vực này đường sá ngập lụt, vận chuyển tiếp tế rất khó khăn, ngược lại địch sử dụng ưu thế về trực thăng để cơ động lấn chiếm và đánh phá giao thông, kho trạm của ta.


Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng được ví như "chìa khóa" của nước Lào, có giá trị chiến lược quan trọng cả về quân sự, chính trị, kinh tế đối với nước Lào, là một hướng chiến lược của ba nước Đông Dương trong kháng chiến chống Mỹ và có tính chất phối hợp với chiến trường chung rất quan trọng, nhất là đối với cách mạng Việt Nam. Nếu ta giữ được Cánh Đồng Chum thì sẽ bảo vệ được căn cứ cách mạng của bạn và là cửa ngõ ngăn chặn địch tiến công vào miền Bắc nước ta. Vì vậy, nhiệm vụ hàng đầu của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là phải giữ bằng được địa bàn chiến lược này trong thời điếm mà thắng lợi ở chiến trường gắn chặt với đấu tranh chính trị, trong đó khu trung tâm Cánh Đồng Chum là khu vực phòng ngự chủ yếu của toàn chiến dịch.


Nhận thấy tầm quan trọng của khu vực này nên ngay từ năm 1961, ta và bạn đã tổ chức lực lượng kiên quyết giành và giữ khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Qua 5 lần tiến công trong mùa khô hằng năm (1961- 1972), ta đã giành thắng lợi, nhưng đển mùa mưa địch lại giành giật lại. Nhận thấy tình hình như vậy sẽ ảnh hưởng xấu đến cục diện chiến trường chung, nên lãnh đạo cấp cao giữa ta và bạn đã thống nhất: Ngay sau khi giành thắng lợi trong mùa khô năm 1972 thì nhanh chóng chuyển vào phòng ngự khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, giữ chắc và đẩy lui các đợt tiến công của địch. Có như vậy ta mới giành và giữ được quyền chủ động trên chiến trường.


Địa hình khu vực Cánh Đồng Chum có 2 trục đường chính là Đường số 7A từ Mường Xén - Bản Ban - Noọng Pẹt - Khang Khay - Bản Áng - Mường Sủi và Ngã ba Sa La Phu Khun tiếp với Quốc lộ 13. Đường số 7B từ Mường Xén đến thị xã Xiêng Khoảng nối với Đường số 4A, nhưng đường xấu chỉ phù hợp với chiến dịch tiến công trong mùa khô. Ngoài ra còn một số đường dã chiến trong khu vực nhưng cơ động rất khó khăn. Đường sá khó khăn như vậy nên cũng hạn chế tốc độ cơ động tiến công bằng bộ binh của địch và chúng sẽ phát huy ưu thế về trực thăng.


Để chuyển vào phòng ngự một khu vực rộng lớn, căn cứ vào tính chất, đặc điểm địa hình, Bộ Tư lệnh Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đã chia thành 5 khu vực tác chiến, đó là khu trung tâm Cánh Đồng Chum, khu trung gian Hin Tặng, khu Noọng Pẹt - Bản Ban, thị xã Xiêng Khoảng và vùng phụ cận, khu Mường Sủi. Trong đó khu trung tâm Cánh Đồng Chum với địa hình cao nguyên bằng phẳng tiện cho việc triển khai binh khí kỹ thuật, có điều kiện đánh hiệp đồng binh chủng quy mô lớn. Bao quanh Cánh Đồng Chum là những dãy (cụm) điểm cao có giá trị khống chế, có thể phòng ngự liên hoàn vững chắc, đồng thời còn là những bàn đạp để tổ chức những trận phản kích, phản đột kích. Khu trung gian có địa thế hiểm trở, trực tiếp đối diện với căn cứ của địch ở phía Nam (Sảm Thông, Loong Chẹng), là tuyến ngăn chặn quan trọng có thể đánh địch từ xa, tăng cường chiều sâu của hệ thống phòng ngự bảo đảm trực tiếp cho Cánh Đồng Chum.


Với việc lựa chọn khu vực phòng ngự này, ta có thể vừa giữ chắc khu vực phòng ngự then chốt (Cánh Đồng Chum), vừa chủ động tổ chức các trận đánh ở khu vực trung gian làm địch bộc lộ lực lượng và thuận lợi cho ta tiêu hao chúng. Trong khu vực phòng ngự, ta đã chia thành các khu vực, nhất là khu trung gian và khu vực phòng ngự then chốt nên các lực lượng tận dụng ưu thế của địa hình đổ phát huy tối đa sức mạnh tiến công với các hình thức chiến thuật làm tăng hiệu suất chiến đấu.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #148 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2025, 08:50:57 pm »

2. Xây dựng khu vực phòng ngự vững chắc, liên hoàn, có chiều sâu

Đây là một nguyên tắc trong tổ chức trận địa phòng ngự. Vì có xây dựng khu vực phòng ngự vững chắc, liên hoàn, có chiều sâu mới có khả năng chống trả được phi pháo, bom đạn của địch và chiến đấu dài ngày. Do vậy, sau khi đã chọn khu vực phòng ngự, Bộ Tư lệnh Chiến dịch phải tổ chức xây dựng khu vực phòng ngự bảo đảm tính vững chắc, liên hoàn, có chiều sâu và bố trí lực lượng hợp lý nhằm phát huy tối đa ưu thế của địa hình, địa vật và tính cơ động của lực lượng để chuyển hóa thế trận.


Trong xây dựng khu vực phòng ngự, ta vừa phải dựa vào thế có lợi của điều kiện tự nhiên, vừa phải tổ chức sử dụng lực lượng hợp lý để chuyển hóa thế trận nhằm phát huy tối đa sức mạnh của ta, khoét sâu và hạn chế sức mạnh của địch để phá thế địch. Xây dựng khu vực phòng ngự vững chắc phải là nơi hiểm yếu, có địa hình khống chế quan trọng nhằm giữ vững địa bàn của chiến dịch phòng ngự và các khu vực khác có liên quan. Bố trí thế trận phòng ngự chiến đấu theo hình vòng cung, có chiều sâu, đánh lui, đánh bại được các lực lượng của địch ở bất cứ hướng nào đến, dù chúng tiến công chính diện hay vu hồi, luồn lách thọc sâu vào phía sau ta, đều bị đánh bại ngoài khu vực trận địa phòng ngự của ta.


Xây dựng khu vực phòng ngự vững chắc trước hết phải xây dựng công sự trận địa vững chắc, trong đó ưu tiên vững chắc cho nơi chủ yếu, hướng chủ yếu, có đường hầm và công sự ngầm sâu dưới lòng đất, liên kết chặt chẽ công sự, vật cản, hỏa lực; có thiết bị phòng không, phòng pháo, phòng hóa; có trận địa nghi binh và tổ chức ngụy trang chu đáo bảo đảm cho lực lượng ta có đủ nơi ẩn nấp, chiến đấu và sinh hoạt, chịu đựng được các loại hỏa lực đánh phá ác liệt dài ngày và ngoan cường đánh bại các cuộc tiến công quy mô lớn của địch. Cùng với xây dựng công sự trận địa vững chắc, còn phải xây dựng đường cơ động1 (Ta đã củng cố và xây dựng được khoảng 300km đường bảo đảm vận chuyển và cơ động lực lượng trong chiến đấu. Các trung đoàn bộ binh tích cực chuẩn bị đường cơ động cho đơn vị. Trung đoàn 148 tự làm 2 đường dài 40km và 80 chiếc cầu nhỏ; Trung đoàn 866 làm được nhiều đường cơ động và đã bắc cầu dây cáp qua suối Nậm Khô. Công binh đã làm đường ở một số trọng điểm cho xe tăng và pháo binh, có đường ngầm vòng tránh suối khi mưa lũ. Dẫn theo: Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1987, tr. 37-38) cho bộ binh xuất kích, cho xe tăng và pháo binh cơ động vượt qua sông suối, đèo cao, có hệ thống thông tin liên lạc vững chắc (hữu tuyến có đường cáp ngầm) để chỉ huy và hiệp đồng chặt chẽ giữa chỉ huy với các bộ phận trong mọi tình huống. Trên từng chốt, cụm chốt phải bảo đảm tính liên hoàn, chi viện cho nhau, bảo đảm đánh địch từ xa, từ 4 phía ở cả mặt đất và trên không.


Xây dựng khu vực phòng ngự vững chắc gắn liền với tổ chức sử dụng lực lượng. Bố trí lực lượng trong khu vực phòng ngự vững chắc gồm nhiều thành phần, lực lượng giữ vững từng trận địa. Từ điểm tựa, cụm điểm tựa làm cơ sở hình thành khu vực phòng ngự then chốt của tiểu đoàn và liên kết các khu then chốt phòng ngự của các tiểu đoàn tạo thành khu vực phòng ngự vững chắc của trung đoàn, đồng thời phải có lực lượng cơ động của các cấp trong khu vực phòng ngự vững chắc của trung đoàn để đủ sức tăng cường đến các hướng bị uy hiếp nhất, thực hành các phương án phản kích, phản kích liên tục và kịp thời mới thực hiện được tư tưởng phòng ngự tích cực.


Cùng với bố trí khu vực của bộ binh còn phải tổ chức khu vực cho các loại hỏa lực như cối 120mm, súng máy phòng không 12,7mm, pháo binh và pháo cao xạ có xe kéo và xe tăng đảm bảo đủ sức mạnh hỏa lực và sức đột kích để phản kích giữ vững khu vực phòng ngự. Bố trí hỏa khí bảo đảm yêu cầu bí mật, bất ngờ, hiểm hóc nhiều tầng, có chiều sâu; có trận địa chính, lâm thời, có trận địa dự bị và nghi binh. Khu vực phòng ngự vững chắc của trung đoàn còn phải bố trí các lực lượng chuyên môn như: Quân y, nuôi quân, cơ quan và kho tàng trong thế trận chung, có trang bị và tổ chức chiến đấu tại chỗ một cách chu đáo, kết hợp chặt chẽ với các lực lượng chiến đấu khác đánh bại lực lượng địch khi chúng đột nhập vào khu vực phòng ngự.


Thực tiễn cho thấy, ngay sau khi kết thúc chiến dịch tiến công mùa khô, ta và bạn đã chủ động lập thế trận phòng ngự hoàn chỉnh, vững chắc, có chiều sâu. Phạm vi địa bàn chiến dịch có chiều dài khoảng 60km và rộng khoảng 50km, trong đó Cánh Đồng Chum là khu trung tâm, 4 khu còn lại là khu trung gian và hướng phòng ngự thứ yếu. Khu vực phòng ngự trung tâm Cánh Đồng Chum ta xây dựng 4 cụm chốt, trong đó Phu Tôn là cụm then chốt nhất của khu vực phòng ngự chủ yếu, đồng thời ta xây dựng hệ thống công sự đường hầm. Các khu trung gian và khu phòng ngự thứ yếu cũng xây dựng các chốt, cụm chốt, hầm ngầm, đường cơ động, binh trạm.


Cùng với xây dựng hệ thống công sự trận địa, Bộ Tư lệnh Chiến dịch bố trí sử dụng lực lượng phòng ngự trên hướng chủ yếu 2 trung đoàn bộ binh (174, 866), lực lượng cơ động chiến dịch có 3 trung đoàn bộ binh (148, 335, 88). Ở khu trung gian, ta đã sử dụng Trung đoàn 174 chiến đấu quyết liệt với địch trong suốt 179 ngày đêm, giữ vững địa bàn khu trung gian, đã có tác dụng lớn bảo đảm sự vững chắc cho khu vực phòng ngự chủ yếu Cánh Đồng Chum. Ở khu Noọng Pẹt - Bản Ban (hướng thứ yếu), ta đã sử dụng lực lượng tương đương trung đoàn để bảo vệ cửa ngõ đường vận chuyển cho chiến địch. Thị xã Xiêng Khoảng và Mường Sủi (hướng phối hợp) ta đã bố trí lực lượng bảo vệ sườn cho khu trung tâm Cánh Đồng Chum... Do đạn pháo của địch làm sạt lở nhiều khu vực trong hệ thống phòng ngự nên trong quá trình chiến dịch, chỉ huy các đơn vị đã chủ động cho bộ đội khắc phục hầm hào, đường giao thông để tiếp tục chiến đấu.


Bằng hành động tiến công kiên quyết, với những trận then chốt theo phương thức tác chiến hiệp đồng binh chủng với việc tổ chức sử dụng lực lượng hợp lý, kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng cơ động và lực lượng phòng giữ, ta đã đập tan các cuộc tiến công của địch, khôi phục các vùng đã mất, bảo vệ trọn vẹn địa bàn chiến lược của ta.


Kinh nghiệm nổi bật xây dựng thế trận phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đó là: Xây dựng khu vực phòng ngự vững chắc của trung đoàn và liên kết khu vực phòng ngự vững chắc của trung đoàn này với trung đoàn khác bằng hỏa lực và lực lượng cơ động, có hệ thống công sự, trận địa, vật cản tạo thành liên kết về thế trận của chiến dịch phòng ngự, đã vượt qua nhận thức trước đây khi nói đến phòng ngự khu vực chỉ dừng lại ở điểm tựa, cụm điểm tựa hình thành trận địa phòng ngự.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #149 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2025, 08:52:04 pm »

3. Khu vực phòng ngự phải bảo đảm được hậu cần, quân y dài ngày

Do chiến đấu phòng ngự vào mùa mưa, đường vận chuyển và cơ động rất khó khăn, địch có thể tiến công từ nhiều phía nhằm chặn đứt nguồn tiếp tế từ hậu phương, trong khi đó quân số tham gia chiến dịch rất lớn (từ 12.000 - 13.500 người), việc bảo đảm nguồn hậu cần tại chỗ rất khó khăn, chủ yếu là chi viện từ vùng giải phóng. Do vậy, công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật phải được tiến hành một cách chặt chẽ, chu đáo, đủ sức chiến đấu với địch trong suốt mùa mưa (khoảng 4 - 6 tháng). Trường hợp nguồn nước khó khăn, bộ đội phòng ngự trên điểm tựa, cụm điểm tựa càng phải có biện pháp thiết thực, chu đáo, an toàn nguồn nước tại chỗ cho bộ đội ở nơi chiến đấu và sinh hoạt tại trận địa. Dự kiến trước vấn đề này, Thường vụ Quân ủy Trung ương đã chỉ đạo Bộ Tư lệnh Chiến dịch: "Công tác hậu cần, tiếp tế có ý nghĩa quyết định đối với việc bảo vệ Cánh Đồng Chum cũng như việc tiếp tục tác chiến trong mùa mưa ở Sảm Thông, Loong Chẹng. Vì vậy, cần phải có kế hoạch cụ thể và đôn đốc ráo riết để bất luận trong tình huống nào cũng không để xảy ra bị động do khó khăn về hậu cần"1 (Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ Tổng Tham mưu, Biên niên sự kiện Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Tập VIII (1972), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2008, tr. 121). Cùng với đó, Bộ Tổng Tham mưu đã chỉ đạo Tổng cục Hậu cần giải quyết ngay vấn đề dự trữ lương thực, đạn dược và giúp mặt trận trong việc đẩy mạnh tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống. Mặt trận phải thật chú ý khâu nuôi quân, chăm lo sức khỏe bộ đội, đẩy mạnh tăng gia sản xuất2 (Thường vụ Quân ủy Trung ương quyết nghị về nhiệm vụ sắp tới của Mặt trận Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, Phông Cục Tác chiến, Hồ sơ số 5770).


Thực hiện chỉ đạo của trên, ngay từ trước khi bước vào chiến dịch phòng ngự, cơ quan hậu cần chiến dịch đã tính toán nhu cầu vật chất chiến đấu và sinh hoạt dài ngày cho từng khu vực, kho trạm theo phương án tác chiến, trước mắt ưu tiên cho khu trung gian. Ngay từ trước mùa mưa, công tác hậu cần đã khẩn trương lót đạn, gạo cho các khu vực, đơn vị. Có kế hoạch bảo vệ kho trạm để giữ vững thế trận suốt mùa mưa. Các lực lượng phía sau (kho, bệnh xá, cơ quan...) phải tổ chức chặt chẽ, trang bị phù hợp để chiến đấu tại chỗ đề phòng địch đổ quân bằng trực thăng bất ngờ đánh vào hậu phương ta. Với việc bảo đảm hậu cần chu đáo, chặt chẽ nên mặc dù tuyến vận chuyển xa, địch đánh phá liên tục, mùa mưa ngập lụt nhưng công tác hậu cần đã góp phần quan trọng cho chiến địch giành thắng lợi.


Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đã để lại nhiều kinh nghiệm, trong đó có kinh nghiệm lựa chọn khu vực phòng ngự. Từ thực tiễn Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đã cho thấy công tác tổ chức, chuẩn bị khu vực phòng ngự giữ vai trò quan trọng trong thắng lợi của chiến dịch. Do lựa chọn khu vực phòng ngự có thế đánh, thế giữ, có chiều sâu nên ta đã khắc phục được những khó khăn của mùa mưa, trụ vững, kiên cường trước bom đạn của Mỹ - ngụy Lào, bẻ gãy các mũi tiến công của chúng và ta làm chủ được địa bàn chiến lược quan trọng này.


50 năm đã trôi qua, nhưng thắng lợi của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng vẫn vẹn nguyên giá trị, nhất là việc vận dụng kinh nghiệm đó vào trong thực tiễn hiện nay. Trong tương lai, mặc dù chiến tranh khó có thể xảy ra, nhưng nếu địch tiến công xâm lược nước ta chúng sẽ sử dụng hỏa lực mạnh đánh phá ngay từ đầu, phá hủy các cơ sở quân sự, kinh tế của ta, gây ra tổn thất rất lớn, sau đó có thể sử dụng bộ binh. Do vậy, ngay từ thời bình, ta đã xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố, quân khu nhằm tránh đòn tập kích hỏa lực ban đầu của địch và chuyển ngay đất nước từ thời bình vào thời chiến. Với địa thế khu vực phòng thủ các tinh, thành phố, quần khu đó là nơi bảo đảm lực lượng và hậu cần dài ngày, có thế giữ để sẵn sàng chuyển hóa tương quan so sánh lực lượng làm cho địch sa lầy. Vì vậy, từ kinh nghiệm chọn khu vực phòng ngự trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, cơ quan quân sự địa phương có thể tham mưu cho các cấp ủy, chính quyền địa phương lựa chọn khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố, đó là khu vực hiểm yếu, có thế đánh, thế giữ, thế cơ động và bảo đảm hậu cần dài ngày, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của một lực lượng lớn quân và dân trên địa bàn. Công tác xây dựng khu vực phòng thủ phải chặt chẽ, có kế hoạch chu đáo và phải được cải tạo, bổ sung, kiện toàn ngày từ thời bình, sẵn sàng đáp ứng cho thời chiến. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, đòi hỏi phải phát huy tốt vai trò công tác tham mưu của cơ quan quân sự các cấp, các ngành, từ Trung ương đến địa phương. Nếu công tác tham mưu đúng sẽ giúp cho việc lựa chọn khu vực phòng thủ đúng, tạo ra thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc nhằm bảo vệ vững chắc địa bàn trong cả thời bình và thời chiến.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM