Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:07:23 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Việt Nam không thể nào quên - Quyển 1  (Đọc 21599 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #30 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2023, 07:36:46 pm »

KUSHNAR LEONID FEDOROVICH


Kushnar Leonid Fedorovich sinh ngày 3 tháng 1 năm 1928 tại làng Saltov, huyện Volchansky, tỉnh Kharkov.

1947 - 1950 theo học tại trường Cao đẳng Cờ đỏ Pháo phòng không.

1950 - 1951 phục trong Trung đoàn Tên lửa Phòng không, chức vụ Trung đội trưởng.

1951 - 1952 công tác tại Trường Kỹ thuật vô tuyến Gorky, chức vụ Trưởng phòng Thí nghiệm.

1952 - 1958 theo học tại Học viện Kỹ thuật vô tuyến Govorov ở Kharkov.

1958 - 1965 công tác trong lực lượng phòng không, khẩu đội trưởng khẩu đội kỹ thuật vô tuyến thuộc tiểu đoàn tên lửa phòng không; Tổng công trình sư, Phó Trung đoàn trưởng Trung đoàn Tên lửa Phòng không; Tổng công trình sư - Phó Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn Tên lửa Phòng không.

Từ tháng 4 năm 1965 đến tháng 4 năm 1966, ông được cử sang Việt Nam công tác với cương vị kỹ sư trưởng, trưởng nhóm chuyên gia tiền trạm, chuẩn bị tiếp nhận bộ khí tài tên lửa S-75 được vận chuyển từ Liên Xô, qua Trung Quốc về Việt Nam. Ông đã lãnh đạo nhóm chuyên gia tiền trạm thực hiện tốt công tác bốc dỡ bộ khí tài từ tàu hỏa Trung Quốc ở ga biên giới Việt - Trung sang các phương tiện vận chuyển của Việt Nam và tổ chức đưa số khí tài đó về trung tâm huấn luyện Bộ đội Tên lửa Phòng không mới được thành lập ở Việt Nam. Ngoài ra, ông còn đóng góp nhiều ý kiến rất có giá trị trong việc khắc phục những tồn tại về kỹ thuật trong lực lượng pháo cao xạ cũng như trong việc chuẩn bị hai tiểu đoàn tên lửa phòng không của Trung đoàn tên lửa phòng không 236 ra quân đánh thắng trận đầu. Ông được thăng quân hàm trung tá khi đang công tác ở Việt Nam.

1966 - 1976 làm Tổng công trình sư Quân đoàn phòng không.

1976 - 1978 làm cố vấn Tổng công trình sư của Quân đội nhân dân Cuba.

1978 - 1979 phục vụ trong lực lượng phòng không, làm Phó chỉ huy lực lượng phòng không; Chỉ huy trưởng Lực lượng Tên lửa - Pháo cao xạ Phòng không

1979 xuất ngũ về nghỉ hưu với quân hàm đại tá.

Ông qua đời ngày 17 tháng 2 năm 2008, và được an táng tại Kharkov.

Với những thành tích đã đạt được trong những năm phục vụ trong quân đội và làm nghĩa vụ quốc tế, ông được trao tặng Huân chương Cờ Đỏ, Sao Đỏ và nhiều Huy chương, trong đó có Huy chương Hữu Nghị của Việt Nam.

Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài hồi ức của ông.


HỒI ỨC VỀ CHIẾN TRANH Ở VIỆT NAM

Điều đó bắt đầu như thế nào?

Tháng 1 năm 1965, một nhóm sĩ quan của Lữ đoàn tên lửa phòng không 37 do Đại tá Zherdev Aiesei Ivanovich chỉ huy, đã được triệu tập tới Bộ Tham mưu Bộ đội Phòng không.

Tổng Tư lệnh các lực lượng phòng không, Nguyên soái Liên Xô P.F. Batitsky trực tiếp giao nhiệm vụ. ông nói: “Chính phủ Việt Nam đã đề nghị Chính phủ Liên Xô giúp đỡ trong cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược, và Chính phủ Liên Xô đã đáp ứng đề nghị đó. Nhiệm vụ của chúng ta là thành lập một nhóm chuyên gia cùng với các thiết bị phòng không để bảo vệ không phận miền Bắc Việt Nam. Tôi giao nhiệm vụ này cho các đồng chí để các đồng chí cùng với các sĩ quan tham mưu nghiên cứu đề xuất thành lập một nhóm chuyên gia lấy từ biên chế của Lữ đoàn và cần triển khai càng sớm càng tốt. Hãy suy nghĩ thật kỹ, nhanh chóng và hiệu quả. Thời hạn là hai ngày. Cuối thời hạn này, các đồng chí phải báo cáo kế hoạch của mình”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #31 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2023, 07:38:16 pm »

Nhiệm vụ rất rõ ràng và chúng tôi phải bắt tay vào việc. Trong nhóm của chúng tôi có các chuyên gia tham mưu, hậu cần, các sĩ quan tên lửa do tôi đứng đầu, các sĩ quan thông tin liên lạc, vận tải. Tổng Tư lệnh đã cho chúng tôi quyền yêu cầu sự trợ giúp từ bất kỳ bộ phận nào của Bộ Tham mưu. Vì chúng tôi là đại diện của lực lượng phòng không, nên dĩ nhiên chúng tôi cũng đề nghị tư lệnh Binh chủng Tên lửa Phòng không giúp đỡ. Tư lệnh kết nối chúng tôi với Phó Tư lệnh, Trung tướng S.F. Vikhor và Phó Tư lệnh cũng giao nhiệm vụ cho các sĩ quan của ông giúp đỡ chúng tôi. Trước tiên, chúng tôi cần sự giúp đỡ của các chuyên gia vận tải đường sắt nói chung và chuyên gia vận chuyển thiết bị kỹ thuật nói riêng.

Công việc bắt đầu triển khai. Trong những ngày này chúng tôi cố gắng giải quyết các công việc như:

- Quyết định thành phần của nhóm phòng không.

- Đường đi và điều động quân (khí tài phòng không tên lửa, máy bay, nhân sự).

- Những đặc điểm khi đi qua Trung Quốc và đặc biệt là ở Việt Nam. Vì khổ rộng đường ray khác nhau và khi tới biên giới Việt Nam, cần phải tổ chức bốc dỡ chuyển hàng tổ chức điểm trung chuyển.

- Trinh sát thực địa ở Việt Nam.

Tất cả những vấn đề này được trình bày ở dạng sơ đồ, bản đồ, mô tả chi tiết, và hai ngày sau, được báo cáo lên Bộ Tư lệnh Phòng không.

Sau khi tiếp thu những nhận xét và có chỉnh sửa nhất định, cuối cùng đề xuất của chúng tôi đã được phê duyệt và chúng tôi bắt đầu thực hiện kế hoạch.

Đương nhiên, một trong những vấn đề chính là thành phần của nhóm. Cuối cùng, nó đã được quyết định, thành phần nhóm gồm có:

- Lữ đoàn bao gồm 12 tiểu đoàn tên lửa phòng không và ba tiểu đoàn kỹ thuật.

- Bổ sung một tiểu đoàn kỹ thuật vô tuyến (tiểu đoàn rađa - ND) vào biên chế của Lữ đoàn.

- Hai trung đoàn không quân tiêm kích được tăng cường cho Lữ đoàn.

Thiết bị kỹ thuật phòng không và rađa được triển khai tại Việt Nam, còn hai trung đoàn không quân tiêm kích, được Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đồng ý, sẽ được triển khai trên lãnh thổ của Trung Quốc sát biên giới Việt - Trung.

Vấn đề trinh sát thực địa đã có trong chương trình. Tháng 2 năm 1965, nhóm 10 người chúng tôi bay tới Việt Nam để lựa chọn các vị trí cho các trung đoàn rađa, các tiểu đoàn tên lửa và các trung đoàn không quân. Chuyến bay được lên kế hoạch vào ngày mùng 1 và 2 tháng 2 năm 1965. Chúng tôi thay sang quần áo dân sự, chuẩn bị đồ đạc cho chuyến đi, trước khi bay, chỉ huy đã cho chúng tôi về nhà đến 18 giờ cùng ngày, sáng hôm sau 6 giờ sẽ cất cánh lên đường.

Tôi trả phép về đơn vị lúc đó khoảng 17 giờ. Tôi đi vào phòng ngủ, ở đó, tôi nhìn thấy đồng chí chỉ huy đang đi bộ xung quanh căn phòng với vẻ giận dữ. Ông nhìn lên trời, rồi lại cúi xuống đất và nhìn sang các hướng khác nhau. Tôi thấy ngạc nhiên và quay sang ông gọi cả tên - tên gọi theo cha (trong tình huống không phải là công việc, chúng tôi thường gọi nhau như vậy): “Alesey Ivanovich, chuyện gì đã xảy ra?”.

Ông đã trả lời tôi rằng, mọi thứ đã bị hoãn lại, chúng ta chưa thống nhất được với phía Trung Quốc để cho thiết bị và người đi qua lãnh thổ đến Việt Nam. Ngày hôm sau chuyến bay bị hủy, tại Bộ Tham mưu, chúng tôi được cảm thông và đặt máy bay đưa chúng tôi về quê hương Chelyabinsk. Chúng tôi trở về nhà trong một bộ trang phục dân sự. Giai đoạn đầu trong công cuộc giúp đỡ những người bạn Việt Nam của tôi đã kết thúc như thế đó.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #32 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2023, 07:40:50 pm »

Chuyến bay đến “thành Thăng Long”

Giữa tháng 4 năm 1965, một nhóm các sĩ quan gồm chín người được triệu tập đến Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không. Họ gồm những sĩ quan: Kuslmar Leonid Fedorovich; Vasin Pavel Ivanovich; Bandurkin Vladimir Fedorovich; Kostriko Vladislav Mikhailovich; UzIenkov Alexandr Yakovlevich; Groniov Alexandr Ivanovich; Fokin Lev Mikhailovich; Levitsky Gleb Alexandrovich; Vodorez Leonid Fedorovich.

Chúng tôi được giao nhiệm vụ lập phương án để đưa sang Việt Nam hai bộ tổ hợp tên lửa phòng không S-75 và các khí tài vật chất để trang bị cho hai trung tâm huấn luyện.

Chúng tôi phải lựa chọn số cán bộ khung tối thiểu để đảm bảo được chương trình đào tạo Bộ đội Tên lửa Phòng không tương lai của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Tiếp đó, sau nhiều cuộc đàm phán kéo dài giữa các bạn Việt Nam với phía Trung Quốc, cuối cùng mới có được phương án: Chúng tôi (Liên Xô) cung cấp thiết bị và một số lượng giáo viên nhất định, huấn luyện các cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, không tham gia chiến đấu.

Trên cơ sở quyết định của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô, một đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô được thành lập tại Việt Nam. Nhiệm vụ đầu tiên của đoàn chuyên gia là thành lập các trung tâm huấn luyện, chuẩn bị khí tài và nhân sự đề giảng dạy. Chuyên gia đầu tiên đến Việt Nam là Đại tá Alexandr Matveevich Dzyza. ông đã từng làm Chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện tại Kubinka, tại đây, các chuyên gia tên lửa của chúng tôi được đào tạo chuyển loại từ hệ thống tên lửa S-25 lên hệ thống mới S-75. Với kinh nghiệm đã có, ông đã lãnh đạo thành lập các trung tâm huấn luyện tại Việt Nam.

Sau khi đã chuẩn bị xong các công việc nêu trên (đặc biệt là rút kinh nghiệm việc chuẩn bị hồi tháng giêng vừa qua), đoàn chúng tôi cần phải bay đến Việt Nam trong những ngày cuối tháng 4. Tôi đã được chỉ định làm trưởng đoàn. Chúng tôi cất cánh đúng thời gian và sau hai ngày đã đến Bắc Kinh, ở đây, chúng tôi đã được trợ lý tùy viên quân sự Liên Xô ở Trung Quốc ra đón. Chúng tôi được bố trí ở trong khách sạn “Pioneer” ở trung tâm Bắc Kinh. Chúng tôi ở lại Bắc Kinh khoảng một tuần, nhưng mọi chi phí ở lại của chúng tôi lại chưa xác định được ai thanh toán. Chúng tôi được cấp 75 nhân dân tệ cho các chi phí hàng ngày, nhưng các bạn Trung Quốc từ chối nhận tiền phòng, tiền ăn, mặc dù trợ lý Đại sứ đã nói rằng, chúng tôi phải trả tiền. Cuối cùng, các bạn Trung Quốc vẫn nhất quyết từ chối việc chúng tôi chi trả.

Chúng tôi đi dạo trên quảng trường chính của Bắc Kinh, đến thăm các cửa hàng bách hóa và mua kính râm, bật lửa, bút máy và một vài thứ lặt vặt khác. Chúng tôi nhận ra một điều là, người dân Bắc Kinh mặc trang phục giống nhau: áo khoác và quần đều màu xanh. Cuối cùng đến cuối tuần, chúng tôi được bố trí rời Bắc Kinh đến Hà Nội. Trưa ngày 30 tháng 4, máy bay chúng tôi đến sân bay Gia Lâm, Hà Nội. Trời nắng và nóng. Ra sân bay đón chúng tôi có Đại tá Dzyza và Phó tùy viên quân sự Liên Xô tại Việt Nam. Về phía Việt Nam có Đại tá Đỗ Đức Kiên - Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân và một số đồng chí khác. Cuộc gặp đã diễn ra thân mật. Sau đó, chúng tôi về khách sạn Kim Liên ở cửa ô Hà Nội và nhận phòng ở. Tôi có một phòng riêng, nhận phòng xong tôi lập tức đi tắm và nghỉ ngơi.

Buổi tối, Đại tá Dzyza đã tập hợp đoàn chúng tôi trong khách sạn. Ông giới thiệu tóm tắt với chúng tôi tình hình trong những ngày gần đây nhất và thông báo cho chúng tôi biết vào ngày hôm sau Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân Quân đội nhân dân Việt Nam sẽ gặp đoàn chúng tôi.

Đại tá Phùng Thế Tài - Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân Quân đội nhân dân Việt Nam và các đồng chí cùng đi đã tiếp đoàn chúng tôi tại trụ sở của Bộ Tham mưu, đây cũng là nơi làm việc của chúng tôi. Địa điểm này không xa khách sạn Kim Liên. Cuộc gặp đã diễn ra đầm ấm, nhưng chúng tôi rất ngạc nhiên trước hình thức bên ngoài của các đồng chí Việt Nam. Nếu ở sân bay Gia Lâm, Đại tá Đỗ Đức Kiên đã mặc bộ âu phục và ông lại nói tiếng Nga thành thạo, thì Tư lệnh và đoàn tùy tùng cùng đi lại mặc khá giản dị.

Sau cuộc họp, chúng tôi đã được làm quen với những người mà chúng tôi sẽ làm việc. Bạn tôi, người mà tôi đào tạo để làm việc và khai thác thiết bị mới, và làm việc với các tài liệu cần thiết, đó là Thiếu tá Dục - Kỹ sư trưởng Binh chủng Phòng không. Chúng tôi được làm việc với một phiên dịch xuất sắc tên là Hùng. Đó là một người quý hơn vàng. Đồng chí không chỉ thông thạo tiếng Nga mà còn là một người bạn tốt.

Sau khi đến Việt Nam, tôi báo cáo với Đại tá Dzyza về thành phần của nhóm và báo cáo thêm rằng tại Bộ Tham mưu Phòng không - Không quân, tôi đã được bổ nhiệm làm trưởng nhóm và bây giờ tôi xin được rút khỏi chức vụ này, vì một số đồng chí trong nhóm sẽ làm việc trong các lĩnh vực khác với chuyên ngành của tôi. Đại tá Dzyza cười và nói rằng: “Như thế không được, đồng chí tiếp tục là chỉ huy của họ, cũng như tôi, ngoài đồng chí ra, còn có nhiều việc khác”. Đại tá Dzyza còn nói thêm: “Chỉ có hai trong số họ không làm về kỹ thuật, số còn lại đều dân kỹ thuật của đồng chí, hãy chỉ huy họ đi. Nếu có vấn đề gì cần tôi quyết định, họ sẽ báo cáo với đồng chí, và chúng ta sẽ cùng nhau quyết định”. Thế là tôi vẫn giữ cương vị là trường nhóm cho đến khi kết thúc nhiệm kỳ công tác.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #33 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2023, 07:42:12 pm »

Đầu tiên tôi làm việc với Kỹ sư trưởng Dục để tìm hiểu xem lúc đó Việt Nam có những gì. Tiếc rằng không có gì. Chỉ có ông và cấp phó của mình - Đại úy Nguyên (ông gọi cấp phó của mình như vậy). Các đồng chí còn lại chúng tôi vẫn đang xem xét lựa chọn, nhưng dù sao trong 2-3 tháng đầu cùng không thể mong chờ họ làm được gì, vì họ phải trải qua đào tạo tại các trung tâm huấn luyện. Đại úy Nguyên tốt nghiệp trường Minsk, biết thành thạo tiếng Nga, nên chắc chắn vẫn nằm trong đội hình, còn những người khác vẫn còn trong kế hoạch lựa chọn.

Đại tá Dzyza đã cho chúng tôi vài ngày để làm quen với tình hình, với các đồng nghiệp của chúng tôi, đồng thời cũng đặt ra cho chúng tôi nhiệm vụ tìm hiểu và kiểm tra các địa điểm bốc dỡ thiết bị. Chúng tôi cùng với đồng chí Dục và các kỹ sư đi đến ga đường sắt để xác định những nơi bàn giao các toa tàu, nơi bốc dỡ, đèn chiếu sáng bãi bốc dỡ và lối đi vào. Mọi công việc được lên kế hoạch thực hiện vào ban đêm, vì vậy cần phải cân nhắc tất cả các phương án. Sau đó, xác định những địa điểm trung gian để đặt thiết bị trước khi chuyển chúng đến vị trí cuối cùng.

Trong thời gian này đã xảy ra một câu chuyện thú vị. Một hôm đồng chí Dục dẫn một đồng chí không phải cùng đơn vị đến chỗ chúng tôi và giới thiệu đồng chí ấy là kỹ sư trưởng lực lượng pháo cao xạ. Nhân tiện đây cũng cần nói thêm, trong thời gian này, Quân đội nhân dân Việt Nam đã được trang bị các loại pháo cao xạ, như súng máy I2,7mm, pháo cao xạ 37mm, 57mm, 100mm. Chúng là vũ khí bắn máy bay Mỹ, nhưng kết quả chưa cao. Từ đợt không kích đầu tiên vào năm 1964 đến lúc này, pháo phòng không bắn hạ hơn 380 máy bay. Máy bay đầu tiên của đá quốc Mỹ bị pháo cao xạ bắn rơi vào ngày 5 tháng 8 năm 1964. Sau khi làm quen, đồng chí ấy đã hỏi tôi có biết nhiều về pháo cao xạ không. Do đây là cuộc trò chuyện bình thường, nên tôi nói răng tôi tốt nghiệp trường pháo phòng không, từng phục vụ trong các đơn vị pháo cao xạ và tôi biết hầu hết các hệ thống mà các bạn Việt Nam đã được trang bị. Thế là tôi rơi vào “bẫy”. Anh ấy trao đổi với đồng chí Dục xong và nói rằng họ đang gặp một số vấn đề nghiêm trọng về kỹ thuật của pháo cao xạ loại 100mm và họ không thể xử lý được. Hầu hết các bộ phận của pháo đều hoạt động bình thường, nhưng hệ thống SON (trạm ngắm pháo) nhìn một hướng, còn súng lại quay về một hướng. Vì vậy pháo không thể bắn có máy ngắm bắn, mà nhiều khẩu đội phải bắn theo kiểu dựng lưới lửa ngăn chặn. Tôi đang băn khoăn có nên đến đơn vị pháo cao xạ để xem sự thể ra sao không thì đồng chí Dục đã yêu cầu đi. Thế là tôi báo lại với các đồng chí của mình rồi đến đơn vị pháo cao xạ.

Đơn vị pháo cao xạ ở ngoại thành Hà Nội, chúng tôi nhanh chóng đến, bật máy lên xem. Tôi thấy mọi thứ của pháo đều không đồng bộ. Chúng tôi bắt đầu kiểm tra, mặc dù từ kinh nghiệm trước đây khi sử dụng các loại pháo cao xạ, tôi có thể đoán ra nguyên nhân ở khẩu nào, nhưng tôi vẫn yêu cầu có một thiết bị đo để kiểm tra, khi đưa vào đồng bộ tôi phát hiện các đồng hồ trên pháo làm việc sai đến 50%. Tất nhiên, với các thiết bị như thế này mà không có kinh nghiệm thì rất khó mà làm việc được. Dù sao, tôi cũng điều chỉnh xong thiết bị, và nói với kỹ sư trưởng rằng, cần phải gấp rút kiểm tra các thiết bị đo trên pháo. Nhân tiện, tôi hỏi người chỉ huy đơn vị pháo cao xạ lần kiểm tra thiết bị đo gần nhất được tiến hành khi nào? Người chỉ huy trả lời rằng đó là khi các chuyên gia Liên Xô vẫn ở đây và họ cho rằng các thiết bị đo đều tốt, vì các kim đồng hồ vẫn chạy và chỉ một cái gì đó.

Chúng tôi trở về trụ sở Bộ Tham mưu nhưng vấn đề này vẫn khiến tôi thấy phân vân. Thứ nhất, trong đào tạo còn có một số thiếu sót. Thứ hai, chúng tôi cần khẩn trương trang bị một phòng thí nghiệm để kiểm tra các đồng hồ trên mâm pháo. Tôi đã hỏi đồng chí Dục đơn vị pháo cao xạ đã có phòng thí nghiệm loại này chưa? Đồng chí Dục trả lời rằng, hiện nay chưa có. Trước đây, khi các chuyên gia Liên Xô làm việc thì có. Đồng chí Dục biết rõ tất cả, vì đồng chí là người chuyển từ đơn vị pháo cao xạ sang đơn vị tên lửa phòng không. Tôi đề nghị đồng chí Dục cần bắt tay ngay vào việc tìm địa điểm để triển khai phòng thí nghiệm. Việc này cần làm trước khi thiết bị tên lửa đến Việt Nam. Buổi tối hôm đó, Đại tá Dzyza đã đến gặp tôi và hỏi về việc tôi đến đơn vị pháo cao xạ. Tôi đã báo cáo với ông tất cả và nói rằng phó chỉ huy - kỹ sư trưởng đại đội pháo cao xạ yêu cầu tôi giúp đỡ. Nhưng thay vì khen ngợi, Đại tá Dzyza đã trách mắng tôi và nói: “Ai bắt anh nói anh biết về pháo cao xạ. Anh được cử sang Việt Nam để nhận và triển khai khí tài tên lửa phòng không. Hãy làm việc đó đi, không được phá vỡ hợp đồng đã ký”.

Nhưng sau đó, Đại tá Dzyza vẫn thể hiện ông là người thân thiện và chân thành, ông nói tiếp: “Nếu anh đã giúp làm một việc tốt thì hãy làm đến cùng. Ngày mai hãy nói với đồng chí Dục, và có thể với cả phó chỉ huy đơn vị cao xạ, tư vấn cho họ cần báo cáo Bộ Tư lệnh đề nghị Liên Xô sớm cử chuyên gia pháo cao xạ sang giúp việc này. Các anh cũng phải nói cho các bạn Việt Nam biết các anh không thể giúp các bạn pháo cao xạ việc này được, vì thiết bị kỹ thuật tên lửa phòng không đang trên đường đến Việt Nam. Các anh cần phải tìm và xác định nơi nào sẽ bốc dỡ khí tài tên lửa”. Ngoài ra, ông còn nói cần chọn một vài người trong đội ngũ chuyên gia phụ trách về công tác vận chuyển thiết bị, cử họ đến biên giới Việt Nam - Trung Quốc tiếp nhận khí tài, đồng thời giúp đỡ các đồng chí của chúng ta trong việc tổ chức và bốc dỡ hàng từ tàu Trung Quốc sang phương tiện vận tải của Việt Nam. Tôi báo cáo với Đại tá Dzyza: tôi, P.I. Vasin, A.I. Gromov, L.M. Fokeev và L.F. Vodorez đã được tập huấn vấn đề này. Tôi đề nghị tôi sẽ đến biên giới Việt - Trung, nhưng Đại tá Dzyza nói rằng: “Khi bốc dỡ hàng, ở đây anh còn có nhiều việc phải làm”. Ông quyết định cử Fokeev và Vodorez lên biên giới Việt - Trung. Ngày hôm sau, tôi đã cử các đông chí có tên lên biên giới, giải thích nhiệm vụ mà họ cần làm, rồi đi đến trụ sở Ban Tham mưu. Tại đây, đồng chí Dục và phó chỉ huy đơn vị đang đợi tôi. Tôi tham mưu cho họ làm đơn xin chuyên gia lĩnh vực pháo cao xạ để báo cáo Bộ Tư lệnh. Còn về phía mình, tôi hứa sẽ nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của họ. Tôi cũng giải thích rõ là tôi không thể tham gia cùng với họ vì bận việc tiếp nhận và triển khai thiết bị tên lửa phòng không. Các bạn đã cảm ơn những tư vấn của tôi. Phó chỉ huy đơn vị đi viết thư mời chuyên gia, còn tôi và đồng chí Dục bắt đầu thảo luận kế hoạch tìm địa điểm cho phòng thí nghiệm và kho giữ phụ tùng tên lửa và các thiết bị sắp được chuyển đến.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #34 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2023, 07:44:15 pm »

Việc tìm địa điểm cho phòng thí nghiệm và kho phụ tùng, tên lửa cũng không hề dễ dàng. Vì điều kiện khí hậu tại Việt Nam, đặc biệt là vào mùa mưa, không chỉ là khó khăn mà còn rất nan giải, vì nếu để thiết bị kỹ thuật trong thời gian dài, thiết bị kỹ thuật sẽ bị ẩm và dẫn đến sai số nhiều. Thứ duy nhất chịu đựng kiên trì khí hậu này là các chuyên gia Liên Xô chúng tôi. Đôi khi ngay cả các bạn Việt Nam cũng thấy ngạc nhiên trước sức chịu đựng của chúng tôi. Đối với họ, Liên Xô là hình tượng để học tập. Đã đến lúc chúng tôi phải chứng minh điều đó.

Để chọn địa điểm cho phòng thí nghiệm, tôi mang theo một thiết bị đo độ ẩm. Vì độ ẩm là tai họa chính của khí tài. Ví dụ, trong rừng nhiệt đới độ ẩm có thể lên đến 99%, vì vậy khi làm việc trong rừng nhiệt đới, chúng tôi trở về nhà mà mồ hôi ướt hết cả người.

Sang ngày thứ ba, những nỗ lực của chúng tôi đã đem lại thành quả: chúng tôi đã tìm được địa điểm để lắp đặt phòng thí nghiệm. Những địa điểm còn tại đã được chúng tôi xác định một cách nhanh chóng hơn. Tuy thế, đối với phòng thí nghiệm chúng tôi cũng phải loay hoay một chút. Vì đó là một căn nhà nhỏ nằm dưới gốc cây lớn trên bìa rừng, có hàng rào bao quanh. Chúng tôi được phép vào trong, chúng tôi kiểm tra và thấy ngôi nhà này có tường đôi (để giảm độ ẩm), có ánh sáng tốt, có đường dây điện, độ ẩm trong nhà ở ngưỡng cho phép. Tóm lại, trong ngôi nhà này có tất cả những gì cần thiết cho một phòng thí nghiệm. Có mặt trong ngôi nhà này gồm: tôi, Thiếu tá Dục - người đứng đầu trong tương lai của phòng thí nghiệm, đồng chí Gromov và một số đồng đội khác. Tất cả chúng tôi đều hài lòng với căn nhà và cùng nhau xác định chủng loại và số lượng thiết bị cần được trang bị cho phòng thí nghiệm. Trước tiên, chúng tôi phác thảo một kế hoạch trang bị bổ sung cho ngôi nhà, nghĩa là căn cứ vào bản vẽ, cần phải đặt bàn, kệ đặt máy và một số thiết bị khác. Việc này giao cho đồng chí Dục thực hiện. Chúng tôi đã báo cáo Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân Việt Nam, nhưng Đại tá Đỗ Đức Kiên chỉ cau mày và không nói gì. Một ngày sau, chúng tôi và đồng chí Dục nóng lòng mong chờ kết quả, nhưng vẫn không có. Đến buổi tối, Đại tá Đỗ Đức Kiên đến phòng của chúng tôi với một nụ cười và chúc mừng chúng tôi về đề nghị mượn ngôi nhà làm phòng thí nghiệm đã được cấp trên chấp thuận. Ông tiếp tục mỉm cười và hỏi chúng tôi có biết đó là ngôi nhà gì không? Tất nhiên, chúng tôi đã nói rằng chúng tôi không biết. Sau đó, ông lại cười và nói rằng ngôi nhà đó là nơi làm việc ở ngoại thành của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rằng nếu căn phòng này cần cho chiến thắng thì các đồng chí hãy lấy và làm phòng thí nghiệm ở đó.

Thế là chúng tôi đã giải quyết xong một trong những nhiệm vụ then chốt. Sau đó, với sự giúp đỡ của Liên Xô về mặt thiết bị, các đồng chí Việt Nam đã xây dựng một phòng thí nghiệm xuất sắc, đào tạo những cán bộ, chiến sĩ được lựa chọn từ các trung tâm huấn luyện và các tiểu đoàn trở thành những chuyên gia giỏi về lĩnh vực kiểm tra, đo lường, về nguyên tắc, bây giờ không có vấn đề gì khó đối với các thiết bị kiểm tra. Tuy nhiên, ở giai đoạn đầu, chúng tôi phải trực tiếp kiểm tra các thiết bị đo lường của pháo cao xạ, vì ở giai đoạn này, thiết bị của chúng tôi thuộc thế hệ cũ so với thời hạn của thiết bị đo lường. Khi các đại diện của chúng tôi về lĩnh vực chuẩn hóa phòng thí nghiệm, về lĩnh vực kiểm tra xe thí nghiệm cơ động từ Moskva sang làm việc, họ có nhận xét rằng, ngay cả ở Liên Xô hiếm có nơi nào lại được trang bị một phòng thí nghiệm tốt như thế.

Tôi phải nói rằng, chúng tôi đã hoàn thành lời hứa của mình với đơn vị pháo cao xạ. Một tháng sau, hai chuyên gia kỹ thuật pháo cao xạ từ Kiev đến Việt Nam. Họ được Đại sứ quán cử đến gặp tôi. Họ nói rằng, họ được cử đến gặp tôi vì tôi là người đề xướng cho chuyến công tác của họ sang Việt Nam và do ở lực lượng pháo cao xạ Việt Nam không có đoàn chuyên gia Liên Xô, nên họ ghép với đoàn chúng tôi, nằm dưới sự chỉ huy của tôi. Chúng tôi đã bố trí họ ở Kim Liên, đưa họ đến gặp Phó chỉ huy (Kỹ sư trưởng) của đơn vị pháo cao xạ, và bắt đầu làm việc. Bộ Tư lệnh Pháo cao xạ đã cảm ơn chúng tôi về sự giúp đỡ.

Thế là cuộc phiêu lưu đầu tiên của tôi, như lời nhận xét của Đại tá Dzyza, đã kết thúc thành công. Công việc tiếp theo trong những ngày này của chúng tôi là đào tạo một nhóm kỹ sư tên lửa phòng không, mặc dù nhóm này vẫn chưa được hình thành đầy đủ. Chúng tôi muốn giới thiệu với các bạn Việt Nam về cơ cấu tổ chức nhóm kỹ sư tên lửa phòng không ở cấp lữ đoàn, quân đoàn. Chúng tôi dùng sơ đồ về tổ chức để giới thiệu với các bạn Việt Nam về cơ cấu tổ chức nhóm kỹ sư tên lửa của chúng tôi ở từng cấp. về nguyên tắc, tôi không cung cấp cho các bạn Việt Nam mô hình tổ chức nhóm kỹ sư tên lửa ở cấp trung đoàn, vì tôi nghĩ rằng hệ thống cấp trung đoàn của chúng tôi chưa hoàn chỉnh, mà theo cách nhìn nhận của tôi thì cấp lữ đoàn của chúng tôi hoàn chỉnh hơn.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #35 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2023, 07:45:21 pm »

Khi đào tạo các sĩ quan nhóm kỹ sư tên lửa, tôi dùng sơ đồ tổ chức do mình vẽ để giảng dạy. Cần phải đánh giá đúng là ở cấp trung đoàn, các bạn Việt Nam đã lấy mô hình cấp lừ đoàn để xem xét những vấn đề tổ chức các trung đoàn nhà xưởng và trang thiết bị của các trung đoàn đó. Tất nhiên, ở đây chúng tôi đề xuất một cơ cấu tổ chức của mình, nhưng chúng tôi cũng tính tới những mong muốn của các bạn Việt Nam, rút kinh nghiệm các xưởng của đơn vị pháo cao xạ. Điều này làm giàu thêm kinh nghiệm cho công việc tiếp theo là hoàn thiện tất cả các đơn vị. Cần phải nói thêm rằng, thông qua các đồng chí Dục, đồng chí Nguyên, tôi đã gặp được những người thân khi tìm ra phương pháp làm việc sáng tạo. Họ luôn luôn ủng hộ mọi sáng kiến hợp lý để giải quyết các vấn đề đã chín muồi. Tôi đã quyết định và đưa thành công vào cuộc sống rất nhiều ý tưởng và khái niệm mà tôi suy nghĩ khi còn là một chỉ huy đại đội đài điều khiển tên lửa, kỹ sư trưởng của trung đoàn, lữ đoàn. Tôi đã không thể thực hiện được ý tưởng và khái niệm đó ở đơn vị trước đây vì trong đơn vị này còn có sự bảo thủ nhất định, ở Việt Nam, chúng tôi cùng nhau có thể làm tốt hơn so với ở Liên Xô, vì tất cả đều bắt đầu từ đầu. Lúc bấy giờ, tôi đã có ý tưởng thành lập một cơ sở sửa chữa di động có quy mô ở cấp trung đoàn tên lửa phòng không. Đồng chí Dục và Nguyên ủng hộ, nhưng đó mới chỉ là ý tưởng. Nếu xét về mặt thời gian, tôi có thể nói rằng, chúng tôi thực hiện được ý tưởng này trước thời đại. Đó là sau các trận đánh năm 1965 đầu năm 1966, tôi đã tích lũy được rất nhiều tài liệu dù rất bận rộn, tôi đã nghiên cứu cơ cấu loại tên lửa Shrike và đã giới thiệu cho các đồng chí Việt Nam. Với một số điều chỉnh của các bạn Việt Nam, tôi đã gửi đề xuất này về Moskva. Tất nhiên, tôi không mong đợi chúng tôi nhận được kết quả nghiên cứu đó khi tôi còn công tác ở Việt Nam. Nhưng một niềm vui đã đến với tôi, sau hơn một năm, tôi đã gặp người kế nhiệm tôi tại Việt Nam - Kỹ sư trưởng của Trung đoàn Tên lửa Phòng không (theo tôi nhớ, đó là Đại tá Sherstobitov Vladdimir Ivanovich). Ông kể cho tôi rằng, họ đã nhận được kết quả nghiên cứu về cấu trúc của đạn tên lửa chống rađa và đã liệt kê thành phần của nó. Do tôi vẫn giữ bản thuyết minh, nên có thể nói rằng, nó là con đẻ của tôi và có sự thay đổi không đáng kể. Có thông tin cho biết, cơ sở này cũng được sử dụng ở Ai Cập.

Khí tài đã bắt đầu được chuyển đến trong những ngày đầu tháng 5 năm 1965. Phần lớn khí tài được chuyển về một ga đường sắt Hà Nội. Đại tá Dzyza giao cho tôi chỉ huy công tác bốc dỡ. Bộ khí tài này dành cho Trung tâm huấn luyện thứ nhất, khí tài gồm: Bộ khí tài tên lửa S-75, đạn tên lửa, xe chở đạn TZM, thiết bị thông tin và hậu cần, thiết bị phòng thí nghiệm. Khí tài cho Trung tâm huấn luyện thứ hai về ga Trại Cau (huyện Yên Thế, Bắc Giang - ND), trung tâm cách ga khoảng 20 kilômét. Hai chuyên gia trong nhóm chúng tôi cũng được cử tới đó để giúp đỡ việc bốc dỡ thiết bị.

Để tránh cuộc không kích của không quân Mỹ, chúng tôi phải bốc dỡ khí tài vào ban đêm. Hàng trăm chiến sĩ Việt Nam và một đội ngũ phiên dịch đã được huy động đến giúp chúng tôi. Việc bốc dỡ và vận chuyển hàng được tiến hành vào 9 giờ đêm và phải kết thúc lúc 5 giờ sáng. Những người Việt Nam đứng thành hàng dọc hai bên đoàn xe, các chiến sĩ Liên Xô chúng tôi ngồi trên xe áp tải thiết bị. Tất cả xe đều phải bật đèn gầm để từ phía trên không nhìn thấy được. Tuy thế, nhìn vào nét mặt, chúng tôi vẫn thấy các chiến sĩ Việt Nam đang lo lắng.

Bắt đầu dỡ hàng. Những người lính của chúng tôi nhanh chóng bắt tay vào công việc. Khi cần thêm nhân công, chúng tôi nhờ phiên dịch gọi các bạn Việt Nam đến. Trinh tự bốc dỡ như sau: các bệ phóng, các cầu của bệ phóng nặng tới cả trăm kilôgam, chúng tôi đề nghị các bạn Việt Nam đưa những cây cầu này ra khỏi bệ phóng. Bố trí hai người bên trái và hai người bên phải, theo lệnh “một, hai, ba” cả bốn người cố gắng cùng nâng cây cầu, nhưng họ không nâng lên được; tiếp đó bổ sung mỗi bên thêm hai người nữa, nhưng cây cầu vẫn không nhúc nhích. Sau đó, hai người lính trong khẩu đội bệ tên lửa của chúng tôi đi đến cây cầu, thông qua phiên dịch, họ đã nâng được cây cầu một cách dễ dàng và đưa nó ra sân ga. Tất cả các chiến sĩ Việt Nam đứng xung quanh lặng người đi, sau đó, như thể có khẩu lệnh, họ bắt đầu vỗ tay, la lớn: “Hoan hô!” “Bravo!” và vui vẻ nói chuyện.

Tôi đã cùng với người phiên dịch Hùng đứng xem cảnh tượng này và tôi hỏi Hùng xem họ đang nói về cái gì đó? Hùng cười, dịch những điều họ nói: “Đây là những chiến sĩ Liên Xô! Chúng ta sẽ học cách làm việc của họ và sẽ nhanh chóng đánh bại đế quốc Mỹ!”.

Và chính Hùng cũng vỗ tay hoan hô và hét lên cùng với họ. Tôi đã quá xúc động đến mức không cầm được nước mắt. Có một phép lạ, như thể có một phép màu đã xuyên vào tất cả chúng tôi, và đặc biệt là các chiến sĩ Việt Nam. Nét mặt mọi người đã thay đổi, không còn nhăn nhó, căng thẳng. Trong hàng ngũ của họ ngay lập tức bắt đầu sôi động, và bây giờ họ đã không chờ lệnh của chúng tôi thông qua phiên dịch và làm theo mệnh lệnh của trái tim, cố gắng dốc tất cả sức lực nhỏ yếu của mình để giúp chúng tôi bốc dỡ thiết bị. Vài người do không biết làm đã gây cản trở cho công việc. Nhưng điều này lại làm tăng lòng nhiệt tình của họ và của chúng tôi. Anh em chúng tôi chỉ cười nếu ai đó trong số họ có điều gì đó sai, và vui mừng la hét: “Hãy cố lên đồng chí, hãy cố lên đồng chí” (chúng tôi đã học được câu đó ở Việt Nam).

Công tác bốc dỡ vẫn được tiếp tục, đến 5 giờ sáng, đúng với thời gian quy định, thiết bị đã được chở tới địa điểm tập kết. Ở đây tôi muốn nhấn mạnh, ở thời điểm bắt đầu công việc bốc dỡ, những người lính chúng tôi đã cùng nhau tương tác. Chính sự tương tác giúp đỡ lẫn nhau đó đã tạo ra tình hữu nghị giữa quân đội và nhân dân hai nước Liên Xô - Việt Nam. Sự tương tác của chúng tôi trong học tập tại các trung tâm huấn luyện, trong các chiến hào chống đế quốc Mỹ là động lực để củng cố và tăng cường tình hữu nghị nói trên.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #36 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2023, 07:47:50 pm »

Hoạt động của Trung tâm huấn luyện

Cán bộ khung của Trung tâm huấn luyện đầu tiên ở Việt Nam gồm các sĩ quan và chiến sĩ của Quân đoàn phòng không độc lập số 4, có trụ sở ở Sverdlovsk.

Chỉ huy Trung tâm huấn luyện thứ nhất gồm có: Đại tá Tsygankov Mikhail Nikolayevich làm Chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện; Trung tá Barsuchenko Mikhail Fedorovich, làm Phó Chỉ huy Trung tâm về chính trị; Thiếu tá Egorov làm Tham mưu trưởng; Thiếu tá Meshkov làm Kỹ sư trưởng.

Tôi xin bổ sung thêm: Nhóm chuyên gia đào tạo sĩ quan nghiên cứu cải tiến tên lửa phòng không của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Trung tâm huấn luyện đầu tiên của Việt Nam nằm cách Hà Nội 40 kilômét về phía tây bắc trên bờ sông Đà. Trận địa triển khai bộ khí tài SAM nằm cạnh nông trường cà phê. Khi triển khai trận địa đã phải chặt một số cây xanh, chúng tôi rất tiếc vì làm mất cảnh đẹp đó. Những ngôi nhà tre, lợp bằng lá cọ hoặc lá chuối dùng làm nơi chúng tôi ở và bố trí lớp học, có phòng tắm, nhà vệ sinh và phòng ăn.

Cán bộ khung của Trung tâm huấn luyện thứ hai ở Việt Nam gồm các sĩ quan và chiến sĩ thuộc Quân khu Phòng không Baku. Chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện là Đại tá Nikolai Bazhenov, Phó Chỉ huy Trung tâm phụ trách về chính trị là Đại tá Ivan Smirnov, Kỹ sư trưởng là Đại úy (sau này là Thiếu tá) Anatoly Borisovich Zaika.

Trung tâm huấn luyện thứ hai nằm cách thôn Trại Cau 20 kilômét, sâu trong rừng già. Các lớp học và mọi thứ khác cũng được trang bị giống như ở Trung tâm huấn luyện thứ nhất. Lợi thế duy nhất của Trung tâm này là vị trí để triển khai khí tài (trận địa) có nhiều cây cao bao phủ, có nhiều dây leo ở phía trên cây, vì vậy mặt trời chiếu xuống phải qua các lớp lá nói trên. Thời gian đầu, các chuyên gia chúng tôi rất khó khăn trong việc làm quen với không khí rừng già, bởi rừng rất rậm và chứa đầy các loại mùi khó chịu, gây chóng mặt cả người. Do thời gian rất gấp, nên sau khi thiết bị được đưa đến các trung tâm, công tác huấn luyện được triển khai ngay lập tức.

Thời gian biểu hằng ngày của trung tâm như sau: 5 giờ báo thức, 5 giờ 30 phút ăn sáng, từ 6 giờ đến 12 giờ lên lớp, từ 12 giờ đến 14 giờ là thời điểm nóng nhất: ăn trưa và nghỉ; từ 14 giờ đến 17 giờ 30 phút tiếp tục lên lớp, 18 giờ ăn tối, từ 20 giờ đến 22 giờ tự học.

Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân Quân đội nhân dân Việt Nam chịu trách nhiệm tổ chức các trung tâm huấn luyện. Đại tá Phùng Thế Tài - Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân và đồng chí Nguyễn Tuyên - Tư lệnh Binh chủng Tên lửa Phòng không luôn quan tâm chỉ đạo mọi hoạt động của các trung tâm huấn luyện mới được thành lập. Người phụ trách Bộ đội Tên lửa Phòng không làm Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, Đại tá Đỗ Đức Kiên, người rất thân thiện với các chuyên gia quân sự Liên Xô, luôn quan tâm sâu sát tới các nhu cầu của chúng tôi. Sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm trận địa của một tiểu đoàn hỏa lực Bộ đội Tên lửa Phòng không, Người đã quan tâm theo dõi sự phát triển của Bộ đội Tên lửa Phòng không - một tổ chức vũ trang mới của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Các ứng cử viên tốt nhất của nhân dân Việt Nam được tuyển chọn vào các trung tâm huấn luyện. Các ứng cử viên cơ bản phải đạt các yêu cầu sau:

Trước hết, các công dân biết tiếng Nga, học ở các cơ sở giáo dục của Liên Xô.

Thứ hai, sinh viên tốt nghiệp hoặc sinh viên đang học trong các cơ sở giáo dục ở Việt Nam, chuyên ngành kỹ thuật điện hoặc kỹ thuật vô tuyến.

Thứ ba, tốt nghiệp ít nhất lớp 8 trung học phổ thông (hệ 10 năm - ND).

Như đã biết, thành phần được tuyển chọn rất nghiêm ngặt, điều này đảm bảo trong một thời gian ngắn có thể đào tạo được các chuyên gia - chiến sĩ tên lửa phòng không đạt chất lượng cao. Thời hạn đào tạo được ấn định rất khắt khe - chỉ có bốn tháng là đã trở thành một chiến sĩ tên lửa phòng không. Còn khí tài tên lửa phòng không không phải là một chiếc xe ô tô hiện đại. Tất nhiên, các bạn Việt Nam chỉ quen với con trâu, cái cày, còn trong lĩnh vực kỹ thuật trừ chiếc xe máy hoặc chiếc xe trâu kéo, các bạn Việt Nam không biết điều gì khác. Nhưng các bạn Việt Nam đã có đầy đủ kiến thức văn hóa phổ thông và quan trọng nhất là có khát vọng làm chủ phương tiện kỹ thuật hiện đại này để chiến thắng kẻ thù, các bạn Việt Nam đã làm mọi thứ để trở thành chiến sĩ Bộ đội Tên lửa Phòng, không mưu trí và thông minh.

Mỗi chuyên gia của chúng tôi đều có một phiên dịch, điều này rất quan trọng trong việc xây dựng sự hiểu biết lẫn nhau. Nhưng thời kỳ đầu, phiên dịch viên dịch các bài giảng của chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn. Nhiều người trong số họ không quen với thuật ngữ kỹ thuật, vì thế chúng tôi phải giải thích cho họ các thuật ngữ này để họ dịch cho các học viên một cách chính xác. Ngoài ra, trong giai đoạn này, các học viên đang say mê chủ nghĩa thế giới (như trước đây, chúng tôi cũng thế), vì vậy họ yêu cầu tất cả phải được dịch sang tiếng Việt một cách rõ ràng, và yêu cầu này không phải lúc nào cũng đạt được.

Tôi sẽ đưa ra một ví dụ. Trong văn học chúng tôi dùng thuật ngữ kỹ thuật radio được phiên âm từ tiếng Anh. Vì chúng tôi đà quen với thuật ngữ này, nên nhiều từ chúng tôi không dịch chính xác sang tiếng Nga, nhưng chúng tôi tiếp nhận từ đó như một chi tiết hoặc một sơ đồ nào đó. Ví dụ, các từ tiếng Anh “bộ đa hài”, chúng tôi ngay lập tức hình dung như một sơ đồ kỹ thuật vô tuyến bao gồm hai đèn, hai tụ điện và bốn điện trở, có nghĩa là, đối với chúng tôi đó là một phần tử. Cũng giống như người ta nói với chúng tôi rằng, cái rìu thì nó là cái rìu. Thế đấy, chúng ta có sự nghịch lý với bản dịch. Thật tiếc, nhiều giáo viên của chúng tôi (và thậm chí bây giờ) không phải lúc nào cũng biết chính xác việc dịch từ tiếng Anh sang tiếng Nga, đặc biệt là để giải thích ý nghĩa của chúng cho người phiên dịch. Do đó, chúng tôi đã phải viết rất nhiều bản dịch, nhiều từ mô tà cả nghĩa đen chiếm một nửa hoặc một trang giấy. Tôi viết điều này để độc giả hiểu thời kỳ đầu vấn đề này đã gây ra nhiều khó khăn cho chúng tôi như thế nào khi mà chưa tìm ra giải pháp.

Công tác đào tạo được thực hiện theo các nhóm chuyên gia, trong mỗi nhóm có hai khẩu đội chiến đấu. Phần lý thuyết được dạy trong các lớp học (thực tế chỉ là những mái nhà tre). Phần thực hành được thực hiện ngay trên khí tài. Cường độ lao động rất lớn, cả giáo viên lẫn học viên, đặc biệt khi tính đến khí hậu mà chúng tôi đang phải chịu đựng. Nhưng người lính Nga không có gì mà không chịu đựng được, nếu điều đó Tổ quốc yêu cầu. Như tôi đã nói, thời hạn dự tính là bốn tháng, nhưng thực tế cuộc sống và tình hình không quân Mỹ ném bom đánh phá miền Bắc Việt Nam đòi hỏi chúng tôi phải giảm thời gian, nâng cao cường độ huấn luyện. Thời hạn giảm xuống còn 2,5 tháng. Không quân Mỹ ngang nhiên hoành hành và buộc chúng tôi phải đẩy nhanh quá trình học tập.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #37 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2023, 07:49:32 pm »

Trận đầu ra quân đánh thắng

Một ngày tháng 6, tôi cùng với nhóm của mình, và các sĩ quan nghiên cứu cải tiến tên lửa do đồng chí Dục - Kỹ sư trưởng lực lượng tên lửa phòng không Quân đội nhân dân Việt Nam phụ trách, đã đi đến trung tâm huấn luyện đầu tiên để học thực hành công tác bảo trì hằng tháng bộ khí tài tên lửa SAM. Tại trung tâm huấn luyện cũng có kế hoạch triển khai công tác này vào đúng ngày chúng tôi đến, tôi quyết định đưa các sĩ quan trong nhóm nghiên cứu đến trung tâm để xem xét và tham gia thực hành công việc này.

Chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện, Đại tá M.N. Tsygankov đã được báo trước, chúng tôi đến ngay trước khi bắt đầu giờ học và bắt tay làm việc. Kỹ sư trưởng của Trung tâm huấn luyện, Thiếu tá Meshkov giảng bài, chúng tôi cùng với nhóm sĩ quan của mình hòa vào công việc và đạt kết quả rất tốt cho đến thời điểm ăn trưa, thì đột nhiên tiếng còi hú và phát lệnh báo động phòng không. Mọi người vào hầm trú ẩn. Chúng tôi và đồng chí Dục chạy vào ruộng mía. Cuộc không kích kéo dài khoảng 40 phút, sau đó tất cả lại trở về vị trí làm việc, nhưng buổi học đã phải dừng lại, vì phải kiểm tra những nơi bị đánh phá. May mắn thay, cuộc không kích của địch không gây nhiều hậu quả xấu, bởi vì chúng tôi đã ngụy trang tốt, các vụ ném bom chủ yếu rơi vào lớp học, vào phòng ngủ của chúng tôi. Còn khí tài không bị hư hỏng, một phần nhà ở, phòng ăn cũng không bị hư hại. Không có sự thương vong về người. Nhưng rõ ràng nhịp điệu của cuộc sống đã bị phá vỡ. Đúng lúc này, Đại tá Tuyên, Tư lệnh Binh chủng Tên lửa Phòng không Quân đội nhân dân Việt Nam đã đến, chúng tôi tập trung trong phòng của Đại tá Tsygankov, tất cả gồm Đại tá Tuyên, đồng chí Dục, tôi, Thiếu tá Meshkov. Chúng tôi bắt đầu thảo luận về tình hình hiện tại. Lúc đầu mọi người quyết định trung tâm huấn luyện nên được chuyển đến nơi an toàn hơn. Các đồng chí Việt Nam đồng ý và nói trong những ngày tới sẽ giải quyết vấn đề này. Sau đó, Đại tá Tsygankov tỏ ra tức giận trước những cuộc ném bom và đưa ra cho tôi ý tưởng chuyển trung tâm huấn luyện sang trạng thái chiến đấu và đánh trả máy bay Mỹ. Tôi trả lời, về nguyên tắc, tôi không phản đối, nhưng điều này sẽ gián đoạn quá trình đào tạo, hơn nữa chúng ta lại có rất ít người. Và tôi nhắc nhở Tsygankov rằng, sẽ thật vô ích nếu Chính phủ hai nước không đạt được phương án tháng giêng. Nhưng ý tưởng đưa bộ khí tài tên lửa phòng không vào chiến đấu vẫn còn. Tôi đã nói rằng chúng ta phải suy nghĩ về điều đó, vì chúng ta có thể bổ sung nhân lực lấy từ nguồn cán bộ, chiến sĩ học viên Việt Nam. Nói chung, chúng tôi đã thảo luận vấn đề này, nhưng thực tế chúng tôi không thể thực hiện được, tôi cùng với các kỹ sư của mình về Hà Nội với một tâm trạng nặng nề.

Khi chúng tôi đang nói chuyện với đồng chí Tsygankov, chúng tôi đã không chú ý đến sự hiện diện của các đồng chí Việt Nam: Tại thời điểm chúng tôi trao đổi, đồng chí phiên dịch không có ở trong phòng, tôi biết đồng chí Dục không biết tiếng Nga, hơn nữa, tại thời điểm này, đồng chí ấy cũng đang trao đổi vấn đề gì đó với Đại tá Tuyên. Vì vậy, tôi nghĩ rằng không ai trong số họ quan tâm đến cuộc trò chuyện của chúng tôi. Nhưng hóa ra là người đứng đầu Binh chủng Tên lửa Phòng không, Đại tá Tuyên, mặc dù theo chúng tôi, đồng chí ấy còn yếu về tiếng Nga, nhưng lại hiểu rõ các cuộc nói chuyện, đặc biệt là ý nghĩa của các. cuộc nói chuyện đó. Khi về đến Hà Nội, tôi báo cáo với Đại tá Dzyza về cuộc tập kích của không quân Mỹ vào Trung tâm huấn luyện thứ nhất. Tôi báo cáo cần khẩn trương giải quyết vấn đề chuyển vị trí của trung tâm huấn luyện, và chúng tôi đã thảo luận vấn đề này với Đại tá Tuyên, Tư lệnh Binh chủng Tên lửa Phòng không. Sau một ngày, Đại tá Dzyza triệu tập tôi đến chỗ của mình, và ngay lập tức nói: “Leonid Fedorovich, anh lại lao vào cuộc phiêu lưu mới?”.

Tất nhiên, ông muốn nhắc đến trường hợp pháo cao xạ.

Nhân tiện, tôi muốn nói rõ hai chuyên gia pháo cao xạ của chúng tôi trong thời gian này đã làm việc thành công và đưa pháo cao xạ loại 100mm vào hoạt động. Bây giờ các khẩu pháo này có thể bắn trúng mục tiêu.

Quay trở lại cuộc trao đổi giữa tôi với Đại tá Dzyza. Thoạt đầu tôi lấy làm ngạc nhiên và không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Ông tiếp tục nói: “Anh với Tsygankov đã thảo luận về vấn đề đưa bộ khí tài tên lửa SAM dùng để học tập vào chiến đấu và những chuyện khác liên quan”.

Tôi hỏi Đại tá biết điều này từ đâu. Ông nói rằng, Tư lệnh Binh chủng Tên lửa Phòng không, Đại tá Tuyên đã báo cáo với Đại tá Phùng Thế Tài - Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân. Tư lệnh Quân chủng đã báo cáo với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Và mọi chuyện đã bắt đầu. Phía Việt Nam đã đề nghị Đại sứ của chúng ta ở Việt Nam, đồng chí Sherbakov về yêu cầu cung cấp bộ khí tài tên lửa SAM mới.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #38 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2023, 07:51:01 pm »

Tôi buộc phải nói rằng, thực sự đã có một cuộc trao đổi như thế, nhưng tôi cũng nhắc nhở Dzyza rằng, hồi tháng 1 đầu năm nay, chúng ta đã bị Trung Quốc từ chối cho phép vận chuyển các bộ khí tài qua lãnh thổ. Vì vậy, tôi nói, hãy để các đồng chí Việt Nam thảo luận với Trung Quốc để Trung Quốc cho phép vận chuyển bộ khí tài SAM, nhưng còn các chuyên gia Liên Xô thì sao?

Vậy là, cuộc trao đổi lại quay như chong chóng, ngày hôm sau tôi và Tsygankov được triệu tập đến Đại sứ quán. Đại sứ Sherbakov trao đổi với chúng tôi và nói rằng đã có một thỏa thuận về việc cung cấp hệ thống tên lửa phòng không sang Việt Nam, nhưng về chuyên gia đi kèm thì số lượng lại tối thiểu. Vì vậy, nhiệm vụ của chúng tôi trong vòng một ngày phải suy nghĩ về số lượng chuyên gia tối thiểu để phục vụ cho một tiểu đoàn và báo cáo lại. Dĩ nhiên chúng tôi vui mừng vì điều này, vì thế sau khi rời khỏi Đại sứ quán, chúng tôi bắt đầu nghĩ ngay tới việc tính toán số lượng chuyên gia cần thiết cho một tiểu đoàn. Chúng tôi đến trung tâm huấn luyện, gặp Thiếu tá Meshkov và một số sĩ quan khác và bắt đầu ước tính làm sao để số người của chúng tôi ít nhất có thể để giải quyết được nhiệm vụ này. Chúng tôi tính đi tính lại rồi quyết định chọn một số học viên Việt Nam đã được học một phần chương trình để bổ sung cho các khẩu đội của chúng tôi. Và cuối cùng, chúng tôi dừng lại ở con số 39 binh sĩ và sĩ quan Liên Xô, bằng khoảng một nửa quân số theo biên chế của chúng tôi ở Liên Xô trong thời bình - 75 người, và ít hơn chúng tôi không đồng ý. Chúng tôi báo cáo Đại tá Dzyza, ông báo cáo lại cho Đại sứ và dù sao công việc đã được quyết định, mặc dù phía Trung Quốc đã giảm số người của chúng ta xuống còn 36 người cho mỗi đơn vị.

Trung tâm huấn luyện đã được chuyển đến Hà Đông - khu vực lân cận Hà Nội, nhà ở và khí tài được triển khai giữa các công trình xây dựng và cây xanh. Vào thời điểm này, máy bay Mỹ không ném bom Hà Nội, vì vậy chúng tôi cho rằng ở đây sẽ được yên tĩnh hơn. Vấn đề về kỹ thuật và giảm số lượng chuyên gia Liên Xô áp tải thiết bị sang Việt Nam đã được giải quyết, và chẳng bao lâu bộ khí tài SAM sẽ được gửi sang Việt Nam.

Đầu tháng 6 năm 1965, có quyết định thành lập một trung đoàn tên lửa phòng không mới mang số hiệu 236, Trung đoàn trưởng làm Chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện, Đại tá Tsygankov. Phó chỉ huy trưởng (Liên Xô gọi là Kỹ sư trưởng - ND) là Thiếu tá Meshkov. Trước tiên thành lập hai tiểu đoàn chiến đấu: Tiểu đoàn 63 và Tiểu đoàn 64. Đây chính là trung đoàn tên lửa phòng không đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Hạ tuần tháng 6 năm 1965, cả hai tiểu đoàn đã sẵn sàng chiến đấu. Tiểu đoàn trưởng của Tiểu đoàn 63 là Trung tá Mozhaev, còn Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 64 là Trung tá Ilyinykh. Để giúp đỡ hai tiểu đoàn hoàn thành nhiệm vụ trong trận đầu ra quân, hai nhóm kỹ sư nghiên cứu tên lửa được huy động bổ sung vào hai tiểu đoàn: nhóm kỹ sư của trung đoàn do Kỹ sư trưởng Meshkov làm nhóm trưởng tăng cường cho Tiểu đoàn 64. Nhóm kỹ sư do tôi làm nhóm trường tăng cường cho Tiểu đoàn 63.

Cả đêm 22 tháng 7 năm 1965, hai tiểu đoàn hành quân ra trận địa và sáng sớm ngày 23 tháng 7 họ đã chiếm lĩnh được trận địa. Tiểu đoàn 64 triển khai trận địa cách chúng tôi 10-12 kilômét. Các đơn vị tiến hành kiểm tra thiết bị, các thiết bị làm việc ổn định. Khi mở máy phát tín hiệu kiểm tra không trung đã tìm thấy nhiều máy bay ở xa, chúng không xâm nhập vào khu vực của chúng tôi. Vì trong buồng máy có nhiều người (cả chuyên gia Liên Xô và học viên Việt Nam) mà thời tiết lại rất nóng, nên chúng tôi phải tắt máy nhiều lần để cho thiết bị không bị quá nóng dẫn đến sai số. Tôi ở trong xe “U” (xe điều khiển tên lửa - ND) bên cạnh Tiểu đoàn trường Mozhaey. Tôi nhìn vào màn hình V1KO (màn hình VIKO là màn hình quan sát diện rộng, dành cho người chỉ huy trận đánh - ND), rồi lại nhìn vào màn hình của sĩ quan điều khiển. Chúng tôi ai cũng căng thẳng, hồi hộp... nhưng chỉ vài phút sau khi lần lượt bật công tắc các thiết bị, sĩ quan điều khiển Konstantinov báo cáo chỉ huy có mục tiêu. Mục tiêu rất lớn, sau đó mới biết mục tiêu này gồm hai vạch nhỏ và mỗi vạch nhỏ là hai máy bay. Mục tiêu đã lọt vào chế độ bám sát tự động của xe điều khiển. Lúc 14 giờ 25 phút, Tiểu đoàn trưởng Mozhaev ra lệnh “phóng”, sĩ quan điều khiển Konstantinov ấn nút “phóng” hai quả cách nhau 15 giây. Mục tiêu đã bị trúng đạn cả hai máy bay đều bị bắn hạ bởi hai tên lửa. Tôi ra khỏi xe điều khiển, người ướt đẫm mồ hôi, mặc dù rất nóng nhưng tôi cảm thấy ở bên ngoài xe mát hơn. Mọi người trên trận địa đều nhảy lên, hét lên, ôm nhau, chúc mừng chiến thắng. Thật là tuyệt vời khi nhìn vào niềm vui của trận đầu ra quân đánh thắng.

Tiểu đoàn 64 cũng bắn rơi một máy bay, còn chiếc thứ hai bị thương tháo chạy sang Lào. Không ai biết về số phận của chiếc máy bay này như thế nào. Các bạn Việt Nam cũng không tính nó trong số máy bay đã bị bắn rơi. Các bạn Việt Nam đã thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: cần, kiệm, liêm, chính, nên các bạn Việt Nam không bao giờ gian lận, ghi thêm con số vào bảng kê những máy bay Mỹ đã bị bắn rơi. Các bạn Việt Nam rất thận trọng trong việc thống kê những chiếc máy bay bị bắn rơi. Nếu họ không tìm thấy chữ số máy bay trên mảnh vỡ của xác máy bay thì họ không coi máy bay đó đã bị bắn hạ. Sau trận đánh và với niềm vui bất tận, chúng tôi đã đến chúc mừng Trung đoàn trưởng - Đại tá Tsygankov, rồi chúng tôi về Hà Nội. Ngày 24 tháng 7 năm 1965 đã đi vào lịch sử Việt Nam. Theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 7 được coi là ngày truyền thống của Bộ đội Tên lửa Phòng không Quân đội nhân dân Việt Nam.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #39 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2023, 07:52:02 pm »

Chiến thuật trận địa giả

Ngày hôm sau, tôi nhận được một cuộc gọi từ Tiểu đoàn thông báo cho biết một bệ phóng bị hỏng, họ không thể tự khắc phục được. Vâng, tôi đã không nói vì địa hình trận địa của Tiểu đoàn 63 rất phức tạp, nên chúng tôi chỉ triển khai chiến đấu có ba bệ trong số sáu bệ (bộ khí tài tên lửa SAM gồm sáu xe tức là có sáu bệ phóng, trong điều kiện địa hình không thuận lợi có thể dùng phương án ba xe - tức là ba bệ phóng - ND). Tôi nhanh chóng chuẩn bị và cùng một chuyên gia bệ phóng đi xuống tiểu đoàn. 10 giờ sáng chúng tôi đã có mặt ở tiểu đoàn, và lại có một niềm vui. Trên đường chúng tôi đến, họ đã bắn rơi một chiếc máy bay khác bằng một tên lửa. Chiếc máy bay ở độ cao 21 kilômét, một điểm mục tiêu rất nhỏ, nhưng nó vẫn bị bắn rơi. Đó là chiếc máy bay không người lái.

Chúng tôi cầm sơ đồ và đi đến bệ phóng có bố trí lưới ngụy trang trong bóng râm và bắt đầu tìm kiếm hỏng hóc. Chúng tôi tìm thấy hỏng hóc và vừa sửa xong thì một trắc thủ từ xe “U” chạy đến nói rằng, Sở chỉ huy Trung đoàn thông báo: có một tốp máy bay địch đang bay về phía trận địa chúng ta. Chúng ta cần phải trú ẩn, tắt tất cả thiết bị kể cả máy thông tin và không ló đầu ra ngoài. Chúng tôi ngồi, và vẫn dưới bệ phóng. Lúc này trên đầu chúng tôi máy bay Mỹ đang bay ở độ cao 300 - 500 mét. Đây là độ cao nguy hiểm với chúng tôi. Sau đó chúng đã bay lên phía trước, cách chúng tôi khoảng 7-10 kilômét, rồi bắt đầu vòng trở lại và ném bom. Lúc này, các đơn vị cao xạ bắt đầu nhả đạn, vinh quang đã đến với họ, vì ở tầm thấp như thế này, cả pháo cao xạ cỡ nhỏ, cả súng đại liên đều có cơ hội đáp trả những “con kền kền” trên không này. Ba đợt ném bom trôi qua, vụ ném bom kéo dài khoảng 40-50 phút. Khi tất cả đang im lặng thì từ sở chỉ huy phát lệnh “Thu hồi khí tài, hành quân”. Cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn chỉ trong vòng 30 phút đã thu hồi khí tài, nhanh chóng vào đội hình hành quân tới trận địa dự bị ở trong rừng rậm.
 
Sau đó, Tư lệnh Binh chủng Tên lửa, Đại tá Tuyên, Kỹ sư trưởng Dục và phiên dịch Hùng đã đến gặp chúng tôi. Các đồng chí hỏi thăm tình hình sức khỏe của chúng tôi. Tôi hỏi ở phía trước chúng tôi, máy bay Mỹ đã ném bom cái gì đó. Đồng chí Tuyên cười và mời chúng tôi lên xe đến đó. Khi đến nơi, chúng tôi đã nhìn thấy một khoảng đất mà ở đó có bộ khí tài tên lửa đã bị máy bay Mỹ ném bom..., nhưng đó là trận địa giả, bộ khí tài tên lửa được làm bằng tre, nứa và cót. Chỉ trong vài ngày, các bạn Việt Nam đã tạo ra hai trận địa giả, làm mô hình các xe cabin, các bệ phóng và các quả tên lửa. Vật liệu chủ yếu là tre, nứa và cót. Tất cả sơn màu giống như bộ khí tài SAM, làm cho máy bay Mỹ từ trên nhìn xuống tưởng rằng đây là trận địa của chúng tôi. Chúng hạ độ cao xuống đúng tầm của pháo cao xạ và súng máy của dân quân tự vệ (có đến chín trung đoàn pháo cao xạ). Vì thế khoảng chín máy bay bị bắn rơi. Với tổn thất này, máy bay Mỹ đã không dám xuất hiện trên bầu trời Việt Nam trong một tuần. Sau những gì chúng tôi thấy, chúng tôi hài lòng và về khách sạn. Chúng tôi và mọi người tham gia trận chiến đều được một ngày ngủ bù.

Ngày hôm sau chúng tôi nghe tin trên đài (chúng tôi mua đài Spidola do Liên Xô sản xuất, đài có sóng ngắn và sóng cực ngắn), đế quốc Mỹ công bố với thế giới rằng:

“... Ở Việt Nam, hai máy bay đã bị bắn rơi bởi tên lửa SAM-2 của Liên Xô (họ gọi tên lửa S-75 “Dvina” của chúng tôi như thế), nhưng để đáp lại, chúng tôi đã ném bom phá hủy hai trận địa SAM”.

Clura đầy hai giờ sau, đài phát thanh Nhật Bản công bố rằng, người Mỹ đang nói dối, vì máy bay bị tên lửa SAM bắn hạ không phải hai, mà là bốn máy bay, còn họ ném bom phá hủy trận địa, đó là trận địa giả. Vâng, còn nữa, và khi đó họ đã mất đến mười máy bay nữa. Thế là, một cuộc tranh cãi đã diễn ra trên làn sóng phát thanh. Tuy nhiên, chúng tôi không bận tâm, vì công việc vẫn đang chờ đợi chúng tôi.

Chiến thuật đánh phục kích

Trận đánh này đã đặt ra cho chúng tôi cùng với các bạn Việt Nam phải suy nghĩ về việc cải tiến đội hình chiến đấu của các tiểu đoàn. Vì tiểu đoàn tên lửa phòng không không phải là một đơn vị pháo cao xạ mà bất kỳ lúc nào cũng có thể nhanh chóng chuyển sang một trận địa khác. Thời gian thu hồi khí tài tên lửa ít nhất cũng mất từ 40 đến 60 phút. Mặt khác, số lượng tiểu đoàn tên lửa phòng không còn quá ít, nên chưa thể tổ chức thành từng cụm để bảo vệ cho nhau. Vì vậy, sau nhiều ngày suy nghĩ, chúng tôi đã lựa chọn phương án đánh “phục kích”. Phương án này có nghĩa là một hoặc hai tiểu đoàn hỏa lực bí mật triển khai trên trận địa nằm dưới các đường bay mà máy bay Mỹ thường bay qua. Sau khi bắn hạ các mục tiêu, tiểu đoàn hỏa lực phải nhanh chóng thu hồi khí tài và hành quân về trận địa đã được chuẩn bị trước. Tất cả các công việc này phải hoàn thành trong vòng 1 giờ. Nếu không, trận địa sẽ bị máy bay Mỹ đáp trả. Các đơn vị đều thực hiện được chiến thuật này thì thực tế sẽ không tổn thất về người và khí tài.

Nhưng một trường hợp đã xảy ra vào ngày 7 tháng 11 năm 1965, một tiểu đoàn hỏa lực đã bị máy bay Mỹ ném bom trúng chỉ vì sau khi bắn rơi máy bay Mỹ đã không kịp rút khỏi trận địa.

Sau đó, các thiết bị tiếp tục được Liên Xô viện trợ sang Việt Nam, tại Việt Nam một trung đoàn nữa đã được thành lập. Quá trình học tập được tiến hành theo ba giai đoạn:

Giai đoạn đầu: nghiên cứu lý thuyết và thực hành tại trung tâm huấn luyện.

Giai đoạn thứ hai: khi bộ khí tài SAM-2 bắt đầu chuyển đến, chúng tôi sẽ lấy học viên của mình để tăng cường quân số cho các tiểu đoàn và như thế sẽ có điều kiện thành lập các đại đội kép (một đại đội Việt Nam và một đại đội Liên Xô - ND). Trong giai đoạn này, các bạn Việt Nam đã nắm vững kỹ thuật và chiến đấu bên cạnh các chuyên gia Liên Xô.

Giai đoạn thứ ba: biên chế của tiểu đoàn hoàn toàn gồm các cán bộ, chiến sĩ Việt Nam. Các chuyên gia không nằm trong biên chế của tiểu đoàn, đặc biệt là trong các trận chiến. Trong mỗi tiểu đoàn chỉ còn lại 7-8 chuyên gia Liên Xô, nhưng họ ở cách tiểu đoàn khoảng 2-3 kilômét và chỉ đến tiểu đoàn làm công tác bảo dưỡng định kỳ hoặc giúp đỡ xử lý sự cố.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM