Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:02:42 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: 50 năm chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng  (Đọc 52287 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #150 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2025, 08:53:25 pm »

VẬN DỤNG KINH NGHIỆM CHIẾN DỊCH PHÒNG NGỰ CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG TRONG XÂY DỰNG THẾ TRẬN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN QUÂN KHU 3 HIỆN NAY

Đại tá NGUYỄN ÁNH NGỌC
Trưởng phòng Khoa học quân sự Quân khu 3


Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (21.5 - 15.11.1972) do liên quân Việt - Lào tổ chức nhằm đánh bại kế hoạch lấn chiếm mùa mưa của quân phái hữu Lào và quân đội Thái Lan, bảo vệ vùng giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, giữ vững thế chiến lược của ta ở Bắc Lào, phối hợp với cuộc tiến công năm 1972 ở chiến trường Trị - Thiên và Bắc Tây Nguyên. Mặc dù đã nửa thế kỷ trôi qua, nhưng những thành công của chiến dịch vẫn còn nguyên giá trị và có ý nghĩa hiện thực to lớn, để lại kinh nghiệm quý đối với lực lượng vũ trang Quân khu 3, trong đó có những vấn đề về xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên địa bàn, góp phần nâng cao sức mạnh quốc phòng của đất nước, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.


Trước hết, xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc, tạo nền tảng cho xây dựng nền quốc phòng toàn dân trên địa bàn

Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân là nội dung trọng tâm trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và toàn quân, toàn dân ta.

Thế trận quốc phòng toàn dân có nội hàm rộng, nhưng nội dung cốt lõi là "thế trận lòng dân". Trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, ta có thuận lợi cơ bản là tình đoàn kết liên minh chiến đấu giữa hai dân tộc Việt - Lào đã được củng cố và thử thách qua thời gian; quân, dân hai nước đều nhận thức rõ nhiệm vụ cách mạng của mỗi dân tộc; bạn thấu hiểu nghĩa vụ quốc tế trong sáng của nhân dân cũng như bộ đội Việt Nam. Tuy nhiên, sự có mặt của Quân tình nguyện Việt Nam trên đất bạn bị tay sai phản động lợi dụng công kích, xuyên tạc, kích động tinh thần dân tộc hẹp hòi hòng chia rẽ, làm suy yếu liên minh chiến đấu giữa hai đảng, nhà nước, quân đội. Mặt khác, lực lượng ta và bạn tổ chức phòng ngự trên địa bàn rộng (bao gồm khu tứ giác Mường Sủi - Noọng Pẹt - thị xã Xiêng Khoảng - Thẩm Lửng với chiều dài khoảng 60km, chiều rộng khoảng 50km), điều kiện chiến tranh nhân dân và khả năng huy động nguồn nhân lực tại chỗ rất hạn chế, một số vùng không có lực lượng vũ trang địa phương (ta phải đảm nhiệm chức năng chiến đấu của ba thứ quân). Công tác bảo đảm mọi mặt của ta đều phải đưa từ hậu phương miền Bắc Việt Nam sang trên một trục duy nhất, kéo dài ở địa hình rừng núi, trong mùa mưa... Địch đã triệt để lợi dụng, tổ chức đánh phá ác liệt bằng mọi biện pháp như sử dụng hỏa lực không quân, đổ quân biệt kích, cho các toán phỉ chốt đường phá hoại... nhằm cô lập giữa phía trước với phía sau của ta, buộc ta phải phân tán đối phó. Nhận thức sâu sắc thuận lợi cũng như khó khăn của cuộc chiến đấu, để thực hiện thắng lợi mục tiêu của chiến dịch, ta đã tích cực động viên nhân dân và tổ chức huy động khoảng 1.800 dân công thuộc các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh Bình phục vụ dài ngày. Đồng thời, quan tâm làm tốt công tác vận động đồng bào ta và nhân dân nước bạn tham gia, ủng hộ, giúp đỡ bộ đội về mọi mặt... Quá trình thực hiện nhiệm vụ trên đất nước bạn, bộ đội ta giữ nghiêm chính sách dân tộc, kỳ luật quần chúng, mọi hành động đều thể hiện bàn chất của đội quân tình nguyện làm nghĩa vụ quốc tế; những vấn đề liên quan đến việc huy động sự giúp đỡ của nhân dân, ta và bạn đều trao đổi, bàn bạc và thống nhất. Do đó, các lực lượng tham gia chiến đấu đã nhận được sự tin tưởng và giúp đỡ nhiệt tình của nhân dân.


Đúc rút kinh nghiệm từ thực tiễn này, trong thời gian qua, Quân khu 3 luôn quan tâm xây dựng "thế trận lòng dân", coi đây là khâu then chốt trong xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững mạnh. Theo đó, cơ quan quân sự các cấp đã tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm và tinh thần cách mạng cho cán bộ, đảng viên, cả hệ thống chính trị và toàn dân trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Lực lượng vũ trang Quân khu 3 thường xuyên phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội địa phương đẩy mạnh hoạt động thông tin, tuyên truyền, giáo dục về quốc phòng, an ninh, âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch...1 (Trong 5 năm (2015 - 2020), Quân khu 3 đã bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho gần 300.000 người; hơn 9.100 người là chức sắc tôn giáo, chức việc, trưởng dòng họ; gần 26.000 đối tượng khác; giáo dục quốc phòng, an ninh cho hơn 2,4 triệu học sinh, sinh viên). Thực hiện chức năng "đội quân công tác", lực lượng vũ trang Quân khu 3 tích cực bám nắm cơ sở, nhất là các địa bàn trọng điểm, phức tạp về tôn giáo, dân tộc, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo để tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương... Các cơ quan, đơn vị đã thực hiện có hiệu quả các phong trào "Đền ơn, đáp nghĩa", "Quân đội chung sức xây đựng nông thôn mới", tham gia phòng, chống dịch COVID-19, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn1 (Từ năm 2008 đến năm 2018, lực lượng vũ trang Quân khu 3 đã tham gia củng cố 3.470 tổ chức đảng, 21.739 tổ chức chính trị - xã hội, 4.761 lượt xã, phường, thị trấn, trong đó có 1.538 lượt cơ sở vùng đồng bào dân tộc, 2.128 lượt cơ sở vùng đồng bào tôn giáo, 591 lượt cơ sở vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo; hình thành tuyến biên giới gồm 11 xã, phường với 78 thôn bản, khu dân cư giáp biên... Trong 5 năm (2015 - 2020), lực lượng vũ trang Quân khu 3 tham gia tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn hơn 800 vụ với hơn 133.000 lượt người; gần 5.900 lượt phương tiện tham gia; di dời gần 50.900 người vùng bão, lũ đến nơi an toàn). Phối hợp thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo; tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế, xã hội, thực hiện các chương trình, đề án hỗ trợ người nghèo vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo về nhà ở, đất ở, cơ sở vật chất, giống vốn... góp phần ổn định cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội gắn với củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc từ cơ sở2 (Từ năm 2015 đến năm 2020, lực lượng vũ trang Quân khu đã giúp nhân dân xây dựng nông thôn mới hơn 442.000 ngày công; hỗ trợ vật chất, tiền, làm 485km đường bê tông nông thôn, 424km kênh mương nội đồng... Tổ chức hơn 7.400 lượt cán bộ, chiến sĩ và dân quân tự vệ dã ngoại làm công tác dân vận với gần 52.000 ngày công làm đường, kênh mương, thu hoạch hoa màu...; khám chữa bệnh, cấp thuốc miền phí cho gần 63.000 người; tặng gần 1.600 sổ tiết kiệm cho đối tượng chính sách, người nghèo). Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 327 của Quân khu đã phối hợp với địa phương thực hiện dự án di giãn dân và hỗ trợ, ổn định đời sống nhân dân ở nơi ở mới, hình thành tuyến biên giới gồm 11 xã, phường với 78 thôn bản, khu dân cư giáp biên, tạo dựng "phên giậu biên giới", góp phần xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc. Đồng thời, lực lượng vũ trang Quân khu 3 thường xuyên quán triệt và triển khai thực hiện tốt các quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác đối ngoại nhân dân và đối ngoại quốc phòng; tham gia có hiệu quả các hoạt động giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới và tổ chức diễn tập bảo đảm quân y hai nước Việt Nam - Trung Quốc (phòng, chống dịch COVID-19), phối hợp tổ chức tuần tra, kiểm soát khu vực biên giới, bảo đảm an toàn 78 cột mốc chủ quyền và đường biên giới đất liền... góp phần bảo vệ Tổ quốc "từ sớm", "từ xa", đúng với tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #151 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2025, 08:54:05 pm »

Hai là, chú trọng xây dựng các thành phần trong thế trận quân sự, đẩy mạnh kết hợp phải triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh

Trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, ta đã xây dựng được thế trận chiến dịch hợp lý, thể hiện qua việc lựa chọn hình thức phòng ngự khu vực; chọn địa hình hiểm yếu, có lợi cho ta (Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng có vị trí đặc biệt quan trọng đối với cách mạng Lào và Đông Dương; địa hình phức tạp, nhiều rừng rậm, núi cao hiểm trở, xen kẽ là những lòng chảo rộng, bằng phẳng); xác định hướng phòng ngự chủ yếu (hướng Đông - Nam), khu vực phòng ngự then chốt (trung tâm Cánh Đồng Chum, thuộc cụm Phu Tâng - Phu Tôn); tổ chức đội hình phòng ngự hoàn chỉnh có thể đánh trả các cuộc tiến công của địch cả trước mặt, bên sườn, sau lưng (Trung đoàn 174 tổ chức phòng ngự khu trung gian giữa Loong Chẹng và Cánh Đồng Chum; Trung đoàn 866 được tăng cường pháo binh, xe tăng chiến dịch đảm nhiệm ở hướng phòng ngự chủ yếu, khu vực then chốt...). Ta cũng đã xây dựng được hệ thống trận địa phòng ngự liên hoàn, vững chắc, nhiều tuyến, có chiều sâu, tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng phòng ngự tổ chức ngăn chặn, kìm hãm, buộc địch bộc lộ sơ hở để thực hiện các trận phản kích, phản đột kích tiêu diệt địch. Ở các khu vực không trọng yếu và chưa đủ điều kiện xây dựng trận địa, ta vận dụng "chốt" có trọng điểm để tiêu hao, ngăn chặn địch từng bước, làm suy yếu địch trước khi chúng tiến công vào khu vực chủ yếu. Trên từng khu vực, ta tổ chức các chốt, cụm chốt liên hoàn bảo đảm chi viện, hỗ trợ lẫn nhau bằng cả xung lực và hỏa lực; bảo đảm đánh từ xa, từ bốn phía, cà mặt đất và trên không. Trên từng điểm chốt, cấu trúc hệ thống công sự hoàn chỉnh bao gồm công sự chiến đấu, công sự nghỉ ngơi, sinh hoạt, công sự cho người, hỏa khí, kho dự trữ, hầm quân y. Ta cũng chủ động xây dựng, bố trí các hầm, hào trú ẩn, tránh phi pháo trên các trục vận chuyển tiếp tế và cơ động lực lượng; các chướng ngại vật trên các hướng địch dễ luồn lách, bí mật tiếp cận; đồng thời tổ chức các tuyến đường bí mật để cơ động triển khai lực lượng (ta đã củng cố, phát triển khoảng 300km đường bảo đảm vận chuyển và cơ động lực lượng chiến đấu). Nhờ đó, trong suốt quá trình chiến đấu, ta đã hạn ché được sức mạnh của quân địch, phát huy được thế dùng lực lượng ít để ngăn chặn lực lượng đông của chúng, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch (sau 4 đợt chiến đấu, ta và bạn đã loại khỏi vòng chiến đấu gàn 5.800 quân địch, bắn rơi 38 máy bay, thu 859 súng...).


Vận dụng kinh nghiệm xây dựng thế trận trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, trong giai đoạn hiện nay, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 3 đã phối hợp chặt chẽ với các tỉnh ủy, thành ủy lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 22 tháng 9 năm 2008 của Bộ Chính trị khóa X "về tiếp tục xây dựng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới", các nghị định (152, 02, 21) của Chính phủ về khu vực phòng thủ; các chỉ thị, nghị quyết của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Triển khai đồng bộ các chủ trương, giải pháp xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc trên địa bàn Quân khu; xây dựng phòng thủ Quân khu; phối hợp chặt chẽ với các địa phương xây dựng thành phần thế trận khu vực phòng thủ như: Khảo sát, lập quy hoạch xây dựng khu vực phòng thủ then chốt, các căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu phương, căn cứ hậu cần - kỹ thuật cấp huyện, cấp tỉnh; chốt chiến dịch Quân khu; xây dựng sở chỉ huy các cấp, các mục tiêu trọng yếu; các làng, xã, điểm tựa, cụm điểm tựa bảo đảm liên hoàn vững chắc, xây dựng chốt chiến đấu dân quân thường trực xã biên giới; xây dựng khu vực phòng ngự, khu vực bố trí trận địa chiến đấu và bảo đảm chiến đấu của lực lượng chủ lực, địa phương, dân quân tự vệ, tạo thế và lực đáp ứng yêu cầu chiến đấu và phục vụ chiến đấu lâu dài trong khu vực phòng thủ.


Cùng với đó, Quân khu 3 phối hợp chặt chẽ với các địa phương đầu tư hàng trăm tỷ đồng để xây dựng thế trận quân sự khu vực phòng thủ và tập trung xây dựng tiềm lực kinh tế vững mạnh. Cơ quan quân sự các cấp đã tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương thực hiện các chương trình, dự án kinh tế theo hướng phát huy thế mạnh của địa bàn; gắn quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội với thế trận phòng thủ các cấp. Từ năm 2010 đến nay, Quân khu 3 đã triển khai thực hiện nhiều dự án kinh tế - quốc phòng như: Xây dựng Trung tâm Dịch vụ hậu cần nghề cá vịnh Bắc Bộ tại các huyện đảo Cô Tô (Quảng Ninh), Bạch Long Vĩ (Hải Phòng); các cảng biển quân sự kết hợp phục vụ dân sinh trong thời bình; đường xuyên đảo Vĩnh Thực, Đảo Trần, Thanh Lân; bảo vệ và phát triển rừng vành đai biên giới tại 2 khu kinh tế - quốc phòng Bình Liêu - Hải Hà - Móng Cái và Bắc Hải Sơn; tích cực vận động nhân dân ra định canh, định cư ở vùng biên giới, biển, đảo; đẩy mạnh xây dựng các công trình quốc phòng trong khu vực phòng thủ, công trình lưỡng dụng vừa phục vụ phát triển kinh tế, xã hội, vừa bảo đảm quốc phòng, an ninh..., nhằm tạo lập thế trận rộng khắp, liên hoàn, vững chắc giữa các khu vực và trên ưrng hướng chiến lược.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #152 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2025, 08:55:21 pm »

Ba là, xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu có chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trên địa bàn

Trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, ta đã có lực lượng chủ lực mạnh tham gia chiến dịch với 5 trung đoàn bộ binh (174, 148, 866, 335, 88), 10 tiểu đoàn binh chủng. Lực lượng bạn có 7 tiểu đoàn bộ binh, 6 đại đội binh chủng, 4 đại đội bộ đội địa phương... Để xây dựng tinh thần chiến đấu dũng cảm, kiên cường cho bộ đội, trước và trong suốt chiến dịch, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đặc biệt coi trọng việc giáo dục, quán triệt tình hình nhiệm vụ mới; quán triệt phương châm, tư tưởng chỉ đạo tác chiến phòng ngự, xây dựng quyết tâm và lòng tin để thống nhất về nhận thức và hành động trong điều kiện chiến đấu với quân địch có ưu thế về lực lượng và vũ khí, trang bị. Các đơn vị đã kết hợp giáo dục chính trị với các biện pháp về tổ chức, giúp cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ mục đích, tầm quan trọng và tin tưởng vào thắng lợi của chiến dịch. Các đơn vị đã tăng cường xây dựng, củng cố công sự, trận địa; tổ chức tập huấn cho cán bộ và huấn luyện cơ bản cho các phân đội; tiến hành huấn luyện cách đánh (khi địch xung phong vào trận địa, khi phản kích, phản đột kích...); tổ chức luyện tập, diễn tập theo phương án chiến đấu để kiểm tra và rút kinh nghiệm về xây dựng phương án, tổ chức hiệp đồng và công tác bảo đảm các mặt. Đồng thời, căn cứ yêu cầu, nhiệm vụ của chiến dịch, các đơn vị đã tích cực kiện toàn tổ chức, biên chế, tăng cường cán bộ cho cấp dưới, giảm bớt khâu trung gian. Bộ Tư lệnh Chiến dịch trực tiếp chỉ huy các trung đoàn và các đơn vị binh chủng (không qua cấp sư đoàn), cấp ủy, chỉ huy các đơn vị quan tâm chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần bộ đội, giúp bộ đội vượt qua những khó khăn, ác liệt trong chiến đấu.


Kế thừa những kinh nghiệm, trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng hiện nay, Quân khu 3 thường xuyên quan tâm nâng cao chất lượng tổng hợp của lực lượng vũ trang, phát huy tốt vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Theo đó, Quân khu 3 tập trung xây dựng lực lượng vũ trang bao gồm cả lực lượng thường trực, lực lượng dự bị động viên và dân quân tự vệ vững mạnh toàn diện, có trình độ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu ngày càng cao. Những năm gần đây, thực hiện phương châm xây dựng lực lượng vũ trang "tinh, gọn, mạnh, cân đổi, cơ động", Quân khu đã tập trung đột phá vào công tác tổ chức lực lượng, cải cách hành chính, huấn luyện, xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật; xây dựng lực lượng thường trực theo hướng "cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại". Tổ chức, biên chế lực lượng thường trực được xây dựng theo yêu cầu thời bình, sẵn sàng mở rộng khi có tình huống chiến tranh; ưu tiên bảo đảm 100% quân số, vũ khí, trang bị kỹ thuật cho các đơn vị làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, tuyến biên giới, biển, đảo. Quân khu chỉ đạo nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu cho lực lượng vũ trang theo đúng phương châm "cơ bản, thiết thực, vững chắc", sát thực tế chiến đấu, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, biên chế và địa bàn hoạt động của từng đơn vị, phù hợp với đối tượng tác chiến, cách đánh truyền thống của từng lực lượng, từng địa phương. Lực lượng dân quân tự vệ được xây dựng theo hướng vững mạnh, rộng khắp, đúng quy định của Luật Dân quân tự vệ nhưng có sự vận dụng linh hoạt, phù hợp với đặc điểm địa bàn và khả năng thực tế của mỗi địa phương, cơ sở, doanh nghiệp. Chú trọng xây dựng cả lực lượng dân quân tự vệ nòng cốt, tại chỗ cơ động, thường trực và dân quân tự vệ biển.


Đối với lực lượng dự bị động viên, Quân khu coi trọng xây dựng từ khâu tạo nguồn, đăng ký, quản lý, huấn luyện đến việc bảo đảm chế độ chính sách cho quân nhân dự bị; quan tâm kết hợp chặt chẽ giữa công tác huấn luyện với tổ chức cho lực lượng dự bị động viên tham gia các cuộc diễn tập khu vực phòng thủ, chiến đấu phòng thủ, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn trên địa bàn nhằm phát huy khả năng của lực lượng tại chỗ trong xử trí các tình huống, tạo thế trận quốc phòng toàn dân ngày càng vững chắc.


Hiện nay, công cuộc củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc đang đặt ra những yêu cầu ngày cao đối với toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta. Những kinh nghiệm bài học rút ra từ thắng lợi của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng cách đây 50 năm cần tiếp tục được nghiên cứu, vận dụng vào xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững mạnh, góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #153 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2025, 09:02:21 pm »

CHIẾN THẮNG CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG MÙA MƯA NĂM 1972 BÀI HỌC VỀ CÔNG TÁC CHỈ HUY THAM MƯU TÁC CHIẾN

Đại tá, ThS PHẠM ANH TUẤN
Trưởng phòng Lịch sử Nghệ thuật quân sự,
Viện Lịch sử quân sự - Bộ Quốc phòng


Chiến dịch phòng ngự Cách Đồng Chum - Xiêng Khoảng do lực lượng của ta và bạn tiến hành trong thời điểm cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên chiến trường miền Nam Việt Nam đang diễn ra quyết liệt, nhằm đánh bại cuộc tiến công lấn chiếm quy mô lớn của địch trong mùa mưa 1972, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng của ta, trên cơ sở đó, xây dựng địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum thành căn cứ địa cách mạng vững mạnh, đồng thời thu hút lực lượng và sự chi viện của không quân Mỹ, tạo điều kiện cho các chiến trường khác hoạt động thuận lợi. Kết quả toàn chiến dịch, ta và bạn đánh 244 trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 5.759 tên địch, đánh thiệt hại nặng 3 binh đoàn cơ động (21, 23,26), 3 tiểu đoàn quân Thái Lan, đánh thiệt hại nặng 5 binh đoàn cơ động khác (15, 22, 24, 30, 32)1 (Bộ Quốc phòng, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, Quyển 1: Lịch sử quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 250); lực lượng của ta đánh 170 trận (trong đó có 1 trận quy mô sư đoàn, 8 trận quy mô trung đoàn và 14 trận quy mô tiểu đoàn); lực lượng vũ trang bạn đánh 74 trận (1 trận quy mô trung đoàn), bắn rơi 38 máy bay, thu và phá hủy hơn 800 súng các loại2 (Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Tập 4 (1969 - 1972), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010, tr. 424). Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến lược giao, đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân quy mô lớn của địch, giữ vững địa bàn chiến lược quan trọng. Thắng lợi của Chiến dịch để lại bài học về công tác chỉ huy tham mưu tác chiến chiến dịch có ý nghĩa rất quan trọng, được thể hiện trên một số nội dung chủ yếu sau:


Một là, nghiên cứu đánh giá đúng âm mưu, hành động của địch, chủ động chuyển vào phòng ngự kịp thời, là cơ sở bảo đảm chiến dịch giành thắng lợi.

Địa bàn Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng có vị trí chiến lược cả về chính trị, quân sự, kinh tế ở Bắc Lào, đối với Mỹ và bọn phản động Lào, chúng coi nơi đây là bàn đạp uy hiếp trực tiếp căn cứ cách mạng của bạn và hậu phương lớn miền Bắc Việt Nam, nên nhiều năm qua, địch tìm mọi cách khống chế địa bàn chiến lược này. Từ năm 1969, ta và bạn đã nắm chắc quy luật hoạt động của địch: Mùa khô ta giành quyền làm chủ, đến mùa mưa, thường khi ta vừa kết thúc chiến dịch tiến công, đó là lúc ta có khó khăn về công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cũng như cơ động nên ta rút bớt lực lượng, địch tổ chức tiến công lấn chiếm trở lại Cánh Đồng Chum. Bên cạnh đó, ta cũng nắm chắc được địch liên tục điều động lực lượng tăng cường cho Quân khu 2, đến đầu tháng 4 năm 1972, tổng số lực lượng ở khu vực này đã lên tới 18.400 tên, gồm 76 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh (trong đó có 18 tiểu đoàn bộ binh và 2 tiểu đoàn pháo binh quân Thái Lan) và nhiều phương tiện chiến tranh1 (Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 -1975), Tập 4 (1969 - 1972), Sđd, tr. 413, 414) nhằm chuẩn bị mở cuộc tiến công giành lại địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng vào mùa mưa, điều đó khẳng định nhận định của ta về tình hình địch ở khu vực Cánh Đồng Chum là hoàn toàn chính xác. Do đó, ngay sau khi liên quân Việt Nam - Lào giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng và phát triển sâu vào Sảm Thông - Loong Chẹng, ta và bạn thống nhất chủ trương tổ chức phòng ngự một cách chủ động, kiên quyết không để địch tái chiếm lại địa bàn chiến lược quan trọng này trong mùa mưa năm 1972. Đến đầu tháng 4 năm 1972, ngay sau khi Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Chiến dịch khẩn trương tổ chức phòng ngự chiến dịch, từ đầu tháng 4 đến cuối tháng 5 năm 1972 là thời gian chuyển tiếp từ chiến dịch tiến công sang chiến dịch phòng ngự. Mặt khác, thời gian này, cuộc tiến công chiến lược của ta trên toàn miền Nam đã liên tiếp giành được những thắng lợi to lớn, nên âm mưu của địch nhằm thu hút, giam chân, phân tán chủ lực của ta ở chiến trường Lào. Vì vậy, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng còn chủ động, tạo nên sự phối hợp, "chia lửa" với chiến trường miền Nam trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Như vậy, do nghiên đánh giá đúng âm mưu, hành động của địch, sớm có kế hoạch chủ động chuyển vào phòng ngự kịp thời, đó là cơ sở bảo đảm cho chiến dịch giành thắng lợi, đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công quy mô lớn của Mỳ, ngụy Lào và quân Thái Lan, hòng chiếm lại Cánh Đồng Chum, bảo vệ được vùng giải phóng có ý nghĩa chiến lược đối với cả ta và bạn.


Hai là, xác định khu vực phòng ngự chính xác, tổ chức xây dựng hệ thống trận địa phòng ngự liên hoàn, vững chắc, có chiều sâu, đáp ứng yêu cầu tác chiến chiến dịch

Điểm nổi bật của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là đã hình thành phòng ngự khu vực, lấy điểm tựa và cụm điểm tựa làm nòng cốt, tổ chức lực lượng cơ động khá mạnh để thực hành các trận phản kích và phản đột kích. Địa bàn Chiến dịch bao gồm khu tứ giác: Mường Sủi - Noọng Pẹt - thị xã Xiêng Khoảng - Thẩm Lửng, với chiều dài khoảng 60km và chiều rộng khoảng 50km, được chia thành 5 khu vực phòng ngự, trong đó ta xác định khu trung tâm Cánh Đồng Chum là khu vực phòng ngự chủ yếu của toàn Chiến dịch, là mục tiêu trọng yếu nhất không để mất, tại đây có cụm chốt Phu Tâng - Phu Tôn, đây là cụm phòng ngự then chốt nhất trong khu vực phòng ngự chủ yếu, đồng thời cũng là cụm phòng ngự quan trọng nhất trong toàn bộ địa bàn Chiến dịch, ngoài ra còn có 3 cụm trọng yếu khác là Phu Seo, Phu Keng, Phu Khế. Khu trung gian (Hin Tặng) là khu vực phòng ngự cơ bản phía trước rất quan trọng của hướng phòng ngự chủ yếu, bảo vệ phía Tây Nam Cánh Đồng Chum, trên hướng tiến công chủ yếu của địch, khu vực này có lợi thế về địa hình, có giá trị cả trước mắt cũng như lâu dài, có ảnh hưởng trực tiếp đến nhiệm vụ bảo vệ Cánh Đồng Chum, ta xác định tại đây sẽ diễn ra sự tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch. Khu Noọng Pẹt là khu vực phòng ngự thứ yếu, đây là khu vực hậu phương của Chiến dịch được tổ chức thành hai cụm chốt Phu Học, Phu Nốc Cốc, ngoài ra, chiến dịch cũng chuẩn bị sẵn nhiều điểm chốt tại Phu San, Mu Lao..., có nhiệm vụ bảo vệ Cánh Đồng Chum từ phía Đông Bắc. Khu Mường Sủi và thị xã Xiêng Khoảng là hai khu vực phối hợp Chiến dịch, có nhiệm vụ đánh địch từ xa, bảo vệ phía Tây Bắc và phía Đông cho khu trung tâm. Do đây là lần đầu tiên ta và bạn tiến hành một chiến dịch phòng ngự hoàn chỉnh, nên ta và bạn thống nhất: Ta phụ trách khu vực trung tâm Cánh Đồng Chum, khu trung gian, khu Noọng Pẹt, bạn phụ trách khu vực Mường Sủi và thị xã Xiêng Khoảng.


Về tổ chức phòng ngự, tại các khu vực trọng yếu, Bộ Tư lệnh Chiến dịch chỉ đạo kiên quyết việc xây dựng trận địa liên hoàn, hình thành hệ thống các khu vực vững chắc, nhiều tuyến, có chiều sâu, bảo đảm chỉ sử dụng lực lượng ít nhưng ngăn chặn được lực lượng đông của địch và bảo đảm chiến đấu lâu dài, giữ vững trận địa, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để phản kích, phản đột kích giành thắng lợi. Các khu vực không trọng yếu và chưa đủ điều kiện xây dựng trận địa, Bộ Tư lệnh Chiến dịch chỉ đạo vận dụng hình thức "chốt" có trọng điểm để tiêu hao, ngăn chặn địch từng bước, làm suy yếu địch trước khi chúng tiến công vào khu vực phòng ngự chủ yếu. Thực tiễn diễn biến chiến dịch cho thấy, sự lựa chọn khu vực phòng ngự của Bộ Tư lệnh Chiến dịch là hoàn toàn chính xác, ở khu vực Mường Sủi, quân ngụy Lào cũng chỉ tiến công có mức độ, rồi bị ta đẩy lùi, còn ở hướng Xiêng Khoảng, địch chi có một lần đổ biệt kích xuống Ta Li Nọi, sục sạo, thăm dò, khi bị ta phát hiện tiến đánh thì rút chạy vào rừng.


Việc xác định chính xác các khu vực phòng ngự của Chiến dịch là cơ sở để làm tốt công tác tổ chức chuẩn bị chiến đấu, sử dụng, bố trí lực lượng và các mặt công tác khác, bảo đảm cho thế trận phòng ngự của Chiến dịch vừa vững chắc, vừa linh hoạt, đáp ứng yêu cầu phòng ngự liên tục và dài ngày.


Ba là, tổ chức, sử dụng lực lượng hợp lý, đánh bại các đợt tiến công của địch

Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là chiến dịch liên minh chiến đấu giữa các lực lượng của ta và lực lượng vũ trang cách mạng Lào, được tiến hành kế tiếp ngay sau chiến dịch tiến công, ta có dự kiến và có sự chủ động ngay từ đầu, nhưng đây là chiến dịch được tiến hành trên đất bạn, ở địa hình rừng núi, trong điều kiện chiến tranh nhân dân chưa phát triển cao, tình hình địch, tình hình lực lượng của bạn có những nét riêng biệt, bạn gặp nhiều khó khăn về quân số, khó bổ sung, trình độ tác chiến hiệp đồng quy mô lớn, phức tạp còn hạn chế, thời điểm này bạn mới chỉ tổ chức đơn vị bộ binh đến tiểu đoàn, binh chủng đến đại đội. Do đó, việc tổ chức, sử dụng lực lượng hết sức quan trọng, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng của cả ta và bạn, vừa lấy ít đánh nhiều là phổ biến, vừa tập trung lực lượng thích hợp cho những trận đánh then chốt, then chốt quyết định là các trận phản đột kích bằng tác chiến hiệp đồng binh chủng, giành thắng lợi. Lực lượng của ta tham gia Chiến dịch gồm: Trung đoàn 174 và Trung đoàn 148 Sư đoàn 316, hai trung đoàn độc lập 866 và 335, đển tháng 10 năm 1972, Bộ tăng cường cho Chiến dịch Trung đoàn 88 Sư đoàn 308C; 2 tiểu đoàn đặc công (41 và 27), Tiểu đoàn Pháo binh 42 (có 4 khẩu 130mm, 8 khẩu 122mm, 4 khẩu 85mm và 4 khẩu ĐKZ), 1 tiểu đoàn xe tăng (18 xe), 2 tiểu đoàn pháo cao 37mm (24 khẩu), 1 tiểu đoàn súng máy phòng không 14,5mm (12 khẩu), 1 tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7mm (12 khẩu) 2 tiểu đoàn công binh. Lực lượng của bạn có: 7 tiểu đoàn bộ binh 1 đại đội xe tăng, 1 đại đội pháo xe kéo, 1 đại đội pháo mang vác, 2 đại đội pháo cao xạ, 1 đại đội công binh, 1 đại đội địa phương của Quân khu Cánh Đồng Chum, 1 đại đội địa phương của tỉnh và 8 trung đội địa phương thuộc hai huyện Mường Pẹt và Mường Khăm1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (mùa mưa 1972), Hà Nội, 1987, tr 17, 18, 19). Trên cơ sở nghiên cứu kỳ tình hình địch, địa hình, thế trận phòng ngự và lực lượng tham gia chiến dịch, Bộ Tư lệnh Chiến dịch tổ chức 2 thành phần lực lượng. Lực lượng phòng ngự gồm: Trung đoàn 174, Trung đoàn 866, được tăng cường 1/3 xe tăng thiết giáp, 1/4 số pháo binh chiến dịch. Mỗi trung đoàn có lực lượng phòng ngự và lực lượng cơ động, đảm nhiệm một khu vực phòng ngự, tổ chức các chốt, cụm chốt, chiến đấu giữ vững trận địa, kìm chân địch, kết hợp liên tục phản kích, tạo thời cơ và điều kiện thuận lợi cho lực lượng cơ động chiến dịch tiến hành phản đột kích, đánh các trận then chốt chiến dịch. Lực lượng cơ động chiến dịch gồm: Trung đoàn 148, Trung đoàn 355, đến tháng 10 năm 1972, Bộ tăng cường thêm Trung đoàn 88 Sư đoàn 308C, sẵn sàng tăng cường cho các khu vực bị uy hiếp, cùng với lực lượng phòng gự giữ vững các cụm chốt trọng yếu, phản kích khôi phục các khu vực bị địch đánh chiếm, cũng như tổ chức đánh trận then chốt của chiến dịch trên các khu vực đã được dự kiến. Với cách tổ chức như vậy, các lực lượng chiến dịch đã phát huy được sở trường, vừa chủ động đánh địch; kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng cơ động và lực lượng phòng ngự, ta đã đánh bại các đợt tiến công của địch, đồng thời phản kích, phản đột kích tiêu diệt lớn quân địch, khôi phục trận địa, bảo vệ địa bàn.


Thực tiễn ngay trong đợt 1, ngày 27 tháng 5, địch chiếm được một số điểm tựa khu vực phía Tây các điểm cao 1800, 2063, Thẩm Lửng, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã sử dụng Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 148 cùng với Trung đoàn 174 tổ chức phản kích đánh chiếm lại các điểm cao đã mất. Trong đợt 2, khi địch đã đưa toàn bộ lực lượng chủ yếu vào tiến công trung tâm Cánh Đồng Chum vào ngày 11 tháng 8, Trung đoàn 148, Trung đoàn 866, liên tục chiến đấu ngăn chặn, buộc địch phải rút chạy. Đến ngày 21 và 22 tháng 8, địch đổ bộ các binh đoàn cơ động 21 và 26 xuống Đông Bắc Phu Keng tiến công nhằm đánh chiếm các mục tiêu trọng yếu ở khu trung tâm Cánh Đồng Chum, từ ngày 30 tháng 8 đến ngày 3 tháng 9, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã tập trung lực lượng đánh trận then chốt (trận phản đột kích) tiêu diệt các binh đoàn cơ động 21 và 26 ở Phu Keng, diệt 679 tên, bắt 42 tên, thu nhiều vũ khí1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr. 599). Trong đợt 4, Bộ Tư lệnh Chiến dịch tập trung lực lượng các trung đoàn (148, 335, 88) đánh trận then chốt (phản đột kích) quyết định vào cụm quân địch từ Nam bản Quay đến Bắc Khang Kho vào ngày 26 tháng 10, tiêu diệt lớn quân địch, đập tan hoàn toàn ý định tiến công của chúng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #154 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2025, 09:03:32 pm »

Bốn là, chỉ đạo, chỉ huy, điều hành chiến dịch linh hoạt, kịp thời, góp phần quan trọng vào thắng lợi chiến dịch

Do địa bàn phòng ngự rộng, địa hình phức tạp, Bộ Tư lệnh Chiến dịch quyết định bỏ khâu trung gian cấp sư đoàn, để bảo đảm chỉ đạo, chỉ huy tập trung, thống nhất, kịp thời các lực lượng của ta, đồng thời, thực hiện tốt quan hệ, hiệp đồng với Quân khu Cánh Đồng Chum của bạn. Đối với các lực lượng của ta, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Chiến dịch trực tiếp chỉ huy các trung đoàn bộ binh và các đơn vị binh chủng, trong quá trình thực hành chiến dịch, Bộ Tư lệnh Chiến dịch nắm trực tiếp đến các trận địa hỏa lực, các khu vực phòng ngự trong mọi tình huống. Bộ Tư lệnh Chiến dịch kịp thời tăng cường cán bộ của Cơ quan Bộ Tư lệnh xuống giúp đở các đơn vị giải quyết những khó khăn được kịp thời. Trên khu vực phòng ngự có nhiều đơn vị cùng thực hiện nhiệm vụ, Bộ Tư lệnh Chiến dịch chỉ định người chỉ huy chung và cũng là người giữ quan hệ hiệp đồng với đơn vị bạn ở cấp tương đương khi phối hợp chiến đấu.


Khi thực hiện các trận then chốt chiến dịch, Bộ Tư lệnh Chiến dịch tổ chức Bộ phận chỉ huy phía trước để trực tiếp chỉ huy, điều hành các trận then chốt là quyết định hoàn toàn phù hợp. Trận phản đột kích (trận then chốt thứ nhất) của chiến dịch từ ngày 30 tháng 8 đến ngày 3 tháng 9, đánh GM 21 và GM 26, do có Bộ phận chỉ huy phía trước nên Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã chỉ huy trực tiếp Trung đoàn 335 và hiệp đồng chặt chẽ với lực lượng của bạn, kịp thời bẻ gãy hướng tiến công chủ yếu của địch. Trận phản đột kích (trận then chốt quyết định) của chiến dịch ngày 26 tháng 10 trên hướng Nam (từ Nam bản Quay đến Bắc Khang Kho), Bộ Tư lệnh Chiến dịch trực tiếp chỉ huy trận đánh và cử cán bộ xuống chỉ đạo, giúp đỡ 2 trung đoàn 148 và 335, đúng 3 giờ ngày 26 tháng 10, được sự chi viện trực tiếp của 2 cụm pháo binh chiến dịch, các hướng đồng loạt tiến công vào đội hình địch đang triển khai chuẩn bị tiến công vào Phu Seo, Phu Tâng. Kết quả trận đánh, ta tiêu diệt 1.240 tên, bắt 79 tên, thu hơn 1.500 súng các loại (có 21 khẩu cối và ĐKZ)1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (mùa mưa 1972), Sđd, tr. 59), đập tan hoàn toàn ý định tiến công quy mô lớn của địch.


Trải qua 179 ngày đêm chiến đấu kiên cường, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng giành thắng lợi có ý nghĩa quan trọng, hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến lược giao, đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công quy mô lớn của Mỹ - ngụy Lào hòng đánh chiếm Cánh Đồng Chum, bảo vệ vùng giải phóng có ý nghĩa chiến lược trọng yếu, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường có lợi cho ta, cũng từ đây, Cánh Đồng Chum vĩnh viễn là căn cứ địa trọng yếu của cả ta và bạn.


Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (nếu xảy ra), đối tượng tác chiến của ta đã có nhiều thay đổi cả về tổ chức biên chế, có vũ khí, trang bị, phương tiện hiện đại, hỏa lực mạnh và sức cơ động cao, tác chiến điện tử rộng rãi. Cùng với sự phát triển của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, nghệ thuật chiến dịch Việt Nam cũng đặt ra những yêu cầu mới. Cùng với các loại hình tác chiến chiến dịch khác, chiến dịch phòng ngự sẽ là tất yếu và được thực hiện phổ biến hơn trong chiến tranh giải phóng trước đây. Chiến dịch phòng ngự có thể được tổ chức ngay từ đầu và trong suốt quá trình chiến tranh. Tùy theo nhiệm vụ, chiến dịch phòng ngự có thể do Quân khu hoặc do Bộ tổ chức nhằm ngăn chặn, sát thương, tiêu hao, tiêu diệt quân địch, bảo vệ vững chắc khu vực, địa bàn, mục tiêu trọng yếu, tạo thời cơ để chuyển sang phản công, tiến công tiêu diệt lực lượng chủ yếu của địch, làm chuyển biến cục diện chiến trường hoặc cục diện chiến tranh. Chiến dịch phòng ngự dù ở quy mô nào, địa bàn nào, đều nằm trong thế phòng thủ chung của đất nước, thế trận chiến tranh nhân dân phát triển cao và dựa vào các khu vực phòng thủ địa phương đê đánh địch. Khu vực phòng thủ địa phương sẽ là nền tảng của thế trận chiến dịch, tạo ra thế và lực mới, là chỗ dựa vững chắc cho chiến dịch thực hiện mục đích và nhiệm vụ được giao. Thế phòng thủ chung của đất nước đã được chuẩn bị và xây dựng từ thời bình, là điều kiện cơ bản tạo nên thế trận đánh địch rộng khắp, căng kéo, thu hút, giam chân, phân tán lực lượng và sự đối phó của địch, bảo đảm cho chiến dịch có điều kiện, thời cơ tập trung mọi nỗ lực giành thắng lợi. Phát huy cao độ sức mạnh của chiến tranh nhân dân; kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng tại chỗ với lực lượng cơ động; giữa tiến công với phòng ngự, phòng thủ; kết hợp tác chiến chính quy với tác chiến du kích, đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn. Kết hợp lực, thế và thời cơ để tạo ưu thế hơn địch trong những thời điểm quyết định, giành thắng lợi.


Trong tác chiến chiến dịch, cần chủ động nghiên cứu, nắm chắc tình hình, mọi âm mưu, thủ đoạn của địch, nắm vững thời cơ mở chiến dịch phòng ngự ngay tà đầu hoặc từ chiến dịch tiến công, phản công chuyển sang chiến dịch phòng ngự. Xác định chính xác hướng, khu vực phòng ngự, mục tiêu trọng yếu; lựa chọn phương pháp tác chiến (cánh đánh) phù hợp, linh hoạt. Tổ chức chỉ huy hợp lý; chỉ đạo, chỉ huy kiên quyết, xử trí tình huống linh hoạt, kịp thời; tổ chức hiệp đồng chặt chẽ. Luôn quán triệt tư tưởng "lấy ít đánh nhiều" cũng như tư tưởng tiến công trong phòng ngự, tư tưởng phòng ngự tích cực. Vận dụng sáng tạo các hình thức tác chiến, thủ đoạn chiến đấu, bảo vệ vững chắc các khu vực, mục tiêu, địa bàn, hoàn thành nhiệm vụ được giao.


Thắng lợi của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đã để lại nhiều bài học quý về công tác chỉ huy tham mưu tác chiến. Những bài học đó vẫn còn nguyên giá trị cả lý luận và thực tiễn, cần được kế thừa và vận dụng một cách sáng tạo, nghiên cứu và giải quyết những vấn đề mới để phát triển lên một trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #155 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2025, 08:55:00 am »

CHIẾN THẮNG CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG MÙA MƯA NĂM 1972 BÀI HỌC VỀ XÁC ĐỊNH LOẠI HÌNH CHIẾN DỊCH VÀ TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠO TÁC CHIẾN

Đại tá, ThS NGUYỄN KHẮC BÌNH
Trưởng phòng Tổng kết chiến tranh,
Viện Lịch sử quân sự - Bộ Quốc phòng


Mùa khô năm 1971 - 1972, sau Chiến dịch tiến công giải phóng Cánh Đồng Chum - Mường Sủi và tiến sâu vào Sảm Thông - Loong Chẹng, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương Đảng ta và bạn Lào thống nhất quyết định tổ chức Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng nhằm đánh bại cuộc tiến công lấn chiếm của địch trong mùa mưa năm 1972, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng, giữ vững thế chiến lược của ta ở Bắc Lào và bảo vệ sườn phải cho các chiến dịch tiến công Trị Thiên và Bắc Tây Nguyên trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Trải qua hơn 170 ngày đêm chiến đấu liên tục và quyết liệt (21.5 - 15.11.1972), liên quân Việt - Lào đã đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công quy mô lớn có tính chất chiến lược của Mỹ và tay sai ở Lào, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, bảo vệ vùng giải phóng trọng yếu có ý nghĩa chiến lược, bảo đảm thế liên hoàn vững chắc cho các vùng căn cứ địa cách mạng của bạn, kịp thời phối hợp giữa các chiến trường ba nước Đông Dương, góp phần làm thay đổi cục diện của cuộc chiến tranh. Thắng lợi của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng để lại nhiều bài học lịch sử có giá trị về nghệ thuật quân sự, trong đó có bài học về xác định loại hình chiến dịch và tư tưởng chỉ đạo tác chiến.


Thứ nhất, nắm vững quy luật, tình hình, dự kiển chính xác âm mưu, thủ đoạn của địch, chủ động mở chiến dịch phòng ngự

Tiến hành chiến dịch phòng ngự là một tất yếu khách quan của quá trình phát triển chiến tranh cách mạng; nó có vị trí quan trọng khi chấp hành những yêu cầu bức thiết của chiến lược giao. Trên chiến trường Lào, những năm trước 1972, bộ đội ta đã từng kết hợp phối hợp với bạn tổ chức tác chiến phòng ngự bảo vệ Cánh Đồng Chum, tuy ta đã nỗ lực chiến đấu, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, nhưng do mùa mưa công tác bảo đảm khó khăn, ta chỉ để lại một phần lực lượng đóng giữ, nên cuối cùng địch vẫn chiếm được địa bàn chiến lược trọng yếu này, gây khó khăn cho ta, buộc ta phải tổ chức chiến dịch phản công vào mùa khô mới khôi phục lại được địa bàn Cánh Đồng Chum.


Cánh Đồng Chum, cao nguyên rộng lớn thuộc tỉnh Xiêng Khoảng của Lào, địa bàn có ý nghĩa chiến lược quan trọng cả về quân sự, chính trị và kinh tế cả về trước mắt cũng như lâu dài. Giữ được địa bàn quan trọng này có tác dụng cả thế công và thế thủ, tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng Lào phát triển; bảo vệ trực tiếp vùng căn cứ địa Sầm Nưa; tạo thế uy hiếp và trực tiếp tiến công Loong Chẹng - "Thủ đô Vương quốc Mẹo" - căn cứ quân sự của lực lượng đặc biệt Vàng Pao do Mỹ xây dựng; làm bàn đạp uy hiếp Thủ đô Viêng Chăn và kinh đô cũ Luông Phabăng. Đối với Đông Dương, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là một hướng chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của cả ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia, mang tính phối hợp chiến trường chung rất quan trọng, có liên quan chặt chẽ với tuyên vận chuyển chiến lược từ miền Bắc Việt Nam cho các chiến trường Đông Dương. Do vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng của Cánh Đồng Chum mà trong suốt cuộc kháng chiến, ở đây đã diễn ra sự giành giật quyết liệt giữa ta và địch. Mặc dù bị thất bại nhiều lần, đế quốc Mỹ và tay sai ở Lào vẫn tìm mọi cách chiếm khu vực này và đà trở thành quy luật hoạt động quân sự hăng năm: Mùa khô ta giành quyền làm chủ, đến mùa mưa do khó khăn về tiếp tế buộc ta phải rút bớt lực lượng thì địch lấn chiếm trở lại. Sau khi ta và bạn mở chiến dịch Cánh Đồng Chum - Mường Sủi mùa khô 1971 - 1972, đánh đuổi địch ra khỏi Cánh Đồng Chum - Mường Sủi, cũng giống như các mùa mưa trước, địch tập trung một lực lượng lớn gồm 76 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh và nhiều phương tiện chiến tranh, hình thành 4 khu vực xung quanh Cánh Đồng Chum (Sảm Thông - Loong Chẹng, Buôn Lọng, Tôm Tiêng - Pha Đông và Sa La Phu Khun) nhằm chiếm lại địa bàn chiến lược quan trọng này.


Nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của địch và qua kinh nghiệm các mùa mưa trước ở chiến trường, tháng 2 năm 1972, Quân ủy Trung ương Đảng ta và bạn Lào đã sớm bàn bạc thống nhất chủ trương tổ chức phòng ngự một cách chủ động, quyết không để địch tái chiếm lại địa bàn chiến lược quan trọng trong mùa mưa năm 1972. Đến tháng 4 năm 1972, sau khi phân tích toàn diện tình hình trên các chiến trường, ta quyết định phối hợp với bạn tổ chức Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, với quyết tâm: "Phải bảo vệ bằng được khu vực Cánh Đồng Chum, củng cố vững chắc căn cứ địa giải phóng của bạn; phục vụ cho yêu cầu đấu tranh chính trị trong tình hình mới"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972, Hà Nội, 1987, tr. 72-73).


Thực hiện quyết tâm của Quân ủy Trung ương và sự chỉ đạo Bộ Tư lệnh 959 (Bộ Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Lào thành lập ngày 15 tháng 7 năm 1970), Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng khẩn trương tổ chức thực hiện nhiệm vụ phòng ngự chiến dịch. Tại các khu vực trọng yếu, xây dựng trận địa liên hoàn, hình thành hệ thống các khu vực phòng ngự vững chắc, có chiều sâu. Các khu vực không trọng yếu và chưa thể xây dựng trận địa thì vận dụng hình thức "chốt" có trọng điểm để tiêu hao, ngăn chặn, làm suy yếu địch trước khi chúng tiến công và khu vực phòng ngự chủ yếu. Bộ Tư lệnh Chiến dịch tổ chức lực lượng thành 2 thành phần1 (Đến đầu tháng 5 năm 1972, lực lượng ta tham gia Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng khoảng có các trung đoàn 174, 148 thuộc Sư đoàn 316, 2 trung đoàn độc lập 866 và 335, 2 tiểu đoàn đặc công 27 và 41, Tiểu đoàn Pháo binh 42, 2 tiểu đoàn pháo phòng không 37mm, 1 tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7mm, 1 tiểu đoàn xe tăng, 2 tiểu đoàn công binh, 2 tiểu đoàn vận tải. Lực lượng bạn Lào tham gia chiến dịch có 7 tiểu đoàn bộ binh, 1 đại đội xe tăng, 1 đại đội pháo xe kéo, 1 đại đội pháo mang vác, 2 đại đội súng máy phòng không, 1 đại đội công binh, 4 đại đội bộ đội địa phương và dân quân du kích trên địa bàn), lực lượng phòng ngự và lực lượng cơ động chiến dịch. Lực lượng phòng ngự xây dựng trận địa thành các chốt, cụm chốt để ngăn chặn địch tiến công gồm 2 trung đoàn (174 và 866), được tăng cường 1/3 số xe tăng thiết giáp và 1/4 số pháo binh chiến dịch, mỗi trung đoàn cũng tổ chức lực lượng phòng ngự và lực lượng cơ động. Lực lượng cơ động chiến dịch gồm Trung đoàn 148 và Trung đoàn 335 (đến tháng 10 năm 1972, Bộ tăng cường thêm Trung đoàn 88 của Sư đoàn 308C). Đến ngày 20 tháng 5 năm 1972, các đơn vị phải hoàn thành mọi công tác chuẩn bị chiến đấu, sẵn sàng đánh địch theo nhiệm vụ được giao.


Như vậy, qua kinh nghiệm thực tiễn mấy năm trước, trong chỉ đạo tác chiến ta đã hình thành một quyết tâm tổ chức chiến dịch phòng ngự một cách chủ động, có dự kiến, có ý đồ tác chiến dứt khoát, có triển khai công tác chuẩn bị mọi mặt, đặc biệt là xây dựng hệ thống phòng ngự trận địa chu đáo. Nhờ đó, khi địch tiến công định chiếm lại Cánh Đồng Chum, ta đã có được thế trận và lực lượng phòng ngự chiến dịch hoàn chỉnh và cách đánh phù hợp nên đã tổ chức và thực hành thắng lợi chiến dịch phòng ngự; đánh bại cuộc tiến công của địch, giữ vững vùng chiến lược Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, hoàn thành nhiệm vụ chiến lược giao.


Việc xác định đúng loại hình chiến dịch phòng ngự trên địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng năm 1972, đánh dấu bước phát triển mới của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam và khẳng định tiến hành chiến địch phòng ngự là một tất yếu khách quan, loại hình chiến dịch cơ bản trong nghệ thuật chiến dịch Việt Nam. Chiến dịch phòng ngự nhất định phải xuất hiện cùng các loại hình chiến dịch khác nhằm đáp ứng những yêu cầu của chiến lược. Có chiến dịch tiến công, chiến dịch phản công để tiêu diệt địch, giải phóng hoặc khôi phục đất đai bị địch chiếm, thì cũng phải có chiến dịch phòng ngự để thực hiện nhiệm vụ giữ vững trận địa, đất đai, vùng giải phóng, hành lang, căn cứ địa, củng cố, bảo vệ thành quả đã đạt được; hoặc tạo thể, tạo thời cơ chuyển sang phản công, là một điều kiện rất cơ bản của cấp chiến lược trong việc mở chiến dịch phòng ngự.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #156 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2025, 08:55:48 am »

Thứ hai, vận dụng sáng tạo tư tưởng chỉ đạo tác chiến phòng ngự tích cực, kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngự và tiến công

Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng xác định tư tưởng chỉ đạo tác chiến là: "Quán triệt tư tưởng tiến công trong tác chiến phòng ngự, lập thế, tạo thời cơ, giành chủ động; vận dụng linh hoạt, sáng tạo cách đánh; kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa, đánh lớn, đánh rộng rãi; đánh từ xa, đánh cả phía trước, bên sườn và phía sau, phát huy tác chiến hiệp đồng binh chủng để tiêu diệt địch"1 (Bộ Quốc phòng - Học viện Lục quân, Tổng kết chiến dịch phòng ngự trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010, tr. 52).


Quán triệt tư tưởng chỉ đạo tác chiến, Bộ Tư lệnh Chiến dịch xác định quyết tâm kiên quyết tập trung lực lượng phòng ngự vững chắc khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng - Mường Sủi, trọng tâm là khu vực Cánh Đồng Chum. Khu vực phòng ngự chủ yếu là trung tâm Cánh Đồng Chum, khu then chốt là Phu Tâng - Phu Keng; cách đánh là xây dựng trận địa tương đối vững chắc, đánh địch từ xa đến gần, tích cực diệt địch khi chúng đột nhập trận địa; kết hợp chặt chẽ giữa chốt giữ với cơ động lực lượng phản kích, phản đột kích để tiêu diệt địch, giữ vững khu vực phòng ngự.


Thực hiện kế hoạch tác chiến, Bộ Tư lệnh Chiến dịch sử dụng Trang đoàn 174, được tăng cường 1 đại đội pháo binh, 1 đại đội pháo phòng không tổ chức ngăn chặn địch ở khu trung gian, tạo điều kiện cho lực lượng chủ yếu của chiến dịch tổ chức phòng ngự. Trung đoàn Bộ binh 866, được tăng cường 1 đại đội pháo binh, 1 đại đội xe tăng, 1 đại đội công binh đảm nhiệm phòng ngự khu vực trung tâm Cánh Đồng Chum. Tiểu đoàn đặc công 141 kết hợp với lực lượng bạn giữ vững khu vực Mường Sủi - Phu Kụt - Lạt Buột. Trung đoàn Bộ binh 148 và Trung đoàn Bộ binh 335 làm lực lượng cơ động của chiến dịch, bố trí ở Nam Bản Noọng, Bản Phát. Ngoài ra, các đơn vị phòng ngự cũng tổ chức lực lượng dự bị cơ động ở cấp mình. Nhờ nỗ lực của toàn thể cán bộ, chiến sĩ trên toàn mặt trận, đến ngày 20 tháng 5, ta đã tổ chức xong thế trận phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, thể hiện được tư tưởng phòng ngự tích cực, nội dung riêng biệt của nghệ thuật chiến dịch phòng ngự.


Quán triệt tư tưởng phòng ngự tích cực, chủ động tiến công địch, tìm địch mà đánh, đánh địch rộng khắp bằng mọi cách. Trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, tư tưởng tích cực, chủ động trong phòng ngự được thể hiện ngay từ bước đánh địch từ xa. Nhận thức được vị trí tầm quan trọng của khu trung gian đối với chiến dịch, là tuyến ngăn chặn quan trọng để thực hiện đánh địch từ xa, đồng thời giữ được khu trung gian còn có giá trị làm tăng chiều sâu khu vực của phòng ngự, ảnh hưởng trực tiếp đến việc hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ khu trung tâm Cánh Đồng Chum. Từ đó, trong quá trình chiến dịch, Bộ Tư lệnh Chiến dịch chỉ huy Trung đoàn Bộ binh 174 luôn khăc phục mọi khó khăn, tổ chức xây dựng, củng cố hệ thống công sự trận địa bảo đảm liên hoàn vững chắc; vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật và thủ đoạn chiến đấu, liên tục đánh bại các đợt tiến công của địch, giữ vững khu vực phòng ngự được giao, làm đảo lộn kc hoạch tiến công ban đầu của địch, buộc địch phải chuyển hưởng tiến công chủ yếu sang hướng khác, nơi địa hình không có lợi cho tiến công.


Sau khi đánh bại địch tiến công ở khu trung gian trong đợt 1 (21.5 - 10.8.1972), Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã chỉ thị cho các đơn vị phòng ngự ở Cánh Đồng Chum, ngoan cường chiến đấu chặn địch, giữ chắc mục tiêu được giao, sử dụng Trung đoàn Bộ binh 148 cùng lực lượng của Trung đoàn Bộ binh 866 ngăn chặn GM 23 đang uy hiếp phía Nam Cánh Đồng Chum. Trong đợt 2 của chiến dịch (11.8 - 10.9.1972), địch tập trung lực lượng thực hành tiến công trên 3 hướng bằng kết hợp tiến công đường bộ với đổ bộ đường không. Ở hướng Tây Nam, Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 148) cùng lực lượng phòng ngự tại chỗ, dựa vào công sự trận địa, vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật, thủ đoạn chiến đấu, đánh lui nhiều đợt tiến công của địch, đồng thời bí mật tập kích địch ở Phu Hủa Sang, tạo được bàn đạp để Trung đoàn Bộ binh 148 và lực lượng tại chỗ phản kích chiếm lại Phu Luông, đánh lui địch ở Phu Hủa Sang, bao vây tiêu diệt một bộ phận của GM 23 địch vào ngày 21 tháng 8, buộc số địch còn sống sót phải rút chạy về Khang Khay. Ở hướng Tây, ngày 23 tháng 8, Tiểu đoàn Bộ binh 8 (Trung đoàn Bộ binh 866), lực lượng dự bị của Trung đoàn, bước vào chiến đấu đã đánh bật địch khỏi dãy đồi Năm Mỏm và khu Đông Nam Bản Khổng; quân địch còn lại lui về phía Tây Bắc Bản Khổng và Tây Nam Phu Thông. Trên hướng Đông Bắc, ngày 15 tháng 8, Tiểu đoàn Bộ binh 5 (Trung đoàn Bộ binh 148) phối hợp cùng với bộ đội bạn chặn đánh GM 24 địch cơ động từ Buôm Loọng đến bản Lao, tiêu diệt một số tên. Ngày 18 tháng 8 Tiểu đoàn Bộ binh 1 (Trung đoàn Bộ binh 335) phối hợp cùng với Tiểu đoàn Bộ binh 5 (Trung đoàn Bộ binh 866) giữ cụm Phu Học, tổ chức 2 trận đánh phản kích, tiêu diệt 600 tên địch, chặn đứng được cuộc tiến công của GM 21 và GM 27, buộc chúng phải rút chạy về Chông Ly và Mường Nọi. Trên hướng Tây Bắc, trong các ngày 21 và 22 tháng 8, địch đổ GM 21 và GM 26 xuống Điểm cao 1098, các lực lượng chiến dịch đã kịp thời phát hiện, liên tục chặn đánh, phản kích, tiêu hao, tiêu diệt địch. Đến ngày 11 tháng 9, địch bị thất bại trên hướng chính Tây Bắc, không thực hiện được kế hoạch đánh hiểm và bất ngờ, buộc phải tăng cường lực lượng và thay đổi hướng tiến công chủ yếu sang hướng Tây. Nắm chắc ý đồ của địch, Bộ Tư lệnh Chiến dịch kịp thời chỉ huy các đơn vị phòng ngự ngoan cường chiến đấu, vận dụng linh hoạt các thủ đoạn chiến đấu liên tục phản kích, ngăn chặn, sát thương, tiêu hao và tiêu diệt nhiều sinh lực địch, đánh chiếm bàn đạp, tạo thế, tạo thời cơ cho trận phản đột kích quyết định giành thắng lợi, giữ vững địa bàn chiến lược trọng yếu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến lược giao.


Thực tiễn cho thấy, để hoàn thành nhiệm vụ của chiến dịch phòng ngự, trước hết cần quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng chỉ đạo tác chiến phòng ngự. Tư tưởng chỉ đạo tác chiến phòng ngự là tư tưởng phòng ngự tích cực, nội dung được thể hiện tập trung nhất là sự kết hợp chặt chẽ giữa hai yếu tố phòng ngự và tiến công; trên cơ sở phòng ngự chu đáo, vững chắc nhất mà có kế hoạch, biện pháp chủ động tiến công địch trong suốt quá trình chiến dịch.


Thắng lợi của chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng năm 1972 đã làm chuyển biến tình hình các mặt, tạo điều kiện để chúng ta giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Những bài học kinh nghiệm xương máu rút ra từ chiến dịch, nhất là bài học về xác định loại hình chiến dịch và tư tưởng chỉ đạo tác chiến phòng ngự vẫn còn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn, góp phần quan trọng vào kho tàng nghệ thuật quân sự truyền thống và làm cơ sở để tiếp tục nghiên cứu, vận dụng trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc tương lai (nếu xảy ra).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #157 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2025, 08:57:01 am »

VẬN DỤNG NGHỆ THUẬT PHÒNG NGỰ CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG NĂM 1972 VÀO XÂY DỰNG KHU VỰC PHÒNG THỦ TRÊN ĐỊA BÀN QUÂN KHU 1 HIỆN NAY

Đại tá NGUYỄN VĂN PHƯỢNG
Nguyên Trưởng phòng Khoa học quân sự Quân khu 1


Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là địa bàn chiến lược trọng yếu đối với cách mạng Lào liên quan chặt chẽ đến tuyến vận tải chiến lược từ miền Bắc Việt Nam cho các chiến trường ba nước Đông Dương. Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng do liên quân Việt Nam - Lào tiến hành nhằm đánh bại các cuộc tiến công quy mô lớn của quân phái hữu Lào và quân đội Thái Lan trong mùa mưa năm 1972, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng, giữ vững thế chiến lược của ta ở Bắc Lào và bảo vệ sườn phải cho 2 chiến dịch tiến công Trị - Thiên và Bắc Tây Nguyên trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Lực lượng của ta tham gia chiến dịch phòng ngự gồm có 5 trung đoàn bộ binh (174, 148, 866, 335 và 88), 2 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn pháo binh, 4 tiểu đoàn pháo và súng máy phòng không, 1 tiểu đoàn xe tăng và 2 tiểu đoàn công binh của Quân tình nguyện Việt Nam. Lực lượng cách mạng của bạn Lào có 7 tiểu đoàn chủ lực, 1 đại đội xe tăng, 2 đại đội pháo binh, 2 đại đội súng máy phòng không, 1 đại đội công binh và 4 đại đội bộ đội địa phương. Bộ Tư lệnh Chiến dịch do đồng chí Vũ Lập làm Tư lệnh, đồng chí Lê Linh làm Chính ủy. Trước ngày diễn ra chiến dịch, lực lượng địch thuộc Quân khu 2, gồm 76 tiểu đoàn bộ binh (có 18 tiểu đoàn quân Thái Lan tổ chức thành các binh đoàn cơ động - GM, tương đương cấp trung đoàn), 3 tiểu đoàn pháo binh; bố trí thành 4 khu vực quanh Cánh Đồng Chum. Trong quá trình tiến công, quân phái hữu Lào và quân Thái Lan được không quân Mỹ chi viện.


Chiến dịch diễn ra 4 đợt: Đợt 1 (21.5 - 10.8.1972), địch tiến công khu vực trung gian nhằm tạo bàn đạp; ta kiên quyết ngăn chặn và tổ chức đánh phá sau lưng địch, phản kích khôi phục, giữ vững khu trung gian. Đợt 2 (11.8 - 10.9.1972), địch mở cuộc tiến công lớn vào Cánh Đồng Chum, ta lần lượt bẻ gãy các cánh quân địch, giữ vững địa bàn phòng ngự. Đợt 3 (11 - 30.9.1972), địch chuyển hướng tiến công, lấy hướng Tây là chủ yếu, ta tổ chức trận phản đột kích thứ 2, đánh bại quân địch. Đợt 4 (1.10 - 15.11.1972), địch mở đợt tiến công mới phía Nam Cánh Đồng Chum; ta tập trung lực lượng đánh trận then chốt quyết định, tiêu diệt phần lớn các cụm quân địch, sau đó phát triển sang truy kích, quét địch khỏi các điểm cao phía Nam Cánh Đồng Chum, buộc chúng phải co cụm về giữ Sảm Thông - Loong Chẹng. Trải qua 179 ngày đêm chiến đấu liên tục, ác liệt (21.5 - 15.11.1972), liên quân Việt - Lào đã đánh tổng cộng 244 trận (Quân tình nguyện Việt Nam đánh 170 trận; bạn đánh 74 trận), đánh thiệt hại nặng 3 GM (21, 23, 26), 3 tiểu đoàn quân Thái Lan và đánh thiệt hại 5 GM khác (15, 22, 24, 30, 32). Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đã đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân quy mô lớn của địch, giữ vững địa bàn chiến lược quan trọng. Thắng lợi của chiến dịch làm phá sản chiến lược "Chiến tranh đặc biệt tăng cường" của Mỳ ở Lào. Liên quân Lào - Việt giành quyền kiểm soát địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, mở ra thời cơ thuận lợi cho cuộc kháng chiến chống Mỹ ở Lào nói riêng và trên toàn chiến trường Đông Dương nói chung.


Chiến địch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là chiến dịch phòng ngự hoàn chỉnh đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân giải phóng nhân dân Lào, khẳng định sự trưởng thành về nhiều mặt: Trình độ tổ chức, hiệp đồng, trình độ chỉ huy, điều hành chiến dịch, khả năng tác chiến... của các lực lượng tham gia chiến dịch. Bằng cách đánh sáng tạo, hiệu quả, chiến dịch đã giành được thắng lợi to lớn, góp phần làm phong phú thêm về lý luận và thực tiễn tác chiến chiến dịch phòng ngự, tạo bước phát triển về nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ. Thực tế diễn biến chiến dịch cũng đã khẳng định phòng ngự là loại hình chiến dịch tất yếu trong chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Trong chiến dịch này, Việt Bắc - Quân khu 1 tự hào có sự đóng góp quan trọng của cán bộ, chiến sĩ các trung đoàn 174 và 88 - vổn là con em đồng bào các dân tộc Việt Bắc, cũng là những đơn vị đã được thành lập tại Quân khu Việt Bắc.


Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đã để lại nhiều kinh nghiệm quý, đó là: Lựa chọn thời cơ mở chiến dịch phòng ngự; phân tích, đánh giá đúng tình hình, hạ quyết tâm chính xác, tạo thời cơ giành thế chủ động trên chiến trường ngay từ những ngày đầu đánh bại các cuộc tiến công của địch; xây dựng hệ thống công sự, trận địa phòng ngự, vững chắc, liên hoàn bố trí các chốt, khu vực phòng ngự ở nơi hiểm yếu để các lực lượng có thể phối, kết hợp ngăn chặn, đánh lui, đánh bại các đợt tiến công của địch; tiến hành phòng ngự chủ động, vận dụng các biện pháp chiến thuật sáng tạo, linh hoạt; chủ động dự trữ vật chất hậu cần, kỹ thuật và khai thác triệt để các nguồn lực tại chỗ như lương thực, thực phẩm, nguồn nước, cứu chữa thương, bệnh binh; sử dụng lực lượng hợp lý, bảo đảm tác chiến liên tục, dài ngày; tiến hành tốt công tác đảng, công tác chính trị với nhiều hình thức, biện pháp hiệu quả; chỉ đạo các đơn vị tổ chức huấn luyện, diễn tập các phương án tác chiến ngay trong khu vực phòng ngự để nâng cao chất lượng chiến đấu.


Vận dụng kế thừa các bài học kinh nghiệm từ Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, lực lượng vũ trang Quân khu 1 đã tập trung xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc. Quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước và Chính phủ về xây dựng khu vực phòng thủ, trọng tâm là Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; Nghị quyết 28-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa X, Nghị định số 21-NĐ/CP của Chính phủ về khu vực phòng thủ. Trong đó, hướng vào: Xây dựng các khu vực phòng thủ có tiềm lực và có sức mạnh toàn diện nhằm ngăn ngừa, làm thất bại âm mưu và hoạt động "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị, tạo môi trường hòa bình để phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xử lý có hiệu quả các tình huống về quốc phòng, an ninh, giữ vững chủ quyền, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược, bảo vệ vững chắc khu vực và Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Lực lượng vũ trang Quân khu 1 luôn phát huy vai trò nòng cốt, triển khai toàn diện các mặt công tác xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, toàn diện và cụ thể hóa thành các kế hoạch, chương trình xây dựng khu vực phòng thủ trên từng địa bàn, địa phương cho phù hợp. Cơ quan quân sự các cấp chủ động tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng khu vực phòng thủ bảo đảm phù hợp với khả năng và đặc điểm của từng địa bàn. Đồng thời, Quân khu chú trọng làm tốt công tác nghiên cứu tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về xây dựng khu vực phòng thủ, góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh.


Chú trọng xây dựng tiềm lực về chính trị, tinh thần trong khu vực phòng thủ, lực lượng vũ trang Quân khu đã tập trung mọi nỗ lực xây dựng, củng cố hệ thống chính trị, đoàn thể quần chúng và tổ chức chính trị - xã hội các cấp, Ban Chỉ đạo về khu vực phòng thủ thường xuyên được kiện toàn, vận hành linh hoạt, hiệu quả. Xuất phát từ đặc điểm là địa bàn miền núi, dân cư thưa thớt, phân bố không đều, trình độ dân trí còn thấp, có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 1 đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo cơ quan quân sự các cấp đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương pháp giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh theo hướng đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả, phù hợp với từng đối tượng trên địa bàn, thực hiện nền nếp, theo phân cấp, bảo đảm chất lượng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Công tác chính sách xã hội, xóa đói giảm nghèo, dân tộc tôn giáo được Quân khu quan tâm và thường xuyên thực hiện hiệu quả. Nhờ đó, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt, tạo cơ sở để củng cố "thế trận lòng dân" vững chắc và phát huy sức mạnh khôi đại đoàn kết toàn dân tộc trên địa bàn. Công tác đối ngoại quốc phòng, ngoại giao nhân dân được coi trọng, góp phần xây dựng khu vực biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển. Việc kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh trên từng khu vực, địa bàn có nhiều tiến bộ tích cực. Hoạt động phối hợp giữa lực lượng Công an và Quân đội chặt chẽ, hiệu quả theo đúng tinh thần Nghị định số 03-NĐ/CP của Chính phủ, góp phần giữ vững sự ổn định về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Chất lượng tổng hợp, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang Quân khu được nâng lên rõ rệt, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh khu vực, biên giới, tạo điều kiện thuận lợi để các địa phương phát triển kinh tế - xã hội an toàn, bền vững.


Để có tiềm lực mạnh về kinh tế, ổn định về chính trị đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, trong các nghị quyết, kế hoạch công tác, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu xác định: Đẩy mạnh kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, xây dựng địa bàn an toàn về chính trị, vững mạnh về kinh tế quốc phòng. Quân khu đã chỉ đạo cơ quan quân sự các cấp tham mưu, hướng dẫn, giúp cấp ủy, chính quyền các địa phương phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường quốc phòng, an ninh. Lực lượng vũ trang Quân khu 1 phối hợp với các địa phương tập trung đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, toàn diện, xây dựng hệ thống đường tuần tra biên giới, công trình nông thôn mới; các khu kinh tế cửa khẩu, cụm công nghiệp; điều chỉnh lại thế bố trí dân cư gắn với quy hoạch phát triển kinh tế địa phương và xây dựng các phương án tác chiến phòng thủ theo phân cấp... Đồng thời, Quân khu chỉ đạo tăng cường xây dựng các cơ chế đặc thù đối với những địa phương đặc biệt khó khăn, theo phương châm ưu tiên phát triển kinh tế nhưng không làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ quốc phòng; triển khai thực hiện hiệu quả đề án bảo đảm quốc phòng trên địa bàn theo kế hoạch đã được Trung ương phê duyệt; tập trung nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh đối với các đơn vị làm kinh tế gắn với đẩy mạnh xây dựng tổ chức chính trị cơ sở địa phương vững mạnh, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Thông qua việc đẩy mạnh kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, tạo ra tiềm lực vật chất về mọi mặt nâng cao chất lượng đời sống cho nhân dân và lực lượng vũ trang, góp phần xây dựng, củng cố thế trận hậu cần, kỹ thuật và bảo đảm hoạt động của Hội đồng cung cấp trong khu vực phòng thủ ngày càng vững chắc.


Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu tập trung xây dựng bộ đội chủ lực theo hướng "tinh, gọn, mạnh", cơ động, linh hoạt, có chất lượng tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến đấu ngày càng cao, ưu tiên xây dựng các đơn vị làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, địa bàn chiến lược trọng yếu. Lực lượng bộ đội địa phương của Quân khu, nhất là cơ quan quân sự các cấp được xây dựng vững mạnh về mọi mặt, không ngừng nâng cao năng lực tham mưu, tổ chức thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự địa phương và làm nòng cốt trong xây dựng khu vực phòng thủ. Quân khu chú trọng xây dựng lực lượng dự bị động viên có chất lượng toàn diện ngày càng cao, sẵn sàng động viên thực hiện nhiệm vụ khi cần thiết. Lực lượng dân quân, tự vệ trên địa bàn Quân khu được xây dựng vững mạnh, rộng khắp, có cơ cấu hợp lý, đặc biệt coi trọng nâng cao chất lượng và độ tin cậy về chính trị, đủ sức bảo vệ trị an, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội ngay từ cơ sở. Hằng năm, lực lượng vũ trang các cấp và các đơn vị được quan tâm chỉ đạo nâng cao chất lượng huấn luyện và tổ chức luyện tập, diễn tập theo các phương án được phê duyệt bảo đảm đủ khả năng hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tác chiến phòng thủ.


Trong xây dựng thế trận phòng thủ khu vực, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu đã chỉ đạo cơ quan quân sự các cấp tích cực tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các địa phương tự cân đối ngân sách để từng bước hoàn thiện xây dựng thế trận theo hướng: Liên hoàn, vững chắc, có chiều sâu, bảo đảm chất lượng, hiệu quả, bí mật, an toàn; phù hợp với đặc điểm địa hình, thế đứng chân của các lực lượng cơ động của Bộ, Quân khu trên địa bàn và phương án tác chiến phòng thủ các cấp. Trong xây dựng công trình phòng thủ, Quân khu chủ trương kết hợp giữa làm mới với cải tạo, nâng cấp các công trình, hang động có sẵn nhằm giảm chi phí nhưng vẫn bảo đảm tốt mục đích và công năng sử dụng. Công tác xây dựng Sở Chỉ huy thời chiến của Quân khu đạt mục đích, yêu cầu đề ra. Quân khu đầu tư xây dựng khu vực phòng thủ điểm tại tỉnh Bắc Giang đảm bảo hiệu quả, thiết thực trên cơ sở đó tổ chức rút kinh nghiệm, nhân rộng trên toàn địa bàn Quân khu. Quá trình xây dựng thế trận khu vực phòng thủ, Quân khu luôn thực hiện tốt phương châm làm đến đâu chắc đến đó, gắn với công tác quản lý, bảo vệ; ưu tiên đầu tư xây dựng những công trình chiến đấu thiết yếu, quan trọng trước, sau đó từng bước hoàn thiện các công trình bảo đảm còn lại theo kế hoạch đã được phê duyệt, góp phần xây dựng khu vực phòng thủ trên địa bàn Quân khu ngày càng vững chắc, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc "từ sớm, từ xa", xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #158 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2025, 08:59:06 am »

CHIẾN DỊCH PHÒNG NGỰ CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG BÀI HỌC VỀ XÂY DỰNG TƯ TƯỞNG PHÒNG NGỰ TÍCH CỰC

Đại tá PHẠM HỮU THẮNG
Nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Nghệ thuật quân sự,
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - Bộ Quốc phòng


Phối hợp với cuộc tiến công chiến lược trên chiến trường miền Nam Việt Nam trong năm 1972, trên chiến trường Lào, Quân ủy Trung ương hai nước Việt Nam và Lào quyết định tổ chức Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Sau 179 ngày đêm chiến đấu kiên cường, dũng cảm, Quân tình nguyện Việt Nam cùng quân và dân Lào đã đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn, có tính chất chiến lược của Mỳ và phái hữu Lào, quân Thái Lan, giữ vững vùng giải phóng trọng yếu có ý nghĩa chiến lược, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường chung, tạo thế liên hoàn vững chắc cho căn cứ địa bạn Lào. Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là chiến dịch hiệp đồng binh chủng quy mô lớn1 (Lực lượng Việt Nam tham gia chiến dịch có: Sư đoàn 316 (2 trung đoàn 174 và 148), 2 trung đoàn độc lập (335 và 866), 2 tiểu đoàn đặc công (27, 41), 1 tiểu đoàn xe tăng, 2 tiểu đoàn pháo phòng không 37mm, 2 tiểu đoàn súng máy phòng không 14,5 và 12,7mm, Tiểu đoàn Pháo binh 42 (4 khẩu 130mm, 8 khẩu 122mm, 4 khẩu 85mm, 4 khẩu ĐKZ) và 2 tiểu đoàn công binh... Đến tháng 10 năm 1972 được tăng cường thêm Trung đoàn 88 thuộc Sư đoàn 308C. Lực lượng của Lào có 7 tiểu đoàn chủ lực, 1 đại đội xe tăng, 1 đại đội pháo xe kéo, 1 đại đội pháo mang vác, 2 đại đội súng máy phòng không, 1 đại đội công binh, 4 đại đội bộ đội địa phương và dân quân du kích.


Lực lượng quân địch thuộc Quân khu 2, gồm 76 tiểu đoàn bộ binh, trong đó Thái Lan có 18 tiểu đoàn, 3 tiểu đoàn pháo binh, được không quân Mỹ chi viện) hoàn chỉnh đầu tiên của ta và bạn trên chiến trường Lào. Sự chỉ đạo, chỉ huy sáng suốt, chủ động, vận dụng cách đánh linh hoạt sáng tạo, tinh thần chiến đấu dũng cảm, kiên cường của bộ đội và chỉ huy huy các cấp đã làm nên chiến thắng vang dội của chiến dịch, để lại nhiều bài học quý, trong có bài học về quán triệt tư tưởng phòng ngự tích cực1 ("Phòng ngự tích cực là phòng ngự kết hợp giữ vững trận địa với hành động tác chiến tiến công, tạo điều kiện để chuyển sang phản công hoặc tiến công, thể hiện tính tích cực của phòng ngự..." (Bộ Quốc phòng - Trung lâm Từ điển Bách khoa quân sự, Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 804)), được thể hiện ở các nội dung chủ yếu sau:


Một là, cấp chiến lược trên cơ sở đánh giá đúng tình hình, chủ động hạ quyết tâm mở chiến dịch phòng ngự từ sớm, tạo điều kiện các cấp chủ động chuẩn bị và thực hành chiến dịch đạt hiệu quả cao

Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là một cao nguyên lớn có độ cao trung bình hơn 1.000m, xen kẽ rừng rậm, núi cao hiểm trở với những lòng chảo rộng, bằng phẳng, đất bazan, mộng nương, cây cối xanh tốt. Đây là khu vực có vị trí chiến lược quan trọng: Phía Bắc là tỉnh Hủa Phăn, có căn cứ địa Trung ương của cách mạng Lào; phía Đông giáp Nghệ An, Hà Tĩnh (Việt Nam); phía Tây là Quốc lộ 13 nối liền cố đô Luông Phabăng với Thủ đô Viêng Chăn. Giữ được địa bàn quan trọng này sẽ tạo điều kiện rất thuận lợi cho cách mạng Lào phát triển, vừa bảo vệ trực tiếp vùng căn cứ địa cách mạng ở Sầm Nưa, vừa tạo thế uy hiếp và góp phần tiến công Loong Chẹng - sào huyệt của lực lượng đặc biệt Vàng Pao do Mỹ dựng lên, đồng thời tạo bàn đạp uy hiếp Thủ đô Viêng Chăn và cô đô Luông Phabăng. Không những thế, địa bàn này còn có liên quan chặt chẽ đến an ninh biên giới Việt Nam - Lào các căn cứ hậu cần và tuyến vận chuyển chiến lược từ miền Bắc Việt Nam cho chiến trường ba nước Đông Dương.


Do có vị trí chiến lược hết sức quan trọng nên Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng địa bàn giành giật quyết liệt giữa ta và địch. Trong những năm trước, cứ ta giải phóng địa bàn này vào mùa khô thì đến mùa mưa, ta gặp khó khăn về vận chuyển, tiếp tế, cơ động thì địch lại mở cuộc tiến công chiếm lại. Tuy nhiên, từ sau Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào 1971, trên chiến trường ba nước Đông Dương, thế và lực của ta đã có những chuyển biến tích cực, địch cơ bản đã lâm vào thể bị động chiến lược. Tiếp đó, từ ngày 30 tháng 3 năm 1972, trên chiến trường Việt Nam, ta mở cuộc tiến công chiến lược quy mô lớn, buộc Mỳ và quân ngụy Sài Gòn phải phải tập trung nguồn lực cho chiến trường Việt Nam.


Trên chiến trường Lào, từ cuối năm 1971, Bộ Quốc phòng Việt Nam và Bộ Chỉ huy tối cao Quân giải phóng nhân dân Lào đã mở chiến dịch tiến công Cánh Đồng Chum - Mường Sủi (Chiến dịch Z). Trong khi chiến dịch tiến công đang diễn ra (2.1972), Bộ Tổng Tư lệnh đã chỉ thị sơ bộ cho Bộ Tư lệnh Mặt trận Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng về nhiệm vụ bảo vệ và giữ vững địa bàn chiến lược mà ta mới giành được. Ngày 1 tháng 4 năm 1972, ngay khi chiến dịch tiến công sắp kết thúc, trên cơ sở bám sát diễn biến chiến trường ba nước Đông Dương và yêu cầu cần phải giữ bằng được khu vực Cánh Đồng Chum phục vụ cho yêu cầu đấu tranh chính trị của cách mạng Lào trong tình hình mới, Quân ủy Trung ương Việt Nam và Quân ủy Trung ương Lào đã quyết định tổ chức Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Nhiệm vụ chiến dịch được xác định: Hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng vũ trang cách mạng Lào, khẩn trương triển khai kế hoạch phòng thủ khu vực Cánh Đồng Chum - Mường Sủi - Xiêng Khoảng, trong bất kỳ tình huống nào cũng phải kiên quyết bảo vệ vững chắc khu vực Cánh Đồng Chum, bao gồm cả tuyến trung gian; kiên quyết đánh bại mọi cuộc tiến công quy mô lớn của địch trong mùa mưa 1972, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng, trên cơ sở đó xây dụng Cánh Đồng Chum thành một địa bàn chiến lược, căn cứ địa vững chắc...1 (Viện Khoa học quân sự - Khoa Nghệ thuật quân sự, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum mùa mưa 1972, Hà Nội, 1977, tr. 29).


Có thể nói, việc Quân ủy Trung ương hai nước Việt Nam và Lào sớm quyết định mở chiến địch phòng ngự khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn, kịp thời và sáng tạo, phù hợp với thế và lực của ta lúc đó, đồng thời đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ chiến lược đặt ra. Quyết định đúng đắn này đã tạo điều kiện để các cấp tổ chức phòng ngự ờ quy mô chiến dịch một cách chủ động, có dự kiến, có ý đồ dứt khoát, từ đó tiến hành chuẩn bị chu đáo về lực lượng, vật chất và phương án đánh địch. Đặc biệt, cấp chiến dịch đã tổ chức thế trận và lực lượng phòng ngự chiến dịch khá hoàn chỉnh, có cách đánh phù hợp, chủ động tổ chức điều hành bộ đội đánh bại cuộc tiến công lớn của địch, giữ vững địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam 1945 -1975, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 457. Cũng phải thấy rằng, trong năm 1972, ở Quảng Trị, chúng ta đã tổ chức chiến dịch phòng ngự trong điều kiện tổ chức gấp rút, không có dự kiến, nên lực lượng tiến công không còn mạnh phải gấp rút chuyển về ngăn chặn địch với chủ trương phản công không dứt khoát, cách đánh phản công không rõ ràng, lại không chuyển ngay sang phòng ngự chiến dịch để giữ vững khu vực mới được giải phóng nên đã lâm vào thế bị động lúng túng... gây ra tổn thất không nhỏ về sinh lực và vũ khi phương tiện).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #159 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2025, 09:00:34 am »

Hai là, tổ chức các khu vực phòng ngự vững chắc liên hoàn, có lực lượng cơ động hợp lý thực hiện thắng lợi các trận phản kích then chốt, tiêu diệt lớn sinh lực địch, giữ vững địa bàn chiến lược

Nội dung cơ bản của tư tưởng phòng ngự tích cực được thể hiện tập trung nhất trong sự kết hợp một cách chặt chẽ giữa hai yếu tố phòng ngự và tiến công. Tức là phải tổ chức phòng ngự chu đáo, vững chắc, trên cơ sở đó có kế hoạch, biện pháp chủ động tiến công đánh trả địch trong suốt quá trình đánh địch.


Ngay trong những ngày mở đầu Toàn quốc kháng chiến (12.1946), trong cuộc chiến đấu giam chân quân Pháp ở Hà Nội, trước tình hình so sánh lực lượng chênh lệch, ta đã đề ra biện pháp tác chiến chứa đựng tư tưởng phòng ngự tích cực: "Phải sử dụng những lực lượng nhỏ, triệt để lợi dụng địa hình, địa vật ở từng khu, dựa vào những ngôi nhà có cấu trúc kiên cố, xây dựng nhiều chướng ngại vật trên các đường phố đánh địch bằng mọi hình thức..."1 (Võ Nguyên Giáp, Chiến đấu trong vòng vây, Nxb Quân đội nhân dân - Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1995, tr. 35, 81); "nội công ngoại kích" nhằm gây cho quân địch sự lúng túng phải đối phó ở cả hai mặt, bên trong và bên ngoài, đồng thời bảo đảm tính cơ động của lực lượng ta, không bị cố định trong những phòng tuyến cứng nhắc; "kết hợp lối đánh trận địa với cách đánh du kích... được gọi là "du kích trận địa chiến"...2 (Võ Nguyên Giáp, Chiến đấu trong vòng vây, Nxb Quân đội nhân dân - Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1995, tr. 35, 81).


Trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, quán triệt tư tưởng phòng ngự tích cực, trong tổ chức phòng ngự, Bộ Tư lệnh Chiến dịch một mặt tổ chức thành các khu vực phòng ngự vững chắc liên hoàn, một mặt khác tổ chức các lực lượng cơ động hợp lý, kết hợp chặt chẽ cùng lực lượng tại chỗ tích cực tiến công tiêu diệt lớn sinh lực địch giữ vững khu vực phòng ngự. Xuất phát từ thực tế, Bộ Tư lệnh Chiến dịch nhận thấy, không gian chiến dịch phòng ngự rất rộng (trong phạm vi tứ giác: Mường Sủi - Noọng Pẹt - thị xã Xiêng Khoảng - Thẩm Lửng với chính diện 50km, chiều sâu 60km), lượng địch đông (dự kiến chúng có thể huy động đến 60 tiểu đoàn bộ binh, pháo binh), có nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại, có thể tổ chức tiến công từ nhiều hướng, cả chính diện, bên sườn, phía sau. Trên cơ sở đó, Bộ Tư lệnh Chiến dịch tổ chức 5 khu vực phòng ngự gồm: Khu trung tâm Cánh Đồng Chum (khu vực phòng ngự chủ yếu), khu trung gian Hin Tặng, khu vực phòng ngự thứ yếu Noọng Pẹt và 2 khu vực phối hợp tác chiến từ xa, khu vực Mường Sủi và thị xã Xiêng Khoảng.


Tại từng khu vực phòng ngự, nhất là ở khu vực phòng ngự chủ yếu, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã chỉ đạo xây dựng hệ thống công sự - vật cản, các trận địa hoả lực, đường cơ động cho các lực lượng (bộ binh, tăng - thiết giáp, pháo binh, pháo phòng không...); xây dựng hệ thống kho, trạm bảo đảm vật chất hậu cần, kỹ thuật, cứu chữa thương bệnh binh. Trước khi chiến dịch chuyển vào phòng ngự, một lượng lớn vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm và các loại nhu yếu phẩm cần thiết đã được đưa vào địa bàn chiến dịch, bảo đảm đủ đánh địch từ 3 đến 4 tháng. Hệ thống công sự, trận địa chiến dịch được xây dựng vững chắc, nhiều tầng, nhiều lớp, giao thông hào nối liền giữa các cứ điểm, tạo thế liên hoàn, vững chắc, hiểm hóc. Đặc biệt, trong các cứ điểm quan trọng, lực lượng chiến dịch còn xây dựng được hệ thống hầm ngầm vững chắc, bảo đảm vừa hạn chế sát thương, vừa cơ động chiến đấu kịp thời.


Cho đến thời điểm địch mở cuộc tiến công, chúng ta đã cơ bản xây dựng được hệ thống trận địa công sự hình thành thế trận phòng ngự liên hoàn, vững chắc, có chiều sâu, đảm bảo tác chiến dài ngày, vừa là chỗ dựa vững chắc khi chiến đấu ngăn chặn cuộc tiến công của địch, vừa là bàn đạp tạo điều kiện để các lực lượng cơ động thực hiện phản kích, phản đột kích tiêu diệt lớn sinh lực địch.


Về tổ chức lực lượng, Bộ Tư lệnh Chiến dịch sử dụng 2 trung đoàn làm nhiệm vụ phòng ngự (Trung đoàn 174 và Trung đoàn 866), 2 trung đoàn làm nhiệm vụ cơ động (Trung đoàn 148 và Trung đoàn 335). Ở cấp chiến thuật, mỗi trung đoàn làm nhiệm vụ phòng ngự lại giữ 1 tiểu đoàn làm lực lượng cơ động (không kể, mỗi tiểu đoàn phòng ngự có từ 1 - 2 đại đội làm nhiệm vụ cơ động). Như vậy, toàn chiến dịch ta có 6 tiểu đoàn phòng ngự, 8 tiểu đoàn cơ động. Tỷ lệ lực lượng cơ động chiếm 57% tổng số tiểu đoàn của chiến dịch1 (Viện Khoa học quân sự - Khoa Nghệ thuật quân sự, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum mùa mưa 1972, Tlđd, tr. 134).


Với tỷ lệ lực lượng cơ động tương đổi hợp lý và thế trận chiến đấu được chuẩn bị trước, chiến dịch phát huy cao độ hộ thống công sự, trận địa tổ chức phòng ngự chu đáo, vững chắc, trên cơ sở đó điều động lực lượng kịp thời cho các hướng thực hiện các trận phản kích thắng lợi, diệt nhiều sinh lực địch, giữ vững địa bàn phòng ngự. Đợt 1 (21.5 - 10.8.1972), ta phản kích thắng lợi ở Phu Phaxay, đẩy lui cánh quân hướng Đông Nam về Tôm Tiêng (6.6), khôi phục lại trận địa ở Điểm cao 1800, đánh tan 6 tiểu đoàn (có 2 tiểu đoàn Thái Lan) ở Hin Đăm, Thẩm Lửng (3.7)... Đợt 2 (11.8- 10.9.1972), địch chuyển hướng tiến công vào trung tâm Cánh Đồng Chum, sử dụng 4 GM đánh đường bộ theo 3 hướng (Đông Nam, Tây và Đông Bắc), kết hợp với 2 GM đổ bộ đường không xuống Phu Keng đánh hướng Tây Bắc, liên quân Việt Nam - Lào kịp thời ngăn chặn, đẩy lui địch ờ Phu Luông, Phu Hủa Sang, Phu Thông, đồi Năm Mỏm, Điểm cao 1294, Bản Lao, Phu Học, đồng thời tập trung lực lượng thực hiện thắng lợi trận phản đột kích then chốt ở Phu Keng, diệt và bắt hơn 700 địch (30.8 - 3.9), giữ vững trận địa.


Đặc biệt, trong đợt 4 (1.10 - 15.11.1972), địch huy động 4 GM và 2 tiểu đoàn dồn sức tiến công nhằm chiếm một phần phía Nam Cánh Đồng Chum để gây áp lực cho đàm phán chính trị (15.10). Trước cuộc tiến công lớn của địch, liên quân Việt Nam - Lào trên từng khu vực phòng ngự, dựa vào công sự trận địa vừa kiên cường chiến đấu bảo vệ các trận địa phòng ngự trọng yếu, như: Phu Tăng, Phu Hủa Sang, Phu Seo..., vừa tích cực sử dụng lực lượng cơ động bản thân đánh vào bên sườn, phía sau đội hình của địch, làm đảo lộn thế trận tiến công hoàn chỉnh của địch, buộc chúng phải dồn sức và bộc lộ lực lượng lớn ở Nam cánh đồng Căng Xẻng. Do có dự kiến và chuẩn bị lực lượng từ trước, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã nhanh chóng triển khai lực lượng dự bị cơ động lớn của chiến dịch1 (Gồm 2 trung đoàn cơ động (335 và 148), 8 xe tăng thiết giáp, 8 khẩu pháo xe kéo, 2 tiểu đoàn súng máy cao xạ... (Dẫn theo: Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tổng kết những trận đánh then chốt chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2011, tr. 733)) cùng với lực lượng cơ động và lực lượng chốt trong khu vực hình thành thổ bao vây chặt quân địch ở Nam cánh đồng Căng Xẻng, tiến hành thắng lợi trận then chốt quyết định, tiêu diệt phần lớn cụm quân địch, sau đó tiếp tục tiến công, truy quét địch khỏi Nam Cánh Đồng Chum, kết thúc thắng lợi chiến địch phòng ngự2 (Trong trận then chốt này ta diệt 1.240 tên, bắt 79 tù binh, thu 1.500 súng các loại (Dẫn theo: Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tổng kết những trận đánh then chốt chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Sđd, tr. 729)).


Ba là, hiệp đồng chặt chẽ với bạn sử dụng mọi lực lượng đánh địch rộng khắp, đánh địch từ xa để phá thế chủ động tiến công của địch

Phá thế chủ động tiến công của địch cũng là một nội dung trong quán triệt tư tưởng phòng ngự tích cực. Trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng 1972, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã sử dụng lực lượng thông thuộc địa bàn, nhất là lực lượng vũ trang tại chỗ của bạn để tổ chức luồn sâu nắm tình hình ngay từ khi chúng chuẩn bị tiến công; từ đó, tổ chức lực lượng cơ động đánh địch từ xa trên các hướng, phá vỡ thế chủ động tiến công, làm giảm áp lực tiến công của chúng vào các trận địa phía trước.


Do địa bàn phòng ngự rất rộng, Bộ Tư lệnh Chiến dịch chủ trương phân công các khu vực phòng ngự của ta và bạn tương đối độc lập. Tuy nhiên, khi địch tiến công, các đơn vị bộ đội Việt Nam và Lào đều chủ động đánh địch theo phạm vi đảm nhiệm, kiên quyết đẩy lùi mọi đợt tiến công, tạo thế trận đánh địch rộng khắp, nhất là trên hướng phòng ngự chủ yếu của chiến dịch. Khi đánh địch ở khu vực tiếp giáp, hai bên đã hiệp đồng chặt chẽ trong từng tình huống tác chiến, bảo đảm bọc lót, chi viện cho nhau trong suốt quá trình chiến đấu, tạo sức mạnh tiêu diệt địch, giữ vững trận địa.


Chiến dịch đã vận dụng rộng rãi lối đánh nhỏ, đánh vừa của các lực lượng bộ binh, đặc công, pháo binh kiềm chế các trận địa pháo của địch, đánh phá căn cứ hậu phương của chúng, như: Sử dụng Tiểu đoàn Đặc công 41 và pháo binh kết hợp với lực lượng bạn tổ chức các đội luồn sâu Loong Chẹng, Tôm Tiêng...; hay sử dụng pháo binh và cao xạ các cấp khống chế máy bay và bãi đồ máy bay của địch. Đặc biệt, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã sử dụng Trung đoàn 174 tổ chức phòng ngự ở khu vực trung gian làm nhiệm vụ ngăn chặn, phá thể tiến công của địch trước khi chúng đánh vào Cánh Đồng Chum. Tại các đơn vị làm nhiệm vụ phòng ngự ở phía trước cũng tổ chức bộ phận đánh địch từ xa bằng phục kích, tập kích, bẳn tỉa, tập kích hỏa lực...


Thực tế, các hoạt động đánh địch rộng khắp, đánh địch từ xa trong chiến dịch đã góp phần tiêu hao lực lượng địch, buộc địch phải bộc lộ lực lượng sớm và triển khai đội hình ở bị động, tạo điều kiện để ta có điều kiện tổ chức phòng ngự vững chắc và phản đột kích giành thắng lợi.


Có thể nói, đúc kết kinh nghiệm từ những trận chiến đấu phòng ngự trước đó, tới năm 1972, trước yêu cầu chiến lược của hai nước Việt Nam và Lào phải giữ bằng được Cánh Đồng Chum, ta và bạn đã mở Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng - chiến dịch phòng ngự hiệp đồng binh chủng quy mô lớn hoàn chỉnh đầu tiên của Quân đội ta - Nghệ thuật chiến dịch phòng ngự đã có bước phát triển nhảy vọt1 (Trung tướng Lê Trọng Tấn, Mấy vấn đề về chỉ đạo và chỉ huy tác chiến, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1979, tr. 140). Nhờ quán triệt tư tưởng phòng ngự tích cực, ta đã quyết định mở chiến dịch phòng ngự, tạo điều kiện để các cấp tổ chức phòng ngự một cách chủ động. Trong chuẩn bị và thực hành chiến dịch, ta đã xây dựng được một thế trận phòng ngự hoàn chỉnh dựa vào các khu vực phòng ngự có trận địa vững chắc, liên hoàn, có chiều sâu; tổ chức các lực lượng cơ động hợp lý, kết hợp chặt chẽ giữa ngoan cường chiến đấu giữ vững trận địa với kiên quyết liên tục tổ chức phản kích, phản đột kích tiêu diệt lớn sinh lực địch. Đồng thời, ta và bạn hiệp đồng chặt chẽ, sử dụng mọi lực lượng đánh địch rộng khắp, đánh địch từ xa để phá thế chủ động tiến công của chúng. Bằng cách đánh phòng ngự tích cực cùng với sự chỉ đạo, chỉ huy sáng suốt, chủ động, tinh thần chiến đấu dũng cảm, kiên cường của bộ đội và chỉ huy các cấp đã làm nên chiến thắng vang dội của chiến dịch và để lại bài học lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam ngày nay.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM