Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:56:31 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chống phong tỏa sông, biển - Những năm tháng hào hùng  (Đọc 10731 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #40 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2023, 07:46:57 am »

Trong thời kỳ 1972 - 1973, Đội Phá lôi Ty Bảm đảo hàng hải đã phá nổ 470 thuỷ lôi các loại, tham gia tháo gỡ 2 quả MK52 và 2 quả MK42, tham gia giải toả 540 km luồng vận tải an toàn.

Những ngày cuối tháng 12/1972, đế quốc Mỹ leo hét thang trong cuộc chiến tranh phá hoại và phong toả thuỷ lôi, chúng ra sức thả thuỷ lôi bổ sung xuống các luồng vận tải. Đêm 17/12/1972, Mỹ tiếp tục thả thuỷ lôi vào Hải Phòng và vùng phụ cận; ngày 19/12/1972 thả thuỷ lôi bổ sung xuống vùng vịnh. Ngày 15/1/1973, Chính phủ Mỹ phải tuyên bố chấm dứt hoàn toàn không điều kiện mọi hoạt động ném bom bắn phá miền Bắc Việt Nam và ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết.


Những chiến sĩ phá thuỷ lôi chúng ta đều hiểu rằng, thành tựu của công cuộc chống phong toả đường biển cũng góp phần thắng lợi tại Hội nghị đàm phán hoà bình Paris. Tháng 12/1972, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhân danh Bộ Tổng Tư lệnh khen ngợi thành tích rà phá thuỷ lôi của Ty Bảo đảm Hàng hải.


Ngày 15/1/1973, ngành Đường biển tiếp nhận tin Hiệp định Paris bằng hành động khẩn trương, huy động toàn bộ lực lượng phá lôi Bảo đảm hàng hải, Cảng Hải Phòng, Cảng Bến Thuỷ cùng phối hợp với Hải quân, Công binh các địa phương các vùng ven tiến hành mũi tổng công kích rà phá thuỷ 101 và tháo gỡ bom mìn trên toàn bộ các tuyến vận tải bến cảng vùng vịnh từ Hải Phòng, Quảng Ninh, Khu III, Khu IV, Quảng Bình, Vĩnh Linh đến Cửa Việt, Đông Hà.


Ngày 16/1/1973, lực lượng Phá lôi Ty Bảo đảm Hàng hải hợp đồng với E171 Hải quân tiến hành rà phá thuỷ lôi dưới nước, Công binh Cảng Hải Phòng tháo gỡ bom mìn trên cảng. Các tàu cỡ nhỏ và vừa của Ty Bảo đảm Hàng hải, Công ty Vận tải biển và Hải quân hăng hái dũng cảm chạy kiểm tra luồng vào Cảng Hải Phòng. Sau cùng, chạy thí nghiệm là tàu Hải quân và tàu 207, vẫn an toàn. Cục Vận tải Đường biển ra thông báo mở luồng vào Cảng Hải Phòng. Tàu Việt Bảo, tàu , Cu Ba, Liên Xô và tiếp theo các tàu khác vào Hải Phòng tuyệt đối an toàn theo tuyến 303°N.


Ngày 16/1/1973, Đội Phá lôi Quyết Thắng điều động 8 tàu phá lôi gồm 3 phân đội do đồng chí Vũ Long Vân chỉ đạo tiến vào Nam. Ngày 18/1/1973, mở luồng Cửa Hội - Bến Thuỷ; ngày 19/1/1973, mở luồng Cửa Gianh, ngày 21/1/1973, mở luồng Nhật Lệ...


Các luồng lạch phụ cận vào Hải Phòng như Ngã ba Quả Xoài, Lạch Huyện, Đồ Son, Văn Úc... cũng được rà quét giải toả. Cục Vận tải Đường biển và Hải quân tổ chức hợp đồng chiến đấu rà phá thuỷ lôi trên vùng vịnh. Đến ngày 21/1/1973, tàu biển ra vào vịnh an toàn.


Tại cảng Hải Phòng, 10h15 ngày 5/2/1973, tàu Việt Bảo chở đầy hàng dẫn đầu các tàu Hồng Kỳ 88, Hồng Kỳ 89 và Hồng Kỳ 157 nối đuôi vào cảng Hải Phòng an toàn. Ngày 7/2/1973, tàu Guisa vào cảng an toàn qua luồng Nam Triệu.


Từ đó về sau, các tàu ra vào cảng Hải Phòng bình thường.

Sau Hiệp định Paris, ngày 28/2/1973, phía Mỹ thực hiện các điều khoản trong Hiệp định như: tháo gỡ, phá huỷ mìn ở vùng biển các cảng, sông ngòi của miền Bắc Việt Nam. Sau 6 tháng rà quét với lực lượng đồ sộ, 44 tàu chiến và tàu quét mìn hiện đại cùng hơn 5.000 sĩ quan binh lính được trang bị hiện đại cũng chỉ phá nổ được 3 quả thuỷ lôi với nhiều sự cố mất an toàn xảy ra. Về lý thuyết thiết bị phá lôi của Mỹ có tính năng kỹ thuật gần giống những điều ta nghiên cứu được.


Thế mới hiểu phá nổ được một quả thuỷ lôi vất vả và tốn kém như thế nào. Và thế mới hiểu hét ý nghĩa giá trị của các lực lượng phá lôi chúng ta khi tự nghiên cứu chế tạo thiết bị khí tài, phá nổ hàng nghìn quả thuỷ lôi các loại một cách an toàn.


Trên thực tế chúng ta đánh thắng Mỹ trong cuộc đọ sức quyết liệt chống phong toả đường biển trong tình thế hết sức gay go phức tạp. Xét về toàn cuộc, ưu thế quân sự - kinh tế - quốc phòng của Mỹ mạnh hơn ta gấp bội nhưng Mỹ cũng có chỗ yếu: tình hình chung bất lợi cho Mỹ, càng phát động chiến tranh leo thang Mỹ càng gặp nhiều bất lợi cả ba mặt quân sự - chính trị - ngoại giao.


Chúng ta đã phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, lợi dụng triệt để những điểm yếu về chiến lược và chiến thuật của Mỹ, ta chống phong toả đường biển theo chiến thuật và chiến lược trên chiến trường của đất nước mình, phát huy được thành tựu khoa học kỹ thuật,... vì vậy, ta giành lợi thế chủ động thắng Mỹ cả về chiến thuật, chiến lược. Đó là thắng lợi to lớn, là bài học kinh nghiệm trong lịch sừ chống chiến tranh phong toả đường biển.
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #41 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2023, 07:25:59 am »

CHÚNG TÔI ĐI PHÁ THUỶ LÔI MỸ

Nguyễn Ngọc Linh40
Nguyên Kỹ sư Phòng Khoa học Cục Vận tải Đường biển,
nguyên Tổng Giám đốc phụ trách Bảo đảm an toàn hàng hải Việt Nam


Ngay từ khi Mỹ thả những quả thuỷ lôi đầu tiên, Tổ Nghiên cứu của Cục Vận tải Đường biển được thành lập. Chúng tôi đã cho ra đời các thiết bị rà phá thuỷ lôi ĐB67 - 1, ĐB67 - 2 và ĐB67 - 3.

Mỗi thiết bị ra đời đều được thực nghiệm và sau đó cải tiến. Thiết bị sau mạnh hơn, hiệu lực hơn thiết bị trước. ĐB67 - 3 là ống từ có lõi bằng tôn silic gọn nhẹ, có hiệu lực gây nổ loại MK42 ở cự ly 30 m - 50 m. Trong đó, điều chúng tôi tâm đắc nhất là ĐB67 - 3 được tự động hoá. Sau khi dùng điện, thiết bị tự động phóng ra các xung từ theo chu kỳ thiết kế. Từ xa ta có thể kiểm tra hoạt động của thiết bị qua một đèn tín hiệu.


Khi có ĐB67 - 3, chúng tôi háo hức cùng tổ của đồng chí Thái Phong đi thử tại các nơi có thuỷ lôi ở khu vực quanh thành phố, nơi mà thuỷ lôi địch dù được tôn nam châm rà đi rà lại nhiều lần vẫn không nổ. Khi đưa ĐB67 - 3 đi rà cũng không có kết quả. Anh em lúng túng, nghi ngờ hiệu lực của thiết bị. Giữa lúc đó, đồng chí Vũ Long Vân, Phó Ty Bảo đảm Hàng hải mang đến cho chúng tôi một tin vui. Đồng chí và anh em để lại cho chúng tôi 2 quả thuỷ lôi chưa bị rà phá bằng các phương tiện thô sơ. Vị trí được đánh dấu cẩn thận. Theo sự phân công của tổ, tôi và đồng chí Trần Công Chánh háo hức chuẩn bị thiết bị và lên đường ngay. (Lúc đó, nhà tôi mới sinh cháu đầu được một tháng. Thời ấy chuyện gia đình là vô cùng nhỏ bé so với sự nghiệp chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc.)


Vào tới Trạm 3, anh em cũng đã biết tin là ĐB67 - 3 thử ở Hải Phòng nhưng không làm nổ được quả thuỷ lôi nào nên không tin tưởng lắm. Đồng chí Chánh và tôi làm phương án lắp đặt thiết bị trên thuyền và phương án kiểm tra thiết bị tại hiện trường.


Chúng tôi dự tính chờ lúc nước đứng mới triển khai. Đồng chí Chánh lắp đặt thiết bị sao cho chắc chắn và cân bằng để thuyền ổn định. Tôi đấu lắp phần điện sao cho bộ phận tự động làm việc tốt, ắc quy đủ điện để cường độ từ trường phóng ra bảo đảm như tính toán. Để chắc chắn, đồng chí Phương - Trạm 3 đưa anh Vân, anh Chánh và tôi ra hiện trường, kiểm tra nơi có thuỷ lôi và xác định phương án triển khai. Thiết bị bố trí trên một thuyền gỗ, dùng một thuyền chèo kéo một bên đi theo phía giữa luồng; cách mạn của thuyền thiết bị là 90 m, còn một bên dùng người kéo, đi trên bờ với đoạn dây dài 100 m.


Trở về, chúng tôi hỳ hục cùng anh em Trạm 3 lắp đặt thiết bị và triển khai ra hiện trường.

Cách khu vực thuỷ lôi 500 m, chúng tôi đóng điện cho thiết bị hoạt động và triển khai kéo đưa thiết bị vào khu vực có thuỷ lôi.

Anh Vân, anh Chánh và tôi hồi hộp theo dõi thiết bị và đi lần theo trên bờ.

Thuyền thiết bị đều đặn nhích về phía 2 quả thuỷ lôi. Cột nước đột ngột vút lên kèm theo một tiếng nổ inh tai. Theo bản năng, tôi rụt cổ và kéo chiếc áo mưa vải bạt trùm kín đầu. Đất bùn rơi ào ào quanh chúng tôi. Sau phút bàng hoàng, chúng tôi ôm lấy nhau reo hò và nước mắt lưng tròng, vì đây là quả thuỷ lôi đầu tiên mà chúng tôi kích nổ bằng phương tiện tự thiết kế và chế tạo. Tôi không quên nhìn đồng hồ: lúc đó là 15 giờ 50 phút ngày 17/2/1968.


Tôi phát hiện trên bờ cách không xa một mảnh thuỷ lôi lớn kích thước 100 mm x 600 mm. Tôi chạy tới định nhặt lên nhưng phải rút tay lại vì nó còn rất nóng. Sau đó, tôi nhặt về cơ quan để làm lưu niệm.


Thuỷ lôi nổ cách thuyền khoảng gần 30 m, thuyền chỉ bị chao đảo nhưng vẫn an toàn, thiết bị tiếp tục hoạt động.

Thuyền tiếp tục tiến vào khu vực có thuỷ lôi. Đến 16 giờ 15 phút, quả thứ hai nổ, cách thuyền hơn 40 m. Thuyền vẫn an toàn, thiết bị vẫn hoạt động tốt.

Do triển khai lần đầu còn lúng túng nên thuyền thiết bị táp vào khu vưc gần bãi thuỷ lôi, tôi phải ra ngắt điện khỏi thiết bị để đưa thiết bị vào khu vực an toàn. Đây là hành động rất nguy hiểm vì có thể có một số thuỷ lôi sau khi hết thời gian tạm ngưng sẽ trở lại trạng thái chiến đấu - gặp xung từ sẽ nổ có thể rất gần, gây thương vong.


Tôi không nghĩ đến nguy hiểm mà chỉ lo cho sự an toàn của thiết bị nên chạy ra để ngắt điện. Nhưng đúng lúc ấy, đồng chí Chánh ngăn tôi lại và nói: "Anh để tôi ra ngắt cho, nguy hiểm đấy - anh vừa mới có con đầu lòng".


Đến bây giờ, tôi vẫn không sao quên được hình ảnh và lời nói mộc mạc thân thương đó. Lúc ấy người ta sẵn sàng cho nhau cả mạng sống.

Đợt ra quân thí nghiệm này của chúng tôi, kết quả thật tốt đẹp. ĐB67 - 3 làm nổ được 7 quả thuỷ lôi. Sau đó, cho Tankit kiểm tra và thông luồng.

Sau đợt thí nghiệm thành công này, chúng tôi được phép sản xuất 40 bộ cung cấp cho các nơi, chủ yếu là các bến phà, đường sông.

Tiếp theo là những ngày nhận được tin vui từ khắp nơi có ĐB67 - 3 rà phá: số lượng thuỷ lôi được rà phá và số lượng tuyến luồng được thông ngày càng tăng, thời gian chờ luồng ngày càng giảm.

Những khích lệ này đã chắp cánh cho chúng tôi học hỏi, đúc rút kinh nghiệm, chế tạo được nhiều thiết bị rà phá thuỷ lôi mà đỉnh cao là ĐB67 - 3, được anh em trìu mến, tin tưởng tặng danh hiệu "Vua rà phá".
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #42 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2023, 07:28:03 am »

KHU TẢ NGẠN CHỐNG THUỶ LÔI MỸ
PHONG TOẢ VÙNG HẢI PHÒNG

Trung tướng Đặng Kinh41
Nguyên Tư lệnh Khu Tả Ngạn, Ủy viên Ban chống phong toả Đường biển (trực thuộc Chính phủ), Chủ tịch Hội Cựu chiến binh thành phố Hải Phòng


Trước đây (cuối năm 1971), chấp hành nghiêm chinh mệnh lệnh của Bộ Tổng Tư lệnh chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu trong toàn quân, Bộ Tư lệnh Quân khu đã tăng cường công tác sẵn sàng chiến đấu trong điều kiện hơn ba năm có hoà bình, quân số giảm, đơn vị rút gọn, toàn Quân khu chỉ có: một tiểu đoàn cao xạ 37 ly, một trung đoàn (E42) hoàn chỉnh, một trung đoàn (E50) thiếu, lực lượng công binh cũng rút gọn với một tiểu đoàn cầu thuyền (D27), một tiều đoàn công trình (D25) một tiểu đoàn chiến đấu phá mìn (D23). Quân khu quyết định rút 1.600 quân trong 2.000 quân của Trung đoàn 42 tổ chức nhanh thêm 10 tiểu đoàn cao xạ 37 ly (để lại Trung đoàn 42 với khung 400 quân) đầy đủ cán bộ từ tiểu đội trở lên rồi chuyển sang huấn luyện quân dự bị để sẵn sàng trong một tuần động viên có thể chiến đấu được ngay. Việc này Quân khu làm giấu Bộ.


Bước sang năm 1972, cuộc tấn công của quân và dân ta diễn ra trên toàn miền Nam, đập vỡ tuyến phòng thủ chiến lược của quân địch trên đường 9, giải phóng Đông Hà - Quảng Trị, đánh giãn địch ở phía Bắc Sài Gòn làm phá sản chiến lược "Phi Mỹ hoá" chiến tranh của Ních- xơn ờ miền Nam.


Quân khu rút cơ quan, tăng cường lực lượng phá mìn cho Tiểu đoàn 23, đưa toàn bộ lực lượng cao xạ 12 ly 7, 14 ly 5, 20 ly trang bị cho quân dân tự vệ với 200 đơn vị (trung đội và đại đội). Trọng điểm là trang bị cho Hải Phòng và Quảng Ninh. Bộ trang bị 60 khẩu cao xạ 100 ly trong đó cho Quảng Ninh 40 khẩu, chia 3 cụm: một cụm Hòn Gai - Hà Lâm; một cụm Cọc 6; một cụm Cửa Ông - Cẩm Phả.


Tăng cường củng cố mạng pháo binh bờ biển. Ngoài các pháo chuyên bắn biển của Đồ Sơn, Cát Bà, Ngọc Vừng, Cô Tô, Quân khu tập trung hết pháo 75 ly nòng dài trang bị cho quân dân tự vệ: xã Vĩnh Quang huyện Tiên Lãng (1 khẩu); 3 xã ven biển của Thái Bình thuộc các huyện Diêm Điền (1 khẩu), Thái Ninh (1 khẩu), Tiền Hải (1 khẩu). Trang bị thêm cao xạ 37 ly, 12 ly 7, 14 ly 5 cho Thái Bình để giữ 2 trọng điểm: Cống Lân và cống Trà Ninh.


Tăng thêm quân số và trang bị cho các tỉnh, mỗi tỉnh thành có một đại đội công binh, đồng thời củng cố huấn luyện cho các trung đội công binh xã dọc theo trục giao thông đường bộ đường sông và đặt 160 đài quan sát giao hội ven biển, ven sông. Tổng số đã huấn luyện cho 1,6 vạn dân quân tự vệ về công tác rà phá bom mìn - nhất là các trọng điểm đường bộ như: Đường 5, Đường 10, Đường 18; ven sông như các sông: Cầu, Lạch Tray, Bạch Đằng, Thái Bình, Lục Đầu Giang.


Có kế hoạch sơ tán nhân dân cho các thành phố, thị xã, thị trấn trọng tâm là Hải Phòng. Tổ chức mạng quan sát (160 trạm) dựa vào hệ thống từ núi Đồ Sơn dọc ra đến Cô Tô và ven biển, các đầu cửa sông và trang bị phương tiện đo toạ độ như trong chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, hồi đó trọng điểm của quân khu là Hàm Rồng. Dự đoán của Quân khu là sắp tới Hải Phòng sẽ là trọng điểm thứ nhất, từ đó cơ quan chỉ huy Bộ Tư lệnh Quân khu quyết định chuyển từ Chí Linh về Kiến An để trực tiếp lãnh đạo khu vực trọng điểm (bây giờ gọi là hướng chủ yếu).


Chấp hành chỉ thị của đồng chí Tổng Tham mưu trường Văn Tiến Dũng triển khai diễn tập tổng hợp, trong đó có cả đánh quân đổ bộ đường không mà đồng chí Dũng trực tiếp chỉ đạo. Đồng chí Phó Tổng Tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn là tổng đạo diễn. Ngoài các đồng chí Bộ Tư lệnh tham gia chỉ huy còn có đồng chí lãnh đạo Bí thư Thành uỷ Hải Phòng Trần Kiên, chủ tịch Uỷ ban hành chính Lê Đức Thịnh, các đồng chí Bí thư tỉnh Quảng Ninh, Hà Bắc, Hải Hưng, Thái Bình.


Cuộc diễn tập diễn ra đạt kết quả cao, động viên khí thế toàn Quân khu - nhất là Hải Phòng, các tỉnh khác cũng rút được kinh nghiệm.

Đến tháng 02/1972, toàn Quân khu ở tư thế sẵn sàng chiến đấu, nhưng cũng gặp khó khăn là thời gian địch tạm ngừng chiến tranh phá hoại kéo dài hơn 3 năm nên dân tập trung về thành phố khá đông mà động viên sơ tán thì khó.


Theo thông báo của Bộ ngày 4/4/1972, đế quốc Mỹ đã cho B52 đánh vào Nghệ An. Tình thế rất khẩn trương. Quân khu uỷ họp ra quyết định: đưa toàn Quân khu vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao. Chấp hành nghị quyết đó, Bộ Tư lệnh Quân khu ra lệnh toàn bộ lực lượng vũ trang vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu cấp 1. Huy động Bộ Tư lệnh Quân khu và cơ quan kiểm tra chặt chẽ, đặc biệt là trọng điểm và vấn đề sơ tán nhân dân trong đó tập trung vào Hải Phòng.


Ngày 13/4/1972, Bộ lại thông báo: B52 đánh cầu Nam Ngạn (Thanh Hoá). Thường vụ Quân khu uỷ họp dự đoán chỉ một hay hai ngày nữa địch sẽ đánh vào Quân khu, trọng điểm là Hải Phòng. Nghị quyết 13 đặt vấn đề phải lãnh đạo toàn quân và dân quân khu sẵn sàng chiến đấu cao nhất và quyết định đưa các lực lượng vũ trang ba thứ quân vào trận, kiểm tra chặt chẽ pháo, tên lửa, cơ quan chỉ huy thực hiện trực chiến 24/24.


Ngày 15/4/1972, việc sẵn sàng chiến đấu của Quân khu đã hoàn thành toàn diện. 18h30 cùng ngày, Quân khu nhận được điện của Bộ: "Đêm nay địch đánh lớn vào Hải Phòng". Tư lệnh Quân khu nhắc mệnh lệnh của Bộ đến các tỉnh, đơn vị và giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 350 báo cáo với Thường vụ Thành uỷ Hải Phòng cho sơ tán cấp tốc nhân dân ra khỏi thành phố; các thị xã, thị trấn cũng làm như vậy.


2h05 ngày 16/4/1972, máy bay Mỹ xuất phát từ tàu sân bay ngọài khơi ào ạt đánh bom vào nội thành. Đồng thời, tàu chiến của Mỹ áp sát bợ biển bắn pháo vào Đồ Sơn, Kiến Thuỵ, Tiên Lãng. Đây là lần đầu tiên Mỹ đưa tàu chiến bắn phá ven biển Hải Phòng.


Với 200 lần máy bay và 16 lần B52 rải thảm hai vệt Thượng Lý và cầu Tre là trận đánh quyết liệt nhất của địch, gây cho Hải Phòng những tổn thất nghiêm trọng. Nhưng quân và dân Hải Phòng đã giáng trả địch một đòn nặng nề nhất: đêm và ngày 16/4 ta bắn rơi tại chỗ 10 máy bay Mỹ (trong đó có 1 chiếc B52).


Pháo binh ven biển Đồ Sơn, Cát Bà, Vinh Quang và dọc bờ biển Thái Bình đã đánh trả tàu chiến địch. Riêng khu vực Đồ Sơn bắn cháy 1 chiếc và cả quá trình chiến đấu, ta bắn cháy 10 tàu chiến địch.

7h00 sáng ngày 16/4/1972, tôi và một số cán bộ tham mưu đi xe lội nước 8 bánh sang khu vực Thượng Lý, đến đầu cầu thì thấy từ chân cầu đến càng mới Vật Cách, đoạn đường 5 và đường sắt bị cày xới tan hoang, biến thành đồng lầy.


Sau ngày 16/4/1972, địch tiếp tục đánh Hải Phòng, Hải Hưng, Thái Bình, Hà Bắc và Quảng Ninh, đâu đâu chúng cũng bị quân ta đánh trả. Dân quân Hải Phòng bắn rơi tại chỗ 1 chiếc F111, Thái Bình bắn rơi 2 chiếc, Hải Hưng bắn rơi 4 chiếc, Hà Bắc bắn rơi 4 chiếc, Quảng Ninh bắn rơi 5 chiếc. Đó là số máy bay Mỹ bị dân quân tự vệ các tinh bắn rơi nhiều nhất trong một thời gian ngắn như thế!


Ngày 4/5/1972, Mỹ đơn phương tuyên bố hoãn không thời hạn Hội nghị đàm phán hai bên ở Paris, chuẩn bị cho bước leo thang mới.

7h00 ngày 8/5/1972, Ních-Xơn họp báo công bố phong tỏa Cảng Hải Phòng và ven biển phía Bắc.

7h00 ngày 9/5/1972, đế quốc Mỹ huy động máy bay đánh vào 2 tàu chở hàng của Liên Xô ở Cảng Hải Phòng và thả thủy lôi từ trường xuống các khu vực từ phao số 0 đến Hòn Dáu, Lạch Huyện, Cửa Nam Triệu (Hải Phòng), Cửa Vạn (Quảng Ninh). Phía sông Hồng chúng thả ở Ba Lạt, Trà Lý.


Riêng khu vực Hải Phòng từ phao số 0, chúng thả riêng 1.000 quả thuỷ lôi các loại trong đó có tới 300 quả MK52 (loại mới chúng đã cải tiến 3 lần) từ phao số 0 trở vào Cửa Nam Triệu. Các nơi khác chúng thả các loại MK36, MK48 MK50


Cũng sáng ngày 10/5/1972, chúng tiếp tục thả bổ sung xuống sông cấm, sông Tam Bạc và thả hàng trăm quả xuống khu vực từ trên Bến Bình đến Phả Lại (các loại bom MK36 MK38, MK50) nhằm khoá chặt Cửa Lục Đầu Giang, biến Hải Phòng thành một hòn đảo cô lập, hàng hoá đều không đi được từ cảng lên các tỉnh phía Bắc, phía Nam và ngược lại. Trong khi đó, hệ thống cầu đường bộ cũng bị đánh sập.
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #43 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2023, 07:29:19 am »

Một thử thách mới đối với cuộc chống phong toả cảng Hải Phòng là địch dùng loại thuỷ lôi mới ta chưa biết cách phá, đồng thời với việc phong toả đường sông làm tắc hoàn toàn đường bộ, đường sông, đường biển gây khó khăn rất lớn cho Hải Phòng, Quảng Ninh và cả nước.


Trước tình hình đó, Bộ Tổng Tham mưu ra lệnh phản công. Vùng biển: Hải quân phụ trách có phối hợp của Quân khu Tả Ngạn. Vùng sông: Quân khu phụ trách có sự phối hợp của Hải quân và Bộ Tổng Tư lệnh Công binh. Riêng từ Cửa Ba Lạt thuộc sông Hồng trở vào thuộc Quân khu Hữu Ngạn phụ trách. Muốn đánh địch phải nắm được địch. Ngày 15/5/1972, một thuyền ngư dân xã Tràng Cát (An Hải) là cụ Thường và con trai đi thuyền phát hiện 1 chiéc dù, rồi dùng thuyền đó đưa bộ đội Hải quân, chiến sỹ Công binh 350, tự vệ Ty Bảo đảm Hàng hải đến điểm rơi và vớt 1 quả thuỷ lôi MK50 (Hải quân tháo đầu nổ) mang về. Bộ Quốc phòng và Nhà nước huy động các cán bộ khoa học kỹ thuật gồm: Cục Kỹ thuật quân đội, Phòng Kỹ thuật Hải quân, Cục Kỹ thuật Bộ Giao thông, các chuyên gia đầu ngành của Trường Đại học Bách khoa, Trường Đại học Tổng hợp xuống nghiên cứu để tìm ra biện pháp phá. Mặt khác, việc cấp bách là phải giải toả được Lục Đầu Giang để các phương tiện thuỷ giao lưu từ Hải Phòng - Quảng Ninh đưa vật tư, thiết bị đi các tỉnh phía Bắc - bao gồm cả trang bị cho miền Nam và đưa gạo về Hải Phòng, Quảng Ninh.


Trong khi đó, Bộ Tổng Tham mưu giao nhiệm vụ cho Bộ Tư lệnh Công binh đảm nhiệm việc giải toả Lục Đầu Giang. Nhưng qua mấy ngày thì Bộ Tư lệnh Công binh (Tư lệnh là đồng chí Đặng) thấy khó quá chưa giải quyết được.


Tư lệnh Quân khu quyết tâm tận dụng lực lượng của bản thân Quân khu và huy động lực lượng tổng hợp: lực lượng công binh nhân dân, lực lượng tàu thuyền... Thực hiện nhiệm vụ này gồm: 2 đại đội công binh của D23 và 1 đại đội công binh của tỉnh Hải Hưng, các trung đội công binh thuộc ven sông Thái Bình, Nam Sách, Chí Linh và Quế Võ (Hà Bắc).


Nhiệm vụ của hai đại đội công binh là làm nòng cốt cho dân quân tự vệ rà phá toàn bộ bom mìn thuỷ lôi trên cánh đồng ven sông, ven bờ, phá cho hết MK42, MK36, MK48.

Quân khu cũng điều 2 tàu Tankit với tốc độ 12 hải lý/giờ vượt sông Luộc qua Hà Nội vào sông Đuống tập kết ở công Nhất Trai (Quế Võ) chờ lệnh.

Tư lệnh và tham mưu Quân khu thấy rằng: MK50 thả dọc sông có tác dụng đánh tàu với tốc độ chạy 8 hải lý/giờ mà tốc độ của Tankit là 12 hải lý/giờ, nếu đưa lên sông Đuông thì nước chảy xuôi về bến Bình sẽ tạo thêm tốc độ cho Tankit đạt tới 13 - 14 hải lý/giờ. Vì vậy, chỉ cần dùng 2 chiếc Tạnkit đi song song giữa sông cách nhau 15 mét phát huy hết tốc độ đi một lượt thì bom nổ hết. Chiến dịch phá thuỷ lôi này, Bộ Tư lệnh Quân khu tổ chức chỉ huy sở tiền phương ở Chí Linh (Cơ quan Huyện đội Hải Dương) để chỉ huy.


Kế hoạch chuẩn bị xong thì ngày 17/5/1972, Bộ Tổng Tham mưu thông báo: ngày 18/5/1972, mời Tư lệnh Quân khu lên họp với Hội đồng Chính phủ để giải quyết vấn đề giải toả Lục Đầu Giang.

Tôi giao lại nhiệm vụ tiếp tục chuẩn bị thêm và rà phá trên bờ cho đồng chí Sáng - Phó Tổng Tham mưu và đồng chí Ngô Minh - Trường phòng Tác chiến, đồng chí Lê Thừa Giao - Chỉ huy trưởng tỉnh Hải Hưng tiếp tục điều hành công binh và dân quân phá bên bờ.


7h00 ngày 17/5/1972, tôi được Chính phủ mời họp, thấy các Bộ trưởng đều đến đủ. Cơ quan Bộ Tổng Tham mưu có đồng chí Phùng Thế Tài; Quân khu Tả Ngạn có tôi42 (Trong cơ quan chỉ huy còn có đồng chí Thập thiếu tá, là Phó Chủ nhiệm Công binh trực tiếp chỉ huy về kỹ thuật phá mìn ở trận đánh này). Cuộc họp do đồng chí Đỗ Mười, Phó Thủ tướng chủ trì. Đồng chí Đỗ Mười phát biểu: Hiện nay địch phong toả Lục Đầu Giang, Hải Phòng, Quảng Ninh chỉ còn một ngày gạo. Toàn bộ vật tư thiết bị để đảm bảo cho sản xuất từ Hà Nội đến các tỉnh phía Bắc không có. Nếu kéo dài hai ngày nữa thì cả Hải Phòng và Quảng Ninh đói. Các Bộ trưởng làm thế nào đây? Bộ Tổng Tham mưu làm thế nào để giải quyết vấn đề này?


Tôi đứng dậy phát biểu: Nếu Chính phủ giao nhiệm vụ cho Quân khu, chúng tôi xin đảm bảo sau 24 tiếng chủng tôi sẽ giải toả xong Lục Đầu Giang để toàn bộ phương tiện đường sông lưu thông được. Nếu không làm nổi, chúng tôi xin chịu tội với Chính phủ. Tôi còn nói thêm một câu: trong khi thực hiện nhiệm vụ, xin Chỉnh phủ cho ít vật tư và số tiền cần thiết để chi tiêu.


Đồng chí Đỗ Mười vui mừng và nói: Đây là một trong các việc chiến lược. Tôi thay mặt Chính phủ giao nhiệm vụ cho Tư lệnh về làm. Cần bất cứ thứ gì, Chính phủ sẽ điều động ngay.

Đồng chí biết tôi nên có nhắc thêm: Làm cho chắc, tránh chủ quan.

Tôi đề nghị thêm với anh Mười: Chính phủ ra lệnh cho tất cả các Giám đốc Công ty Vận tải đường sông đang bị tắc ở thượng và hạ nguồn Lục Đầu Giang có mặt ở huyện đội Chí Linh lúc 16h00. Yêu cầu khi Tư lệnh ra lệnh tàu thuyền vượt qua thì cứ yên tâm mà đi. Nếu xảy ra nổ hỏng chiếc nào tôi chịu trách nhiệm đền.


Họp xong, tôi về cơ quan Bộ Tổng Tham mưu báo cáo gấp những điểm chính kế hoạch của Quân khu, thống nhất kế hoạch rồi tôi gọi ngay về Quân khu, báo đồng chí Sáng - Phó tổng Tham mưu trưởng, đồng chí Ngô Minh và đồng chí Lê Thừa Giao với hai trợ lý chuyên giúp tôi việc này: 12h00 có mặt ở huyện đội Chí Linh để gặp tôi. 12h00 về đến huyện đội Chí Linh, tôi nghe ba đồng chí báo cáo cơ bản hệ thống bom MK36, MK42, MK48 ở trên bờ từ mép sông trở lên bờ đã được phá hết. Chúng tôi bàn nhau xác định giờ G để phá MK50 là 16h00 và giao nhiệm vụ cho đồng chí Ngô Minh điều 2 Tankit đến cách bến phà Phả Lại 1 km và tổ chức mạng thông tin 2W có cả máy dự bị kèm theo liên lạc trực tiếp với tôi.


Đúng 16h00, theo kế hoạch chúng tôi chuẩn bị hầm. Đồng chí Tôn Thất Đính - Cục phó Cục Giao thông đường sông nhận xong lệnh của tôi ra mép đê Kinh Môn để trực tiếp quan sát việc phá mìn.

Đúng giờ tôi ra lệnh cho tàu Tankit mở hết tốc lực theo kế hoạch dàn hàng ngang vượt giữa sông, 2 tàu Tankit chạy đến đâu thì bom liên tiếp nổ như pháo cách đuôi tàu 100 m, 120 m 150 m. Sau khi tàu Tankit đi một lượt tôi lại lệnh cho tàu Tankit đi ngược lại với tốc độ 11 hải lý/giờ và dừng lại ờ bến Phả Lại. Toàn bộ cuộc phá mìn diễn ra trong 1 giờ 30 phút. 17h30, tôi bàn với đồng chí Đính cho một sà lan tự hành không tải đi thử xuôi dòng xuống giữa đoạn sông Kinh Thầy thì nổ thêm 1 quả ở mép sông cách đuôi sà lan 50 mét, sà lan an toàn. Sau khi mở xong Cửa Lục Đầu Giang, Quân khu giao nhiệm vụ cho Hải Phòng và các tỉnh trong Quân khu dùng lực lượng tại chỗ phá hết bom trên các sông thuộc tỉnh, địch thả bổ sung ta lại phá tiếp. Đúng 18h00, tôi yêu cầu các chủ phương tiện cho đi thông suốt và báo cáo về Bộ Tông Tham mưu, qua Bộ Tổng Tham mưu báo cáo về Chính phủ: chúng tôi hoàn thành kế hoạch vượt mức 11 giờ43 (Ngay hôm sau trận đánh, đồng chí Đỗ Mười hồi đó là Phó Thủ tướng gửi điện biểu dương Quân khu Tả Ngạn đã làm được việc khó khăn và rất lớn. Sau giải toả Lục Đầu Giang, trong 1 ngày đã chuyển 1 vạn tấn gạo cho Mỏ Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng đang hết sức khó khăn về lương thực). Cũng trong thời gian Quân khu nghiên cứu giải toả Lục Đầu Giang và phá mìn ở các tỉnh thì các nhà khoa học mổ xẻ ngòi của MK52 tìm được cách phá nhưng phải có thời gian giải mã các mạng từ trường trong ngòi bom và chế tạo loại tàu phóng từ mạnh (loại tàu có luồng điện 1 chiều mạnh ít nhất 500 KV - cả miền Bắc lúc đó chỉ có 2 chiếc máy này ở Hải Phòng) và đã thành công, giải quyết được việc tiếp tục phá MK52. Ngày 20/5/1972, Chính phủ quyết định thành lập Ban Chống phong toả trực thuộc Chính phủ, thực hiện nhiệm vụ vừa chống phong toả, vừa tiếp hàng cho cả miền Bắc và miền Nam, do đồng chí Lê Thanh Nghị - Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng thường trực làm Trưởng ban. Ủy viên gồm:

- Đồng chí Nguyễn Bá Phát, Tư lệnh Hải quân;

- Đồng chí Đặng Kinh, Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn;

- Đồng chí Lê Văn Kỳ, Cục trưởng Cục Vận tải Đường biển;

- Đồng chí Lê Đức Thịnh, Chủ tịch Uỷ ban hành chính Hải Phòng.

Cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại cứ như thế tiếp tục: máy bay địch vào, ta bắn; địch thả bom từ trường, ta phá và giao thông vẫn thông suốt. Đến 18/12/1972, Ních-Xơn ra lệnh tiếp tục đánh Hà Nội - Hải Phòng. Hải Phòng đã cùng Hà Nội lập nên kỳ tích trong Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không.


Qua cuộc chiến đấu vô cùng anh dũng này, thấy rằng: nếu như trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất từ 26/2/1967 đến 3/1968 trên một năm, Mỹ thả xuống địa bàn Quân khu: 2.727 quả bom từ trường; thì từ 9/5/1972 đến 22/10/1972, Mỹ đã xuống địa bàn Quân khu trên 5.000 quả (gần gấp đôi so với lần thứ nhất).


Thắng lợi của các trận đánh địch ở Hải Phòng và đánh bại chiến dịch phong toả cảng và ven biển của Ních-Xơn góp phần cùng với thắng lợi của cả nước buộc Tổng thống Mỹ Ních-xơn ngày 22/10/1972 phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trờ ra. Cuộc chiến tranh phá hoại và phong toả cảng Hải Phong lần thứ hai của Mỹ đối với miền Bắc bị thất bại nghiêm trọng.
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #44 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2023, 07:31:03 am »

HẢI QUÂN THAM GIA CHỐNG ĐỊCH DÙNG THUỶ LÔI
PHONG TỎA VÙNG HẢI PHÒNG

Thiếu tướng Đoàn Bá Khánh44
Nguyên Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Hải quân


Cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Việt Nam cũng là quá trình Mỹ sa vào thế bị động chiến lược sâu sắc, do ngày càng mắc thêm những sai làm chiến lược mới, nặng nề hơn.

Phát động cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam qua nhiều nấc thang (leo thang, lại xuống thang, lại leo thang...) mà mục tiêu chiến lược vẫn không thực hiện được, Mỹ bèn quyết định "mở rộng" bằng dùng bom từ trường thuỷ lôi... phong toả sông biển miền Bắc kể cả cảng Hải Phòng. Lại thất bại nữa! Sau khi dùng máy bay B52 thả bom huỷ diệt thủ đô Hà Nội và cảng Hải Phòng không đạt mục đích, Mỹ buộc phải đơn phương ngừng đánh phá miền Bắc, quay trở lại để ký Hiệp định Paris về Việt Nam. Chuỗi sự kiện ấy minh chứng cho những điều nói trên.


Tất cả các quyết sách chiến lược chiến tranh nói trên của Mỹ, không phải từ ý nghĩ nảy sinh bột phát... mà nằm trong một kế hoạch chiến lược, với sự chuẩn bị kỹ càng, công phu từ trước, tác giả là các chuyên gia cao cấp hàng đầu của Tổng thống Mỹ. Ví dụ: kế hoạch phong toả triệt để sông biển miền Bắc - kể cả Cảng Hải Phòng, được soạn thảo bởi chỉ thị của Tổng thống Giôn-xơn từ thập kỷ 60 cho các cố vấn cao cấp Nhà trắng U-ôn Rô-stâu và Bộ trưởng Quốc phòng Mắc Na-ma-ra. Chính vì thế, một số mục tiêu của "cuộc chiến tranh phá hoại" đã được chọn bổ sung, làm rõ thêm những mục tiêu trọng yếu để triệt phá, đó là: các kho tàng, bến cảng, mục tiêu giao thông sông biển phục vụ trực tiếp cho nền kinh tệ quốc phòng của miền Bắc, được khái quát thành 4 mục tiêu - 4P (Cảng: Port; cầu: Pontoon; Dầu: Petrol; Dân: People). Có thể coi đây là giai đoạn đầu của kế hoạch: "Triệt phá giao thông sông biển miền Bắc". Vũ khí địch dùng bao gồm bom từ trường (thả cả trên bờ và dưới nước) và thuỷ lôi hiện đại (MK42 gắn đầu nổ DST36; MK5 và MK50), khu vực thả từ các cửa sông và biển quanh vùng sông Gianh đến sông Mã, ra tới cả Hải Phòng (trừ Cửa Nam Triệu và trong cảng Hải Phòng). Số lượng bom thuỷ lôi địch dùng tới 7 vạn quả. Hành động này của Mỹ gây cho ta những khó khăn phải giải quyết.


Nhưng sang giai đoạn hai, bắt đầu từ 9/5/1972, Ních-xơn hành động kiên quyết, triệt để và khẩn trương ngay từ đầu, đúng với nghĩa "phong tỏa triệt để" sông biển miền Bắc Việt Nam, không hạn chế khu vực mục tiêu và loại thuỷ lôi (MK50, MK52), cải tiến về kỹ thuật và chiến thuật... Luồng chính (Cửa Nam Triệu) vào cảng Hải Phòng và ngay trong khu đậu tàu của càng Hải Phòng, các ngách, luồng đi tới... đều bị hàng nghìn thuỷ lôi địch phong toả. Mỹ coi đây là đỉnh cao của các biện pháp để "... Phong toả Hải Phòng là bộ phận chính và cơ bản của chiến dịch...".


Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo và chỉ huy của Đảng, Chính phủ, Bộ Tổng Tư lệnh, các cấp; bằng đường lối chiến tranh nhân dân trên chiến trường sông biển, quân dân ta có sự chuẩn bị, kiên quyết chống lại sự phong toả của Mỹ và giành thắng lợi. Ngay từ thập kỳ 60, Đảng và các cấp lãnh đạo nhận định và chỉ thị cho các cấp chuẩn bị, nên có các dự kiến kế hoạch, phòng bị tốt, hạn chế được những khó khăn về điều kiện tiềm lực mọi mặt; có biện pháp đối phó, hạn chế tổn thất và ách tắc... đảm bảo việc vận chuyển hàng hoá giao thông nội địa và chi viện tới chiến trường miền Nam chiến đấu và chiến thắng.


Trên cơ sở sự chỉ đạo chuẩn bị từ trước, ngày 3/5/1972, Quân ủy Trung ương có chỉ thị (số 81) giao cho Hải quân chủ ừì họp đồng cùng các lực lượng lập kế hoạch và tổ chức triển khai thực hiện cụ thể để chống âm mưu và hành động phong toả sông biển mới của địch.


Hội nghị quán triệt đường lối chiến tranh nhân dân trên chiến trường sông, biển; phương châm lấy lực lượng Hải quân nhân dân Việt Nam làm nòng cốt trong chiến đấu trên biển; thống nhất chỉ huy, chỉ đạo chung trên tất cả các mặt hoạt động, cụ thể như: tổ chức hệ thống trạm quan sát đánh dấu thuỷ lôi do máy bay địch thả trên các luồng vận tải sông biển miền Bắc; tổ chức việc mò tìm, vớt, tháo gỡ phục vụ cho nghiên cứu bí mật vũ khí địch; thành lập cơ quan nghiên cứu bí mật vũ khí địch; tìm ra phương hướng và thiết kế chế tạo phương tiện rà phá thuỷ lôi địch từ thô sơ đến hiện đại, phục vụ cho lực lượng rà phá khai thông luồng lạch; thành lập cơ quan quản lý, điều phối, xử lý... bảo đảm giao thông - nhất là các luồng chính, nút giao thông trọng yếu... hạn chế tối đa khả năng ách tắc giao thông, hạn chế tổn thất, thương vong do thuỷ lôi địch gây nên; tổ chức việc sản xuất dụng cụ, phương tiện rà phá thuỷ lôi theo kịp những cải tiến, thay đổi cấu tạo... của vũ khí địch.


Nhờ có họp bàn thống nhất sớm, có phân công trách nhiệm rõ - nhất là vai trò nòng cốt của Hải quân nên việc triển khai của các lực lượng được sớm, kịp thời và chủ động, khi địch tiến hành phong toả thuỷ lôi ồ ạt trên hầu khắp các luồng vận tải sông biển miền Bắc. Cụ thể là:

1. Căn cứ đặc điểm sông, cửa sông và vùng biển miền Bắc, chúng ta tổ chức thành công một mạng lưới dày đặc các trạm quan sát thuỷ lôi địch một cách hợp lý, hữu hiệu. Dù trên cùng một vùng có nhiều trạm quan sát của các đơn vị khác nhau, nhưng các trạm đều có tổ chức liên kết, thông báo tin tức cho nhau (số liệu ghi chép đánh dấu thuỷ lôi địch) tạo nên thông tin chung có mức chuẩn xác cao hơn, phục vụ cho việc dò tìm rà phá thuỷ lôi địch hiệu quả hơn.

2. Đặc điểm địa hình sông, cửa sông, bãi biển, luồng biển vận tải của ta - nổi bật nhất là luồng sông uốn lượn nhiều và hẹp, biên độ thuỷ triều khá cao, gió tương đối to... gây trở ngại lớn tới hiệu quả của máy bay địch thả thuỷ lôi. Để làm tăng hiệu quả đặc điểm địa hình, tăng khó khăn cho địch, ta tích cực tổ chức các trận địa phòng không bắn máy bay địch bay thấp - đặc biệt là khuyến khích dùng súng bộ binh, súng trường thậm chí cả tiểu liên, rà soát luồng để đón lõng bắn máy bay địch. Lực lượng chủ yếu là dân quân du kích, tự vệ và bộ đội địa phương...

Do thuỷ lôi khi thả phải có dù đỡ cho tới lúc tiếp nước, máy bay bay tốc độ cao không thể uốn lượn gấp khúc theo chiều luồng sông, tốc độ gió tương đối lớn nên địch càng phải bay thấp, hạn chế tốc độ bay để thuỷ lôi ít bị gió làm lệch hướng. Vì thế, máy bay Mỹ bị vũ khí bộ binh phòng không tầm thấp dày đặc của quân dân tự vệ uy hiếp, gây nên bất lợi lớn về hiệu suất trúng đích thả thuỷ lôi. Đây là lý do giải thích vì sao thuỷ lôi địch bị ta phát hiện, tháo gỡ rà phá với hiệu suất cao như vậy.

3. Cũng như cuộc chiến đấu với máy bay B52 địch, trong cuộc chiến đấu chống thuỷ lôi Mỹ phong toả sông biển, chúng ta huy động được sức mạnh của tất cả cán bộ kỹ thuật, các nhà tri thức khoa học, ở trong quân đội, ngoài quân đội - nhất là các đơn vị khoa học cấp quốc gia, kết hợp tận dụng kinh nghiệm nhân dân đã tạo thành sức mạnh tổng hợp tìm tòi, nghiên cứu, nắm bí mật vũ khí địch, sản xuất trang thiết bị rà phá thuỷ lôi hiệu quả. Trong khâu này phải thấy ý chí và sức mạnh của dân ta. Chính bà con làm ăn sinh sổng ven sông, biển... là người phát hiện những quả thuỷ lôi đầu tiên để các chiến sĩ tháo gỡ (Công binh, Hải quân, Quân khu, Tự vệ...). Và chính nhân dân động viên tinh thần quyết tâm và lòng dũng cảm để các chiến sĩ công binh tháo gỡ thành công.

4. Trong quá trình chống phong toả, băng trí thông minh và sáng tạo, chúng ta thực hành rà phá thuỷ lôi địch từ thiết bị thô sơ đến hiện đại. Nhờ đó, vừa sớm thông luồng giao thông vận tải vừa hạn chế tổn thất sinh mạng và tài sản của Nhà nước cũng như nhân dân.

5. Thực hiện chức năng vai trò nòng cốt, Hải quân là cơ quan thường trực phục vụ cho việc chỉ đạo, chỉ huy và điêu hành thống nhất, phối hợp giữa các lực lượng trong quá trình chiến đấu với việc địch dùng thuỷ lôi phong toả sông, biển miền Bắc. Vì thế, hoạt động của các lực lượng ba thứ quân phối hợp kỹ hơn, góp phần giải phóng luồng lạch nhanh chóng, bảo đảm vận tải kịp thời, cũng hạn chế được tổn thất chung.


Đã vài chục năm trôi qua sau chiến thắng trên mặt trận chống địch dùng thuỷ lôi phong toả sông, biển miền Bắc nói chung và vùng Hải Phòng nói riêng; các ngành, các đơn vị đã tổng kết đúc rút kinh nghiệm thành những tài liệu quý. Riêng tôi, với những kí ức không phai, tôi xin góp những ý kiến như sau:

1. Qua cuộc chiến đấu này, chúng ta khẳng định sự lãnh đạo rất sáng suốt của Đảng. Với đường lối chiến tranh nhân dân quán triệt trên chiến trường sông, biển sáng tạo, thiết thực, Đảng đã huy động được sức mạnh tổng hợp của toàn quân và và toàn dân. Sự chỉ đạo rất kịp thời của Đảng bắt nguồn từ việc tìm hiểu, nghiên cứu, đánh giá địch rất chính xác: Từ chuỗi thất bại bị động chiến lược ban đầu địch đã và sẽ sa vào những bị động, sai lầm, thất bại chiến lược tiếp theo. Do đó, việc địch dùng thuỷ lôi phong toả sông, biển của ta sau loạt bị động và thất bại về chiến lược trong ngăn chặn miền Bắc chi viện miền Nam (chiến tranh phá hoại miền Bắc, hàng rào điện tử Mắc Na-ma-ra, ngăn chặn đường mòn Hồ Chí Minh trên biển) có thể như là bước tất yếu chúng phải hành động. Vì thế, ta khắc phục được những mặt yếu, kém (không cân sức) nhất là điều kiện tiềm năng vật chất, khoa học kỹ thuật... để tạo nên sức mạnh tổng hợp giành thắng lợi.

Quán triệt quan điểm "Toàn dân đánh giặc", sức mạnh chiến đấu của toàn quân được tập hợp. Trên mặt trận chống thuỷ lôi địch, tất cả các lực lượng đều có sự đoàn kết, thống nhất cao. Đài quan sát thuỷ lôi được bố trí từ Hải quân, Công an võ trang, Đường biển,... Tất cả đài quan sát được tổ chức liên hoàn, hợp tác cùng nhau trong một vùng cửa sông, biển dưới sự chỉ huy thống nhất của Sở Chỉ huy chống phong toả, tạo nên hiệu quả cao.

2. Đây là cuộc đọ sức thực sự về trí truệ và tiềm năng vật chất khoa học kỹ thuật giữa ta và địch - mà phần yếu chung và lúc đầu thuộc về ta.

Biết rõ sức ta - sức địch, có ý chí quyết tâm cao, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, các chiến sĩ trên mặt trận chống phong toả thuỷ lôi đã dũng cảm xả thân vì cuộc đấu tranh trên biển, dành được nhiều thắng lợi lớn trong quá trình nghiên cứu thuỷ lôi. Vì thế, chúng ta sáng tạo được những phương tiện rà phá thuỷ lôi địch từ rất thô sơ, thô sơ, nửa cơ giới đến cơ giới và tự động, hiện đại phá nổ thủy lôi địch, giải phóng luồng lạch bảo đảm giao thông.


Kết thúc bài viết nay, tôi xin được góp một ý kiến cá nhân vào cuộc sinh hoạt khoa học chung và quan trọng này: Hà Nội có ngày "Điện Biên Phủ trên không", Hải Phòng có nên có ngày "Điện Biên Phủ dưới nước" không?
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #45 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2023, 07:32:53 am »

CHIẾN TRANH NHÂN DÂN TRÊN SÔNG, BIỂN KHẮC PHỤC THUỶ LÔI CHỐNG PHONG TOẢ VÙNG HẢI PHÒNG

Đại tá Võ An Đông45
Chủ tịch Chi hội Lịch sử quân sự Hải Phòng,
Nguyên Tư lệnh 350


Từ năm 1965 tới năm 1973, Mỹ hai lần mờ cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam. Hải Phòng vốn là một vùng có tiềm lực cả về kinh tế và quốc phòng, lại có càng giao lưu quốc tế của đất nước, tiếp nhận 85% hàng viện trợ từ nước ngoài, trở thành một trọng điểm đánh phá phong toả của Mỹ. Nơi đây đã diễn ra cuộc đấu trí và đấu lực rất quyết liệt lâu dài giữa ta và Mỹ, từ đầu tới khi kết thúc chiến tranh ở miền Bắc, kết cục ta giành thắng lợi lớn trong cả hai cuộc chiến tranh phá hoại đó. Để đánh thắng kẻ địch, Hải Phòng phải huy động tổng hợp lực lượng phòng không nhân dân, bảo vệ an toàn các cơ quan và nhân dân, duy trì cuộc sống (ổn định), giữ vững sản xuất, tổ chức bắn máy bay, bảo đảm giao thông, bảo đảm chi viện cho miền Nam. Ta tổng kết được nhiều kinh nghiệm chiến đấu, phục vụ chiến đấu; kinh nghiệm chi viện sức người sức của, đảm bảo giao thông; kinh nghiệm kết hợp kinh tế với quốc phòng....


Ở đây, chúng ta tập trung nghiên cứu về chiến lược chiến tranh nhân dân trên sông biển với mục tiêu là rà quét mìn, thuỷ lôi, giải toả giao thông trên sông biển để đạt được yêu càu cao nhất là thông luồng đưa hàng hoá chi viện miền Nam. Trong chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, Mỹ leo thang từng bước, chủ yếu đánh phá tuyến đường bộ, thả mìn, thuỷ lôi, các luồng sông nội địa, nhưng chưa dám cô lập cảng Hải Phòng với quốc tế. Từ năm 1967, Mỹ dùng bom chờ nổ MK36 có gắn đầu nổ MK42. Loại này ở trên cạn nên bom chờ nổ từ trường ở dưới nước có tác dụng như thuỷ lôi. Để tăng thêm hiệu lực của bom, chúng còn cải tiến từ Mod 0 đến Mod 1, 2, 3, 4. Với tiềm lực kinh tế và quân sự hùng hậu, Mỹ tập trung lực lượng và vũ khí phong toả liên tục, dài ngày, kiểm soát toàn bộ vùng biển. Đồng thời, Mỹ tận dụng tiến bộ mới về kỹ thuật và công nghệ chế tạo luôn cải tiến thay đổi thủ đoạn phong toả khiến ta không thể dễ dàng rà phá thuỷ lôi. Từ 9/5/1972, Mỹ phong tỏa Cửa Nam Triệu và cảng Hải Phòng bằng thuỷ lôi đã được cải tiến MK52 cơ cấu đầu nổ khá phức tạp. Sau khi thả xuống nước, thuỷ lôi chưa ở tư thế nổ ngay mà phải sau một thời gian (cơ cấu định giờ) hoặc sau một số lần (cơ cấu định lần) thì thuỷ lôi mới chuyển vào tư thế nổ. Do đó, việc rà phá của ta càng thêm phức tạp.


Về thủ đoạn phong toả, Mỹ tập trung vào những điểm xung yếu là cảng Hải Phòng và luồng Nam Triệu, các cửa sông, điểm vượt sông để thả thuỷ lôi, mìn từ trường; chúng lại thường xuyên thả bổ sung, thả xen các loại mìn, thuỷ lôi có tính năng khác, áp dụng cơ cấu định giờ, định lần khác nhau. Chúng tìm cách huỷ diệt hệ thống đèn biển, phao tiêu, kết hợp với việc dùng máy bay đánh phá ác liệt, không để ta yên ổn rà phá thuỷ lôi. Thực tế Mỹ đã gây cho ta một số thương vong do ta còn thiếu kinh nghiệm (như mang theo dụng cụ bằng sắt) hoặc không ít tàu thuyền bị vướng bom, thuỷ lôi mà đắm chìm: thuỷ lôi là loại vũ khí vừa rẻ tiền, vừa đơn giản, nhưng rất lợi hại, gây nhiều khó khăn trong rà quét. Thực tế từ khi thuỷ lôi được thả xuống Cửa Nam Triệu, đã ngăn cản tàu bè quốc tế ra vào cảng Hải Phòng.


Đối với ta, chống phong toả trên sông biển là một loại hình chiến đấu mới mẻ, chưa hề có kinh nghiệm. Nhưng dựa theo đường lối chiến tranh nhân dân, ta phát động rộng rãi nhân dân trên sông biển vừa đánh, vừa học, bằng lòng dũng cảm vô biên và bằng trí thông minh sáng tạo, ta khắc phục dần trình độ hạn chế, hoàn thiện từng bước phương tiện và kỹ thuật; cuối cùng xây dựng và hoàn thiện nghệ thuật chiến đấu trên sông biển mà nội dung có thể tóm tắt mấy điểm sau đây:

1. Phát huy không ngừng truyền thống yêu nước động viên ý chí nhiệm vụ "tất cả để bảo vệ miền Bắc, chi viện miền Nam" dám lao thẳng vào chỗ gian khổ nhất, sẵn sàng xả thân cho đất nước. Ta có những gương dũng cảm như lặn mò, ôm bom địch mang về nghiên cứu, hoặc lái ca nô mang theo bộ đồ phóng từ dùng tốc độ cao lướt qua bãi thuỷ lôi địch.

2. Đã phát động toàn dân đoàn kết đánh địch mà nòng cốt là lực lượng vũ trang (Hải quân, Công binh, Tự vệ, Công an vũ trang). Ta phát động toàn thể cán bộ, công nhân ngành Đường sông, Đường biển với chức năng là vận tải hàng hoá chi viện chiến trường, bà con ngư dân, tất cả đều tham gia chiến đấu. Đặc điểm nữa là ta huy động đông đảo đội ngũ khoa học, tri thức của các Viện Nghiên cứu dân sự cũng như quân sự; Trường Đại học Bách khoa, Xưởng Cơ điện cũng hăng hái nghiên cứu tìm được các biện pháp, công nghệ và kỹ thuật có hiệu quả.

3. Nghiêm túc theo dõi một cách sát sao, chặt chẽ đế quốc Mỹ - kẻ địch vừa có tiềm lực kinh tế và quân sự, vừa quỷ quyệt luôn cải tiến kỹ thuật và thay đổi thủ đoạn tác chiến, nhưng cũng có mặt yếu; từ đó ta có điều kiện hạn chế tối đa mặt mạnh của địch và tìm cách khoét sâu chỗ yếu của chúng. Ta tổ chức hệ thống quan sát nhiều vòng, nhiều tầng rộng khắp bằng khí tài và mắt thường. Mỗi khi có loại bom và đầu nổ mới ra đời, cán bộ và đội ngũ trí thức lại nghiên cứu tìm tòi, tìm ra biện pháp công nghệ, kỹ thuật đối phó vừa kịp thời, vừa có hiệu quả. Hoặc lợi dụng điểm yếu về chính trị buộc chúng phải tạm ngừng bắn, từng bước xuống thang chiến tranh, ta có thời gian dốc lực vào việc rà quét và vận chuyển.

4. Xoay quanh nhiệm vụ trung tâm là chi viện chiến trường, ta đã tổ chức tốt việc hiệp đồng giữa quân sự và dân sự, giữa lực lượng phòng tránh đánh địch và bảo đảm giao thông dù mỗi người, mỗi ngành, mỗi binh chủng về tính chất nhiệm vụ khác nhau nhưng đều hướng về mục tiêu chung mà tự giác, chủ động hợp đồng giúp đỡ nhau hoàn thành nhiệm vụ. Ta cũng cần ghi nhận trụ cột việc hợp đồng đó là Ban Chỉ đạo chống phong toả gồm các vị chỉ huy Hải quân khu Tả Ngạn, ngành Đường biển và Chính quyền thành phố Hải Phòng, Chính quyền tỉnh Quảng Ninh.

5. Đã tạo được một số biện pháp xử lý tình huống có hiệu quả như:

- Tìm nhiều luồng lạch mới, mở nhiều bến bãi, có nhiều biện pháp duy trì việc tiếp nhận, vận chuyển hàng hóa chi viện.

- Trong rà quét thuỷ lôi khéo kết hợp giữa phong trào quần chúng rộng rãi với lực lượng chuyên trách, giữa tại chỗ và cơ động, giữa phương tiện thô sơ (mảnh tôn, bàn nam châm) với phương tiện tương đối hiện đại (PĐ67, ĐB72, HDL - 9).

- Coi trọng công tác nghiên cứu, cải tiến nâng cao hiệu quả các phương tiện rà phá, kịp thời huấn luyện, phổ biến kinh nghiệm nhằm nâng cao trình độ để làm thất bại mọi thủ đoạn, vũ khí phong toả tinh vi và nguy hiểm của địch.


Cuộc chiến đấu chống địch phong toả trên sông biển đã giành được thắng lợi thể hiện các mặt sau:

1. Kẻ địch đã tìm mọi cách phong toả biển nhưng quân dân ta không quản gian lao, nguy hiểm, đảm bảo chi viện hàng hoá và xăng dầu với số lượng hàng triệu tấn.

2. Bằng phương tiện thô sơ, ta đã dũng cảm và biết cách rà quét hàng ngàn quả bom, thuỷ lôi, trong khi phía Mỹ khi thi hành Hiệp định Paris chỉ phá được 3 quả. Điều đó khẳng định thành tựu về trí tuệ của ta, một nước về tiềm lực kinh tế và tiềm lực kỹ thuật có khoảng cách rất xa với Mỹ.

3. Chỉ một tuần lễ sau khi ký Hiệp định Paris, ngày 5/2/1973 ta đảm bảo tàu quốc tế ra vào luồng Nam Triệu an toàn.


Nguyên nhân thắng lợi thì có nhiều nhưng xét đến cùng dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân dân ta đã phát huy được hai yếu tố cơ bản:

Một là, phát huy và bồi dưỡng không ngừng yếu tố truyền thống yêu nước, từ đó tạo được sức mạnh tổng hợp, sức mạnh đoàn kết của mọi lực lượng.

Hai là, không ngừng phát huy trí tuệ, trí thông minh, óc sáng tạo dám nghĩ dám làm của toàn dân nhất là đội ngũ khoa học, trí thức và công nhân kỹ thuật.

Với truyền thống và trí tuệ Việt Nam, nhân dân nhất là lực lượng trên sông, biển Việt Nam chắc chắn sẽ đề cao trách nhiệm trước Tổ quốc trong việc làm chủ vùng biển bao la vốn rất có ý nghĩa to lớn về kinh tế và quốc phòng cho cả hiện tại và tương lai
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #46 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2023, 07:38:29 am »

KINH NGHIỆM CHỐNG PHONG TỎA TRONG KHẮNG CHIẾN CHỐNG MỸ VÀ MẤY VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU TRONG CHIẾN TRANH BẢO VỆ TỔ QUỐC

Đại tá, PGS. TS. Nguyễn Quốc Dũng46
Nguyên Viện phó Viện Lịch sử Quân đội


Sử dụng thủy lôi ngăn chặn đối phương tiến công vào lãnh thổ và sử dụng thuỷ lôi phong toả đối phương khi tiến công là hiện tượng khá phổ biến trong các cuộc chiến tranh, các cuộc xung đột vũ trang giữa các quốc gia. Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918), các nước tham chiến sử dụng hơn 250.000 quả thuỷ lôi, phá huỷ 207 chiếc tàu (bằng 35% số tàu bị đánh chìm). Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939 - 1945), số lượng thuỷ lôi được sử dụng lên tới hơn 1 triệu quả, số hạm thuyền bị thuỷ lôi đánh chìm chiếm 8,4%. Nhật Bàn bị Hoa Kỳ phong toả nặng trong nhũng năm cuối chiến tranh. Thành phố Lê-nin-grat (nay là Pê-trô-grat thuộc Cộng hòa Liên bang Nga) bị nước Đức phát xít phong tỏa 872 ngày đêm, hàng vạn người chết vì đói và rét. Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay, các cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang vẫn liên tiếp diễn ra. Hình thức cấm vận và phong toả bằng thuỷ lôi tiếp tục được sử dụng một cách phổ biến.


Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ đã hai lần (từ năm 1965 đến 1968 và năm 1972) dùng Không quân, Hải quân đánh phá, ngăn chặn và phong toả miền Bắc. Đây là một phương thức tiến hành chiến tranh, một loại hình tác chiến mói, một biện pháp có ý nghĩa chiến lược của Mỹ nhằm phá hoại tiềm lực, ngăn chặn nguồn viện trợ quốc tế và huy động sức người, sức của từ hậu phương lớn ra chiến trường; đánh vào ý chí giải phóng của dân tộc ta, đe doạ phong trào đấu tranh nhân dân của thế giới.


Để thực hiện các mục tiêu trên, thủ đoạn và phương tiện chính của Mỹ là dùng sức mạnh của Không quân và Hải quân đánh phá trên diện rộng; kết hợp với dùng bom, mìn, thuỷ lôi ngân chặn, phong toả từng khu vực, trọng điểm là các tuyến giao thông vận tải đường bộ và đường thuỷ từ ngoài vào miền Bắc và từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam. Những điểm bị phong toả nặng nhất là cảng và luồng vào cảng, luồng sông và điểm vượt sông ở các địa bàn chiến lược về chính trị, kinh tế, quân sự, cửa khẩu tiếp nhận và vận chuyển hàng vào chiến trường... Cùng với hoạt động đánh phá liên tục, ngày càng tăng của Không quân, Hải quân, cuộc phong tỏa được thực hiện ở quy mô chiến dịch, mang đầy đủ những đặc trưng của một cuộc phong toả quân sự hỗn hợp (về mục tiêu, biện pháp phối hợp quân sự, ngoại giao; về thủ đoạn chiến thuật và binh khí kỹ thuật...). Nó được tiến hành ngay từ đầu và trong suốt thời gian chủ yếu của cuộc chiến tranh (1965 - 1972). Nhung do cách điêu hành chiến tranh và do phải đề phòng phản ứng quốc tế và trong nội bộ nước Mỹ, nên cuộc phong toả được tăng dần từng bước kiểu "leo thang (thời kỳ L.Giôn- xơn); phong tỏa nhanh, ồ ạt, quy mô lớn ngay từ đầu (thời kỳ R.Nixon). Quá trình phong toả, giới quân sự Mỹ đặc biệt chú ý phát huy ưu thế cải tiến tính năng vũ khí kỹ thuật, lợi thế về sự chủ động và bất ngờ của Không quân trong các hành động đánh phá huỷ diệt, tạo ra nhiều điểm tắc nghẽn giao thông trong khu vực và trên các tuyến giao thông vận tải đường bộ, đường thuỷ; thực hiện phong toả nhanh bằng số lượng lớn bom, mìn chờ nổ và thuỷ lôi trong đợt đầu, sau đó thà bổ sung nhiều đợt khác, đồng thời tiếp tục dùng Không quân khống chế và đánh phá nhằm duy trì các điểm tắc, các khu vực đã bị phong toả. Để phát huy đến mức cao nhất tính năng kỹ thuật của từng loại vũ khí, làm cho ta khó phát hiện, rà phá, Mỹ còn dùng thủ đoạn thả xen nhiều loại bom, mìn (bom phá nổ ngay và bom chờ nổ, mìn từ trường và thuỷ lôi; các loại mìn, thuỷ lôi có cơ cấu định giờ, định lần vào chiến đấu với ngòi nổ và thời gian nổ tự huỷ khác nhau...). Trong khi bố trí các bãi thuỷ lôi, máy bay Mỹ thường dùng thủ đoạn nghi binh làm cho ta khó phát hiện số lượng, kiểu loại, khó đánh dấu vị trí có bom, mìn (như thả mìn, thuỷ lôi vào lúc thời tiết xấu, tầm nhìn hạn chế; dùng máy bay chứ không dùng tàu chiến thả thuỷ lôi; dùng tốp nhỏ để thả trong khi nhiều tốp máy bay khác đánh phá các mục tiêu xung quanh...). Một số thủ đoạn khác cũng được Mỹ sử dụng trong quá trình phong toả như: tuyên bố vùng biển Việt Nam là vùng biển có chiến sự; dùng biệt kích, máy bay, tàu chiến khống chế hoạt động trên biển của ta và của các tàu nước ngoài; dùng pháo hạm đánh phá các mục tiêu kinh tế, quân sự, giao thông ở ven biển và các đảo...


Về vũ khí phong toả, theo tổng hợp chung thì trong thời kì chiến tranh Việt Nam, Mỹ dùng tới 52 loại bom, mìn, thuỷ lôi để phá hoại và phong toả miền Bắc (trong đó có 10 loại mìn chờ nổ), 45 loại đầu nổ khác nhau (trong đó có 20 loại đầu nổ dùng mạch tổ hợp vi điện tử, mạch bán dẫn, vô tuyến truyền hình, laze...). Hai bảng dưới đây cho chúng ta thấy số lượng thuỷ lôi, mìn từ trường Mỹ đã sử dụng phong toả một số vùng ven biển, cửa sông trên miền Bắc ở hai thời điểm.


1. Năm 1967 - 1968

Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #47 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2023, 07:39:53 am »

2. Năm 1972





Nguồn tư liệu: Tổng kết chống Mỹ phong toả miền Bắc bằng thuỷ lôi. Hồ sơ M.1801 lưu Quân chủng Hải quân.

Với Số lượng lớn, gồm nhiều kiểu loại, hiệu quả phá hoại, sát thương và ngăn chặn cao, hiệu lực dài ngày, bom mìn và thuỷ lôi trở thành vũ khí chủ yếu nhất để thực hiện các mục tiêu chiến đấu, chiến dịch và có ý nghĩa chiến lược trong cuộc phong toả của Mỹ. Con người và máy bay chỉ còn là phương tiện đưa vũ khí đến mục tiêu. Giới quân sự Mỹ cho rằng: "Trong tất cả các loại vũ khí của chúng ta, chi có thuỷ lôi là thực sự được sử dụng để đe doạ mà không cần phải hy sinh người hay của cải vật chất. Trong tất cả các loại vũ khí của Hải quân chi có thuỷ lôi là có khả năng uy hiếp địch liên tục tại một khu vực"... Vào thời điểm năm 1972, R.Nixon và những người cầm quyền ờ Mỹ tin rằng, phong toả Việt Nam bằng thuỷ lôi là cách "gây khó khăn tối đa cho đối phương", có thể hạn chế những lời chi trích và phản đối ồn ào ở trong và ngoài nước; là biện pháp "có ý nghĩa quyết định để giành thắng lợi quân sự, tạo ra sức ép mạnh mẽ cho vấn đề thương lượng và để Mỹ có thể rút khỏi Việt Nam trong danh dự"...


Từ thực tế chiến trường Việt Nam trong những năm đầu chiến tranh, Mỹ đã nghiên cứu, chế tạo và từ những năm 1967 bắt đầu sử dụng thuỷ lôi và mìn chờ nổ hoạt động theo nguyên lý cảm ứng trường vật lý. Đây là một loại vũ khí chuyên dùng có hiệu lực phong toả cao đối với các luồng sông, điểm vượt sông, luồng vào cảng, vùng cửa sông, ven biển... những mục tiêu mà trước đó Mỹ chưa tìm được thủ đoạn và chưa có vũ khí hiệu lực. Cấu tạo theo nguyên lý chờ nồ của thuỷ lôi và mìn từ trường tạo ra khả năng mới là khống chế, uy hiếp liên tục và trong thời gian tương đối dài các tuyến giao thông đường biển và đường sông. Đầu nổ cấu tạo theo nguyên lí cảm ứng từ tạo ra khả năng phá huỷ các phương tiện vận tải (ô tô, tàu thuyền...) được chế tạo bằng các vật liệu nhiễm từ (sắt, thép...) ở trên bộ và trên mặt nước. Có thể nói, trong phong toả quân sự, tính năng kỹ thuật của thuỷ lôi và mìn chờ nổ từ trường giữ vai trò trực tiếp trong chiến đấu, là cơ sở để thực hiện các thủ đoạn, làm thay đổi cách đánh và là phương thức chủ yếu để đạt tới mục tiêu ngăn chặn đối phương. Sử dụng thuỷ lôi và mìn chờ nổ từ trường phong toả vùng ven biển, hải cảng, hệ thống giao thông đường thuỷ và đường bộ trên miền Bắc, Mỹ nhằm đúng khó khăn thực tế của ta, nhằm trúng đối tượng, mục tiêu phong toả và tìm được vũ khí chuyên dùng có hiệu lực. Năm 1972, chỉ trong khoảng 10 đến 15 ngày, Mỹ đã thực hiện được việc phong toả toàn bộ các cảng, cửa sông, vùng ven biển miền Bắc. Sau đó, trong quá trình duy trì cuộc phong toả, dựa vào tiềm lực kinh tế, quân sự hùng hậu, khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, Mỹ liên tục nghiên cứu, cải tiến đầu nổ, thay đổi chế độ làm việc của thuỷ lôi và mìn từ trường, thay đổi cà công nghệ chế tạo nhằm phát huy tính năng kỹ thuật nâng cao hiệu lực phong toả bằng thủy lôi ở các khu vực trọng điểm, kết hợp với đánh phá huỷ diệt, ngăn chặn của Không quân trên toàn lãnh thổ và hoạt động của Hải quân kiểm soát toàn bộ vùng biển miền Bắc, làm cho ta khó khắc phục. Giới quân sự Mỹ còn chú trọng nghiên cứu, lợi dụng những đặc điểm về địa hình, thời tiết, thuỷ văn; những mặt yếu kém về kinh tế, kỹ thuật và hệ thống giao thông vận tải của ta... để giành thế chủ động trong lựa chọn mục tiêu, thời gian, cách đánh và vũ khí kỹ thuật, tăng thêm yếu tố bất ngờ và hiệu lực phong toả.
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #48 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2023, 07:42:27 am »

Nhưng vũ khí và các thủ đoạn phong toả của Mỹ cũng có những hạn chế. Các loại thuỷ lôi, mìn từ trường có đầu nổ tinh vi, phức tạp nhưng khi đã ra khỏi máy bay đều trở thành thụ động. Phát hiện được vị trí và tìm ra cấu tạo đầu nổ, ta có thể chủ động tìm phương thức, phương tiện rà phá, tháo gỡ. Nguyên lí nổ do cảm ứng từ trường nâng cao hiệu quả phá huỷ các loại phương tiện vận tải nhờ có độ nhạy cao, nhưng cũng chính vì thế, thuỷ lôi và mìn từ trường dễ bị phá nổ bằng các dụng cụ thô sơ, đơn giản (mảnh tôn, khung nam châm...), dễ bị kích nổ do nhiễu thiên nhiên (sấm, chớp), nhiễu công nghiệp... Máy bay thả thuỷ lôi, mìn từ trường gặp lưới phòng không dày đặc, đánh trả quyết liệt của ta thường không thực hiện đúng các thông số kỹ thuật, tỉ lệ mìn, thuỷ lôi rơi trúng mục tiêu chỉ đạt 0,3% (thời kỳ L.Giôn-xơn) và 1,4% (thời kỳ R.Nixon).


Lần đầu tiên đối phó với phong toả quy mô lớn bằng vũ khí công nghệ cao của địch, trong điều kiện hầu như chưa có chuẩn bị, chưa có kinh nghiệm..., quân và dân miền Bắc đã nêu cao ý chí quyết thắng, vận dụng sáng tạo đường lối và nghệ thuật chiến tranh toàn dân, toàn diện của Đảng, từng bước tổ chức và phát triển lên trình độ mới cuộc chiến tranh đất đối không, chiến tranh nhân dân trên chiến trường sông biển và trên mặt trận giao thông vận tải chống địch phong toả. Những nội dung chính cũng chính là những kinh nghiệm lớn của nghệ thuật tổ chức và tiến hành cuộc chiến đấu đó là phát động và tổ chức toàn dân bắn máy bay địch, toàn dân làm công tác phòng tránh, toàn dân tham gia bảo đảm giao thông vận tải chống địch phong toả, kết hợp giữa lực lượng đông đảo tại chỗ của bộ đội địa phương, dân quân tự vệ và nhân dân các địa phương với lực lượng cơ động chống phong toả của Hải quân, Công binh, Phòng không - Không quân, Pháo binh và bộ đội chủ lực Quân khu trên địa bàn. Quá trình phòng chống phong toả, các lực lượng, các địa phương đều tích cực nghiên cứu, tìm hiểu âm mưu, thù đoạn và vũ khí của địch; tổ chức hệ thống quan sát phát hiện thuỷ lôi; sáng tạo và không ngừng cải tiến biện pháp, phương tiện rà phá thuỷ lôi, mìn từ trường; thực hiện đồng bộ và xử lý đúng đắn các mối quan hệ giữa con người và trang bị; giữa chính trị và kỹ thuật; giữa đánh địch và phòng tránh; giữa mở luồng mới với phá gỡ bom mìn, tổ chức vượt sông và giải toả giao thông; giữa thô sơ và hiện đại, kết hợp nhiều phương thức, phương tiện, vừa coi trọng các phương tiện, phương thức thô sơ đơn giản ừên cơ sở khoa học và tích cực nghiên cứu, cải tiến, phát huy tác dụng của phương thức, phương tiện phóng từ tương đối hiện đại...


Bảng thống kê dưới đây cho thấy số lượng mìn từ trường Mỹ sử dụng trong hai lần phong toả miền Bắc và kết quả tháo gỡ của các lực lượng, các phương thức phương tiện của ta:



Nguồn tư liệu: Tổng kết Công binh cùng toàn quân toàn dân đánh thắng chiến tranh phá hoại của Mỹ đối với miền Bắc (1965 - 1972). Số TBK.98 - Lưu trữ Binh chủng Công binh.

Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trong đó thắng lợi hai lần đánh thắng đế quốc Mỹ phong toả có ý nghĩa vô cùng to lớn. Những hiểu biết về phong toả biển và chống địch phong toả bằng thuỷ lôi, những kinh nghiệm vô cùng quí báu trong cuộc chiến tranh nhân dân trên chiến trường sông biển chống phong toả những năm này có giá trị thực tiễn cao đối với một quốc gia biển như nước ta trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.


Cuộc bao vây, phong toả biển của Anh đối với quần đảo Man-vi-nat thuộc chủ quyền của Ac-hen-ti-na (năm 1982), cuộc chiến tranh Vùng vịnh (năm 1991) và những cuộc bao vây, cấm vận của các nước đế quốc với các quốc gia không chịu phụ thuộc trong những năm gần đây cho thấy, sự biến động về chính trị trên thế giới cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học, kỹ thuật và công nghệ dẫn đến những đôi mới về vũ khí kỹ thuật quân sự, sự thay đổi phương thức tiến hành chiến tranh và cách thức áp đặt sự thống trị. Phong toả quân sự cũng có những đổi thay, phát triển mới cả về mục đích, phạm vi, thời gian, lực lượng, phương tiện, vũ khí, hình thức... Thực tiễn cho thấy, cấm vận và phong toả có thể xảy ra khi chưa có chiến tranh giữa hai quốc gia đối địch mà chỉ với mục đích làm suy yếu đối phương, buộc đối phương khuất phục, hoặc chỉ là một biện pháp để mở đầu dẫn tới chiến tranh. Chính sách phong toả và hình thức thực hiện nó của các nước đế quốc không chỉ đơn thuần là quân sự mà là tổng hợp các biện pháp chính trị, kinh tế, ngoại giao, quân sự... Vì vậy, trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc của một quốc gia có vùng biển rộng, nhiều đảo và quân đảo xa bờ, nhiều tài nguyên và tiềm năng về biển như nước ta, chúng ta cần dự kiến nhiếu tình huống, trong đó có tình huống đối phương sẽ tiến hành phong toả biển, kết hợp với tập kích bất ngờ, qui mô lớn bằng Không quân, Hải quân và gây bạo loạn trong khu vực bị phong toả. Để chủ động chuẩn bị và giành thắng lợi trong tình huống địch phong toả, chúng ta nên thường xuyên giáo dục nhân dân những hiểu biết cần thiết và có ý thức cảnh giác đề phòng địch phong toả biển; trang bị những phương tiện thích hợp và tăng cường huấn luyện bộ đội Hải quân và các lực lượng hoạt động trên biển, đảo và ven biển, đặc biệt là lực lượng phòng thủ ở các quần đảo xa bờ, lực lượng bảo vệ các khu khai thác dầu khí... những kỹ thuật và chiến thuật cần thiết trong tác chiến phòng thủ biển, đảo chống địch phong toả. Mặt khác, với yêu cầu mới của nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, cần nghiên cứu xây dựng những đơn vị đặc nhiệm sử dụng thuỷ lôi ngăn chặn, chống địch thâm nhập, chiến đấu bảo vệ biển, đảo và các hướng chiến lược quan trọng bằng vũ khí thuỷ lôi; nghiên cứu phát huy những ưu thế của vũ khí thuỷ lôi và lợi thế của các khu vực phòng thủ đảo, ven biển... được xây dựng từ trong hoà bình để bảo vệ vững chắc chủ quyền Tổ quốc trên hướng biển, đảo.


Kinh nghiệm chống phong toả thắng lợi trong kháng chiến chống Mỹ và yêu cầu mới của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc cho thấy, chống phong toả biển không chỉ là nhiệm vụ của lực lượng vũ trang, thuộc lĩnh vực quốc phòng - an ninh mà là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; thuộc phạm trù chính sách của Đảng, Nhà nước nhằm bảo vệ độc lập chủ quyền Tổ quốc, bảo vệ chế độ. Nó đòi hỏi những giải pháp tổng hợp của Đảng, Nhà nước về các mặt chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, khoa học kỹ thuật...; đòi hỏi phải đổi mới, ngày càng hoàn thiện phương pháp chuẩn bị và tiến hành chiến tranh nhân dân trong điều kiện hiện đại, thực hiện chống phong toả quân sự bằng sức mạnh toàn dân, toàn diện; đồng thời, biết dùng vũ khí thuỷ lôi để răn đe, phòng ngừa, bảo vệ những khu vực nhất định và đánh địch trên hướng biển, đảo trong công cuộc giữ vững chủ quyền và trong bảo vệ Tổ quốc.
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #49 vào lúc: 11 Tháng Năm, 2023, 08:33:51 pm »

CUỘC CHIẾN ĐẤU VỚI THUỶ LÔI MỸ
PHONG TOẢ VÙNG BIỂN QUÂN KHU TẢ NGẠN

Thiếu tướng Lê Mã Lương47
Nguyên Viện trường Viện Bảo tàng Quân đội


Trong cuộc chiến tranh phá hoại bằng Không quân và HẢi quân của đế quốc Mỹ vào miền Bắc nước ta, quân và dân Quân khu III đã hai lần giành chiến thắng trước các hoạt động phong toả của Không quân và Hải quân của Mỹ.


Lần phong toả thứ hai của Mỹ (1969 - 1972) nhằm cứu vãn những thất bại không thể tránh khỏi của chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" và giành thế có lợi với ta ở Hội nghi Paris về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Để thực hiện âm mưu đó, vào thời kỳ cao điểm nhất (giữa và cuối năm 1972), địch đã sử dụng tới 1.300 lượt máy bay chiến thuật, 200 lượt máy bay B52. Trên vịnh Bắc Bộ, lực lượng Hải quân Mỹ được huy động đến mức tối đa 6 - 7 tàu sân bay, 4 - 5 tàu tuần dương, 42 - 45 tàu khu trục, chiếm hơn 50% tổng số tàu mỗi loại của Hải quân Mỹ. Hải quân Mỹ bố trí 43 bãi thuỷ lôi, mìn từ trường với tổng diện tích 489 km2 trên các luồng tàu biển vào cảng Hòn Gai, Cẩm Phả, Hải Phòng, Cửa Hội và cửa sông lớn thuộc các tỉnh ven biển từ Thái Bình đến Quảng Bình. Trên địa bàn Quân khu III, địch sử dụng pháo từ các hạm tàu và Không quân liên tục bắn phá các cơ sở kinh tế, chính trị và các mục tiêu quan trọng khác của ta nằm dọc bờ biển, đánh phá mục tiêu và thả mìn, bom từ trường trên các đường giao thông, các dòng sông lớn ờ sâu trong lòng đất liền, tiến hành phong toả luồng tàu biển vào Hải Phòng và cảng Quảng Ninh (nặng nhất là vùng biển Hải Phòng với 1.735 quả). Có thể nói, kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, đây là cuộc phong toả hiện đại nhất, tàn bạo nhất, có nhiều lực lượng và phương tiện tham gia nhất mà đế quốc Mỹ tiến hành để chống nhân dân Việt Nam.


Bằng tinh thần chiến đấu kiên cường, mưu trí, sáng tạo, theo đường lối và nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân của Đảng, với lực lượng không nhiều và trình độ hiện đại chưa cao, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam cùng với các lực lượng khác và nhân dân các địa phương đã đánh bại âm mưu, thủ đoạn phong toả của địch. Riêng quân và dân Quân khu III bắn rơi 1.524 máy bay các loại của Mỹ, đánh đuổi, đánh chìm, bắn bị thương hàng chục tàu chiến; phối hợp cùng lực lượng Hải quân và lực lượng hoạt động trên biển phá, gỡ, làm mất hiệu lực hàng chục nghìn quả thuỷ lôi, bom mìn của địch đã thả trên các luồng vào cảng, trên các sông và trên đất liên, kịp thời khai thông luồng, lạch, bảo đảm giao thông với quốc tế và các miền trong nước, góp phần duy trì sản xuất, bảo vệ vững chắc hậu phương lớn, không ngừng tăng cường chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn.


Phạm vi bài viết này, tôi xin đi vào một số sự kiện chính biểu hiện sinh động ý chí, trí tuệ Việt Nam thông qua rà phá thuỷ lôi, mìn nước của quân và dân Quân khu III góp phần làm thất bại âm mưu của Mỹ phong toả vùng biển miền Bắc Việt Nam.


Ngày 27/2/1967, máy bay Mỹ thả 106 quả thuỷ lôi MK50 và MK52, MOD - 0 vào cửa sông Mã, sông Lam, sông Gianh, Nhật Lệ. Từ tháng 10/1969, Mỹ dùng bom TV thay cho thuỷ lôi. Loại bom này phát huy tác dụng đối với mục tiêu trên mặt nước và mục tiêu trên bờ. Địch thả vào các cửa ven sông, ven biển đồng bằng Quân khu III khoảng 5.002 quả. Riêng ở khu vực Quảng Ninh, chúng thả vào ba luồng là Lạch Buồm, cảng Điền Công và bến phà Miều 100 quả. Cùng với thả bom ở các cửa sông chúng còn thả sâu vào trong sông đặc biệt là kênh Nhà Lê, Lục Đầu Giang, bến phà, bến lội, chân cầu, ngã ba sông khoảng 150 quả.


Trong những tháng cuối năm 1967, từ kinh nghiệm của địa phương mình và vận dụng kinh nghiệm rà phá bom từ trường của quân và dân các tỉnh Quân khu, một số đơn vị địa phương đã phá được bom địch bằng phương pháp giản đơn với dụng cụ thô sơ. Khởi đầu là Đội Phá bom của Công binh Bộ Tư Lệnh 350 phá một quả bom chưa nổ ở thị xã Kiến An bằng cách dùng sợi dây kéo một mảnh tôn rộng một mét vòng qua quả bom để kích thích bom nổ. Cũng bằng cách này và có cải tiến hơn, các tổ phá bom của dân quân xã Anh Dũng (Kiến Thuỵ), tự vệ, công binh cũng phá nổ nhiều quả. Từ việc phá bom bằng dụng cụ thô sơ trên bờ ta tiến lên sử dụng phương tiện phá bom phúc tạp hơn ở dưới nước với hiệu quả cao (bằng thuyền sắt, lưới nam châm kéo dọc bờ sông). Trong quá trình phá bom đã có hàng chục cán bộ, chiến sĩ công binh và dân quân tự vệ anh dũng hy sinh khi đi vào bãi bom để trinh sát, tháo gỡ đầu nổ loại bom mới.


Phát huy những thành tích đạt được của các đơn vị, địa phương, rà quét bom mìn trên từng vành đai phong toả, giải toả các đầu mối giao thông thuỷ bộ trên địa bàn thành phố, cho đến cuối tháng 3 năm 1968, cả ba vòng vây phong toả bằng bom, mìn của địch xung quanh các cảng và khu vực nội thành được giải toả. Các tuyến giao thông đường bộ, đường thuỷ, đường sắt hoạt động trờ lại như trước. Các mặt sản xuất và đời sống của thành phố từng bước được khôi phục và hoạt động bỉnh thường.


Ngày 1/4/1968, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn phải tuyên bố xuống thang chiến tranh, ngừng đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trờ ra. Cuộc chiến đấu của quân và dân Quân khu III và miền Bắc chống chiến tranh phá hoại, ngăn chặn và phong toả lần thứ nhất của đế quốc Mỹ diễn ra gần 4 năm kết thúc thắng lợi.


Cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của Mỹ đối với miền Bắc từ tháng 4/1972 đến tháng 1/1973; tuy chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn, nhưng có qui mô và tính chất ác liệt hơn nhiều so với cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất.


Trong bước một (từ 6/4/1972 đến 8/5/1972), địch tiến công đánh phá các tuyến giao thông, kho tàng, khu tập kết lực lượng, bắt đầu dùng máy bay B52 đánh một số mục tiêu khu dân cư, dùng máy bay chiến thuật đánh vào các mục tiêu ở Hà Nội, Hải Phòng; súng hải quân bắn phá các vùng ven biển.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM