Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:23:37 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chống phong tỏa sông, biển - Những năm tháng hào hùng  (Đọc 10797 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #30 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2023, 07:36:33 am »

TY BẢO ĐẢM HÀNG HẢI VÀ TIỂU ĐOÀN TỰ VỆ THAM GIA
RÀ PHÁ THUỶ LÔI CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (1967-1970)

Vũ Long Vân35
Nguyên Phó Ty Bảo đảm Hàng hải


Cục Vận tải Đường biển ra đời năm 1965 để chịu trách nhiệm tiếp nhận, bảo quản, phân phối hàng hoá viện trợ từ các nước xã hội chủ nghĩa, các lực lượng tiến bộ vào Việt Nam bằng tàu biển. Ty Bảo đảm Hàng hải là một thành viên của Cục Vận tải Đường biển, với vai trò đảm bảo an toàn luồng lạch đủ độ sâu và không có chướng ngại vật, báo hiệu chính xác để tàu Việt Nam và tàu nước ngoài đi lại an toàn.


Công việc trên trong hoà bình đã khó khăn, phức tạp, trong chiến tranh phá hoại của Mỹ - với ưu thế tuyệt đối về Không quân và Hải quân, thì sự khó khăn đó càng tăng lên gấp bội.


Ngay trong lúc hoà bình, kẻ thù của ngành Bảo đảm Hàng hải là:

- Thiên nhiên khắc nghiệt: lũ, bão, gió mùa, chế độ thuỷ văn gây cho luồng khan cạn, báo hiệu bị tàn phá, đi lại khó khăn.

- Con người cũng gây tác hại không nhỏ: phá báo hiệu lấy đèn, pin, ắc qui. Lái tàu đâm vào báo hiệu gây đổ vờ, đắm chìm, gây chướng ngại trên luồng như đăng đáy, đo rác thải xuống luồng làm khan cạn luồng.

Trong chiến tranh, ngoài những "kẻ thù" trên còn thêm kẻ thù xâm lược, dùng sức mạnh vũ khí bao vây, chia cắt, cô lập huỷ diệt chúng ta.

Trước hết là huỷ diệt các báo hiệu nhập bờ, báo hiệu dẫn luồng, bắn phá các tàu công trình như tàu thay thả phao, tàu cuốc vét. Sau đó là sử dụng bom, mìn, thuỷ lôi để gây chướng ngại vật.

Công tác bảo đảm an toàn hàng hải thực chất là cuộc chiến đấu giữ vững an toàn luồng lạch, chống lại mọi "kẻ thù" để cho những con tàu đi lại bình yên.

Cục Vận tải Đường biển xem nhiệm vụ này hết sức quan trọng không riêng gì của Ty Bảo đảm Hàng hải mà của chung toàn Cục. Cuộc chiến đấu không những đòi hỏi lòng kiên cường dũng cảm, không ngại hy sinh gian khổ mà còn đòi hỏi một trình độ cao về nghệ thuật chỉ đạo, tổ chức thực hiện và khoa học kỹ thuật.


Trong những năm khói lửa, con người Bảo đảm Hàng hải biết phát huy truyền thống anh hùng dũng cảm bằng tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, vì miền Nam ruột thịt, đã bám trụ các đảo đèn với thế đứng: "Còn người còn đào đèn - Tim còn đập đèn còn sảng" và khi phải chống với thuỷ lôi của địch thì:

Ra đi mang nặng lời thề
Thuỷ lôi quét sạch mới về quê hương.

Truyền thống đó lại được phát huy bằng tài năng, trí tuệ công nhân, dưới sự lãnh đạo động viên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hàng trăm sáng kiến, hàng ngàn bàn tay vàng của các ngành nghề đã tập trung cho nhiệm vụ chính trị: thông luồng, tiếp nhận hàng vào, đưa hàng ra tiền tuyến.


Chủ trương sáng suốt của Bộ Giao thông vận tải, Cục Vận tải Đường biển, liên tiếp gợi mở cho chúng tôi những sáng tạo trong hành động cụ thể như:

- Phương châm bốn trước;

- Phá tư thế độc quyền;

- Từ thô sơ đi lên bán cơ giới, cơ giới, tự động và điều khiển từ xa;

- Phối hợp rộng rãi mọi lực lượng, tranh thủ mọi khả năng để hoàn thành nhiệm vụ của mình;

- Vừa làm vừa xây dựng lực lượng, chủ động sáng tạo, không ỷ lại;

- Dân chủ và tập trung;

- Coi trọng hiệu quả kinh tế: nhiều, nhanh, tốt, rẻ.

Mặc dù chiến tranh nhưng lực lượng làm công tác bảo đảm giao thông được phát triển không ngừng như:

- Lực lượng nạo vét biển;

- Lực lượng trục vớt tàu đắm và chướng ngại vật;

- Lực lượng cơ khí;

- Lực lượng khảo sát biển;

- Lực lượng vận chuyển thuỷ bộ;

- Lực lượng thông tin vô tuyến, hữu tuyến;

- Các đơn vị quản lý sự nghiệp;

- Lực lượng xây dựng các công trình biển và đội nguỵ trang...

Về tổ chức chỉ huy và lãnh đạo, Ty Bảo đảm Hàng hải cũng giống hầu hết các xí nghiệp lúc đỏ nhưng Ty Bảo đảm Hàng hải đặc biệt coi trọng xây dựng Tiều đoàn tự vệ.

Lực lượng của Tiểu đoàn gồm 2 đại đội và 8 trung đội độc lập, hầu hết đảng viên và bộ đội chuyển ngành đều ở trong tư vệ. Tiểu đoàn được trang bị huấn luyện khá tốt, có 221 súng trường, 59 tiểu liên, 14 trung liên, 32 đại liên, 15 trọng liên 12 ly 7, 3 tiểu pháo 20 ly, 1 pháo 40 ly, có 449 quả mìn, lựu đạn.


Công tác huấn luyện cũng rất phong phú: có bộ phận được Quân đội huấn luyện; bộ phận các đảo đèn lớn thì có Thành đội cử huấn luyện viên đến; tàu công trình, tàu nạo vét, đội trục vớt - sau này là Đội Rà phá thuỷ lôi do Bộ Tư lệnh Hải quân cử sĩ quan đến huấn luyện.


Nhờ trang bị huấn luyện tốt nên Tiểu đoàn tự vệ thực sự là nòng cốt trong Ty để thực hiện các nhiệm vụ bảo đảm an toàn hàng hải.

Yếu tố tinh thần và khoa học kỹ thuật cùng nghệ thuật chỉ đạo đã giúp 3.000 cán bộ công nhân viên Ty Bảo đảm Hàng hải trong những năm chiến tranh hoàn thành tốt nhiệm vụ. Muốn vậy, Ty Bảo đảm Hàng hải phải đi trước một bước so với các đơn vị khác của Cục trong thực hiện kế hoạch vận tải thời chiến.


Năm 1965, Ty Bảo đảm Hàng hải phải bảo đảm tuyệt đối an toàn cho tàu biển quốc tế và trong nước ra vào các cảng quan trọng như Hải Phòng, Cửa Ông, Hòn Gai, Bến Thuỷ, sông Gianh; 13 hải đăng ven biển và trên các đảo, có tầm chiếu xa từ 8 đến 36 hải lý, bảo đảm 100% ánh sáng. Thời điểm này, cả nước chỉ có Ty Bảo đảm Hàng hải, chịu trách nhiệm từ Đèn Dầu Tán (Vĩnh Thực, giáp Trung Quốc) đến Cửa Tùng (Vĩnh Linh). Bộ Giao thông vận tải và Cục Vận tải Đường biển giao toàn bộ hệ thống báo hiệu ven biển để Ty quản lý. Vì trước đó, có đoạn do Cục Vận tải Đường sông, Cục Thuỷ sản hoặc các Ty Giao thông địa phương quản lý.


Hằng năm, số lượng đèn đều tăng. Vì thế, Mỹ đánh phá các cây đèn này rất ác liệt.

Điển hình là đảo đèn Long Châu. Từ đầu năm 1966 đến năm 1968, máy bay Mỹ đánh huỷ diệt 168 trận, số bom đạn trút xuống trên diện tích 2 km2 bình quân 2 tấn trên m2. Nhờ chiến đấu dũng cảm ngoan cường của Tự vệ đảo đèn Long Châu nên tháp đèn được bảo vệ, ánh sáng không bao giờ bị tắt, góp phần bắn rơi máy bay Mỹ.


Sau Long Châu là đảo đèn Hòn Dáu - đánh mãi không huỷ diệt được đèn nên ngày 27/4/1967, Mỹ phải dùng bom điều khiển la-de. Nhờ có những cây đèn phụ được chuẩn bị từ trước nên đèn Hòn Dáu cũng liên tục phát sáng không lúc nào đứt đoạn.


Suốt từ Bắc vào, cây đèn nào cũng bị đánh huỷ diệt nhưng chúng hoàn toàn thất bại trước sự đánh trả và phòng tránh rất dũng cảm và sáng tạo của công nhân hải đăng. Hằng năm để đảm bảo độ sâu, các tàu hút, tàu cuốc của Ty phải nạo vét trên các luồng từ 2 - 3 triệu m3 sa bồi.


Từ năm 1965, Cục Vận tải Đường biển có giả định luồng Nam Triệu vào cảng Hải Phòng bị phong toả. Ty Bảo đảm Hàng hải được giao nhiệm vụ thiết kế hai luồng tàu biển sang Trung Quốc, những luồng này được gọi là Việt Trung I và Việt Trung II. Tuyến luồng này dài và phức tạp, có nhiều đảo đá ngầm, phải đo đạc, khảo sát, vạch tuyến, làm báo hiệu để tàu 50 tấn và 100 tấn đi lại an toàn vào ban đêm, Ty đã hoàn thành kịp thời phục vụ vận tải.


Tuyến vận tải Khu IV để các tàu VS50 tấn và GP100 tấn đưa hàng vào tiền tuyến chủ yếu chạy ban đêm theo cung đô nhất định. Ty Bảo đảm Hàng hải phải tổ chức Trạm 3 Nam Hà Trạm 4 Thanh Hoá và Trạm 5 Nghệ An để tàu có thể qua các Cửa Lạch Giang, Lạch Trào, Cửa Hội, Sông Gianh, Nhật Lệ.


Các cửa đều phải khảo sát, vạch tuyến, làm đèn báo cừa đèn dẫn luồng để tàu ra vào an toàn. Hoa tiêu luôn sẵn sàng ở cửa biển đón đưa tàu. Khi tàu nằm lại phải có hầm bí mật được xây dựng từ trước, có lực lượng nguỵ trang để bảo vệ tàu.


Những con tàu VS50 tấn của Đội Tự Lực, làu GP100 tấn của Đội Giải Phóng, tàu dầu của Đội Quyết Thắng được các trạm Bảo đảm Hàng hải phục vụ hết mình. Tàu biển lúc đỏ là tài sản rất quý hiếm của ta, với những sĩ quan thuyền viên dũng cảm và giỏi nghề sông nước mưu trí lúc thì luồn tránh để đi, có lúc phải nổ súng chiến đấu để bảo vệ tàu, bảo vệ hàng. Những tấm gương hy sinh dũng cảm của anh em là sự cổ vũ to lớn cho người làm bảo đảm an toàn hàng hải. Anh em đã xả thân vì nhiệm vụ không quản ngại bất kỳ hy sinh gian khổ nào.


Máy bay, pháo sáng, tàu chiến... của Mỹ không thể ngăn cản những con tàu của Đường biển. Sau chiến dịch vận tải Đông Xuân năm 1966 và năm 1967, đế quốc Mỹ phải dùng đến thủ đoạn thâm độc nhất: phong toả không tuyên bố thuỷ lôi, bom từ trường từ Nhật Lệ - Sông Gianh - Cửa Hội - Lạch Trào - Lạch Giang. Những người làm công tác bảo đảm giao thông đường biển có thêm "kẻ thù" nguy hiểm mới là vũ khí thuỷ lôi, phục kích 24/24 trên luồng để diệt các tàu của ta qua lại.
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #31 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2023, 07:37:28 am »

Cuộc đấu tranh chống phong toả thuỷ lôi ngày càng gay go. Ta chưa nắm bắt và tìm hiểu được vũ khí mới này nên chưa có biện pháp rà phá hợp lí, có một số thương vong. Lúc đầu, nhờ có một số tàu biển liều mạng chạy qua vùng rải thuỷ lôi, ta đã lợi dụng sức gió, nước, chạy hết tốc độ, tìm cách lướt an toàn. Chính sự liều mạng của anh em giúp cho đồng chí Cục trưởng Cục Vận tải Đường biển Lê Văn Kỳ - lúc đó có mặt ở cảng Cửa Hội, trực tiếp tìm cách khắc phục thuỷ lôi (tháng 2/1967).


Sau này, khi có tàu há mồm (Tankit) có 2 đáy và 2 máy 600 sức ngựa thì Cục Vận tải Đường biển đã thành công trong một số trận giải vây tàu quốc tế hoặc mở luồng cấp tốc - khi có thiết bị rà phá việc chạy lướt hạn chế.


Ty Bảo đảm Hàng hải cũng vào cuộc tại Lạch Trào, đồng chí Trưởng Ty Dư Bá Thượng và một số cán bộ chủ chốt đến Trạm 4 phối hợp với Hải quân vùng sông Mã tìm cách chống phá thuỷ lôi.

Tại đây, bắt sống được 4 quả MK52 Mod 0, đồng chí trung uý Hải quân Nguyễn Sỹ Trinh từ Bộ Tư lệnh Hải quân vào tháo gỡ thành công. Máy móc của các quả thuỷ lôi hoạt động rất tốt. Đây là những giáo cụ trực quan vô cùng quý giá cho lóp học chống thuỷ lôi đầu tiên chúng tôi được dự Nhờ sự hiểu biết sơ bộ về thuỷ lôi, những đối sách chính của Ty Bảo đảm Hàng hải ra đời:

- Triển khai ngay các đài quan sát thuỷ lôi trên các luồng tàu qua lại;

- Thành lập các tổ rà phá thuỷ lôi - trước mắt lấy thô sơ làm chính (bè luồng, treo sắt thép, thả trôi theo thuỷ triều điều khiển bằng dây lèo);

- Xây dựng chế độ chính sách khuyến khích những chiến sĩ rà phá, quan sát và nghiên cứu các trang bị phòng hộ an toàn trên sông nước khi đi rà phá.

Quả thuỷ lôi MK52 về đến Hải Phòng, các nhà kỹ thuật Hải quân - Vận tải Đường biển phối hợp thiết kế thiết bị rà phá dựa theo tính năng hoạt động của MK52. Ngày 22/4/1967 thiết kế xong, 23/5/1967, thi công xong, sau khi kiểm tra kết quả đã đưa ngay vào Lạch Trào mở luồng. Tên thiết bị là PĐ67-1.


Sau PĐ67 - 1 là PĐ67 - 2, PĐ67 - 3 nhẹ nhàng, cơ động dễ chế tạo nhằm đánh MK42 Mod 0.

Những thắng lợi của rà phá cùng những thành công rực rỡ của thiết bị do ta tự chế tạo, khẳng định cho chúng tôi rằng: ta có thể phá được phong toả luồng bằng thuỷ lôi. Đó là vào cuối năm 1967.

Khi đế quốc Mỹ leo thang ra Hải Phòng, dùng thuỷ lôi phong toả cảng, cô lập Hải Phòng bằng cách cắt đứt các tuyến vận tải sắt, thuỷ, bộ thì Ty Bảo đảm Hàng hải đã có một số chuẩn bị kịp thời: triển khai hơn 100 đài quan sát thuỷ lôi trên các luồng tàu quan trọng; chuyển đổi trục vớt tàu đắm sang làm chủ lực rà phá; C8 Hải quân huấn luyện và dìu dắt đi rà phá ban đầu. Các đồng chí Trương Thế Hùng - sĩ quan của C8 Hải quân cùng đồng chí Thái Phong - đội trưởng Đội Rà phá bom mìn luôn luôn sát cánh bên nhau để chiến thắng thuỷ lôi địch. Một số sĩ quan Hải quân được biệt phái sang Cục Vận tải Đường biển để phối hợp thực hành chống phá thuỷ lôi.


Ty Bảo đảm Hàng hải có đóng góp đáng kể trong cuộc chống phong toả Hải Phòng. Sau đó toàn bộ lực lượng của chúng tôi đi vào tiền tuyến Khu IV cũ.

Các Phân đội Phá lôi của Ty Bảo đảm Hàng hải chốt giữ ở các cửa biển, các bến phà quan trọng để rà phá thuỷ lôi mở luồng thông tuyến trên đường ra tiền tuyến. Trang bị lúc đầu thô sơ sau có thêm thiết bị và tàu thuỷ lôi.


Nhờ có lực lượng này khi địch xuống thang, chúng tôi đã phục vụ kịp thời Chiến dịch vận tải VT5 (vận tải tranh thủ khi địch xuống thang cuối năm 1968).

Miền Bắc hoà bình từ năm 1969 đến 16/4/1972, Ty Bảo đảm Hàng hải tranh thủ cùng cố các đèn đảo quan trọng, các luồng tàu huyết mạch.

Để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu tiếp theo:

- Hệ thống đèn biển điện từ được lắp đặt 3 nơi: Long Châu, Hòn Dáu, Ba Lạt;

- Nạo vét hàng chục triệu mét khối trên các luồng và cầu bến, cảng;

- Xây dựng các hang thuộc vịnh Hạ Long - Bái Tử Long làm kho tàng, trạm bảo đảm giao thông như: hang Bà Dốc, vũng Dục, hang Ma, hang Con Gái. Mở luồng Hải Phòng - Quảng Ninh qua kênh Tráp. Gùng cố lại luồng VT1, VT2. Tham gia xây dựng cảng Hải Phòng mở rộng.

Tháng 5/1972, Mỹ thả thuỷ lôi phong toả tất cả cảng miền Bắc Việt Nam. Ta nhận định: thuỷ lôi địch lúc này có cải tiến - tuy rằng vẫn loại thuỷ lôi đáy MK52 từ trường và MK42. Các thiết bị cũ của ta rà phá những năm 1967 - 1968 đều không còn hiệu quả.


Ty Bảo đảm Hàng hải tập trung toàn lực mở luồng Việt Trung I, Việt Trung II để các tàu VS50 tấn, GP100 tấn lấy hàng từ các cảng phía Nam Trung Quốc chạy theo luồng vận tải đưa hàng về Quảng Ninh - Hải Phòng. Lực lượng tham gia: Việt Nam có 27 tàu GP, 54 tàu vs, 8 sà lan tàu lai; Trung Quốc có 20 thuyền buồm, 35 tàu vs. Cùng tham gia lực lượng bốc xếp, Cảng Hải Phòng cũng triển khai sẵn sàng tại các điểm bốc xếp trong đêm tối, hàng trăm phương tiện đi lại an toàn, đã đưa về nước từ tháng 6/1972 đến tháng 12/1972 gàn 500 ngàn tấn hàng quan trọng.


Cuối năm 1972, lực lượng rà phá của Ty Bảo đảm hàng hải lên tới 14 chiếc và hình thành ba đội: Đội Quyết Thắng 1 và 2, Đội Lê Mã Lương. Không một đêm nào luồng bị tắc, mặc dù địch thường xuyên ném thuỷ lôi bổ sung.


Địch xuống thang sau khi tập kích Hà Nội - Hải Phòng bằng B52, chúng tôi nhanh chóng mở luồng than Hải Phòng - Quảng Ninh; mở luồng vào Khu IV, góp phần mở luồng Nam Triệu cho tàu bè quốc tế ra vào Cảng Hải Phòng.


Luồng Nam Triệu có độ sâu -5,6 m đầu năm 1972, sang đầu năm 1973 còn - 3,5 m. Sa bồi đầy lên 2 m. Muốn nạo vét phải hoá những quả thuỷ lôi chưa nổ còn nằm lại (theo tài liệu quan sát là 18 quả). Bằng thiết bị siêu âm dò mìn của tiến sĩ Hàm Đức Kim chế tạo, chúng tôi đã thành công trong việc diệt loại thuỷ lôi còn lại, tạo an toàn cho tàu nạo vét. Cuối tháng 11/1973, tàu hút số 8 - tiếp theo là tàu Long Châu nạo vét trên 2 triệu mét khối, ngày 3/2/1974, luồng Nam Triệu có độ sâu - 4,5 m, tàu 7.000 tấn ra vào an toàn lúc thuỷ triều cường.


Cảng Hải Phòng hoạt động trở lại bình thường. Công cuộc chống phong toả của Ty Bảo đảm Hàng hải đối với thuỷ lôi của đế quốc Mỹ lúc đó mới cơ bản hoàn thành, chúng tôi tiếp tục lên đường vào phía Nam, tạo mọi điều kiện an toàn trên các tuyến luồng để tàu biển của Cục, Hải quân, Tổng cục Hậu cần đi lại, phục vụ tiền tuyến giải phóng miền Nam, thống nhất Bắc - Nam.


Có thể tổng kết hoạt động chiến đấu chống thuỷ lôi địch của Ty Bảo đảm Hàng hải như sau.

Thành tích:

- Quan sát đánh dấu: 6.798 quả thuỷ lôi;

- Rà phá nổ: 1.098 quả;

- Tháo gỡ: 18 quả.

Tổn thất:

- Trong khi rà phá thuỷ lôi đã có 2 liệt sĩ, 13 thương binh, 3 ca nô bị đánh chìm, 10 tàu phá lôi bị phá hỏng;

- Trong khi quan sát có 10 liệt sĩ.

Hoạt động của Ty Bảo đảm Hàng hải được các đơn vị vận tải sông biển rất tin cậy; được Cục trưởng Cục Vận tải Đường biển đánh giá: phá thuỷ lôi như vậy là nhanh, nhiều, tốt, rẻ; được Nhà nước tặng danh hiệu đơn vị Anh hùng Lao động cho Đảo đèn Long Châu và cho Trạm đèn Nam Triệu; danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang cho Tiểu đoàn tự vệ.
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #32 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2023, 07:39:00 am »

CẢNG HẢI PHÒNG TRONG ĐẠI THẮNG
CHỐNG BAO VẢY PHONG TOẢ BẰNG THUỶ LÔI


Nguyễn Đức Hoè36
Nguyên Giám đốc Cảng Hải Phòng


Xưa nay trong bất kỳ cuộc chiến tranh nào, vấn đề quyết định thắng lợi cuối cùng luôn luôn phụ thuộc vào sự so sánh lực lượng giữa hai bên tham chiến. Đó là vì, chiến tranh tuy phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng cuối cùng yếu tố ấy phải được thể hiện trên chiến trường bằng sức mạnh vật chất cụ thể. Cuốn sách Tổng kết cuộc chiến tranh chong Mỹ cứu nước - đã khẳng định néu không có một số lực lượng vũ khí nhất định thì không thể nói đến tiến hành chiến tranh, cũng không thể nói đến thắng lợi trong chiến tranh.


Càng suy ngẫm tôi càng thấy sự chính xác của những nhận định trên, càng ý thức được rằng: rõ ràng trong buổi đầu của cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ, ta còn có khoảng cách quá xa về tiềm lực, sau đó chúng ta nhanh chóng tăng cường tiềm lực, rút ngắn khoảng cách ở những chồ, những khâu, từng thời điểm quyết định để tạo nên chiến thắng Đông Xuân năm 1975 - giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc Ngay từ đầu cuộc chiến, đế quốc Mỹ thừa hiểu, chúng ta có được sức mạnh nhanh chóng là phụ thuộc phân lớn vào sự chi viện vật chất của quốc tế và hàng hoá chi viện cho Việt Nam bằng đường biển qua Hải Phòng. Hồi ký của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mác-na-ma-ra cũng khẳng địch 85% hàng chi viện cho Bắc Việt Nam được nhập qua cảng Hải Phòng. Rõ ràng khẳng định mục đích của địch tiến hành chiến tranh phong tỏa đường biển là ngăn chặn sự chi viện quốc tế cho Việt Nam. Vì vậy, đại thắng chống phong toả đường biển có tính chiến lược. Đánh bại hoàn toàn chiến tranh phong toả của địch chính là kết quả tiếp nhận khối hàng khổng lồ qua cảng Hải Phòng.


Gần 40 triệu tấn hàng các loại của quốc tế chi viện Hải Phòng đã chứng minh hùng hồn đại thắng của chúng ta trên mặt trận chống phong toả biển:

- Gần 20 triệu tấn xăng dầu đảm bảo cho mọi hoạt động chiến đấu cơ động của các lực lượng chiến đấu và sản xuất, đời sống. Hơn 1 triệu tấn khí tài, pháo tăng, chiến xa... thiết bị quân trang, quân dụng, thiết bị y tế. Trong đó có 10 cần cẩu bay (Mi6) có sức nâng 25 tấn, nguy hiểm hơn là có 4 kiện phóng xạ và hàng vạn xe cơ giới, xe chuyên dùng như xe xúc, xe ủi công trường xa. Trạm thông tin ra-đa lưu động, bệnh xá lưu động, hàng vạn cỗ máy phát điện diezen... Có những thứ này quân dân ta đã nâng nhanh sức chiến đấu và đạt hiệu quả cao.

- Gần chục triệu tấn gạo, bột mì, thực phẩm các loại kịp thời góp phần ổn định đời sống của nhân dân và cung cấp kịp thời nâng cao sức khoẻ cho quân dân hai miền đánh thắng Mỹ nguỵ.

- Hơn bốn triệu tấn phân bón, thuốc trừ sâu góp phần quan trọng vào sản xuất nông nghiệp, tăng thêm cánh đồng 5 tấn trong khói lừa chiến tranh ác liệt.

- Gần bốn triệu tấn sắt thép, máy móc thiết bị cung ứng kịp thời cho các nhà máy sơ tán tiếp tục sản xuất, đặc biệt là cung cấp vật tư thiết bị làm đường, phà qua sông và bắc cầu đảm bảo giao thông. Hơn nữa còn có dự trữ để lực lượng phục hồi làm mới một số cầu sau chiến tranh (Long Đại, Hàm Rồng, Chương Dương).


Cho nên có thể khẳng định rằng: chúng ta phá tan âm mưu phong toả của địch để đạt mục đích là tiếp nhận được một khối lượng hàng hoá khổng lồ, có trị giá hơn chục tỷ đô la.

Âm mưu và thủ đoạn phong toả đường biển của địch vô cùng tàn ác nhưng cùng với quân dân cả nước, quân dân Hải Phòng đã đánh bại, đập tan chiến tranh phong toả của địch giữa vùng căn cứ hậu cần, Hải Phòng tiếp nhận và tiếp chuyển một khối lượng hàng viện trợ khổng lồ đủ loại - xưa nay chưa từng có.


Quá trình tiếp nhận hàng hoá được tiếp chuyển nhanh, sơ tán nhanh, bảo vệ tương đối an toàn, thiệt hại do địch tàn phá là không đáng kể.

Tiếp thu những chỉ thị và sự hướng dẫn của các lực lượng võ trang, Bộ Tư lệnh 350,363, Hải quân Việt Nam... lực lượng bán võ trang của Cảng cũng nhanh chóng được tăng cường cả về tổ chức, trang bị và huấn luyện chiến đấu.


Toàn Cảng có Ban Chỉ huy quân sự do Giám đốc là Trường ban, Bí thư Đảng làm Chính trị viên; có 3 tiểu đoàn tự vệ và nhiều đại đội, trung đội độc lập; đặc biệt có Đại đội cứu hoà và 6 Đại đội Công binh tập trung được trang bị đủ dụng cụ dò tìm, đào móc, rà phá và tháo gỡ bom các loại.


Tự vệ Cảng chẳng những làm nòng cốt trong sản xuất bảo vệ sản xuất mà còn lập chiến công đáng ghi nhớ:

Một là:

Cho tới năm 1972, toàn Cảng có 2.380 tự vệ - bằng 40% cán bộ và công nhân. Tự vệ được biên chế nhỏ: đại đội độc lập, khi cần thiết sẽ thành lập tiểu đoàn. Trường hợp công tác lẻ ở mỗi tàu thì sẽ có một tiểu đội hoặc trung đội. Sau Hiệp định Paris, Cảng thành lập 4 tiểu đoàn, nhiều đại đội; rồi thành lập Lữ đoàn tự vệ Cảng Hải Phòng.

Trước năm 1960, Cảng chỉ có 30 khẩu súng trường tiểu liên. Tới năm 1972, Cảng liên tiếp được tăng cường đủ loại vũ khí từ 12,7 ly; 14,5 ly; 37 ly; pháo 40 ly, 57 ly và 4 pháo 100 ly, tổng cộng 33 khẩu các loại và một đại đội công binh được trang bị đủ loại, đào bới, rà phá, tháo gỡ.

Tất cả chiến sĩ được huấn luyện theo chỉ đạo của Quân khu, hàng ngàn pháo thủ các loại từ 12.7 ly, pháo 37 ly tới pháo 100 ly được nắm vững, thao tác kỹ thuật nhanh chóng, đánh địch có hiệu quả.

Được huấn luyện và trang bị nhiều loại vũ khí, Tự vệ Cảng sẵn sàng chiến đấu, nhờ vậy trong 343 trận đánh, Tự vệ Cảng đã bắn rơi 4 máy bay trong đó có 1 máy bay không người lái.

Công binh Cảng rà phá, đào bới, tháo gỡ nhiều loại vũ khí địch trên phạm vi cảng, các kho bãi sơ tán an toàn, các địa phương khác như rốc-két, bom bi, bom xuyên (nổ ngay, nổ chậm), bom khoan, bom chờ nổ loại MK42, bom nổ ngay và đặc biệt (5/1973) vớt được 1 quả MK52 tại Quảng Bình.

Đặc biệt Đội Công binh Cảng đã tham gia hàng trăm trận cùng các lực lượng bạn, hoặc độc lập, khắp trên mặt đất, dòng sông Hải Phòng.

Dũng cảm, kiên cường hơn nữa là tàu Tankit 154 của Cảng phá 22 quả bom ở lòng bến phà Tiên Cựu, Quý Cao; lướt tàu phá 22 quả mìn chờ nổ giải vây cho 3 tàu Liên Xô và Ba Lan, được kéo ra ngoài an toàn.

Cùng với việc tổ chức sản xuất, việc tổ chức chiến đấu, Cảng chấp hành nghiêm chỉnh lệnh sơ tán những lực lượng không chiến đấu ra nơi an toàn.

Xưởng Cơ khí Thuỷ lôi được lắp xuống sà lan và đội tàu sà lan được sơ tán sang khu Bạch Thái Bưởi. Tiếp tục sửa chữa tàu. Xưởng Đại tu cơ giới bộ sơ tán sang dãy núi Minh Đức (Thuỷ Xuyên), được đắp ụ nguỵ trang che chắn. Tiếp tục sửa xe, máy, đảm bảo sản xuất.

Hai xưởng thuỷ bộ và 500 công nhân cơ khí tiếp tục sản xuất đảm bảo tàu bè, xe, máy vận tải hàng hoá.

Hàng chục nhà trẻ với hơn 1.000 cháu được tổ chức sơ tán an toàn ra ngoại thành. Các trường học nghiệp vụ, chính trị, chuyên môn tiếp tục học ở nơi sơ tán với số lượng 1.000 lượt người theo học.

Một công tác đặc biệt khẩn trương tiến hành là hàng vạn hố cá nhân vừa đất vừa bê tông, hàng trăm hầm kèo tre sắt, hơn hai ngàn thước hào giao thông chằng chịt trong cảng để công nhân vận động an toàn.

Chính nhờ công tác phòng tránh được quan tâm như vậy nên suốt cuộc chống chiến tranh phá hoại, 5.000 công nhân sản xuất, chiến đấu trên cảng, nơi sơ tán, ngoài biển và Khu IV chỉ có hơn mười người hy sinh. Đặc biệt là không có ai hy sinh vì bom mìn ngoài biển cũng như khi rà phá, tháo gỡ bom.


Hai là:

Cảng Hải Phòng là Cảng được giao thi công chế tạo máy phá mìn từ trường ĐB67 vào năm 1972, Cục lại giao nhiệm vụ thi công cải tiến máy phá lôi ĐB72 - 03. Máy này lắp lên tàu Tankit đi phá bom từ trường ở các luồng có hiệu quả cao nổ bom cách xa hàng trăm thước an toàn tuyệt đối, số lượng bom nổ không thể đếm được.

Nhờ những thành tích đó, Tự vệ Cảng được nhận danh hiệu "Anh hùng Lực lượng Vũ trang" và Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh.

Cuộc chiến tranh chống phong toả trên địa bàn Hải Phòng, Quảng Ninh có nhiều điều đáng được ghi nhớ và cũng là những bài học kinh nghiệm rút ra từ trận chiến tàn khốc.

Kẻ địch thâm độc có sức mạnh với nhiều thủ đoạn đánh phá ác liệt. Song chúng ta thấm nhuần quyết tâm và chủ trương chiến lược của Đảng, nắm vững tình hình, có được những thông tin cần thiết nên ta càng ngày càng hiểu được địch, phát hiện ra rằng: địch vừa đánh vừa thăm dò, có nhiều tuyên bố và hành động nghi binh đe doạ. Giôn-xơn "leo thang" hung ác như vậy nhưng vẫn còn bỏ ngỏ Cửa Nam Triệu chưa thả thuỷ lôi, ngại đánh vào tàu quốc tế, chưa dám huỷ diệt cảng Hải Phòng mà mới chỉ dừng lại ở chỗ đánh các nẻo đường từ Hải Phòng đi, thả mìn các cửa sông, cửa biển với ý đồ cô lập thành phố Hải Phòng thành hòn đảo, vô hiệu hoá hàng hoá bốc lên thành phố.
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #33 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2023, 07:39:33 am »

Ta lợi dụng chỗ yếu chiến lược của địch, kiên quyết khai thác thế mạnh của ta, có những đối sách táo bạo mang lại kết quả thắng lợi to lớn.

Một là:

Trong khi khẩn trương xây dựng các cảng sơ tán dọc tuyến đường 18, ta tập trung xây dựng lực lượng tại Hải Phòng; khai thác cơ sở vật chất tại đây để có năng lực tiếp nhận và tiếp chuyển cao nhất. Chủ trương này trái với phương châm sơ tán triệt để thời chiến tranh - khi thành phố 30 vạn dân nội thành chỉ còn 3 vạn, thì hàng vạn công nhân Cảng và các lực lượng vũ trang, chủ hàng nội ngoại thương vẫn tấp nập ngày đêm bốn ca bốc xếp vận chuyển hàng hoá, nâng sản lượng tiêp nhận tới 7.000 tấn/ ngày. Chấp hàng chỉ thị của Ban Điều hành vận tải Trung ương do đồng chí Phó Thủ tướng là Trưởng ban, Ban Điều hành vận tải khu vực Hải Phòng - Quảng Ninh - lúc ấy khác nào Bộ Tư lệnh Vận tải tiền phương, đã chỉ huy phối hợp các lực lượng vũ trang Trung ương và địa phương. Có đợt quân đội huy động cả hai sư đoàn ô tô mà Đoàn Hồng Hà rút hàng ờ cảng. Nhờ sức mạnh tổng hợp của Trung ương và địa phương, chúng ta tổ chức rút hàng từ cảng đi, có ngày 7 đến 8 nghìn tấn, đỉnh cao là rút sạch hàng hoá dưới tàu và trên kho bãi. Vì vậy, khi địch đánh vào cảng, hàng hoá thiệt hại không đáng kể.


Hai là:

Khi địch tuyên bố sẽ đánh vào tàu bè đậu trên thượng lưu và hạ lưu cảng 500 m, ta chẳng những không co lại mà còn kéo dài neo tàu trên bến Bính để sạng mạn tàu, sà lan đưa tàu vào cầu tàu Nhà máy Cá hộp để bốc hàng lên; neo tàu rải ra trên dòng sông Bạch Đằng và vịnh Hạ Long; tổ chức chuyển bãi khi kho dầu Thượng Lý - Đức Giang bị đánh phá, thiếu kho chứa; tàu dầu lớn phải chờ chuyển tải quá lâu, ta mua hẳn tàu dầu một vạn tấn treo cờ Hy Lạp làm kho nổi. Vậy là tàu bạn được giải phóng nhanh, quay vòng nhanh còn ta đưa phương tiện nhỏ ra tiếp nhận và đưa thẳng tới các chiến trường hậu phương.


Lợi dụng thời cơ trong năm có 169 giờ ngừng bắn, ta chuẩn bị sẵn sàng lực lượng huy động tổng lực các ngành Trung ương và địa phương, trong và ngoài quân đội, đưa tàu vào bốc dỡ tiếp chuyển nhanh, nhất là lấy hàng đi Khu IV có ngày hàng nghìn tấn. Đây là thời cơ để lực lượng vận tải đạt được khối lượng tiếp nhận và tiếp chuyển cao nhất.


Do được chuẩn bị trước năm 1972 khi địch thả thuỷ lôi xuống luồng Nam Triệu, tàu lớn không ra vào cảng được, ta đã điều tàu đưa hàng viện trợ vào các cảng Trung Quốc rồi dùng tàu nhỏ của ta và của bạn loại 50 tấn, 100 tấn có tốc độ cao chuyển về vùng vịnh Hạ Long sang mạn cho các tàu nội địa. Sà lan của Cảng chở hàng về Hải Phòng lại cẩu lên các tàu lớn của Cu Ba, Cộng hoà Dân chủ Đức nhanh gọn tương đối an toàn, sau lại sử dụng thiết bị của tàu lớn chuyển xuống các phương tiện đi nơi cần thiết. Song song với mở tuyến đường biển Đông Bắc, ta còn mở thêm cảng Lạng Sơn để tiếp nhận ca tiếp chuyển hàng hoá qua Bằng Tường về Lạng Sơn, nhập vào nội địa. Công nhân Cảng được điều động chuyển tải các điểm bị đánh từ Đồng Đăng tới Yên Viên. Hàng nghìn lượt công nhân Cảng Hải Phòng được điều vào Nghệ An, Quảng Bình và năm 1973 vào Đông Hà bốc hàng kịp chi viện cho tiền tuyến lớn.


Một nghịch lý mà lại rất hợp lý là lúc chiến tranh cả thành phố tắt đèn riêng vùng cảng vẫn sáng, chỉ khi báo động cảng mới tắt đèn. Ta biết rằng nếu đèn sáng máy bay địch dễ dàng xác minh tọa độ đánh cảng nhưng ta sáng đèn để sản xuất liên tục, mặt khác cũng biểu biện tư thế bình tĩnh và điều đó làm yên lòng bạn bè quốc tế.


Một việc tưởng như nghịch lý mà lại rất hợp lý nữa là ta khai trương mở rộng cảng hiện đại - ngay dưới làn bom đạn ác liệt. Thật vậy, trong cuộc chống chiến tranh phá hoại, hầu hết các xí nghiệp đã sơ tán, nhiều xí nghiệp dỡ hết nhà xưởng, trong khi ấy Cảng bắt đầu xây dựng Bến 7, Bến 8, Bến 9. Vì thế, sau Hiệp định Paris ta có thêm 600 m cầu tàu hiện đại, dây chuyền xếp dỡ hoàn chỉnh; xây thêm cầu Chùa Vẽ, cảng Vật Cách, kéo dài cầu từ 1.600 m lên 3.000 m. Chính nhờ chủ trương, việc làm táo bạo này mà ta có thêm cầu tàu xây dựng từ năm 1973 - 1975 để tăng năng lực tiếp nhận phục hồi kinh tế chi viện cho miền Nam. Tiếp đà xây dựng trong chiến tranh nên sau mấy năm hoà bình ta đã xây xong 2 km cầu hiện đại và 200 m cầu bê tông. Cảng Chùa Vẽ đưa năng lực tiếp nhận lên cao, có ngày tiếp nhận lên tới 13.000 tấn, cá biệt có ngày 16.000 tấn.


Nếu như ta không kiên quyết tranh thủ xây dựng lúc chiến tranh, thỉ sau này không biết còn phải chờ bao khâu chuẩn bị và chưa chắc bây giờ đã có được những tuyến cầu dài như vậy.

Những người ngoài cuộc không thể hình dung nổi, tại sao Mỹ thả cả vạn quả thuỷ lôi chìm sâu đáy nước mà công nhân Cảng và Vận tải biển chỉ hy sinh có mấy người vì vấp phải thuỷ lôi?

Mỹ cậy sức nhiều, lực mạnh cứ một tháng thả thủy lôi xuống các luồng vịnh Hạ Long. Chúng thả chính giữa theo dọc luồng và những bãi bom ở ngã ba nơi tàu thuyền phải đi qua. Theo dõi địch ta nắm được quy luật, định vị được chỗ bom nằm. Biết rằng, khoảng cách bom rơi cách nhau khoảng 200 m, vậy là ngay sau khi địch thả ta chỉ cần phá một quả là có khoảng cách an toàn 200 m để cho tàu vượt tắt ngang qua luồng bom. Lại biết rằng, bom chỉ ở giữa luồng nên tàu nhỏ có thể lách qua ven đảo là có thể an toàn. Với phương châm "Địch phong toả ta phá ta đi", và nhờ sự quyết tâm, trí thông minh, lòng dũng cảm của các thuyền trưởng, thủy thủ công nhân mà trong đợt vận chuyển Đông Bắc ta tiếp nhận an toàn gần nửa triệu tấn hàng.


Có lần về thăm Cảng, đồng chí Lê Thanh Nghị nói với cán bộ công nhân Cảng: "Cảng Hải Phòng bây giờ là cửa ngõ của Tổ quốc". Thật đúng vậy, quá trình chống bao vây phong toả của đế quốc Mỹ, cán bộ công nhân Cảng dưới sự lãnh đạo của Đảng uỷ và Thành uỷ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ: tiếp nhận 40 triệu tấn hàng viện trợ, trị giá hàng chục tỷ đô la, dưới sự đánh phá ác liệt của địch. Đây là một kỳ tích và Cảng đã vinh dự được Nhà nước tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng Vũ trang và Giải thưởng Hồ Chí Minh.
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #34 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2023, 07:40:43 am »

CHỐNG PHONG TOẢ VẬN TẢI HÀNG HOÁ
CHI VIỆN MIỀN NAM - KHU IV

Võ Bẩy37
Nguyên Giám đốc Công ty Vận tải biển


Ngày 5/5/1965, theo Quyết định số 136/CP của Hội đồng Chính phủ và Quyết định số 1046, Cục Vận tải Đường biển được thành lập. Đồng chí Lê Văn Kỳ (Giám đốc Cảng Hải Phòng) được cử làm Cục trưởng. Trong thành phần của Cục, có đơn vị vận tải duy nhất là Công ty Vận tải biển 101; ngoài ra còn có hệ thống cảng biển: Đại lý Tàu biển (VOSA), Ty Bảo đảm Hàng hải, Xưởng Cơ khí, Đơn vị Xây dựng công trình thuỷ. Vừa ra đời Cục Vận tải Đường biển phải đương đầu ngay với cuộc chiến tranh phá hoại phong toả của Mỹ. Dưới đây, tôi xin đi sâu vào nhiệm vụ của Công ty Vận tải biển 101.


Công ty Vận tải biển 101 đảm nhận vận chuyển lương thực, thực phẩm, xăng dầu, vũ khí, quân trang, than đá từ Hải Phòng vào Khu IV, rồi từ đó vận chuyển cho miền Nam. Giữa năm 1965, máy bay và tàu chiến Mỹ đánh phá ác liệt, một số phương tiện như tàu, sà lan biển Bến Thuỷ và B3 bị chìm Chính uỷ tàu Trần Công Tâm hy sinh. Nhưng do yêu cầu cấp bách phục vụ chiến trường miền Nam và Khu IV, Cục Vận tải Đường biển chủ trương đình chỉ các tàu lớn của Công ty 101 vào Khu IV và thành lập Công ty 103. Công ty 103 gồm đội sà lan biển có 3 tàu kéo, đoàn thuyền gỗ chạy buồm và lắp máy vốn là thuyền đánh cá của Tổng Cục thuỷ sản và hoán cải từ thuyền đánh cá thiết kế đóng lại tàu vỏ sắt loại 20 tấn giả làm thuyền đánh cá để vận chuyển, xác định cung độ vận chuyển cho phù hợp tuyến đường; khai thông luồng lạch và hàng hoá vận chuyển. Mật độ đánh phá của địch ngày càng leo thang ác liệt từ Khu IV cũ trở ra. Việc vận chuyển hàng hoá gặp rất nhiều khó khăn vì phương tiện của tàu thì nhỏ, tốc độ chậm trơ trụi trên biển, nếu kéo dài sẽ tổn thất người và của, khó hoàn thành nhiệm vụ chi viện cho miền Nam và Khu IV.


Do đó năm 1966, Nhà nước và Bộ Giao thông vận tải chỉ đạo phát triển loại phương tiện mới trọng tải lớn hơn, nhất là tốc độ cao hơn. Ta được trang bị loại tàu vỏ sắt gọi là VS trọng tải 50 T sức ngựa 120 cv, 300 cv, tốc độ 10 - 12 hải lý/ giờ; các loại tàu trọng tải 100 T, sức ngựa 900 cv, tôc độ 14 hải lý/giờ. Nhờ tàu có tốc độ nhanh, từ Hải Phòng vào Bến Thủy chỉ mất 12 tiếng, nên tránh được sự đánh phá khống chế của địch trên măt biển.


Sang năm 1967, do kết quả rà phá thuỷ lôi thông luồng lạch bến cảng của lực lượng Hải quân và Ty Bảo đảm Hàng hải và do yêu cầu vận chuyển ngày càng cao, ngày 28/10/1967, Cục Vận tải Đường biển ra quyết định giải thể Công ty 103 (trước đó ngày 4/10/1966, Công ty 101 đã có quyết định giải thể), Sắp xếp toàn bộ lực lượng vận tải, hình thành 4 đội tàu lớn: 1/ Đội tàu Tự Lực; 2/ Đội tàu Quyết Thắng; 3/ Đội tàu Giải Phóng; 4/ Đội tàu Hữu Nghị. Bốn đội tàu này do Cục Vận tải Đường biển trực tiếp quản lý và hạch toán kinh tế nội bộ. Nhiệm vụ cụ thể của từng đội như sau:

1. Đội Tự Lực: là đội tàu chù lực gồm VS50, nhiệm vụ vận chuyển hàng từ Hải Phòng về Khu IV, mặt hàng chủ yếu là lương thực, vũ khí, xăng dầu, lập chân hàng cho Đoàn Vận tải Trường Sơn vận chuyển vào miền Nam. Tuyến vận chuyển tổ chức thành hai cung:

- Từ Hải Phòng đi Nam Hà;

- Từ Nam Hà (Ninh Cơ) vào Bến Thuỷ - sông Gianh.


2. Đội tàu Quyết Thắng: nhiệm vụ tiếp nhận và vận chuyển xăng dầu. Tuyến đường và cung độ vận chuyển:

- Tiếp nhận, chuyển tải xăng dầu ở khu vực vịnh Hạ Long vào các kho xăng dầu ở Hải Phòng và Quảng Ninh;

- Tuyến đường sông từ các kho xăng dầu vào Hà Nội, Nam Hà và Khu IV.

- Phương tiện chuyên dùng: Loại 300 T(D), 100 T(G), 100 T(H) tự hành, tàu kéo sông và bổ sung loại vs 50 T chuyên chở xăng dầu.


3. Đội tàu Giải Phóng: là đội tàu chiến dịch, tốc độ nhanh, chịu sóng gió lớn. Đây là loại phương tiện hiện đại so với loại vs lúc bấy giờ. Nhiệm vụ: vận chuyển tranh thủ những ngày Mỹ tuyên bố ngừng bắn (ngày lễ, tết) hoặc thời gian chúng xuống thang, thời gian ngắn từ 3 đến 5 ngày, có lúc vài tháng ra quân hàng loạt.

Đội đã đóng góp phần lớn sản lượng trong các chiến dịch


4. Đội tàu Hữu Nghị: Để bảo tồn lực lượng và đào tao sĩ quan thủy thủ làm nòng cốt cho các tàu có trọng tải lớn và hiện đại, Bộ và Cục chủ trương sơ tán Đội tàu Hữu nghị sang Trung Quốc làm nhiệm vụ vận chuyển hàng ờ nước ngoài thu một số ngoại tệ, kết hợp đào tạo sĩ quan, thuyền viên tàu viễn dương. Trong chiến dịch VT5 (vận tải tranh thủ tụt thang) Đội VT5 đã đem một lượng hàng lớn lấy từ Trung Quốc đến thẳng Khu IV, góp phần thắng lợi trong chiến dịch.

Do tình hình phát triển, ngày 31/3/1969, Quyết định số 378TC của Bộ Giao thông vận tải sáp nhập bốn đội tàu của Cục, thành lập Công ty Vận tải biển Việt Nam (VOSCO). Công ty VOSCO là đơn vị hạch toán kinh tế độc lập, do đồng chí Lê Vân làm Chủ nhiệm, đồng chí Võ Văn Tảo và Vũ Nguyên Hảo làm Phó Chủ nhiệm.
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #35 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2023, 07:42:00 am »

CUỘC CHIẾN CHỐNG PHONG TOẢ LẦN THỨ NHẤT (1965 - 1968)

Thất bại ở miền Nam, Mỹ chủ trương đánh phá ác liệt ở miền Bắc nhằm ngăn chặn đường chi viện vào miền Nam. Mặt trận giao thông vận tải trên sông, biển diễn biến rất phức tạp; máy bay, tàu chiến, biệt kích Mỹ ngày đêm đánh phá ác liệt, gây ra cho ta không ít khó khăn nhất là thả các loại thuỷ lôi để bịt luồng.


Để phá thế phong toả của địch, Cục Vận tải Đường biển chủ trương thành lập Đội Rà phá thuỷ lôi, mở luồng lạch cho tàu vận tải. Sau khi thông luồng, thông tuyến, khâu vận tải tiếp tục làm nhiệm vụ mà Đội Tự Lực là xung kích.


Ban đầu tổ chức vận chuyển từng cung độ ngắn:

- Cung Hải Phòng đi Ninh Cơ (Nam Định);

- Cung Ninh Cơ (Lạch Giang) vào từng đoạn Khu IV, có thời gian đi thẳng vào Bến Thuỷ, từng cung đoạn ngắn đi Lạch Trường, Lạch Quèn, Biển Sơn vào Bến Thủy. Mỗi đoạn sông đều có Trạm Bảo đảm an toàn hàng hải như có ụ trú ẩn, thông tin liên lạc, hoa tiêu quan sát, rà phá thuỷ lôi...


Trên tàu được trang bị các loại vũ khí (việc đánh trả máy bay, biệt kích địch chỉ là trường hợp rất cần thiết, còn tàu vẫn lấy phương châm hàng về đến đích là chính). Nhiều lần, bị máy bay địch phát hiện, đánh phá ác liệt, có đợt chúng đánh nhiều tàu như tàu VS16, VS50, VS20, VS02, TL11, TL17, anh em vừa phải đánh trả vừa điều khiển tàu chạy theo hình chữ chi, đưa tàu vào bãi, hàng hoá còn nguyên vẹn, nhưng không tránh khỏi thương vong và tổn thất về người và phương tiện. Một số thuyền viên đã vĩnh viễn cống hiến đời mình cho sự nghiệp, một số còn lại đầy lòng dũng cảm, mưu trí như Võ Tư Trình, Ngọ Lưu, Nguyễn Nuôi, Nguyễn Bưng, Lê Thanh Bùi, Lê Văn Cum. Các lãnh đạo của Đội Tự Lực như Ngô Tuyến, Lê Thừa, Nguyễn Thượng Sơn, đồng chí Nhai thường bám biển, bám tàu khiến cho thuyền viên càng giữ lòng tin.


Vì việc tiếp nhận, vận chuyển xăng dầu không thể gián đoạn được nên Cục huy động toàn bộ Đội Quyết Thắng tiếp nhận, thậm chí nếu thiếu phương tiện thì sản xuất, két chứa đưa lên sà lan hàng khô mà chở. Trong chiến đấu, không sao tránh khỏi sự hy sinh và tổn thất, chìm phương tiện. Ví dụ: tàu TD1, TD3, H1, H2, D11, E54, E55, G15, G23. Anh em ngoan cường, dũng cảm lao vào cứu phương tiện, dập tắt hoả hoạn, cứu hàng hoá, có người bị thương, trên người còn dị dạng nhưng không hề nao núng.


Chiến dịch 37 ngày

Đầu năm 1967, Mỹ xuống thang ngừng bắn thời gian dài 37 ngày Cục Vận tải Đường biển động viên toàn lực tranh thủ mở chiến dịch rà phá thuỷ lôi, thông luồng, thông tuyến - trước khi ngừng bắn địch thả thuỷ lôi bổ sung rất nhiều - và đưa hàng vào Khu IV. Cục chủ trương huy động ba đội tàu Tự Lực, Giải Phóng, Quyết Thắng và một số tàu lớn ở nước ngoài về tham gia. Chỉ trong một tháng đã đưa vào Khu IV tren 111.000 tấn hàng, vào Quảng Bình vượt kê hoạch 2.000 tấn hàng.


Chiến dịch Tết Mậu Thân 1968

Tháng 10/1967, thi hành chỉ thị của trên, Cục lại huy động hai đội tàu Giải Phóng và Tự Lực chuyển gấp lương thực, vũ khí vào Khu IV phục vụ kế hoạch Tốt Mậu Thân 1968. Địch trinh sát phát hiện tuyến vận chuyển đường biển, chúng dùng tàu biệt kích đánh bất ngờ vào tàu, thuyền của ta và dùng Hạm đội 7 bắn dọc bờ biển. Lực lượng Hải quân và Pháo bờ biển phối hợp đánh trả để bảo vệ tàu, thuyền. Cung độ và giờ giấc đoàn xuất phát đều báo cho Hải quân và Pháo bờ biển yểm hộ. Cách đi của tàu ta là bám bờ, lợi dụng gió mùa, sương mù, rút ngắn cung độ chạy hai tuyến Hải Phòng - Ninh Cơ, Ninh Cơ - Bến Thuỷ; trả xong hàng hôm sau quay trở ra ngay nên đảm bảo phương tiện, hàng hoá an toàn; hằng tháng đều vượt kết hoạch 10% -12%.


Chiến dịch VT5 (vận tải tranh thủ tụt thang - 5T)

Ngày 1/11/1968, Mỹ tuyên bố ngừng bắn miền Bắc, trước đó (9/1968) theo lệnh của Trung ương, Cục Vận tải Đường biển chuẩn bị phương tiện vận chuyển lớn, huy động tất cả bốn đội tàu - đội tàu Hữu Nghị cũng về nước tham gia. Các tàu trọng tải lớn và Đội Giải Phóng lấy hàng từ Hải Phòng vào Bến Thuỷ và Sông Gianh. Đội Tự Lực làm chuyển tải ở hai khu vực Bến Thuỷ và Sông Gianh - Nhật Lệ. Ta mạnh dạn đưa sà làn vào Hòn Ngư để tàu vỏ sắt dầu chuyển tải. Chính phủ huy động các tàu vỏ gỗ Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nghệ Tĩnh... vận chuyển một số hàng cho Khu IV.

Trong chiến dịch, các tàu quay vòng nhanh, có tàu 5 chuyến/tháng, có tàu chuyển tải 2 chuyến/ngày. Kết quả sản lượng vận chuyển bằng ba lần năm 1966 - 1968 và hoàn thành kế hoạch năm 1969.

Sản lượng vào Nghệ An: 210.000 tấn;

Sản lượng vào Quảng Bình: 112.000 tấn;

Xăng dầu vào Khu IV: 12.000.000 tấn.

Phục vụ Chiến dịch đường 9 Nam Lào

Mỹ nguỵ mở Chiến dịch "Lam Sơn 719" hòng triệt phá hành lang vận chuyển của Đoàn 559, phá vỡ tuyến hậu cần tiếp tế từ Bắc vào Nam. Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương quyết tâm đánh bại cuộc hành quân lớn này của địch. Bộ Tổng Tham mưu quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Vận tải đường biển phục vụ chiến dịch, chuyên lo chở vũ khí, xe tăng vào Long Đại giao cho Đoàn 559. Ban Chỉ đạo đo đồng chí Nguyễn Tạc - Phó Tư lệnh Hải quân làm Trưởng ban, đồng chí Võ Bẩy - đại diện Cục Vận tải Đường biển làm Phó ban. Thời gian khẩn trương và gấp rút, nhưng ta đã hoàn toàn vượt mức kế hoạch, an toàn và bí mật (riêng ngành Đường biển đã chở 55/50 chiếc xe tăng). Quá trình vạn chuyển được đồng chí Võ Nguyên Giáp vào tận nơi trực tiếp kiểm tra và động viên anh em. Kết quả đợt vận tải đột xuat góp phần đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của địch. Nhà nước và Bộ Tổng Tư lệnh đã khen thưởng nhiều tàu và thuyền viên.
   

CUỘC CHIẾN CHỐNG PHONG TỎA LẦN THỨ HAI - MỞ LUỒNG ĐÔNG BẮC

Từ ngày 6/4/1972, máy bay địch đánh phá Cảng Gianh, tiếp theo chúng thả thuỷ lôi ở ba cảng là sông Gianh, Nhật Lệ và Cửa Hội, cuối cùng 9/5/1972, chúng thả thuỷ lôi phong toả cảng Hải Phòng, về phía ta, một số lớn phương tiện mắc kẹt ở cảng Khu IV do vướng thuỷ lôi, 3 thuỷ thủ hy sinh và 9 thuỷ thủ tàu VS36 bị chìm. Tình hình diễn biến nhanh và ác liệt, ta chủ trương sơ tán nhưng tàu Tankit 153 và VS41 bị đánh chìm và các tàu khác GP22, GP24, VS47, VS32 tuy bị bắn thủng hòng cabin nhưng vẫn về Hải Phòng an toàn. Trước tình hình địch phong toả luồng Nam Triệu và cảng Hải Phòng, Cục Vận tải Đường biển mở luồng Đông Bắc sang Trung Quốc.


Muốn vậy phải khảo sát lại thực địa, rà phá thủy lôi, thông luồng, đặt các trạm bảo đảm hàng hải với mật danh là H như sau: H1, H2, H3, H4 do đồng chí Vũ Long Vân - Phó Tỵ Bảo đảm Hàng hải phụ trách cùng sự giúp đỡ của Trung Quốc. Ta có lực lượng vận tải gồm 27 tàu Giải Phóng, 54 tàu vỏ sắt, 8 sà lan, 4 tàu kéo, cảng Hải Phòng tổ chức bốc xếp ở bến, bãi lưu động Móng Cái, vùng Hạ Long do đồng chí Nguyễn Đức Hoè - Giám đốc Cảng Hải Phòng phụ trách. Chỉ huy chung toàn luồng là đồng chí Lê Văn Kỳ - Cục trưởng Cục Vận tải Đường biển.


Trải qua hơn bảy tháng hoạt động, ta phải vượt qua nhiều khó khăn trở ngại như: sự đánh phá ác liệt của địch, thời tiết không thuận lợi, đường đi hiểm trờ, lại phải hoạt động về đêm, nhưng cán bộ, thuyền viên không ngại hy sinh gian khổ, dũng cảm vượt qua bom đạn, thuỷ lôi, hoàn thành nhiệm vụ, góp phần đánh bại âm mưu phong toả của Mỹ. Tổng sản lượng đạt 148.701 tấn trong đó hàng khô: 128.929 tấn, hàng nước: 19.772 tấn.


Kết luận:

Mỹ hai lần phong toả vùng sông biển, miền Bắc Việt Nam gây cho ta không ít trở ngại, một số tàu thuyền bị đánh chìm, một số cán bộ và thuỷ thủ bị thương. Mỹ mong muốn bịt kín luồng lạch của ta nhưng chúng bị thất bại. Về phía ta, từ Trung ương đến Cục Vận tải Đường biển đã lường trước tình hình nên chuẩn bị nhiều phương án, chuẩn bị tổ chức về mọi mặt, chủ động triển khai nhanh phương án, tổ chức rà phá thuỷ lôi, tổ chức vận tải, bốc xếp, mọi người đều dũng cảm, không sợ hy sinh, tất cả yếu tố đỏ tạo nên thắng lợi.
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #36 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2023, 07:42:52 am »

LỰC LƯỢNG GIAO THÔNG VẬN TẢI ĐỊA PHƯƠNG GÓP PHẦN XỨNG ĐÁNG VÀO SỰ NGHIỆP ĐÁNH THẮNG CHIẾN TRANH PHONG TOẢ HUỶ DIỆT CỬA ĐẾ QUỐC MỸ


Nguyễn Tất Tạo
Nguyên Giám đốc Sờ Giao thông công chính Hải Phòng


Thành phố Hải Phòng vừa có hai cảng lớn nhất miền Bắc vừa là địa bàn tập trung đầu mối giao thông: đường biển, đường sông, đường bộ, đường sắt và đường hàng không.

Trong hoà bình cũng như trong chiến tranh, lực lượng Giao thông vận tải địa phương cùng với các ngành Giao thông vận tải Trung ương luôn luôn có quan hệ chặt chẽ và kết hợp tốt giữa kinh tế với quốc phòng. Những thời điểm chiến tranh quan trọng cũng như trong hoạt động thường xuyên, Đảng bộ luôn luôn xác định: Công tác giao thông vận tải là công tác trung tâm đột xuất của toàn Đảng, toàn dân. Nghị quyết 16 của Thành uỷ Hải Phòng xác định rõ: "Bất kể tình huống nào, chúng ta cũng phải phấn đấu thực hiện bằng được: đánh địch mà đi, mở đường mà tiến, từng ngày, từng giờ, chi viện tốt nhắt cho chiến trường...".


Khi gây ra chiến tranh phá hoại chủ yếu bằng Không quân, Hải quân, đã nhiều lần đế quốc Mỹ đề ra chủ trương, biện pháp quyết liệt để bao vây, phong toả Hải Phòng, hòng biến Hải Phòng thành "cô đảo", tách rời Hải Phòng với Hà Nội, Hà Nội - Hải Phòng với các địa phương khác trên miền Bắc. Chúng từng công khai tuyên bố: "Mục tiêu chiến lược của Mỹ là: cô lập Hải Phòng khỏi Hà Nội, cô lập Hà Nội - Hải Phòng ra khỏi mọi nơi trên miền Bắc". Hải Phòng ở vị trí cửa ngõ đường biển lớn nhất miền Bắc, cho nên đế quốc Mỹ luôn luôn tìm mọi cách phong toả cảng Hải Phòng và tuyến đường biển vận chuyển tới cảng Hải Phòng, cũng như các tuyến đường sông, đường bộ, đường sắt... từ thành phố Cảng đi các địa bàn khác. Trong các chiến dịch không kích lớn đánh vào Hải Phòng (từ tháng 4/1967 đến tháng 9/1967) cũng như chiến dịch phong toả đường biển - Cảng bằng Hải quân và Không quân (tháng 5/1972) đế quốc Mỹ đều thể hiện ý đồ thâm độc: phong toả toàn diện thành phố Cảng.


Trước tình hình khẩn cấp đó, Thành uỷ sớm có chủ trương và biện pháp tổ chức "lấy lực lượng giao thông vận tải làm nòng cốt, lực lượng vũ trang và thanh niên xung phong là xung kích, phát huy khả năng tiềm tàng của địa phương, để giải quyết nhanh chóng tại chỗ là chính". Lực lượng Bảo đảm giao thông thành phố nhanh chóng chuyển sang thời chiến, sớm thực hiện "quân sự hoá" toàn ngành. Các chiến sĩ bảo đảm giao thông luôn nêu cao ý chí chiến đấu: "mặt đường, sông nước là chiến trường, phương tiện là vũ khí, công nhân thuỷ thủ là chiến sĩ, quyết tâm bám sông, bám bến, bám phương tiện, bảo đảm vượt sông, thông đường, luồng lạch, để vận tải liên tục phục vụ kinh tế, đời sống, quốc phòng...".


Trong những năm chiến tranh, ngành Giao thông vận tải thành phố hăng năm phải bảo đảm các bến phà cho 66.000 đến 70.000 lượt qua phà, 144.000 lượt xe qua cầu, đưa 200 tấn hàng vào Khu IV. Vào cuối năm 1968, khi đang diễn ra các cuộc bắn phá, ngăn chặn rất ác liệt của đế quốc Mỹ, trước yêu cầu của chiến trường Khu IV, Sở Giao thông vận tải tiếp tục huy động hơn 200 cán bộ, xã viên hợp tác xã thuyền biển như Quyết Thắng, Duyên Hải, Đồ Sơn... kịp đưa trên 100 tan phương tiện, 600 tấn hàng hoá, phần lớn là lương thực cho chiến trường. Trong thời điểm địch dùng thuỷ lôi phong toả triệt để, toàn diện cảng và đường biển từ ngoài vào Hải Phòng cán bộ công nhân vẫn vượt qua thuỷ lôi chở than từ Quảng Ninh về Hải Phòng...


Thời điểm địch phong toả cảng, ngành Giao thông vận tải địa phương huy động hàng trăm loại phương tiện (ô tô, thuyền, ca nô...) giai toả được hàng chục ngàn tấn hàng rời khỏi cảng, phân tán và chuyển đi kịp thời, tránh được tỉnh trạng hàng hoá tồn đọng ở cảng và các vùng trọng điểm ở Hải Phòng.


Ngoài lực lượng Đảm bảo giao thông chuyên nghiệp thường xuyên trực chiến ở các địa bàn trọng điểm (cảng, cầu phà, bến, bãi...) dưới sự chỉ đạo của Thành phố, Ngành còn tổ chức lực lượng Bảo đảm giao thông vận tải nhân dân. Ở các xã ven đường 5, đường 10, đường 18... tổ chức được 250 đội chủ lực, với 2.788 người, 282 tổ gỡ bom, mìn với 800 dân quân tự vệ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh của Ngành còn thường xuyên duy trì đội ngũ thanh niên xung phong tập trung tới 300 người, chuyên làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông vận tải. Các đoàn thể như Liên hiệp Công đoàn, Hội Liên hiệp Phụ nữ vận động thường xuyên đoàn viên, hội viên đưa các địch vụ thương nghiệp, y tế, ngày đêm phục vụ trên các công ừình, đàu cầu, bén bãi... Ban Liên hiệp Hợp tác xã vận tải cũng huy động xã viên, bảo đảm vận chuyển từ 50% - 70% số hàng hóa của địa phương.


Vì sớm tổ chức được lực lượng rộng lớn và thường xuyên dược sự chỉ đạo của Ban Bảo đảm giao thông và Ban Điều hoà vận tải, kết hợp chặt chẽ với các lực lượng khác nên lực lượng Bảo đảm giao thông vận tải địa phương luôn luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.


Trong suốt hai cuộc chiến tranh phá hoại - phong toả thành phố cảng Hải Phòng, đế quốc Mỹ không thể nào thực hiện được ý đồ đen tối của chúng là cô lập - phong tỏa Cảng và thành phố Hải Phòng. Trái lại, lực lượng Bảo đảm giao thông vận tải thành phố đã thực hiện được phương châm chỉ đạo của Trung ương Đảng là càng đánh, càng mạnh, ngày càng có kinh nghiệm, bảo đảm được các đầu mối giao thông, vận chuyển hàng hoá, trên một địa bàn hẹp, địch thường xuyên đánh phá...


Chính vì vậy, lực lượng Bảo đảm giao thông vận tải thành phố được Thành uỷ đánh giá là: "Công tác bảo đảm giao thông vận tải thông suốt trong mọi tình huống. Trên mặt trận giao thông vận tải quân và dân ta đã mưu trí, dũng cảm, sáng tạo vượt qua hàng rào phong toả của địch, để tiếp nhận và vận chuyển đầy đủ hàng hoá, vật tư, thiết bị chiến lược từ các anh em, bằng đường biển tới Hải Phòng, đáp ứng yêu cầu chi viện của các chiến trường, yêu cầu chiến đấu, sản xuất và chiến đấu, làm thất bại về cơ bản âm mưu của địch hòng ngăn chặn trực tiếp sự chi viện vật chất của nước ngoài qua cảng Hải Phòng...


Năm tháng đã đi qua, nhưng các chiến sĩ Bảo đảm giao thông vận tải thành phố vẫn mãi tự hào, nguyện không ngừng phát huy truyền thống "Trung dũng, quyết thắng", "Mở đường mà tiến, đánh địch mà đi! Địch đánh lối này ta đi lối khác... vượt lên bom, mìn mà đi", "Nơi nào có dân, nơi đó có kho, có bến".
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #37 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2023, 07:44:41 am »

ĐÁNH PHÁ THỦY LÔI, TY BẢO ĐẢM HÀNG HẢI THAM GIA
CHỐNG MỸ PHONG TOẢ SÔNG, BIỂN


Nguyễn Thái Phong39
Nguyên Đội trường Đội Phá lôi Ty Bảo đảm Hàng hải


Khi cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc nước ta bước vào giai đoạn leo thang ác liệt, hệ thống cơ sở vật chất đường biển, bảo đảm hàng hải, bến cảng, tàu thuyền bị đánh phá hư hại nhiều, tàu thuyền bị chìm gây chướng ngại ở luồng vận tải, cản trở giao thông thì tháng 12/1966, Ty Bảo đảm Hàng hải thành lập Đội Trục vớt, gồm 50 người. Đội đã trục vớt hàng chục tàu thuyền đắm, chướng ngại vật, kịp thời thông luồng vận tải sông biển. Khi giặc Mỹ có dấu hiệu thực hiện phong toả thuỷ lôi trên các tuyến giao thông, Đội Trục vớt được giao nhiệm vụ mới: rà phá, tháo gỡ thuỷ lôi.


Cuộc chiến tranh phong toả do Mỹ tiến hành rất ác liệt, tàn bạo. Phá thuỷ lôi là công việc mới mẻ và nguy hiểm, nhưng nhiều người đã viết đơn tình nguyện gia nhập Đội Phá lôi, có người còn viết đơn bằng máu với nguyện vọng được dâng hiến sức lực và trí tuệ để chống Mỹ phong toả đường biển.


Ty Bảo đảm Hàng hải tổ chức các Trạm Bảo đảm giao thông đường biển từ trước; trong đó có chuẩn bị đài quan sát thuỷ lôi ở các trạm. Đến tháng 2/1967, khi Mỹ bắt đầu thà thuỷ lôi ở vùng biển Khu IV và Quảng Bình, đánh phá huỷ diệt các phương tiện và hệ thống hạ tầng cơ sở bảo đảm hàng hải, cảng biển... thì Cục Vận tải Đường biển cùng Hải quân và các ngành bàn bạc chủ trương kế hoạch hành động, phối hợp với tổ chức chống phong toả thuỷ lôi. Cụ thể Hải quân giúp đỡ huấn luyện kỹ thuật rà phá, tháo gỡ thuỷ lôi cho Đội Phá lôi Bảo đảm hàng hải. Sau đó Đội 8 Hải quân và Đội Phá lôi Ty Bảo đảm Hàng hải trực tiếp bàn bạc kế hoạch, tổ chức phối hợp, tạo điều kiện để hợp đồng cùng chiến đấu phá lôi địch nhằm bảo đảm thông luồng, phục vụ kịp thời vận tải chi viện đi các chiến trường Nam - Bắc.


Trên cơ sở đó, Ty Bảo đảm Hàng hải triển khai phương án tổ chức rà phá, tháo gỡ thuỷ lôi trên toàn miền duyên hải. Không khí chống phong toả thuỷ lôi Mỹ dấy lên trong toàn thể Ty Bảo đảm Hàng hải. Lúc đầu chúng tôi chưa biết thuỷ lôi địch thế nào, nhưng với ý chí quyết tâm phá, gỡ thuỷ lôi giặc Mỹ nung đúc trong lòng mỗi người, ai nấy đều nguyện góp sức mình để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược trên mặt trận chống phong toả thuỷ lôi.


Tháng 3/1967, Phân đội Trạm 4 Bảo đảm Hàng hải ờ Lạch Trào được Hải quân huấn luyện và cùng với Hải quân, dân quân địa phương tổ chức tìm, tháo gỡ quét phá thuỷ lôi địch. Sau khi tìm thấy 4 quả MK52 ở cồn Trường do Hải quân chỉ huy, chúng ta đã tổ chức tháo gỡ an toàn làm tài liệu cho việc tháo gỡ tiếp, tổ chức rà quét phá nổ tại mọi địa phương. Lực lượng Bảo đảm Hàng hải trực tiếp tham gia tháo gỡ, rà phá thuỷ lôi, nên thu nhận được một số kinh nghiệm thiết thực để tổ chức chống phong toả tiếp.


Thời gian này ở vùng Lạch Trào và Cửa Hội có tàu thuyền mang biển đăng ký Hải Phòng từ phía Bắc đi vào bị thuỷ lôị nổ, nhiều tàu bị chìm, người bị thương vong, tuyến vận tải bị ùn tắc, máy bay Mỹ săn tìm dữ dội.


Để tập trung cao độ việc chống địch phong toả thuỷ lôi vùng duyên hải Khu IV và chuẩn bị lực lượng chống địch phong toả vùng Hải Phòng, Cục Vận tải Đường biển quyết định thành lập Đội Phá thuỷ lôi cơ động do Ty Bảo đảm Hàng hải quản lý đồng thời thành lập Tổ Nghiên cứu khoa học kỹ thuật phá lôi của Cục. Ty Bảo đảm Hàng hải cũng có Tô Nghiên cứu khoa học kỹ thuật phá lôi.


Chống phong toả Hải Phòng có quan hệ hữu cơ với chống phong toả các vùng phụ cận và tuyến sông biển vào miền Nam, vì thực chất yêu cầu cuối cùng là phải thông đường, thông tuyến để vận chuyển hàng từ Hải Phòng đi các mặt trận; và cũng vì vậy mà địa bàn hoạt động của Đội Phá lôi Ty Bảo đảm Hàng hải rất rộng và cơ động, mới đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ nói trên.


Tổ Nghiên cứu khoa học kỹ thuật phá lôi lúc đầu gồm: Nguyễn Văn Nghĩa, Trần Công Chánh, Lê Nghinh, Nguyên Ngọc Linh, Phùng Ngọc Đậu, Võ Tân Khiêm, Hoàng Sơn (Hải quân biệt phái). Tháng 6/1967, Tổ Nghiên cứu khoa học kỹ thuật chế tạo xong thiết bị phá lôi đầu tiên mang mật danh PĐ67 - 1, do các đơn vị Đường biển tham gia thi công (PĐ: phao đèn, sau này đổi thành ĐB: đường biển). Sau khi thí nghiệm 1 tháng ờ Lạch Trào, tổng kết rút kinh nghiệm, ta đã thiết kế cải tiến sản xuất ra PĐ67 - 2 và PĐ67 - 3. Thiết bị PĐ67 - 3 rất hiệu quả, được Cục Vận tải Đường biển chế tạo hàng loạt trang bị cho các đội phá lôi và các đơn vị trong ngoài ngành.


Ty Bảo đảm Hàng hải thành lập Ban Chỉ đạo chống phong toả trong hệ thống tổ chức của Cục Vận tải Đường biển do đồng chí Trưởng Ty Dư Bá Thượng là Trưởng ban, các đồng chí Phạm Văn Hải, Vũ Long Vân là Phó ban, Trưởng phòng Bảo vệ quân sự là Thường trực. Ty đã phối hợp với Hải quân mở liên tiếp 8 lớp huấn luyện quan sát thuỷ lôi. Cuối năm 1967, triển khai được 72 đài quan sát thuỷ lôi cố định với 150 chiến sĩ chuyên nghiệp, trong đó 44 chiến sĩ nữ; ngoài ra Ty Bảo đảm Hàng hải còn phối hợp và hiệp đồng với đơn vị Pháo ven bờ, các Trạm Công an vũ trang, tàu thuyền vận tải thuyền chài, vó bè... tạo thành một mạng lưới rộng khắp, giám sát chặt chẽ mọi hành vi phong toả của Mỹ, kịp thời cung cấp thông tin cần thiết cho Ban Chỉ đạo và Đội Phá lôi chủ lực.


Sau khi Ty Bảo đảm Hàng hải chính thức thành lập Đội Phá lôi chủ lực, tháng 8/1967, sau này còn gọi là Đội Xung kích cơ động, ngày 20/9/1967, 30 cán bộ chiến sĩ Đội được tập huấn kỹ thuật phá gỡ thuỷ lôi tại thôn Bùi Xá - do Đội 8 Hải quân phụ trách. Đồng chí Trương Thế Hùng và các giáo viên phụ đạo trực tiếp hướng dẫn lý thuyết và thực hành. Chúng tôi chia làm ba phân đội gồm:

- Phân đội 1: Hoàng Hải, Nguyễn Duy Thanh, Lê Văn Bách, Vũ Văn Giang, Phạm Ngọc Sâm, Phạm Tư, Lê Diệm, Đặng Khắc Vỹ.

- Phân đội 2: Nguyễn Ích Luyến, Phạm Anh Hồng, Cao Văn Vĩnh, Nguyễn Xuân Lâm, Nguyễn Văn Tĩnh, Bùi Ngọc Khiêm, Dương Xuân Cường, Nguyễn Màu.

- Phân đội 3: Trần Văn Nhớn, Lê Sấm, Kim Hoàng, Văn Đức Thanh, Ngô Mộng, Nguyễn Đức Minh, Phùng Văn Cúc, Phan Đăng Dằng.

- Hậu cần: Nguyễn Múi, Phạm Văn Trạc, Đoàn Thị Hay.

- Ban Chỉ huy: Nguyễn Thái Phong - Đội trưởng, Nguyễn Đình Chi - Đội phó, Nguyễn Khắc Khải - Kỹ sư thi công.
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #38 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2023, 07:45:30 am »

Ngày 6/10/1967, một ca nô (của Ty Bảo đảm Hàng hải) triển khai các đài quan sát thuỷ lôi (từ Sở Dầu đến Bến Kiền) thì bị thuỷ lôi nổ, làm 5 chiến sĩ hy sinh (có 4 chiến sỹ nữ). Các luồng vận tải của Hải Phòng bị phong toả thuỷ lôi (từ 7/10/1967), nhiều tàu, thuyền, ca nô bị phá huỷ, nhiều người bị thương.


Ngày 8/10/1967, Ty Bảo đảm Hàng hải triệu tập cuộc họp khẩn cấp do Trưởng Ty Dư Bá Thượng chủ trì để truyền đạt chỉ thị của Ban Chỉ đạo chống phong toả về việc tổ chức rà phá thuỷ lôi giải toả Hải Phòng. Cùng dự họp có đồng chí Trương Thế Hùng - Đội 8 Hải quân, Vũ Long Vân - Phó Ty, Nguyễn Thái Phong - Đội trưởng, đại diện Công binh 350...


Trụ sở tiền phương của Đội Phá lôi Ty Bảo đảm Hàng hải đặt tại số nhà 13 Hồ Xuân Hương, Đội 8 Hải quân đặt tại số 7 Hồ Xuân Hương. Thành ủy, Ủy ban và Bộ Tư lệnh 350 Hải quân rất quan tâm và tin tưởng giao nhiệm vụ cho chúng tôi. Các đồng chí Lê Thanh Nghị, Trần Kiên, Lê Đức Thịnh, Đỗ Chính, Trần Đông, Lê Văn Kỳ, Phan Trọng Tuệ và các đồng chí lãnh đạo Bộ Tư lệnh Hải quân, Bộ Tư lệnh 350, Quân khu... thường xuyên theo dõi, giúp đỡ đơn vị.


Thành phố sơ tán triệt để, ban đêm không một ánh đèn Máy bay địch luôn rình rập, bất ngờ tấn công đánh phá các trọng điểm và thả xuống hàng loạt bom mìn phong toả bổ sung các luồng và đầu mối vận tải. Các chiến sỹ phá lôi Ty Bảo đảm Hàng hải và Hải quân mò mẫm trong đống đổ nát của đầu mối giao thông trên dòng sông bến bãi đau thương vắng lặng đến ghê người. Bom đạn và thuỷ lôi lúc nào cũng có thể nổ, cướp đi sinh mạng của họ trên trận địa bị phong toa tối đa. Biết vậy nhưng Tổ quốc cần, thành phố cần và chính khí phách của dân tộc ngàn năm anh hùng đã hun đúc trong người chiến sỹ lòng tự hào, lòng yêu nước nồng nàn và căm thù địch sâu sắc, một lòng tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ... Tất cả tạo nên sức mạnh, quyết tâm sáng tạo và dũng cảm phi thường để chiến thắng.


Từ ngày 11/10/1967, chúng tôi bắt đầu thực hiện các giải pháp công nghệ rà phá thuỷ lôi và bom từ trường trên các tuyến: sông Xi măng, luồng Sở Dầu, Cảng Mới, Nhà máy Đóng tàu Bạch Đằng, An Dương, cầu Xi măng, cầu Quay, Kiến An, Bến Kiền, Tiên Cựu, Quý Cao... Lực lượng phá lôi rà phá khu vực nội thành, nội thị và vùng phụ cận. Thời kỳ đầu, chúng tôi vừa rà phá vừa nghiên cứu thực nghiệm để xác định tính năng kỹ thuật các loại bom mìn của Mỹ phong toả Hải Phòng. Chúng tôi dùng vỏ thùng phi, các loại phao sắt... thả trôi theo dòng nước để gây nổ thuỷ lôi; dùng tấm tôn cán kéo rà; dùng ca nô tốc độ cao chạy lướt...


Nhưng chúng tôi cần biết chắc thông số kỹ thuật mới của bom chờ nổ thủy lôi để có giải pháp rà phá an toàn và hiệu quả hơn, do đó, phải tổ chức tháo gỡ thuỷ lôi tiếp để nghiên cứu.

Đêm 16/10/1967, nhóm trinh sát tháo gỡ thuỷ lôi gồm: Trương Thế Hùng - Chỉ huy, Nguyễn Thái Phong, đồng chí Hoài, Tấn được lệnh nghiên cứu tháo gỡ quả bom chờ nổ ở An Dương. Sáng sớm 17/10/1967, tổ tháo gỡ tiếp cận và tháo gỡ thành công quả bom từ trường đầu tiên ở Hải Phòng. Đội Phá lôi Ty Bảo đảm Hàng hải điều động lực lượng tăng cường và phương tiện để vận chuyển toàn bộ quả bom từ trường đã tháo gỡ về phố Hồ Xuân Hương nghiên cứu và thực nghiệm. Quả bom này có ký hiệu trên vỏ bom MK82, đầu nổ DTS, máy điều khiển gây nổ là MK42 - Mod 0, dài 1,54 m, Φ 0,25 m, P = 500 LBS 225 kg, riêng trọng lượng nổ 83 kg.


Từ đêm 17/10/1967 đến sáng 18/10/1967, nhóm tháo gỡ thứ hai phối hợp với Công binh Đông Bắc tháo gỡ thành công quả MK42 - Mod 0 thứ hai, ở gần tượng đài Xi măng.

Thế là chúng tôi có thêm máy thuỷ lôi MK42 - Mod 0 để phục vụ nghiên cứu và quả MK42 thứ hai được đưa về Viện Nghiên cứu kỹ thuật quân sự Hà Nội.

Ngày 19/10/1967, Thành uỷ Hải Phòng triệu tập cuộc họp chống phong toả, biểu dương các lực lượng phá lôi đã tháo gỡ, khám phá được bom từ trường MK42 và khẩn trương rà quét luồng sông bến bãi giải toả địa bàn thành phố.


Đến tháng 11/1967, Đội Phá lôi Ty Bảo đảm Hàng hải bổ sung thêm người và phương tiện, đồng chí Hoàng Phú Tròn, Hoàng Bá Tỳ, Nguyễn Văn Lý được bổ sung về đội. Ngày 13/11/1967, Đội Phá lôi Ty Bảo đảm Hàng hải gồm 10 người dùng 1 tấm tôn lợp nhà đã phá nổ 1 quả MK42 đầu tiên ở vùng phà Cựu, sau đó tiếp tục rà, phá nổ nhiều quả khác.


Kết quả một tháng chống phong toả ở Hải Phòng, khẳng định:

1. Giải pháp công nghệ tháo gỡ thuỷ lôi của chúng tôi là đúng

2. Phá thuỷ lôi và bom từ trường bằng phương pháp thủ công và giải pháp công nghệ rà quét là hiệu quả và an toàn.

3. Tiếp tục nghiên cứu và thực nghiệm để hoàn chỉnh và nâng cao hiệu quả thiết bị cơ giới phao đèn và các bè rà phá.

4. Thực hiện phá lôi theo "quy trình ngược" sẽ an toàn về người và phương tiện.

5. Phát huy sự hợp tác giữa lực lượng Phá lôi Ty Bảo đảm Hàng hải với Đội 8 Hải quân và các đơn vị bạn khác, nghiên cứu tổ chức các đơn vị phá lôi địa phương tại vùng trọng điểm để hỗ trợ đội chủ lực.


Nhằm tiếp tục công tác nghiên cứu tiếp cận phá lôi, Ủy ban nhân dân thành phố và Sở Thương nghiệp cấp duyệt cho Đội Phá lôi hai con bò phục vụ thí nghiệm di chuyển phao đèn vào vùng bom từ trường và tiếp cận bom từ trường...

Ngày 15/11/1967, Cục Vận tải Đường biển và Bộ Tư lệnh Hải quân nhận định:

- Địch chưa phát hiện kỹ thuật phá lôi của ta;

- Có thể địch ngừng bắn dịp Noel và tết, ta cần khẩn trương mở luồng vận tải vào Nam...

Bộ Giao thông vận tải, Uỷ ban nhân dân thành phố cũng nhận định phải giải toả Hải Phòng, đồng thời giải toả các tuyen phụ cận và phối hợp mở luồng hỗ trợ các tuyến chuyển tải... tạo điều kiện thông tuyến Hải Phòng đi các tỉnh Khu IV, phục vụ kịp thời cho mặt trận. Xuân Mậu Thân chưa đến nhưng phải chuẩn bị cho chiến dịch.


Đội Phá lôi Ty Bảo đảm Hàng hải được triệu tập đến họp tại Nhà khách Uỷ ban thành phố để nhận nhiệm vụ mới. Các đồng chí Phan Trọng Tuệ - Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, Lê Đức Thịnh - Chủ tịch Uỷ ban Hành chính thành phố, Lê Văn Kỳ - Cục trưởng Cục Vận tải Đường biển giao nhiệm vụ cho Đội Phá lôi Ty Bảo đảm Hàng hải: tổ chức phá lôi chống phong toả Hải Phòng đồng thời phát triển lực lượng phá thuỷ lôi các vùng phụ cận và xa hơn "đó cũng là nhiệm vụ các đồng chí chi viện tiên tuyến"... Hải Phòng cũng chi viện tiền tuyến. Luồng vận tải thông suốt thì hàng hoá, vật tư, vũ khí từ Hải Phòng mới vận chuyển đến chiến trường cả nước được, đó là nhiệm vụ chống phong toả của Hải Phòng và ngành Đường biển. Vì vậy, Đội Phá lôi Bảo đảm hàng hải phát triển đến 120 người chia làm 3 phân đội tăng cường, chúng tôi còn huấn luyện hàng trăm dân quân địa phương và các đơn vị vùng ven cùng tham gia rà phá thuỷ lôi.
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #39 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2023, 07:46:21 am »

Để giữ bí mật chúng tôi qui ước mật danh các vật tư khí tài phá lôi như sau:

- Nam châm vĩnh cửu : "Chì";

- Tôn sắt: "Bộc phá";

- Máy phóng từ phá lôi: PĐ67...

Thời kỳ 1967 - 1968, chúng tôi thực hiện các giải pháp công nghệ phá lôi và các đề tài kỹ thuật phá lôi như sau:

1. Đề tài phá lôi theo "quy trình ngược", phá được nhiều thuỷ lôi đảm bảo an toàn thiết bị và người điều khiển;

2. Qui trình công nghệ tháo gỡ bom từ trường, đã tháo ga an toàn;

3. Tham gia nghiên cứu thuỷ lôi và thực nghiệm để chế tạo thiết bị phá lôi có hiệu quả. Gắn máy phóng lên các loại phương tiện cơ giới và thô sơ;

4. Nghiên cứu và thực hiện quy trình phá lôi an toàn bằng khí tài thô sơ và chế tạo khí tài phá lôi đạt hiệu quả cao, phá nổ hàng loạt thuỷ lôi, nhanh chóng giải phóng luồng vận tải, bến phà, cứu phao...;

5. Nghiên cứu và thực hiện giải pháp thả các nhiễm từ trôi theo dòng chảy cửa sông, với kích thước và tốc độ thích hợp, có điều khiển từ xa phá được nhiều thuỷ lôi;

Đối với các bến phà trọng điểm địch đánh nhiều và phong toả dày đặc, chúng tôi căng đường dây từ trường ngang sông lợi dụng thuỷ triều lên xuống tự rà phá thuỷ lôi (phà Gianh, phà Bến Thuỷ...), phá rất nhiều thuỷ lôi, giải toả các bến phà.

6. Quy trình vận chuyển và hành quân qua trận địa thuỷ lôi an toàn, tránh được thương vong.

Tính từ tháng 10/1967 đến đầu năm 1969, Đội Phá lôi Ty Bảo đảm Hàng hải đã phá nổ 650 quả thuỷ lôi các loại, tháo gỡ 7 quả MK42 và 2 quả MK26, giải phóng an toàn các tuyến vận tải Hải Phòng, các luồng Lạch Giang, Cừa Đáy, Lạch Trào, Cửa Hội, phà Bến Thuỷ, phà Ròn, phà Gianh, Nhật Lệ, Quán Hàu, Lý Hoà..., hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chống phong toả thuỷ lôi đường biển và hỗ trợ phá lôi giải toả các tuyến chuyển tải sông, sắt, bộ khác.


Tất cả những kiến thức và kinh nghiệm chống phong toả trong chiến tranh Giôn-xơn được ứng dụng và nâng cao trong cuộc chống phong toả lần thứ hai năm 1972.

Ngày 9/5/1972, khi đế quốc Mỹ phong toả thuỷ lôi xuống luồng Nam Triệu và vùng phụ cận thì tàu biển trong nước và nước ngoài đang neo đậu đều bị thuỷ lôi Mỹ bao vây. Chúng phong toả ồ ạt và liên tục vùng ngã ba Quả Xoài - Lạch Huyện, cắt tuyến vận tải từ Quảng Ninh và quốc tế vào Hải Phòng; phong toả vùng vịnh cắt tuyến ra vào Hòn Gai, Cẩm Phả, tuyến Đông Bắc; cắt luồng vận tải than và ngư trường... Chúng mưu toan cắt đứt mọi hoạt động vận tải và quân sự đối với Hải Phòng. Mỹ tuyên bố sau thời hạn 3 ngày, thuỷ lôi trên luồng Nam Triệu sẽ hoạt động.


Qua tài liệu quan sát chúng ta nhận biết Mỹ dùng MK52 phong toả các luồng biển tàu lớn ra vào như Nam Triệu, Cửa Vạn, Long Châu, Lạch Miều... và một số cửa biển Khu IV. Nhưng địch dùng MK52 không nhiều, chúng phong toả dày đặc nhất là loại MK42 các Mod 0, 1,2, 3...


Trước tình hình khẩn cấp, Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Thủ tướng Chính phủ và Bộ Tổng Tư lệnh rất quan tâm. Thành uỷ, Ủy ban và Bộ Tư lệnh thành phố Hải Phòng, Bộ Tư lệnh Hải quân, Cục Vận tải Đường biển, Bộ Giao thông vận tải... khẩn cấp họp bàn chống phong toả lần thứ hai; Ban Chỉ huy liên ngành về chống phong tỏa được thành lập ở Hải Phòng.


Một lần nữa, lịch sử lại giao phó trách nhiệm cho Hải quân và ngành Đường biển gánh vác công việc rà phá, tháo gỡ thuỷ lôi của Mỹ thả mà trước hết ngành Đường biển phải coi đó là việc tự cứu mình. Nhờ sự nhạy bén và có chuẩn bị Ty Bảo đảm Hàng hải đã triển khai các Trạm Quan sát lôi (từ tháng 4/1972 theo chỉ thị của Cục trưởng), vì vậy, ngay từ đầu, ngày 9/5/1972 khi máy bay Mỹ thả thuỷ lôi xuống luồng Nam Triệu thì các đài quan sát xác định được tốc độ và tuyến phong toả, chụp ảnh toàn bộ quang cảnh và tiến trình thả thuỷ lôi của Mỹ, xác định chủng loại thuỷ lôi địch phong toả.


Đêm 9/5/1972, Cục trưởng Cục Vận tải Đường biển điều động tàu TK169 thực hiện chạy kiểm tra các khu vực có thuỷ lôi do Nguyễn Thái Phong và Thuyền trưởng tàu TK169 chỉ huy. Tàu TK169 xông pha dưới sự khống chế của máy bay Mỹ và thuỷ lôi Mỹ nằm chờ dưới đáy luồng. Tàu chạy đủ 30 lần, hết ngày 10/5/1972, thuỷ lôi không nổ. Ngày 11/5/1972 Cảng Hải Phòng khẩn cấp kéo các tàu biển ra khỏi khu vực thuỷ lôi.


Ngày 13/5/1972, Ban Chỉ huy liên ngành cử một nhóm trinh sát tháo gỡ thuỷ lôi gồm: Trương Thế Hùng - Đội trưởng Đội 8 Hải quân, Nguyễn Thái Phong - Đội trường Đội Phá lôi Ty Bảo đảm Hàng hải, Hoàng Anh Hiên - thiếu uý Công binh 350, đồng chí Tấn - Đội 8 Hải quân đi kiểm tra để tháo gỡ quả thuỷ lôi MK52 do Công an vũ trang và ngư dân phát hiện ở vị trí mép luồng Đình Vũ. Ngày 15/5/1972, tổ tháo gỡ dũng cảm tiếp cận thuỷ lôi và sáng tạo xác định giải pháp kỹ thuật, tháo gỡ thành công, an toàn quả thuỷ lôi MK52 đầu tiên ở Hải Phòng.


Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã gửi điện khen.

Ngày 28/6/1972, tổ tháo gỡ cùng phối hợp với Công an vũ trang tháo gỡ thành công quả thuỷ lôi thứ hai, cùng loại MK52. Thuỷ lôi tháo được đưa về nghiên cứu, kịp thời xác định các thông số kỹ thuật, nghiên cứu chế tạo thiết bị phá lôi.


Tổ Nghiên cứu khoa học kỹ thuật của Cục Vận tải Đường biển tiếp tục nghiên cứu và sớm cho ra đời thiết bị phá lôi thế hệ mới ĐB72 với công suất lớn, có bộ tự động đóng ngắt phóng xung từ rất chuẩn xác. Ty Bảo đảm Hàng hải nghiên cứu hoán cải và nâng cao thiết bị PĐ67 thành ĐB67/72 thế hệ mới, có bộ tự động đóng ngắt phóng xung từ.


Tất cả thiết bị ĐB72 và ĐB67/72 được lắp đặt trên tàu biển từ 15T đến 30T, 50T, có người điều khiển tự động phóng từ phá lôi theo "công nghệ qui trình ngược" gồm 14 tàu thuyền rất hùng mạnh, phá nổ nhiều thuỷ lôi và rất an toàn, chính xác, thuận tiện.


Đội Phá lôi Ty Đảm bảo hàng hải thời kỳ này gồm ba phân đội cơ giới, trong đó có phân đội Lê Mã Lương mới thành lập. Năm 1972, Đội Phá lôi Ty Đảm bảo hàng hải lấy tên là Đội Quyết Thắng, quân số lên đến 150 người, thời kỳ ít nhất là 120 người.


Đội tàu gồm những thuyền trưởng, máy trưởng và thuyền viên dũng cảm mưu trí và dạn dày kinh nghiệm. Vì điều kiện hạn hẹp của bài viết này nên tôi không kể hết tên người và những chiến tích tuyệt vời của họ.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM