Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:28:13 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7  (Đọc 14184 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #40 vào lúc: 05 Tháng Bảy, 2023, 09:59:40 am »

ANH HÙNG PHẠM DẬU
(TỨC CÚC)


Phạm Dậu (tức Cúc) sinh năm 1932, dân tộc Kinh, quê ở xã Bình Hòa, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, tham gia cách mạng tháng 2 năm 1962. Trong kháng chiến chống Mỹ (1964-1975) đồng chí là xã đội trưởng xã Bình Hòa, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Đồng chí là thương binh 3/4 đã nghỉ hưu năm 1983, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Phạm Dậu sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo, cuộc sống cực khổ, phải đi làm thuê để sinh sống. Năm 1962, đồng chí tham gia hoạt động bí mật ở địa phương, nắm tình hình cung cấp cho cách mạng và xây dựng cơ sở bên trong, đến tháng 3 năm 1964, Phạm Dậu tham gia du kích, liên tục chiến đấu từ chiến sĩ lên đội trưởng vũ trang và xã đội trưởng. Đồng chí đã chiến đấu và chỉ huy đơn vị chiến đấu 467 trận lớn nhỏ, tự tay diệt 180 tên địch (phần lớn là lính Mỹ và lính Nam Triều Tiên), loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên. Có trận Phạm Dậu dùng mìn diệt gọn 1 trung đội Mỹ và bọn hội đồng xã giữa ban ngày. Trong quá trình chiến đấu đồng chí đã bắn cháy 7 xe quân sự, bắn rơi 1 máy bay, thu 67 súng, gọi hàng và bắt sống 39 tên, góp phần tạo được thế cho phong trào cách mạng của nhân dân địa phương đấu tranh giành thắng lợi trên các mặt.


Từ tháng 3 năm 1972 đến tháng 11 năm 1977, Phạm Dậu là phó bí thư Đảng ủy xã, đồng chí liên tục bám dân chỉ đạo phong trào chiến tranh du kích của xã phát triển mạnh.


Từ cuối năm 1977, đến lúc nghỉ hưu, với cương vị là Chủ tịch ủy ban nhân dân xã, mặc dù là thương binh 3/4 cụt một chân nhưng đồng chí đã phát huy tốt bản chất người chiến sĩ cách mạng cùng đảng bộ chính quyền địa phương lãnh đạo nhiệm vụ kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng vững mạnh, được nhân dân tin yêu, mến phục.


Phạm Dậu đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công hạng ba, 1 Dũng sĩ diệt Mỹ, 1 Dũng sĩ diệt xe cơ giới và nhiều bằng khen của huyện và tinh.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Phạm Dậu được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #41 vào lúc: 05 Tháng Bảy, 2023, 10:00:20 am »

ANH HÙNG TRẦN DŨNG
(TỨC BẢY CAO)


Trần Dũng (tức Bảy Cao) sinh năm 1925, dân tộc Kinh, quê ở xã Đức Chánh, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, nhập ngũ tháng 9 năm 1947.


Trong kháng chiến chống Pháp đồng chí làm quân báo. Trong kháng chiến chống Mỹ đồng chí là cán bộ giao liên tỉnh Kon Tum. Hiện nay Trần Dũng là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã Đắc Uy, huyện Đắc Hà, tỉnh Kon Tum, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Trần Dũng sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở vùng quê giàu truyền thống cách mạng. Gia đình đồng chí có 6 anh em đều tham gia hoạt động cách mạng, có ba người là đảng viên, một người là liệt sĩ.


Từ ngày vào bộ đội đồng chí được giao nhiệm vụ quân báo của đơn vị 201, và 202 Quân khu 5, hoạt động ở địa bàn Bắc Kon Tum. Nhiệm vụ khó khăn phức tạp nhưng đồng chí đã khắc phục liên tục đi chuẩn bị chiến trường, trinh sát nắm vững tình hình địch, phục vụ kịp thời cho chỉ huy, chỉ đạo, đảm bảo cho đơn vị đánh thắng.


Trong chiến đấu phục vụ chiến đấu Trần Dũng thể hiện dũng cảm, mưu trí, linh hoạt không ngại hy sinh gian khổ. Trong mọi nhiệm vụ được giao đồng chí đều tích cực và tự giác hoàn thành, Năm 1954, Trần Dũng được đảng cử ở lại làm nòng cốt xây dựng cơ sở cách mạng đó là thời kỳ khó khăn phức tạp nhất, song đồng chí đều vượt qua, liên tục bám đất, bám dân đi sâu xây dựng cơ sở cách mạng ở địa phương. Trần Dũng đã lãnh đạo vận động quần chúng đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang và đẩy mạnh các phong trào ở địa phương không ngừng phát triển.


Năm 1960, Trần Dũng được giao nhiệm vụ phụ trách các trạm đường dây, dẫn đường cho cán bộ tỉnh ủy, tỉnh đội và bộ đội từ miền Bắc đi vào Nam chiến đấu. Đồng chí luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, khắc phục mọi khó khăn, mở đường tổ chức tốt cung, trạm đảm bảo 100% cho cán bộ, bộ đội hành quân di chuyển an toàn, đảm bảo mạch máu giao thông liên lạc cho tinh ủy, tỉnh đội chỉ huy lãnh đạo tác chiến kịp thời, đánh thắng địch trong mọi tình huống.


Ngoài nhiệm vụ chính, Trần Dũng còn có tinh thần thương yêu đồng chí, đồng đội và làm tốt công tác thương binh liệt sĩ trong chiến đấu.


Sau năm 1975, khi đất nước hoàn toàn được giải phóng, Trần Dũng vẫn tiếp tục công tác và được giao chức vụ Giám đốc bưu điện tỉnh Gia Lai-Kon Turn. Đến cuối năm 1978, do tuổi già sức yếu đồng chí được tổ chức cho nghỉ hưu. Khi về địa phương đồng chí tham gia tích cực các phong trào được chính quyền địa phương và nhân dân tin tưởng giao cho công tác như thường trực Đảng, Bí thư chi bộ và Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã.


Trong suốt quá trình từ khi tham gia cách mạng cho đến nay, Trần Dũng đều nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được tổ chức phân công, đồng chí đã được anh em đồng đội, đồng bào tin yêu, mến phục.


Quá trình công tác, đồng chí đã được Đảng và Nhà nưóc tặng 10 Huân chương, Huy chương các loại, nhiều bằng, giấy khen và Chiến sĩ thi đua. Trong đó có 1 Huân chương Độc lập hạng ba, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Trần Dũng được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #42 vào lúc: 05 Tháng Bảy, 2023, 10:01:13 am »

ANH HÙNG NGUYỄN VĂN HAI
(TỨC HAI SÙNG)


Nguyễn Văn Hai (tức Hai Sùng) sinh năm 1939, dân tộc Kinh, quê ở xã An Trường, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh, tham gia cách mạng năm 1958. Trong kháng chiến chống Mỹ, đồng chí là xã đội phó xã An Trường (1960 - 1965); năm 1969 đồng chí công tác ở huyện Càng Long; năm 1975 là thương binh 1/4 về quê; đồng chí là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Nguyễn Văn Hai tham gia cách mạng năm 1958, từ năm 1958 đến tháng 9 năm 1960, là cơ sở mật, đồng chí đã tích cực cùng cán bộ địa phương tạo được phong trào ở xã, góp phần chuẩn bị đồng khởi.


Từ tháng 9 năm 1960 đến tháng 9 năm 1967, Nguyễn Văn Hai là du kích rồi trưởng thành lên xã đội phó. Đồng chí chiến đấu rất mưu trí dũng cảm, đã chỉ huy đơn vị đánh 313 trận lớn nhỏ, diệt 371 tên (có cả cố vấn Mỹ và nhiều sĩ quan ngụy), thu và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch. Bản thân đồng chí diệt được 87 tên, chủ yếu bằng bắn tỉa, khiến địch chỉ nghe đến tên Hai Sùng đã khiếp sợ.


Một số trận đánh tiêu biểu:

Ngày 14 tháng 7 năm 1965, sư đoàn 9 chủ lực ngụy mở cuộc càn vào xã An Trường, Nguyễn Văn Hai đã chỉ huy đơn vị giành giật suốt 14 ngày đêm, diệt và làm bị thương 47 tên, thu 2 tàu bo bo đánh bật được địch ra khỏi xã. Riêng đồng chí diệt được 8 tên.


Ngày 12 tháng 3 năm 1967, trung đoàn 14 sư đoàn 9 ngụy càn vào xã, đồng chí đã chỉ huy đơn vị đánh phục kích, đẩy đoàn xe bọc thép địch vào bãi mìn, đồng thời dũng cảm bám trận địa đánh quân tiếp viện.

Qua một ngày chiến đấu, đồng chí cùng đơn vị diệt trên 30 tên và phá hủy 4 xe bọc thép M113, ta an toàn. Sau trận này, địch co cụm một thời gian lâu không dám hoạt động.


Ngày 21 tháng 4 năm 1967, Nguyễn Văn Hai chỉ huy 2 du kích bí mật tiến công đội hình đóng quân của 1 đơn vị địch thuộc tiểu đoàn 2, trung đoàn 14, sư đoàn 9 ngụy đóng quân trong xã. Địch bị đánh bất ngờ hốt hoảng bắn lẫn nhau, ta lợi dụng địch đang hỗn loạn diệt thêm được nhiều tên và rút an toàn. Kết quả trận này ta diệt và làm bị thương 62 tên, thu 6 súng, gây hoang mang lớn cho bọn lính trung đoàn 14.


Ngày 17 tháng 8 năm 1967, trong trận chiến đấu đánh địch càn vào xã, Nguyễn Văn Hai bị thương gãy chân bị ngất đi, khi tỉnh lại đồng chí đã dùng lưỡi lê chặt đứt chân gãy để tiếp tục chiến đấu dễ dàng và chỉ huy đơn vị rút an toàn khỏi vòng vây của địch. Trong trận này đơn vị diệt được 56 tên địch. Riêng đồng chí diệt 16 tên.


Từ năm 1969, do bị thương nặng sức khỏe sút kém nhiều, đồng chí chuyển sang làm công tác chính trị ở địa phương. Trên cương vị nào đồng chí cũng ra sức khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ. Sau khi thống nhất đất nước, Nguyễn Văn Hai vẫn tích cực góp phần xây dựng địa phương, sống khiêm tốn giản dị, được nhân dân tin mến.


Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Kháng chiến hạng nhất, 1 Huân chương Giải phóng hạng nhất, 35 bằng khen cấp tỉnh và huyện.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Nguyễn Văn Hai được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #43 vào lúc: 05 Tháng Bảy, 2023, 10:01:49 am »

ANH HÙNG ĐOÀN THANH PHƯƠNG
(TỨC ĐOÀN VĂN CÔNG)


Đoàn Thanh Phương (tức Đoàn Văn Công sinh năm 1942, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Mỹ, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long; trú quán xã Trà Côn, huyện Trà Ôn tỉnh Vĩnh Long, tham gia cách mạng năm 1960. Trong kháng chiến chống Mỹ đồng chí là ấp đội trưởng, rồi chính trị viên phó đại đội Tây Đô 4, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Đoàn Thanh Phương sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân có truyền thống cách mạng, là cơ sở nuôi giấu cán bộ, đồng chí được giác ngộ và tham gia cách mạng năm 1960.


Từ năm 1960 đến năm 1964 Đoàn Thanh Phương là du kích mật của xã và bộ đội địa phương huyện Trà Ôn. Đồng chí đã cùng đơn vị chiến đấu hơn 30 trận, diệt và làm bị thương gần 300 tên địch. Riêng đồng chí đã đánh 20 trận, diệt và loại khỏi vòng chiến đấu gần 100 tên, trong đó có 2 tên Mỹ.


Năm 1965, Đoàn Thanh Phương bị thương phải đi điều trị, huyện đội đã cử đồng chí đi học y tá để về phục vụ anh em trong huyện.


Ngày 30 tháng 5 năm 1966, trên đường đi công tác, Đoàn Thanh Phương và một đồng chí gặp địch đổ quân, các đồng chí dũng cảm chiến đấu đến viên đạn cuối cùng với địch. Một đồng chí hy sinh còn Đoàn Thanh Phương bị thương và bị địch bắt. Chúng giam đồng chí ở khám lớn Vĩnh Long. Từ đó đến năm 1974 địch đã chuyển Đoàn Thanh Phương qua nhiều trại giam như Trà Nóc, Cần Thơ, khám Chí Hòa, Phú Quốc, Côn Đảo... Chúng đã dùng mọi cực hình tra tấn dã man, đưa vào biệt giam chuồng cọp phơi mưa nắng suốt ngày đêm hàng tháng tròi, da bị rộp lên hết lớp này đến lớp khác hoặc bỏ đói và khát. Chúng đánh đập đồng chí chết đi, sống lại nhiều lần làm gãy hai xương sườn, 1 xương đòn, và rút hết 10 móng tay và 2 móng chân cái. Song Đoàn Thanh Phương vẫn luôn luôn giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cách mạng, kiên quyết đấu tranh và vận động anh em cùng đấu tranh quyết liệt với địch. Đồng chí đã 4 lần tổ chức vượt ngục. Có lần các đồng chí dùng gầu mèn (dụng cụ đựng thức ăn) và sắt lấy của trại đào đường hầm hàng 100m song chẳng may trời mưa hầm sập kế hoạch không thành. Lần khác đồng chí vượt ngục lại bị lạc phải ăn lá rừng, thịt rắn cuối cùng kiệt sức và bị bắt lại. Với ý chí kiên cường và lòng trung thành vô hạn với cách mạng, Đoàn Thanh Phương đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam ở ngay trong nhà tù và được tín nhiệm bầu làm bí thư chi bộ nhiều lần.


Ngày 13 tháng 6 năm 1971, địch đưa đồng chí cùng 2 người khác về đất liền để xử ở Tòa án quân sự đặc biệt vùng 4 chiến thuật (Cần Thơ). Các đồng chí đã phản đối làm náo động phiên tòa buộc phiên tòa phải kết thúc. Không xử được, chúng lại đưa các đồng chí về giam ở xà lim Cần Thơ rồi khám Chí Hòa. Tháng 5 năm 1972, chúng lại đưa các đồng chí ra Côn đảo.


Theo như các điều khoản ở Hiệp định Pa-ri, ngày 7 tháng 3 năm 1974, chúng đưa các đồng chí về trao trả ở Lộc Ninh.


Sau khi được điều trị, an dưỡng sức khỏe đã hồi phục Đoàn Thành Phương xin được trực tiếp cầm súng chiến đấu. Đồng chí được giao nhiệm vụ chính trị viên phó đại đội Tầy Đô 4, đơn vị đồng chí được phân công đánh căn cứ Chương Thiện và tiếp quản tại đó.


Ngày 30 tháng 7 năm 1977, do thương tật, và sức khỏe yếu nên đồng chí đã được phục viên, song vẫn tham gia hoạt động tích cực ở địa phương, là thành viên ban liên lạc cựu tù chính trị.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Đoàn Thanh Phương được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #44 vào lúc: 05 Tháng Bảy, 2023, 10:02:30 am »

ANH HÙNG TRẦN THỊ SỨA


Trần Thị Sữa sinh năm 1945, dân tộc Kinh, quê ở xã Thạnh Lợi, huyện Bến Lức, tỉnh Long An, tham gia cách mạng năm 1960. Trong kháng chiến chống Mỹ đồng chí là bí thư ban cán sự phụ trách quân sự thị trấn Thủ Thừa, tỉnh Long An, hiện nay là tỉnh ủy viên, Bí thư huyện ủy huyện Thủ Thừa tỉnh Long An.


Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống cách mạng, năm 15 tuổi Trần Thị Sữa đã tham gia hoạt động cách mạng. Đồng Chí nhiều lần mưu trí và dũng cảm vượt qua tai mắt của địch nhận và chuyển các công văn, chỉ thị của Đảng từ vùng căn cứ đến cơ sở, giúp cho việc chỉ đạo của Đảng được xuyên suốt, kịp thời.


Năm 1963, Trần Thị Sữa được kết nạp vào Đảng và được tổ chức phân công phụ trách công tác vận động quần chúng đấu tranh chống địch khủng bố, càn quét, dồn dân lập ấp chiến lược. Tiếp đó đồng chí được giao làm trung đội trưởng du kích, chỉ huy đơn vị tự sản xuất vũ khí thô sơ để đánh địch, góp phần tạo ra phong trào sản xuất vũ khi tại địa phương. Trần Thị Sữa còn được giao nhiều nhiệm vụ khác, việc gì đồng chí cũng thể hiện được bản lĩnh vững vàng, đấu tranh kiên quyết, giữ vững, phát triển lực lượng và duy trì phong trào đấu tranh của quần chúng ở địa phương.


Từ năm 1964 đến năm 1968, do yêu cầu nhiệm vụ, Trần Thị Sữa được điều lên thành phố Sài Gòn hoạt động, xây dựng cơ sở, phục vụ cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968. Đồng chí đã dựa vào quần chúng, hoạt động trong xưởng dệt Vạn Khôi, giác ngộ và phát triển một nữ công nhân cùng lao động trở thành đảng viên. Sau đó đồng chí đã tổ chức được chi bộ, lãnh đạo công nhân đấu tranh với chủ đòi tăng lương, cải thiện đời sống. Phong trào phát triển mạnh, địch ra sức lùng sục, và do bị lộ nên đồng chí được điều trở lại thị trấn Thủ Thừa hoạt động.


Năm 1970, địch bình định quyết liệt, chúng phá vỡ một số cơ sở của ta Trần Thị Sữa ngày đêm len lỏi trong dân, động viên bà con giữ vững ý chí, từng bước phát triển lực lượng, thành lập lại chi bộ, tổ chức chi đoàn và 1 tiểu đội biệt động diệt ác ôn, gây khí thế đấu tranh cho quần chúng.


Năm 1972, Trần Thị Sữa là bí thư Ban cán sự thị trấn Thủ Thừa, đồng chí đã vận động quần chúng ngăn chặn địch đánh phá vào địa bàn và tổ chức lực lượng nắm địch, giúp trên xóa được ý định của địch tạo vùng an toàn làm vành đai bảo vệ thị xã lần An và quốc lộ 1A.


Quá trình lãnh đạo phong trào, Trần Thị Sửa đã củng cố lực lượng vũ trang, trực tiếp đánh địch, xây dựng địa bàn tạo cơ sở hậu cần, để bộ đội chủ lực làm bàn đạp tiến công giải phóng tuyến phòng thủ Long An - Quốc lộ 1, góp phần quan trọng vào chiến thắng Xuân 1975.


Trong chiến dịch Xuân 1975, đơn vị do Trần Thị Sữa phụ trách đã tích cực điều tra nghiên cứu tình hình địch, vận động nhân dân ủng hộ lương thực thực phẩm, chuẩn bị phương tiện vận chuyển bộ đội trên các kênh rạch được phân công, đúng kế hoạch, góp phần hoàn thành nhiệm vụ của trung đoàn 3 thuộc sư đoàn 5, Quân khu 7 trong chiến dịch Hồ Chí Minh. Quá trình điều tra nghiên cứu, đồng chí đã 2 lần dũng cảm, vượt qua khó khăn, sẵn sàng hy sinh, tìm cách lừa địch cứu thoát 3 cán bộ của trung đoàn 3 và trinh sát về cứ an toàn.


Trong cuộc sống, Trần Thị Sữa luôn gương mẫu, gần gũi nhân dân và đồng đội. Mặc dù gia đình có nhiều người hy sinh, bản thân vì nhiệm vụ mà ngày cưới của mình, đồng chí cũng không có mặt, gặp chồng được 1 lần và sau đó anh đã anh dũng hy sinh trong chiến đấu.


Sau ngày thống nhất đất nước, Trần Thị Sữa được bầu là Đại biểu Quốc hội khóa 8, đại biểu hội đồng nhân dân huyện, là tỉnh ủy viên tỉnh Long An kiêm bí thư huyện Thủ Thừa, đồng chí đã cùng huyện ủy, lãnh đạo nhân dân ổn định về chính trị, kinh tế-xã hội văn hóa phát triển, xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh.


Đồng chí đã được tặng thưởng Huân chương Quyết thắng hạng nhất.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Trần Thị Sữa được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #45 vào lúc: 05 Tháng Bảy, 2023, 10:03:05 am »

ANH HÙNG NGUYỄN VĂN BA


Nguyễn Văn Ba sinh năm 1930, dân tộc kinh, quê ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày tỉnh Bến Tre; trú quán số nhà 14 đường Sông Đáy, phường 2, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh, nhập ngũ 1951. Trong kháng chiến đồng chí là phi công thuộc trung đoàn 919 không quân vận tải. Năm 1993 đồng chí nghỉ hưu quân hàm cấp đại tá, là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Nguyễn Văn Ba sinh ra và lớn lên trên một miền quê giàu truyền thống cách mạng. Năm 1951 đồng chí gia nhập quân đội. Năm 1954, tập kết ra Bắc, Nguyến Văn Ba được cử đi học lái máy bay. Trong quá trình học tập đồng chí luôn chịu khó học tập, rèn luyện để nắm vững khoa học kỹ thuật, làm chủ vũ khí trang bị đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc của không quân nhân dân.


Trong những năm 1963 - 1964, Mỹ - ngụy ráo riết hoạt động phá hoại miền Bắc, kể cả dùng máy bay tung gián điệp. Máy bay của chúng thường thâm nhập vào ban đêm, bay tháp, và luôn thay đổi đường bay đã gây khó khăn cho các lực lượng cao xạ của ta trong việc diệt chúng. Thời gian này, ta thu được chiếc máy bay T28 do Mỹ trang bị cho không quân ngụy Lào, do một phi công ngụy Lào lái sang hàng ta. Trung đoàn 919 được giao nhiệm vụ sử dụng chiếc máy bay T28 để đánh máy bay địch. Chiếc T28, không có lí lịch, không có thợ máy và khí tài thay thế. Người hàng binh ngụy Lào cũng mới chuyển loại bay được 8 giờ nên chưa thành thạo. Nguyễn Văn Ba được giao thực hiện nhiệm vụ quan trọng này. Đồng chí đã cùng đồng đội kiên trì tìm hiểu và say mê luyện tập rút kinh nghiệm. Sau hai lần bay trực chiến thành công, đến lần thứ ba và đêm 14 rạng ngày 15 tháng 2 năm 1964, tổ bay của Nguyễn Văn Ba phát hiện được chiếc C123 chở biệt kích Mỹ ngụy xâm nhập vùng trời nước ta, Được sự đồng ý của sở chỉ huy đồng chí cho máy bay lao vào công lách và bằng ba loạt đạn chính xác, Nguyễn Văn Ba đã bắn rơi chiếc C123.


Đây là chiến công đầu của không quân ta bắn rơi máy bay địch vào ban đêm trên miền Bắc nước ta. Sau chiến công này, Nguyễn Văn Ba đã đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ khác nhau, nhiệm vụ nào đồng chí cũng hoàn thành xuất sắc. Đặc biệt là trận đánh trạm ra-đa tây bắc Sầm Nưa năm 1968.


Tháng 3 năm 1973 Nguyễn Văn Ba làm đoàn trưởng tiếp nhận sân bay Lộc Ninh - Thiện Ngôn. Đồng chí đã chỉ huy việc tháo rời chiếc UH-1A của Mỹ từ Lộc Ninh chuyển ra miền Bắc lắp ráp cho bộ đội luyện tập.


Tháng 3 năm 1975, Nguyễn Văn Ba, tiếp nhận sân bay Phù Cát và Qui Nhơn, đồng thời tham gia đoàn tiếp quản sân bay Tân Sơn Nhất.


Năm 1976, đồng chí là giám đốc sân bay Tân Sơn Nhất.


Năm 1978 - 1979, Nguyễn Văn Ba là giám đốc xưởng A75. Năm 1990, Nguyễn Văn Ba chuyển sang Tổng Cục Hàng không dân dụng. Năm 1993, đồng chí được nghỉ hưu với quân hàm đại tá.


Nguyễn Văn Ba đã được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công hạng ba.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Nguyễn Văn Ba được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #46 vào lúc: 05 Tháng Bảy, 2023, 10:03:53 am »

ANH HÙNG NGUYỄN TƯỜNG LONG


Nguyễn Tường Long sinh năm 1923, dân tộc Kinh, quê ở Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh; trú quán 211A Nguyễn Thái Bình, phường Nguyễn Thái Bình, quận I, thành phố Hồ Chí Minh, tham gia cách mạng tháng 8 năm 1945. Trong kháng chiến chống Mỹ đồng chí là cán bộ trung cấp kỹ thuật động cơ hàng không. Năm 1984, đồng chí nghỉ hưu cấp quân hàm thượng úy; xưởng phó xưởng A41, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Nguyễn Tường Long sớm giác ngộ cách mạng, năm 12 tuổi (1945) đồng chí tham gia cách mạng và liên tục chiến đấu, phục vụ chiến đấu suốt 9 năm chống Pháp ở chiến trường miền Nam.


Năm 1954, Nguyễn Tường Long tập kết ra Bắc, tham gia tiếp quản sân bay Gia Lâm, sau đó đồng chí được cử đi học thợ sửa chữa máy bay. Ra trường đồng chí được điều về trung đoàn 919.


Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bằng trí tuệ của mình, cộng với việc tích cực, học tập rèn luyện, nắm vững khoa học kỹ thuật với tinh thần trách nhiệm, ý chí quyết tâm cao, đồng chí đã tập trung tìm tòi, suy nghĩ, sáng tạo, cải tiến và lắp ráp các phương tiện trên máy bay vận tải để máy bay vừa làm nhiệm vụ vận chuyển, thả hàng hóa có hiệu quả cao, vừa có thể đánh địch cả trên không, mặt đất và trên biển... Vì vậy đã góp phần cho Đoàn 919 lập nên những chiến công vẻ vang.


Tháng 9 năm 1959, Nguyễn Tường Long đã trực tiếp chế tạo nút thả hàng, giá thả hàng, bảo đảm thả hết 60 tấn hàng cho Đoàn 559 đúng thời gian, an toàn.


Năm 1966, đồng chí đã nghiên cứu và lắp pháo sáng, giá phóng rốc két cho máy bay AN-2 tạo điều kiện cho phi công ta lập chiến công đầu của Không quân đánh chìm tàu địch trên vùng biển nước ta (8-3-1966).


Năm 1968, Nguyễn Tường Long đã cùng anh em thợ máy nghiên cứu và làm thành công giá lắp bom, cối trên máy bay LI4 của Liên Xô, mỗi máy bay mang 5 quả bom loại 250 kg, 63 quả cối 120 ly, phi công ta đã sử dụng thành công khi đánh đồn Mang Cá (Huế), đánh căn cứ Ra đa chỉ huy, dẫn đường, tiếp dầu cho máy bay Mỹ trên đồi Pa Thí (Lào tháng 1- 1968). Ngoài ra đồng chí còn nghiên cứu, sửa chữa, kiểm tra máy bay T28 của Mỹ, góp phần để phi công ta bắn rơi máy bay C123 chở biệt kích Mỹ - ngụy xâm nhập vùng trời miền Bắc đêm 14 rạng ngày 15 tháng 2 năm 1964...


Đồng chí còn tham gia tháo gỡ, vận chuyển và lắp ráp thành công máy bay UH-1A, máy bay CA34 từ miền Nam, Lào về sân bay Gia Lâm để làm máy bay huấn luyện cho phi công ta. Nguyễn Tường Long còn tham gia sửa chửa nhiều máy bay phục vụ chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.


Trong cuộc sống, đồng chí luôn đoàn kết, gắn bó, giúp đỡ anh em trong ngành, được chỉ huy, phi công và đồng đội tin yêu.


Từ khi chuyển ngành và nghỉ hưu tuy tuổi cao đồng chí luôn giữ gìn phẩm chất đạo đức của người đảng viên, quan hệ với bà con trong khu phố chân tình và hết lòng giúp đỡ, được mọi người quí mến.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Nguyễn Tường Long được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #47 vào lúc: 12 Tháng Bảy, 2023, 07:02:52 am »

ANH HÙNG NGUYỄN TRỌNG TÂM


Nguyễn Trọng Tâm sinh năm 1927, dân tộc kinh, quê ở xã Yên Quang, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Hà, trú quán 296/6 khu phố 2, phường Tân Tiến, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, nhập ngũ năm 1948. Trong kháng chiến chống Mỹ, đồng chí là trưởng ban binh vận phân khu 5 Nam Bộ. Tháng 3 năm 1978, đồng chí chuyển ngành là Trưởng ty thương nghiệp tình Đồng Nai, nghỉ hưu tháng 10 năm 1990, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Nguyễn Trọng Tâm làm công tác địch vận từ thời kỳ kháng chiến chống Pháp, là trưởng ban địch vận thành phố Nam Định. Đồng chí đã vận động được nhiều binh lính địch bỏ ngũ về nhà và về với cách mạng. Nguyễn Trọng Tầm đã xây dựng được nhiều cơ sở nội tuyến ở Mỹ Lộc và thị xã Nam Định. Năm 1948, đồng chí được điều vào quân đội, công tác ở Cục Địch vận - Tổng cục Chính trị, làm phái viên, thường xuyên hoạt động trong vùng địch.


Năm 1954, Nguyễn Trọng Tâm được giao nhiệm vụ vào miền Nam hoạt động hợp pháp làm công tác binh vận. Hơn 20 năm công tác trong vùng địch, với nhiều cương vị khác nhau đồng chí luôn thể hiện là một cán bộ trung kiên, chịu đựng mọi gian khổ, ác liệt, bền bi còng tác, liên tục tiến công địch. Đồng chí là một cán bộ chuyên môn có năng lực, nhiều kinh nghiệm, đã góp phần tích cực tổ chức thực hiện thắng lợi chủ trương công tác binh vận của Đảng.


Nguyễn Trọng Tầm đã đóng góp quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi chủ trương vận động, cải tạo lực lượng vũ trang Bình Xuyên, đưa được 1 tiểu đoàn gồm 4 đại đội của lực lượng vũ trang này ra căn cứ của ta.


Tháng 10 năm 1955, đồng chí bị địch bắt, chúng tra tấn rất dã man, chết đi sống lại nhiều lần nhưng vẫn giữ vững ý chí cách mạng, không phản bội xưng khai. Trong tù Nguyễn Trọng Tầm đã móc nối với bên ngoài để hoạt động, được anh em tin cậy bầu làm phó bí thư chi bộ rồi bí thư đảng ủy nhà tù. Đồng chí đã vận động tranh thủ binh lính, phân hóa địch, đấu tranh kiên quyết nên hạn chế được sự đàn áp của chúng. Đồng chí đã tổ chức, chỉ huy anh em cướp súng phá nhà tù Tân Hiệp - Biên Hòa giành thắng lợi, giải thoát được gần 500 cán bộ ta bị địch bắt.


Nguyễn Trọng Tầm đã góp phần tích cực vào việc xây dựng lực lượng vũ trang đầu tiên của miền Đông Nam Bộ, trực tiếp chiến đấu và chỉ huy chiến đấu nhiều trận, tiêu diệt được nhiều địch, thu nhiều vũ khí đạn dược và phương tiện chiến tranh của chúng. Ngay trận đánh đầu tiên của đơn vị tiêu diệt chi khu Hiếu Liêm, đã diệt hàng trăm địch, thu gần 100 súng, trên 20 máy bộ đàm và hơn 10 tấn đạn.


Đồng chí còn có nhiều công sức xây dựng cơ sở đầu tiên cho phong trào binh vận miền Đông Nam Bộ và chỉ đạo thí điểm thành công phá ấp chiến lược bằng 3 mũi giáp công. Công tác binh vận đã phục vụ có kết quả cho việc xây dựng cơ sở ém lực lượng vũ trang xuống vùng sâu hoạt động sau tết Mậu Thân (1968) và tạo thuận lợi cho việc thu mua, vận chuyển gạo góp phần giải quyết khó khăn lớn về lương thực lúc bấy giờ.


Tháng 3 năm 1974, Nguyễn Trọng Tầm được giao nhiệm vụ ủy viên kinh tài phụ trách thương nghiệp khu miền Đông.


Tháng 3 năm 1978, đồng chí được chuyển ngành với cấp bậc trung tá, là Trưởng ty thương nghiệp tỉnh Đồng Nai, sau đó là giám đốc Công ty Thương nghiệp - Thực phẩm tỉnh Đồng Nai, năm 1990 đồng chí nghỉ hưu.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Nguyễn Trọng Tâm được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #48 vào lúc: 12 Tháng Bảy, 2023, 07:04:27 am »

ANH HÙNG YON NIÊ
(LIỆT SĨ)


Yơn Niê (tức A Ma HChin), sinh năm 1932, dân tộc M’Nông, quê ở buôn Đắc Tuar, xã Cư Pui, huyện KRông Bông, tỉnh Đắc Lắc; tham gia cách mạng tháng 3 năm 1961. Khi hy sinh đồng chí là tiểu đội trưởng du kích buôn Đắc Tưar, quận Lạc Thiện, tinh Đắc Lắc.


Yơn Niê sinh ra và lớn lên trên vùng đất giàu truyền thống cách mạng. Đầu năm 1961, được cách mạng giác ngộ, đồng chí đã hăng hái tham gia tuyên truyền, được 10 thanh niên người M’Nông để thành lập đội du kích. Yơn tổ chức huấn luyện anh em, sử dụng vũ khí đánh địch và vận động dân làng làm chông, thò, cạm bẫy bố phòng chống địch càn quét. Yơn còn trực tiếp lập kế hoạch xây dựng làng chiến đấu và dự kiến những vị trí lánh cư dân khi địch đến đánh phá.


Cuối năm 1961, địch nhiều lần đưa quân càn quét, triệt phá vùng căn cứ của ta. Yơn đã chỉ huy đội du kích chiến đấu, sáng tạo nhiều cách đánh độc đáo, tiêu diệt nhiều tên bảo vệ được nhân dân và vùng căn cứ. Một lần Yơn phát hiện một tiểu đội biệt kích từ đồn Mỹ Ga đến khu vực phía nam buôn Đắc Tuar, đồng chí chỉ huy đơn vị bám sát, bát ngờ dùng cung nỏ diệt 2 tên, rồi rút lui an toàn.


Năm 1962, địch ở hai đồn Mỹ Ga và Cừ Pèn phối hợp mở trận càn vào buôn, với ý đồ tiêu diệt đội du kích của Yơn. Khi phát hiện được địch đã vào cách buôn còn vài trăm mét. Trước tình thế cực kỳ khó khăn, địch mỗi lúc một gần, nếu để địch đến chúng sẽ giết hại dân trong buôn làng. Yơn cho hai người trở về buôn báo cho dân sơ tán, còn một mình ở lại chặn địch. Yơn lợi dụng địa hình có lợi, chiến đấu vô cùng quả cảm diệt và làm bị thương một số tên chặn bước tiến của chúng tạo thuận lợi cho dân làng di chuyển vào căn cứ an toàn. Do địch quá đông, đạn hết, Yơn lại bị thương nặng vào chân nên anh đã sa vào tay dịch. Biết Yơn là chỉ huy đội du kích, địch dùng mọi thủ đoạn từ mua chuộc, dụ dỗ đến tra tấn hết sức dã man hòng khuất phục anh dẫn đường vào căn cứ. Nhưng mọi thứ đòn tàn bạo của chúng đã không làm lay chuyển được khí phách kiên cường và lòng thủy chung với cách mạng của Yơn. Cuối cùng kẻ địch đã hèn hạ dùng dao cắt từng bộ phận cơ thể Yơn cho đến chết. Cái chết anh hùng của Yơn gây nỗi xúc động lớn và cổ vũ nhân dân các dân tộc đứng lên đoàn kết chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng.


Ngày 29 tháng 1 năm 1996, Yơn Niê được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #49 vào lúc: 12 Tháng Bảy, 2023, 07:06:05 am »

AMi HÙNG ĐINH THANH KHÁNG
(LIỆT SĨ)


Đinh Thanh Kháng, sinh năm 1936, dàn tộc Kinh nguyên quán xã Sơn Dung, huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi; trú quán xã Nam Thanh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Tham gia cách mạng tháng 4 năm 1954. Khi hy sinh đồng chí là thiếu úy, trợ lý công binh Ban chỉ huy quân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Đinh Thanh Khang sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo ở vùng quê có truyền thống cách mạng, nơi ra đời của đội du kích Ba Tơ. Ngay từ lúc còn nhỏ, đồng chí đã tham gia làm liên lạc cho các đơn vị bộ đội. Tháng 4 năm 1954, chưa tròn 18 tuổi Đinh Thanh Kháng đã được biên chế chính thức vào bộ đội địa phương. Đồng chí là một chiến sĩ chiến đấu dũng cảm, linh hoạt, sáng tao, cùng đồng đội lập được nhiều chiến công xuất sắc. Riêng đồng chí đã diệt 5 tên địch, thu 3 súng.


Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, đơn vị Đinh Thanh Kháng tập kết ra Bắc. Đồng chí được biên chế vào tiểu đoàn 16, trung đoàn 164 pháo binh của Quân khu 4. Đây là thời kỳ quân đội ta xây dựng chính quy, đồng chí luôn là một chiến sĩ gương mẫu chấp hành nghiêm chỉnh điều lệnh kỷ luật quân đội, tích cực trong học tập, công tác. Tháng 8 năm 1960 Đinh Thanh Kháng được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.


Năm 1964 đồng chí được chọn đi học ở trường Quản chính Quân khu 4. Năm 1966, Đinh Thanh Kháng được điều về giữ chức trợ lý công binh thuộc Ban chỉ huy Quân sự huyện Nam Đàn. Thời kỳ này đế quốc Mỹ tăng cường đánh phá miền Bắc. Nam Đàn là trọng điểm đánh phá ác liệt của không quân Mỹ nhằm cắt đứt tuyến đường 15, ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho chiến trường Miền Nam. Địch đã dùng đủ các loại bom đạn từ thông thường đến hiện đại, có ngày chỉ một trận địch đã ném xuống 237 quả bom. Với cương vị phụ trách, chỉ đạo các đội rà phá bom mìn, hàng ngày, hàng giờ đối mặt với cái chết, song đồng chí đã nêu cao tinh thần trách nhiệm nhận việc khó về mình, nhường thuận lợi cho bạn, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, nắm chắc nguyên lý hoạt động, cấu tạo của từng loại bom, mìn để tổ chức tháo, phá đạt hiệu quả cao. Đinh Thanh Kháng đã cùng đồng đội phá nổ hàng ngàn quả bom các loại đảm bảo an toàn cho hàng vạn chuyến xe qua các trọng điểm ác liệt: Vân Hưng, Nam Diên, phà Nam Đàn, Cầu Cao, rú Trét Khánh Sơn... Riêng đồng chí đã phá 127 quả. Ngày 10 tháng 3 năm 1969, một quả bom, ta đã 2 lần dùng bộc phá đánh bom vẫn không nổ, trong khi cả đoàn xe đang chờ thông đường. Đinh Thanh Kháng quyết định lên tháo kíp nổ. Nhưng vừa lên đến nơi thì bom tự nổ, đồng chí đã anh dũng hy sinh.


Đồng chí đã được tặng thưởng 0 Huân chương Chiến công (1 hạng nhất, 2 hạng nhì, 2 hạng ba) 3 lần Chiến sĩ thi dua, và được tặng nhiều bằng khen, giấy khen của Quân khu và tỉnh.


Ngày 29 tháng 1 năm 1996, Đinh Thanh Kháng được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM