Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:22:17 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tổng kết hoạt động đấu tranh giải quyết Fulro 1975-1992  (Đọc 27389 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1136



« Trả lời #50 vào lúc: 06 Tháng Bảy, 2023, 07:03:47 am »

Bài học 3: Kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự, giữa trấn áp với khoan hồng, trong đó lấy tiến công chính trị là chủ yếu, tập trung làm tan rã về tư tưởng và tổ chức của FULRO

FULRO là một tổ chức phản động có vũ trang, sau Đại thắng mùa Xuân 1975, chúng nổi lên hoạt động chống phá cách mạng quyết liệt, gây mất ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên và vùng đồng bào dân tộc Chăm ở các tỉnh phụ cận. Tính chất hoạt động vũ trang của tổ chức FULRO khác hẳn với hoạt động vũ trang của những đội quân xâm lược, chúng dựng lên một hệ thống chính quyền từ trung ương xuống tới cơ sở, lực lượng vũ trang kiêm nhiệm hành chính, được tổ chức từ cấp đại đội đến sư đoàn (đại đội phụ trách xã, tiểu đoàn phụ trách quận, trung đoàn phụ trách tỉnh, sư đoàn phụ trách quân khu, vùng); ở cấp buôn làng và cấp xã, lực lượng vũ trang thường nằm ven buôn làng (khoảng từ 30 đến 60 tên nằm ngoài rừng) và lực lượng nằm trong dân để khống chế, cưỡng ép đồng bào dân tộc làm việc cho chúng. Lực lượng FULRO nằm trong các buôn làng thường lớn hơn lực lượng ngoài rừng và là cơ sở để chúng hoạt động lâu dài. Các phân tử trong dân thường tìm cách luồn vào các tổ chức chính quyền, đoàn thể, dân quân tự vệ, du kích, tổ chức thành các xã bộ, ấp bộ, hoạt động cả hợp pháp và bán hợp pháp; ngoài ra chúng còn tổ chức một bộ phận bí mật để không chê lực lượng hợp pháp trong dân. Trước tháng 2 năm 1977, nhiều nơi FULRO lũng đoạn chính quyền ở buôn làng, luôn vào ban chỉ huy xã đội, lực lượng an ninh, khống chế, thủ tiêu, bắt cóc cán bộ; lừa bịp, ép buộc thanh niên đi vào rừng để gia nhập lực lượng FULRO; đồng thời, chúng tăng cường kích động quần chúng nhân dân chống lại chính quyền cách mạng. Thủ đoạn hoạt động của FULRO được núp dưới chiêu bài đòi "tự trị", bài xích người Kinh, thành lập "Nhà nước Đề Ga" của người Thượng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên và "nước Chăm Pa" của người Chăm1 (Báo cáo tống kết công tác phát động quần chúng xây dựng cơ sở, truy quét FULRO từ sau ngày giải phóng đến tháng 3 năm 1982 của Quân khu 5 (trong Hội nghị tổng kết kinh nghiệm đấu tranh, giải quyết vấn đề FULRO tại Buôn Ma Thuột), số 08/BC-QK ngày 15 tháng 5 năm 1982) ở các tỉnh phụ cận, tách ra khỏi cộng đồng các dân tộc Việt Nam.


Bọn đầu sỏ, chỉ huy trung ương FULRO hầu hết là nhân sĩ, trí thức thuộc tầng lớp trên trong các dân tộc thiểu số, một số lớn là công chức, sĩ quan chế độ cũ, được đào tạo bài bản, có quyền lợi gắn bó với đế quốc, thực dân, nhưng mang nặng tư tưởng hẹp hòi dân tộc, nên chúng rất ngoan cố; nhiều tên có thâm thù với cách mạng, gây nhiều tội ác với nhân dân, số này tuy không lớn nhưng lại có kinh nghiệm kích động, lôi kéo, lừa bịp, cưỡng ép quần chúng chống phá cách mạng. Số đông người dân tộc thiểu số tham gia FULRO là con em quần chúng nhân dân lao động, do nhận thức lạc hậu, đời sống khó khăn, bị lừa bịp, lôi kéo, khống chế, ép buộc nên đứng vào hàng ngũ FULRO. Vì vậy, tổ chức FULRO nguy hiểm hơn hẳn các tổ chức phản động khác, vì chúng có quá trình nhiều năm chống lại chính quyền Sài Gòn với phong trào đấu tranh đòi quyền lợi cho người dân tộc thiểu số, làm cho quần chúng nhân dân dễ ngộ nhận và cho rằng FULRO là tổ chức đấu tranh vì lợi ích, quyền lợi và là đại diện của người dân tộc thiểu số. Chính vì vậy, tính chất phức tạp nguy hiểm của tổ chức FULRO khác hẳn với tính chất của các đội quân xâm lược nước ngoài và lực lượng phỉ ở các tỉnh miền núi phía Bắc sau năm 1954. Tổ chức FULRO vừa mang tính chất của một tổ chức phản động có vũ trang có mối liên hệ với thực dân, đế quốc, vừa mang tính chất của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, đòi ly khai, tự trị. Những kẻ cầm đầu FULRO thường có địa vị cao trong các dân tộc thiểu số, có uy tín trong quần chúng, đồng thời số cầm đầu FULRO có nhiều thủ đoạn lừa bịp, cưỡng bức, lôi kéo quần chúng nhân dân đứng vào hàng ngũ của tổ chức FULRO để hoạt động chống phá cách mạng.


Mặt khác, đặc điểm văn hóa, tập tục, giáo lý, mối quan hệ của người dân tộc thiểu số trong các buôn làng (phum, sóc, bon, rẫy, ấp...) trên địa bàn Tây Nguyên và vùng dân tộc Chăm, nên quần chúng người dân tộc thiểu số thường tuân thủ nghiêm ngặt các quy định, tập tục do người đứng đầu (già làng, trưởng bản) đặt ra; hơn nữa, do đời sống còn nhiều khó khăn, cùng với các hủ tục nên họ dễ bị lôi kéo, ép buộc làm việc cho FULRO. Đặc biệt, các đối tượng đầu sỏ FULRO rất phản động, ngoan cố, có mưu đồ lớn. Vì vậy, trong quá trình đấu tranh, truy quét, giải quyết FULRO, chúng ta phải kiên quyết, kịp thời trân áp mọi hoạt động vũ trang chống phá cách mạng của bọn phản động, tiêu diệt bọn đầu sỏ, làm tan rã các toán vũ trang của FULRO; nhưng quan trọng hơn là vạch rõ các thủ đoạn lừa bịp, khống chế, cưỡng ép quần chúng nhân dân, làm cho nhân dân hiểu rõ tính chất phản động, hại dân của FULRO. Muốn thực hiện thắng lợi những mục tiêu trên, cần phải tiến hành đồng bộ các biệp pháp: Chính trị, quân sự, kinh tế, chăm lo đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần và thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; trong đó, vấn đề quan trọng hàng đầu là phải kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, lấy biện pháp đấu tranh chính trị là chủ yếu. Đồng thời, phải kết hợp nhuần nhuyễn giữa biện pháp quân sự với chính sách khoan hồng đối với những người lầm đường lạc lối quay trở về với cách mạng, với buôn làng nhằm phân hóa hàng ngũ FULRO, làm tan rã từng bộ phận, tạo điều kiện để kiên quyết trấn áp những tên đầu sỏ ngoan cố, hạ uy thếFULRO. Đây là bài học kinh nghiệm rất quan trọng, có tính nguyên tắc trong hoạt động đấu tranh giải quyết triệt để FULRO trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên và vùng phụ cận những năm sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1136



« Trả lời #51 vào lúc: 06 Tháng Bảy, 2023, 07:07:16 am »

1. Kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự, truy quét FULRO với tiến công chính trị, trong đó lấy tiến công chính trị là chủ yếu

Xuất phát từ tính chất phản động, dùng bạo lực phản cách mạng để chống phá cách mạng nước ta của tổ chức FULRO, nên quá trình đấu tranh phải sử dụng biện pháp vũ trang, dùng bạo lực cách mạng để trấn áp bạo lực phản cách mạng; đồng thời phải kếl hợp chặt chẽ với biện pháp chính trị, nhằm mục đích giúp cho quần chúng nhân dân hiểu rõ bản chất phản động của FULRO, tách FULRO ra khỏi đời sống chính trị - xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tiến công quân sự là điều kiện cần thiết để trấn áp, tiêu diệt những tên đầu sỏ, ngoan cố, làm tan rã từng toán vũ trang và lực lượng quân sự của FULRO, bảo vệ nhân dân và thành quả cách mạng giành được. Nhưng nếu chỉ tiến công bằng quân sự đơn thuần thì không thể giải quyết được gốc rễ của tổ chức FULRO, chưa đủ điều kiện để xóa bỏ tư tưởng dân tộc hẹp hòi và sự ngộ nhận, cho rằng FULRO là đại diện bảo vệ lợi ích của các dân tộc thiểu số trong quần chúng nhân dân. Điều đó chỉ có thể giải quyết được thông qua tiến công chính trị, yếu tố quyết định thắng lợi của cuộc đấu tranh giải quyết FULRO. Ngược lại, nếu chỉ tiến công chính trị mà không đấu tranh bằng biện pháp quân sự thì không trấn áp và tiêu diệt được bọn đầu sỏ, không làm tan rã được những toán vũ trang FULRO, không thúc đẩy được sự đầu thú, ra hàng của những kẻ cầm đầu và số đông người lầm đường lạc lối, đi theo FULRO. Đồng thời, tiến công quân sự còn là biện pháp chủ yếu, trực tiếp hỗ trợ, bảo vệ, giúp cho biện pháp chính trị tiến hành các nội dung tuyên truyền, giáo dục, phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta, đảm bảo cho biện pháp chính trị đạt được hiệu quả thiết thực, làm thất bại sự lừa bịp về chính trị của FULRO, tách quần chúng nhân dân ra khỏi sự ràng buộc, khống chê cả về vũ lực và tư tưởng, làm thất bại âm mưu gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc của FULRO. Vì vậy, quá trình đấu tranh giải quyết FULRO, sự kết hợp đấu tranh bằng biện pháp quân sự với biện pháp chính trị giữ vị trí, vai trò hết sức quan trọng, mang tính chất quyết định tới thắng lợi của cuộc đấu tranh giải quyết FULRO ở miền Nam nước ta sau ngày giải phóng.


Mục tiêu của tiến công chính trị là vạch trần bản chất phản động, làm tay sai cho đế quốc, thực dân của FULRO; tách quần chúng nhân dân khỏi sự ảnh hưởng và ràng buộc của chúng; đồng thời làm phân hóa nội bộ, cô lập bọn đầu sỏ ngoan cố, thúc đẩy sự tan rã về tổ chức và khuyến khích sự đầu hàng, đầu thú của các đối tượng cầm đầu trong hàng ngũ FULRO. Muốn đạt được những mục tiêu trên, đi đôi với biện pháp tuyên truyền, cần tập trung nâng cao hiệu quả hành động thực tế, làm cho đồng bào tin tưởng và ủng hộ đường lối, chủ trương, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước. Điều đó chỉ thực hiện được thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng, vận động già làng, trưởng bản, tầng lớp nhân sĩ, trí thức, chức sắc tôn giáo và những người có uy tín trong các dân tộc; tổ chức các lớp giáo dục, cải tạo FULRO, vận động người thân, gia đình, kêu gọi chồng, con, anh, em, họ hàng trở về với buôn làng; sử dụng số FULRO bị bắt, đầu thú, ra hàng, trực tiếp phê phán, tố cáo tội ác của FULRO, kêu gọi số còn lẩn trốn trong rừng quay trở về với cách mạng. Đi đôi với các nội dung tuyên truyền đường lối, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước, cần tập trung vào phương thức tổ chức, hướng dẫn, giúp đỡ đồng bào sản xuất, chăm lo đời sống, khám chữa bệnh, xây dựng trường học và giúp đồng bào dân tộc thiểu số ổn định cuộc sống mới, làm cho quần chúng nhân dân ngày càng hiểu rõ và tin tưởng hơn vào chế độ mới, đó là những nội dung thiết thực, có sức thuyết phục, làm vô hiệu hóa các luận điệu xuyên tạc, lừa bịp của các thế lực phản động và sự lôi kéo quần chúng của FULRO.


Tuy nhiên, nếu ta chỉ đơn thuần sử dụng biện pháp chính trị thì không thể làm tan rã tổ chức, lực lượng vũ trang FULRO bởi vì bọn đầu sỏ, chỉ huy FULRO rất ngoan cố, chúng luôn tìm mọi cách để khống chế, đe dọa đồng bọn, sử dụng vũ lực để khủng bố, giết hại, trả thù đối với những người từ bỏ FULRO quay Irở về với cách mạng. Đồng thời, chúng còn tìm mọi thủ đoạn đe dọa, khống chế gia đình các đối tượng FULRO và buộc họ phải hoạt động cho chúng. Để giải tỏa sự khống chế đó, ta phải dùng biện pháp quân sự để bảo vệ quần chúng, trấn áp, truy quét, tiêu diệt những kẻ cầm đầu ác ôn, hỗ trợ và tạo điều kiện cho mũi tiến công chính trị đạt hiệu quả theo mục đích đề ra. Do vậy, đấu tranh giải quyết FULRO cần kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự, tiến công quân sự là một bộ phận quan trọng của cuộc đấu tranh giải quyết FULRO.


Thực tiễn, sau khi ta giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30.4.1975), tổ chức phản động FULRO ra sức củng cố, phát triển lực lượng ở địa bàn chiến lược 3 tỉnh Tây Nguyên (Đắk Lắk, Lâm Đồng, Gia Lai - Kon Tum) và 5 tỉnh phụ cận (Nghĩa Bình, Phú Khánh, Thuận Hải, Đồng Nai, Sông Bé), chúng câu kết với các thế lực phản động nước ngoài, chống phá cách mạng Việt Nam quyết liệt, về hành chính, FULRO chia Tây Nguyên thành 9 tỉnh, 46 quận; về lực lượng, lúc đầu chúng có khoảng từ 3.000 đến 5.000 tên, thành lập 4 khung sư đoàn kiêm 4 vùng chiến thuật, 18 khung tiểu đoàn; đến cuối năm 1975, lực lượng FULRO đã phát triển lên đến trên 30.000 tên. Có lực lượng vũ trang, FULRO đẩy mạnh các hoạt động đánh phá, phục kích, tập kích vào các đơn vị nhỏ lẻ, trụ sở ủy ban hành chính, kho tàng, bắt cóc, giết hại cán bộ của ta ở nhiều nơi, gây nhiều tổn thất cả về người và của, làm cho tình hình an ninh chính trị trở nên hết sức căng thẳng. Cuối năm 1976, FULRO khống chế 871/1.847 buôn, 210/350 xã trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên; trọng điểm hoạt động của FULRO ở vùng ngoại ô thị xã Buôn Ma Thuột, các huyện Krông Búk, Krông Pắk, Krông Nô, Buôn Hồ... của tỉnh Đắk Lắk; Đức Trọng, Đơn Dương, Di Linh, Bảo Lộc của tỉnh Lâm Đồng; Chư Prông, Ajunpa, Sa Thầy của tỉnh Gia Lai - Kon Tum1 (Ban Dân tộc tôn giáo, Tổng kết công tác vận động quần chúng đấu tranh giải quyết FULRO và xây dựng toàn diện vùng chiến lược Tây Nguyên, Tlđd). Lợi dụng chính quyền cơ sở của ta chưa ổn định và còn nhiều sơ hở, FULRO tiến hành hàng trăm vụ tiến công vũ trang vào các buôn làng ở Đắk Lắk, Lâm Đồng, Thuận Hải; nổi bật là 4 vụ tập kích vào Huyện đội Bảo Lộc, ấp Đạ Chay, tiền phương Tỉnh đội Tuyên Đức ở Tiêng Liêng và tập kích vào 1 trung đội thuộc Tiểu đoàn 810 ở Đầm Ròn, tỉnh Lâm Đồng; ở Đắk Lắk, chúng tiến hành 5 vụ tập kích quy mô cấp tiểu đoàn, đánh vào Lạc Thiện, Gung Gié, Buôn Hre, Buôn Hồ, Buôn Triết; ở Gia Lai - Kon Tum, FULRO chưa có hoạt động vũ trang nào đáng kể, nhưng chúng tập hợp lực lượng đội lốt tôn giáo tại nhà thờ Kon Tum, hòng gây bạo loạn dịp lễ mồng 2 tháng 9 năm 1975. Những hoạt động vũ trang của FULRO đã gây thiệt hại, tổn thất cho một số đơn vị bộ đội và chính quyền cơ sở của ta, làm cho tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội trên địa bàn Tây nguyên hết sức căng thẳng, nhiều nơi bị đe dọa nghiêm trọng.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1136



« Trả lời #52 vào lúc: 06 Tháng Bảy, 2023, 07:08:11 am »

Trước những hoạt động vũ trang nguy hiểm của FULRO, trên cơ sở lực lượng vũ trang địa phương và các đơn vị bộ đội chủ lực đứng chân trên địa bàn, trong giai đoạn đầu, ta chủ yếu sử dụng biện pháp quân sự, truy quét, tiến công tiêu diệt bọn đầu sỏ, những kẻ ác ôn, làm tan rã từng bộ phận, từng toán vũ trang của FULRO. Từ tháng 5 năm 1975, lực lượng vũ trang các địa phương cùng lực lượng chủ lực của Quân đoàn 2 (2 sư đoàn thiếu), Quân đoàn 3 (2 sư đoàn thiếu), Quân khu 5 (2 sư đoàn thiếu và Đoàn 335), không quân của Sư đoàn 370 và một số lực lượng khác đứng chân trên địa bàn, tiến hành một số đợt cao điểm truy quét, tiến công vào các căn cứ FULRO. Trong quá trình đó, ta sử dụng lực lượng cấp tiểu đoàn, trung đoàn, được pháo binh, không quân chi viện, tiến công tiêu diệt bọn đầu sỏ, phá hơn 30 căn cứ của FULRO trong rừng sâu và làm tan rã nhiều toán vũ trang ở vùng ven; đến cuối năm 1976, FULRO bị tan rã gân 2/3 lực lượng, chỉ còn lại khoảng gân 10.000 tên (3.500 tên ngoài rừng, hơn 6.000 tên trong dân), chúng buộc phải co cụm củng cố, gom lực lượng lại thành 2 khung sư đoàn kiêm quân khu (Sư đoàn Đam Dy ở Đắk Lắk, Sư đoàn Bi Đúp ở Lâm Đồng), Trung đoàn Pô Than Chàm ở Thuận Hải. Lực lượng trong dân bị bóc gỡ, bị đánh bật ra khỏi nhiều buôn làng. Nội bộ số cầm đầu FULRO bị phân hóa, mâu thuẫn, thanh trừng, giết hại lẫn nhau. Nhờ đó mà ta đã giữ vững được an ninh chính trị, trật tự xã hội ở vùng mới giải phóng, bảo vệ thành quả cách mạng mới giành được.


Tuy nhiên, trong thời gian này ta sử dụng biện pháp quân sự truy quét FULRO tiến hành không liên tục, sau mỗi thắng lợi ta lại sinh ra chủ quan, lơi lỏng, FULRO có điều kiện phục hồi. Mặt khác, do sử dụng lực lượng tiến công, truy quét như tổ chức những trận đánh địch trong chiến tranh giải phóng, hỏa lực không quân, pháo binh lớn, có trận còn gây thương vong đối với cả quần chúng nhân dân nên đã gây ra những mặc cảm và sự hiểu lầm của quần chúng nhân dân đối với cách mạng, tạo kẽ hở cho FULRO lợi dụng xuyên tạc, kích động, lôi kéo quần chúng nhân dân.


Trước tình hình đó, đầu năm 1977, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 04/CT-TW ngày 2 tháng 2 năm 1977 "Về việc tiêp tục phát động quần chúng xây dựng cơ sở chính trị, truy quét FULRO, bảo vệ an ninh chính trị ở các tỉnh Tây Nguyên và Nam Khu V cũ". Được sự chỉ đạo kịp thời của Trung ương Đáng và Nhà nước, lực lượng vũ trang các địa phương phối hợp chặt chẽ với lực lượng chủ lực đứng chân trên các địa bàn, tiến hành 2 đợt cao điểm truy quét FULRO (3.7.1977), tiêu diệt và loại 5.260/10.000 tên, xóa phiên hiệu một số đơn vị vũ trang1 (Tiểu đoàn Pô Than Chàm ở Thuận Hải, Tiểu đoàn Lê Lợi ở Lâm Đồng, Ban Thanh tra FULRO ờ Đắk Lắk, Tiểu đoàn Chàm Hoa, căn cứ Đu Long ở Phú Khánh và nhiều toán vũ trang ở vùng ven), bắt nhiều tên đầu sỏ, phá một số căn cứ chỉ huy của FULRO, buộc chúng phải tiếp tục dồn ghép thu gọn đầu mối, thay đổi phiên hiệu, di chuyển tránh né để bảo tồn lực lượng. Như vậy, trong thời gian đầu sử dụng biện pháp quân sự, lực lượng vũ trang của ta đã đẩy lùi, ngăn chặn và làm tan rã một bộ phận quan trọng, bước đầu làm thất bại âm mưu gây bạo loạn và chống phá của FULRO.


Từ tháng 7 năm 1977 đến hết năm 1978, khi các đơn vị bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang của ta tập trung lên hướng biên giới Tây Nam để chống chiến tranh xâm lược của tập đoàn phản động Pôn Pốt - Iêng Xari, tần suất các đợt truy quét của ta giảm xuống, lực lượng vũ trang FULRO lại khôi phục, chúng luồn người vào trong các tổ chức hợp pháp trong dân và chính quyền cơ sở, tìm cách móc nối với các tổ chức phản động khác. Đến cuối năm 1978, lực lượng vũ trang FULRO phát triển lên tới hơn 8.000 tên (có hơn 2.100 tên ngoài rừng, hơn 6.500 trong dân), chúng tổ chức thành 6 khung sư đoàn, 10 trung đoàn, 44 tiểu đoàn, lập thêm Quân khu 5 và tổ chức hành lang tiến xuống các tỉnh duyên hải miền Trung. FULRO thay đổi thủ đoạn hoạt động, chúng ra sức phát triển lực lượng hợp pháp trong các tổ chức, lực lượng vũ trang cơ sở, đưa đại bộ phận lực lượng vào bám các buôn làng và phân tán trung ương FULRO thành nhiều bộ phận; đồng thời, chúng đẩy mạnh hoạt động vũ trang ở vùng ven các thị xã, uy hiếp các trục đường giao thông, đánh vào các khu kinh tế mới, cướp bóc tài sản, giết hại, thủ tiêu cán bộ cơ sở, khống chế, ép buộc quần chúng làm việc cho chúng, gây nên tình hình căng thẳng, lo lắng trong nhân dân, một số cán bộ thôn xã không dám bám cơ sở; một số đoạn trên các trục giao thông chiến lược, một số thị xã bị uy hiếp. Ngoài ra, FULRO còn tìm cách móc nối với các tổ chức phản động nước ngoài, lập căn cứ ở trên đất Campuchia để lôi kéo, cưỡng ép, bắt thanh niên người dân tộc đưa sang huấn luyện, sau đó lại luồn trở lại nội địa hoạt động chống phá cách mạng. Đồng thời, FULRO lợi dụng tình hình, kêu gọi viện trợ, gửi thư tới Liên hợp quốc đòi yêu sách theo chỉ đạo của nước ngoài.


Trước tình hình đó, cùng với công tác phát động quần chúng, xây dựng thực lực cách mạng ở cơ sở, thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, nâng cao đời sống đồng bào dân tộc thiểu số, cuối năm 1978 đến đầu năm 1979, lực lượng vũ trang các địa phương phối hợp với các đơn vị bộ đội chủ lực, kết hợp chặt chẽ giữa tiến công tiêu diệt, đánh bật quân Pôn Pốt ra khỏi những khu vực dọc tuyến biên giới Tây Nam với truy quét FULRO, nên ta đã tiêu diệt và bắt sống một số lớn lực lượng vũ trang FULRO ngoài rừng, khiến cho nội bộ bọn chỉ huy, đầu sỏ FULRO càng thêm mâu thuẫn, chúng thủ tiêu lẫn nhau, hoạt động vũ trang của chúng giảm hẳn. Nhưng từ đầu năm 1980 đến giữa năm 1981, do ta tập trung giúp cách mạng Campuchia, nên FULRO lại khôi phục lực lượng và đưa bọn cầm đầu sang Thái Lan, lập căn cứ ở Pét Úm để huấn luyện và nhận viện trợ của nước ngoài, sau đó đưa lực lượng quay trở về hoạt động rộ lên, chúng đã đưa được một số lớn thanh niên người dân tộc thiểu số sang các căn cứ ở Campuchia và Thái Lan để huấn luyện vũ trang. Nhận rõ vấn đề FULRO, ta chỉ đạo các địa phương tăng cường công tác vận động quần chúng, chăm lo ổn định đời sống cho đồng bào các dân tộc, làm cho đồng bào hiểu rõ chính sách của Đảng, Nhà nước và tính chất phản động của FULRO; đồng thời, các địa phương đã kết hợp chặt chẽ với biện pháp quân sự, sử dụng lực lượng vũ trang (Sư đoàn 10, Sư đoàn 320, Sư đoàn 968 cùng lực lượng vũ trang địa phương kết hợp với công an các tỉnh) mở liên tiếp một số đợt cao điểm tiến công tiêu diệt các nhóm vũ trang của FULRO. Từ năm 1981 đến hết năm 1982, trong các đợt truy quét, ta đã kết hợp chặt chẽ giữa biện pháp quân sự với củng cố, xây dựng chính quyền cơ sở, tạo điều kiện để nhân dân phát triển sản xuất, cải thiện đời sống đồng bào dân tộc thiểu số, vì vậy đã làm tan rã một bộ phận quan trọng lực lượng vũ trang FULRO ngoài rừng và kêu gọi được nhiều đối tượng lầm đường quay trở về với buôn làng, tham gia tích cực các hoạt động binh vận, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh giải quyết FULRO.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1136



« Trả lời #53 vào lúc: 06 Tháng Bảy, 2023, 07:09:44 am »

Quá trình truy quét FULRO từ năm 1975 đến năm 1982, có hiện tượng lặp đi lặp lại gần như thành quy luật, trong các đợt cao điểm truy quét, lực lượng FULRO thường phân tán tránh né, tìm cách chui vào trú ẩn hợp pháp trong dân; hết cao điểm, ta giãn ra thì chúng lại khôi phục lực lượng và tăng cường hoạt động1 (Báo cáo tổng kết công tác phát động quần chúng xây dựng cơ sở, truy quét FULRO từ sau giải phóng đến tháng 3 năm 1982 của Quân khu 5, Tlđd). Nguyên nhân của hiện tượng trên là do ta nắm địch không chắc, kết hợp giữa tiến công quân sự với phát động quần chúng xây dựng cơ sở chính trị và làm công tác binh vận thiếu chặt chẽ, không liên tục, vì vậy, nhiều trận đánh của lực lượng vũ trang không diệt được bọn đầu sỏ và cơ quan đầu não FULRO. Nhận rõ nguyên nhân của những khuyết điểm, hạn chế, thiếu sót, sau đó ta đã kết hợp chặt chẽ giữa phát động quần chúng xây dựng cơ sở chính trị với đấu tranh bằng biện pháp vũ trang, phân loại rõ từng đối tượng và bám sát cơ sở, nắm chắc tình hình, đề ra phương châm, phương thức hoạt động vũ trang, cách đánh phù hợp với từng đối tượng, từng tuyến FULRO.


Đối với tuyến trong dân, ta tập trung phát động quần chúng xây dựng cơ sở chính trị, tăng cường các đội công tác, kết hợp chặt chẽ biện pháp hành chính với phát động phong trào toàn dân làm công tác binh vận, bóc gỡ phần tử FULRO hợp pháp trong dân và kêu gọi những người theo FULRO trở về, phá chỗ dựa của FULRO trong các buôn làng. Đối với tuyến ven, do lực lượng dân quân tự vệ, công an, cơ sở mật, bộ đội địa phương và các tổ chức quần chúng tại địa phương có nhiệm vụ phát hiện chính xác các toán vũ trang bám buôn của FULRO; thường xuyên, liên tục tiến hành công tác tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, gọi hàng, kết hợp chặt chẽ với vận dụng cách đánh tập kích, phục kích, lừa dụ địch để tiêu diệt hoặc bắt sống làm tan rã từng toán vũ trang của FULRO. Đối với tuyến trong rừng sâu, xác định đây là tuyến ngoan cố nhất, bao gồm bọn đầu sỏ, chỉ huy và cơ quan đầu não FULRO nên cần sử dụng lực lượng vũ trang (cả chủ lực và địa phương) tiến công kiên quyết, nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não và bọn đầu sỏ FULRO, phá hành lang, căn cứ của chúng; quá trình đấu tranh phải chú trọng công tác trinh sát, nắm địch, phát hiện đúng đối tượng, chủ động truy quét, đánh trúng bọn chỉ huy, đầu sỏ, kiên trì theo dõi, mật phục, cắt đứt sự liên lạc và tiếp tế giữa các tuyến, cô lập lực lượng FULRO trong các căn cứ; khi tiến công, ta đã sử dụng lực lượng quy mô phù hợp, bám sát các hoạt động của chúng, phát hiện chính xác đối tượng và tổ chức chỉ huy, hiệp đồng chặt chẽ, kiên quyết tiêu diệt và bắt sống lực lượng FULRO trong các căn cứ.


Nhờ có chủ trương đúng và chỉ đạo kịp thời cả về nắm địch, xác định rõ từng đối tượng FULRO và phương châm hoạt động, cách đánh phù hợp; trong đó, quy mô các trận đánh được tổ chức chủ yếu ở cấp đại đội, tiểu đoàn và kiên trì mai phục, liên tục bám sát buôn làng, vì vậy đã nâng cao hiệu quả biện pháp quân sự Irong truy quét các toán vũ trang FULRO. Đến tháng 2 năm 1982, ta đã loại hơn 72.000 tên, trong đó có 27 tên trung ương FULRO, 5 cấp tướng, 20 đại tá, 779 thiếu tá, trung tá, 2.074 tên cấp úy; 114 cấp tỉnh, 506 cấp quận, 765 cấp xã; xóa 1 cơ quan trung ương FULRO, 2 khung sư đoàn, 28 khung trung đoàn, 112 khung tiểu đoàn, 92 khung xã, 314 khung buôn làng, thu 12.473 súng các loại1 (Báo cáo tổng kết công tác phát động quần chúng xây dựng cơ sở, truy quét FULRO từ sau giải phóng đến tháng 3 năm 1982 của Quân khu 5). Trong quá trình đó ta đã kết hợp chặt chẽ giữa truy quét FULRO với truy quét tàn quân chế độ cũ và các nhóm phản động khác, bảo đảm trật tự, an ninh chính trị trên địa bàn đồng thời hỗ trợ trực tiếp cho mũi tiến công chính trị đạt hiệu quả cao hơn. Qua thực tiễn hoạt động truy quét FULRO và kịp thời rút kinh nghiệm, từ năm 1983 trở đi, hoạt động vũ trang truy quét FULRO của ta thường xuyên được gắn liền với quá trình tổ chức thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng; đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động quần chúng, xây dựng cơ sở chính trị, tạo điều kiện cho nhân dân phát triển sản xuất, ổn định đời sống; trong đó, đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa tiến công bằng biện pháp quân sự với sử dụng số FULRO quay trở về, cùng già làng, trưởng bản và những người có uy tín trong các dân tộc thiểu số, tích cực kêu gọi số còn đang lẩn trốn trong rừng ra đầu thú, làm phân hóa hàng ngũ, bóc gỡ lực lượng FULRO ẩn náu trong dân, thúc đẩy việc cô lập, chia cắt sự liên lạc giữa các nhóm FULRO. Trong quá trình sau đó, ta không còn sử dụng lực lượng vũ trang quy mô lớn để truy quét tràn lan mà tổ chức lực lượng trinh sát bám sát địa bàn, xác định chính xác từng nhóm, từng đối tượng và sử dụng lực lượng vũ trang phù hợp hơn, đánh đúng đối tượng, nên đã tạo được lòng tin và sự ủng hộ của quần chúng nhân dân, biện pháp quân sự đạt hiệu quả và hỗ trợ đắc lực cho biện pháp chính trị. Đặc biệt, trong những năm từ 1984 đến 1987, ta đã phát hiện chính xác và kịp thời đánh tan nhiều toán vũ trang (ZT, ZG, HE, AAC) từ bên ngoài xâm nhập vào vùng ngã ba biên giới, làm thất bại mưu đồ xây dựng mật cứ chống phá cách mạng lâu dài của FULRO ở vùng Sa Thầy, tỉnh Gia Lai - Kon Tum.


Phát huy kết quả đạt được, ta đã kiên trì kết hợp chặt chẽ biện pháp quân sự với biện pháp chính trị, lấy tiến công chính trị là chủ yếu, làm phân hóa nội bộ FULRO. Cùng vđi đó, lực lượng vũ trang kiên trì bám sát, đánh mạnh, đánh đúng đối tượng, vì vậy số ở rừng về đầu hàng ngày càng nhiều, lực lượng FULRO ngày càng bị suy giảm. Đến đầu năm 1988, trong nội địa các tỉnh Tây Nguyên, FULRO chỉ còn lại khoảng hơn 100 tên, chia thành 14 toán1 (Lâm Đồng: 1 toán (7 tên); Thuận Hải: 1 toán (3 - 5 tên); Đắk Lắk: 4 toán (20 tên); Gia Lai - Kon Tum: 8 toán (77 tên)); những toán này thường di chuyển, tránh né, không còn dám công khai hoạt động vũ trang như trước. Từ năm 1988 đến năm 1992, cùng với việc phát động quần chúng xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, tăng cường chăm lo phát triển sản xuất, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên, ta đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giác ngộ chính trị cho toàn dân, kết hợp với biện pháp đấu tranh vũ trang, sử dụng bạo lực cách mạng trấn áp đúng lúc, đúng đối tượng, nên lực lượng còn lại của FULRO hầu như bị tan rã, số đông phải chạy sang Campuchia, trong nội địa không còn khả năng để hoạt động. Có thể khẳng định, với việc kết hợp chặt chẽ giữa biện pháp quân sự với biện pháp chính trị, lấy tiến công chính trị là chủ yếu, là một giải pháp quan trọng, quyết định tới thắng lợi của cuộc đấu tranh giải quyết FULRO ở địa bàn chiến lược Tây Nguyên sau ngày miền Nam nước ta được giải phóng.


Tuy nhiên, trong quá trình đấu tranh giải quyết FULRO một thời gian dài (1975 - 1979) ta còn nôn nóng, tưởng rằng có thể giải quyết nhanh chóng, nên chủ yếu sử dụng biện pháp quân sự, truy quét tràn lan, dùng lực lượng vũ trang đánh tập trung như đánh địch trong chiến tranh giải phóng, vừa không hiệu quả trong truy quét, vừa không nắm được dân, không tách được chúng ra khỏi nhân dân và tạo kẽ hở cho FULRO lợi dụng khống chế và lôi kéo quần chúng. Quá trình truy quét cũng không liên tục, chưa gắn với hoạt động của các tổ, đội công tác, nên không phát động được quần chúng, không bảo vệ được cán bộ cốt cán ở cơ sở, có nơi còn xem gia đình, người thân FULRO như phần tử địch, thậm chí có nơi còn thực hiện sai chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước, nên đã gây hoang mang và tâm lý hận thù, xa lánh của đồng bào các dân tộc với cách mạng, đẩy họ theo FULRO; hơn nữa, cấp ủy, chính quyền và lực lượng vũ trang địa phương, nhiều nơi còn biểu hiện chủ quan, chưa tập trung đúng mức, có lúc còn bị động trong đấu tranh, truy quét, nên hiệu quả các biện pháp đấu tranh thấp, không tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của quần chúng. Tất cả những hạn chế, thiếu sót trên đã tác động mạnh, khiến cho quá trình đấu tranh giải quyết FULRO của ta phải kéo dài, chịu tổn thất và phải mất nhiều thời gian, công sức mới giải quyết được.


Như vậy, kinh nghiệm về kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự, truy quét FULRO với đấu tranh chính trị, lấy tiến công chính trị là biện pháp chủ yếu, giữ vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong cuộc đấu tranh giải quyết FULRO (1975 - 1992). Chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, quán triệt, rút kinh nghiệm cả những mặt tích cực và những hạn chế, khuyết điểm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ truy quét FULRO trước kia; từ đó, vận dụng sáng tạo, linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tiễn ở từng địa phương, đơn vị, đặc điểm từng vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, đảm bảo đạt hiệu quả thiết thực trong thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về tăng cường xây dựng, phát triển toàn diện vùng chiến lược Tây Nguyên trong thời kỳ mới.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1136



« Trả lời #54 vào lúc: 06 Tháng Bảy, 2023, 07:10:31 am »

2. Thực hiện biện pháp quân sự đúng mức, đúng lúc, kết hợp chặt chẽ giữa trấn áp và khoan hồng, một nội dung quan trọng và thiết thực, nhằm nâng cao hiệu quả biện pháp chính trị trong đấu tranh giải quyết FULRO

Trong đấu tranh giải quyết FULRO sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (1975), các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, các ban ngành, lực lượng vũ trang đã kết hợp chặt chẽ giữa truy quét bằng biện pháp quân sự với tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng về chính sách dân tộc, tôn giáo, xây dựng và cải tạo xã hội chủ nghĩa ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Trong đó, biện pháp quân sự của lực lượng vũ trang nhằm trấn áp những nhóm vũ trang, đối tượng đầu sỏ, ác ôn, phân hóa hàng ngũ chỉ huy, giải tỏa sự khống chế của chúng, đây là biện pháp cần thiết, rất quan trọng, có ý nghĩa thúc đẩy nhanh sự tan rã tổ chức FULRO. Hình thức, phương pháp tổ chức, thời điểm sử dụng lực lượng vũ trang để trấn áp, truy quét có tính chất quyết định đến hiệu quả và mục đích của biện pháp quân sự trong đấu tranh giải quyết FULRO. Đồng thời, dùng vũ trang trấn áp đúng lúc còn mở ra thời cơ để thực hiện chính sách khoan hồng đối với các đối tượng FULRO ra đầu thú, đầu hàng, tạo điều kiện để lôi kéo các đối tượng FULRO quay trở về với cách mạng; qua đó, thể hiện tính chính nghĩa và bản chất tốt đẹp của chế độ mới và đó cũng là một cách thức, nội dung phát huy truyền thống nhân đạo của dân tộc, góp phần thực hiện thắng lợi lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Đối với những kẻ đi lầm đường, lạc lối, đồng bào ta cần phải dùng chính sách khoan hồng, lấy lời khôn lẽ phải mà bày cho họ, nói lẽ phải chắc họ sẽ nghe"1 (Hồ Chí Minh, Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1970, tr. 32). Do vậy, thực hiện trấn áp bằng biện pháp quân sự đúng mức, đúng lúc, đồng thời kết hợp chặt chẽ với khoan hồng rộng rãi với các đối tượng FULRO ra đầu thú, đầu hàng có ý nghĩa rất quan trọng, tác động mạnh tới hiệu quả của cuộc đấu tranh giải quyết FULRO.


Đặc điểm đối tượng cầm đầu FULRO rất ngoan cố, chúng chủ yếu lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để lừa bịp, ép buộc, khống chế, bắt ép thanh niên và quần chúng nhân dân người dân tộc thiểu số làm việc cho chúng, phải cầm súng chống lại chính dân tộc mình, gây tội ác với cả người thân của mình ở trong các buôn làng. Chính vì vậy, việc trấn áp không chỉ dừng lại ở mức xử lý, làm vô hiệu hóa khả năng hoạt động của chúng, mà quan trọng hơn là trấn áp để giải tỏa sự khống chế bằng vũ lực và sự lừa bịp của FULRO đối với quần chúng nhân dân. Để đạt được các mục tiêu trên, trong quá trình đấu tranh giải quyết FULRO, ta đã nhiều lần tổ chức rút kinh nghiệm, từng bước khắc phục những hạn chế, thiếu sót, khuyết điểm trong đấu tranh, truy quét bằng biện pháp vũ trang, càng về sau việc tổ chức trinh sát, bám nắm đối tượng và sử dụng lực lượng càng phù hợp hơn, kết hợp tốt hơn giữa công tác vận động quần chúng với kiên quyết trấn áp những đối tượng đầu sỏ, không làm ảnh hưởng tới đời sống nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đối tượng cần phải trấn áp vũ trang được ta xác định rõ là bọn đầu sỏ, chỉ huy những toán vũ trang ngoan cố chống phá cách mạng, có tội ác với nhân dân, do vậy, hiệu quả của biện pháp vũ trang mang lại hiệu quả thiết thực.


Thực tế hoạt động các nhóm vũ trang FULRO thường ở quy mô nhỏ, luồn lách, né tránh và luôn cơ động, chúng thông thạo địa hình, ta khó bám sát và tổ chức trấn áp khi chúng còn đang gây tội ác. Những năm đầu, ta dùng lực lượng vũ trang quy mô lớn truy quét không hiệu quả, có đợt truy quét tràn lan, nhầm đối tượng, tạo kẽ hở cho FULRO lợi dụng, xuyên tạc và gây tâm lý tiêu cực trong đồng bào các dân tộc. Nhận rõ những hạn chế, khuyết điểm và kịp thời rút kinh nghiệm, về sau ta dùng lực lượng nhỏ, luồn sâu, liên tục bám sát đối tượng, tổ chức tiến công kiên quyết, tiêu diệt từng toán vũ trang khi chúng đang hành động, do đó vừa có tác dụng trấn áp, vừa làm cơ sở để tuyên truyền, hỗ trợ cho biện pháp đấu tranh chính trị đạt hiệu quả hơn. Tiểu đoàn bộ binh 20 tỉnh Nghĩa Bình cuối năm 1985 được phân công hoạt động ở tây nam núi Chư Prông (huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai - Kon Tum) tổ chức lực lượng thành từng đơn vị nhỏ, liên tục bám sát toán ZG25, đánh 5 trận diệt 9 tên, bắt sống 8 tên, số còn lại chạy về làng Phung (xã Nhơn Hòa, huyện Chư Sê), liên tục bị bám đánh, đã ra hàng 10 tên. Tiểu đoàn bộ binh 1 của tỉnh Gia Lai - Kon Tum hoạt động ở khu vực Sa Thầy, kiên trì bám địch gần 20 ngày liền (17.11 - 4.12.1985), luồn vào trong căn cứ, tiêu diệt 7/11 tên toán FE, trong đó có tên toán trưởng (Trung tá Y Drôn) là Trưởng phòng 3 Bộ Quốc phòng FULRO. Thực tiễn đó đã chứng minh, việc sử dụng biện pháp quân sự đúng mức, đúng lúc, kết hợp chặt chẽ giữa trấn áp vũ trang và thực hiện chính sách khoan hồng của Đảng, Nhà nước đã được phát huy rộng rãi, càng về cuối hiệu quả đấu tranh càng được nâng cao, đóng góp tích cực và thúc đẩy mạnh mẽ mũi tiến công chính trị phát triển.


Song song với việc tổ chức trấn áp vũ trang, ta đã thực hiện khoan hồng rộng rãi đối với các đối tượng FULRO, góp phân thúc đẩy sự đầu hàng, làm phân hóa nội bộ và sự tan rã của tổ chức FULRO. Thực hiện Chỉ thị số 04/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng, các địa phương đã quán triệt, nâng cao nhận thức về việc trấn áp kết hợp với khoan hồng, được quần chúng đồng tình ủng hộ, làm cho đồng bào thấy rõ chính sách nhân đạo của cách mạng và chính quyền mới. Đồng thời, thông qua việc thực hiện chính sách khoan hồng, quần chúng nhân dân thấy rõ chính sách của Đảng không phải như FULRO tuyên truyền. Từ thực tiễn đó, làm cho dân hiểu, dân tin vào Đảng, tin vào chế độ mới. Mặt khác, quần chúng nhân dân nhận biết được sự lừa bịp của FULRO và nhận thức rõ FULRO không phải là đại diện, không mang lại lợi ích cho đồng bào dân tộc thiểu số. Việc thực hiện chính sách khoan hồng là một biện pháp hữu hiệu thúc đẩy sự đầu hàng, đầu thú của các đối tượng FULRO, có tác dụng hỗ trợ trực tiếp cho biện pháp chính trị, nhằm xóa bỏ tư tưởng kỳ thị, hận thù giữa các dân tộc thiểu số với người Kinh, xây dựng lòng tin của quần chúng nhân dân đối với chủ trương, chính sách của Đảng, qua đó xây dựng "thế trận lòng dân" ngày càng vững chắc ở cơ sở.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1136



« Trả lời #55 vào lúc: 06 Tháng Bảy, 2023, 07:11:00 am »

Về tổ chức thực hiện chính sách khoan hồng cũng rất linh hoạt, sáng tạo, các địa phương đã tranh thủ số FULRO bị bắt, ra hàng, trực tiếp đứng lên tham gia công tác tuyên truyền, tố cáo tội ác và những hành động hãm hại, trả thù lẫn nhau của các đối tượng cầm đầu, chỉ huy FULRO, vạch trần bản chất phản động của tổ chức FULRO; phương thức này đã mang lại hiệu quả thiết thực, vừa nâng cao nhận thức chính trị cho quần chúng, vừa tác động mạnh mẽ đến số FULRO còn lẩn trốn trong rừng trở về với buôn làng. Đồng thời, ta còn tích cực sử dụng những đối tượng cầm đầu, chỉ huy và những đối tượng FULRO có ảnh hưởng sâu rộng trong đồng bào các dân tộc đã và đang được hưởng chính sách khoan hồng, đi vào tận hang ổ FULRO để thuyết phục, lôi kéo đồng bọn về với cách mạng, tích cực tham gia bảo vệ buôn làng, không để FULRO xâm nhập. Ở Đắk Lắk, ta đã sử dụng tên Y Nay Ghũ (Chuẩn tướng), Y Rin Niê (Trung tá) - Tổng Thanh tra, Y Sũ Niê (Trung tá) - cán bộ cđ quan Bộ Quốc phòng, tiến hành vận động, gọi hàng được 348 tên trong rừng và 2.447 tên trong buôn ra đầu thú. Ở Thuận Hải, Đặng Thị Trào - một nữ sinh người Chăm bị FULRO lừa phỉnh vào rừng, đến khi lâm bệnh thì bị chúng bỏ rơi, ta đã tận tình đưa về cứu chữa khỏi bệnh, giúp đối tượng quay trở lại xây dựng cuộc sống mới; từ đó, chị trực tiếp ca ngợi chính sách khoan hồng của Đảng, nhiệt tình vận động các đối tượng FULRO Chăm ra đầu thú. Trương Thanh Duyên - Chính trị viên Trung đoàn Pothungirai bị ta bắn gãy 2 chân, nhưng được ta chăm sóc, cứu chữa, khi bình phục đã xúc động nói: "Cách mạng đã cứu sống tôi". Những việc làm thực tế đó đã chứng minh tính hiệu quả của các hoạt động nhân đạo, chính sách khoan hồng của Đảng, Nhà nước, có tác động mạnh mẽ, mang tính thuyết phục rất cao đối với mọi đối tượng FULRO. Có thể khẳng định, chính sách khoan hồng của Đảng, Nhà nước ta là một trong những động lực thúc đẩy họ quay trở về với quần chúng nhân dân xây dựng cuộc sống mới.


Tại Lâm Đồng, sau khi phát động quần chúng đấu tranh với bọn cầm đầu FULRO Vùng 4 giành thắng lợi, xuất phát từ tâm tư tình cảm, nguyện vọng của đồng bào các dân tộc, ta đã thực hiện chính sách khoan hồng đối với 16 đối tượng là những nhân sĩ, trí thức, sĩ quan cao cấp của FULRO, được cảm hóa, nên họ đã lập công chuộc tội, kêu gọi được nhiều đối tượng FULRO về hàng. Tiêu biểu là Ya Duck - nguyên Đại tá, Phó Thủ tướng FULRO được cử làm Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc tỉnh Lâm Đồng, ông là người có uy tín, ảnh hưởng khá lớn đối với đồng bào dân tộc thiểu số và số đã từng tham gia FULRO; sau khi được hưởng lượng khoan hồng, ông đã tích cực vận động quần chúng, kêu gọi FULRO trở về, hòa giải nhiều vụ tranh chấp, khiếu kiện về đất đai và các vụ việc mâu thuẫn lợi ích khác trong vùng đồng bào các dân tộc, trở thành hạt nhân chủ chốt xây dựng mối đoàn kết giữa các dân tộc trong tỉnh. Với những đối tượng là sĩ quan, binh lính FULRO (50 người), ta cho học tập, cải tạo, thực hiện chính sách chăm sóc sức khỏe, tổ chức khám chữa bệnh cho họ, sau đó phân loại, giao cho gia đình quản lý, giáo dục, chính quyền địa phương bảo vệ và bảo đảm cho họ quay trở lại cộng đồng; đối với quần chúng là cơ sở của FULRO trong các buôn làng (trên 800 người), ta giao cho chính quyền cơ sở mở lớp tuyên truyền, giáo dục ngay tại buôn làng và giúp họ cam kết không giúp đỡ, tiếp tế cho FULRO.


Như vậy, việc khoan hồng rộng rãi đối với các đối tượng FULRO, chúng ta đã chứng minh sự đúng đắn về chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước, cả trong lời nói và việc làm cụ thể, làm cho đồng bào thấy rõ tính ưu việt của chế độ mới; đồng thời giúp cho quần chúng nhân dân nhận rõ bản chất phản động, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để xuyên tạc, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, lấy đồng bào các dân tộc thiểu số làm tấm bình phong để che đậy âm mưu nham hiểm của tổ chức FULRO. Với ý nghĩa đó, khoan hồng trở thành một nội dung, biện pháp thiết thực phục vụ cho biện pháp đấu tranh chính trị, góp phần quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của cuộc đấu tranh giải quyết FULRO ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên.


Trong thời kỳ mới, các thế lực phản động, thù địch nước ngoài vẫn tiếp tục âm mưu tạo dựng ngọn cờ, tập hợp lực lượng, chúng thường lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, hòng tạo dựng tổ chức phản động, lực lượng đối lập, gây mất ổn định chính trị ở trong nước, nhằm chống phá lâu dài cách mạng nước ta. Trong quá trình đó, tư tưởng kỳ thị dân tộc và một số phần tử đi theo FULRO trước kia vẫn đang còn tồn tại trong các buôn làng ở Tây Nguyên, đặc biệt là những phần tử FULRO lưu vong ở nước ngoài, được các thế lực phản động hậu thuẫn, chúng chưa từ bỏ âm mưu đòi "ly khai", "tự trị" ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Chính vì vậy, để xây dựng và phát triển toàn diện vùng chiến lược Tây Nguyên, chúng ta phải thường xuyên cảnh giác, quán triệt sâu sắc bài học kinh nghiệm về "kết hợp chặt chẽ các biện pháp đấu tranh, truy quét FULRO, lấy biện pháp đấu tranh chính trị là chủ yếu", làm cho quần chúng nhân dân nhận rõ tính chất ưu việt, chính nghĩa của chế độ mới, từ đó tích cực tham gia đấu tranh làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn tuyên truyền, xuyên tạc của các phần tử phản động. Đồng thời, trong thực hiện chính sách nhân đạo, cần tìm hiểu kỹ lưỡng, hạn chế thấp nhất những thiếu sót, không để kẽ hở mà chúng có thể lợi dụng, đó là biện pháp hữu hiệu để loại trừ tư tưởng "ly khai", "tự trị" trong vùng đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Đối với lực lượng vũ trang địa phương, các đơn vị bộ đội chủ lực và các lực lượng khác đứng chân trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên và vùng phụ cận, bên cạnh việc tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quân sự, quốc phòng theo kế hoạch được giao, cần phối hợp chặt chẽ với cấp ủy Đảng, chính quyền các địa phương, thường xuyên chăm lo đời sống, tạo điều kiện cho đồng bào các dân tộc đẩy mạnh sản xuất, nâng cao mọi mặt đời sống vật chất, tinh thần, văn hóa - xã hội, xây dựng và củng cố vững chắc khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam trong tình hình mới. Đồng thời, các đơn vị quân đội cần tổ chức thực hiện tốt chức năng "Đội quân công tác" trong quá trình xây dựng và phát triển toàn diện vùng chiến lược Tây Nguyên, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số; muốn thực hiện tốt, trước hết cần quán triệt, tuyên truyền rộng rãi và tổ chức thực hiện đúng những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; hết sức tỉnh táo, lắng nghe, tôn trọng ý kiến và tạo điều kiện đầy đủ cho đồng bào các dân tộc làm chủ cuộc sống của mình; thường xuyên bám sát cơ sở, phát hiện kịp thời và kiên quyết, kiên trì đấu tranh, giải quyết triệt để những vấn đề còn tồn tại, hạn chế thấp nhất những vấn đề mới nảy sinh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá, xuyên tạc, lừa bịp, lôi kéo quần chúng của các thế lực thù địch, không để chúng lợi dụng và tạo kẽ hở có thể phát sinh tư tưởng "ly khai", "tự trị" trong đồng bào các dân tộc thiểu số, giữ vững môi trường hòa bình ổn định để xây dựng và phát triển toàn diện vùng chiến lược Tây Nguyên, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1136



« Trả lời #56 vào lúc: 10 Tháng Bảy, 2023, 07:21:38 am »

Bài học 4: Tổ chức thực hiện tốt công tác vận động quần chúng, xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh gắn liền với quá trình bồi dưỡng, phát triển đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên

Công tác vận động quần chúng là một nội dung hết sức quan trọng trong hoạt động lãnh đạo của Đảng, công tác này trực tiếp góp phần xây dựng và củng cố mối quan hệ "máu thịt" giữa Đảng với nhân dân, xây dựng "thế trận lòng dân". Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn kiên trì, nhất quán quan điểm "cách mạng là sự nghiệp của quần chúng", nên đã thường xuyên chăm lo, dày công xây đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tổ chức toàn dân đánh giặc, coi đó là một nhiệm vụ chiến lược của sự nghiệp cách mạng; nhiệm vụ đó chỉ thực hiện thắng lợi thông qua công tác vận động quần chúng, được quần chúng nhân dân đồng tình ủng hộ, tạo thành sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược. Chính vì vậy, trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Đảng ta đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, kết hợp chặt chẽ với sức mạnh thời đại, kiên trì quyết tâm và trường kỳ kháng chiến, tiến hành thắng lợi cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành lại hòa bình, độc lập, tự do và thống nhất đất nước.


Sau Đại thắng mùa Xuân 1975, tổ chức phản động FULRO nổi lên chống phá quyết liệt cách mạng nước ta ở Tây Nguyên và vùng phụ cận; chúng lợi dụng trình độ nhận thức của đồng bào các dân tộc còn thấp, không đồng đều và có sự khác biệt, sử dụng chiêu bài "dân tộc, tôn giáo" để lừa gạt, kích động, lôi kco, dùng biện pháp vũ trang để ép buộc, khống chế quần chúng, dựa vào quần chúng đồng bào các dân tộc thiểu số để hoạt động. Trong quá trình hoạt động, FULRO không từ một thủ đoạn nào để tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước, tạo kẽ hở để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhất là chia rẽ giữa đồng bào dân tộc thiểu số với người Kinh. Đồng thời, chúng ráo riết móc nối, củng cố tổ chức, xây dựng lực lượng ngầm trong dân, lừa bịp nhân dân để khuếch trương thanh thế và dùng lực lượng này khống chế, ép buộc quần chúng cung cấp lương thực, thực phẩm, thuốc men, bổ sung quân số cho lực lượng vũ trang trong các căn cứ FULRO ngoài rừng, làm lũng đoạn chính quyền cách mạng ở cơ sở, uy hiếp các trục đường giao thông huyết mạch trên địa bàn. Như vậy, FULRO cũng nhận biết và rất coi trọng vai trò của quần chúng đồng bào dân tộc thiểu số đối với sự tồn tại và hoạt động của tổ chức này, chúng cho rằng "điều kiện căn bản để giành thắng lợi cũng không còn là binh hùng tướng mạnh, vũ khí tối tân, mà là cuộc chạy đua, tranh thủ lòng dân"1 (Bộ Công an, Tổng kết lịch sử cuộc đấu tranh giải quyết vấn đề FULRO, Sđd, tr. 94). Trước âm mưu nham hiểm của FULRO và đặc điểm tình hình các dân tộc thiểu số, nhận rõ những thủ đoạn lừa bịp, khống chế quần chúng của FULRO, Đảng ta đã kịp thời ra Chỉ thị số 04/CT-TW ngày 2 tháng 2 năm 1977 "Về việc phát động quần chúng xây dựng cơ sở chính trị, truy quét FULRO, bảo vệ an ninh chính trị ở các tỉnh Tây Nguyên và Nam Khu V cũ"; trong đó xác định "FULRO không phải đơn thuần là vấn đề quân sự mà chủ yếu là vấn đề chính trị, phải được giải quyết một cách cơ bản, lâu dài. Việc truy quét FULRO phải gắn liền với việc thực hiện chính sách của Đảng đối với dân tộc, đối với tôn giáo, gắn liền với các nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Tây Nguyên"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương, Chỉ thị số 04/CT-TW ngày 2 tháng 2 năm 1977 "Về việc phát động quần chúng xây dựng cơ sở chính trị, truy quét FULRO, bảo vệ an ninh chính trị ở các tỉnh Tây Nguyên và Nam Khu V cũ", Văn phòng Trung ương Đảng, tr. 1). Trên cơ sở Chí thị số 04/CT-TW của Trung ương Đảng, các cấp ủy Đảng cùng hệ thống chính quyền địa phương đã chủ động chuyển hướng đấu tranh, đẩy mạnh công tác vận động quần chúng, xây dựng cơ sở chính trị tại địa phương minh, từng bước đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh giải quyết tổ chức phản động FULRO.


Thực hiện Chỉ thị số 04/CT-TW của Ban Bí thư, điều mấu chốt là phải làm cho đồng bào các dân tộc nâng cao nhận thức, giác ngộ chính trị, phân biệt rõ địch - ta; điều đó chỉ thực hiện được thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục bền bỉ, kết hợp chặt chẽ với những việc làm thiết thực, mang lại lợi ích, ấm no cho đồng bào; bởi vì, đối với đồng bào dân tộc thiểu số không gì có sức thuyết phục hơn bằng những kết quả việc làm cụ thể, người thực việc thực, đồng thời đáp ứng được nguyện vọng, tâm lý và phù hợp với phong tục truyền thống của từng dân tộc, từng đối tượng quần chúng. Trong quá trình tiến hành công tác vận động quần chúng, cần đặc biệt tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của già làng, tầng lớp trí thức, số FULRO đã quay trở về buôn làng để cùng tiến hành công tác vận động quần chúng. Những nội dung công tác trên, muốn tổ chức thực hiện đạt được mục tiêu đề ra, trước hết phải xây dựng được hệ thống chính quyền cơ sở vững mạnh, dám nghĩ, dám làm, là tấm gương để quần chúng noi theo và cùng thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng. Đồng thời, xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh có ý nghĩa tạo niềm tin cho quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng, tích cực hơn trong lao động sản xuất, xây dựng cuộc sống mới. Thông qua hệ thống cơ sở chính trị địa phương, cán bộ cơ sở tổ chức tuyên truyền, giáo dục, làm cho quần chúng nhận rõ âm mưu thâm độc, sự phản động của FULRO, từ đó quần chúng nhân dân trực tiếp tham gia phòng ngừa, đấu tranh giải quyết FULRO ngay trong tùng gia đình minh, đó là cách chủ động, tích cực nhất, là cách tốt nhất quyết định tới thắng lợi cuối cùng của cuộc đấu tranh giải quyết FULRO.


Như vậy, hệ thống chính quyền cơ sở vững mạnh có vai trò rất quan trọng trong cuộc đấu tranh giải quyết FULRO, nhất là đội ngũ cán bộ cơ sở, họ vừa thực hiện chức năng quản lý nhà nước tại địa phương, vừa trực tiếp sinh sống cùng với đồng bào các dân tộc, nên họ là người hiểu rõ nhất tâm tư, nguyện vọng của đồng bào và tổ chức các hoạt động, công việc cụ thể tại địa phương phù hợp với điều kiện thực tiễn; do vậy, quá trình xây dựng hệ thống chính quyền cơ sở phải gắn liền với xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, đây là điều cốt lõi để tập hợp, tổ chức quần chúng đẩy mạnh thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số.


Thực tiễn cuộc đấu tranh giải quyết FULRO những năm đầu, thực hiện chủ trương dùng biện pháp quân sự truy quét, tiêu diệt từng nhóm vũ trang FULRO ngoài rừng, ta thiên về sử dụng lực lượng vũ trang trấn áp, trong đó có cả bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, dùng cả không quân, pháo binh chi viện cho những trận đánh, ta tưởng rằng sẽ nhanh chóng giải quyết được tổ chức FULRO. Nhưng cứ hết đợt truy quét, lực lượng vũ trang của ta rút thì FULRO quay trở lại hoạt động mạnh, vấn đề càng trở nên phức tạp hơn; hiện tượng này cứ lặp đi, lặp lại nhiều lần, làm cho cuộc đấu tranh giải quyết FULRO kéo dài, thiếu hiệu quả. Trước tình hình đó, qua nghiên cứu bản chất, nguồn gốc tổ chức FULRO, ta thấy rõ vấn đề chính là chúng còn chỗ dựa cơ bản trong đồng bào các dân tộc thiểu số; bởi vì, thành viên FULRO đều là con em của bà con nhân dân, bị bọn chỉ huy, cầm đầu FULRO dụ dỗ, lừa gạt, khống chế, buộc phải đi theo chúng, vì vậy FULRO vẫn được đồng bào thiểu số tiếp tế, cung cấp người và của, che giấu lực lượng. Nhận rõ vấn đề cơ bản trên, Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 04/CT-TW ngày 2 tháng 2 năm 1977 nhằm phát động quần chúng xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần, chăm sóc sức khỏe, nắm bắt nguyện vọng của đồng bào và giúp đồng bào các dân tộc thiểu số đẩy mạnh sản xuất, ổn định cuộc sống mới, qua đó giúp đồng bào hiểu rõ đường lối, chủ trương, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, tích cực tham gia vận động con em mình không theo FULRO và động viên những người còn lầm đường lạc lối quay trở về với cách mạng, cùng toàn dân xây dựng cuộc sống mới ở buôn làng.



Từ khi có Chỉ thị số 04 của Ban Bí thư, các cấp ủy Đảng, hệ thống chính quyền và các lực lượng tham gia cuộc đấu tranh giải quyết FULRO đã tập trung lãnh đạo, có nhiều biện pháp tổ chức vận động quần chúng, xây dựng cơ sở chính trị địa phương ngày càng vững mạnh, tạo được chuyển biến một cách cơ bản, tướng đối đồng đều trên khắp địa bàn Tây Nguyên; đồng bào thấy được bản chất phản động của FULRO, từ đó kết quả đấu tranh giải quyết FULRO có sự chuyển biến vững chắc. Thông qua việc xây dựng cơ sở chính trị ở địa phương vững mạnh, đã nâng cao năng lực lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, hệ thống chính quyền ở địa phướng, tăng cường môi quan hệ gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân, khơi dậy tiềm năng sáng tạo, phát huy quyền làm chủ của quần chúng nhân dân, khuyên khích, động viên nhân dân tham gia đấu tranh giải quyết FULRO, bảo vệ chính quyền nhân dân của địa phương mình; qua đó lại giúp cho cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương phát hiện, bồi dưỡng cán bộ, xây dựng được đội ngũ cán bộ cốt cán người dân tộc thiểu số, làm cho chính quyền cơ sở càng vững chắc, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy trong thực hiện chủ trương, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng ở từng địa phương. Hệ thống chính trị tại các ấp, buôn làng và đội ngũ cán bộ cốt cán người dân tộc lại là chỗ dựa của quần chúng và tổ chức quần chúng đồng bào các dân tộc thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1136



« Trả lời #57 vào lúc: 10 Tháng Bảy, 2023, 07:23:12 am »

Như vậy, công tác vận động quần chúng và phát động quần chúng xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh có vị trí, vai trò rất quan trọng, là một đòi hỏi khách quan, yêu cầu cấp thiết trong cuộc đấu tranh giải quyết FULRO ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên và vùng phụ cận. Có tiến hành vận động được quần chúng mới xóa được cơ sở của FULRO trong dân, làm mất chỗ dựa của chúng trong đồng bào dân tộc thiểu số, đó chính là điều kiện cơ bản nhất để loại trừ sự tồn tại và hoạt động của tổ chức FULRO. Đồng thời, khi đồng bào các dân tộc thiểu số hiểu rõ bản chất của FULRO, tin tưởng chính sách dân tộc của Đảng, sẽ tạo được thế trận rộng khắp, huy động được lực lượng đông đảo nhất để tiến hành biện pháp đấu tranh chính trị và hỗ trợ cho biện pháp đấu tranh khác hiệu quả hơn. Tóm lại, bài học kinh nghiệm về công tác vận động quần chúng xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh phải gắn liền với xây dựng đội ngũ cán bộ cốt cán người dân tộc thiểu số ở từng địa phương trong cuộc đấu tranh giải quyết FULRO, đến nay vẫn còn nguyên giá trị cả về mặt lý luận và thực tiễn.


1. Công tác vận động quần chúng trước hết phải tạo được lòng tin của quần chúng, tập trung vào mục tiêu cơ bản là làm cho đồng bào các dân tộc thấy rõ tính ưu việt của chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước, phân biệt rõ địch - ta và bản chất phản động, lừa bịp của FULRO

Trước năm 1975, đại bộ phận quần chúng nhân dân các dân tộc thiểu số Tây Nguyên và vùng phụ cận bị chế độ cũ kìm kẹp, bị đầu độc tư tưởng "chống cộng" nhiều năm, cùng với đó là trình độ nhận thức chung của đồng bào dân tộc thiểu số còn rất hạn chế, chưa phân biệt rõ địch - ta, có sự mặc cảm và xa lánh cách mạng. Mặt khác, từ khi tổ chức FULRO giương khẩu hiệu đấu tranh chống lại chính quyền Sài Gòn, đòi quyền lợi cho các dân tộc thiểu số Tây Nguyên, bảo vệ người Chăm, đã làm cho số đông quần chúng ngộ nhận FULRO cũng là cách mạng, là người đại diện cho các dân tộc. Đồng thời, do các tập tục truyền thống, tập quán sinh sống của đồng bào các dân tộc thường bị chi phối bởi sự chỉ dẫn của tầng lớp già làng, nhân sĩ, trí thức. Mặt khác, cơ sở cách mạng của ta trong vùng đồng bào các dân tộc thiểu số mỏng, nhiều nơi "trắng", không có cơ sở trong dân; vùng căn cứ kháng chiến thường ở vùng sâu, vùng xa, ít có ảnh hưởng tới đời sống xã hội, nên tình hình cách mạng Tây Nguyên sau giải phóng (1975) rất phức tạp, chính quyền cơ sở chưa quản lý được hết tình hình địa phương mình. Nắm được những yếu kém trên, lực lượng FULRO lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để lừa bịp, lôi kéo, khống chế, ép buộc quần chúng nhân dân đi theo chúng chống phá cách mạng. Trước thực trạng đó, nhiệm vụ của công tác vận động quần chúng càng phải được coi trọng; để đạt được vị trí, vai trò chiến lược quan trọng, thì mục tiêu cơ bản là phải làm cho đồng bào tin tưởng vào đường lối, chủ trương, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, phân biệt rõ địch - ta và bản chất phản động, hại dân của FULRO, đây là khâu then chốt trong cuộc đấu tranh giải quyết FULRO ở Tây Nguyên và vùng phụ cận.


Muốn vận động được quần chúng, trước hết phải tạo được lòng tin của quần chúng bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, khám chữa bệnh cho đồng bào, giúp đồng bào đẩy mạnh sản xuất, xóa bỏ đói nghèo, dịch bệnh, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân. Đi đôi với chăm lo đời sống vật chất, cần đặc biệt quan tâm đến đời sống văn hóa, tinh thần, tôn trọng và giải quyết nhu cầu chính đáng của đồng bào dân tộc về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, coi trọng việc bồi dưỡng, đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, bảo đảm quyền bình đẳng, đoàn kết, hỗ trự lẫn nhau giữa các dân tộc, đây là những nội dung công việc hết sức quan trọng nhằm tạo lòng tin của quần chúng với chính quyền mới.


Thực tiễn đã chứng minh tầm quan trọng, vị trí, vai trò chiến lược của công tác vận động quần chúng đối với sự nghiệp cách mạng nước ta nói chung và cuộc đấu tranh giải quyết FULRO sau năm 1975 nói riêng. Trong 2 năm đầu (1975 - 1976), ta thiên về sử dụng biện pháp vũ trang truy quét, trấn áp lực lượng vũ trang FULRO, chưa chú ý đến công tác vận động quần chúng; do vậy, FULRO có điều kiện dựa vào quần chúng đồng bào các dân tộc, phục hồi nhanh sau mỗi đợt truy quét của ta. Đầu năm 1977, Ban Bí thư Trung ương ra Chỉ thị số 04/CT-TW, trong đó chỉ rõ những yếu kém của các cấp ủy Đảng, chính quyền các địa phương và các lực lượng tham gia đấu tranh giải quyết FULRO; đồng thời, vạch ra phương châm, tư tưởng chỉ đạo "phải lấy công tác vận động quần chúng làm gốc để nắm chắc quần chúng, nắm chắc từng buôn làng"1 (Chỉ thị số 04/CT-TW ngày 2 tháng 2 năm 1977 "Về việc phái động quần chúng xây dựng cơ sở chính trị, truy quét FULRO, bảo vệ an ninh chính trị ở các tỉnh Tây Nguyên và Nam Khu V cũ", Văn phòng Trung ương Đảng), tạo lòng tin của quần chúng đồng bào các dân tộc thiểu số đối với chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Được sự định hướng, chỉ đạo kịp thời của Trung ương Đảng, từ tháng 3 năm 1977 trở đi, các cấp ủy Đảng, chính quyền các địa phương, các ban, ngành, đoàn thể trên khắp địa bàn Tây Nguyên quán triệt, triển khai thực hiện công tác vận động quần chúng, xây dựng thực lực cách mạng ở cơ sở, hướng dẫn và trực tiếp giúp dân đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống, phát triển văn hóa - xã hội gắn liền với cuộc đấu tranh giải quyết FULRO.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1136



« Trả lời #58 vào lúc: 10 Tháng Bảy, 2023, 07:23:42 am »

Trong 10 năm (1977 - 1987) các địa phương cùng lực lượng quân đội, công an, các ngành kinh tế đã huy động 51.973 lượt cán bộ, lập 950 tổ, đội công tác trực tiếp đi xuống 840 xã trọng điểm trên khắp địa bàn Tây Nguyên và vùng Chăm để tiến hành công tác vận động quần chúng. Trong quá trình đó, các tổ, đội công tác đã tập trung vào việc tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, giác ngộ chính trị cho quần chúng nhân dân, làm cho quần chúng hiểu rõ chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng; từ đó, nâng cao ý thức của quần chúng nhân dân về làm chủ tập thể, tinh thần đoàn kết, hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất, cải thiện đời sống đồng bào. Từ thực tiễn công tác vận động quần chúng, các tổ, đội công tác phát hiện, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ cốt cán, góp phần hình thành đội ngũ cán bộ cơ sở người dân tộc thiểu số tại địa phương; đội ngũ cán bộ này lại trực tiếp vận động, tổ chức nhân dân tham gia các phong trào xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội tại các địa phương. Qua đó, phong trào định canh, định cư ở vùng đồng hào dân tộc thiểu số được cải thiện; đến tháng 3 năm 1988, đã có 9 huyện, 210 xã, 90.987 hộ gia đình với hơn 865.900 khẩu (71% dân số) hoàn thành kế hoạch định canh, định cư, mở được 102.996ha đất canh tác, 25.496ha lúa nước, xây dựng 251 công trình thủy lợi đáp ứng nhu cầu tưới tiêu cho 8.960ha lúa nước 2 vụ. Đồng thời, ta còn xây dựng được hdn 100 hợp tác xã nông nghiệp, hơn 1.000 tổ, đội sản xuất trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số; đặc biệt, các nông, lâm trường Ea Kao, Ea Kar, Krông Pắk, cao su Chư Sê, Mang Yang, cà phê Di Linh, Bảo Lộc... trên địa bàn Tây Nguyên đã có đóng góp tích cực, tạo công ăn việc làm ổn định cho bà con đồng bào các dân tộc thiểu số, tạo điều kiện cho họ tiếp cận với phương pháp canh tác mới, hạn chế phá rừng, ngăn chặn hiệu quả sự móc nối của FULRO.


Song song với công tác giúp nhân dân đẩy mạnh sản xuất, ổn định đời sống, ta quan tâm hơn tới phát triển mạng lưới thương nghiệp, đưa hàng hóa thiết yếu (muối, vải, thuốc chữa bệnh, đồ dùng sinh hoạt...) tới vùng đồng bào dân tộc thiểu số, phục vụ nhân dân. về giáo dục phổ thông, ta đã xây dựng 415 trường cơ sở và trung học phổ thông, đảm bảo cho hơn 106.800 con em vùng đồng bào dân tộc đến trường học tập. Những năm sau, ta còn tổ chức một số trường dân tộc nội trú, trường quân chính, trường công an, cùng với hệ thống các trường dạy nghề, trường trung cấp, đặc biệt là đã đưa phân hiệu của Trường Đại học Sư phạm, Đại học Y dược, Đại học Lâm nghiệp về Buôn Ma Thuật, Đà Lạt nhằm đào tạo cán bộ người dân tộc thiểu số, đảm bảo cho họ quay trở lại phục vụ đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên, về y tế, ta đã xây dựng được 146 trạm y tế khu vực, với 748 cán bộ y tế (bác sĩ, y sĩ, hộ lý, y tá) là người dân tộc thiểu số trực tiếp chăm lo sức khỏe cho nhân dân, góp phần đẩy lùi các dịch bệnh sốt rét, tiêu chảy... ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Như vậy, với sự cố gắng của các cấp ủy Đảng, hệ thống chính quyền, các ngành kinh tế, các đơn vị quân đội, công an trên địa bàn, ta đã đẩy mạnh việc tuyên truyền, chăm lo phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số, bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, mắt thấy, tai nghe, cải thiện đời sống đồng bào, qua đó đã tạo được lòng tin của nhân dân đối với chính quyền mới, từng bước làm chuyển biến căn bản nhận thức của đồng bào các dân tộc, đồng bào không còn tin vào những thủ đoạn xuyên tạc, lừa bịp của FULRO, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh giải quyết FULRO ở Tây Nguyên và vùng phụ cận những năm sau giải phóng miền Nam.


Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong quá trình thực hiện công tác vận động quần chúng gắn với xây dựne, phát triển kinh lế - xã hội ở các tỉnh Tây Nguyên, chúng ta tiến hành còn chưa thường xuyên, chưa đồng đều, còn bộc lộ một số sơ hở chúng có thể lợi dụng xuyên tạc; quyền làm chủ tập thể của nhân dân chưa được phát huy mạnh mẽ, còn nặng về biện pháp hành chính, gò ép nên còn chưa tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân; chưa phân hóa triệt để và tách được FULRO ra khỏi các buôn làng; đồng bào dân tộc thiểu số chưa thật sự yên tâm lao động sản xuất, xây dựng cuộc sống mới. Những hạn chế, yếu kém trên là những kẽ hở, điều kiện để FULRO lợi dụng xuyên tạc, quay trở lại hoạt động chống phá cách mạng, một số thời điểm tác động mạnh đến tình hình chính trị, xã hội Tây Nguyên (1981, 1984, 1985); đồng thời, những yếu kém, khuyết điểm trên đã tác động mạnh tới tâm lý chung của đồng bào dân tộc thiểu số đối với cách mạng, ta phải mất nhiều thời gian, công sức, sử dụng nhiều biện pháp hành chính để chấn chỉnh, rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết điểm, cuộc đấu tranh giải quyết FULRO phải kéo dài.


Trong thời kỳ mới, mặc dù tổ chức FULRO đã tuyên bố chấm dứt hoạt động, nhưng nhiều đối tượng FULRO lưu vong ở nước ngoài được các thế lực phản động hậu thuẫn vẫn tiếp tục âm mưu chống phá cách mạng nước ta, đặc biệt là chúng luôn lợi dụng những vấn đề về dân tộc, tôn giáo, "dân chủ", "nhân quyền", phát triển "Tin Lành Đề Ga", kích động đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên gây rối, biểu tình bạo loạn (như các năm 2001, 2004). Do vậy, cấp ủy Đảng hệ thống chính quyền các cấp, các đơn vị quân đội, công an các ngành kinh tế trên địa bàn Tây Nguyên phải hết sức cảnh giác, thường xuyên làm tốt công tác vận động quần chúng kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhạn thức của đồng bào dân tộc thiểu số với tổ chức thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước. Phương thức tốt nhất là phải thường xuyên chăm lo, giúp đõ nhân dân đẩy mạnh sản xuất, cải thiện và nâng cao đời sống bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, hiệu quả, mang lại lợi ích cho đồng bào; đồng thời phải thực sự quan tâm, giải quyết đúng đắn những nhu câu chính đáng về tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào thiểu số, xây dựng và củng cố lòng tin của đồng bào, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên các địa bàn chiến lược, đó là phương thức hiệu quả nhất loại trừ tư tưởng "ly khai", "tự trị" trong đồng bào các dân tộc thiểu số.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1136



« Trả lời #59 vào lúc: 10 Tháng Bảy, 2023, 07:24:37 am »

2. Hình thức, nội dung, phương pháp tiến hành công tóc vận động quần chúng phải phù hợp với trình độ nhận thức, đặc điểm phong tục tập quán của từng dân tộc, tranh thủ tiếng nói của tầng lớp những người có uy tín trong đồng bào các dân tộc

Xuất phát từ đặc điểm văn hóa, trình độ nhận thức, phong tục, tập quán sinh hoạt, sản xuất của từng dân tộc thiểu số khác nhau, do vậy, nội dung, hình thức, phương pháp tiến hành công tác vận động quần chúng phải phù hợp, không dập khuôn máy móc trong thực hiện nhiệm vụ ở các vùng dân tộc thiểu số khác nhau. Nội dung tuyên truyền, vận động quần chúng phải từ thấp đến cao, dùng người thực, việc thực, lời nói phải đi đôi với việc làm, chăm lo đến nhu cầu chính đáng để thuyết phục đồng bào dân tộc thiểu số. Đặc biệt, trong quá trình làm công tác vận động quần chúng cần hết sức tranh thủ tiếng nói, tầm ảnh hưởng và sử dụng những người có uy tín trong các dân tộc (già làng, nhân sĩ, trí thức, chức sắc tôn giáo) cùng tham gia công tác vận động quần chúng. Chính từ những đặc điểm, sự khác biệt cả về nhận thức, văn hóa, truyền thống dân tộc, nên khi tiến hành công tác vận động quần chúng, ta phải nghiên cứu, nắm bắt những đặc điểm tâm lý xã hội, tư tưởng, phong tục tập quán của các nhóm cộng đồng, các đối tượng quần chúng, thành phần xã hội ở vùng dân tộc (như tâm lý, ý thức bảo tồn dân tộc, sự câu kết theo cộng đồng buôn làng, dòng họ, thân tộc), đặc biệt là cần tranh thủ tối đa những người có uy tín, ảnh hưởng trong các dân tộc, chức sắc tôn giáo để vận dụng hình thức, phương pháp tuyên truyền, vận động quần chúng phù hợp.


Hình thức vận động quần chúng cũng hết sức phong phú, đa dạng như: Tổ chức các đợt phát động tập trung, họp dân theo cụm dân cư; phát động tuyên truyền giác ngộ tới từng gia đình, từng người có người thân theo FULRO hoặc có hành vi tiếp tế, che giấu FULRO; tranh thủ tiếng nói của các già làng, tầng lớp trí thức, những người có uy tín trong dân tộc, nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, cần có biện pháp cảm hóa sử dụng số cầm đầu, chỉ huy FULRO bị bắt, về hàng cùng tham gia vạch trần bộ mặt phản động, chống lại chính dân tộc mình của FULRO, chính họ nói rõ những sai lầm tội lỗi của mình và đồng bọn trước đông đảo quần chúng là cách tuyên truyền hữu hiệu nhất ở địa phương. Trong đấu tranh gọi hàng, cần vận dụng linh hoạt, kết hợp khôn khéo giữa động viên, gọi hàng với hình thức gửi thư kèm theo giấy bảo lãnh của những đối tượng đã được hưởng chính sách khoan hồng, giúp họ thấy rõ những tấm gương về chính sách khoan hồng của Nhà nước ta, nhằm tạo sự tin tường, phân hóa hàng ngũ và tiếp thêm động lực để các đối tượng FULRO quay trở về với cách mạng.


Công tác vận động quần chúng trong vùng dân tộc thiểu số phải được tiến hành thường xuyên, liên tục và đồng bộ, thống nhất với mục đích xây dựng, phát triển toàn diện địa bàn chiến lược Tây Nguyên. Nội dung, phương pháp và hình thức vận động phải phù hợp với từng buôn làng, đặc điểm phong tục tập quán từng dân tộc, từng dòng họ và từng đối tượng. Vận động quần chúng phải có trọng tâm, trọng điểm, trên cơ sở đó rút kinh nghiệm và nhân rộng điển hình, xây dựng thành phong trào trên từng địa phương. Kết hợp chặt chẽ giữa phát động quần chúng rộng rãi với vận động quần chúng cá biệt, xây dựng nòng cốt của phong trào; kết hợp giữa tổ chức quần chúng học tập nâng cao nhận thức cách mạng với sử dụng những người có tiếng nói, uy tín cao trong vùng đồng bào các dân tộc cùng tham gia công tác vận động quần chúng, vừa đảm bảo tính hiệu quả, vừa trực tiếp duy trì và hướng dẫn đông đảo quần chúng thực hiện các phong trào cách mạng ở địa phương.


Thực tế tiến hành công tác vận động quần chúng ở từng địa phương, từng vùng dân tộc khác nhau, ta đã vận dụng nhiều hình thức, phương pháp khác nhau, từ đó nâng cao hiệu quả đấu tranh giải quyết FULRO. Tại Lâm Đồng và Đắk Lắk, các đội công tác vận động quần chúng tuyên truyền nội dung, mục đích, ý nghĩa của phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc, thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước, đưa phương tiện kỹ thuật xuống vùng dân tộc giúp đồng bào phát triển kinh tế, xây dựng trường học, trạm y tế, mở thêm đường giao thông, xóa mù chữ. Tăng cường cán bộ, đảng viên của tỉnh và huyện xuống để thành lập các chi bộ Đảng, trực tiếp nắm và chỉ đạo phong trào tại chỗ. Về hình thức, tỉnh tổ chức 86 cuộc tọa đàm với tầng lớp trên trong đồng bào dân tộc thiểu số, có 2.330 người là các già làng, tầng lớp trên trong dân tộc, tranh thủ động viên, phát huy tác dụng tích cực của họ trong việc giải thích cho quần chúng tố giác FULRO và kêu gọi chồng con theo FULRO về hàng. Qua học tập, phát động các dân tộc đã nhận thức được FULRO là phản cách mạng, kêu gọi được 226 người là con em của họ về hàng, báo cáo cho chính quyền bóc gỡ 5.430 cơ sở của FULRO ẩn náu trong các buôn, ấp; giải tán 14 khung tiểu đoàn, 36 khung đại đội ngầm, xóa 29 khung tề xã, 88 khung tề ấp. Tại Gia Lai - Kon Tum, sau khi có Chỉ thị số 04/CT-TW chỉ riêng ở Gia Lai, ta đã tập trung 2.778 lượt cán bộ, lập các đội công tác tham gia phát động quần chúng ở 62 địa bàn trọng điểm. Từ năm 1977 đến năm 1981, có 826 cán bộ tham gia các đợt phát động theo cụm ở 50 xã thuộc 8 huyện, thị có FULRO hoạt động. Địa phương cũng tổ chức 175 cuộc phát động với trên 20 vạn lượt người tham gia (khoảng 90% dân số trên địa bàn). Đến tháng 6 năm 1985, toàn tỉnh tổ chức học tập chính sách dân tộc cho 101.500 lượt quần chúng qua đó phát hiện 11.300 người có liên hệ với FULRO phá 150 khung chính quyền, phát hiện 200 cán bộ cốt cán và 44 đảng viên bị FULRO khống chế1 (Ban Dân tộc Trung ương, Tình hình hoạt động FULRO ở Đắk Lắk, Gia Lai - Kon Tum năm 1985, Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Phông số 9, Hồ sơ 115). Qua kinh nghiệm đấu tranh ở các địa phương, ta đã giáo dục, cảm hóa và tranh thủ tiếng nói, sự đồng tình ủng hộ và tham gia tích cực của hàng trăm người thuộc tầng lớp trên trong các dân tộc thiểu số (già làng, trưởng bản, nhân sĩ, trí thức, chức sắc tôn giáo) và cả một số sĩ quan FULRO ra hàng, thu hút họ vào công tác vận động quần chúng. Hình thức vận động thông qua các già làng, số sĩ quan FULRO ra hàng, các chức sắc tôn giáo, nói rõ chính sách khoan hồng của Đảng đối với cuộc đấu tranh giải quyết FULRO, làm cho nhân dân các dân tộc thiểu số hiểu rõ và đạt được hiệu quả cao nhất.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM