Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:57:24 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hồ sơ mật 1963 - Từ các nguồn tài liệu của Chính phủ Mỹ  (Đọc 25225 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1136



« Trả lời #20 vào lúc: 23 Tháng Sáu, 2026, 09:43:04 am »

QUANG CẢNH TẠI ĐÀI PHÁT THANH HUẾ NGÀY 8/5/1963


Đoàn người biểu tình tháo chạy về hướng chùa Từ Đàm, nhưng khi tới Bến Ngự thì bị chặn lại lại bởi dây thép gai. Họ ngồi xếp bằng ngay trên mặt đường và tiếp tục cầu nguyện. Lúc này (3 giờ chiều) dân chúng khắp nẻo đường thành phố tụ tập về đây hợp cùng đoàn biểu tình, đông đến 1500 người. Một cuộc đối đầu xảy ra khi đoàn người biểu tình cố gắng vượt qua hàng rào kẽm gai băng qua cầu Bến Ngự. Nhiều đợt phóng hơi cay của đội quân chống biểu tình và đội quân khuyển (chó nghiệp vụ) tấn công nhằm giải tán đám đông, nhưng đều thất bại. Một quan chức chính phủ đứng trên xe vận tải, sử dụng loa phóng thanh kêu gọi quần chúng Phật tử, mà phần đông là học sinh trung học và sinh viên đại học, giải tán. Lời kêu gọi được đáp trả lại bằng những tiếng la hét khi người phát ngôn chính phủ đổ lỗi cho tình trạng bất ổn này là do Việt cộng gây nên1 (Tham chiếu: FRUS, 1961-1963 III, Document 146, pp. 346- 347 (https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1961-63v03/pg_346)).


Sau một thời gian dài bế tắc, vào khoảng 6 giờ 30 chiều, đội quân hỗn hợp chống bạo động đeo mặt nạ quyết định giải tán đoàn biểu tình bằng cách phun một loại chất lỏng màu đỏ nâu lên trên đầu những người biểu tình đang ngồi cầu nguyện. Dân chúng la hét, chạy tứ tung, người thì ôm đầu quằn quại, kẻ thì ngã gục, giày dép vứt ngổn ngang. Kết quả không có người chết, nhưng có 67 Phật tử phải nhập viện vì thương tích hóa học với các triệu chứng bao gồm phồng rộp nghiêm trọng trên da và các bệnh về đường hô hấp2 (Tham chiếu: FRUS, 1961-1963 III, Document 146, pp. 346- 347 (https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1961 - 63v03/pg_346)). Đoàn biểu tình đã kịch liệt phản đối việc sử dụng các khí độc và việc này đã trở thành một thảm họa cho ông Ngô Đình Diệm trong quan hệ với công chúng và với Mỹ3 (Tham chiếu: Jones, Howard (2003). Death of a Generation: how the assassinations of Diem and JFK prolonged the Vietnam War. New York City, New York: Oxford University Press. ISBN: 978-01 95052862, trang 261 -262 & 263-264).


Đến nửa đêm, tình trạng căng thẳng lên cao độ. Lệnh giới nghiêm và thiết quân luật của Đại tá Đỗ Cao Trí được ban hành và đọc nhiều lần trên đài phát thanh. Tin tức lan truyền rằng có 3 người đã chết và phóng viên Newsweek cho hay cảnh sát đã triển khai súng phóng khí blister gas vào đám đông biểu tình. Báo cáo trích dẫn nguồn tin đáng tin cậy từ văn phòng Cố vấn Ngô Đình cẩn cho biết ông Diệm không thỏa hiệp và đã lập kế hoạch cho một thách thức bằng quân sự1 (Nguyên văn: a military showdown) chống lại các Phật tử2 (Tham chiếu: FRUS, 1961-1963 III, Document 146, pp. 346-347 (https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1961-63v03/ pg_346) và Jones, Howard (2003). Death of a Generation: how the assassinations of Diem and JFK prolonged the Vietnam War. New York City, New York: Oxford University Press. ISBN: 978-95052862, trang 261 -262 & 263-264) Tham tá lãnh sự Mỹ John Helble, thường trú ở Huế, trong một báo cáo về Tòa Đại Sứ ở Sài Gòn nói rằng quân đội Nam Việt Nam đã sử dụng hơi cay và "có thể là một loại khí gây mụn nước ngoài da" để giải tán đoàn người biểu tình của Phật giáo3 (Tham chiếu: FRUS, 1961-1963 III, Document 147, pp. 348 https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1961 -63v03/ pg_348). Helble báo cáo rằng chất này, mặc dù chưa được xác định, đã dấy lên mối lo ngại của Bộ Ngoại giao Mỹ rằng khí độc đã được sử dụng, vì các triệu chứng không phù hợp với tiêu chuẩn hơi cay4 (Tham chiếu: Jones, Howard (2003). Death of a Generation: how the assassinations of Diem and JFK Prolonged the Vietnam War. New York City, New York: Oxford University Press. ISBN: 978-01 95052862, trang 261 -262 & 263-264).


Sau khi nhận được các báo cáo, Ngoại trưởng Mỹ Dean Rusk đã hai lần chỉ thị ông William Trueheart, người xử lý thường vụ Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn "yêu cầu ông Diệm nên hoà giải với Phật giáo và báo cáo rõ hơn về khói hóa học đã sử dụng để đàn áp Phật tử". Điện văn của ông Rusk nói thêm: "Ông Diệm nên đích thân ra Huế gặp các nhà lãnh đạo Phật giáo, nói chuyện với họ và rút quân đội ra khỏi Huế, thay thế bằng lực lượng Cảnh sát. Chuyện ông Quang (Thích Trí Quang) và các nhà lãnh đạo Phật giáo không thực là Việt cộng. Chính quyền Việt Nam cần phải tránh những sai lầm trong việc xác định một cách tự động những người biểu tình và các nhà lãnh đạo của họ là Việt cộng, nếu muốn thành công trong nỗ lực kiểm soát tình hình"1 (Tham chiếu: FRUS, 1961-1963 III, Document 147, pp. 348 (https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1961-63v03/ pg_348)).


Ông Trueheart đến phủ Tổng thống gặp ông Nguyễn Đình Thuần, Bộ trưởng Phủ Tổng thống kiêm An ninh Quốc phòng, vào trưa ngày 4/6/1963. Ông Trueheart cho ông Thuần biết là các triệu chứng của các nạn nhân phù hợp với những khí mù tạt và hội đủ yếu tố để Hoa Kỳ tố cáo chế độ VNCH thực hiện các cuộc tấn công hóa học2 (Tham chiếu: FRUS, 1961-1963 III, Document 149, pp. 349-351 (https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1961-63v03/d149) và Hammer, Ellen J. (1987). A Death in November: America in Vietnam, 1963. New York City, New York: E. p. Dutton. ISBN: 978-0195052862, trang 136). Sau buổi họp, ông Nguyễn Đình Thuần đồng ý mở cuộc điều tra về việc quân đội sử dụng vũ khí hóa học đàn áp người biểu tình do Tướng Trần Văn Đôn đứng đầu. Ủy ban này cũng bao gồm Quân Y trưởng và Trung tá Liêm Trưởng ban Quân Dụng, thuộc cấp của ông Thuần1 (Tham chiếu: FRUS, 1961-1963 III, Document 151, pp. 352-353 (https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1961-63v03/dl 51)).


Khác với chủ trương mềm mỏng của Đại sứ Nolting đang tạm nghỉ phép, Trueheart cảnh cáo chính quyền Diệm rằng Mỹ có thể ngưng viện trợ nếu chính quyền còn tiếp tục đàn áp Phật giáo2 (Nguyên văn: U. S. support for CVN could not be maintained in face of bloody repressive action at Hue). Ông Thuần cho ông Trueheart biết Hội đồng Bộ trưởng chính phủ đã đề nghị thành lập một Ủy Ban Liên Bộ để cứu xét các đòi hỏi của Phật giáo như ông Trueheart yêu cầu từ ngày 1/6/1963, và ông Diệm đã chấp thuận3 (Tham chiếu: FRUS, 1961-1963 III, Document 149, pp. 349-351 (https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1961-63v03/ d149) và FRUS, 1961-1963 III, Document 151, pp. 352-353 (https:// history.state.gov/historicaldocuments/frus1961-63v03/d151)).


Nhưng khoảng 5 giờ chiều cùng ngày, Bộ Tư lệnh Quân viện Mỹ tại Việt Nam xin ý kiến ông Trueheart về việc Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội yêu cầu Mỹ giúp không vận 300 cảnh sát từ Vũng Tàu ra Huế để dập tắt các cuộc biểu tình tại đây. Ông Trueheart đã từ chối4 (Tham chiếu: FRUS, 1961-1963 III, Document 150, pp. 351-352 (https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1961-63v03/d150)).


Kết quả cuộc điều tra của tướng Đôn sau đó được báo cáo về Washington vào ngày 06/06/1963 cho biết hơi cay được sử dụng trong ống thủy tinh là thành phần hoá lỏng sẽ biến thành khí khi sử dụng. Hơi cay này lấy từ kho vũ khí cũ còn lưu lại của người Pháp. Vào ngày 18/6/1963, các nhà hóa học của quân đội Mỹ tại Edgewood Arsenal, Maryland, xác nhận từ mẫu cung cấp rằng chất khí được sử dụng là một loại hơi cay từng được sử dụng bởi người Pháp trong Thế chiến thứ nhất1 (Tham chiếu: FRUS, 1961-1963 III, Document 151, pp. 352-353 (https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1961-63v03/d151) và Jones, Howard (2003). Death of a Generation: how the assassinations of Diem and JFK prolonged the Vietnam War. New York City, New York: Oxford University Press. ISBN: 978- 0195052862, trang 261-262 & 263-264).


Lời Kết

Năm mươi năm trôi qua, một thời gian đủ dài để chúng ta nhìn lại lịch sử. Chúng ta đã thấy rằng chính quyền của Tổng thống Ngô Đình Diệm đã không giải quyết khủng hoảng bằng phương pháp hoà bình mà dùng giải pháp vũ lực bằng cách đem binh sĩ tấn công, phong toả các chùa chiền, bắt các nhà sư và các đại diện của đảng phái, đàn áp những người dân biểu tình vô tội với cả vũ khí hóa học do quân đội Pháp để lại và quy tội cho họ có liên hệ với Cộng sản. Các hành động này không những không làm êm dịu được tình hình mà còn làm khủng hoảng đi đến bùng nổ, tự làm mất sự ủng hộ của quần chúng và của các quốc gia trên thế giới.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1136



« Trả lời #21 vào lúc: 23 Tháng Sáu, 2026, 09:44:20 am »

CHIẾN DỊCH TỔNG TẤN CÔNG CÁC CHÙA ĐÊM 20-8-1963
VÀ CÁC HỆ QUẢ


Lời dẫn

Nội dung phần này căn cứ theo Hồ sơ mật của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ về cuộc chiến Việt Nam, được giải mật từ ngày 13-6-2011.

Văn bản tiếng Anh chúng tôi sử dụng được lấy từ trang nhà của Đại Học Mount Holyoke College1 (https://www.mtholyoke.edu/acad/intrel/pentagon2/pent7.htm).

The Pentagon Papers (Hồ Sơ Ngũ Giác Đài) là tên gọi tắt một hồ sơ tối mật của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ về cuộc chiến Việt Nam. Theo Wikipedia, hồ sơ này tên chính thức là "United States - Vietnam Relations, 1945-1967: A Study Prepared by the Department of Defense" (Quan Hệ Mỹ-Việt, 1945-1967: Nghiên Cứu của Bộ Quốc Phòng).


Hồ sơ này được giải mật và phổ biến công khai từ năm 2011. Chúng tôi chỉ chuyển dịch và sử dụng một phần nội dung liên quan chứ không phải toàn văn hồ sơ.

Nội dung phần này sẽ cho biết về tình hình diễn biến sau khi ông Ngô Đình Nhu chỉ huy Lực Lượng Đặc Biệt và cảnh sát dã chiến tổng tấn công các chùa đêm 20-8 rạng ngày 21-8-1963, bắt giam hơn 1.400 Tăng Ni Phật tử.

Một số ghi nhận về các nội dung nổi bật trong hồ sơ này như sau:

- Mỹ bất mãn vì ông Diệm không hòa giải với Phật giáo, và trận tổng tấn công các chùa đã xé bỏ bản Thông Cáo Chung 16-6-1963 mang chữ ký Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết và Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

- Quân đội VNCH bất mãn vì bị dân chúng đổ tội tấn công các chùa, trong khi thực tế quân đội không biết gì về việc ông Ngô Đình Nhu ra lệnh cho Đại Tá Lê Quang Tung dẫn Lực Lượng Đặc Biệt bất ngờ tấn công các chùa.

- Tự ý các tướng lãnh, đầu tiên là Tướng Lê Văn Kim, cụ thể dò ý người Mỹ về nhu cầu loại trừ ông bà Nhu ra khỏi chính phủ. Tướng Kim nói quân đội không muốn bị dân chúng đổ tội là đàn áp Phật giáo và nói quân đội sẵn sàng đoàn kết để đảo chánh.

- Bộ Trưởng Nguyễn Đình Thuần và Chánh Văn Phòng Phủ Tổng Thống Võ Văn Hải đều nói với Mỹ là cần loại ông bà Nhu ra khỏi chính phủ.

- Bộ Trưởng Ngoại Giao Vũ Văn Mẫu từ chức Ngoại Trưởng, và cạo đầu như một nhà sư để phản đối tấn công chùa.

- Thân phụ bà Nhu là Luật sư Trần Văn Chương từ chức Đại sứ VN ở Hoa Kỳ, thân mẫu bà Nhu là bà Thân Thị Nam Trân từ chức Quan sát viên VNCH ở Liên Hiệp Quốc để phản đối chế độ ông Diệm.

- Sinh viên và học sinh từ đệ nhất cấp trở lên đã biểu tình, xuống đường đông đảo, phản đối chế độ ông Diệm.

- Ông Cabot Lodge tới VN, nhận chức Đại sứ Mỹ tại VN, tiến hành kế hoạch theo dõi và ủng hộ các tướng lãnh Việt Nam đảo chánh, muốn giữ ông Diệm trong khi loại trừ ông bà Nhu.

- Phật giáo hoàn toàn đứng ngoài các kế hoạch đảo chánh; trong khi cả ngàn vị sư bị giam, một số vị lãnh đạo thoát được, trong đó Thầy Thích Trí Quang vào được Tòa Đại Sứ Mỹ để tỵ nạn.

Độc giả có thể đối chiếu với nguyên bản Anh ngữ được trình bày song song. Bản Việt dịch của Cư sĩ Nguyên Giác.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1136



« Trả lời #22 vào lúc: 23 Tháng Sáu, 2026, 09:46:13 am »

HỒ SƠ NGŨ GIÁC ĐÀI ẤN BẢN GRAVEL1 - TẬP 2, CHƯƠNG 4:

"SỰ SỤP ĐỔ CỦA CHẾ ĐỘ NGÔ ĐÌNH DIỆM" TỪ THÁNG 5 ĐẾN THÁNG 11 NĂM 1963 TRANG 201 - 276
(Hồ sơ này có nhiều ấn bản đã được lưu hành. Ấn bản Gravel (Gravel Edition), gọi theo tên người chủ trương thực hiện là Mike Gravel, được Noam Chomsky và Howard Zinn biên tập và thêm các chú giải, đồng thời kèm theo một phụ lục gồm các bài phân tích về nguyên nhân và diễn tiến của cuộc chiến tranh Việt Nam, cũng do Chomsky and Zinn biên tập. Do đó, đây được xem là ấn bản đầy đủ nhất)


PHẦN 2, TRANG 232 - 276

III. CABOT LODGE CHỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM: TỪ NGÀY 20 THÁNG 8 ĐẾN NGÀY 2 THÁNG 10

A. Chiến Dịch Tấn Công Các Chùa và Hậu Quả

Không lâu sau thời điểm nửa đêm ngày 21-8, vừa sáu ngày sau khi Đại sứ Hoa Kỳ Frederick Nolting bực dọc rời Việt Nam, ông Nhu đã đập tan bất kỳ ảo vọng còn sót lại nào về một phương cách hòa giải của chính phủ ông Diệm với người Phật tử, và cũng phản bội lời cam kết của ông Diệm với Nolting khi ông đại sứ này rời Việt Nam, bằng việc tổ chức một trận tổng tấn công các ngôi chùa Phật giáo. Tại Sài Gòn, Huế và các thành phố ven biển khác, đội quân xung kích riêng của chế độ - Lực Lượng Đặc Biệt do Hoa Kỳ huấn luyện - và cảnh sát dã chiến đã xông vào các ngôi chùa và bắt hàng trăm vị sư, và như thế đã phá hủy chính sách Hoa Kỳ và ghi dấu điểm khởi đầu sự cáo chung của chế độ ông Diệm.


Vào ngày 18-8, mười tướng lãnh cao cấp đã họp với nhau và quyết định sẽ yêu cầu ông Diệm tuyên bố thiết quân luật để cho phép họ đưa các vị sư từ ngoại ô Sài Gòn trở về lại tỉnh và chùa riêng của họ, với hy vọng giảm căng thẳng ở thủ đô. Trong những tướng dự buổi họp có Tướng Tôn Thất Đính, Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô và là Tư Lệnh Quân Khu 3, và Tướng Huỳnh Văn Cao, Tư Lệnh Quân Khu 4, cả hai tướng này được giữ các chức vụ đó vì trung thành với chế độ. Có lẽ một trong hai, hoặc cả hai vị tướng này đã báo cáo kết quả buổi họp lên ông Diệm và Nhu.


Nhưng dù sao thì ông Nhu cũng đã quyết định xóa sổ sự chống đối của Phật giáo và muốn đặt Hoa Kỳ vào chuyện đã rồi khi tân Đại sứ Mỹ Henry Cabot Lodge đến. Ông tin là Mỹ sẽ phải bực dọc chấp nhận, như họ đã luôn làm thế trong quá khứ. Chiều ngày 20-8, ông Nhu gặp một số ít tướng lãnh, trong đó có các tướng Trần Văn Đôn, Trần Thiện Khiêm và Tôn Thất Đính, những người đã đề nghị thiết quân luật với ông. Với kế hoạch tấn công các chùa đã [bí mật] chuẩn bị xong, ông Nhu bảo các tướng này hãy đề nghị lệnh thiết quân luật lên ông Diệm. Sau đó, trong buổi họp ngay trong đêm ấy, ông Diệm chấp thuận kế hoạch của các tướng lãnh, và vào nửa đêm sắc lệnh ban hành với chữ ký của Tướng Đôn, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội. Trong khi các tướng lãnh hoàn toàn không biết gì thì trước đó ông Nhu đã có lệnh cho Lực Lượng Đặc Biệt của Đại Tá Lê Quang Tung và cảnh sát dã chiến. Một khi lệnh thiết quân luật đang có hiệu lực, quân đội sẽ do đó bị quy trách về những vụ càn quét. Khi ấy, Nhu ra lệnh xuất trận và chiến dịch tấn công chùa bắt đầu. Để đẩy xa hơn việc làm cho quân đội bị liên lụy, một số cảnh sát dã chiến còn mặc quân phục lính nhảy dù. Các chùa bị lục soát, quậy phá tại tất cả các thành phố lớn ở Nam VN, và hơn 1400 người của Phật giáo đã bị bắt, chủ yếu là các vị sư. Trong trận tấn công vào Chùa Xá Lợi ở Sài Gòn, có khoảng 30 vị sư bị thương, và nhiều vị sau đó được xem như mất tích; số thương vong chính xác chưa bao giờ được xác định. Ông Diệm đã chấp thuận lệnh thiết quân luật mà không tham khảo nội các của ông, nhưng vẫn không rõ là ông có biết và chấp thuận kế hoạch tấn công các chùa của ông Nhu hay không. Đáng chú ý là sau đó ông Diệm cũng không bao giờ tìm cách tách biệt bản thân ông với ông Nhu hay là với sự kiện tấn công các chùa.


Trong khi sắc lệnh thiết quân luật cho Tướng Đôn quyền chỉ huy tất cả binh chủng, thì trong thực tế Tướng Đính và Đại Tá Tung đã nhận lệnh trực tiếp từ Dinh Tổng Thống. Do vậy, khi những trận tấn công chùa diễn ra, Tướng Đôn ở văn phòng Tham Mưu Trưởng không biết gì cả. Trong cuộc nói chuyện kéo dài hôm 23-8 với một viên chức tình báo CIA1 (Nguyên tác dùng CAS, viết tắt của Saigon Office of the U.S. Central Intelligence Agency (Văn phòng CIA tại Sài Còn)), Tướng Đôn nói rằng lệnh thiết quân luật chỉ là giai đoạn đầu trong một kế hoạch lớn hơn của các tướng lãnh. Tuy nhiên, họ bị bất ngờ vì những trận tấn công vào các chùa và vì việc Tướng Đính nhanh chóng kiểm soát được địa phương Sài Gòn theo thiết quân luật.


Khi chuẩn bị kế hoạch tấn công các chùa, ông Nhu đã cực kỳ cẩn trọng, không để lộ ra lời nào cho các nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ (mặc dù phía Phật tử và truyền thông Hoa Kỳ trước đó đã có tin rò rì từ những nguồn tin riêng của họ). Vào buổi sáng sau vụ tấn công, Richardson, trưởng phòng CIA và là dân sự Hoa Kỳ cao cấp ở Sài Gòn, nói rõ và nhấn mạnh với phóng viên Halberstam1 (Phóng viên của báo New York Times) rằng ông không hề biết trước trận tấn công chùa. Để cô lập thêm phía Hoa Kỳ trong việc lượng định chính xác khi chiến dịch tiến hành, ông Nhu đã cho cắt đường dây điện thoại ở Tòa Đại Sứ Mỹ cũng như ở nhà của tất cả các viên chức Mỹ cao cấp ngay sau khi chiến dịch bắt đầu. Nỗ lực của Nhu đã có hiệu quả như ông muốn. Phải nhiều ngày sau đó, các viên chức ngoại giao Mỹ tại Sài Gòn và các viên chức ở thủ đô Washington mới có thể liên kết được các sự kiện đã xảy ra. Tại Washington, Harriman2 (Vào lúc đó là Thứ Trưởng Bộ Ngoại Giao Mỹ phụ trách Chính Trị Vụ) và Michael Forrestal, một thành viên trong ban tham mứu của McGeorge Bundy3 (Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ) tại Tòa Bạch Ốc, soạn thảo một bản tuyên bố để Bộ Ngoại Giao sẽ phổ biến vào lúc 9 giờ 30 sáng hôm sau. Bản văn lên án trận tấn công các chùa là "sự vi phạm trực tiếp của chính phủ VN đối với những cam kết theo đuổi chính sách hòa giải với người Phật tử". Nhưng các báo cáo tình báo đầu tiên của phía Mỹ, dựa vào thông tin từ ông Nhu, đã cho rằng quân đội chịu trách nhiệm về những vụ tấn công này, và xem việc xảy ra trùng hợp với lệnh thiết quân luật về bản chất là một mưu toan của quân đội. Trong văn bản ngày 21-8-1963 gửi lên Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ, Giám Đốc sở Quân Báo DIA, Tướng Carroll, đã viết: "Mặc dù hành động của quân đội được cho là theo lệnh Tổng Thống, nhưng về cơ bản các tướng lãnh hắn nhiên phải nắm toàn quyền kiểm soát".


Khi trận tấn công xảy ra, Lodge1 (Người sẽ là tân Đại sứ Mỹ), Nolting2 (Cựu Đại sứ Mỹ) và Roger Hilsman, Phụ tá Ngoại trưởng về Viễn Đông, đang họp nhau ở Honolulu. Lodge tức khắc được lệnh tới Sài Gòn. Sau khi tạm dừng ở Tokyo, Lodge đến Sài Gòn lúc 9 giờ 30 tối 22-8, trong bầu không khí căng thẳng và và mù mờ thông tin về phía Mỹ. Chờ đợi ông là một điện văn từ Hilsman yêu cầu thông tin rõ ràng về tình hình. Liệu có phải quân đội đã nắm quyền và ông Diệm chỉ còn là hư vị? Hay ông Diệm đã củng cố được vị trí qua việc triệu tập quân đội? Hay ông bà Nhu đã thực sự nắm toàn quyền? Trong vòng 24 giờ đồng hồ, Lodge gửi một điện văn trả lời sơ khởi: Không có đảo chánh, nhưng có vẻ như ông bà Nhu cũng không hề suy giảm quyền lực, mặc dù vẫn chưa thật rõ ràng những thế lực nào nắm quyền điều hành.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1136



« Trả lời #23 vào lúc: 23 Tháng Sáu, 2026, 09:47:40 am »

Cùng ngày đó3 (Tức là ngày 23 tháng 8. Theo Điện văn số 265 (FRUS, 1961- 1963 III, Document 275) do CAS gửi về cho Tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA), thì cuộc gặp đã kéo dài khoảng 3 tiếng đồng hồ. Nội dung Điện văn được sử dụng trong tài liệu này), những biểu hiện đầu tiên từ phía các tướng lãnh VN được đưa ra để xác định xem liệu phía Hoa Kỳ sẽ phản ứng như thế nào với một cuộc đảo chánh quân sự. Tướng Đôn, vị Tư Lệnh các lực lượng quân đội theo hiệu lực của lệnh thiết quân luật, đã có một cuộc nói chuyện dài và lan man về nhiều chủ đề với một viên chức CIA4 (Nguyên bản dùng CAS để chỉ văn phòng CIA tại Sài Còn). Trước tiên ông vạch rõ vai trò thực sự của quân đội trong các sự kiện ngày 20 và 21 tháng 8, và chất vấn tại sao người Mỹ đổ trách nhiệm cho quân đội trong chiến dịch tấn công vào các chùa:

Chính Tướng Đôn đã nghe công luận Việt Nam quy trách quân đội trong việc tấn công các ngôi chùa. Ông nói rằng chính phủ Mỹ có lỗi về sự ngộ nhận đó vì đài VOA loan tin rằng quân đội VNCH tấn công các chùa. Đôn chất vấn tại sao đài VOA không nói rằng Lực Lượng Đặc Biệt của Đại Tá Tung và cảnh sát đã thực hiện việc này? Tướng Đôn tin rằng như vậy sẽ giúp ích cho quân đội trong thời điểm này. Tướng Đôn nói, người Mỹ nên nói rõ lập trường của mình1 (Chúng tôi tìm thấy đoạn này (do chúng tôi cố ý in nghiêng) được trích nguyên văn trong Điện văn số 265 vừa dẫn trên, phân đoạn số 10, nhưng trong hồ sơ không thấy dẫn chú. Điện văn này cũng sẽ được chuyển dịch toàn văn trong một phần sau).


Trong một cuộc nói chuyện cùng ngày với Rufus Phillips của Đoàn Ngoại giao Hoa Kỳ2 (Nguyên tác dùng USOM, viết tắt của U.S Operation Mission, cơ quan được người Mỹ đặt ở Việt Nam để phụ trách các vấn đề liên quan đến viện trợ kinh tế), Tướng Lê Văn Kim, Tham mưu phó của Tướng Đôn, đã cay đắng chỉ trích ông Nhu, quy trách nhiệm ông ta về chiến dịch tấn công vào các chùa, và chỉ trích vai trò khuynh loát của ông ta trong chính phủ3 (Ở đây, tài liệu đã sử dụng nội dung từ Điện văn số 320 (FRUS, 1961-1963 III, Document 274). Độc giả có thể xem đầy đủ nội dung tại địa chỉ: https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1961-63v03/d274). Tướng Kim nói rằng trừ phi ấn tượng của dân chúng về việc quân đội tấn công các chùa được cải chánh, quân đội sẽ bó tay trong cuộc chiến chống Việt cộng. Ông tuyên bố rằng, sự ủng hộ mạnh mẽ của phía Mỹ đối với việc loại bỏ ông bà Nhu sẽ giúp đoàn kết quân đội và tạo điều kiện để quân đội chống lại ông bà Nhu. Hai đòi hỏi trực tiếp và minh bạch muốn Mỹ ủng hộ hành động quân sự để lật đổ ông bà Nhu đã ghi dấu sự khởi đầu chính thức cho việc Mỹ can dự vào việc soạn thảo kế hoạch lâu dài chống lại chế độ ông Diệm.


Hai nhân vật dân sự cao cấp trong chính phủ, Chánh Văn Phòng Tổng Thống Phủ Võ Văn Hải và Bộ Trưởng Nguyễn Đình Thuần đồng thời nói với phía Mỹ rằng việc loại bỏ ông Nhu ra khỏi chính phủ là cần thiết và rằng Mỹ nên có lập trường kiên quyết chống lại ông Nhu.


Ngày 24-8, Lodge gửi điện văn ước lượng tình hình về Washington, dựa trên những cuộc nói chuyện này. Lodge viết: "Ông Nhu có lẽ được ủng hộ hoàn toàn từ ông Diệm và đã chủ động phần lớn, nếu không phải là toàn bộ, trong kế hoạch tấn công người Phật tử. Ảnh hưởng của ông ta đã tăng thêm đáng kể." Ông Nhu đã tận dụng hoàn toàn lợi thế về sự quan ngại của một số tướng lãnh, có thể đã không thông báo đầy đủ cho quân đội về chiến dịch tấn công các chùa. Tuy nhiên, trong các tư lệnh quân sự quan trọng của khu vực Sài Gòn (Đôn, Đính và Tung) hiện nay không có ai bất mãn với chế độ. Hơn thế nữa, đối với một hành động chống lại ông bà Nhu mà không có các chỉ huy quân sự nắm quyền rõ rệt cũng như sức mạnh quân đội tại Sài Gòn, thì sự ủng hộ của Mỹ sẽ là một cuộc mạo hiếm đầy rủi ro.


Đối với Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, vấn đề làm sáng tỏ trước công chúng và quy trách nhiệm rõ ràng về chiến dịch tấn công vào các chùa đã trở nên gay gắt vào ngày 24 tháng 8. Các bản tin báo chí từ Sài Gòn ngay từ đầu đã quy trách nhiệm ông Nhu về các vụ tấn công các chùa, nhưng đài VOA, với một lượng thính giả đông đảo tại Việt Nam, vẫn tiếp tục loan tin rằng lập trường chính thức Hoa Kỳ là trách nhiệm thuộc về quân đội. Chứng cớ ngày càng nhiều thêm cho thấy Nhu chủ mưu và rất có thể sẽ thiệt hại lớn lao cho tinh thần quân đội nếu VOA không đưa ra một bản tin cải chánh minh bạch.


Vấn đề thứ nhì đối với Washington là Nhu, về cơ bản, các tướng lãnh đã yêu cầu Hoa Kỳ bật đèn xanh để họ lật đổ Nhu, nhưng Lodge còn dè dặt về việc này. Hilsman báo cáo rằng trong khi ông cùng với Harriman, Forrestal và Ball bàn về việc thảo ra bản trả lời vào sáng thứ Bảy đó, lời tuyên bốcủa ông Thuần với Phillips rằng "trong bất kỳ trường hợp nào, Mỹ cũng không nên cho qua những gì ông bà Nhu đã làm", đã được cân nhắc cẩn trọng. Đô Đốc Felt điện thoại về Washington từ Phòng Tư Lệnh Quân Lực Mỹ Thái Bình Dương (CINCPAC) để ủng hộ lập trường kiên quyết của Mỹ chống lại ông bà Nhu. Tất nhiên, câu hỏi chưa có lời đáp là liệu có thể loại bỏ ông bà Nhu mà không cần phải hy sinh cả ông Diệm hay không, và nếu điều đó là không thể, thì liệu sự bất Ổn chính trị [sau khi mất ông Diệm] có gây ra hậu quả tai hại cho nỗ lực chiến tranh [chống Cộng] hơn là duy trì ông Diệm?


Những chỉ thị cho Lodge trong điện văn ngày 24-8 là kết quả của những bàn luận trên, vạch ra một chính sách tiếp cận mới, quan trọng và sau đó cũng gây nhiều tranh cãi, của Hoa Kỳ tại Nam VN. Đoạn văn đầu tiên nêu rõ chi tiết về quan điểm mới của Hoa Kỳ:

Giờ đây đã quá rõ, cho dù lệnh thiết quân luật có phải do quân đội đề nghị hay do ông Nhu lừa dối đưa họ vào bẫy, thì ông Nhu cũng đã lợi dụng hiệu lực của lệnh đó để tấn công vào các chùa bằng cảnh sát và Lực Lượng Đặc Biệt của ông Tung, trung thành với Nhu, và do đó đổ trách nhiệm cho quân đội trong mắt thế giới và dân chúng VN. Cũng thấy rõ rằng ông Nhu sắp xếp để tự mình giữ vị trí chỉ huy.


Chính phủ Mỹ không thể chấp nhận tình trạng quyền lực nằm trong tay ông Nhu. Ông Diệm phải được trao cho cơ hội để loại bỏ ông Nhu và bè phái, thay thế họ với các nhân sự chính trị và quân sự xuất sắc nhất hiện có.

Trong trường hợp ông1 (Tức Đại sứ Lodge) đã hết sức thuyết phục mà ông Diệm vẫn cứng rắn và từ chối, thì chúng ta buộc phải đối diện với thực tế là rất có thể không giữ ông Diệm được nữa." [Hồ sơ 126]2 (Trong hệ thống hồ sơ FRUS, 1961-1963, Volume III, Vietnam, January-August 1963, chúng tôi tìm thấy nội dung này trong điện văn số 243, hồ sơ 281 (Doc 281). Có lẽ điện văn này đã được Pentagon Papers trích từ một nguồn khác nên dẫn chú là Hồ sơ 1 26. Các trích dẫn tiếp theo cũng vậy).
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1136



« Trả lời #24 vào lúc: 23 Tháng Sáu, 2026, 09:49:15 am »

Lodge được chỉ thị nói với chính phủ Việt Nam rằng Hoa Kỳ không chấp nhận những hành vi đàn áp Phật tử, và nhất thiết phải thực hiện ngay những giải pháp để điều chỉnh tình hình. Các lãnh đạo quân sự then chốt đã được thông báo riêng tư rằng:

... Hoa Kỳ nhận thấy không thể tiếp tục ủng hộ chính phủ VN về mật quân sự và kinh tế trừ phi có những bước thay đổi tức khắc, mà theo nhận thức của chúng tôi là phải loại ông bà Nhu ra khỏi chính trường. Chúng tôi muốn tạo cho ông Diệm cơ hội hợp lý để loại bỏ ông bà Nhu, nhưng nếu ông Diệm vẫn cứng rắn, thì chúng tôi sẵn sàng chấp nhận hệ quả tất nhiên là chúng tôi không hỗ trợ ông Diệm nữa. Ông3 (Theo nội dung điện văn thì ở đây đang nói với Đại sứ Logge) cũng có thể nói với những tướng lãnh nào thích hợp, rằng chúng ta sẽ hỗ trợ trực tiếp cho họ trong thời kỳ chuyển tiếp khi phá võ cơ chế chính phủ trung ương. " [Hồ sơ 126]


Cuối cùng, điện văn công nhận cần phải công khai làm rõ việc quân đội VNCH không liên hệ gì đến cuộc tổng tấn công các chùa, và yêu cầu Lodge chấp thuận loan một bản tin VOA để đạt kết quả đó1 (Nội dung trích dẫn ở đây có phần thiếu chính xác. Nguyên văn trong Điện văn 243 là: We recognize the necessity of removing taint on military for pagoda raids and placing blame squarely on Nhu. You are authorized to have such statements made in Saigon as you consider desirable to achieve this objective. We are prepared to take same line here and to have Voice of America make statement along lines contained in next numbered telegram whenever you give the word, preferably as soon as possible. (Chúng tôi thừa nhận sự cần thiết phải xóa bỏ vết nhơ cho quân đội về chiến dịch tấn công các chùa và quy trách nhiệm trực tiếp về ông Nhu. Ông được toàn quyền đưa ra những tuyên bố như thế tại Sài Còn sao cho đạt được mục đích này. Chúng tôi ở Washington sẵn sàng có động thái tương tự và sẽ cho đài VOA loan tin phù hợp với nội dung trong bức điện sắp tới ngay khi ông gửi về, nên cố gắng càng sớm càng tốt.) Như vậy, không phải Lodge chấp thuận cho đài VOA loan tin (điều này vô lý), mà phía Washington hứa sẽ cho đài VOA phối hợp loan tin hỗ trợ cho Lodge theo nội dung do chính ôngnày cung cấp). Ngoài ra, Lodge cũng được yêu cầu khảo sát khẩn cấp về bộ máy lãnh đạo thay thế.


Việc thông qua nội dung điện văn bị phức tạp hóa vì ngẫu nhiên rơi vào cuối tuần, nên hầu hết giới chức cao cấp trong chính phủ vắng mặt ở Washington. Tổng Thống lúc đó ở Hyannis Port; Rusk đang ở New York; còn McNamara và McCone đang nghỉ phép. Tuy nhiên, cả Tổng Thống và Ngoại Trưởng đều tiếp cận được và cả hai đã chấp thuận nội dung điện văn.


Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng Roswell Gilpatric cũng chấp thuận thay mặt Bộ Quốc Phòng, và Tướng Taylor cũng chấp thuận từ phía JCS (Phòng Tổng Tham Mưu). Schlesinger2 (Schlesinger là Trợ lý Đặc biệt của Tổng thống Kennedy (Special Assistant to the President)) khi nhớ lại việc này nói rằng bức điện văn đã được soạn thảo vội vã và chưa cân nhắc kỹ, Tổng Thống thoạt tiên đã không tán thành.


Hôm sau, Lodge trả lời ủng hộ lập trường cứng rắn nhưng cho rằng việc tiếp cận với Diệm là vô ích, thay vì vậy chỉ nên nói rõ lập trường của Mỹ với các tướng lãnh VNCH, nghĩa là chúng ta nghiêng hẳn về việc đứng sau một cuộc đảo chánh. Bức điện văn viết:

"Hãy tin rằng cơ hội để Diệm đáp ứng những đòi hỏi của chúng ta kể như là số không. Cùng lúc, khi đưa ra các đòi hỏi đó, chúng ta đã cho Nhu cơ hội để chận trước hay khóa chặt hành động từ phía quân đội. Chúng tôi tin rằng, không đáng phải chấp nhận rủi ro khi Nhu đang kiểm soát lực lượng tác chiến ở Sài Gòn. Do vậy, tôi đề nghị là chúng ta nên yêu cầu trực tiếp đến các tướng lãnh mà không báo cho Diệm biết. [Tôi] sẽ nói với các tướng lãnh rằng chúng ta sẵn sàng giữ ông Diệm khi không còn ông bà Nhu, nhưng về căn bản là tùy thuộc vào họ có giữ lại ông ta hay không." (Hồ sơ 127)1 (Điện văn này mang số 292, được gửi từ Sài Còn qua kênh thông tin giữa CAS về CIA nên mang số hiệu CAS 292 và không được đưa vào hồ sơ FRUS. Tuy nhiên, chúng tôi có tìm được hình chụp bản gốc điện văn trong thư viện dữ liệu hồ sơ Tổng thống Kennedy. Nội dung cũng đề nghị việc yêu cầu các tướng lãnh có biện pháp để trả tự do cho các vị lãnh đạo Phật giáo đang bị giam giữ)


Hilsman khắng định rằng điện văn cũng cho thấy quan điểm của Lodge rằng bởi vì ai cũng biết việc Hoa Kỳ không chấp nhận hành động của chính phủ VNCH [đàn áp Phật giáo], nên việc người Mỹ đến với ông Diệm sẽ không thích hợp, mà chính ông Diệm phải tìm đến người Mỹ.


Trong một điện văn của trụ sở CIA Sài Gòn trong cùng ngày, Richardson, Trưởng Phòng CIA ở Sài Gòn, báo cáo rằng trong một buổi gặp gỡ với Lodge và Harkins, mọi người đồng ý rằng Diệm sẽ không chịu loại trừ Nhu, và do vậy, xem như các chỉ thị của điện văn ngày 24-8 [Hồ sơ 126] của Bộ Ngoại Giao Mỹ đã đưa ra chính sách căn bản của Washington [về việc này], quan điểm chung của mọi người là nên liên lạc ngay với các tướng lãnh như Dương Văn Minh và Nguyễn Khánh để đánh giá mức độ đoàn kết và quyết tâm của các sĩ quan cao cấp.


Minh được xem là lãnh tụ tốt nhất trong giai đoạn chuyển tiếp, với Phó Tổng Thống [Nguyễn Ngọc] Thơ là ứng viên nổi bật nhất trong nhóm dân sự để làm Tổng Thống. Điện văn kết luận với quan điểm rằng một nhóm quân sự sẽ có thể điều hành sau hậu trường trong trường hợp đảo chánh thành công, và Mỹ nên để chiến thuật đảo chánh cụ thể cho các tướng lãnh quyết định1 (Đoạn này có phần tối nghĩa, vì nếu là Điện văn số 243 đang được đề cập thì hoàn toàn không có nội dung này, vì chúng tôi hiện có phóng ảnh toàn văn bức điện. (ND)). Có một khoảng ngưng trong lưu lượng điện văn vào lúc đó, nhưng Hilsman nói rằng Hoa Kỳ đã quyết định vào hôm Chủ Nhật 25-8 là hoãn việc tiếp xúc trực tiếp tới Diệm cho tới khi tình hình được biết rõ hơn.


Trong phần trả lời của Lodge, ông cũng cho thấy tán thành bản tin đề nghị đưa lên đài VOA để nói rõ việc quân đội VNCH không liên hệ trận tổng tấn công các chùa. Hilsman nói với giới truyền thông dựa vào bản thảo đã chấp thuận trước đó vào ngày 25-8. Bản văn bày tỏ lập trường Hoa Kỳ mạnh mẽ chống lại việc tấn công các chùa do ông Nhu thực hiện.


Khi tường thuật bản tin, giới truyền thông suy đoán rằng một tuyên bố phản đối mạnh mẽ như thế có thể hàm ý về những biện pháp [mạnh] đang được cân nhắc, chẳng hạn như ngưng viện trợ. VOA đã được chỉ thị chỉ loan tin theo nội dung bản tuyên bố của Chính phủ Mỹ đã cung cấp trong thông cáo báo chí, không được nói gì thêm.


Không hiểu sao chỉ thị này lại bị bỏ sót đi, và vào sáng thứ Hai, 26-8, chỉ mấy tiếng đồng hồ trước khi Lodge trình ủy nhiệm thư lên Diệm, đài VOA phát đi đầy đủ một bài từ UPI1 (Nguyên tác dùng UPI, viết tắt của United Press International - Liên hiệp Báo chí Thế giới) trong đó khẳng định thẳng thừng rằng "Mỹ có thể giảm mạnh sự trợ giúp đối với VN trừ phi Tổng Thống Diệm dẹp bỏ các viên chức cảnh sát mật chịu trách nhiệm về những vụ tấn công [vào các chùa]."


Thật dễ hiểu là Đại sứ Lodge rất lúng túng. Ông đã gửi một điện văn bực dọc, chất vấn rằng liệu có đúng ông thực sự là người đang chịu trách nhiệm các bước chiến lược [ở VN] như ông đã nhận hiểu? Rusk gửi điện văn riêng xin lỗi Lodge, và VOA tức khắc loan tin bác bỏ ý định cắt viện trợ của Mỹ, nhưng đã không ngăn được những thiệt hại sơ khởi.


Phản ứng của người Việt Nam đối với trận tổng tấn công các chùa hết sức mạnh mẽ. Tại Hoa Kỳ, cha của bà Nhu là Đại sứ VN tại Mỹ, và mẹ bà Nhu là quan sát viên thường trực tại Liên Hiệp Quốc, đều từ chức và đưa ra những tuyên bố công khai lên án vụ tấn công này2 (Thân phụ của bà Nhu là Luật Sư Trần Văn Chương, và thân mẫu là bà Thân Thị Nam Trân. (ND)) Tại Nam Việt Nam, Bộ Trưởng Ngoại Giao Vũ Văn Mẫu từ chức và cạo đầu y như một vị sư để phản đối [vụ tấn công các chùa].


Vào ngày 23-8, sinh viên khoa Y và khoa Dược của Đại học Sài Gòn tổ chức những cuộc biểu tình đông đảo để ủng hộ Phật giáo. Chính phủ dường như chỉ biết phản ứng bằng một cách duy nhất là bắt giam hàng loạt. Nhưng những cuộc biểu tình vẫn tiếp tục, và khi Đại học Sài Gòn bị đóng cửa, những cuộc phản kháng được tiếp nối bởi các học sinh trung học đệ nhị cấp và đệ nhất cấp. Đó thực sự là những chứng cớ hết sức mạnh mẽ về mức độ bất mãn chế độ, bởi vì hầu hết những sinh viên học sinh này là từ các gia đình trung lưu, thành phần làm nên giới lãnh đạo quân đội và công chức.


Sinh viên học sinh ở VN không có truyền thống hoạt động chính trị như các nơi khác ở Châu Á, chẳng hạn như Hàn quốc. Tiếp sau đó, một số vị lãnh đạo Phật giáo đã thoát được sau các trận tấn công các chùa, đã biến vào bí mật rồi không bao lâu lại tiến hành rải truyền đơn trên đường phố.


Vào ngày xảy ra các trận tấn công các chùa, hai vị sư đã vào xin tỵ nạn trong Trụ sở Ngoại giao đoàn Hoa Kỳ (USOM)1 (Nguyên tác dùng USOM, viết tắt của United States Operations Mission) kế bên chùa Xá Lợi. Vào ngày kế tiếp, ba vị sư khác, trong đó có vị sư lãnh đạo trẻ Thích Trí Quang, xin vào tỵ nạn trong Tòa Đại Sứ Mỹ, và được Lodge tiếp đón nồng nhiệt. Họ đã ở lại đó cho tới khi cuộc đảo chánh tháng 11-1963 thành công.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1136



« Trả lời #25 vào lúc: 23 Tháng Sáu, 2026, 09:50:46 am »

THE PENTAGON PAPERS GRAVEL EDITION VOLUME 2 CHAPTER 4, "THE OVERTHROW OF NGO DINH DIEM, MAY-NOVEMBER, 1963, " PP. 201-276.


SECTION 2, PP. 232-276

III. LODGE VS. DIEM: AUGUST 20-OCTOBER 2

A. THE PAGODA RAIDS AND REPERCUSSIONS

Shortly after midnight on August 21, six days after Nolting’s frustrated departure, Nhu, shattering any remaining illusions about the GVN’s conciliatory approach to the Buddhists, and betraying Diem’s parting pledge to Nolting, staged a general assault on Buddhist pagodas. In Saigon, Hue, and other coastal cities, the regime’s private shock troops-the U. S. - trained Special Forces-and the combat police invaded the pagodas and arrested hundreds of Buddhist monks, effectively destroying an American policy and marking the beginning of the end of the Diem regime.


On August 18, ten senior generals had met and decided that they would ask Diem for a declaration of martial law to permit them to return Buddhist monks from outside Saigon to their own provinces and pagodas, hopefully reducing tensions in the capital. Among those in attendance at the meeting were General Ton That Dinh, military governor of Saigon and commander of III Corps suirounding it, and General Huynh Van Cao, IV Corps commander, both of whom owed their positions to their loyalty to the regime. Either or both of them probably reported the outcome of this meeting to Diem and Nhu.


In any case, Nhu had decided to eliminate the Buddhist opposition, and to confront the U. S. with a fait accompli on Lodge’s arrival; he assumed the U. S. would protestingly acquiesce, as it always had in the past. On the afternoon of the 20th, Nhu met with a small group of generals, including Don, Khiem, and Dinh who presented the martial law proposal to him. Nhu, his own plans for the raids now far advanced, told them to take their proposal to Diem. At a meeting later that evening, Diem acquiesced in the generals’ plan and at midnight the decree was published under the signature of General Don, Chief of the Joint General Staff. Meanwhile, unbeknown to the generals, Nhu had already alerted Colonel Tung’s Special Forces and the combat police. Once the facade of martial law was in place, so the army would be blamed forthe raids, Nhu gave the word and the crackdown began. To further implicate the army, some of the combat police wore paratroop uniforms. Pagodas were ransacked in all the major South Vietnamese cities, and over 1400 Buddhists, primarily monks, were arrested. In the raid on Xa Loi pagoda in Saigon about thirty monks were wounded or injured, and several were subsequently listed as missing; exact casualties were never established. Diem had approved the martial law decree without consulting his cabinet, but it was never established whether he knew of and approved Nhu’s plans for the pagoda raids. Significantly, he never subsequently sought to dissociate himself from Nhu or the raids.


While the martial law decree gave General Don command of all troops, in fact, General Dinh and Colonel Tung took their orders directly from the palace. Thus, when the raids came, General Don was at JGS unaware. In a long discussion on August 23 with a CAS officer, he suggested that the martial law decree was only phase one of a larger Generals’ plot. They were thrown off balance, however, by the raids and by General Dinh’s rapid assumption of local control of martial law in Saigon.


In planning the raids, Nhu had been extremely careful not to have word leak to the U. S. mission (although the Buddhists and the U. S. press corps had been tipped off by their own informants). On the morning after  the attack, Richardson, the CIA chief and the senior American civilian in Saigon, emphatically denied to Halberstam any foreknowledge of the plan. To further isolate the U. S. from an accurate assessment during the operation, Nhu had the telephone lines to the Embassy and the homes of all senior U. S. personnel cut shortly after the raids got underway. His efforts had the desired effect. It was several days before the U. S. mission in Saigon and officials in Washington could piece together what happened. In Washington, Harriman and Michael Forrestal, a member of McGeorge Bundy’s staff at the White House, drafted a stiff public statement that was released by the State Department at 9:30 the following morning. It deplored the raids as "a direct violation by the Vietnamese Government of assurances that it was pursuing a policy of reconciliation with the Buddhists." But the first U. S. intelligence reports, based on information from Nhu, accepted army responsibility for the raids, and treated their coincidence with the martial law decree as, in effect, a military coup. In an August 21 memorandum for the Secretary of Defense, the Director of DIA, General Carroll, wrote, "Although the military moves are based on an alleged presidential proclamation, the military leaders have, in effect, assumed full control."


When the raids occurred, Lodge, Nolting, and Roger Hilsman, the Assistant Secretary of State for the Far East, had been conferring in Honolulu. Lodge was immediately instructed to proceed to Saigon. After a brief stop in Tokyo, Lodge touched down in Saigon at 9:30 p. m. on August 22, in an atmosphere charged with tension and official U.S. confusion. Awaiting him was a cable from Hilsman asking for a clarification of the situation. Had the military taken over and retained Diem as a figurehead; had Diem strengthened his own position by calling in the military; or were the Nhus really calling the shots? Wthin twenty-four hours, Lodge had sent a preliminary reply: there had been no coup, but there seemed also to be no diminution in the roles of the Nhus, although the power roles within the regime were unclear.


That same day, the first military feelers had been put out from the Vietnamese generals to determine what the U. S. reaction would be to a military coup. General Don, the commander of the armed forces under the martial law decree, had a long, rambling conversation with a CAS officer. He first outlined the true role the army had played in the events of August 20-21 and then inquired why the U. S. had blamed the army for the raids on the pagodas:


General Don has heard personally that the military is being blamed by Vietnamese public for the attack on the pagodas. He said that the US Govt is at fault for this misconception because VOA announced that the military took action against the pagodas. Don queried why VOA did not admit that Colonel Tung’s Special Forces and the Police carried out the action. Don believes this would help the military at this point. Don stated that the USA should now make its position known.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1136



« Trả lời #26 vào lúc: 23 Tháng Sáu, 2026, 09:51:33 am »

In a conversation the same day with Rufus Phillips of USOM, General Kim, deputy to General Don, bitterly attacked Nhu, charging him with responsibility for the raids, and deploring his dominant role in the government. He said that unless the popular impression that the army was responsible for the raids were corrected, the army would be handicapped in its fight against the VC. He stated that a firm U.S. stand for the removal of the Nhus would unify the army and permit it to act against them. These two direct and obviously reinforcing requests for U. S. support for military action aimed at Nhu’s ouster marked the formal beginning of the U. S. involvement in the protracted plotting against the Diem regime.


Two senior civilians in the government, Diem’s chef de cabinet, Vo Van Hai, and Secretary of State, Nguyen Dinh Thuan, were simultaneously telling U. S. contacts that Nhu’s elimination from the government was vital and that the U. S. should take a strong stand against him.


On August 24, Lodge cabled his appraisal of the situation to Washington, based on these conversations. "Nhu," he reported, "probably with full support of Diem, had a large hand in planning of action against Buddhists, if he did not fully master-mind it. His influence has also been significantly increased." Nhu had simply taken advantage of the concern of certain generals, possibly not fully informing the regular army of the planned action. Nonetheless, none of the important Saigon area troop commanders (Don, Dinh, and Tung) were presently disaffected with the regime. Furthermore, absence of clear-cut military leadership and troop strength in Saigon for a move against the Nhus would make U. S. support of such an action a "shot in the dark."


For the State Department, the problem of clarifying the public record about the raids and affixing responsibility for them had become acute by August 24. The press reports emanating from Saigon had from the outset blamed Nhu for the raids, but VOA, with a large audience in Vietnam, continued to report the official U. S. position that the army was culpable. The accumulating evidence against Nhu and the likelihood of severe damage to army morale if VOA did not broadcast a clarification seemed to call for retractions.


The second issue for Washington was Nhu. The generals had asked, in effect, for a green light to move against him, but Lodge had cautioned against it. Hilsman reports that as he, Harriman, Forrestal, and Ball deliberated over the drafting of a reply on that Saturday morning, the statement of Thuan to Phillips that "under no circumstance should the United States acquiesce in what the Nhus had done," was given great weight. Admiral Felt telephoned Washington from CINCPAC to support a strong U. S. stand against the Nhus. The unanswered question, of course, was whether the Nhus could be removed without also sacrificing Diem, and if not, whether the resulting political instability would not have an even more detrimental effect on the war effort than maintaining Diem.


The August 24 cable of instructions to Lodge resulting from these deliberations outlined an important, and subsequently controversial, new policy approach for the U. S. in South Vietnam. Its opening paragraphs crisply set forth the new American view:

It is now clear that whether military proposed martial law or whether Nhu tricked them into it, Nhu took advantage of its imposition to smash pagodas with police and Tung’s Special Forces loyal to him, thus placing onus on military in eyes of world and Vietnamese people. Also clear that Nhu has maneuvered himself into commanding position.

US Government cannot tolerate situation in which power lies in Nhu’s hands. Diem must be given chance to rid himself of Nhu and his coterie and replace them with best military and political personalities available.

If, in spite of all your efforts, Diem remains obdurate and refuses, then we must face the possibility that Diem himself cannot be preserved. [Doc. 126]

Lodge was instructed to tell the GVN the u. s. could not accept the actions against the Buddhists and that prompt dramatic steps to redress the situation must be taken. The key military leaders were to be privately informed that,

.... US would find it impossible to continue support GVN militarily and economically unless above steps are taken immediately which we recognize requires removal of Nhus from the scene. We wish give Diem reasonable opportunity to remove Nhus, but if he remains obdurate, then we are prepared to accept the obvious implication that we can no longer support Diem. You may also tell appropriate military commanders we will give them direct support in any interim period of breakdown central government mechanism. [Doc. 126]


Finally, the message recognized the need to publicly exonerate the army from the raids and asked Lodge to approve a VOA broadcast to that effect. Lodge was requested, as well, to survey urgently for alternative leadership.

Clearance of the draft message was complicated by the coincident week-end absence from Washington of most of the top level members of the Administration. The President was in Hyannis Port; Rusk was in New York; and McNamara and McCone were away on vacation. Both the President and the Secretary of state were reached, however, and approved the draft.


Deputy Secretary of Defense Roswell Gilpatric approved for Defense, and General Taylor for the JCS. Schlesinger, in his account of the incident, suggests that the cable was hasty and ill-considered, and that the President immediately began to back away from it.


Lodge replied the following day endorsing the strong position but proposing to forego a futile approach to Diem and to state our position instead only to the  generals, thus throwing all our weight behind a coup. The cable stated:

Believe that chances of Diem’s meeting our demands are virtually nil. At the same time, by making them we give Nhu chance to forestall or block action by military. Risk, we believe, is not worth taking, with Nhu in control combat forces Saigon. Therefore, propose we go straight to Generals with our demands, without informing Diem. Would tell them we prepared have Diem without Nhus but it is in effect up to them whether to keep him. [Doc. 127]


Hilsman asserts that the cable also reflected Lodge’s view that since our disapproval of GVN action was well known, it was not fitting for the U.S. to go to Diem, it was Diem who should come to us.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1136



« Trả lời #27 vào lúc: 23 Tháng Sáu, 2026, 09:53:13 am »


Một phần cắt từ phóng ảnh nguyên bản Điện văn 292 (trả lời điện văn 243)

In a separate CAS cable the same day, Richardson, the CIA Chief of Station in Saigon, reported that at a meeting with Lodge and Harkins it had been agreed that Diem would not remove Nhu and that therefore, assuming State’s cable of instructions on 24 August [Doc. 126] represented Washington’s basic policy, the consensus was that contact should be immediately made with generals such as Minh and Khanh to assess the degree of unity and determination of senior officers.


Minh was considered the best possible interim leader, with Vice President Tho as the most attractive candidate for President among the civilians. The cable concluded with the view that a junta would probably operate behind the scenes in the event of a successful coup, and that the U.S. should leave the specific tactics of a coup up to the generals. There is a hiatus in the available cable traffic at this point, but Hilsman indicates that Washington decided on Sunday, August 25, to defer a direct approach to Diem until more was known about the situation.


In Lodge’s reply, he had also apparently approved the proposed VOA broadcast to exonerate the army. Hilsman briefed the press on the basis of a previously approved draft statement on August 25. The statement expressed strong U.S. disapproval of the raids, which were attributed to Nhu.


In reporting the story, the press speculated that such a strong statement probably indicated that measures such as aid suspension were being considered. VOA had been instructed to broadcast only the substances of the U.S. statement as provided in the press guidance and nothing more.


The instructions somehow got mislaid; and on Monday morning, August 26, just several hours before Lodge was to present his credentials to Diem, VOA broadcast in full a UPI story which flatly asserted that "the US may sharply reduce its aid to Vietnam unless President Diem gets rid of secret police officials responsible for the attacks."


Lodge was understandably upset, and sent a testy cable rhetorically inquiring whether he really was in charge of tactics as he had been given to understand. Rusk sent a personal cable of apology to Lodge, and VOA promptly broadcast a denial of U.S. intent to cut aid, but the initial damage had been done.


The Vietnamese reaction to the attack on the pagodas during this time had been dramatic. In the United States, Mme. Nhu’s father and mother, respectively the Vietnamese Ambassador to the U.S. and the Vietnamese observer at the UN, had both resigned, making bitter public statements denouncing the raids. In South Vietnam, the Foreign Minister, Vo Van Mau, had resigned and shaved his head like a Buddhist monk in protest.


On August 23, students at the faculties of medicine and pharmacy at the University of Saigon turned out to stage mass demonstrations on behalf of the Buddhists. The GVN reacted in the only way it seemed to know, with massive arrests. But the demonstrations continued, and when the university was closed, the protest was taken up by high school and junior high school students. These were dramatic evidences indeed of the degree of disaffection with the regime, since most of these students were from the middle class families that formed the bureaucracy and the army leadership.


Students in Vietnam had no substantial record of political activism as was the case with their counterparts in other parts of Asia, like Korea. Furthermore, some of the Buddhist leadership had survived the raids and gone underground and were soon passing out leaflets on the streets again.


On the day of the raids, two monks had taken refuge in the USOM building next door to Xa Loi pagoda. The following day, three others, including the militant young leader Thich Tri Quang, took refuge in the U.S. Embassy, where they were warmly received by Lodge and remained until the successful November coup.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1136



« Trả lời #28 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2026, 08:12:23 pm »

CIA: CUỘC NÓI CHUYÊN BÍ MẬT CỦA TƯỚNG TRẦN VĂN ĐÔN1
(Nguồn: Foreign Relations of the United States, 1961-1963, Volume III, Vietnam, January-August 1963, Document 275 - Điện văn số 265)

Cư sĩ Nguyên Giác dịch


LỜI NGƯỜI DỊCH: Điện văn này do CIA từ Sài Gòn gửi về Hoa Kỳ, kể lời Tướng Trần Văn Đôn vài ngày sau trận tổng tấn công các chùa do ông Ngô Đình Nhu thực hiện.

Vài điểm ghi nhận từ lời của Tướng Đôn trong điện văn:

- Nhiều lính đào ngũ, tinh thần binh sĩ suy sụp vì bất mãn khi Phật tử bị đàn áp;

- Ông Diệm nắm quyền xuyên qua ông Nhu;

- Ông Diệm xem Bà Nhu như người vợ tinh thần;

- Ông Diệm đã thăng chức một trung sĩ trẻ, đẹp trai lên chức Trung Tá;

- Đôn nói ông sắp xếp giai đoạn đầu của kế hoạch đảo chánh ông Diệm;

- Đôn có vẻ muốn giữ ông Diệm ở ghế Tổng Thống, trong khi phải gạt bỏ ông bà Nhu và rất nhiều Bộ Trưởng ra ngoài quyền lực;

- Đôn không muốn Nguyễn Tôn Hoàn về nước thay thế ông Diệm;

- Đôn kể tên một số tướng lãnh trong kế hoạch đảo chánh, nhưng không nhắc tên Tướng Tôn Thất Đính, lúc đó là Tổng Trấn Biệt Khu Sài Gòn/Gia Định. Đôn nhắc tới cuộc đảo chánh thất bại năm 1960 của các đại tá, và nói kế hoạch của các tướng sẽ rất hoàn hảo.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1136



« Trả lời #29 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2026, 08:14:08 pm »

275. ĐIỆN VĂN TỪ VĂN PHÒNG CIA TẠI SÀI GÒN GỬI VỀ SỞ TÍNH BÁO TRUNG ƯƠNG CIA1
(Nguồn: Library of Congress, Harriman Papers, Vietnam Policy. Bí mật. Cũng đã gửi tới Honolulu. Bản văn nguồn là phó bản do CIA gửi về Bộ Ngoại Giao cho Hilsman (Giám đốc Phòng Tình Báo và Nghiên Cứu) và Hughes (Phó Giám đốc Phòng Tình Báo và Nghiên Cứu); cũng gửi tới Bạch Ốc cho Bundy (Cố vấn An ninh Quốc gia) và tới JCS (Bộ Tổng Tham mưu Quân Lực Mỹ) cho Tướng Krulak (Phụ tá Đặc biệt về Chống Phiến Loạn). Theo một ghi chú về bản văn nguồn, điện văn này phổ biến theo phân loại TDCS. Bản Phúc trình đó ghi mã số "TDCS DB-3/656, 252, August 24, " đã in trong Hồ sơ giải mật, 1977, 93C)


Sài Gòn, ngày 24-8-1963, lúc 6:45 giờ chiều

ĐIỆN VĂN SỐ 0265.

1. [Ít hơn một dòng không giải mật] đã có buổi nói chuyện khoảng ba giờ đồng hồ với Tướng Trần Văn Đôn2 (Để biết những gì Tướng Đôn hồi tưởng về cuộc nói chuyện này, xem Trần Văn Đôn, Our Endless War, trang 90-91. (ISBN: 978-0891410195 - ND)) vào đêm 23-8-1963 tại văn phòng Tướng Đôn ở Bộ Tổng Tham Mưu. Sau đây là tóm lược cuộc nói chuyện.


2. Tướng Đôn được hỏi là ai đang nắm quyền, và đã trả lời rằng Tổng Thống Diệm nắm quyền thông qua Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Tất cả các tướng lãnh phải qua sự kiểm soát của Nhu trước khi gặp ông Diệm. Giải thích điều này, [Tướng Đôn] nói rằng Diệm sử dụng Nhu như "lý thuyết gia" và cố vấn, nhưng không phải luôn luôn nghe lời khuyên của Nhu. Tổng Thống Diệm ghen tỵ với thẩm quyền và khả năng của Nhu. Tướng Đôn [trang 615]3 (Bản điện tử cung cấp các số trang theo bản in đã phát hành) cho một thí dụ. Vào nửa đêm 22-8, Tướng Đôn cùng Tôn Thất Đính và Trần Thiện Khiêm đến gặp Nhu về chuyện các sinh viên, đề nghị nên đóng cửa toàn bộ các trường ở Sài Gòn bằng cách thiết quân luật, bởi vì có nguồn tin rằng vào các ngày 23, 24 và 25 tháng 8 sinh viên sẽ biểu tình ở Sài Gòn. Nhu đồng ý với đề nghị của các tướng lãnh, bảo họ phải xin phép Tổng Thống. Nhu và các tướng lãnh đến gặp ông Diệm và đề nghị đóng cửa các trường. Ông Diệm nói: "Không. Giới trẻ nhất thiết phải có những phương cách để tự bày tỏ." Tướng Đôn lặp lại rằng, ông Diệm là người ra quyết định cuối cùng.


3. Tướng Đôn tiếp tục giải thích về các quan hệ trong Phủ Tổng Thống. Ông nói, phải nhớ là trong nhiều năm, Tổng Thống từng là người kêu gọi chống chế độ thực dân. Trong thời gian đó, Diệm đã tự suy nghĩ rất nhiều để vạch ra đường lối lý thuyết. Sau khi nắm chính quyền từ năm 1954, Diệm nhận ra sự khác biệt và ông cần có những người thân cận giúp việc phác vạch lý thuyết. Ông hướng đến người em là Nhu, một lý thuyết gia sẵn có những lý thuyết, triết lý. Dần dần, Diệm đã cho phép Nhu thực hiện hầu hết công việc phác vạch đường lối lý thuyết. Nhưng điều này không có nghĩa là Tổng Thống luôn luôn nghe theo sự cố vấn của Nhu. Diệm thích việc Nhu thay ông viết các bản tuyên bố, diễn văn. Ông Diệm thích tự mình gặp gỡ, nói chuyện với dân chúng. Do vậy, Nhu có được quyền lực đặc biệt của một lý thuyết gia phục vụ Tổng Thống.


4. Mô tả về mối quan hệ của bà Nhu trong Tổng Thống Phủ, Tướng Đôn nói rằng, trong lòng ông Diệm thì bà Nhu có vị trí như "vợ" ông. Tổng Thống chưa bao giờ lập gia đình và không quen sống bên cạnh đàn bà. Trong 9 năm qua, ông Diệm có bà Nhu an ủi sau một ngày làm việc hoàn tất. Bà Nhu có sức quyến rũ, thường trò chuyện và làm giảm căng thắng cho ông, tranh luận với ông, châm chọc ông, và giống như mọi người vợ Việt Nam, bà quán xuyến mọi việc trong nhà. Tổng Thống và bà Nhu sống cách biệt nhau. Không có quan hệ tình dục giữa ông Diệm và bà Nhu. Theo ý kiến của Tướng Đôn, Tổng Thống chưa từng có quan hệ tình dục. Tướng Đôn so sánh tình trạng đó y hệt như giữa Hitler và Eva Braun. Đôn cũng nói, Tổng Thống thích sống gần những người đàn ông đẹp trai. Đôn dẫn ra trường hợp một trung sĩ trẻ, đẹp trai, phụ trách làm vườn công cộng ở Đà Lạt. Tổng Thống đã hỏi xem ai chăm sóc vườn đó, và khi được báo cáo, ông cho gọi viên trung sĩ kia tới Dinh Tổng Thống rồi tức khắc thăng chức người này lên Trung Tá và giao nhiệm vụ quản trị nông nghiệp quân sự.


Ông Diệm có lối cảm xúc cực đoan. Khi ông thích ai, dù thế nào ông cũng thích; và khi ông ghét ai, ông ghét toàn diện. Không có trạng thái lưng chừng. Bà Nhu đã sử dụng vị trí đặc quyền của bà với Tổng Thống để khiến ông phải đồng thuận những khi ông muốn chống lại, nhưng ông Diệm đã khuất phục trước sức quyến rũ của Bà Nhu. Tướng Đôn nói: "Theo tôi biết thì bà Nhu cực kỳ quyến rũ." Đôn nói, trên thực tế không thể loại bỏ ông bà Nhu vì những vị trí đặc biệt của họ; Ngô Đình Nhu là lý thuyết gia của Tổng Thống và bà Nhu là người vợ tinh thần của ông ta1 (Nguyên tác dùng "platonic", có nghĩa là thân thiết, gắn bó về mặt tinh thần nhưng không có quan hệ xác thịt).


5. [Trang 616] Quyết định hành động ngày 20- 21/8 đạt được bởi 10 tướng lãnh vào đêm 18- 8: Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Đỗ Cao Trí, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Khánh, [ít hơn một dòng không giải mật]2 (Ở đây kể tên thiếu một người, như vậy có một vị tướng được quyết định giữ kín), Mai Hữu Xuân, Nguyễn Ngọc Lễ, Lê Văn Kim, và Dương Văn Minh. Theo lời Đôn, ông Nhu không khuyến khích họ đạt đến quyết định này. Chỉ có lần Nhu nói chuyện về việc dự trù kế hoạch nào đó là trong buổi họp ngày 11 tháng 7, với sự hiện diện của tất cả tướng lãnh. Tướng Đôn không nói rõ ai đã triệu tập các tướng họp đêm 18-8. Kế hoạch này bao gồm việc ban lệnh thiết quân luật và tiếp theo đó đưa những nhà sư từ các tình đã vào Sài Gòn trở về chùa của họ ở các tình. Kế hoạch này do các tướng lãnh trình lên ông Nhu vào ngày 20-8. Ông Nhu bảo họ thảo luận kế hoạch này với Tổng Thống. Khi các tướng lãnh trình kế hoạch lên Diệm thì ông Nhu không có mặt. Các tướng có mặt lúc đó là: Khiêm, Trí, Khánh, Đính, [ít hơn một dòng không giải mật], Kim và Đôn. Tướng Đôn đứng đầu nhóm tướng lãnh trình kế hoạch lên Tổng Thống.


6. Các tướng lãnh nói với ông Diệm rằng tinh thần binh sĩ đang suy giảm, và trong thực tế họ đã lo sợ khi thấy một đồn lính đào ngũ đến mức gần hết sạch. Các tướng nói rằng, những người vợ lính và các sĩ quan cấp thấp đang hoang mang. Họ giải thích với Tổng Thống về tình hình khi quân đội phải đối đầu trực diện với Phật tử. Tướng Đôn xác nhận ông đã nói với ông Diệm rằng vấn đề ngày 8-5 tại Huế lẽ ra có thể đã giải quyết được, nhưng vì Việt cộng đã trà trộn vào Phật tử tại Chùa Xá Lợi. Đôn mô tả những sự khéo léo được sử dụng trong các cuộc biểu tình ngày 11 tháng 8, khi Thượng tọa Thích Tâm Châu diễn thuyết gay gắt trước một đám đông ở Chùa Xá Lợi. Thượng tọa đã thu hút hoàn toàn sự chú ý của đám đông bằng những câu hỏi như "Chúng ta sẽ xuống đường chứ?" Đám đông hô to đáp lại: "Có, có..." Đột nhiên, Thượng tọa cắt ngang: "Không, chúng ta sẽ không xuống đường. Khi quý vị nói rằng 'chúng ta sẽ xuống đường' thì điều đó cũng giống như đã xuống đường rồi." Tướng Đôn cho rằng vị Thượng tọa biết tiếng Anh, Thích Đức Nghiệp, là rất nguy hiểm và các tướng lãnh sợ rằng nếu những lãnh đạo Phật giáo quy tụ một đám đông đủ lớn, họ có thể hướng đoàn biểu tình đến Dinh Gia Long và quân đội có thể sẽ không ngăn cản họ.


7. Đôn nói rằng Tổng Thống Diệm ra quyết định thiết quân luật sau khi các tướng đề nghị như thế. Diệm ra quyết định đưa quân đội trấn giữ các điểm chiến lược ở Sài Gòn và Chợ Lớn, và chấp thuận đề nghị đưa các nhà sư đã vào Sài Gòn về lại các chùa của họ ở tình. Tuy nhiên, Tổng Thống căn dặn không được gây thương tổn cho các vị sư. Tướng Đôn nói điều đó làm ông rất cảm động khi Tổng Thống yêu cầu họ không làm hại các Phật tử. Diệm bổ nhiệm Tướng Đôn tạm thời kế nhiệm Tướng Lê Văn Tỵ. Diệm giao cho Đôn quyền chỉ huy tất cả quân đội Nam VN, thực hiện lệnh thiết quân luật, và áp dụng các biện pháp cần thiết. Tướng Tôn Thất Đính được bổ nhiệm làm Tổng Trấn Biệt Khu Thủ Đô Sài Gòn/Chợ Lớn. Lực Lượng Đặc Biệt của Đại Tá Lê Quang Tung vẫn dưới quyền Tổng Thống Phủ. Đôn chỉ ra rằng Đính không chỉ huy lính của Tung, mặc dù Đính là Tổng Trấn Quân Khu Thủ Đô. [trang 617] Đính trong cương vị Tổng Trấn có phối hợp với Đôn, nhưng Đôn không chỉ huy Đính. Đính có xin lệnh Bộ Tổng Tham Mưu về các chỉ dẫn, nhưng Đính không thực hiện tất cả các lệnh của Bộ Tổng Tham Mưu. Đính, trong cương vị Tổng Trấn, cũng nhận lệnh từ Tổng Thống Phủ giống như Đại Tá Tung. Đôn nói Đại Tá Tung là kẻ nguy hiểm vì ông ta không do quân đội kiểm soát và chỉ thi hành lệnh duy nhất từ Tổng Thống Phủ.


Đôn cũng nói rằng các tướng lãnh rất ghét tính bướng bình của Tung. Tung nhận lệnh của cả Diệm và Nhu. Tung hợp tác với Nhu, nhưng khi cần thì quyết định là từ Tổng Thống. Tướng Đôn nói rằng các tướng lãnh khác ủng hộ Đôn, chỉ trừ một số tướng lãnh trẻ. Những tướng trẻ này ghen tỵ việc Đôn nắm quyền tư lệnh của Tướng Tỵ. Nhưng Đôn không kể tên tướng trẻ nào. Đôn bị chỉ trích bởi các tướng trẻ này vì đã có hành động đàn áp Phật giáo. Đại đa số tướng lãnh VN đều là Phật tử. Đôn đưa ra dẫn chứng: "Khi tôi muốn bảo Tướng Trần Tử Oai điều gì, Oai nói với tôi rằng ông ta là dân sự; ông ta có trách nhiệm dân sự."


Khi được hỏi cụ thể là Tướng Nguyễn Khánh có ủng hộ Đôn hay không, Đôn trả lời rằng Khánh ủng hộ Đôn 100%. Đôn cũng nói rằng Dương Văn Minh, Trần Văn Minh, các tướng Trí, Khiêm, Kim và "ngay cả Tướng Xuân" cũng ủng hộ Đôn. Khi được hỏi về Tướng Văn Thành Cao, Dân biểu, có nằm trong kế hoạch không, Đôn nói rằng Văn Thành Cao hoàn toàn ngoài cuộc. Các tướng khác nhìn Văn Thành Cao như là dân sự.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM