saoden
Thành viên

Bài viết: 1136
|
 |
« Trả lời #70 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2023, 07:58:35 am » |
|
2. Nhất quán quan điểm tôn trọng và chăm lo nhu cầu chính đáng về tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào các dân tộc thiểu số, xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc trên địa bàn chiến lược Tầy Nguyên
Đi đôi với việc thường xuyên chăm lo phát triển sản xuất, nâng cao đời sống vật chất cho đồng bào các dân tộc thiểu số, giúp đồng bào thoát cảnh đói nghèo, dịch bệnh, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán quan điểm tôn trọng và chăm lo nhu cầu chính đáng về tín ngưỡng, tôn giáo, tâm linh của một bộ phận đồng bào các dân tộc. Đây vừa là vấn đề tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của đồng bào, vừa bảo đảm quyền bình đẳng giữa các dân tộc và cổ ý nghĩa quan trọng tăng cường khối đại đoàn kết, phát huy sức mạnh tổng hợp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hơn nữa, đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên, dân tộc Chăm thường có đặc điểm tín ngưỡng riêng, dựa vào niềm tin tôn giáo đổ tồn tại, cầu xin những vị thần, các thế lực siêu nhiên giúp đỡ trong cuộc sống, lao động sản xuất; niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo đã trở thành những tập tục truyền thống, mang bản sắc riêng, chi phối đến đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi dân tộc thiểu số. Trong quá trình hình thành, phát triển và hoạt động của tổ chức FULRO, chúng đều lợi dụng vấn đề tôn giáo để lôi kéo, kích động, lừa bịp đông bào các dân tộc đi theo chúng; do vậy, trong quá trình đấu tranh giải quyết FULRO cần phải hết sức chú ý đến đặc điểm tâm lý tôn sùng tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào dân tộc, đặc biệt là cần tranh thủ sự đồng tình và ý kiến của những người có uy tín trong cộng đồng (như: Thầy cúng, mục sư, chức sắc tôn giáo khác) để có phương pháp tiếp cận đồng bào phù hợp, đồng thời cần tìm cách vận độna họ tích cực tham gia tuyên truyền, quán triệt chủ trương, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng đối với quần chúng, nhằm nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh giải quyết FULRO.
Thực tiễn cuộc đấu tranh giải quyết FULRO (1975 - 1992) đã chứng minh việc tôn trọng, chăm lo đến nhu cầu chính đáng về tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào dân tộc thiểu số có tác động mạnh tới tâm lý xã hội, tách FULRO ra khỏi quần chúng, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh. Trong 2 năm đầu (1975 - 1976), do ta còn nặng về sử dụng lực lượng vũ trang để trấn áp, truy quét FULRO, chưa kết hợp chặt chẽ với các biện pháp khác, nhất là chưa chú ý đến đặc điểm dân tộc, tôn giáo của đồng bào, nên mặc dù đã đẩy lùi và làm thất bại âm mưu dùng vũ trang chiếm giữ vùng dân tộc thiểu số, uy hiếp các trung tâm huyện, tỉnh, các trục đường giao thông của bọn cầm đầu FULRO, làm giảm uy thế của chúng; nhưng sau mỗi đợt truy quét, FULRO lại lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để xuyên tạc, kích động, lôi kéo quần chúng, làm cho đồng bào dân tộc thiểu số hiểu sai chính sách của ta, chúng có điều kiện để khôi phục lực lượng và hoạt động mạnh trở lại.
Trước tình hình đó, đầu năm 1977, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số04/CT-TW, nêu rõ: "Tất cả các cán bộ chính trị, quân sự, kinh tế, các chiến sĩ quân đội, an ninh tham gia công tác này đều phải được huấn luyện, bồi dưỡng kỹ về chính sách dân tộc, tôn giáo và chính sách trấn áp phản cách mạng"1 (Chỉ thị số 04/CT-TW ngày 2 tháng 2 năm 1977 của Ban Bí thư Trung ương "Về việc tiếp tục phát động quần chúng xây dựng cơ sở chính trị, truy quét FULRO, bảo vệ an ninh chính trị ở các tỉnh Tây Nguyên và Nam Khu V cũ", tr.4); quán triệt chỉ thị của Trung ương, từ năm 1977 trở đi, trong đấu tranh giải quyết FULRO, ta đã tiến hành đồng bộ các biện pháp: Chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa - xã hội, vận động quần chúng, xây dựng cơ sở chính trị địa phương, kết hợp giữa trấn áp và khoan hồng..., trong đó đã tìm hiểu kỹ phong tục, tập quán, nhu cầu chính đáng về tín ngưỡng, tôn giáo của đại bộ phận đồng bào các dân tộc thiểu số và những thủ đoạn FULRO lợi dụng vấn đề này, nên từng bước đã nâng cao hiệu quả đấu tranh, quần chúng nhân dân ngày càng hiểu rõ chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và bộ mặt thật của FULRO, tách được FULRO ra khỏi quần chúng, phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn dân vào công cuộc xây dựng, phát triển toàn diện vùng đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên, vùng Chăm. Đến cuối năm 1988, ta đã tạo được những chuyển biến cơ bản có ý nghĩa quyết định tới thắng lợi cuộc đấu tranh giải quyết FULRO, đời sống của đồng bào được cải thiện một bước, thực lực chính trị ờ cơ sở được củng cố, lực lượng vũ trang FULRO phần lớn bị tiêu diệt, số còn lại bị cô lập trong rừng sâu và chạy ra nước ngoài, tầm ảnh hưởng của chúng đối với đồng bào bị thu hẹp đáng kể, tạo điều kiện để ta giải quyết triệt để FULRO.
Trong quá trình thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, cần phải tôn trọng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo, tâm linh của đồng bào, ta đã kịp thời rút kinh nghiệm, các cấp chính quyền và các lực lượng điều chỉnh biện pháp quản lý, hình thức tiến hành phù hợp, thực sự tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, đồng thời hạn chế được những sơ hở FULRO có thể lợi dụng xuyên tạc, nên mặc dù đời sống đồng bào còn nhiều khó khăn, song về cơ bản đại bộ phận đồng bào thiểu số đều hiểu rõ tính ưu việt của chế độ mới, các dân tộc đã đoàn kết, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong lao động sản xuất, xây dựng cuộc sống mới tốt đẹp hơn. Nhờ đó, từ năm 1990 đến năm 1992, bọn phản động FULRO tiếp tục bị chia cắt, suy yếu, trong nội địa chỉ còn lại vài chục tên hoạt động nhỏ lẻ ở Đắk Lắk, Gia Lai và không còn chi phối, khống chế các buôn làng ở Tây Nguyên. Có thể khẳng định, quan điểm thường xuyên tôn trọng và chăm lo nhu cầu chính đáng về tín ngưỡng, tôn giáo cho đồng bào các dân tộc thiểu số là một chủ trương, biện pháp đảm bảo quyền tự do tôn giáo của nhân dân, đóng góp tích cực trong thực hiện đồng bộ các biện pháp đấu tranh giải quyết FULRO, góp phần xây dựng và phát triển đời sống văn hóa, tinh thần lành mạnh ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Đây là một kinh nghiệm quan trọng, có đóng góp thiết thực vào việc phát huy sức mạnh tổng hợp khối đại đoàn kết các dân tộc, giữ vững sự ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số giữ gìn và phát huy giá trị truyền thống, làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của cộng đồng các dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong thời kỳ mới, mặc dù tổ chức FULRO đã tan rã từ năm 1992, nhưng tàn dư của FULRO vẫn còn tồn tại trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số; một số phần tử FULRO đã về hàng được hưởng chính sách khoan hồng không chịu khó lao động sản xuất, lén lút móc nối với nhau và tìm cách liên lạc với số cầm đầu FULRO lưu vong ở nước ngoài, hòng tiếp tục âm mưu đòi "ly khai", "tự trị", tuyên truyền cái gọi là "Nhà nước Đề Ga" độc lập ở Tây Nguyên; chúng kích động quần chúng tập trung đông người gây rối, bạo loạn, làm mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo cớ để kêu gọi các thế lực phản động quốc tế và chủ nghĩa đế quốc can thiệp điển hình là các vụ gây rối năm 2001, năm 2004 trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên. Thủ đoạn cơ bản của chúng là lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, truyền đạo "Tin Lành Đề Ga" gây ảnh hưởng trong vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, sau đó khống chế, kích động thanh niên người dân tộc biểu tình, gây bạo loạn hoặc trốn ra nước ngoài tham gia lực lượng chống phá cách mạng nước ta. Trước âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá cách mạng nước ta, Đang, Nhà nước đã kịp thời chỉ đạo các địa phương Tây Nguyên tăng cường lãnh đạo thực hiện tốt những chủ trương chính sách của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về quản lý hoạt động của đạo "Tin Lành Đề Ga" gắn với tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần ngăn ngừa, đấu tranh xóa bỏ sự phục hồi của tổ chức phản động FULRO. Qua đó đã khẳng định tính nhất quán, sự chăm lo của Đảng, Nhà nước ta đối với đời sống tâm linh, nhu cầu chính đáng về tín ngưỡng, tôn giáo của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số; làm cho các chức sắc, tín đồ tôn giáo tin tưởng hơn vào chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Nhiều chức sắc, tín đồ đã phối hợp tốt với các cấp chính quyền cơ sở trong đấu tranh loại trừ FULRO, Tin Lành Đề Ga, ngăn chặn biểu tình, vượt biên, góp phần tích cực trong phòng ngừa, đấu tranh đối ngoại và ngăn chặn sự lợi dụng tôn giáo để hoạt động chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch.
Để tiếp tục đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo của chúng, trước hết các cấp ùy Đảng, chính quyền cơ sở cần quán triệt và tổ chức thực hiện tốt chính sách của Đảng, Nhà nước về dân tộc, tôn giáo nói chung và "Tin Lành" nói riêng; bên cạnh việc quyết tâm đấu tranh xóa bỏ tổ chức "Tin Lành Đề Ga", cần quan tâm đến đời sống tâm linh của một bộ phận quần chúng có tín ngưỡng, tôn giáo, công nhận và cho đăng ký hoạt động đối với các chi hội, điểm nhóm "Tin Lành miền Nam", vừa giải quyết nhu cầu tín ngưỡng của đồng bào có đạo, vừa hạn chế khả năng lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng của các thế lực thù địch. Các cấp ủy Đảng, hệ thống chính quyền cơ sở, cán bộ, đảng viên cần quan tâm giải quyết những nhu cầu chính đáng của quần chúng có tín ngưõng, tôn giáo, phân hóa những vấn đề bất lợi nảy sinh trong quá trình ta xây dựng, phát triển toàn diện vùng chiến lược Tây Nguyên, tạo điều kiện để đẩy mạnh phát triển sản xuất, nâng cao đời sống mọi mặt cho đồng bào các dân tộc thiểu số; củng cố vững chắc niềm tin của đồng bào với Đảng, Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữ vững ổn định chính trị, an ninh, trật tự an toàn xã hội, phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam trong thời kỳ nước ta ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
saoden
Thành viên

Bài viết: 1136
|
 |
« Trả lời #71 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2023, 08:00:06 am » |
|
KẾT LUẬN FULRO là một tổ chức phản động, sản phẩm của chủ nghĩa đế quốc kết hợp với chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi theo hướng tự trị, ly khai, do Mỹ tổ chức, nuôi dưỡng và trang bị, hình thành từ những năm 50 của thế kỷ XX. FULRO có hệ thống tổ chức chặt chẽ từ trung ương xuống cơ sở, theo cơ cấu hành chính kết hợp với quân sự; có lực lượng vũ trang quy mô tương đối lớn, phạm vi hoạt động trên một địa bàn rộng. Đặc biệt, FULRO lợi dụng được phong tục tập quán lạc hậu, trình độ nhận thức chính trị còn thấp trong nhân dân vùng dân tộc thiểu số, cùng với những sơ hở, khó khăn của ta sau chiến tranh để xuyên tạc, kích động, khống chế quần chúng và câu kết với các thế lực thù địch bên ngoài chống phá cách mạng Việt Nam. Lịch sử phát sinh, phát triển và tồn tại của FULRO ở Tây Nguyên, phụ cận và vùng dân tộc Chăm là quá trình phức tạp, kéo dài. Trước năm 1975, dưới chế độ ngụy quyền Sài Gòn, người dân nơi đây bị đối xử bất bình đẳng, kỳ thị, chết chóc bởi bom đạn... Những điều đó đã gây nên sự phản kháng dẫn đến sự ra đời của các hình thức mặt trận chống đế quốc và tay sai. Tuy nhiên, Mỹ và các thế lực thù địch đã "nhào nặn", "lèo lái" quần chúng đi theo quỹ đạo nhằm phục vụ cho lợi ích của chúng, gây phức tạp trong quan hệ dân tộc và quốc tế. Từ sau năm 1975, FULRO vẫn mang danh nghĩa là Mặt trận giải phóng các sắc tộc Tây Nguyên, câu kết với các thế lực thù địch quốc tế, trở thành một bộ phận trong kế hoạch hậu chiến của Mỹ, chống phá cách mạng, đi ngược lại dòng chảy lịch sử, gây ra nhiều thiệt hại cho nhân dân, để lại vết thương tình đoàn kết trong lòng dân tộc Việt Nam. Nhiệm vụ đấu tranh giải quyết FULRO từ năm 1975 đến năm 1992 của ta được tiến hành trên nhiều mặt, kết hợp chặt chẽ giữa biện pháp chính trị, vận động quần chúng với biện pháp vũ trang truy quét; kết hợp giữa chống FULRO với thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, đặc biệt là chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo nhằm phát triển vùng dân tộc thiểu số Tây Nguyên, vùng dân tộc Chăm về mọi mặt. Trong 2 năm 1975 - 1976, trước những hoạt động chống phá phức tạp, nguy hiểm của FULRO ở Tây Nguyên và vùng phụ cận, ta chủ yếu dùng biện pháp vũ trang với sức mạnh quân sự nhằm nhanh chóng dập tắt các hoạt động chống phá gây bạo loạn của FULRO. Sử dụng lực lượng quân sự gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương mở các chiến dịch truy quét với quy mô lớn, làm tan rã 8.405 tên FULRO ở rừng, bóc gỡ 12.140 cơ sở của chúng trong buôn, ấp, thu hàng nghìn khẩu súng các loại, trong đó có 20 tên cầm đầu thuộc trung ương FULRO và chỉ huy các vùng chiến thuật, đẩy lùi một bước mưu đồ vũ trang lật đổ chính quyền của bọn cầm đầu FULRO, đẩy chúng vào thế bị động, lúng túng; bảo vệ được chính quyền cách mạng, tạo được chỗ dựa cho cán bộ cốt cán hoạt động ở vùng dân tộc; bước đầu giải tỏa được khống chế uy hiếp của FULRO đối với các trung tâm hành chính tỉnh huyện, các trục đường giao thông chính, làm giảm uy tín của chúng đối với đồng bào dân tộc. Từ năm 1977 đến năm 1987 là giai đoạn ta đã tạo được những chuyển biến cơ bản có ý nghĩa quyết định thắng lợi toàn bộ cuộc đấu tranh giải quyết FULRO trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên và phụ cận. Nhận thức về Chỉ thị số04 của Ban Bí thư, các ngành, các cấp ngày càng thống nhất về quan điểm cũng như các chủ trương, chính sách cụ thể của Đảng và Nhà nước, phương pháp đấu tranh phối hợp giữa tiến công chính trị và vũ trang truy quét ngày càng chặt chẽ và đồng bộ. Biện pháp kết hợp đúng đắn giữa vận động quần chúng tiến công chính trị với thực hiện chính sách trấn áp phù hợp, đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, thúc đẩy sự tan rã của FULRO. Biện pháp thành lập các tổ công tác đứng chân ở các huyện, xã trọng điểm được tiến hành có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho công tác vận động quần chúng tiến công chính trị, vũ trang làm tan rã tổ chức FULRO. Ở vùng dân tộc Chăm, ta đã tiêu diệt, bắt, gọi hàng hơn 500 tên FULRO ở rừng, bóc gỡ trên 1.000 cơ sở của chúng ở buôn, ấp. Ở Tây Nguyên, các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Lắk cơ bản đánh tan lực lượng vũ trang của FULRO, phá rã hệ thống tổ chức của chúng. Đặc biệt, đã hạn chế được sự móc nối, quan hệ của FULRO với bên ngoài và ý đồ đưa lực lượng ra nước ngoài huấn luyện để trở về nước chống phá; đã xây dựng được cốt cán, chính quyền cơ sở trong vùng dân tộc thiểu số đủ sức đối phó với FULRO tại chỗ. Việc giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội, nhất là chăm lo đời sống đồng bào dân tộc thiểu số và xây dựng thực lực chính trị ở cơ sở được quan tâm đẩy mạnh, đạt được những thành tựu quan trọng. Đầu năm 1987, đã có 9 huyện, 210 xã vùng dân tộc Tây Nguyên hoàn thành công tác định canh, định cư, thành lập hơn 100 hợp tác xã nông nghiệp và 1.000 tập đoàn sản xuất; hệ thống giáo dục đã hình thành mạng lưới từ tỉnh đến xã; xây dựng thực lực chính trị được 100% xã dân tộc có chi bộ Đảng, phát triển được 109.000 dân quân tự vệ ở các buôn làng. Những thắng lợi trên đã mở ra triển vọng giải quyết triệt để vấn đề FULRO. Trong những năm 1988 - 1992, dưới sự chủ trì, chỉ đạo của Trung ương, các ngành, các địa phương nhiều lần tổ chức các hoạt động sơ kết, tổng kết công tác đấu tranh giải quyết FULRO, thực hiện Chỉ thị số 04 và tiếp tục chỉ đạo công tác vận động quần chúng, củng cố cơ sở chính trị, cắt đứt quan hệ giữa chỉ huy FULRO ở Campuchia và những nhóm còn lại trong nội địa, cắt đứt quan hệ của FULRO với quần chúng nhân dân, làm cho chúng mất chỗ dựa và cuối cùng phải ra trình diện chính quyền, tuyên bố chấm dứt hoạt động chính trị, vũ trang, nộp vũ khí và đưa đi định cư tại Mỹ theo sự chấp thuận của Mỹ và UNTAC. Thắng lợi trong cuộc đấu tranh giải quyết FULRO có ý nghĩa to lớn, toàn diện, góp phần đập tan âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc đổ chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch trong nước và nước ngoài, góp phần ổn định phát triển kinh tế, chính trị, xã hội an ninh, quốc phòng trên địa bàn Tây Nguyên và khu vực phụ cận. Thắng lợi đó chứng minh chính sách đúng đắn của Đảng, củng cố lòng tin của nhân dân các dân tộc nơi đây vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, củng cố khối đoàn kết, gắn bó cộng đồng các dân tộc trên địa bàn. Phương châm đấu tranh đã nhận thức đúng, chuyển từ quân sự sang chính trị, đấu tranh giải quyết FULRO là vấn đề chính trị, tư tưởng "người về vũ khí về". Tuy nhiên, trong quá trình đấu tranh giải quyết FULRO vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, đặc biệt là sự lơ là, mất cảnh giác, nặng về quân sự, có nơi còn khoán trắng cho quân đội và công an, xây dựng cơ sở còn chưa theo kịp tình hình. Trong quá trình đấu tranh giải quyết FULRO đã để lại một số bài học kinh nghiệm có giá trị về lý luận và thực tiễn. Đó là quán triệt sâu sắc đường lối quan điểm của Đảng quản lý của Nhà nước về chính sách dân tộc, tôn giáo trong đồng bào dân tộc thiểu số. Thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, nắm chắc địa bàn, kịp thời loại trừ khả năng phục hồi của FULRO và phòng ngừa nảy sinh các tổ chức phản động ở vùng dân tộc thiểu số. Kết hợp chặt chẽ giữa tiến công chính trị với biện pháp quân sự, lấy tiến công chính trị làm chính. Thực hiện tốt công tác, xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh gắn với đào tạo bồi dưỡng phát triển đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số. Phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, vận dụng linh hoạt, sáng tạo các biện phap đấu tranh giải quyết FULRO. Thường xuyên chăm lo phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, gắn với thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước, xây dựng khối đại đoàn kết giữa các dân tộc trên địa bàn. Nhìn lại hoạt động đấu tranh giải quyết FULRO ở Tây Nguyên và vùng dân tộc Chăm từ năm 1975 đến năm 1992, có thể thấy nổi lên mấy đặc điểm sau: Đấu tranh giải quyết FULRO diễn ra trong bối cảnh nước ta vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, lại phải đương đầu với cuộc chiến tranh xâm lấn biên giới của thế lực bành trướng. Chủ nghĩa đế quốc, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách thực hiện mưu đồ chống phá thành quả cách mạng nước ta. Do đó, cuộc đấu tranh giải quyết FULRO diễn ra liên tục, quyết liệt, vừa cấp bách, vừa lâu dài, diễn ra trên địa bàn rộng lớn cả Tây Nguyên xuống miền núi, duyên hải các tỉnh phụ cận và biên giới nước bạn. Phương pháp đấu tranh giải quyết FULRO ở Tây Nguyên và vùng phụ cận có sự chuyển hướng từ đấu tranh quân sự vũ trang truy quét sang giải quyết bằng chính trị. Một đặc điểm nữa là trong hoạt động đấu tranh luôn có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các lực lượng, giữa nhân dân 3 nước Đông Dương đã góp phần thắng lợi trong đấu tranh giải quyết FULRO. Đấu tranh giải quyết FULRO của Đảng, chính quyền, quân dân các tỉnh Tây Nguyên và phụ cận từ sau năm 1975 đến nay chưa phải đã xong xuôi hoàn toàn, vẫn còn nhiều việc phải làm, song có thể nói căn bản ta đã giành được thắng lợi, tổ chức FULRO đã bị xóa bỏ trên thực tế. Những hoạt động truy quét bọn phản động, xây dựng và củng cố hệ thống chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội gian nan và anh dũng của quân dân các tỉnh Tây Nguyên và phụ cận với sự đồng lòng của cả nước đã đưa đến thắng lợi quyết định đó. Suy nghĩ về những thành công và hạn chế, đúc kết vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm đấu tranh giai quyèt FULRO là việc cần thiết đối với công cuộc xây dựng và phát triển địa bàn chiến lược Tây Nguyên trong tình hình hiện nay.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
saoden
Thành viên

Bài viết: 1136
|
 |
« Trả lời #72 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2023, 08:01:28 am » |
|
PHỤ LỤC MỘT SỐ TÀI LIỆU VỀ TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA FULRO Phụ lục 1 MỘT SỐ MỐC LỊCH SỬ CHÍNH TRỊ, HÀNH CHÍNH CỦA TÂY NGUYÊN ĐẾN NĂM 1954 Giữa thế kỷ XIX, một số nhà nghiên cứu người Pháp và các giáo sĩ thuộc "Hội Thừa sai Pari" (MEP) đã xâm nhập lên Tây Nguyên để thám hiểm, khảo sát, truyên đạo. Năm 1888, Mayréna (người Pháp) đến vùng Bắc Tây Nguyên lôi kéo các tù trưởng dân tộc, tuyên bố thành lập "Vương quốc Xê Đăng" nhưng không thành. Mayréna bị chính quyền Pháp bắt. Ngày 3 tháng 10 năm 1893, Pháp ký hiệp ước với Thái Lan sáp nhập khu vực từ Kon Tum đến Đắk Lắk vào Lào (Ai Lao). Ngày 22 tháng 11 năm 1904, phần đất thuộc tỉnh Quảng Đức, Đắk Lắk (lúc đó) được trả lại cho Việt Nam. Ngày 4 tháng 7 năm 1905, phần đất thuộc tỉnh Kon Tum (lúc đó) được trả lại cho Việt Nam. Lập tỉnh Đồng Nai Thượng 1898, đến năm 1903 sáp nhập vào Bình Thuận, năm 1920 được tái lập và sáp nhập vào Tây Nguyên. Năm 1907, lập tỉnh Kon Tum (bao gồm cả Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk ngày nay). Năm 1923, lập tỉnh Đắk Lắk do Sabatier làm công sứ đầu tiên và ban hành lệnh câm người Kinh lên Cao nguyên (đến năm 1930 lệnh này mới được bãi bỏ). Năm 1929, lập tỉnh Pleiku. Ngày 17 tháng 9 năm 1929, thiết lập chế độ "Tòa án phong tục" (Thượng) tại Đắk Lắk, Kon Tum. Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công. Pháp trở lại Tây Nguyên và ra sắc lệnh thành lập "Liên bang phụ trách các dân tộc sơn cước miền Nam Đông Dương" (27.5.1946) - PMSI. Lập Tòa ủy viên phụ trách liên bang, đặt trụ sở tại Buôn Ma Thuột - Đắk Lắk, có quyền hạn độc lập với tổ chức hành chính miền Nam. Tháng 12 năm 1948, Pháp lập các đơn vị ngụy quân người Thượng để bảo vệ PMSI (đến ngày 8.3.1949 mới bãi bỏ liên bang này). Ngày 25 tháng 7 năm 1950, Quốc trưởng Bảo Đại ra sắc lệnh tổ chức các tỉnh Kon Tum, Đắk Lắk, Pleiku, Đồng Nai Thượng thành "Hoàng triều cương thổ". Tiếp đó, Đạo dụ số 6 ban hành "Quy chế riêng biệt của người Thượng" ở khu vực này. Năm 1954, Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng, ép Bảo Đại hủy bỏ chế độ "Hoàng triều cương thổ", sáp nhập vùng cao nguyên vào lãnh thổ Việt Nam, đặt dưới sự kiểm soát của chính quyền Sài Gòn. (Nguồn: Bộ Công an, Tổng kết lịch sử cuộc đấu tranh giải quyết vấn đề FULRO, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 2000)
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
saoden
Thành viên

Bài viết: 1136
|
 |
« Trả lời #73 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2023, 08:03:12 am » |
|
Phụ lục 2 NHỮNG DIỄN BIẾN, SỰ KIỆN CỦA TỔ CHỨC FULRO (1955-1992) 1. Từ năm 1955 đến năm 1959Tháng 10 năm 1955, Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống chính quyền Sài Gòn - lập chính quyền tay sai của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Từ năm 1955 đến năm 1956, chính quyền Diệm ban hành và thực thi một số chính sách mang tính chất cưỡng bức, đồng hóa dân tộc ở Tây Nguyên. Trong khi Pháp cố duy trì ảnh hưởng của mình thì Mỹ từng bước xâm nhập, nắm giữ khu vực này nhằm chống phá cách mạng. Lúc đó, một số công chức, nhân sĩ, trí thức người Thượng đã họp bàn, bày tỏ bất bình với chính sách của Diệm. Năm 1957, hình thành nhóm tuyên truyền, chống lại chính sách của Diệm, tập trung ở Pleiku và Buôn Ma Thuột. Nhiều nhân sĩ, trí thức, công chức, sĩ quan người Thượng tham gia (Y Bhăm Ênuol, Y Ju Êban, Sui Sip, Nay Luet...) - Số này có quan hệ với một số chức sắc tôn giáo nước ngoài tại Tây Nguyên và nhân viên Tòa Đại sứ Pháp, Mỹ ở Sài Gòn. Năm 1958, hợp nhất các nhóm, lập "Ủy ban Trung ương" do Y Bhăm Ênuol làm Chủ tịch. Ngày 1 tháng 5 năm 1958, "Phong trào BAJARAKA" chính thức ra đời, lấy Pleiku làm trung tâm hoạt động. Ban lãnh đạo gồm 11 người. Sau đó, phong trào soạn thảo một số thư, tài liệu phát tán tại Tây Nguyên, gửi cho chính quyền Diệm và các phái đoàn ngoại giao Anh, Pháp, Mỹ... tại Sài Gòn. Từ tháng 8 đến tháng 9 năm 1958, phong trào tổ chức các cuộc biểu tình đòi yêu sách (trong đó có cuộc biểu tình lớn ở Buôn Ma Thuột ngày 9.9.1958). Chính quyền Diệm không chấp nhận các yêu sách, kiến nghị của BAJARAKA, thẳng tay đàn áp, bắt tất cả các lãnh tụ cầm đầu phong trào. Đầu năm 1959, phong trào BAJARAKA bị dập tắt. 2. Từ năm 1960 đến năm 1969Năm 1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời và sau đó (19.5.1961) "Phong trào tự trị Tây Nguyên" thuộc Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập do ông Y Bih Aleo làm Chủ tịch. Tháng 11 năm 1963, Diệm - Nhu bị lật đổ, Dương Văn Minh lên thay và tiếp đó là Nguyễn Khánh. Đến tháng 3 năm 1964, do sức ép của Mỹ, ngụy quyền thả các lãnh tụ BAJARAKA bị bắt và bổ nhiệm giữ các chức vụ trong bộ máy hành chính tại Tây Nguyên. Sau khi được thả số này đã nhen nhóm gây dựng lại phong trào với tên gọi mới "Mặt trận giải phóng dân tộc Cao nguyên - FLHPM" và liên hệ với cố vấn Mỹ, với Les Kossem (ở Campuchia). Ngày 20 tháng 9 năm 1964, Mặt trận giải phóng dân tộc Cao nguyên gây ra cuộc bạo động của binh lính Thượng thuộc lực lượng đặc biệt, dân sự chiến đấu, địa phương quân tại Đức Lập - Quảng Đức và Buôn Ma Thuột. Bị ngụy quyền Sài Gòn trấn áp, lực lượng bạo động rút chạy qua Campuchia, mang theo Y Bhăm Ênuol và tôn lên làm Chủ tịch "Mặt trận giải phóng dân tộc Cao nguyên" - FLHPM (10.1964). Từ năm 1963 đến năm 1964, một số thanh niên dân tộc Chăm đã chạy sang Campuchia, tham gia "Mặt trận giải phóng Chăm Pa" - FLC của Les Kossem (Kiều Thiên Thi, Bá Trung Di, Hoàng Minh Mộ...). Tháng 6 năm 1965, FLHPM, FLC và "Mặt trận giải phóng Miên hạ" FLKK là 3 tổ chức do chính quyền Campuchia đỡ đầu cử phái đoàn đại diện tham gia dự "Hội nghị nhân dân Đông Dương lần thứ nhất" khai mạc ngày 25 tháng 6 năm 1965, tại Phnôm Pênh. Sau Hội nghị, 3 tổ chức FLHPM, FLC, FLKK tuyên bố sáp nhập thành một tổ chức thống nhất lấy tến là "Mặt trận thống nhất đấu tranh của các sắc tộc bị áp bức" - FULRO (viết tắt tiếng Pháp). Trên thực tế, bộ phận FULRO người Thượng, người Chăm vẫn sử dụng tên chung đó. Năm 1965, Mỹ - ngụy kéo FULRO về hợp tác để tập trung lực lượng chống cách mạng. Nội bộ FULRO bị phân hóa, một số về hợp tác với ngụy, một số chống lại chủ trương này và gây bạo động lần thứ hai tại Phú Thiện, Phú Bổn đêm 17 tháng 12 năm 1965 và bị ngụy quyền trân áp, bắt số đối tượng cầm đầu. Năm 1966, ngụy quyền ra các sắc lệnh số 28/66 và số 30/66 cho phép số FULRO về "hợp tác" được ra ứng cử vào Quốc hội lập hiến. Ngày 6 tháng 6 năm 1966, trên 500 sĩ quan, binh lính và thân nhân FULRO về hợp tác, được ngụy quyền tổ chức đón tiếp tại Buôn Ma Thuột. Năm 1967, ngụy quyền ban hành sắc luật số 033/67 về Quy chế riêng biệt cho đồng bào thiểu số và sắc luật số 034/67 công nhận quyền sở hữu đất đai của đồng bào Thượng. Năm 1968, ta mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 làm lung lay chế độ Mỹ, ngụy. Chúng tăng cường lôi kéo FULRO trở về để trung lập lực lượng đối phó cách mạng. Ngày 1 tháng 2 năm 1969, hầu hết FULRO ở Campuchia, gồm 2.257 sĩ quan, binh lính và 3.214 thân nhân về hợp tác với ngụy quyền. Một bộ phận FULRO và Y Bhăm Ênuol vẫn ở Campuchia. Năm 1969, do bị chính quyền ngụy Sài Gòn đàn áp mạnh, số cầm đầu FULRO ở vùng dân tộc Chăm (hoạt động từ 1965 - 1966) phải chạy sang Campuchia (Huỳnh Ngọc Sắng, Quảng Đại Đủ, Kiều Ngọc Quyên...). 3. Từ năm 1970 đến năm 1975Từ năm 1969 đến năm 1970, "Phong trào đoàn kết sắc tộc thiểu số Cao nguyên miền Nam Việt Nam" ra đời và hoạt động. Chủ tịch Y Blinh Buôn Krông Pang; Phó Chủ tịch là Ya Duck, Y DHắt Nie Kđăm. Thực chất đây là một tổ chức thay thế FULRO đã về hợp tác với ngụy quyền để tập hợp lực lượng chính trị trong các dân tộc Tây Nguyên. Năm 1972, hình thành lực lượng "áo xanh miền núi" ở Đà Lạt - Lâm Đồng, thành phần tham gia là học sinh, sinh viên, công chức FULRO cũ, được sự cố vấn, giúp đỡ của Newman - mục sư Tin Lành người Mỹ. Y Bhăm Ênuol ở Campuchia bí mật chỉ đạo nhóm Kpă Kới ở Đắk Lắk khôi phục lại phong trào FULRO trong nước. Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Mỹ phải ký Hiệp định Pari, rút quân về nước. Tháng 9 năm 1973, nhóm Kpă Kới chạy vào rừng hoạt động. Ngày 20 tháng 10 năm 1973, Y Bhăm Ênuol ký quyết định chỉ định Kpă Kới làm Phó Chủ tịch FULRO, phụ trách mọi hoạt động trong nước.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
saoden
Thành viên

Bài viết: 1136
|
 |
« Trả lời #74 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2023, 08:04:51 am » |
|
4. Từ năm 1975 đến năm 1992Đầu năm 1975, ta mở cuộc tổng tiến công giải phóng các tỉnh Tây Nguyên và toàn miền Nam. FULRO nổi lên chống phá chính quyền, chế độ mới, phát triển lực lượng ở bên trong. Y Bhăm Ênuol và một số cầm đầu FULRO ở Campuchia bị Khmer Đỏ thủ tiêu. Ta tập trung lực lượng truy quét, tiêu hao phần lớn lực lượng FULRO, đập lan âm mưu bạo loạn cướp chính quyền của chúng. Đầu năm 1976, Kpă Kới bị mất tích, Y Djao Niê tự xưng là Thiếu tướng, Thủ tướng Chính phủ, thành lập nội các mới, củng cố tổ chức, lực lượng. Năm 1977, ở Tây Nguyên, FULRO có khoảng 3.000 tên, thành lập 4 khung sư đoàn kiêm 4 vùng chiến thuật, 18 khung tiểu đoàn, về hành chính, chúng chia Tây Nguyên làm 9 tỉnh. Bộ máy tổ chức gồm: - Y Djao Niê - Thiếu tướng, Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. - Nay Guh - Đại tá, Tổng Tham mưu trưởng. - Y Hin Niê - Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. - Y Si Niê - Bộ trưởng Bộ Nội vụ. - Cil Bè - Bộ trưởng Bộ Giáo dục. - Ya Duck - Đổng lý Văn phòng Phủ Thủ tướng, v.v... Ở vùng dân tộc Chăm có khoảng 230 tên và 800 cơ sở ngầm. Sau khi một số tên đầu sỏ như Huỳnh Ngọc Sắng, Hán Bồng... bị ta bắt hoặc tiêu diệt, giữa năm 1977, FULRO Chăm cơ bản tan rã. Năm 1978, Y Ghơk Niê Kriêng - phụ tá an ninh FULRO giết Y Djao Niê, tự phong làm Thủ tướng FULRO lập nội các mới gồm: - Nay Rông - Phó Thủ tướng. - Ya Duck - Phó Thủ tướng (vẫn hoạt động ở địa bàn Lâm Đồng và bị ta bắt sống). - Paul Yưh - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. - Thô R’Ban - Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. - Cil Bè - Bộ trưởng Bộ Giáo dục. - Y Ni Ayun - Bộ trưởng Bộ An ninh. - Y Pên Ayun - Tham mưu trưởng, v.v... Chúng vẫn để 4 vùng chiến thuật, 10 tỉnh, 35 quận; lập 6 khung sư đoàn, 8 khung trung đoàn; quân sô thông kê khoảng 2.280 tên. Năm 1979, FULRO liên lạc được với Khmer Đỏ ở Campuchia (Sư đoàn 920) nhờ Pôn Pốt giúp đỡ liên lạc với bên ngoài và lập hành lang từ biên giới Thái Lan về Tây Nguyên. Chúng đưa khoảng 200 tên sang lập căn cứ tại Okiêng. Lực lượng của chúng lúc này khoảng 2.000 tên, hình thành 5 vùng chiến thuật (thêm "vùng 4 duyên hải" với 9 tỉnh, 22 quận; có 7 khung sư đoàn và 35 khung tiểu đoàn). Năm 1980, FULRO lập 2 biệt khu cánh Bắc và Nam Cao nguyên, duy trì quân khu kiêm vùng chiến thuật gồm 18 tỉnh (Tây Nguyên: 13 tỉnh, vùng Duyên hải: 5 tỉnh). Chúng có 5 khung sư đoàn, 18 khung trung đoàn, 41 khung tiểu đoàn, lực lượng khoảng 1.487 tên. Năm 1981, kết thúc kế hoạch hoạt động truy quét, ta bắt toàn bộ chỉ huy FULRO Quân khu 4 (Lâm Đồng). Từ năm 1981 đến năm 1983, số cầm đầu trung ương FULRO ở Campuchia lập được căn cứ ở vùng biên giới Lào - Campuchia - Thái Lan, có liên hệ và được sự giúp đỡ, ủng hộ trực tiếp, gián tiếp của Pôn Pốt, Trung Quốc, của tình báo lục quân Thái Lan, Mỹ. Trong nước, chúng còn duy trì 4 quân khu và lập các ZG (tương đương cấp tỉnh trước đây). Năm 1984, lực lượng FULRO còn hơn 800 tên, chúng duy trì bộ phận trung ương lưu vong ở Thái Lan, Campuchia. Tháng 9 năm 1984, hầu hết số chỉ huy cầm đầu (khoảng 200 tên) đi Mỹ. Bên trong có 4 quân khu, 18 ZG. Chúng lập các "Toán đặc biệt" ZT, EHE, AAC trở về địa bàn Gia Lai - Kon Tum để lập mật cứ. Từ năm 1985 đến năm 1986, FULRO tiếp tục suy yếu. Trên đất Campuchia còn một số tên cầm đầu Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu, Quân khu 2, Quân khu 3. Trong nội địa còn một bộ phận của Quân khu 1, Quân khu 4, 11 ZG. FULRO lập các đơn vị du kích chiến thay thế cho hệ thống hành chính - quân sự tại các quân khu. Số FULRO ở căn cứ Thái Lan khoảng 200 tên được đưa sang Mỹ (qua Philippin). Năm 1987, ngoài số FULRO lưu vong ở Mỹ, số ở Campuchia do Thiếu tướng Paul Yưh cầm đầu có khoảng 175 tên đóng căn cứ tại Mondulkiri. Trong nội địa chỉ còn 8 ZG gồm 111 tên, chia làm 14 toán cụm. Từ năm 1988 đến năm 1989, tổng số FULRO ở Campuchia còn khoảng 137 tên, do Đại tá Y Pên Ayun - Bộ trưởng Quốc phòng kiêm Tư lệnh "Bộ Chỉ huy Du kích chiến" (CCF) cầm đầu. Trong nội địa chỉ còn vài toán hoạt động ở vùng biên giới Campuchia với Gia Lai. Tháng 3 năm 1988, ta tổ chức Hội nghị tổng kết 12 năm đấu tranh giải quyết FULRO tại Đà Lạt - Lâm Đồng. Từ năm 1990 đến năm 1992, sau thắng lợi của các kế hoạch truy quét Quân khu 1, Quân khu 2 FULRO ở nội địa, toàn bộ số FULRO còn lại ở Tây Nguyên buộc phải rút chạy sang Campuchia. Năm 1991, thực hiện giải pháp chính trí ở Campuchia, Liên hợp quốc triển khai lực lượng UNTAC. Tháng 12 năm 1992, FULRO ở Campuchia do Y Pên Ayun cầm đầu (số này khoảng 400 người, kể cả nhân thân FULRO) ra hàng UNTAC, nộp vũ khí, tuyên bố chấm dứt hoạt động và xin đi định cư tại Mỹ. (Nguồn: Bộ Công an, Tổng kết lịch sử cuộc đấu tranh giải quyết vấn đề FULRO, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2000).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
saoden
Thành viên

Bài viết: 1136
|
 |
« Trả lời #75 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2023, 08:07:42 am » |
|
Phụ lục 3 QUY CHẾ CỦA MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG DÂN TỘC CAO NGUYÊN (FLHPM/FULRO) (Trích) 1. Định nghĩaMặt trận giải phóng dân tộc Cao nguyên (FLHPM/ FULRO: Front de Liberation des Haut Plateaux Montagnard) là một tổ chức đấu tranh của nhân dân miền núi nam Đông Dương cách mạng. 2. Vai trò và đặc điểm của FLHPM/FULROFLHPM/FULRO là đại diện chính thức của toàn nhân dân dân tộc miền núi Nam Đông Dương. Đó là điều khẳng định, không thể thay thế, không thể cải biến (non modifiable; hay không thể thay đổi (Unchangable). 3. Giới hạn lãnh thổ giải phóngFLHPM/FULRO chiếm tất cả lãnh thổ của ông cha tổ tiên của nhân dân miền núi Nam Đông Dương. Các lãnh thổ phải giải phóng này có giới hạn hợp pháp sau đây: - Phía bắc là vĩ tuyến 17. Phía đông là các đỉnh của dãy Trường Sơn. Phía nam là các điểm tận cùng phía nam của các nước miền núi cũ Nam Đông Dương. Phía tây là biên giới hiện tại với Miên và Lào. - FLHPM/FULRO thay thế đồng thời "Mặt trận giải phóng Cao nguyên Chămpa" (Front de liberation des Haurs Plateaux Champa: FLHPC/FULRO) và "Mặt trận giải phóng Bắc Campuchia" (Front de liberation du Kambuia - Nord: FLKN/FULRO) đã được thành lập năm 1964 trên lãnh thổ cao nguyên. 4. Mục tiêu đấu tranh của FLHPM/FULROFLHPM/FULRO đấu tranh bảo vệ sự sống còn của các chủng tộc miền núi, do chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia của nhân dân miền núi. Mục tiêu đấu tranh trước mắt là giải phóng bằng mọi cách lãnh thổ của tổ tiên nhân dân miền núi Nam Đông Dương khôi sự đô hộ của nhân dân Nam Việt Nam. Mục tiêu lâu dài là làm cho Cao nguyên Nam Đông Dương thành một nước tự trị thật sự, thống nhất, tự do, hòa bình, và phồn vinh. Toàn thể nhân dân miền núi sẽ đấu tranh cho đến khi Chính phủ Sài Gòn, bất kỳ ai cầm quyền phải thừa nhận những người miền núi là chủ nhân thật sự của đất nước họ, rút khỏi cao nguyên mọi nhân viên dân sự và quân sự, mọi quân đội vũ trang, mọi phương tiện chiến tranh. Họ không được tuyển thanh niên miền núi làm việc cho họ, trả lụi tất cả các công thự dân sự và quân sự với tất cả tiện nghi. Tóm lại, nhân dân Nam Việt Nam phải thừa nhận nhân dân miền núi là chủ nhân thật sự lãnh thổ của chính tổ tiên họ, trả lại cho nhân dân mọi thẩm quyền dân sự và quân sự hiện có trên lãnh thổ tổ tiên họ để lại. 5. Đường lối đối nội của FLHPM/FULROLà đại diện chính thức của toàn thể nhân dân miền núi, FLHPM/FULRO bao trùm các tầng lớp xã hội của nhân dân này không phân biệt nam nữ, tuổi tác, dòng giống, hướng chính trị, phong tục, tập quán, cách sống... Đảng chính trị duy nhất gọi là "Phong trào thống nhất quốc gia giành độc lập (M.U.N.I), dự kiến là đảng của nhân dân miền núi. Giữ màu cờ của "Mặt trận giải phóng Cao nguyên Chămpa" cũ (FLHPC/FULRO) vì lý do màu cờ đó là do tôi (Y Bhăm Ênuol) đã sáng kiến ra. Ngôn ngữ làm việc là tiếng Rhadé, là tiếng thông dụng hiện nay ở Cao nguyên Nam Đông Dương. Đứng trong "Mặt trận thống nhất đấu tranh các chủng tộc bị áp bức" (Front Unifie de Lutte des Races Opprimées: FLJLRO) và luôn giữ mối quan hệ tốt, phối hợp tốt, hợp tác tốt với "Mặt trận giải phóng Chămpa" (Front de libération du Chămpa) và "Mặt trận đấu tranh Campuchia Crôm" (Front de lutte Kampuchea - Krom) cũng thuộc FULRO, đồng thời giữ những nét riêng của nền tự trị bên trong của mình, có nghĩa là nó đấu tranh chung cho mặt trận giải phóng bên kia nữa nhưng đồng thời đấu tranh cho tổ chức bên trong của mình và đòi hỏi riêng biệt của mình. FLHPM/FULRO luôn luôn theo đường lối của thế giới tự do vì là đại diện chính thức của một nhân dân theo chủ nghĩa quốc gia của một nước trong thế giới tự do. 6. Đường lối đối ngoại của FLHPM/FULROFLHPM/FULRO luôn duy trì và không ngừng tìm cách mở rộng quan hệ anh em hoặc hữu nghị giữa các dân tộc độc lập bạn, nhất là nhân dân Mỹ và các đồng minh của Mỹ, với nhân dân miền núi đang đấu tranh. Nó trông cậy tuyệt đối vào các dân tộc độc lập, giàu có và hùng mạnh này ủng hộ giúp nó thật sự và đến cùng trong cuộc đấu tranh giải phóng hiện tại. Vì các dân tộc bạn này đã hiểu rõ vấn đề người miền núi là mục tiêu rất đúng đắn, họ có ảnh hưởng ít nhiều ở Nam Việt Nam và cùng yêu chuộng hòa bình và công lý. Về phần mình, FLHPM/FULRO hoàn toàn biết ơn các dân tộc bạn. 7. Tổ chức bên trong Mặt trậnĐể có thể điều khiển có hiệu quả cuộc đấu tranh giải phóng, FLHPM/FULRO lập ra một ủy ban lãnh đạo gọi là ủy ban trung ương FLHPM/FULRO gồm 12 tiểu ban, phụ trách công việc thông thường của mặt trận. Tổ chức ủy ban trung ương FLHPM/FULRO như sau: - Chủ tịch Mặt trận là Chủ tịch ủy ban trung ương. - Phó Chủ tịch Mặt trận là Phó Chủ tịch ủy ban trang ương. - Tổng Thư ký của ủy ban trung ương. - Phó Tổng Thư ký của ủy ban trung ương. - Tổng Thủ quỹ của ủy ban trung ương. - Phó Tổng Thủ quỹ của ủy ban Trung ương. - Các cố vấn các ngành và các cơ quan Mặt trận. Các tiểu ban trực thuộc: a. Tiểu ban phụ trách các vấn đề chính trị. b. Tiểu ban phụ trách các vấn đề đối nội. c. Tiểu ban phụ trách các vấn đề đối ngoại. d. Tiểu ban phụ trách các vấn đề quân sự. e. Tiểu ban phụ trách các vấn đề tài chính, kinh tế, thương mại và công nghiệp. g. Tiểu ban phụ trách trồng trọt, chăn nuôi, thủy lâm. h. Tiểu ban phụ trách bảo vệ, an ninh, cảnh sát, liên lạc, phối hợp quan hệ tình báo. i. Tiểu ban phụ trách tư pháp. j. Tiểu ban phụ trách y tế, vệ sinh, hoạt động xã hội. k. Tiểu ban phụ trách giáo dục quốc gia và hoạt động văn hóa. l. Tiểu ban phụ trách thanh niên, thể thao và các vấn đề bán vũ trang. m. Tiểu ban phụ trách thông tin, tuyên truyền và báo chí. 8. Phong trào đoàn kết quốc gia đòi độc lập (M.U.N.I) Là những người cách mạng, chúng ta, đồng bào Cao nguyên đang đấu tranh, chúng ta không bao giờ chỉ tự coi mình là Sédang, Bahnar, Djarai, Rhadé, Koho, M’nông, H’Drung, Hroi, vì trong cuộc cách mạng, chúng ta cần lực lượng. Chúng ta phải đấu tranh đến thắng lợi cuối cùng. Như trường hợp người Do Thái đã mất nước hàng vạn thế kỷ, nhưng khi có thời cơ, họ thức tỉnh và tập hợp nhau lại đổ tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng tổ quốc và sau khi giành được độc lập họ không tự gọi người Do Thái nữa mà tự gọi là Israel trong một quốc gia Israel trước đó chưa có, chưa ai biết trên thế giới. Đối với chúng ta, tôi xin tự cho phép sơ bộ nghĩ rằng, sau khi giành độc lập, chúng ta có thể tự đặt tên là "Hinterlandais" và nước chúng ta sẽ gọi là "Hinterlande". Nhưng trái lại, nếu chúng ta thích sự chia rẽ, chúng ta chắc chắn gặp sự yếu hèn không tránh khỏi. Chúng ta sẽ sa vào bẫy của người Việt Nam đang tìm cách chia để trị chúng ta. 9. Đường lối tổng quát của FLHPM/FULRO Vì lý do cuộc đấu tranh hiện tại là một cuộc đấu tranh toàn thể nhân dân miền núi mong muôn, mọi quyền đều của nhân dân. Ủy ban trung ương FLHPM/FULRO đã dự kiến cho nhân dân này một đảng chính trị phù hợp với ý muốn của họ. Mọi công dân miền núi được tự do biểu thị, đòi hỏi thảo luận, công kích, hội họp để giải quyết các vấn đề của mình, được hợp tác với nhau để thực hiện công trình nào đó có ích cho cách mạng và cho nhân dân miền núi. Họ được tự do bình luận và công bố tác phẩm của mình miễn là công việc đó không vi phạm đường lối mặt trận, quyền lợi tối cao của nhân dân. Mọi công dân đều có thể làm việc ở công sở nếu họ có đủ khả năng làm tròn việc. FLHPM/FULRO bảo vệ tính mạng và quyền lợi của người miền núi, trừ phi các công dân này phạm tội ác chống lại Mặt trận và nhân dân. Ai phạm sai lầm nghiêm trọng chống lại cách mạng quốc gia (phản bội) thì sẽ bị các tòa án mặt trận xét xử. FLHPM/FULRO bảo vệ tính mạng của mọi ngoại kiều trên lãnh thổ Cao nguyên và tôn trọng đúng đắn quyền lợi của họ với điều kiện họ không làm rối loạn trật tự công cộnơ. Đạo Thiên Chúa và Tin Lành không những được tự do mà còn được khuyến khích ở Cao nguyên Nam Đông Dương để thay thế dần từng bước một phần mê tín của nhân dân miền núi chưa được mở mang và thực tế không có tôn giáo dân tộc. Cuối cùng, Ủy ban trung Ương FLHPM/FULRO phải dạy cho đồng bào làm thợ dệt, thợ mộc, thợ rèn, thợ cưa, thợ nung gạch, thợ làm nhà, nông dân có kinh nghiệm, bác sĩ mổ xẻ, thợ khác... Trong tương lai, Ủy ban trung ương FLHPM/FULRO này sẽ đào tạo đồng bào mình trở thành kỹ sư, bác sĩ giáo sư, trạng sư, diễn giả... Làm tại trụ sở FULRO ngày 2 tháng 9 năm 1974 Đại tướng (Général de Corps d’armés) Y Bhăm Ênuol - Chủ tịch FULRO và FLHPM (Ký tên và đóng dấu) Nơi gửi: Phó Chủ tịch Mặt trận: 01 Lưu : 01 Sao y bản chính: Sở Chỉ huy FULRO ngày 22 tháng 11 năm 1974 Phó Chủ tịch, Thiếu tướng Kpa Kới (Ký tên và đóng dấu) (Nguồn: Quân khu 5, Tổng kết hoạt động truy quét, triệt phá tổ chức phản động FULRO trên địa bàn Quân khu 5 (1975 -1992), tài liệu lưu Phòng Khoa học quân sự Quân khu 5).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
saoden
Thành viên

Bài viết: 1136
|
 |
« Trả lời #76 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2023, 08:09:10 am » |
|
Phụ lục 4 MẶT TRẬN DÂN TỘC TÂY NGUYÊN ĐỀ GA (FLHPM/FULRO) Số 06B/TCT/79 Chủ tịch Tây Nguyên Đề Ga Giấy thiết quân luật lính Nhằm Điều 6, Chương 4 trong đường lối đã họp khai mạc ngày 31 tháng 10 năm 1979. Nhằm đảm bảo sự thống nhất trong giải phóng Đề Ga FULRO tại mặt trận, muốn cho dưới phải tuân theo. Nhằm cho Mặt trận giải phóng Đề Ga/FULRO đi theo con đường một lòng một sức và đoàn kết chặt chẽ bảo đảm thống nhất toàn ban toàn ngành. Điều 1: Đồng bào (quần chúng) binh lính Mặt trận Đề Ga/FULRO đoàn kết một lòng đế đánh giặc Điều 2: Quần chúng nhân dân và binh lính Mặt trận Đề Ga/FULRO sẵn sàng và hy sinh vì đất nước tổ quốc nhân dân Đề Ga. Điều 3: Quần chúng và ban lãnh đạo trực tiếp binh lính Mặt trận Đề Ga/FULRO không chấp nhận cao nguyên bị trị trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Điều 4: Quần chúng và binh lính Mặt trận Đề Ga/FULRO cấm không được tiếp xúc với bọn Cộng sản Việt Nam và mặt trận khác, cũng như mặt trận các nước khác khi chưa có lệnh của cấp trên. Điều 6: Cấm tuyệt đối không cho Cộng sản phát hiện ta. Điều 7: Cấm không phản bội xưng khai về đường lối chung của Mặt trận Đề Ga/FULRO. Điều 8: Cấm không được tiết lộ bí mật từ mặt trận đưa ra. Điều 9: Tuyệt đối không trốn tránh nhiệm vụ được giao. Điều 10: Khi giao nhiệm vụ và giải quyết tất cả những vấn đề gì thắc mắc sẽ được giải quyết sau. Điều 11: Lính Mặt trận Đề Ga/FULRO không được trốn tránh ẩn nấp và bỏ trốn về nhà. Điều 12: Bất cứ nhiệm vụ gì giao phải hoàn thành trước khi về đơn vị. Điều 13: Tất cả giấy tờ quan trọng cần thiết không nhờ nhân dân tiếp tế phải tự lập. Điều 14: Cấm tuyệt đối không được dùng riêng tất cả chiến lợi phẩm thu trong chiến đấu: Tiền bạc, đong ho, radio, thuốc men, súng đạn... Điều 15: Cấm không được gây gổ, chửi bới cấp trên và quần chúng. Điều 16: Tất cả giấy tờ riêng không được xâm phạm đến, tò mò. Điều 17: Cán bộ không được lỏng lẻo, thả lính tự do. Điều 18: Cấm không được làm suy yếu, ghét hằn thù cá nhân để lòng riêng cho mình. Điều 19: Cấm không được phá cuộc đời (gia đình...), chia rẽ dân tộc anh em trong gia đình mình... Anh nào xâm phạm đường lối chính sách đã ban trên sẽ chịu trách nhiệm hoàn toàn theo trước bản thân và cấp trên. Giấy quân luật dùng tạm để bảo đảm cuộc xây dựng nổi dậy trong mặt trận. Mặt trận giải phóng Đề Ga ngày 09 - 4 - 1979 Thiếu tướng I Ghơk Niê Kriêng Ban Trung ương Chính phủ kiêm Mặt trận Tổ quốc dưới sự chỉ đạo của Mặt trận thống nhất (Ký tên và đóng dấu) (Nguồn: Quân khu 5, Tổng kết hoạt động truy quét, triệt phá tổ chức phản động FULRO trên địa bàn Quân khu 5 (1975.1992) tài liệu lưu Phòng Khoa học quân sự Quân khu 5).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
saoden
Thành viên

Bài viết: 1136
|
 |
« Trả lời #77 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2023, 10:11:25 am » |
|
Phụ lục 5 SƠ ĐỒ TỔ CHỨC, ĐỊA BÀN HOẠT ĐỘNG, QUAN HỆ CỦA BAJARAKA (1957 -1958) (Nguồn: Bộ Công an, Tổng kết lịch sử đấu tranh giải quyết vấn đề FULRO Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2000).
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 31 Tháng Bảy, 2023, 10:22:57 am gửi bởi saoden »
|
Logged
|
|
|
|
saoden
Thành viên

Bài viết: 1136
|
 |
« Trả lời #78 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2023, 10:13:13 am » |
|
Phụ lục 6 SƠ ĐỔ TỔ CHỨC, ĐỊA BÀN HOẠT ĐỘNG, QUAN HỆ CỦA FULRO II (1964 - 1969) (Nguồn: Bộ Công an, Tổng kết lịch sử đấu tranh giải quyết vấn đề FULRO, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2000).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
saoden
Thành viên

Bài viết: 1136
|
 |
« Trả lời #79 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2023, 10:15:16 am » |
|
Phụ lục 7 SƠ ĐỒ KHUNG TỔ CHỨC, ĐỊA BÀN HOẠT ĐỘNG, QUAN HỆ CỦA FULRO III (1973 - 1974) (Nguồn: Bộ Công an, Tổng kết lịch sử đấu tranh giải quyết vấn đề FULRO, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2000)
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|