Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 06:40:40 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Việt Nam không thể nào quên - Quyển 1  (Đọc 21556 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #20 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2023, 05:36:36 pm »

Ngày 8 tháng 4, sau khi nhận hộ chiếu ngoại giao, chúng tôi ra sân bay Sheremetyevo và đăng ký chuyến bay Tu-104 Moskva – Bắc Kinh. Chúng tôi đã tiêu những đồng rúp cuối cùng trong cửa hàng ăn, rồi tất cả lên máy bay. Trong túi tôi còn lại 21 rúp, số tiền này sẽ có ích khi tôi từ Việt Nam trở về Liên Xô. Trên chuyến bay, ngoài chúng tôi, còn có một nhóm các nhà khai thác mỏ và các nhà địa chất, lực lượng gìn giữ hòa bình Ba Lan ở vĩ tuyến 17, một nhóm hành khách Trung Quốc đến Bắc Kinh. Điểm hạ cánh đầu tiên là sân bay Novosibirsk, Irkutsk. Tại đây chúng tôi qua khâu kiểm tra hải quan. Máy bay tiếp tục bay qua hồ Baikal, Cộng hòa nhân dân Mông Cổ, cuối cùng hạ cánh xuống sân bay Bắc Kinh.

Nhớ lại thời kỳ đó, cần phải nói rằng tất cả các chuyên gia quân sự chúng tôi đang ở độ tuổi thanh niên. Trên máy bay, một số nữ tiếp viên nhìn chằm chằm vào một vài người trong chúng tôi và hỏi: “Các anh đi đâu, vì mục đích gì?”. Chúng tôi trả lời: “Chúng tôi là thợ mỏ và nhân viên ngành địa chất. Chúng tôi đi công tác”. Họ cười và nói: “Thợ mỏ thường không cắt kiểu tóc bốc như vậy đâu!”.

Ở Bắc Kinh, chúng tôi đáp xuống, nhưng không có ai đón. Có một chiếc xe buýt nhỏ đến đón hành khách Trung Quốc. Sau đó, một xe “Pobeda” màu đen đi đến. Một người bước ra khỏi xe với dáng đi khập khễnh, anh là phiên dịch của tùy viên quân sự Liên Xô tại Trung Quốc. Anh chào hỏi và đưa chúng tôi đến một phòng lớn của sân bay. Trong phòng không có ai, chúng tôi ngồi vào bàn và chờ đợi. Trên các bàn có các ấn phẩm văn học chính trị và album của Trung Quốc đều in bằng tiếng Nga. Theo lệnh cấp trên, chúng tôi chỉ liếc mắt nhìn qua, không được đụng tay vào những ấn phẩm đó. Một nữ tiếp viên Trung Quốc bưng khay trà xanh và thuốc lá đến mời chúng tôi. Chúng tôi uống trà nhưng không hút thuốc lá. Xe của Đại sứ quán đã đến. Xe đưa chúng tôi cùng với những thợ mỏ và địa chất về Bắc Kinh. Chúng tôi được bố trí ở khách sạn Tam Châu. Hành lý của chúng tôi đều để lại sân bay cách thành phố 60 kilômét. Trên cả chặng đường đi từ sân bay về trung tâm thành phố, chúng tôi không thấy người dân nào. Các ngôi nhà đều sơn màu xám 4 tầng kiểu “Khrushev” của chúng tôi. Bầu không khí buồn tẻ và ảm đạm. Chúng tôi đến khách sạn, được bố trí trong phòng dành cho hai người có phòng tắm, điện thoại. Một lát sau, tất cả mọi người được mời đến ăn tối tại nhà hàng. Nhà hàng không có khách. Hai bàn ăn có hai nam nhân viên đứng sẵn phục vụ. Ẩm thực Trung Hoa nổi tiếng với một số lượng lớn các món ăn. Không có bánh mì, chỉ có thịt và cơm. Những tô lớn bốc hơi nghi ngút và thơm phức. Hai người phục vụ liên tục rót bia hoặc nước chanh vào ly mời chúng tôi. Bữa ăn đã kéo dài một giờ đồng hồ mà vẫn chưa hết đồ ăn. Chúng tôi xin phép trưởng đoàn mua một chai cônhắc Trung Quốc đem đến bàn ăn. Trưởng đoàn đồng ý, và bữa ăn trở nên vui nhộn hẳn lên. Bữa tối kéo dài thêm một giờ đồng hồ. Tất cả đã được hãng “Aeroflot” chi trả.
 
Sáng hôm sau, sau khi ăn sáng, chúng tôi ra sân bay mà không phải mang hành lý. Máy bay 11-18 đang chờ sẵn. Chỉ có đoàn của chúng tôi bay. Tất cả hành lý đều đã đưa lên máy bay. Phi hành đoàn và một nữ tiếp viên hàng không đã đến trước chúng tôi. Trên máy bay Trung Quốc không được thoải mái, không có các loại kẹo cứng mà chỉ có loại kẹo cao su. Điểm hạ cánh đầu tiên là sân bay Vũ Hán. Chúng tôi ăn trưa ở Vũ Hán với các món ăn Trung Quốc. Chúng tôi ra sân ga hút thuốc. Chúng tôi thấy một số người Trung Quốc ở ngoài hàng rào đang nhìn và chỉ ngón tay về phía chúng tôi. Điểm hạ cánh thứ hai là sân bay Nam Ninh. Chúng tôi lại được ăn món ăn theo phong cách ẩm thực Trung Hoa. Chúng tôi gọi một số món ăn Âu, họ mang đến cho chúng tôi xúp, khoai tây chiên và trà. Chúng tôi bay về hướng Hà Nội, thời tiết xấu, máy bay luồn qua những đám mây, bay trên những cánh rừng và những thung lũng đến Hà Nội. Máy bay hạ cánh tại sân bay dã chiến trong khu vực Hà Nội và ngay lập tức phải lăn vào nơi ngụy trang. Đón chúng tôi là Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân Việt Nam Đại tá Đỗ Đức Kiên và hai phiên dịch. Tất cả đều mặc quân phục nhưng không có quân hàm, đội mũ cối. Xe buýt đưa chúng tôi về khách sạn Kim Liên, nơi chúng tôi bắt đầu cuộc sống mới tại đây.

Các tòa nhà ở khách sạn đều là loại nhà ba tầng, tầng thứ nhất và thứ ba dành cho các chuyên gia Trung Quốc. Chúng tôi ở tầng hai với sáu phòng đôi. Tôi ở cùng Trung tá Levitsky Gleb Alexandrovich. Các giường đều có màn chống muỗi. Trong mỗi phòng có một bàn nhỏ và hai tủ đầu giường, ngoài hành lang có tủ lạnh đựng nước nguội đã đun sôi. Phòng chúng tôi ở được gọi là “cơ quan tham mưu”.

Mới 5 giờ sáng, chúng tôi đã nghe thấy ngoài sân vang lên bản nhạc nước ngoài để cho các chuyên gia Trung Quốc tập thể dục. Bỗng nhiên, không biết từ đâu xuất hiện hai máy bay cường kích của Mỹ đang lao nhanh qua những ngọn cây. Còi báo động vang lên. Trong khách sạn Kim Liên cũng gõ kẻng báo động. Tiếp theo đó là tiếng nổ liên tiếp của các loại vũ khí phòng không. Tất cả các chuyên gia Trung Quốc ngay lập tức chạy xuống các hầm trú ẩn nằm trong sân trước cửa khách sạn. Chúng tôi chạy ra ban công, nhìn các chuyên gia Trung Quốc đang chui ra từ các hầm trú ẩn. Chúng tôi cũng gặp nhiều lần báo động như thế, song chưa lần nào kịp xuống hầm trú ẩn.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #21 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2023, 05:38:00 pm »

Trên đường phố Hà Nội, chỗ nào bạn cũng có thể gặp những hố tránh bom. Các hố tránh bom được xây dựng như cái “giếng” bằng bê tông đúc sẵn. Trong trường hợp có báo động phòng không, bạn có thể nhảy xuống bất kỳ một hố nào nếu như hố đó chưa có ai. Đối với chúng tôi, những hố đó có vẻ như chật hẹp.

Nhân dân Việt Nam không đào hào vì: thứ nhất, mất nhiều diện tích; thứ hai khi bom nổ bên cạnh hào, người nằm trong hào dễ bị sức ép của bom nổ hơn so với người ngồi trong hố bằng bê tông. Hơn nữa, người Việt Nam có câu ngạn ngữ “tấc đất tấc vàng”.

Hằng ngày trừ thứ hai, đại diện Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân Việt Nam đến thăm chúng tôi. Nơi làm việc của chúng tôi nằm trong khu vực sở chỉ huy trung tâm của Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân. Chúng tôi luôn có ba đồng chí phiên dịch (một là đồng chí Giao, thứ hai là đồng chí Ngoạn lớn và thứ ba là đồng chí Ngoạn nhỏ). Đại diện Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân Việt Nam liên hệ nhờ chúng tôi cung cấp những ý kiến tư vấn cần thiết. Các ý kiến tư vấn cần đưa ra một cách thận trọng và hợp lý, một số ý kiến tư vấn không cần thiết cung cấp ngay (chúng cần được thảo luận trước trong đoàn). Tất cả các đề nghị của chúng tôi, chúng tôi ghi lại trong sổ mật và để trong túi chuyên dụng. Các túi này được niêm phong con dấu của người phiên dịch, sau đó chúng được gửi vào đơn vị bảo mật của sở chỉ huy trung tâm. Các đồng chí lãnh đạo Việt Nam hoặc phiên dịch cũng phải làm như thế đối với tài liệu của mình.

Đại tá Đỗ Đức Kiên, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân thường xuyên có mặt chỗ chúng tôi. Ông học ở Liên Xô nên tiếng Nga rất tốt, hiểu biết rộng về quân sự. Ông phụ trách việc thành lập Bộ đội Tên lửa Phòng không Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân. Nhiều cán bộ lãnh đạo và chỉ huy Việt Nam biết tiếng Nga rất tốt, nhưng khi làm việc, không bao giờ trao đổi trực tiếp mà qua phiên dịch. Đã có trường hợp không có phiên dịch, nên cuộc thảo luận cũng phải tạm dừng, ở đây muốn nói cần có người chứng kiến, người trung gian trong cuộc thảo luận. Người phiên dịch đóng vai trò đó. Cần phải nói rằng, khi phát biểu, các bạn Việt Nam rất cẩn thận và chín chắn.

Thứ hai hằng tuần, các chuyên gia quân sự Liên Xô tập trung về Đại sứ quán Liên Xô để báo cáo với Trưởng đoàn cố vấn, Đại tá Dzyza, về những ý kiến tư vấn mà chúng tôi đã đưa ra. Sau đó, Đại tá báo cáo với Thiếu tướng Ivanov - Tùy viên quân sự. Những vấn đề quan trọng hơn sẽ được báo cáo lên Đại sứ Ilya Sergeevich Sherbakov Tất cả những ý kiến tư vấn của chúng tôi được Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân Việt Nam chấp nhận đều được ghi lại trong các sổ đặc biệt tại Đại sứ quán Liên Xô.

Khi đó, Moskva đề xuất nhanh chóng xây dựng lực lượng phòng không và không quân ở Việt Nam. Trước tiên chúng tôi đề xuất là thành lập một đơn vị cấp lữ đoàn hoặc trung đoàn tên lửa phòng không. Nhưng do đất nước là nông nghiệp, đội ngũ cán bộ đều xuất thân từ nông dân nên việc thành lập cấp lớn như vậy sẽ gặp khó khăn, vì thế chúng tôi đề xuất thành lập các đơn vị ở cấp tiểu đoàn. Chỉ huy các đơn vị này do sở chỉ huy trên Bộ Tư lệnh thực hiện. Đề xuất này đã được phê duyệt.

Sau nhiều cuộc thảo luận và đưa ra các ý kiến tư vấn, cuối cùng đi đến quyết định thành lập hai trung tâm huấn luyện Bộ đội Tên lửa Phòng không. Một trung tâm tại Hà Nội và một trung tâm ở Hải Phòng, cộng thêm một trung tâm huấn luyện Bộ đội Rađa, trong đó có nhóm hoa tiêu - dẫn đường phi công tiêm kích. Và khi các đoàn tàu hỏa chở các bộ khí tài tên lửa phòng không (SAM), các thiết bị kỹ thuật, tên lửa và cả chuyên gia đi cùng lần lượt từ biên giới Trung - Việt về Việt Nam, thì các bạn Việt Nam và chúng tôi đã bắt đầu phối hợp tốt hơn. Đêm đêm, các cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, các chuyên gia quân sự Liên Xô và nhóm của chúng tôi đã cùng nhau đi bốc dỡ thiết bị từ các toa tàu xuống. Tôi không mô tả chi tiết bốc hàng như thế nào, nhưng công việc này thực sự rất vất vả. Khi làm việc chúng tôi thường cố gắng làm việc với tinh thần cao để cho những người lính Việt Nam thấy được hình ảnh những người lính Liên Xô, dù có mệt song vẫn cười đùa... Một chuyên gia dạy thực hành, người Ucraina đã kể rằng, tại một cuộc họp ở Tổng cục 10 các lực lượng vũ trang Liên Xô, Thiếu tướng Sidorov đã nói với chúng tôi rằng: “Các anh sẽ được chăm sóc tốt ở Việt Nam, đảm bảo 2.000 calo với giá chỉ 3 đồng”. Một người lính hỏi: “Thế thì tốt quá, calo rất nhiều, nhưng thưa đồng chí, nếu chuyển sang ăn xúp thì sẽ được bao nhiêu?”. Dĩ nhiên đó là một câu đùa.

Bộ khí tài tên lửa SAM-2-và các thiết bị kỹ thuật đều được chờ từ các ga xe lừa về thẳng các trung tâm huấn luyện. Chỉ huy Trung tâm huấn luyện Bộ đội Tên lửa Phòng không thứ nhất gồm có: Đại tá Tsygankov Mikhail Nikolayevich làm chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện; Trung tá Barsuchenko Mikhail Fedorovich làm Phó chỉ huy Trung tâm phụ trách công tác chính trị; Thiếu tá Egorov làm Tham mưu trưởng; Thiếu tá Meshkov làm Kỹ sư trưởng.

Cuối tháng 4 năm 1065, các chuyên gia quân sự Liên Xô bắt đầu tiếp nhận và chuẩn bị cho bộ khí tài tên lửa SAM-2 vào chiến đấu. Hai tiểu đoàn tên lửa phòng không được chọn là hai đơn vị ra quân trận đầu. Hai tiểu đoàn này đã trở thành hạt nhân của Trung đoàn Tên lửa Phòng không sau này. Ban đầu, các học viên Việt Nam được đào tạo trên các bộ khí tài huấn luyện của Trung tâm. Nhiệm vụ đào tạo họ để sớm vào chiến đấu là rất khó khăn. Để chuẩn bị khí tài sẵn sàng chiến đấu, nhóm chúng tôi đã cử các chuyên gia sau đây đến Trung tâm huấn luyện: Thiếu tá, Kỹ sư trưởng Kushnar Leonid Phedorovich; Đại úy kỹ sư L.V. Fokeev.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #22 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2023, 05:39:22 pm »

Sau hai tuần, các bộ khí tài đã sẵn sàng chiến đấu. Một tổ chuyên gia do Thiếu tá Bogdan chỉ huy trực tiếp chuẩn bị đạn tên lửa. Trung tá Mozhaev làm Tiểu đoàn trường Tên lửa Phòng không thứ nhất (Tiểu đoàn 63); Trung tá Ilinych làm chỉ huy Tiểu đoàn Tên lửa Phòng không thứ hai (Tiểu đoàn 64).

Sau khi đến thăm một số đơn vị pháo phòng không các đơn vị vô tuyến điện (tác giả muốn nói đến các đơn vị rađa và thông tin liên lạc - ND) của Quân chủng Phòng không - Không quân, chúng tôi nhận thấy ở các đơn vị này chưa có các sở chỉ huy cố định. Trong mạng lưới phòng không, các đơn vị này chỉ dùng các bảng bằng gỗ sơn đen làm bảng tiêu đồ và dùng phấn vẽ. Chúng tôi nhìn vào Sở chỉ huy trung tâm của Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân thì thấy ở đây đã được trang bị tốt hơn. Có một bàn chỉ huy máy bay chiến đấu. Bàn chỉ huy này cũng chỉ được trang bị rất sơ sài. Ngoài cái bàn nêu trên, trong sở chỉ huy không có cái gì nữa. Chúng tôi ngay lập tức đề xuất cần phải trang bị đầy đủ cho Sở chỉ huy trung tâm. Và để việc chỉ huy các tiểu đoàn tên lửa phòng không được tập trung vào một đầu mối, cần phải xây dựng và trang bị một sở chỉ huy Trung đoàn Tên lửa Phòng không. Những đề xuất này đã được các bạn Việt Nam chấp nhận ngay.

Trưởng nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô giao cho tôi chịu trách nhiệm về việc trang bị cho các đài sở chỉ huy. Theo đề xuất của tôi, trong khách sạn Kim Liên đã bố trí cho tôi một căn phòng riêng. Đây chính là lớp học của chúng tôi. Tại đây có tất cả giáo cụ của tôi, hai sĩ quan Việt Nam (một đồng chí thượng úy và một đồng chí thiếu úy), 10 đồng chí là hạ sĩ quan và chiến sĩ cùng đồng chí phiên dịch Giao. Để làm bảng tiêu đồ, cần phải có gỗ cứng và chắc làm khung, thế là đồng chí thiếu úy dẫn một nhóm binh sĩ lên đường vào khu vĩ tuyến 17 để lấy gỗ. Một tuần sau, khung tiêu đồ đã sẵn sàng để dựng. Đại úy Tyurin, Trưởng xưởng cơ khí của Tiểu đoàn kỹ thuật đã làm bu lông và ốc vít để đóng tấm bảng tiêu đồ. Mọi người đều cố gắng “trổ tài” để hoàn thành những phần “chế tạo” bảng tiêu đồ. Thật đáng khen, có thể nói rằng các chiến sĩ Việt Nam rất siêng năng, khéo tay và có con mắt thẩm mỹ nên chỉ một tuần sau, trong sở chỉ huy đã được trang bị gần như đầy đủ.

Giai đoạn thứ hai là khẩn trương xây dựng sở chỉ huy cho Trung đoàn Tên lửa Phòng không. Chúng tôi chọn một ngọn đồi gần Hà Nội. Giờ đây Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân đều tiếp thu tất cả các đề xuất của chúng tôi. Tôi cùng với Đại tá Dzyza, Đại tá Đỗ Đức Kiên, phiên dịch Giao, đi theo con đê cũ vào một vùng bán sơn địa ngoại thành Hà Nội, đến địa điểm sẽ đặt sở chỉ huy Trung đoàn Tên lửa Phòng không sắp ra quân trận đầu. Ở nhiều nơi chúng tôi đi qua chỗ nào cũng nhìn thấy toàn phụ nữ cần cù lao động ngoài cánh đồng. Họ ngâm mình trong nước, dưới ánh nắng thiêu đốt của mặt trời, trên đầu đội chiếc mũ rơm đang lúi húi trồng lúa. Trên khắp cánh đồng, không có bóng một người đàn ông. Sau này, tôi đã nhiều lần hỏi mỗi khi có dịp gặp họ: “Những người đàn ông đi đâu?”. Tất cả đều có một trả lời: “Ra mặt trận”. Tất nhiên, chúng tôi biết nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (tác giả muốn nói miền Bắc Việt Nam - ND) đang hướng về chỉ đạo, hỗ trợ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam cả nhân lực và vật lực. Nhiều người già và trẻ em ở Việt Nam đều làm việc. Các em nhỏ vừa học tập và giúp đỡ cha mẹ, giúp đỡ Nhà nước. Khi xe chúng tôi đi trên các con đường ở Việt Nam, các em luôn chạy theo chúng tôi và hét vang “Liên Xô!”.

Cuối cùng, chúng tôi đã đến địa điểm xây dựng sở chỉ huy, đầy là nơi có địa hình khô ráo. Mọi người không có ai phản đối. Gần một nhà máy gạch nhỏ đang sản xuất và cho sản phẩm là những đống gạch. Cách khoảng 1.500 mét là một ngôi chùa lớn. Đại tá Đỗ Đức Kiên đã không quên chuyện có lần tôi hỏi về Sở chỉ huy dự phòng của Quân chủng ở đâu? Chúng tôi đi đến đó, ông nói: “Đây là Sở chỉ huy dự phòng của Quân chủng. Đồng chí đừng ngạc nhiên vì các chuyên gia Trung Quốc đang làm việc ở đây”.

Chúng tôi được phép vào chùa. Trong khu làm việc rất ít người, chỉ thấy bảng tiêu đồ trang bị sơ sài như ở Sở chỉ huy trung tâm. Ngồi đằng sau các bức tượng Phật là các chiến sĩ báo vụ đang trực phiên liên lạc, không có tín hiệu khác biệt, không biết đó là các người lính Trung Quốc hay Việt Nam. Khi ngồi trên xe về Hà Nội, Đại tá Đỗ Đức Kiên mới nói rằng chúng tôi sẽ không trang bị cho cơ sở này, nó không phải là thẩm quyền của chúng tôi. Chúng tôi không đến đó nữa cho đến khi kết thúc nhiệm kỳ công tác của tôi. Ở đó, sáng kiến của chúng tôi là không cần thiết.

Lúc 5 giờ sáng, thượng úy và phiên dịch Giao đi xe đến khách sạn đón tôi. Tôi chạy vội đến nhà ăn, mua một chiếc bánh mì kẹp patê gan lợn giá 5 xu (chúng tôi ăn theo yêu cầu, nhưng tự trả tiền). Chúng tôi đưa lên xe một két nước chanh thay cho nước uống (vì trời nóng). Người lái xe cầm một đoạn ống tre đưa lên miệng, hít hai, ba lần, từ ống tre phát ra âm thanh kỳ lạ. Sau đó, người lái xe mới đưa chúng tôi đi dọc theo con đê cũ tới địa điểm xây dựng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #23 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2023, 05:45:16 pm »

Trên đường đi đến công trình, chúng tôi đã nhìn thấy một lá cờ đỏ trên đồi và nghe những tiếng hát của nhiều người. Điều làm tôi ngạc nhiên là một nửa hố móng lớn đã làm xong mà không hề có phương tiện kỹ thuật gì. Bên dưới lòng móng chỉ thấy người già và trẻ em tấp nập chuyên chở đất. Tôi cùng với thượng úy và phiên dịch Giao đứng dưới gốc cây đa, hút thuốc và nói chuyện. Một người nông dân vai vác chiếc cày bằng gỗ, mặc chiếc áo nâu sồng ướt đẫm mồ hôi, quần dài xắn lên đầu gối, chân trần, hình như vừa mới từ ruộng lúa đến đây. Ông đến sát tôi, nắn cơ bắp cánh tay, chân, ngực tôi. Tôi nói với ông: “Chào đồng chí!” và chìa cho ông một gói thuốc lá. Ông vui mừng nói “Liên Xô” và mỉm cười. Ông nhón một điếu thuốc giắt nó vào sau tai và nói: “Chào”. Khi chúng tôi về đến Kim Liên trời đã tối.

Khi chúng tôi cùng nhau tiến hành những công việc tiến tới thành lập Bộ đội Tên lửa Phòng không - Không quân, Đại tá Đỗ Đức Kiên đã đến ở hẳn Kim Liên. Mỗi sáng hàng ngày ông dậy rất sớm, tập thể dục dưới nền nhạc “Chiều Moskva”, sau đó, nếu rỗi, ông đến chỗ chúng tôi và chúng tôi đã thảo luận về những vấn đề mà chúng tôi cùng quan tâm.

Trong những lần thảo luận, chúng tôi đều nhấn mạnh tình hình không quân Mỹ hằng ngày tăng cường không kích vào các trung tâm hành chính và công nghiệp của Hà Nội, Hải Phòng và nhiều thành phố cơ sở khác. Pháo phòng không các loại của Việt Nam đã đánh trả lại các cuộc không kích của không quân Mỹ. Mỗi sáng, những chiếc máy bay bị bắn rơi được đánh dấu rõ ràng trên bảng tin ở khách sạn Kim Liên. Các mảnh vỡ của máy bay rơi đã được trưng bày tại quảng trường ở trung tâm Hà Nội và các thành phố khác. Người dân địa phương đã tích cực tham gia tìm kiếm và thu thập các mảnh vỡ của máy bay bị bắn rơi.

Sau khi đoàn tàu chở khí tài tên lửa và các trạm rađa cùng với các chuyên gia đi cùng đến Việt Nam, Trung tâm huấn luyện thứ hai đào tạo Bộ đội Tên lửa Phòng không đã được thành lập ở Hải Phòng. Lãnh đạo trung tâm huấn luyện thứ hai gồm: Người đứng đầu là Đại tá N.V. Bazhenov; Phó chỉ huy Trung tâm phụ trách về chính trị - Đại tá Smirnov.

Một trung tâm huấn luyện cán bộ kỹ thuật vô tuyến điện cũng được thành lập ở khu vực Hà Nội. Thiếu tá Popov được bổ nhiệm làm chỉ huy trung tâm. Trung tá Vasin Pavel Ivanovich của nhóm chúng tôi đã được Trưởng nhóm cử sang làm Kỹ sư trưởng, chịu trách nhiệm dào tạo các chuyên gia Bộ đội Kỹ thuật vô tuyến điện của Việt Nam. Đại úy Kostriko và Đại úy Antipin Valentin chịu trách nhiệm công tác đào tạo kỹ thuật các trạm kỹ thuật vô tuyến điện. Đại úy Antipin Valentin thông thạo tiếng Việt nên khi lên lớp không cần phiên dịch, kết quả vẫn tốt.

Cũng rất khó khăn và phức tạp mới thành lập được một nhóm hoa tiêu dẫn đường. Theo Hiệp định Genève năm 1954, ở Việt Nam không có máy bay. Phía Việt Nam đã chấp hành nghiêm quy định này, do đó Việt Nam không còn các nhân viên hàng không: phi công, hoa tiêu và các chuyên gia hàng không khác. Bằng cách nào đó, các bạn Việt Nam đã tuyển dụng những học viên mới có trình độ văn hóa từ lớp 8 đến lớp 10. Nhiệm vụ đào tạo các phi công hoa tiêu được giao cho các chuyên gia quân sự trong nhóm chúng tôi, cụ thể là: Trung tá Bandurkin Vladimir Fedorovich, trưởng phi công hoa tiêu Trung đoàn không quân chiến đấu thuộc Quân đoàn phòng không 19 và Đại úy Masyugin, Thượng úy Vladimir Dumchenko, cả hai người đều là phi công hoa tiêu hàng đầu của chúng tôi. Nhằm giữ bí mật, hai chuyên gia này đã được biên chế trong nhóm chuyên gia tên lửa phòng không với chức danh là các sĩ quan nạp nhiên liệu cho tên lửa.

Cần phải có tài liệu để chuẩn bị giáo án. Tôi có một cuốn sách không phải loại tài liệu mật, có tên gọi “Lái máy bay loại một chỗ ngồi”. Tôi đã mua cuốn sách này tại cửa hàng sách quân sự trước khi rời Moskva. Giáo án được viết theo trí nhớ. Thực hành lái được tiến hành theo kiểu “dạy đánh vần” (trên máy tập luyện), có dùng mô hình. Sau đó, toàn bộ quá trình huấn luyện được thực hiện thực sự trên IKO (VIKO) - màn hình hiển thị hình vòng. Trong thời gian ba tháng, các chuyên gia quân sự Liên Xô mà tôi đã nêu ở trên, đã hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Sở chỉ huy Trung đoàn Tên lửa Phòng không được xây dựng nhanh chóng. Các công nhân nhà máy cơ khí Việt - Xô ở Hà Nội dùng sắt chữ T hàn thành một khung nhà, rồi đưa khung đó lên địa điểm lắp ráp dưới hầm, xây tường gạch bao quanh. Nhằm che mắt kẻ địch, các bạn Việt Nam trồng chuối và sắn xung quanh và phía trên nóc hầm chỉ huy. Ở cả hai bên đều lắp cửa sắt dày 5 milimét. Trong hầm sở chỉ huy, phía bên ngoài, Thiếu tá Stein lắp đặt hai trạm phát điện diesel dự phòng. Nguồn điện chính được lấy từ Sở chỉ huy dự phòng của Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân. Những phụ nữ Việt Nam là những người đã kéo đường dây cáp cho đường điện đó.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #24 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2023, 05:47:29 pm »

Bên trong Sở chỉ huy đã được lắp đặt hoàn chỉnh các thiết bị. Từ đây, có thể liên lạc hữu tuyến và vô tuyến với tất cả các đơn vị phối thuộc và hai tiểu đoàn tên lửa phòng không. Trung tá Alexandr Ivanovich Grammov chịu trách nhiệm hướng dẫn sử dụng các thiết bị thông tin liên lạc.

Bây giờ các lớp học đã được tổ chức tại tất cả các trung tâm huấn luyện. Tình hình chiến sự trở nên ác liệt hơn, không quân Mỹ ngày đêm tăng cường không kích xuống Hà Nội, Hải Phòng, các thành phố và các tỉnh trên khắp miền Bắc Việt Nam, các chuyên gia quân sự Liên Xô phải giảng dạy cả phần lý thuyết cũng như thực hành trong điều kiện hết sức căng thẳng, song cả thầy và trò đều cố gắng.

Không quân Mỹ gia tăng các cuộc không kích nhằm thăm dò và đánh vào các mục tiêu trên miền Bắc Việt Nam. Để thực hiện được mưu đồ đó, họ đã dùng các loại máy bay F-105, RF-4, F-4, A-6D và nhiều loại máy bay khác, họ sử dụng tên lửa “Shrike”, bom napan, bom từ trường, bom bi. Các chuyến bay được xuất phát từ các tàu sân bay trên Vịnh Bắc Bộ và căn cứ không quân Utapao ở Thái Lan.

Trong ngày rời Moskva lên đường sang Việt Nam, tại Hội đồng Quân sự, Nguyên soái không quân, Tổng Tư lệnh Bộ đội Phòng không, đồng chí Sudets đã lưu ý với chúng tôi rằng, một nửa số chuyên gia quân sự Liên Xô được cử sang Việt Nam công tác đã được bắn thực hành trên trường bắn Kapustin Yar. Vì thế, nếu tình hình đòi hỏi, các đồng chí có thể trực tiếp tham gia chiến đấu. Do đó, một yêu cầu đã được đặt ra là phải chặn đứng các cuộc không kích của đế quốc Mỹ mà từ trước đến nay họ chưa bị trừng phạt, vấn đề này đã được thảo luận với Đại sứ Liên Xô Sherbakov tại Việt Nam. Quyết định đó đã được báo cáo Chính phủ Việt Nam. Hai tiểu đoàn tên lửa phòng không đã được thành lập gấp để triển khai đội hình chiến đấu. Hai khẩu đội pháo phòng không cũng được triển khai đội hình chiến đấu nhằm yểm trợ cho các đơn vị tên lửa phòng không. Tất cả các đơn vị đều đã thành lập sở chỉ huy, sẵn sàng chỉ huy chiến đấu và hiệp đồng chiến đấu. Các chuyên gia quân sự Liên Xô vừa là thầy dạy các học viên - Bộ đội Tên lửa Phòng không Việt Nam, đồng thời cũng là những người trực tiếp tham gia chiến đấu trong trận đầu ra quân.

Thế là, ngày 24 tháng 7 năm 1965, ba máy bay F-4 của không quân Mỹ bị bắn hạ... Một “Con ma” (F-4) bị bắn và cố gắng bay về căn cứ Utapao Thái Lan, nhưng bị thương nặng nên đã rơi xuống cánh rừng bên kia sông Hồng.

“Trinh sát viên” Thiếu tá Solomatin Nikolai Stepanovich đã đến nơi máy bay rơi. Vì không còn nhiên liệu nên máy bay không nổ, vẫn còn nguyên vẹn. Sau khi thu bảng kẹp bản đồ bay và các tài liệu, Thiếu tá quay trở lại nhóm của chúng tôi.

Hai kỹ thuật viên máy bay trước đây đã phục vụ trong không quân Liên Xô, được lãnh đạo Trung tâm huấn luyện thứ nhất cử đến tháo dỡ chiếc máy bay F-4, đóng gói trong các thùng đựng tên lửa phòng không, những người nông dân đã cắt ngang thùng đạn thành nhiều đoạn ngắn. Sau đó, chúng được đưa đến cảng Hải Phòng, xếp lên tàu chở hàng, đặt dưới các bao gạo và được chở về Liên Xô. Sự kiện này đã được giữ bí mật, bây giờ chúng tôi mới được phép nói.

Một lần, tại sở chỉ huy của Trung đoàn Tên lửa Phòng không thứ nhất (Trung đoàn 236 - ND) đã xảy ra một trường hợp như sau: Đó là vào buổi trưa, các tiêu đồ viên Việt Nam đang làm việc đã rời vị trí đi đến sở chỉ huy của Quân chủng. Vào thời điểm đó, điện thoại đặt sau bảng tiêu đồ theo dõi tình hình trên không bỗng đổ chuông liên tục. Thiếu úy Hùng cầm điện thoại, không trả lời mà chỉ chú ý lắng nghe, lúc này phiên dịch viên không có mặt. Thiếu úy Hùng nói với tôi: “U-2” và vẽ đường bay trên bảng tiêu đồ.

Đúng lúc này, các đồng chí Đại tá Dzyza, Đại tá Tsygankov, Trung tá Barsuchenko đang ngồi trên xe đi đến. Tiếp theo xe thứ hai có các đồng chí Phùng Thế Tài - Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, đồng chí Chính ủy Quân chủng và đồng chí phiên dịch. Tôi đã báo cáo với họ về sự xuất hiện của chiếc máy bay trinh sát U-2 trên bầu trời Hà Nội ở độ cao 19.000 mét, bay với tốc độ 900-1.000 kilômét/giờ.

Đồng chí Tư lệnh ngồi vào bàn và hỏi ý kiến đồng chí Chính ủy phải làm gì. Đồng chí Chính ủy im lặng. Đại tá Tsygankov báo cáo rằng hai tiểu đoàn tên lửa phòng không đã được triển khai trên một cánh đồng lúa, liên lạc không ổn định. Đại tá Dzyza hướng sang đồng chí Phùng Thế Tài nói: “Thưa đồng chí Tư lệnh, chờ quyết định của đồng chí?”.

Chúng ta cần một quyết định từ đồng chí Tư lệnh. Đồng chí Chính ủy cũng im lặng và hỏi điều gì đối với đồng chí Phó Chính ủy. Và mục tiêu vẫn đang bay, thay đổi hướng bay ở các góc độ khác nhau. Có nghĩa đây là máy bay trinh sát không người lái. Nó được điều khiển từ một chiếc máy bay “Ong chúa” và sắp sửa bay khỏi nơi đây mà không bị trừng phạt.

Lúc này, Đại tá Dzyza lệnh cho chỉ huy của hai tiểu đoàn: “Mozhaev và Ilyin, bắn”... Tất cả mọi người đang có mặt tại sở chỉ huy lạnh người, nhìn qua cánh cửa mở và thấy hai quả tên lửa được phóng lên nối tiếp nhau. Quả tên lửa đầu tiên đã làm cho máy bay trinh sát nổ tung nhiều mảnh xác máy bay rơi xuống đất. Tên lửa thứ hai nổ dưới tầng mây trắng. Tôi không biết đồng chí Tư lệnh và đồng chí Chính ủy trong lúc này tâm trạng thế nào, còn các cán bộ, chiến sĩ trong sở chỉ huy vô cùng vui mừng vì những thành tích ban đầu của bộ khí tài tên lửa phòng không. Cán bộ, chiến sĩ Trung Quốc và Việt Nam từ Sở chỉ huy trung tâm dự phòng của Quân chủng đã chạy đến chỗ chúng tôi. Họ ôm và bắt tay chúng tôi, hô to “Liên Xô!”. Vui mừng vì U-2 đầu tiên bị bắn rơi ở Liên Xô, cái thứ hai trên lãnh thổ Trung Quốc, và cái thứ ba ở Việt Nam.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #25 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2023, 05:48:53 pm »

Sang ngày thứ hai, sau khi kiểm tra các mảnh vụn thu thập được, chúng tôi phát hiện hóa ra đó không phải là U-2, mà là một máy bay trinh sát không người lái VQM-34A. Cuốn phim của máy ảnh đã bị cháy.

Một hôm, chúng tôi cùng với Thiếu úy Hùng đến Trung tâm huấn luyện Bộ đội Kỹ thuật vô tuyến để trang bị bổ sung một số bảng tiêu đồ và bảng chiếu sáng. Chúng tôi được bố trí trong căn nhà gỗ và bắt đầu công việc. Cách đó không xa là nhà máy thuốc súng. Còi “Báo động phòng không” lại vang lên. Một tốp máy bay của Mỹ lượn vòng tròn, bắt đầu ném bom nhà máy. Các bạn Việt Nam đều nấp trong hào và hố tránh bom. Tôi tiếp tục làm việc và xem những quả bom rời từ máy bay như thế nào. Các bạn Việt Nam gọi tôi ẩn vào hầm. Tôi trả lời: “Đang có chiến sự, cần phải làm việc, phải chiến đấu”. Sau khi hết báo động, họ mời tôi ăn dứa và nghỉ giải lao một giờ. Thiếu úy Hùng nói: “Nghỉ ngơi là cần thiết, như Bác Hồ đã nói, vì còn phải chiến đấu lâu dài, chúng ta cần giữ gìn sức lực”. Mỗi khi nhớ đến trường hợp này, tôi cảm phục về sự bình tĩnh của các bạn Việt Nam.

Một buổi tối, tôi đi “hóng mát”. Trên đường trở về tôi không bật đèn pin và đi theo khu vườn dứa đến ngôi nhà gỗ, ở đó một chiến sĩ Việt Nam đang tìm tôi. Thấy tôi, đồng chí lo lắng bảo: “Ở đây có rất nhiều rắn. Đồng chí đi bộ rất nguy hiểm”. Sau đó, để ghi nhớ chuyện này, họ tặng tôi một túi xác rắn đã đựng đầy gạo để làm kỷ niệm.

Về đến khách sạn Kim Liên, chúng tôi thường gặp nhau trong nhà ăn và chào hỏi các chuyên gia Trung Quốc. Sau khi các chuyên gia quân sự Liên Xô bắn trúng máy bay trinh sát của Mỹ, các chuyên gia Trung Quốc đã có cảm tình với chúng tôi hơn. Tôi không nhớ cụ thể ngày nào, Đại tá Dzyza đã đến sở chỉ huy và mời chúng tôi về khách sạn Kim Liên. Tôi nhớ lời Đại tá: “Các đồng chí khẩn trương tắm, thay quần áo, đi đến Đại sứ quán Trung Quốc dự chiêu đãi nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Hồng quân Trung Quốc”. Tới nơi, Tùy viên quân sự Đại sứ quán Trung Quốc và một nhóm chuyên gia Việt Nam và Trung Quốc đã đứng chờ chúng tôi. Chúng tôi được mời ngồi cùng với các chuyên gia Việt Nam và Trung Quốc. Chúng tôi cùng lần lượt nâng cốc chúc mừng: “Vì tình bạn, vì sự hợp tác”. Cuộc gặp mặt đã diễn ra trong bầu không khí ấm cúng và thân thiện.

Tôi sẽ không mô tả tỉ mỉ những chuyện hằng ngày diễn ra trong đời sống chiến đấu ở Việt Nam, nhưng cần phải nói rằng, dù cái nóng với độ ẩm nào, dù các loại bệnh nhiệt đới như: sốt rét, kiết lỵ amip, bệnh nhọt, đau thần kinh tọa, hoặc chuyện nước lạnh phải đun hai lần để uống... cũng không thể đè bẹp được sức mạnh và tinh thần của các chuyên gia quân sự Liên Xô.

Đại tá Mikhail Nikolaievich Tsygankov, Chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện thứ nhất đột nhiên bị bệnh cấp tính, ông đã được đưa về Liên Xô để điều trị; Trung tá Barsuchenko Mikhail Fedorovich được bổ nhiệm lên thay ông. Tham mưu trưởng Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô, Trung tá Levinsky Glev Alekcandrovich cũng bị bệnh phải đưa vào Bệnh viện hữu nghị Việt - Xô tại Hà Nội để điều trị. Do nóng và gió mùa vào buổi chiều ở vùng nhiệt đới, nhiều chuyên gia quân sự Liên Xô bị bệnh.

Cuối tháng 8 năm 1965, các khóa huấn luyện tại các trung tâm đã kết thúc. Tôi và nhóm các chuyên gia quân sự Liên Xô được mời đi nghỉ tại Tam Đảo, một vùng có khí hậu ôn hòa ở độ cao 1.910 mét so với mặt nước biển, cạnh một thác nước lớn. Một ngày nghỉ trôi qua, sáng ngày hôm sau, một xe Volga màu đen cùng với Bí thư Đại sứ Liên Xô đến đón tôi về Hà Nội để gặp Tùy viên quân sự Liên Xô, Thiếu tướng lvanov.

Bộ Tổng Tham mưu Bộ Quốc phòng Liên Xô giao nhiệm vụ cho tôi cùng với Đại tá Yangalov đi đến địa điểm xảy ra trận đánh ngày 21 tháng 8 với máy bay Mỹ, hai tiểu đoàn hỏa lực thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không 236 ra quân trận đầu đã giành chiến thắng giòn giã. Chúng tôi cần phải xem xét và mô tả diễn biến của trận đánh. Chúng tôi cùng với đồng chí phiên dịch Giao đến đây. Đồng chí Giao đề xuất nên đi vào ban đêm để đảm bảo an ninh, nhưng chúng tôi không đồng ý.

Tại thực địa, Đại đội trưởng đại đội pháo cao xạ đã gặp chúng tôi. Anh chỉ cho chúng tôi thấy nơi hai tiểu đoàn tên lửa phòng không triển khai ở chân núi và kể lại trận chiến đã diễn ra như thế nào. Các trận địa do các bạn Việt Nam chọn không đạt yêu cầu, chúng chỉ cách núi 8 và 12 kilômét. Buổi chiều có hai máy bay RF-101 và F-4 bay đến từ phía sau những ngọn núi. Cả hai tiểu đoàn tên lửa phòng không đều không có động tĩnh gì, vẫn để cho các máy bay do thám bay qua các trận địa. Sau một lúc, hai tốp máy bay F-4 và F-105 xuất hiện ở độ cao trung bình và tốc độ cao, bay trong vùng phủ sóng. Trận đánh diễn ra rất nhanh. Trong trận này, 18 máy bay Mỹ đã bị bắn rơi, phía ta phóng lên 22 quả tên lửa.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #26 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2023, 05:51:05 pm »

Sau trận đánh, các tiểu đoàn được lệnh di chuyển vào rừng. Các tiểu đoàn vừa rời khỏi trận địa, thì các bộ khí tài tên lửa phòng không làm bằng tre và cót đã được triển khai ngay trên trận địa đó. Hai đại đội pháo phòng không đã được triển khai để bảo vệ trận địa. Buổi tối hôm đó (21-8), một máy bay trinh sát đã bay qua trận địa giả ở độ cao vừa phải. Sáng ngày 22 tháng 8 nhiều tốp máy bay của không quân Mỹ (mỗi tốp từ 20-30 máy bay) đã bay vào từ bên kia dãy núi, chúng bay ở độ cao thấp, với tốc độ cao lần lượt tiến công vào trận địa giả. Các cuộc không kích được thực hiện trong hai giai đoạn. Mọi thứ trên trận địa bị nổ tung và bốc cháy. Chúng đã ném xuống trận địa hàng trăm tấn bom các loại: bom phá, bom bi, bom napan. Toàn bộ khu đất nhìn như đang ở trong các miệng núi lửa. Cây cối bị những mảnh bom các loại chặt đổ. Khi máy bay Mỹ điên cuồng ném bom xuống trận địa giả, những pháo thủ cao xạ Việt Nam trú trong các hầm trú ẩn, nhưng hai khẩu pháo cao xạ 100mm đã bị hư hỏng nặng, một số chiến sĩ Việt Nam bị thương nhẹ(1).

Sau khi thu thập được một số chiến lợi phẩm (mảnh bom, bom bi chưa nổ, thuốc nổ) và uống trà trong lán của Đại đội trưởng, chúng tôi chia tay mọi người về Đại sứ quán Liên Xô ở Hà Nội. Khi xe mới lăn bánh được mấy cây số, chúng tôi nhìn thấy một máy bay F-105 bay sạt trên đầu chúng tôi. Nhảy ra khỏi xe, chúng tôi ẩn nấp dưới một cái cây lớn, không để ý đến một cái lều trong bụi cây. Bắn “vu vơ” mấy loạt xuống đường, chiếc F-105 đã bay theo hướng ra cánh đồng lúa. Trong một ngôi nhà có tiếng ồn ào và một cuộc trao đổi có vẻ lo lắng. Người phiên dịch cho chúng tôi biết, vì chúng tôi mà những người nông dân đang lo lắng về nhà ở của họ. Để không gây lo lắng cho người dân địa phương, chúng tôi lập tức rời đi ngay.

Ngày 1 tháng 9 năm 1965, chúng tôi được Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mời đến dự Lễ kỷ niệm ngày Quốc khánh. Các phái đoàn từ Trung Quốc, Triều Tiên, Mông Cổ, Tiệp Khắc và các nước khác cũng được mời tới dự.

Phía Liên Xô không có phái đoàn từ trong nước sang. Do đó, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Liên bang Xôviết tại Việt Nam, đồng chí Sherbakov đã được ủy quyền thành lập một phái đoàn gồm các cán bộ trong Đại sứ quán và đại diện các nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô do Đại sứ làm trưởng đoàn.

Tất cả chúng tôi đều ở nơi làm việc, do đó Đại tá Dzyza đã nhanh chóng triệu tập chúng tôi theo phong cách quân sự. về đến khách sạn Kim Liên, chúng tôi thay quần áo và lên xe đến nhà Quốc hội.

Đường phố đông nghịt người, xe ô tô không thể đi được. Công an trong bộ lễ phục dẫn đường cho chúng tôi đến nhà Quốc hội. Người dân chào đón chúng tôi và hô to “Liên Xô! Liên Xô!”, họ chìa tay ra muốn được bắt tay chúng tôi.

Cuộc mít tinh trọng thể được cử hành trong hội trường lớn, đoàn của chúng tôi được bố trí ngồi ở giữa, bên phải chúng tôi là đoàn Trung Quốc, bên trái là đoàn Việt Nam. Tôi thấy trong đoàn Việt Nam có các đồng chí cán bộ của Đảng, Chính phủ và quân đội. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đọc diễn văn.

Sau Lễ mít tinh là vở Opera được trình diễn bằng ba thứ tiếng: Việt, Trung và Nga. Sau giải lao, các đại biểu được mời đến các phòng khác nhau để dự bữa tiệc đứng. Phái đoàn của chúng tôi cùng chỗ với các chuyên gia đến từ Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nâng cốc hướng về các thành viên phái đoàn chúng tôi và nói: “Xin chúc mừng các đồng chí nhân dịp kỷ niệm 20 năm nhân dân Liên Xô chiến thắng phát xít Nhật. Tôi chúc các đồng chí sức khoẻ và thành công trong công cuộc xây dựng một xã hội cộng sản!”. Đồng chí phiên dịch lại dịch ra “xã hội xã hội chủ nghĩa” và Thủ tướng đã sửa lại bằng tiếng Nga: “Xã hội cộng sản”.

Ngày 5 tháng 9 năm 1965, Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân Việt Nam đã mời tất cả các chuyên gia quân sự Liên Xô đã kết thúc nhiệm kỳ công tác đến dự buổi chiêu đãi tiễn đoàn. Trong buổi chiêu đãi trang trọng này, tất cả chúng tôi đều được trao tặng Huy chương Hữu Nghị.

Trong bài phát biểu, đồng chí Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân Phùng Thế Tài nhấn mạnh: “Lịch sử của sự hợp tác quân sự - kỹ thuật giữa Liên Xô và Việt Nam đã được bắt đầu trong thập niên 50 của thế kỷ XX kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước chúng ta. Chúng tôi rất biết ơn Liên Xô và đồng chí Stalin khi đó đã viện trợ cho chúng tôi 100 đơn vị súng cao xạ để xây dựng hệ thống phòng không của Việt Nam”.

Ngày 7 tháng 9 năm 1965, nhóm chuyên gia chúng tôi đã về nước trên chuyến máy bay Il-18.

Thành phố Ekaterinburg, tháng 4 năm 2008



(1) Thực tế trong trận địch đến ném bom xuống trận địa giả không phải như bạn kể. Trong trận này, pháo cao xạ đã bắn rơi hai máy bay Mỹ - theo hồi ức của ông Nikolai Kolesnik và theo lịch sử Trung đoàn tên lửa phòng không 236 - ND.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #27 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2023, 05:55:20 pm »

ATIPIN VALENTIN PAVLOVICH


Trung tá Antipin Valentin Pavlovich sinh ngày 4 tháng 4 năm 1932, tại thành phố Magnitogorsk.

Năm 1951, ông tốt nghiệp Cao đẳng Bách khoa Ural.

Năm 1956, ông tốt nghiệp trường Cao đẳng Kỹ thuật Vô tuyến điện Bộ đội Phòng không mang tên Gorky.

1956 - 1958: Làm Kỹ thuật viên Đại đội kỹ thuật vô tuyến điện.

1958 -1963: Theo học Đại học Kỹ thuật vô tuyến điện.

1963 - 1977: Công tác tại đơn vị kỹ thuật vô tuyến điện, Ban Tham mưu 40A Phòng không.

Từ tháng 4 đến tháng 12 năm 1965, là chuyên gia quân sự tại Việt Nam. Ông đã đào tạo các chiến sĩ rađa, thông tin liên lạc thuộc Binh chủng Tên lửa Phòng không biết sử dụng thành thạo các thiết bị thông tin mà Liên Xô cung cấp, đảm bảo liên lạc thông suốt trong thời gian ngắn nhất, có những trường hợp đột xuất phải lên sân bay Kép khắc phục sự cố đường thông tin liên lạc giữa một đất với các phi công chiến đấu đang bay trên không.

1977 - 1980: Giáo viên của Đại học Vô tuyến điện.

1980 -1988: Trưởng khoa Trường Cao đẳng Hàng không.

1988: Xuất ngũ.

Khi nghỉ hưu, ông tham gia công tác nghiên cứu khoa học và xã hội. Hiện ông sống ở Kiev.

Ông được trao tặng Huy chương Chiến công và nhiều Huy chương khác vì những thành tích đạt được khi phục vụ quân đội, trong đó có Huy chương Hữu Nghị của Nhà nước Việt Nam.

Nhớ lại những ngày công tác ở Việt Nam, ông đã viết những trang hồi ức, xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.


BỘ ĐỘI KỸ THUẬT VÔ TUYẾN ĐIỆN BẢO VỆ BẦU TRỜI VIỆT NAM

Đầu tháng 3 năm 1965, Đại tá Kraigelk - Chỉ huy Bộ đội Kỹ thuật vô tuyến điện 40A thuộc lực lượng phòng không chuẩn bị cuộc tuyển chọn người làm việc trên sở chỉ huy tiểu đoàn kỹ thuật vô tuyến ở thành phố Tagil. Đây là đề tài cấp bách cho tất cả các binh chủng lực lượng phòng không. Nó liên quan đến việc cải tiến vũ khí kỹ thuật vô tuyến để làm việc trong một môi trường phức tạp và có các loại nhiễu.

Chỉ huy các cuộc tuyển chọn là Tổng công trình sư Tập đoàn quân, Đại tá Batushkin, một sĩ quan có học hàm cao, có nhiều kinh nghiệm về việc dẫn dắt mục tiêu, vi ông từng phục vụ tại Baku trong một thời gian dài.

Trung tướng N.K. Grishkov, Tư lệnh Phòng không cũng có mặt trong các lần tuyển chọn. Khi kết thúc công tác tuyển chọn, ông đến gặp tôi và hỏi: Trong tình huống chiến đấu, tôi có thể cải tiến thiết bị quân sự và thử nghiệm nó trong tình huống ngay ở hiện trường được không? Tôi trả lời rằng tôi có thể làm được và tin tưởng việc cải tiến đó sẽ đạt hiệu quả. Và tôi nghĩ rằng, cuộc trò chuyện này không phải là không có lý do.

Ngày hôm sau, tôi nhận được điện triệu tập về Bộ Tham mưu Tập đoàn quân. Khi đến, tôi được thông báo rằng, trong vòng ba ngày, tôi phải chuẩn bị sẵn sàng thực hiện một chuyến công tác đặc biệt đến một đất nước có khí hậu nóng ẩm.

Thiếu tướng Gurinov - Phó Tư lệnh và Đại tá Gayderov - Hiệu trưởng Trường Hải quân đã ra tận sân ga tiễn nhóm chúng tôi đi Chelyabinsk. Vợ tôi đã bay từ Kiev tới, nhưng đúng lúc tàu chuyển bánh.

Tại Chelyabinsk, chúng tôi đã nhập vào một nhóm thành đội hình trên chuyến tàu gồm có cả các thiết bị kỹ thuật đã qua bắn thử tại trường bắn Kapustin Yar.

Ngày 8 tháng 4 năm 1965, đoàn tàu được thành lập, và chúng tôi hành quân về phía đông. Tại ga Zabaikal (ga biên giới Xô - Trung - ND), chúng tôi đã thay đổi quân phục sang thường phục. Trục bánh xe của các toa tàu cũng phải thay đổi, vì khổ rộng của đường sắt ở Trung Quốc hẹp hơn so với đường sắt của Liên Xô. Sau bốn ngày trên đất Trung Quốc, chúng tôi đã đến Bắc Kinh. Tại Bắc Kinh, chúng tôi được đón tiếp rất tốt, trong nhà hàng có rất nhiều món ăn ngon Trung Quốc.

Ngày 16 tháng 4, chúng tôi vượt qua biên giới Trung - Việt và đến Hà Nội. Chúng tôi đã phải bốc dỡ khí tài trong điều kiện ban đêm, sau đó chờ chúng đến trung tâm huấn luyện trong rừng.

Ở Việt Nam, điều đầu tiên khiến chúng tôi ngạc nhiên với những loại cây chưa quen biết, có nhiều bụi rậm và cây ăn quả. Nhưng điều quan trọng nhất mà chúng tôi được nhắc nhở trước khi lên đường, đó là điều kiện thời tiết khắc nghiệt: nhiệt độ trên 37 độ và độ ẩm trên 90%. Một ngày phải tắm hai lần để tránh mồ hôi tra tấn.

Trên mỗi giường ngủ đều có màn chống muỗi, nước uống phải đun sôi hoặc dùng nước trái cây đóng chai, đồ ăn trong nhà ăn tốt và chi trả bằng Việt Nam đồng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #28 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2023, 05:57:33 pm »

Vấn đề đầu tiên đặt ra với tôi là cần tìm hiểu những nhiệm vụ sắp tới của các chuyên gia quân sự Liên Xô và nắm vững tiếng Việt để dạy học.

Hầu hết các sĩ quan ở giai đoạn đầu thành lập đoàn chuyên gia quân sự đến từ Bộ đội Kỹ thuật vô tuyến điện 40A Phòng không, vì vậy việc trao đổi giữa các sĩ quan trong đoàn rất thuận lợi. Mỗi chuyên gia chúng tôi có một người phiên dịch. Lúc đầu, chúng tôi cùng với phiên dịch nghiên cứu tất cả các tài liệu, sau đó các tài liệu đó được dịch sang tiếng Việt Nam.

Ở thời kỳ đầu thành lập Bộ đội Phòng không và Bộ đội Kỹ thuật vô tuyến điện của Quân đội nhân dân Việt Nam, có ba trung tâm huấn luyện. Cán bộ chỉ huy của mỗi trung tâm gồm có:

Thứ nhất, phụ trách chung gồm: Đại tá Dzyza làm Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô; Thiếu tá Kushnar làm Trưởng đoàn kỹ sư các chuyên gia quân sự Liên Xô cho Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân Việt Nam.

Thứ hai, Trung tâm huấn luyện thứ nhất đào tạo Bộ đội Tên lửa Phòng không gồm: Đại tá M.N. Tsygankov - Chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện; Đại tá M.F. Barsuchenko - Phó Chỉ huy Trung tâm huấn luyện phụ trách về chính trị; Thiếu tá N.A. Meshkov - Tổng công trình sư.

Thứ ba, Trung tâm huấn luyện thứ hai đào tạo Bộ đội Tên lửa Phòng không gồm: Đại tá N.V. Bazhekov - Chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện; Đại tá I.I. Smirnov - Phó Chỉ huy Trung tâm huấn luyện phụ trách về chính trị. Thiếu tá A.V. Zaika - Tổng công trình sư.

Thứ tư, Trung tâm huấn luyện thứ ba đào tạo Bộ đội Kỹ thuật vô tuyến điện (rađa) gồm: Trung tá P.I. Vasin - Chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện, phụ trách công tác đào tạo sử dụng các thiết bị P-35, PRV-11, P-12NP; Đại úy V.M. Kostrinko - Tổng công trình sư; Thiếu tá L.V. Shuvatkin - Phụ trách nhóm đài chuyển tiếp P-35; Đại úy V.P. Antipin - Phụ trách nhóm PRV-11; Đại úy I.M. Radchenko - Phụ trách nhóm P-12NP.

Nhiệm vụ đầu tiên của chúng tôi là dạy phần lý thuyết kỹ thuật cho cán bộ, chiến sĩ Việt Nam, tiếp theo là phần thực hành trên các thiết bị hiện có. Đồng thời, chúng tôi phải giúp đỡ Bộ đội Tên lửa Phòng không và không quân tiêm kích.

Thời kỳ đầu, chúng tôi cảm thấy giữa chúng tôi với các đồng chí Việt Nam chưa có sự hiểu nhau thực sự. Để thay đổi được điều này, chúng tôi cần phải lấy kết quả công việc và thái độ cởi mở để chứng minh cho các bạn Việt Nam thấy chúng tôi có thể làm việc trong một thời gian dài với những công việc nặng như: việc triển khai và thu hồi khí tài hay như trong thể thao, khi chúng tôi chơi bóng đá và bóng chuyền. Dần dần giữa chúng tôi đã thông hiểu nhau hơn.

Thời gian học thực hành trên thiết bị đã phải giảm bớt, vì máy bay Mỹ liên tục ném bom xuống miền Bắc Việt Nam.

Tháng 6 năm 1965, Đại sứ Liên Xô tại Việt Nam, ông Sherbakov đã đến thăm trung tâm huấn luyện của chúng tôi. Ông đặc biệt nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng công tác chiến đấu của chúng tôi trên các trận địa và số máy bay Mỹ bị bắn rơi đã cải thiện tốt hơn mối quan hệ ngoại giao và tình hữu nghị anh em với Việt Nam.

Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân Việt Nam quyết định thành lập hai tiểu đoàn tên lửa phòng không trên cơ sở biên chế của Trung tâm huấn luyện thứ nhất và đưa hai tiểu đoàn này bước vào chiến đấu. Hai tiểu đoàn này có phiên hiệu là Tiểu đoàn phòng không 63 và 64 thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không 236. Nhóm của chúng tôi đã tham gia tích cực vào việc thiết lập liên lạc với trung đoàn, triển khai và điều chỉnh trạm rađa trinh sát và chỉ thị mục tiêu, gọi tắt là rađa nhìn vòng P-12.

Ngày 24 tháng 7 năm 1965, hai tiểu đoàn đã ra quân đánh thắng trận đầu. Ba máy bay F-4C (Con ma) của không quân Mỹ bị bắn rơi. Đây là chiếc máy bay Mỹ thứ 399, 400, 401 bị bắn rơi trên bầu trời miền Bắc Việt Nam. Từ xác của máy bay bị rơi người ta đã làm ra những chiếc huy hiệu kỷ niệm để tặng các chuyên gia quân sự Liên Xô đã tham gia vào trận đánh đó. Hai tiểu đoàn đã được trao cờ danh dự, cán bộ, chiến sĩ của hai tiểu đoàn 63 và 64 đã được Chính phủ Việt Nam trao nhiều huân huy chương.

Việc tổ chức thông tin liên lạc với các đơn vị và truyền đi những thông tin từ máy thu phát P-35 đến các trạm chỉ huy chiếm mất nhiều thời gian.

Các phi công Việt Nam tại sân bay Kép bắt đầu triển khai chiến đấu, nên một số sĩ quan trong nhóm chúng tôi đã được điều động lên Kép để điều chỉnh hệ thống liên lạc giữa mặt đất và trên máy bay. Đứng đầu nhóm công tác này là đồng chí V.M. Kostriko. Khi kết thúc công việc, tôi đã dạy các kỹ thuật viên cách vận hành thiết bị này. Đại tá A.M. Dzyza cũng có mặt tại đây và khen ngợi chúng tôi về công việc đã làm.

Giữa thập niên 60 của thế kỷ XX, Liên Xô đã có các trạm rađa khác nhau, trong đó có: Trạm rađa phát hiện từ xa P-12 và P-14, các tổ hợp rađa gồm có trạm phát hiện từ xa P-35 và trạm phát hiện độ cao PRV-11 bước sóng centimét, trạm rađa phát hiện ở độ cao thấp P-15, các trạm rađa đo tọa độ ba chiều: trạm di động bước sóng centimét loại “Pamir” và một số đài rađa chuyên dụng khác.

Khi xử lý thông tin bằng phương pháp thủ công có hiển thị thông tin về các mục tiêu trên các bảng tiêu đồ ở các sở chỉ huy, phải dùng các phương tiện thông tin sóng ngắn và sóng cực ngắn để truyền dữ liệu đến các sở chỉ huy, từ đó các sở chỉ huy thu thập thông tin để chỉ thị mục tiêu và điều khiển các đơn vị phòng không. Đài thông tin chuyển tiếp (vi-3) có tác dụng tăng cự ly liên lạc vô tuyến và tăng số kênh liên lạc hữu tuyến.

Các trạm rađa P-12, P-35 và PRV-11 đã được gửi sang Việt Nam kịp thời phục vụ chiến đấu.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #29 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2023, 05:59:52 pm »

Trong quá trình đào tạo các cán bộ, chiến sĩ Việt Nam sử dụng thiết bị trong chiến đấu, chúng tôi đã phải giải quyết nhiều nhiệm vụ mới phát sinh. Trước tiên là rào cản ngôn ngữ. Do đó, phương pháp đào tạo sư phạm có hiệu quả nhất được chọn là “hãy làm theo tôi”. Điều này có nghĩa là người hướng dẫn phải nắm vững tất cả các phương pháp khai thác những khả năng chiến đấu của thiết bị, có thể tìm ra và khắc phục những sự cố xảy ra trong khi sử dụng.

Một nhiệm vụ quan trọng là làm sao để các đài rađa đảm bảo được các điều kiện thuận lợi cho công tác chỉ huy chiến đấu ở các đơn vị hỏa lực phòng không trong cuộc chiến chống lại kẻ thù trong các tình huống khác nhau, như: bắn mục tiêu bay thấp, mục tiêu bay theo nhóm, mục tiêu siêu âm và mục tiêu có thả các loại nhiễu khác nhau. Sự đa dạng của dải tần số rađa giúp cho các trắc thủ vẫn có thể phát hiện ra mục tiêu khi địch thả nhiễu tích cực, vùng sóng làm việc bị phủ kín.

Đài rađa có thể phát hiện được máy bay có tốc độ cao chỉ khi nào giảm được thời gian thao tác tất cả các động tác, như đưa trạm vào tư thế sẵn sàng chiến đấu, giảm thời gian truyền tải các dữ liệu về mục tiêu. Khi áp dụng những cải tiến kỹ thuật nhỏ ở Việt Nam, chúng tôi đã đạt được kết quả là nhanh chóng đưa rađa vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu, điều chúng tôi gọi là “chế độ mở máy khẩn cấp”.

Khi điều khiển bằng phương pháp thủ công, thì việc giảm thời gian truyền dữ liệu phụ thuộc vào trình độ của trắc thủ rađa. Để nâng cao trình độ cho các trắc thủ, trên đài rađa P-35 có một thiết bị mô phỏng mục tiêu (thiết bị tạo mục tiêu giả - ND). Thiết bị này cho phép tạo ra một tình huống trên không trên màn hình trong một khoảng thời gian yên tĩnh. Tuy nhiên, loại máy tạo mục tiêu giả này không có trên các đài rađa PRV-11 làm việc kết hợp với P-35. Muốn có máy tạo mục tiêu giả của trạm rađa P-35 để cho trắc thủ của đài PRV-11 luyện tập, thì phải mất nhiều công sức. Muốn thế, phải xoay màn hình quét của đài P-35 một góc 90 độ hướng vào màn hình đo độ cao. Sau đó, các trắc thủ của đài P-35 và PRV-11 có thể cùng nhau tập luyện cùng một mục tiêu.

Việc điều khiển các phương tiện phòng không có đảm bảo ổn định hay không còn phụ thuộc vào tính ổn định của hệ thống truyền dữ liệu từ đài rađa đến sở chỉ huy và các trận địa hỏa lực phòng không. Sau khi đã nghiên cứu một cách bài bản, tôi đề xuất phương pháp truyền dữ liệu về mục tiêu không phải vào hệ tọa độ vốn có của rađa mà vào hệ tọa độ của mạng phòng không và thống nhất cho tất cả các đơn vị thuộc hệ thống tên lửa phòng không. Trong trường hợp này, việc truyền tải dữ liệu sẽ được nhân đôi, chuyển đồng thời đến các sở chỉ huy và các trận địa hỏa lực.

Tất nhiên, trong quá trình chiến đấu cũng có những sai lầm nghiêm trọng. Do trình độ hiểu biết về thiết bị rađa của các trắc thủ Việt Nam còn chưa cao, đặc biệt là việc kịp thời nhận biết ra mục tiêu, nên Tiểu đoàn Tên lửa Phòng không đã không được cảnh báo khi máy bay địch đã bay vào trận địa và Tiểu đoàn đã bị đánh trúng. Sau sự cố này, tất cả các trắc thủ rađa đã được nghiên cứu những đặc điểm khai thác loại thiết bị này, từ đó không xảy ra trường hợp đáng tiếc như trước.

Nhờ làm việc cần mẫn hằng ngày, chúng tôi đã chứng minh cho các bạn Việt Nam về tính hiệu quả của khí tài phòng không đã được cung cấp. Theo số liệu thống kê mà chúng tôi nắm được, thì mỗi máy bay Mỹ bị bắn rơi trên bầu trời miền Bắc Việt Nam trong năm 1965, Tiểu đoàn Tên lửa Phòng không chỉ phải tiêu hao 1,8 tên lửa S-75. Đây là một tỉ lệ rất tốt.

Trong vòng bốn tháng, tôi đã nắm được các từ tiếng Việt cơ bản đủ để lên lớp dạy học mà không cần phiên dịch.

Mối quan hệ của chúng tôi với người dân địa phương cũng rất tốt. Người dân luôn sẵn sàng giúp đỡ chúng tôi trong mọi tình huống, bảo vệ chúng tôi trong các trận ném bom.

Có lần tôi được gọi khẩn cấp về tiểu đoàn hỏa lực để điều chỉnh hệ thống nhận dạng của rađa. Đại tá Dzyza đã điều xe của mình cho tôi. Trên đường đi có một rãnh nước đang chảy. Con đê gần đó bị máy bay Mỹ đánh bom, nên nước từ sông đang xối chảy vào rãnh nước. Đồng chí lái xe đã quyết định vượt qua đoạn ngập nước và thế là xe bị mắc kẹt. Một nông dân đang làm việc trên cánh đồng nhìn thấy như vậy, liền dắt con trâu của mình đến và cho trâu kéo xe ra. Chúng tôi vô cùng cảm ơn ông, coi ông là vị cứu tinh. Tôi xin phép được chụp ảnh với ông để giữ mãi những hình ảnh này.

Một vài tuần trước khi lên đường về Liên Xô, chúng tôi được mời vào tòa nhà Chính phủ Việt Nam, được Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng đón tiếp. Thủ tướng bày tỏ sự cảm ơn Liên Xô về sự giúp đỡ và trao Huy chương Hữu Nghị và bằng chứng nhận cho chúng tôi.

Chúng tôi bay từ sân bay Gia Lâm về Liên Xô. Ra sân bay tiễn chúng tôi có Trung tá Sắt - Trưởng trung tâm huấn luyện và một sĩ quan Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là một cuộc chia tay ấm áp và tràn đầy tình hữu nghị. Những hình ảnh khi đó còn lưu mãi trong tâm trí tôi.

Năm 2005, Trung tướng Lương Hữu Sắt - Người từng giữ chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật phụ trách công tác trang bị vũ khí, đã viết cho tôi một lá thư, trong thư có câu: “Hình ảnh các chuyên gia quân sự đầu tiên đến bây giờ vẫn đang sống trong trái tim của tôi”.

Thành phố Kiev, năm 2008
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM