Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:20:54 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ngọn cờ cách mạng công khai cắm tại Sài Gòn 1955-1958  (Đọc 10841 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #30 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2023, 08:33:05 am »


Chúng tôi đến cửa hàng Thái Thạch 32 Catinat (nay là Đồng Khởi), bán thực phẩm có tiếng ở Sài Gòn thời đó. Chúng tôi mua đồ hộp để dự trữ, rượu tây cho các buổi chiêu đãi Quốc tế. Người quản lý cửa hàng là người Hoa có vẻ mừng vì gặp mối lớn nên hỏi địa chỉ. Sau khi tôi tự giới thiệu, ông rất ngạc nhiên và thay đổi cách đón tiếp. Ông mời chúng tôi ngồi và gọi phổ ky rót trà. Tôi lấy đơn đặt hàng đưa cho ông, rồi dặn khi giao hàng, thì các thùng nhỏ để trong thùng gỗ lớn chở đến địa chỉ của trụ sở.

Khi xe chở hàng tới, anh em công nhân thấy có cảnh binh gác ở cổng nên lo sợ. Chúng tôi ra đón xe và cho xe vào sân nhà. Giao hàng xong anh em xin lên nhà trên xem cờ Tổ quốc và ảnh Bác Hồ. Từ trước tới nay chưa khi nào ở Sài Gòn có lá cờ đỏ sao vàng lớn như vậy. Những lần giao hàng sau, các anh em công nhân khác cũng xin lên xem cờ và ảnh Bác mới thỏa lòng.

Chúng tôi đến hiệu sách Albert Portail, ở đường Catinat, một hiệu sách có tiếng ở Sài Gòn. Ông đứng bán ở quầy hàng chào tôi, mời tôi đi xem sách. Tôi thấy có quyển sách tựa đề “Điện Biên Phủ” giá 15.000 đồng và nhiều sách nói về Việt Nam của nhiều tác giả Mỹ, Pháp... đi vòng xem một lượt, tôi trở lại mua quyển “Điện Biên Phủ”. Tôi nói:

- “Hôm nay tôi đến đây để tìm hiểu vì tôi cần mua nhiều loại sách khác”.

- “Xin lỗi, ông ở cơ quan nào mà mua quyển này?”

Tôi không trả lời ngay mà hỏi lại:

- “Ông có biết tác giả nói gì trong quyển sách này không”.

- “Tác giả là người Pháp, tả nhiều trận đánh ở đồi núi, nào là phá được hầm trú ẩn của Việt Minh, đặt nhiều súng đại bác, bắn cháy nhiều xe vận tải nhãn hiệu Trung Quốc, v.v.. Lúc đầu nhiều đơn vị quân đội và sĩ quan cao cấp mua. Bây giờ thì không ai còn chú ý nữa.

- “Vậy lúc này ông bán loại sách nào chạy nhất?”

- “Dạ, sách dạy tiếng Anh, kế đến là sách khoa học. Còn sách tiểu thuyết thì ít ai rờ tới”.

Thấy ông có vẻ thật thà, tôi mới tự giới thiệu. Ông hết sức vui mừng, không dằn lòng được xin bắt tay tôi. Để tránh nghi ngờ của bọn công an, tôi chào ông ra về.

Sau đó ít lâu, cơ quan xuất nhập khẩu sách báo Hà Nội (XUNHASABA), có gửi cho Phái đoàn ta một danh mục khoảng 20 quyển sách nhờ mua giúp. Tôi trở lại hiệu sách Albert Portail. Người bán sách vui lòng nhận tìm giúp. Nửa tháng sau tôi trở lại, ông đã tìm được 5 quyển, gói đàng hoàng. Trả tiền, ông không nhận. Tôi cám ơn và ra về.

Một tháng sau, tôi trở lại. Ông đã mua thêm được 10 quyển nữa. Ông cho biết tiền sách kể cả lần trước là 270.000 đồng. Tôi đưa tiền, ông vẫn không nhận mà còn dặn tôi có đơn hàng mới cứ đưa cho ông. Biết được giá tiền, tôi đếm đủ, dằn dưới quyển vở trước mặt ông rồi mới ra về. Qua hai tháng, ông đã hoàn thành mua sách giúp ta và chấp nhận điều kiện là khi giao hàng phải nhận tiền. Hai bên đều vui vẻ. Có lần ông nói:

- “Tôi rất vui được các ông giao cho việc tìm sách, cả gia đình tôi cũng vui. Tôi cảm thấy được đóng góp một phần nhỏ vào công việc của các ông”.

- “Chúng tôi sẽ tiếp tục nhờ ông mua sách giúp, nhưng không đến thường vì muốn bảo vệ ông. Công an đi theo chúng tôi, ông thấy đó”.

Sách mà ta nhờ mua, phần lớn là loại phục vụ cho nghiên cứu chính trị, kinh tế, khoa học và mua theo yêu cầu của cơ quan XUNHASABA.

Một hôm chúng tôi đến hiệu thuốc tây Pharmacie Normal ở số 201 Catinat tìm mua vài thứ thuốc trị thần kinh và tim mạch. Người bán hàng hỏi:

- “Ông mua thuốc gì?”

Tôi lấy trong túi áo trên ra mảnh giấy nhỏ có ghi tên thuốc và đưa cho người bán.

- “Hai thứ thuốc này chúng tôi có bán”.

- “Giá bao nhiêu?”

- Dạ thuốc tim mạch giá 50 đồng/hộp, thuốc thần kinh giá 30 đồng/hộp. Nếu mua nhiều thì giá có khác”.

- “Nếu mua nhiều thì giảm giá bao nhiêu?”

- “Dạ ở đây chúng tôi không giảm giá bán mà cho hoa hồng. Nếu mua 100 hộp thì cho 1%, mua 1.000 hộp thì cho 3%. Còn mua nhiều, chúng tôi sẽ giao tận nhà miễn phí.

- “Chúng tôi cần mua số lượng khá. Chúng tôi sẽ báo sau”.

- “Xin các ông cho biết địa chỉ để khi các ông cần, chúng tôi sẽ cử người đến”.

Tôi ghi: Phái đoàn liên lạc Quân đội Nhân dân Việt Nam... Ông ngạc nhiên nhìn chúng tôi.

- “Các ông ở Hà Nội vào à?”

Ông có vẻ băn khoăn vì đã tiếp chúng tôi như bình thường. Để ông yên tâm, tôi nói:

- “Chúng ta là người Việt Nam, dễ thông cảm với nhau. Chắc là ông sẵn lòng giúp chúng tôi khi cần mua một vài loại thuốc hiếm”.

Lần sau, khi chúng tôi đến ông tiếp chúng tôi niềm nở.

- “Hôm nay chúng tôi mua thuốc tim mạch và thần kinh, mỗi thứ 5 hộp. Chúng tôi chưa dám mua nhiều vì chưa có điều kiện bảo quản tốt”.

Ông cúi xuống quầy hàng, lấy đủ mỗi thứ 5 hộp gói lại. Ông thêm 2 hộp khác và nói:

- “Đây là thuốc của Mỹ. Chúng tôi vừa mới nhận một số mẫu. Xin biếu các ông mỗi thứ một hộp dùng thử”.

Trả tiền xong tôi đưa cho ông đơn hàng, trong đó có thuốc gây tê. Ông xem và nói:

- “Các thứ trong đơn hàng tôi đều có, trừ thuốc gây tê không được bán, chỉ dành cung cấp cho các nhà thương. Tuy vậy tôi vẫn có thể tìm được nhưng không nhiều”.

Từ đó về sau, ông giúp giải quyết các đơn hàng, trừ những thuốc dùng cho phẫu thuật mà cửa hàng không có. Ông còn tìm được cho chúng ta những loại thuốc đặc trị mới.

Việc đi lại mua bán đó, là trong những năm đầu khi Phái đoàn mới vào. Về sau khi chúng bao vây ngày càng gắt gao thì chúng tôi ít khi ra ngoài tiếp xúc với dân.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #31 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2023, 08:33:51 am »


8. Rút về Hà Nội

Ngày 17-5-1958, theo lệnh của Trung ương, Phái đoàn ta rời Sài Gòn trở ra Hà Nội, chấm dứt nhiệm vụ sau 1.095 ngày tồn tại ở một trung tâm phản động vào bậc nhất ở Đông Nam Á. Phái đoàn ta như cây đinh đâm vào mắt kẻ thù, nên ngay từ những ngày đầu, chúng đã tìm đủ mọi cách o ép. Năm 1956, Vũ Văn Mẫu đã gửi công hàm cho Ủy ban Quốc tế, vu cáo Phái đoàn ta làm gián điệp, xúi giục nhân dân nổi loạn...

Chúng còn dở trò khiêu khích. Như những tháng cuối năm 1955, chúng bố trí hành hung nhân viên Phái đoàn ta tại chợ Bến Thành - Sài Gòn. Đầu năm 1956, chúng tổ chức hằng trăm tên phản động đến bao vây trụ sở Phái đoàn ta, hò hét chửi bới và ném đá vào nhà. Chúng còn bắn lén đồng chí bảo vệ của ta đang làm nhiệm vụ, v.v..

Cho đến sáng ngày 26-4-1958, bọn cảnh binh ngụy dùng lòi tói khóa chặt cổng ra vào, không ra ngoài, kể cả đi chợ. Tôi hỏi:

- “Tại sao lại khóa cổng?”

- “Tôi chỉ biết làm theo lệnh cấp trên. Xin Đại úy hỏi Đại tá Hoàng Thụy Nam. Chúng tôi được lệnh khóa cổng cho đến khi các ông đồng ý rút về Hà Nội”.

Vào khoảng 9 giờ, có Ủy ban Quốc tế đến làm việc, chúng vẫn không mở cổng, chờ xin ý kiến. Sau đó chúng mới chịu mở. Trước tình hình đó, đồng chí Long chỉ thị cho anh em sẵn sàng đối phó khi có tình huống xấu.

Tuy nhiên, hằng ngày mọi sinh hoạt cơ quan đều giữ được bình thường. Mỗi chiều anh em ra sân bóng chơi đông đảo, các nề nếp làm việc, giải trí không thay đổi có khi còn nghiêm túc hơn trước. Chúng ta theo dõi chặt chẽ mọi diễn biến bên ngoài, các hoạt động của bọn cảnh binh và công an. Để kịp thời đối phó, chúng ta cho điện đài mở máy túc trực, máy nổ sẵn sàng phát điện. Còn nhà bếp thì bảo đảm ba bữa ăn trên tinh thần tiết kiệm. Trước tình hình khó khăn, anh em nêu cao tinh thần kỷ luật, tư tưởng ổn định, không bàn ra tán vào, không bi quan dao động.

Mười lăm ngày trôi qua. Anh Mười Tuân cho biết thực phẩm tươi sống sắp hết. Tôi nói:

- “Trong chuồng gà còn 5 con, ba cây đu đủ đơm đầy trái xanh to lớn đang chờ anh trổ tài chế biến có thể ăn trong 5 ngày: đu đủ kho, nấu canh, bóp gỏi, xào mỡ... Còn có rau diệu ăn được 10 ngày, đám rau om ăn cũng được 2 ngày không hết...”

- “Còn thịt thì sao?”

- “Còn có một đùi heo to tướng, 5 con gà, cá thịt hộp... tha hồ cho anh thi thố”.

Tuy nói vậy, chứ trong lòng tôi vẫn không yên. Tôi thấy trước rằng lương thực và thực phẩm không thể bảo đảm quá một tháng. Nếu thời gian kéo dài thì sẽ khó khăn.

Qua ngày thứ 20, Phái đoàn ta nhận được điện Trung ương, đồng ý cho rút về Hà Nội. Ủy ban Quốc tế và ngụy quyền đều biết tin này. Buổi sáng hôm đó, Ủy ban Quốc tế đến Phái đoàn ta báo tin và làm việc với đồng chí Long bàn kế hoạch và biện pháp để bảo vệ an toàn cho cơ quan. Sau đó đồng chí Long báo lại sự việc này cho anh em biết và ra lệnh chuẩn bị sẵn sàng trở về Hà Nội.

Về nội bộ, tôi thấy không có gì khó khăn. Mọi thứ đều được xếp vào thùng gỗ. Chỉ để lại hai ôtô nhờ Ủy ban Quốc tế chuyển về Hà Nội. Còn 20 giường sắt mượn của Pháp thì để nguyên tại chỗ. Mấy con chó quá khôn, cứ chạy quấn quýt theo chân anh em. Tuy anh Phạm Hùng cho phép mang về Hà Nội nhưng vì không làm kịp thủ tục xuất cảnh nên đành phải bỏ lại. Số tài sản trong nhà, từ trưa đến nửa đêm đã đem hết ra sau sân nhà, kể cả các thùng đồ dùng, thức ăn uống và chờ xe vào chở đi.

Đúng 4 giờ sáng ngày 17-5-1958, có 5 xe GMC đến trước, chạy thẳng vào sân nhà sau. Đồ đạc được xếp hết lên xe. Độ một giờ sau, khi trời còn nhá nhem tối, từng tốp người trong đó có Ủy ban Quốc tế, cảnh binh và công an mặc thường phục, đến trước cổng trụ sở. Có nhiều xe du lịch đang đậu chờ. Đồng chí Long đứng ngoài sân tiếp chuyện với Ủy ban Quốc tế. Sau đó ra lệnh cho anh em lên xe.

Đoàn xe gần 20 chiếc, nối đuôi nhau chạy lên sân bay Tân Sơn Nhất.

Vài giờ sau, chúng tôi đáp xuống sân bay Gia Lâm.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #32 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2023, 08:37:36 am »


BA NĂM HOẠT ĐỘNG CÔNG KHAI GIỮA SÀI GÒN
(Từ 17-5-1955 đến 17-5-1958)

HUỲNH MINH HIỂN


Thi hành Hiệp định Giơnevơ năm 1954, anh chị em ở văn phòng Trung ương Cục và Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam Bộ chuẩn bị tập kết ra miền Bắc. Còn tôi thì được phân công ở lại miền Nam công tác. Học xong lớp học về tình hình và nhiệm vụ mới dành cho cán bộ ở lại, tôi còn đang suy nghĩ cách bí mật trở về Sài Gòn thì được quyết định điều động đến công tác ở Phái đoàn Liên lạc Quân đội Nhân dân Việt Nam tại Sài Gòn. Như vậy tôi cũng về Sài Gòn, nhưng không phải về bí mật mà đàng hoàng công khai.

Phái đoàn liên lạc của ta ở Sài Gòn được hình thành tại Ủy ban Liên hợp đình chiến Nam Bộ có trụ sở ở Phụng Hiệp (Cần Thơ). Biên chế của Phái đoàn gồm khoảng 24 người, phần lớn là cán bộ Dân Chính Đảng và Ủy ban Liên hợp đinh chiến Nam Bộ chuyển sang. Anh Phạm Hùng trưởng Phái đoàn Việt Nam trong Ủy ban Liên hợp đình chiến Nam Bộ, được Trung ương chỉ định làm trưởng Phái đoàn Sài Gòn. Chúng tôi dùng quân phục từ Trung ương gửi vào. Đối với ta sau khi chuyển quân tập kết và giải thể chính quyền cách mạng ở miền Nam, sự có mặt của một “Phái đoàn Việt Minh” ở giữa Sài Gòn có ý nghĩa rất quan trọng. Ta muốn vào Sài Gòn trước ngày kết thúc chuyển quân tập kết nhưng phía Pháp còn giằng co nên đấu tranh.

Đã qua tháng 1 năm 1955, thời hạn 200 ngày sắp hết, công việc của Ủy ban Liên hợp đình chiến Nam Bộ sắp kết thúc và Phái đoàn Sài Gòn phải ra Hà Nội theo chuyến tàu tập kết cuối cùng tại bến sông Ông Đốc, vào chiều ngày 28-2-1955.

Anh Hai Đốc và tôi được ra Hà Nội trước để nghiên cứu tài liệu, chuẩn bị nắm bắt công việc ở Ủy ban Liên hợp đình chiến Trung ương. Vào xế chiều, một xe jeep của Pháp đưa hai chúng tôi đến sân bay Sóc Trăng. Đêm đó chúng tôi ngủ tại nhà khách của Pháp ở sân bay. Sáng hôm sau, một máy bay nhỏ có ba chỗ ngồi, đưa chúng tôi đến Tân Sơn Nhất. Máy bay không có cửa ra vào. Lật nắp đậy trên ra, chúng tôi leo lên cánh máy bay vào buồng lái. Anh Hai Đốc ngồi phía trước với phi công, còn tôi ngồi phía sau. Viên phi công trẻ người Pháp có thái độ rất hữu nghị. Đến Tân Sơn Nhất, chúng tôi chuyển sang máy bay lớn của Ủy ban Quốc tế ra Hà Nội. Từ sân bay Gia Lâm có xe đón chúng tôi về chỗ làm việc cũng là nhà riêng của Đại tá Hà Văn Lâu, trưởng Phái đoàn Việt Nam ở Ủy ban Liên hợp đình chiến Trung ương.

Lần đầu tiên đến Hà Nội giữa mùa đông, áo không đủ ấm. Tôi tuy còn trẻ nhưng chịu lạnh không quen.

Chúng tôi tìm đến nhà anh Phạm Văn Bạch, nguyên Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam Bộ mới ra Hà Nội nhận chức Thứ trưởng Bộ Nội vụ. Anh Bạch giới thiệu chúng tôi đi nhận chăn bông, áo ấm với ít tiền tiêu vặt.

Chúng tôi ăn cái tết đầu tiên ở miền Bắc tại nhà anh Hà Văn Lâu. Mới ra mà sao nhớ miền Nam quá! Ít hôm sau tết, toàn Phái đoàn ta từ Phụng Hiệp ra đến Hà Nội, được bố trí ở số 6 đường Lý Nam Đế, trong khu vực Bộ Quốc phòng.

Rốt cuộc rồi Pháp cũng ép được chính quyền Sài Gòn, chấp thuận Phái đoàn ta vào Sài Gòn. Ngày 31-3-1955, Pháp ký với ta Nghị định thư, xác định quy chế của Phái đoàn ta ở Sài Gòn. Qua thảo luận với phía Pháp, nhân sự Phái đoàn ta rút lại là 16 người. Anh Sơn Việt và anh Kha được phái vào Sài Gòn trước để cùng với phía Pháp chuẩn bị chỗ ăn ở và làm việc. Toàn Phái đoàn rất vui mừng được Bác Hồ tiếp ở Phủ Chủ tịch. Chúng tôi lần đầu tiên được gặp Bác. Bác căn dặn phải luôn luôn cảnh giác tránh đạn bọc đường. Mọi người hết sức phấn khởi, nhận rõ hơn trách nhiệm và vinh dự trong nhiệm vụ mới.

Ngày 17-5-1955, hai máy bav Dakota của quân đội Pháp đưa chúng tôi từ Gia Lâm đến Tân Sơn Nhất. Tại sân bay, xe của quân đội Pháp đưa chúng tôi về trụ sở Phái đoàn. Mấy ngày sau, Anh Phạm Hùng và anh Nguyễn Kim Cương vào theo máy bay của Ủy ban Quốc tế.

Tôi rời Sài Gòn từ tháng 9 năm 1945, đã qua 10 năm nay mới trở lại. Cảnh quan thay đổi nhiều, người đông đúc gấp mấy lần, xe hơi chạy nối đuôi nhau, thường kẹt xe ở ngã tư những đường chính. Trụ sở Phái đoàn là một ngôi nhà trệt, có dãy nhà phụ ở phía sau, nằm giữa một khuôn viên rộng, có tường rào bao quanh. Ngoài một cây thị cao ở sát rào phía sau, phần còn lại là sân cỏ trống trải. Nhân sự của Phái đoàn được tính toán với số người ít nhưng có thể đảm bảo mọi việc cần thiết. Có chuyên viên chính trị, có phiên dịch tiếng Pháp, tiếng Anh, có văn thư đánh máy, có cơ yếu, điện báo, có lái xe, thợ máy, y sĩ, bảo vệ, có người đủ khả năng tổ chức tiệc tại trụ sở Phái đoàn. Chúng tôi mang theo điện đài, máy phát điện, máy chiếu phim. Tuy từng người có chuyên môn riêng nhưng khi cần thì huy động cùng nhau làm.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #33 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2023, 08:38:30 am »


Theo quy chế, ta không được treo cờ bên ngoài trụ sở, cho nên ta treo một lá cờ và ảnh Bác Hồ to trên tường ở phòng khách giữa nhà, người đi lại ngoài đường nhìn qua cửa trước thấy rất rõ. Chúng tôi biết thế nào địch cũng đặt máy nghe trộm ở đâu đó, nhưng hai ngày đầu chưa tìm được. Những việc quan trọng, phải xuống nhà bếp nói với nhau. Sang ngày thứ ba, theo gợi ý của đồng chí Trưởng đoàn Ba Lan, anh Thuận tháo máy điện thoại đặt ở phòng làm việc của trưởng đoàn, phát hiện máy nghe trộm đặt trong đó. Ta lấy ra và cắt luôn dây. Mấy lần phía Pháp đề nghị cho người đến sửa chữa nhưng chúng ta từ chối, vì có thể sử dụng máy điện thoại đặt ở phòng ngoài đã được kiểm tra kỹ, không cần sửa máy điện thoại đặt trong phòng trưởng đoàn. Ta lắp ngay một đường dây điện dự phòng chạy máy nổ, để sẵn sàng cho chạy khi điện lưới bị cắt. Đã có lần mất điện giữa buổi tiệc chiêu đãi Ủy ban Quốc tế, không rõ do sự cố hay do địch phá. Nhưng chỉ một giây sau, điện dự phòng bật sáng.

Mỗi người trong Phái đoàn đều được trang bị súng ngắn loại colt 12 của Mỹ. Phần lớn anh em chưa sử dụng loại súng này, vì mới nhận ở Hà Nội rồi vào Sài Gòn ngay, không có thì giờ bắn thử. Một hôm anh Thuận mở súng ra lau chùi trong phòng điện đài, làm kẹt một viên đạn trên nòng, loay hoay chưa lấy ra được. Tôi đi qua đó, vào giúp lấy viên đạn ra, rồi chĩa súng lên trời bóp cò. Súng nổ, viên đạn xuyên thẳng nóc nhà. Thì ra lấy được viên đạn này thì còn một viên đạn nữa nhảy lên nòng.

Phái đoàn được bảo vệ chặt chẽ, do đối phương chịu trách nhiệm. Nhưng họ dùng sự bảo vệ đó để cách ly chúng ta với bên ngoài và kiểm soát mọi hoạt động của ta. Lính dù Pháp suốt ngày đêm đi phía trong tường rào quanh trụ sở. Cứ một tuần thì đổi quân. Một tiểu đội cảnh binh Pháp ở nhà bên cạnh, với nhiệm vụ giao thiệp và đáp ứng các yêu cầu của Phái đoàn. Hàng ngày, chúng theo hộ tống cán bộ ta đi làm việc bên ngoài trụ sở. Tiểu đội cảnh binh được bố trí ổn định, không thay đổi người, do một hạ sĩ quan chỉ huy. Phụ trách chung công việc bảo vệ cho Phái đoàn là một Đại úy Pháp. Phía chính quyền Sài Gòn bố trí hai nhóm cảnh sát: Bọn ở Catinat và bọn ở bót Gia Định đến ở một nhà gần đó. Theo quy chế, cán bộ ta khi đi làm việc thì mặc quân phục, còn anh em đi chợ, lo cho sinh hoạt của Phái đoàn thì mặc thường phục.

Tôi được phân công phụ trách văn phòng. Mỗi tuần tôi đến trụ sở Ủy ban Quốc tế một lần ở đường Champagne, nay là đường Lý Chính Thắng, để nhận công văn, thư từ và thỉnh thoảng trao đổi thông tin với đoàn Ba Lan. Tôi đi chiếc xe Vedette của Phái đoàn, phía trước là một xe jeep với ba cảnh binh Pháp dẫn đường, lẽo đẽo theo sau là một xe jeep với ba tên công an ngụy. Còn đi chợ thì không có xe của cảnh binh Pháp, mà chỉ có một xe của công an ngụy đi theo.

Có lần tôi đến gần trụ sở Ủy ban Quốc tế, thì gặp phải cuộc biểu tình “đả đảo Ủy ban Quốc tế”. Họ đứng bít đường, la ó om sòm. Xe tôi trờ tới sau đuôi đoàn biểu tình. Nhiều người thấy tôi mặc quân phục, đội mũ lưỡi trai có sao vàng nền đỏ ngồi trong xe. Họ có thể là người qua đường đứng xem hay bọn đi biểu tình. Tôi chỉ nghe được một tiếng nói nhỏ có vẻ ngượng nghịu: “Đả đảo Việt Cộng”. Không ai hưởng ứng, rồi êm luôn. Nhiều xe dồn tới phía sau, cảnh binh Pháp vất vả dẹp đường cho xe tôi quay lại, đi đường khác. Có lần tôi đến nhà riêng của các Trưởng đoàn Ấn Độ, Ba Lan và Canada để trao thiệp mời tiệc, nhân dịp Quốc khánh nước ta. Nhà riêng qua các Trưởng đoàn ở khu vực biệt thự “Chú Hỏa”. Tôi hơi ngạc nhiên khi Trưởng đoàn Canada đích thân mời tôi vào phòng khách, tiếp đón rất ân cần. Ông ta mấy lần đề cao Đại tá Hà Văn Lâu để tranh thủ cảm tình, sau đó thăm dò xem ta có quan hệ gì với Cao Đài, Hòa Hảo không. Chắc ông ta cho rằng, moi tin sĩ quan cấp thấp dễ hơn. Tôi nói không biết gì hơn những gì có trên báo chí. Khi ra về, xe cảnh binh Pháp dẫn xe tôi đi cửa sau, bỏ xe công an ngụy lại. Họ rất ghét và khinh bọn cảnh sát ngụy.

Khi Phái đoàn ta vào được vài ngày thì có người lấp ló ở ngoài hàng rào, phía sau nhà, chỗ gốc cây thị. Anh Phạm Chung chờ lúc tên lính gác đi vòng ra phía trước, để tranh thủ đi ra phía sau xem ai. Thì ra là anh Lê Duy Nhuận, lúc đó là cán bộ Xứ ủy Nam Bộ. Anh Phạm Chung bảo anh ấy đi, dặn đừng trở lại nữa. Nguyên tắc của ta là hoạt động bí mật và hoạt động công khai phải tách biệt. Việc này diễn ra trong nháy mắt.

Mấy hôm, tôi thấy sức khỏe sa sút, hình như có vấn đề gì. Mấy anh trong Đoàn ủy thu xếp cho tôi đi khám bệnh, xem đó là chuyện vặt nên không báo cáo cho anh Phạm Hùng. Anh Mai Văn Bộ đưa tôi đến một bác sĩ có phương tiện X quang, quen với anh từ trước. Đi như thế này thì mặc thường phục. Chắc họ không biết chúng tôi đang làm gì nhưng biết là từ kháng chiến mới về. Khám bệnh xong, bác sĩ nháy mắt cho cô y tá không thu tiền. Về đến nhà, bị anh Hai Hùng phê bình rất gay gắt. Lẽ ra phải về Hà Nội để khám hay trị bệnh. Đi như thế này có thể ảnh hưởng đến an toàn của bác sĩ.

Độ vài tuần sau, anh Phạm Hùng trở ra Hà Nội, anh Nguyễn Văn Vịnh vào thay thế. Đến tháng 10 năm 1956, anh Vịnh lại về Hà Nội. Anh Nguyễn Văn Long là Phó Trưởng đoàn thay mặt Trưởng đoàn giải quyết mọi công việc thuộc phạm vi của Phái đoàn.

Quan hệ giữa ta và Pháp khá bình thường. Do mắc nợ Mỹ quá nhiều và không còn khả năng duy trì quân viễn chinh ở Đông Dương, lại phải đối phó với cuộc nổi dậy ở Algérie nên Pháp phải nhượng lại miền Nam và Mỹ thay Pháp không mất nhiều công sức. Quân Pháp chuẩn bị cuốn gói về nước. Họ làm trách nhiệm với Phái đoàn ta cho qua ngày, không gây rắc rối gì cho ta. Nhưng Phái đoàn ta như cái gai đâm vào mắt của Mỹ - Diệm, chúng nhất định không để cho ta yên.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #34 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2023, 08:40:01 am »


Từ ngày Phái đoàn ta mới vào, đã thấy không khí căng thẳng ngày càng tăng. Người đem báo đến bán cho Phái đoàn ta hàng ngày, được vài tuần bỗng nhiên biến mất. Từ đó ta mua báo ở nhiều nơi, không mua ở một chỗ nữa. Một buổi tối khoảng 7 giờ, không biết do bọn nào tổ chức, có 5 chiếc xe GMC chở bọn lính ngụy trang thường dân và bọn lưu manh côn đồ đến giăng hàng ngang trước cổng trụ sở Phái đoàn ta, đồng loạt rọi đèn pha vào nhà và dùng loa chửi bới om sòm. Ta vẫn để đèn trong nhà sáng bình thường các cửa mở toang như không có việc gì xảy ra. Nhưng mọi người đều thủ súng ngắn, không ra ngoài, tránh mọi sự khiêu khích. Sau cùng chúng cũng phải rút đi.

Anh Ba Tòng, bị viêm ruột thừa cấp tính phải đưa đi mổ ở bệnh viện Grall. Hai tên công an ngụy canh gác ở cửa phòng bệnh suốt ngày đêm, cho đến khi anh ra viện. Còn anh Mười Tuân và anh Thình đi chợ Bến Thành bị mấy tên khủng bố dùng búa thợ bạc đánh bị thương, được đưa ra Hà Nội điều trị.

Phía Pháp giới thiệu cho ta một người làm vườn. Qua theo dõi, chúng ta biết y không phải người lao động chân tay. Cung cách ăn ở, làm việc và đối xử của chúng ta đã cảm hóa được y. Hắn thú thật là nhân viên phòng nhì, được cài vào trụ sở Phái đoàn ta để lấy tin tức, nhưng không làm được gì và sau đó ta cho nghỉ việc.

Mấy năm sống căng thẳng, không giao tiếp với bên ngoài. Có khi đi chợ anh em gặp người thân nhưng không dám nhận để tránh liên lụy. Để giải trí, làm giảm bớt căng thẳng thì có sách báo, cờ tướng, tulơkhơ, đá bóng, đánh bóng chuyền... Tối thứ bảy, chủ nhật có chiếu phim. Cứ vài tuần, anh Uyển mang phim mới từ Hà Nội vào. Tuy nhiên, cũng nhiều lúc mát lòng vì những tình cảm của đồng bào ở chung quanh trụ sở Phái đoàn ta đối với chúng tôi. Người qua lại, kín đáo nhìn ảnh Bác Hồ và lá cờ Tổ quốc treo giữa nhà. Có em nhỏ đi ngang qua cửa trụ sở đưa tay lên hô lớn: - “Anh Hai quyết thắng!”. Còn có em, nhô đầu lên khỏi tường rào, lúc ở đầu này, lúc ở đầu kia, đưa cao một con chó lông xù rất đẹp có ý tặng cho Phái đoàn. Chắc việc làm này là có người lớn ở phía sau. Có em thừa lúc lính gác đã đi ngang qua, leo nhanh vào tường rào trụ sở, chạy vào bên trong Phái đoàn, xin giao công tác: “Việc gì cũng được, em không sợ nguy hiểm”. Tất nhiên, phải giải thích để cho em trở ra. Anh em đi chợ gặp nhiều chuyện cảm động, vì tuy mặc thường phục mà đồng bào vẫn biết.

Đầu năm 1956, phần lớn quân Pháp rút về nước. Đến ngày 25-4-1956, Bộ Chỉ huy quân đội Pháp giải thể, Phái đoàn liên lạc của Pháp bên cạnh Ủy ban Quốc tế ở Hà Nội và Sài Gòn cũng giải thể. Chỉ còn lại Phái đoàn của chính quyền Ngụy ở Sài Gòn. Quân ngụy thay quân Pháp canh gác trụ sở của ta và càng tăng thêm sự bao vây, o ép.

Ngày 26-11-1956, Vũ Văn Mẫu, Bộ trưởng Ngoại giao chính quyền Sài Gòn gửi công hàm cho Đại sứ Ấn Độ Partharasathi, Chủ tịch Ủy ban Quốc tế, đặt vấn đề triệt thoái Phái đoàn ta ở Sài Gòn với lý do Phái đoàn Pháp bên cạnh Ủy ban Quốc tế tại Hà Nội đã giải thể. Chủ tịch Ủy ban Quốc tế hứa sẽ xem xét nhưng vẫn cố gắng kéo dài thời gian cho ta.

Ngày 7-11-1957, Hoàng Thụy Nam, Trưởng Phái đoàn ngụy, gửi công hàm cho Ủy ban Quốc tế thông báo, nếu các sĩ quan ta ra Hà Nội công tác sẽ không được trở vào Sài Gòn. Chính quyền Sài Gòn không chấp nhận sự tiếp tục có mặt của Phái đoàn ta.

Từ tháng 10 năm 1957, địch hạn chế việc ta đi chợ. Chúng đòi ta nộp ảnh và lý lịch, cho người đến trụ sở Phái đoàn ta, lấy dấu vân tay với lý do đổi giấy thông hành mới. Hai sĩ quan của Phái đoàn ta ra Hà Nội khi trở vào bị giữ tại sân bay, buộc phải quay về Hà Nội. Thêm một bước nữa, từ ngày 26-4-1958, không cho ta đi chợ. Ta phải sử dụng lương thực, thực phẩm dự trữ đã chuẩn bị từ trước.

Qua lời Đại sứ T.N. Kaul, Chủ tịch Ủy ban Quốc tế nói với anh Long ở buổi tiệc đứng tại nhà khách của Phái đoàn Ấn Độ, thì ta biết rằng Phái đoàn Ấn Độ, tất nhiên cả Phái đoàn Canada, không còn ủng hộ việc Phái đoàn ta ở lại Sài Gòn.

Duy trì sự có mặt của Phái đoàn ta ở Sài Gòn đến đây là cố gắng rất lớn, không có điều kiện kéo dài hơn nữa. Ngày 17-5-1958, toàn Phái đoàn ta rút về Hà Nội theo đường bay của Ủy ban Quốc tế. Quân ngụy và cảnh sát được bố trí dài theo từ trụ sở của Phái đoàn ta đến sân bay. Đồng bào đứng dài theo đường nhìn đoàn xe của Phái đoàn ta đi qua. Ủy ban Quốc tế có cả Chủ tịch Ấn Độ Kaul đã ra sân bay tiễn đưa Phái đoàn ta trở về Hà Nội. Anh Long thay mặt Phái đoàn từ biệt đồng bào.

Khi về đến Hà Nội, Bác Hồ đã gặp mặt Phái đoàn tại Phủ Chủ tịch. Bác nói:

- Các chú đã làm nhiệm vụ như vậy là tốt !

Không còn có gì quý hơn lời khen thưởng đó!
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #35 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2023, 08:45:47 am »


NHỚ LẠI PHÁI ĐOÀN SÀI GÒN

TRẦN HỮU NGHĨA


Tôi đang cộng tác tại phòng quân giới miền Tây Nam Bộ, được quyết định của Bộ Tư lệnh Quân khu 9, điều động đi nhận công tác lái xe cho Phái đoàn Liên hợp đình chiến Nam Bộ đóng tại Phụng Hiệp (Cần Thơ).

Qua mấy ngày chờ đợi, anh Phan Trọng Tuệ, Phó Trưởng Phái đoàn Ủy ban Liên hợp đình chiến gọi tôi đến giao nhiệm vụ ra Hà Nội nhận hai bộ máy chiếu phim 35 ly và 3 bộ phim: Công phá Bá Linh, Điện Biên Phủ và phim tư liệu về sinh hoạt của Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc. Tôi được anh Nguyễn Thế Đoàn và anh Mạnh, hướng dẫn chiếu phim hàng đêm, tại các vùng tập kết Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau. Rất đông đồng bào đi xem, hết lời ca ngợi quân đội Liên Xô chiến thắng phát xít Đức, rất phấn khởi xem hình ảnh quân dân miền Bắc chiến thắng quân Pháp ở Điện Biên Phủ. Qua hình ảnh Bác Hồ sống ở chiến khu Việt Bắc, đồng bào rất xót xa trìu mến, ước mong mau đến ngày độc lập thống nhất để được thấy Bác Hồ vào thăm miền Nam.

Đi chiếu phim hơn một tháng, tôi được lệnh bàn giao đoàn chiếu phim cho Sở Thông tin Văn hóa Nam Bộ để trở lại Phái đoàn Liên hợp Nam Bộ chờ nhận nhiệm vụ lái xe. Hết thời hạn tập kết, Phái đoàn Liên hợp đình chiến Nam Bộ theo chuyến tàu tập kết cuối cùng, chiếc Kilinski của Ba Lan rời bến sông Ông Đốc ngày 28-2-1955. Tôi được chứng kiến cảnh đồng bào tại chợ Cà Mau không cho gỡ ảnh Bác Hồ tại chợ. Chúng tôi ai cũng ngậm ngùi xúc động đến chảy nước mắt. Cán bộ tập kết đứng ra giải thích với đồng bào: “Cuộc chiến đấu vẫn tiếp tục, miền Nam nhất định sẽ được giải phóng, Tổ quốc nhất định sẽ thống nhất. Xin bà con cho phép tạm rước ảnh Bác Hồ, hẹn ngày tái ngộ”.

Nghe vậy, đồng bào mới trao ảnh Bác Hồ và trịnh trọng đưa xuống thuyền. Từ chợ Cà Mau ra Vàm Tắc Thủ, chúng tôi nhìn thấy nhiều thanh niên nam nữ tay cầm cờ đỏ sao vàng, chạy dọc bờ sông theo chúng tôi và hô to: “Hồ Chủ tịch muôn năm!... Hồ Chủ tịch muôn năm!...” Chúng tôi vẫy tay đáp lại tạm biệt, nước mắt mỗi người cứ trào ra, khăn tay ướt đẫm cho tới khi khuất dạng.

Tại cửa sông Ông Đốc, tàu Ba Lan sắp kéo neo rời bến. Tàu kéo ba lần còi nhưng không khởi hành được. Chúng tôi chạy lên boong tàu nhìn thấy nhiều thuyền máy chở đầy ắp đồng bào nối đuôi nhau chạy quanh tàu Kilinski. Lúc bấy giờ thuyền trưởng tàu Ba Lan nhờ phiên dịch Việt Nam gọi loa: “Xin bà con hãy về nhà an toàn hạnh phúc. Chúng tôi đến giờ phải đi, đưa cán bộ chiến sĩ Việt Nam ra miền Bắc. Hẹn ngày gặp lại mang chiến thắng trở về sum họp mọi gia đình”. Sau đó chụp ảnh kỷ niệm.

Khi chạy ngang sông Bến Hải, tàu giảm tốc độ kéo ba hồi còi chào tạm biệt. Nhiều thủy thủ Ba Lan bày tỏ cảm tưởng: “Việt Nam rất đẹp và anh hùng”. Họ hứa về nước, sẽ kể lại những sự kiện mắt thấy tai nghe ở Việt Nam cho đồng bào họ biết.

Chúng tôi ra Hà Nội chờ đến ngày 17-5-1955, thì Phái đoàn liên lạc Quân đội Nhân dân Việt Nam mới lên đường công tác. Máy bay của quân đội Pháp đưa chúng tôi từ sân bay Gia Lâm đến sân bay Tân Sơn Nhất, rồi xe GMC đưa chúng tôi về trụ sở Phái đoàn. Trong phòng khách của trụ sở có một tấm ảnh lớn và lá cờ đỏ sao vàng, được trịnh trọng đặt giữa nhà. Đồng bào quanh vùng, qua lại ngoài vòng rào ngôi nhà đều có thể nhìn rất rõ lá cờ tổ quốc và ảnh Bác Hồ. Tôi rất vui sướng hãnh điện, vì đây là địa chỉ đỏ đầu tiên tiến hành đấu tranh công khai trong lòng địch đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ, tổng tuyển cử thống nhất đất nước.

Để có phương tiện đi lại, trước tiên đồng chí Sơn Việt mua chiếc Citroen dùng đi chợ hàng ngày. Cuối tháng 5 năm 1955, Phái đoàn ta được tặng chiếc Vedette màu đen bóng nhoáng để đi làm việc với Ủy ban Quốc tế. Nhớ những lần đi công tác, xe hộ tống của cảnh binh Pháp chạy trước, kế đến là xe của Phái đoàn ta, xe sau là công an địch mặc sắc phục và cuối cùng là xe của công an mặc thường phục. Nhưng trên đường phố, mỗi khi biết chúng tôi là sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam, thì những ánh mắt đầy cảm tình của đồng bào sáng lên cùng với những nụ cười kín đáo. Có một lần xe chúng tôi đang chạy trên đường Galliéni, nay là Trần Hưng Đạo, có một xe taxi chạy nhanh vượt lên. Khi ngang tầm xe, anh tài xế taxi nói:

- “Các anh ơi, chạy chậm chậm cho chúng tôi nhìn đỡ khổ”.

Hàng năm để chào mừng các ngày lễ lớn, ngày Quốc khánh 2 tháng 9, ngày thành lập Quân đội 22 tháng 12, Phái đoàn ta mời Ủy ban Quốc tế đến trụ sở ta để chiếu phim chiêu đãi. Còn vào dịp đầu năm mới, ngày tết cổ truyền của dân tộc các anh ở Hà Nội mang vào cành đào thật đẹp chưng trước ảnh Bác Hồ để mừng Xuân mới. Tiếng lành đồn xa, đồng bào các tỉnh cũng như cơ sở cách mạng của ta dần dần cũng tìm ra được địa chỉ của Phái đoàn ta. Khi đi qua trụ sở Phái đoàn, nhiều người cố tình đi chậm lại để được nhìn rõ lá cờ đỏ sao vàng và ảnh Bác Hồ.

Để đảm bảo an toàn, anh em trong Phái đoàn luân phiên canh gác ngày cũng như đêm. Chúng tôi thường xuyên nhận được thư từ của đồng bào hoặc cơ sở ném qua hàng rào, tố cáo tội ác của địch vi phạm Hiệp định Giơnevơ, hoặc gửi lời chào mừng động viên chúng tôi. Đồng bào có người thân đi tập kết cũng gửi thư nhờ chúng tôi chuyển ra miền Bắc. Họ gói thư từ thành từng gói nhỏ rồi ném qua rào.

Sự có mặt của Phái đoàn ta trong lòng địch, như ngọn cờ kêu gọi đấu tranh chống ngụy quân ngụy quyền làm tay sai cho bọn xâm lược Mỹ, như cây đinh đâm vào mắt chúng. Chúng tổ chức khiêu khích, cho tay sai ném đá vào trụ sở Phái đoàn, hành hung sĩ quan ta đi chợ. Chúng cắt điện, cắt nước, thậm chí không cho đi chợ. Những sự kiện này xảy ra liên tiếp vào đầu năm 1958. Chính quyền Sài Gòn bằng nhiều cách gây sức ép với Ủy ban Quốc tế để đẩy Phái đoàn ta về Hà Nội.

Lãnh đạo Phái đoàn dự đoán âm mưu của địch sẽ bao vây không cho ta tiếp tế lương thực nên đồng chí Sơn Việt đã chuẩn bị dự trữ lương thực thực phẩm, chất đốt, nước uống và nước sinh hoạt, để có thể kéo dài thời gian có mặt của Phái đoàn ta trong lòng địch. Chúng tôi được lãnh đạo động viên giữ vững vị trí chiến đấu, hết sức cảnh giác để chống lại mọi âm mưu thủ đoạn thâm độc của địch. Chúng tôi sống rất căng thẳng, nhưng rất lạc quan biết rằng đồng bào cả nước theo dõi, ủng hộ chúng tôi.

Giữa tháng 5 năm 1958, Phái đoàn ta được lệnh của Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam rút về Hà Nội. Ngày 17-5-1958, Phái đoàn ta rời sân bay Tân Sơn Nhất, có mặt đủ số cán bộ đảng viên đã giữ vững vị trí chiến đấu của mình trong lòng địch suốt 1.095 ngày đêm.

Phái đoàn ta về Hà Nội được thu xếp nghỉ tại nhà khách Quân đội, được Bác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng cho phép gặp mặt tại Phủ Chủ tịch. Buổi gặp mặt diễn ra rất thân thương trìu mến.

Trong đoàn ai cũng chăm chú nhìn Bác, như các con về gặp lại người Cha già dân tộc trong đại gia đình. Bác thăm hỏi từng đồng chí trong đoàn. Bác nghe từng lời báo cáo tình hình của anh Long và vui vẻ hỏi:

- “Chú Nghĩa đâu?”. Tôi liền đáp:

- “Dạ kính thưa Bác, có cháu đây”.

- “Chú Nghĩa lái xe bảo vệ an toàn cho cán bộ đi đến nơi về đến chốn. Bác có lời khen”. Sau đó Bác nói với Thủ tướng Phạm Văn Đồng thu xếp cho Phái đoàn được đi nghỉ mát 15 ngày. Rồi toàn đoàn chụp ảnh lưu niệm với Bác Hồ. Mọi người đều xúc động, Bác bận trăm công nghìn việc mà vẫn thu xếp gặp Phái đoàn. Thật là niềm vinh dự lớn. Được nhìn thấy Bác khỏe mạnh hồng hào, ai ai cũng mừng thầm, lắng nghe những lời Bác hỏi thăm đồng bào miền Nam nhất là đồng bào Sài Gòn. Chúng tôi biết là Bác luôn luôn hướng về miền Nam ruột thịt. Toàn đoàn hứa quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ, để không phụ lòng Bác.

Sau 15 ngày nghỉ mát ở Đồ Sơn trở về Hà Nội, tuần tự từng đồng chí nhận quyết định mới. Phần tôi được về nhận nhiệm vụ tại Sư đoàn 350 bảo vệ Thủ đô.

Nhớ lại buổi chia tay thật lưu luyến tình đồng chí. Chúng tôi ôm chầm lấy nhau ôn lại thời gian ba năm sống chung, công tác tại Phái đoàn Sài Gòn, vui buồn có nhau, đoàn kết như anh em một nhà, lúc ốm đau có anh Hạnh y sĩ chăm sóc chu đáo. Cán bộ khi đi công tác về muộn có chú Mười Tuân để dành cơm lành canh ngọt, bồi dưỡng tận tình, xe cộ hỏng có chú Tư Thình sửa chữa phục hồi nhanh chóng, các anh điện đài mật mã làm việc không quản mệt nhọc, các anh phiên dịch làm việc ngày đêm căng thẳng bảo đảm chính xác, v.v.. Chú Ba Tòng đau ruột thừa thập tử nhất sinh, được đưa đi cứu chữa ở bệnh viện Đồn Đất. Chú Mười Tuân và chú Tư Thình bị địch hành hung đã được anh Hạnh tận tình chăm sóc và đưa ra Hà Nội chữa trị. Những sự cố đó đều được lãnh đạo Phái đoàn can thiệp với Ủy ban Quốc tế và lo lắng chu toàn.

Riêng tôi sống chiến đấu và công tác tại Phái đoàn, được học tập gương người tốt việc tốt của từng thành viên, của Trưởng Phó đoàn và các chuyên viên. Các anh đã ân cần truyền lại những bài học cảnh giác bí mật, trước mọi âm mưu thủ đoạn của địch, giáo dục ý chí chiến đấu bằng sự trung thành tuyệt đối, rèn luyện quan điểm quần chúng, đi dân nhớ, ở dân thương...
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #36 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2023, 08:48:39 am »


HƠN BA NĂM CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI TRONG LÒNG ĐỊCH

TRỊNH NGỌC THÁI


Đầu năm 1954, ta thắng to ở Điện Biên Phủ. Ngày 20-7-1954, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp tại Việt Nam và trên toàn cõi Đông Dương, đánh dấu một bước thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ. Cách mạng chuyển sang giai đoạn mới, từ đấu tranh vũ trang sang đấu tranh chính trị để giành độc lập hoàn toàn và thống nhất Tổ quốc.

Tôi chuyển về công tác ở Sở Giáo dục Liên khu 4 từ đầu năm 1954. Một hôm, nhận được quyết định của cấp trên, cử tôi cùng với một đồng chí khác ra Việt Bắc tham dự lớp huấn luyện về nội dung Hiệp định Giơnevơ, về thắng lợi của ta và thất bại của địch, về phương hướng đấu tranh trong thời gian tới.

Tham dự lớp huấn luyện có nhiều đồng chí từ nhiều địa phương khác đến. Trong lớp huấn luyện này, chúng tôi ôn lại tiếng Anh và tiếng Pháp, chuẩn bị tham gia vào đội ngũ cán bộ đấu tranh thi hành Hiệp định Giơnevơ, để có thể tiếp xúc với quân đội Pháp và Ủy ban Quốc tế gồm có Ấn Độ, Ba Lan và Canađa.

Sau khi mãn khóa, tôi tham gia đoàn đi đón Ủy ban Quốc tế theo đường từ Lạng Sơn rồi sang Bằng Tường (Trupg Quốc) và trở về bằng xe hơi, từ Bằng Tường đến Thái Nguyên và ở trên đồi thông gần Thị xã.

Chỗ ở của Ủy ban Quốc tế là mấy dãy nhà lợp tranh. Mỗi nhà được ngăn nhiều phòng bằng các liếp tre đan thành phòng ngủ, phòng ăn, phòng làm việc. Giường ngủ cũng có nệm, có khăn hoa trải giường. Nền nhà bằng đất nện, mỗi nhà có một chum nước bên cạnh đặt một chậu sắt tráng men, có khăn mặt, xà phòng thơm.

Ngày 10-10-1954, quân đội viễn chinh Pháp rút khỏi Hà Nội. Ngày hôm sau, Đại quân ta vào tiếp quản Thủ đô.

Ra đi từ năm ,1946, 9 năm trôi qua tôi mới được trở về Hà Nội trong nỗi vui mừng và hồi hộp. Từ Thái Nguyên, xe chạy qua Trung Giã sang cầu Long Biên. Tôi xao xuyến nhìn xuống sông Hồng quen thuộc, nước đỏ phù sa. Hà Nội đây rồi, với Hồ Gươm, Hồ Tây và 36 phố phường đầy ắp những kỷ niệm từ thời niên thiếu. Tôi ở chung với một số anh em khác tại một căn nhà trên phố Ngô Quyền, nay là văn phòng Bộ Văn hóa Thông tin. Gia đình tôi trước ngày Toàn quốc kháng chiến ở tại số 30 Hàng Tre cách đây không xa. Cả gia đình ra đi theo kháng chiến, không biết ai còn ai mất.

Về Hà Nội, nhưng kỷ luật tiếp quản chưa cho phép được về thăm nhà, cũng chưa được gặp người thân sống trong vùng bị giặc tạm chiếm nên chỉ có thể đi ngang qua mà nhìn vào căn nhà quen thuộc cho đỡ nhớ mà thôi. Vài hôm sau khi về Hà Nội, tôi được điều động đi cùng với anh Đỗ Như Chung sang làm việc trong Ủy ban Liên hợp ở Lào. Máy bay của Quân đội Pháp đã đưa chúng tôi đến Cánh Đồng Chum. Đến đây anh Chung đi Phong Xa Lỵ, còn tôi về Sầm Nưa bằng trực thăng, Sầm Nưa là tỉnh giải phóng của Pathét Lào. Nhưng ở Sốp Hào, còn một căn cứ của bọn thổ phỉ do Pháp trang bị, đang đóng quân. Tôi đã nhiều lần đến điều tra với Tổ Quốc tế đòi chúng phải rút. Ở Sầm Nưa, chúng tôi nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của anh Thao Ma (tỉnh trưởng), anh Cheo Xúc (chánh văn phòng) và chị Keo, nên có nhiều thuận lợi trong khi làm việc với Ủy ban Quốc tế.

Ít lâu sau, tôi được lệnh vào Sài Gòn làm việc với tổ 47 của Ủy ban Quốc tế, đi điều tra việc thi hành Điều 14C Hiệp định Giơnevơ với tên mới là Nguyễn Văn Hoa. Tôi được phát một bộ quân phục. Khi đó trang bị của Quân đội ta chưa có quân hàm, chỉ có quân hiệu của Quân đội nhân dân Việt Nam trên mũ lưỡi trai. Tôi chọn bộ quần áo số 3 là số nhỏ nhất nhưng vẫn phải chữa lại mới mặc được.

Vẫn chiếc máy bay quân sự với tốc độ 300 km/giờ đưa chúng tôi từ sân bay Gia Lâm đến Viên Chăn qua Phnôm Pênh rồi hạ cánh xuống Tân Sơn Nhất. Sau đó tôi được đưa đến khách sạn Galliéni ở ngã tư Galliéni và Huỳnh Quang Tiên. Lúc đó tôi thấy khách sạn khá to, nhưng sau ngày giải phóng, tôi đến nơi đây tìm mãi mới nhận ra được vì ngôi nhà này bị lọt thỏm giữa các nhà cao tầng chung quanh.

Tôi làm việc với anh Đặng Sĩ Hùng người miền Nam, sĩ quan liên lạc của Quân đội ta từ Phụng Hiệp lên. Chúng tôi ở cùng khách sạn với đoàn Ba Lan.

Hằng ngày chúng tôi làm việc với Tổ Quốc tế về những vi phạm Điều 14C Hiệp định Giơnevơ của phía Pháp. Chúng không chịu trao trả tù binh và tù chính trị. Theo đơn tố cáo của ta, chúng vẫn tiếp tục giam giữ anh chị em ở nhà lao Côn Đảo và khám Chí Hòa.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #37 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2023, 08:50:30 am »


Lần đầu tiên, tôi được đưa ra Côn Đảo với Tổ điều tra của Ủy ban Quốc tế, bằng tàu thủy của Quân đội Pháp. Từ lâu tôi đã nghe nói đến Côn Đảo là nơi khét tiếng tàn ác, tra tấn tù nhân hết sức khủng khiếp. Khi tàu cặp bến, bọn chúa đảo cho người xuống tàu xách valy chúng tôi lên bờ. Tôi và anh Đặng Sĩ Hùng ở một villa nhỏ nằm sát bờ biển. Từ hiên nhà có thể nhìn ra biển mênh mông. Tôi nhớ đến những mẩu chuyện về các đồng chí chúng ta đã dùng bè gỗ ghép lại, vượt biển trốn khỏi nhà tù trở về đất liền để tiếp tục hoạt động. Thật là mạo hiểm và dũng cảm.

Ngay tối hôm đó, tên chúa đảo mở tiệc rượu chiêu đãi Ủy ban Quốc tế. Có các món ăn đặc sản như bánh bao thịt dơi, trứng vích... Tôi chưa bao giờ ăn các món này nên ngài ngại. Nhưng thử thì thấy cũng ăn được.

Đảng và Bác Hồ vẫn luôn hiện điện trong tim tù chính trị. Anh chị em tù nhân tìm cách liên lạc với chúng tôi, nhờ chuyển thư và quà cho Trung ương Đảng và Bác Hồ. Đó là cái gọng kính bằng đồi mồi và một vài thứ khác. Thật là cảm động. Điều quan trọng là họ đã chuyển đến cho chúng tôi, danh sách tù binh và tù chính trị hiện còn đang bị giam giữ. Bọn địch đã đưa cho chúng tôi bản danh sách tù thường phạm mà chúng đã trà trộn tù binh và tù chính trị, để tiếp tục giam giữ các đồng chí chúng ta, không chịu trao trả như Hiệp định Giơnevơ quy định.

Có trường hợp, các đồng chí chúng ta vào nhà sĩ quan Pháp hay ngụy nhằm tiêu diệt chúng, nhưng khi việc không thành bị bắt thì khai là vào nhà ăn trộm để được hưởng án nhẹ hơn. Nay ta đòi chúng phải trao trả thì phải có bằng chứng. Và khi Tổ quốc tế đến điều tra thì phải phản cung. Anh em phải khai lại và khớp với đơn tố cáo của ta. Có trường hợp địch chuyển các đồng chí ta sang nhà lao khác, làm cho mất tăm tích để Tổ Quốc tế không thể đến điều tra được. Ngược lại bọn tội phạm hình sự lợi dụng lúc này, khai là tù chính trị để được thả. Vì ta đã biết nên không chấp nhận. Đã có lần chúng lập Tổ Quốc tế giả để phát hiện tù chính trị thật sự, nhằm mục đích trả thù khủng bố, đe dọa anh chị em tù không cho phản cung.

Nhờ những thông tin chính xác của bạn bè và sự khôn khéo của ta, nên hằng chục tù binh và tù chính trị đang bị giam giữ trái phép đã được trao trả. Nhiều anh chị bị đánh đập, bị giam giữ lâu năm, nên khi hỏi cung phải nằm trên giường và khi được trao trả, ra miền Bắc, phải vào bệnh viện điều trị hằng năm trời.

Vào năm 1955, tình hình miền Nam ngày càng căng thẳng. Mỹ hất cẳng Pháp, đưa Ngô Đình Diệm làm Tổng thống. Chúng tiến hành tố cộng, lùng bắt và tiêu diệt các cơ sở cách mạng hòng biến miền Nam thành căn cứ quân sự và thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Vì vậy, ta đặt Phái đoàn liên lạc Quân đội nhân dân Việt Nam ở Sài Gòn thì chẳng khác nào cắm một cây gai vào mắt chúng.

Chúng ra sức gây khó khăn nhưng ta kiến trì đấu tranh nên ngày 31-3-1955, ta và Pháp đã ký Nghị định thư thành lập Phái đoàn ta ở Sài Gòn. Và ngày 17-5-1955, thì Phái đoàn ta mới vào. Trụ sở của Phái đoàn nằm trên đường Chi Lăng (Gia Định).

Đó là một villa vừa phải do các anh Sơn Việt và Kha chọn khi đi tiền trạm. Nhà nằm cách đường Chi Lăng khoảng chục mét, điện tích khoảng 200 mét vuông. Chung quanh có tường rào bằng gạch. Phía trước là hàng rào song sắt nên đi ngoài đường vẫn có thể nhìn vào nhà được. Ngôi nhà chính có nền cao là nơi làm việc. Phía sau có dãy nhà phụ, có bếp ở giữa và gara ôtô bên cạnh. Nhà chính và nhà phụ nối bằng một hành lang rộng mát, là nơi anh em thường ngồi ăn cơm, nói chuyện, đánh tú lơ khơ hoặc cờ tướng. Chung quanh nhà có vườn. Bên hông có đường đi. Thông thường vào buổi chiều, chúng tôi ra phía sau nhà đá bóng rồi tắm rửa trước khi ăn cơm tối. Phía trước có cây xoài lâu năm, phía sau có cây thị cổ thụ. Ngoài ra còn có khoảnh đất trống để trồng rau.

Ngoài cổng có 3 - 4 loại lính của Pháp và ngụy mượn cớ canh gác nhằm theo dõi hoạt động của Phái đoàn ta, ngăn cản nhân dân tiếp xúc. Chúng không muốn để nhiều người biết sự có mặt Phái đoàn ta ở Sài Gòn. Chúng ra sức hạn chế sự đi lại của ta. Mỗi lần cán bộ ta đi công tác bên ngoài trụ sở thì có xe cảnh binh đi trước, xe cảnh sát ngụy theo sau. Khi chúng ta xuống xe đi vào phố hoặc đi chợ, thì mấy tên lính kín lẽo đẽo theo sau.

Tuy Phái đoàn ta đã có mặt ở Sài Gòn, nhưng tôi và anh Đặng Sĩ Hùng vẫn ở khách sạn Galliéni vì chúng tôi đi với Tổ của Ủy ban Quốc tế.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #38 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2023, 08:51:21 am »


Ngày 20-7-1955, kỷ niệm một năm ký kết Hiệp định Giơnevơ, ngày mà ngụy quyền xem là ngày “quốc hận”, chúng cho tay sai đến uy hiếp và khủng bố Ủy ban Quốc tế đang ở tại khách sạn Galliéni. Các bạn Ba Lan và chúng tôi dự đoán rằng chúng sẽ đến giở thói côn đồ. Chúng tôi chuẩn bị đối phó, quyết chống cự đến cùng kể cả khi phải hy sinh. Chúng tôi đốt tài liệu, dùng cọc màn làm vũ khí và kéo tủ đứng ra ngoài hành lang, ngăn chặn không cho chúng tràn đến phòng chúng tôi. Anh chị em lao công phục vụ khách sạn có nhiều cảm tình với ta. Họ lo sợ chúng tôi bị hành hung nên mang quần áo thường phục đến để chúng tôi thay bộ quân phục, rồi trà trộn trong số anh em phục vụ thoát ra ngoài. Chúng tôi giải thích, sự có mặt của chúng tôi là hợp pháp và chúng tôi là sĩ quan của Quân đội Nhân dân Việt Nam nên không thể làm như thế được. Quân đội Liên hiệp Pháp có trách nhiệm bảo vệ chúng tôi.

Chúng tôi gọi điện cho Ủy ban Quốc tế và Bộ Chỉ huy Liên hiệp Pháp thông báo về việc này và yêu cầu họ can thiệp.

9 giờ sáng, bọn côn đồ, có cả lính ngụy cải trang thành dân thường, tập trung dưới lòng đường, phát loa phóng thanh kêu gọi biểu tình và hô các khẩu hiệu phản động. Sau đó chúng xông vào khách sạn. Nhưng chúng không vào được cửa chính vì có bọn lính Âu Phi thuộc Quân đội Liên hiệp Pháp án ngữ. Bọn côn đồ trèo qua lầu các nhà chung quanh, rồi từ trên cao leo sang khách sạn. Các bạn Ba Lan dồn hết xuống tầng một là nơi có phòng ở của chúng tôi và cũng tìm cách chống lại bọn côn đồ khi chúng xâm nhập. Lính Âu Phi từ tầng trệt được điều lên tầng một, đặt súng liên thanh tại hành lang. Bọn côn đồ không dám xông đến phòng chúng tôi bèn chuyển sang cướp bóc đồ đạc trong khách sạn.

Đến chiều tối, bọn Pháp đưa xe đến đón. Từ phòng, chúng tôi xuống cửa khách sạn đi giữa hai hàng lính Âu Phi dàn thành hành lang bảo vệ. Chúng đưa chúng tôi về Gò Vấp tạm trú tại một bệnh viện (nay là Bệnh viện 175). Ngày hôm sau, chúng tôi về khu nhà Chú Hỏa, gầm có 7 villa, là nơi làm việc và ăn ở của Ủy ban Quốc tế.

Mấy ngày sau đó, anh Đặng Sĩ Hùng và tôi được chuyển về trụ sở Phái đoàn ta. Sau đó anh Hùng được chuyển ra Hà Nội, còn tôi thì tiếp tục công tác trong Phái đoàn Sài Gòn cho đến ngày Phái đoàn được lệnh rút về Hà Nội. Sau đúng 3 năm, tức là 1095 ngày đêm, Phái đoàn ta có mặt ở Sài Gòn.

Hằng ngày tôi tham gia điểm báo, viết và dịch tài liệu, công văn. Thỉnh thoảng được đi ra phố, đến trụ sở Ủy ban Quốc tế hay đi với các đồng chí làm nhiệm vụ hậu cần. Kỷ luật trong cơ quan không được tiếp xúc người thân và người quen cũ. Tôi là người miền Bắc nên ít có người thân quen ở Sài Gòn như các anh em khác. Thế mà cũng có lúc gặp người quen di cư vào đây phải cố gắng không để lộ.

Anh em gặp người thân ngoài phố, chỉ nhìn nhau rồi tìm cách ra hiệu thật kín đáo. Nếu tiếp xúc hay để lộ có quen biết nhau sẽ có hại cho họ. Tôi nhớ chuyện thương tâm và cảm động của anh Mười Tuân. Anh là người nấu bếp giỏi. Trước đây, anh có làm ở khách sạn của Pháp. Một hôm đi chợ về, lẽ ra anh phải vào bếp nấu ăn thì lại chạy về phòng mình nằm khóc. Hôm nay, anh gặp chị mà hai người không nói với nhau được câu nào. Trong kháng chiến, chị hoạt động trong thành phố, anh ra chiến khu. Hai vợ chồng gặp lại mà không dám nhìn nhau. Có lẽ, vì biết anh hay đi chợ nên đã đóng giả làm người bán thịt ngồi chờ. Khi anh đến mua, chị gói thịt cho anh mà không lấy tiền, về đến nhà, mở gói thịt ra mới thấy trong đó có tiền của chị gửi cho anh. Chị buôn bán vặt để có điều kiện hoạt động, đời sống khó khăn có dư dật gì đâu. Anh cầm tiền mà nước mắt tuôn trào.

Từ đó trở đi, anh không gặp lại chị nữa.

Có hôm đi chợ Bến Thành - Sài Gòn, hai anh Mười Tuân và Mười Thình bị bọn ngụy bố trí cho côn đồ tấn công bằng búa. Rồi chúng bỏ chạy, vứt lại cái búa gây án. Anh Mười Tuân thì bị thương ở đầu, còn anh Mười Thình thì gãy răng. Đồng bào trong chợ xúm lại chăm sóc hai anh, còn bọn cảnh sát theo bảo vệ thì lảng ra xa. Hai anh được vào bệnh viện điều trị mấy hôm, sau đó ra Hà Nội vào Bệnh viện 108 mất mấy tháng. Còn cái búa gây án nay được trưng bày tại Viện bảo tàng Cách mạng ở Hà Nội.

Cũng nói thêm là khi anh Mười Tuân ra miền Bắc, được bố trí của anh Nguyễn Thọ Chân, anh làm Giám đốc Nhà khách Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh). Không ngờ khi có Hội nghị Pari về Việt Nam vào giữa năm 1968, chúng tôi gặp nhau, cùng làm việc trong Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Anh vẫn giản dị, nhiệt tình với nhiệm vụ nấu bếp như trước kia. Anh rất tự hào về món rượu cocktail của mình. Trong một cái bình có nắp kín bằng inox bóng nhoáng, anh pha trộn một số loại rượu, rồi đưa bình lên xuống, ngang dọc, lúc bằng hai tay lúc chỉ một tay như một nghệ sĩ xiếc.

Anh Mười Tuân đã mất trong một chuyến đi công tác nước ngoài. Nhớ anh, tôi cầm lòng nghĩ đến một đồng chí giản dị, khiêm tốn, thương yêu đồng đội. Anh đã hy sinh cả cuộc đời mình cho nhiệm vụ mà Đảng giao phó.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #39 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2023, 08:51:51 am »


Trong điều kiện công tác khó khăn do địch dùng mọi thủ đoạn để chống phá ta như vậy, ngoài công tác nghiệp vụ, chúng tôi còn phải tổ chức canh gác 24/24. Ban đêm luân phiên mỗi người một tiếng, trừ trưởng đoàn. Chúng tôi đi tuần tra chung quanh nhà ở. Ngoài hàng rào và 4 góc tường đều có đèn sáng suốt đêm. Có máy nổ dự phòng khi bị cắt điện. Trong cơ quan có nuôi chó để giữ nhà. Mỗi lần đến phiên gác, tôi mặc quân phục chỉnh tề, đeo súng ngắn và mang theo đèn pin. Không khí rất căng thẳng, có lúc nghe tiếng một quả xoài rơi từ trên cây xuống cũng giật mình.

Ngoài sân trước trụ sở không có cột cờ, nhưng ngay bên trong phòng khách chính có treo trên tường lá cờ đỏ sao vàng lớn, dưới là ảnh Bác Hồ để trên tủ buffet. Do sân hẹp hành lang trống trải, hàng rào song sắt nên bà con đi ngoài đường có thể nhìn rõ cờ và ảnh. Các cô chú và các cháu mỗi lần qua lại trước trụ sở đều đi chậm để ngắm nhìn. Có những cô bác từ miền Trung và các tỉnh Nam Bộ có dịp lên Sài Gòn cũng đến xem trụ sở Phái đoàn ta.

Hằng tuần cơ quan tổ chức chiếu phim cho anh em xem hoặc chiêu đãi khách quốc tế. Đồng bào tụ tập ngoài hàng rào để xem, tuy không rõ nhưng vẫn cứ xem. Thỉnh thoảng bọn lính lại đuổi. Có những phim hay như: Công phá Bá Linh, Chiến thắng Điện Biên Phủ, phim về Bác Hồ, v.v.. Bọn lính gác cũng đứng xem.

Thỉnh thoảng cũng có người ngoài vào cơ quan để chuyên chở hàng hóa. Đó là dịp để có thể trò chuyện với anh em trong cơ quan một lúc. Có lần chúng cài mật thám vào làm vườn. Nhưng vì cảm phục trước thái độ của ta, anh ta đã khai thật là người của Tổng nha cảnh sát đến và nghỉ việc.

Ngày 20-7-1956 trôi qua mà không có Tổng tuyển cử. Mỹ - Diệm ra sức đàn áp những người tiến bộ. Chúng hạn chế hoạt động của Ủy ban Quốc tế và Phái đoàn ta, hạn chế đi lại, bao vây cơ quan chặt chẽ hơn trước, đưa ra những đòi hỏi không thể chấp nhận, để ta không thể đi chợ mua lương thực và thực phẩm được. Chúng đặt máy nghe trộm, bị ta phát hiện. Chúng cắt nước cắt điện, khóa cổng trụ sở không cho ra vào. Có lần chúng huy động hàng trăm tên côn đồ đến bao vây trụ sở, ném đá vào nhà, xô ngã cánh cổng sắt, hò hét chửi bới, viết khẩu hiệu bậy bạ vào tường đòi Phái đoàn rút về miền Bắc. Chúng dọa bắt hết cán bộ trong Phái đoàn, giam giữ đánh đập, rồi trả ra miền Bắc. Anh em trong cơ quan chuẩn bị sẵn sàng đối phó, giữ vững vị trí cho đến cùng. Lần khác, chúng bắn lén vào cơ quan định ám hại đồng chí của ta... Tất cả chúng tôi đoàn kết nhất trí, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ.

Để có thể duy trì sự có mặt lâu dài của chúng ta, anh em đã xây bể dự trữ nước, dự trữ gạo và thực phẩm, trồng rau tự túc có cải bẹ, xu hào, đu đủ, mùng tơi, rau muống. Điện đài luôn sẵn sàng liên lạc với Trung ương. Anh Mười Tuân cân đong đo đếm sao cho đủ khẩu phần mà không phải đi chợ. Bụng tuy đói nhưng anh em vẫn phải tỏ ra đàng hoàng, sinh hoạt bình thường, làm việc nghiêm túc. Sau giờ làm việc buổi chiều, anh em vẫn ra sân đá bóng. Anh Hoàn thì gầy ốm xương sườn dô ra, anh Mười Thình thì bụng to như có chửa... thủ trưởng Nguyễn Văn Long người tròn chắc nịch là hăng hái nhất. Mỗi lần đá được bóng vào gôn, anh phà lên cười thỏa thích. Sau đá bóng, chúng tôi tắm chung trong một buồng tắm, thoải mái đùa giỡn với nhau. Làm như vậy, để bọn địch thấy rằng ta vẫn trơ ra đấy và sẽ kiên cường bám trụ. Đối với tôi, thời gian công tác ở Phái đoàn Sài Gòn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đó là thời gian tôi được kết nạp vào Đảng. Anh Phạm Chung, và Mai Văn Bộ là hai đảng viên giới thiệu. Trong lòng địch, dưới lá Quốc kỳ và Đảng kỳ, tôi đã được kết nạp Đảng. Đến nay đã trên 40 tuổi Đảng, mà hình ảnh đó vẫn còn rạng rỡ trong lòng.

Đến năm 1958, tình hình đã khác hẳn, Hiệp định Giơnevơ đã bị phá hoại, Tổng tuyển cử không diễn ra, đồng bào miền Nam bị khủng bố, bị đàn áp dã man. Mỹ - Diệm tuyên bố không ký nên không thi hành Hiệp định Giơnevơ. Chúng vô hiệu hóa hoạt động của Ủy ban Quốc tế. Trung ương Đảng ra lệnh cho Phái đoàn rút về Hà Nội vào ngày 17-5-1958. Phái đoàn ta đã chuẩn bị chu đáo ra đi với tư thế đàng hoàng. Từ trước cổng trụ sở đến sân bay Tân Sơn Nhất, đồng bào đứng dọc hai bên đường lưu luyến tiễn đưa. Vài giờ sau máy bay đáp xuống sân bay Gia Lâm an toàn.

Đông đảo đồng bào, đại diện Bộ Tổng tư lệnh và Ban Liên hợp Trung ương, ra sân bay đón đoàn. Chúng tôi được Bác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp tại Phủ Chủ tịch. Sau đó chụp chung ảnh lưu niệm. Bác Hồ khen Phái đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ của Trung ương giao thế là tốt. Không thể có niềm vui nào hơn thế.

Tuy thời gian không dài nhưng những năm công tác ở Sài Gòn đối với tôi là thời gian rèn luyện đầy thử thách. Đến nay, gần một nửa số người trong Phái đoàn đã mất, anh em còn lại cũng đã 70-80 tuổi, hầu hết đã nghỉ hưu. Nhưng chắc chắn là đối với mỗi người, những ngày ở Sài Gòn mãi mãi còn lại trong lòng những tình cảm và kỷ niệm không thể nào quên.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM