Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:12:15 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những năm tháng không quên  (Đọc 51372 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #120 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2025, 08:28:44 pm »

Đến một điểm nữa do bộ đội chủ lực ta chốt giữ đó là Nimít, trong thời bình là một cửa khẩu sầm uất giữa Campuchia và Thái Lan. Chúng tôi phải đi bằng ô tô theo đường bộ, trong khi đi vẫn cần đề phòng địch phục kích. Đến vị trí của đơn vị bố trí ở đó, anh Hoàng Cầm yêu cầu tất cả ở lại để làm việc với đơn vị, chỉ có anh và tôi được đến đài quan sát bí mật ở bên này một chiếc cầu ngắn khoảng 70 đến 80 mét bắc qua một dòng sông nhỏ giữa Campuchia và Thái Lan. Cây cối ở hai đầu cầu mọc rất rậm rạp. Đài quan sát được đặt trên lưng chừng một cây um tùm rất kín đáo. Anh Hoàng Cầm và tôi được đưa lên đài để quan sát bên kia cầu. Vì cây cối quá rậm rạp nên tầm nhìn rất hạn chế. Đồng chí cán bộ của đơn vị chỉ nói thì thầm với chúng tôi về hoạt động của địch. Địch hoạt động cũng rất thận trọng, chỉ thỉnh thoảng lẻ tẻ bắn vu vơ sang bên phía ta chứ chưa có một cuộc đánh lớn nào.


Đoàn cán bộ do anh Hoàng Cầm dẫn đầu đi thị sát một số điểm ở biên giới đã hoàn thành nhiệm vụ. Chuyến đi giúp tôi hình dung khá rõ hoạt động của các đơn vị chủ lực của ta. Thêm một vốn sống thực tế về bộ đội chủ lực của ta ở Campuchia.


Trong khi làm nhiệm vụ theo sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện, tôi rất quan tâm tới năng lực thực tế của bạn, hiệu quả của việc tiếp nhận và sử dụng sự trợ giúp của ta và của bạn bè quốc tế. Tôi cho rằng đó là một việc làm rất cần thiết để ta hiểu được đối tác và có biện pháp thích hợp và xử sự đúng đắn trong việc giúp đỡ bạn. Tôi phát hiện ra có một số chuyên gia quân sự của ta ít chú ý đến vấn đề này, cho nên thường chủ quan, ít nhiều có biểu hiện coi thường cán bộ bạn, chỉ muốn áp đặt một cách đơn giản ý kiến của mình trong công việc,không hiểu được tâm lý tự ty hoặc nể nang chuyên gia nên có việc bạn chưa thật thông suốt mà vẫn nghe và làm theo. Từ đó không phát huy được tính chủ động, sáng tạo của cán bộ bạn. Có một số chuyên gia chỉ ưa những người dễ dàng làm theo ý kiến của mình chứ không thích những người có ý kiến phản biện, trung thực đánh giá phẩm chất và năng lực của người mình giúp đỡ không khách quan, không đúng, dễ dẫn tới quan hệ đoàn kết không tốt.


Khi có việc, tôi đã tiếp xúc với cán bộ cơ sở của bạn trong gần ba năm từ đầu năm 1979 đến đầu năm 1981, kể cả việc tiếp xúc với cán bộ quân sự của bạn qua các hội nghị mà tôi được tham dự, chỉ qua hai việc lớn giúp bạn nữa là tôi có thể tạm hình dung được trình độ của cán bộ bạn. Đó là hai lần giúp bạn tổ chức Lễ kỷ niệm Ngày giải phóng Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng Pôn Pốt và Ngày bầu cử Quốc hội Campuchia(1.5.1981).


Cùng với chuyên gia các ngành, chuyên gia quân sự và quân tình nguyện đã giúp bạn và cùng bạn tổ chức kỷ niệm ngày 7 tháng 1, hai năm (1980 - 1981) hoành tráng, có ảnh hưởng tốt đối với dư luận cả trong nước và quốc tế.


Bạn rất quan tâm đến việc tổ chức kỷ niệm ngày 7 tháng 1 với kỳ vọng thể hiện được sự trưởng thành nhanh chóng của chế độ mới và sự hồi sinh của đất nước đã đạt được những thành quả đáng tự hào như thế nào.


Tổ chức những ngày lễ lớn như vậy đối với ta không mới lạ gì, nhưng đối với bạn lại là một công việc rất lớn, rất mới với một khối công việc đồ sộ, phải huy động hầu như toàn bộ các ngành tham gia với những kế hoạch rất tỷ mỷ, phối hợp với nhau chặt chẽ, chi phí khá lớn và bảo vệ chu đáo, đề phòng mọi hoạt động phá hoại của địch, kể cả việc vũ trang quấy rối và pháo kích.


Phải nói rằng công tác giúp bạn chuẩn bị cho những ngày này rất bận rộn và khẩn trương. Ở bên nước ta, các ngành đã cử những cán bộ có kinh nghiệm nhất sang giúp bạn. Riêng về phía Quân đội, Bộ Quốc phòng đã cử nhiều cán bộ giỏi nhất về huấn luyện đội ngũ, về duyệt binh, về hậu cần, kỹ thuật,... do đồng chí Phùng Thế Tài, Tổng Tham mưu phó dẫn đầu sang để giúp đỡ bạn.


Riêng về mặt chính trị, Tiền phương Cục Tuyên huấn, Cục Bảo vệ cũng cùng với chuyên gia tuyên huấn và bảo vệ của Đoàn 478 trong những ngày này cũng phải làm việc cật lực để giúp bạn, bồi dưỡng cho cán bộ bạn về nội dung công việc và cách tiến hành phục vụ cho những ngày lễ này. Riêng về công tác tuyên huấn, những công việc công phu và tổn nhiều thời gian nhất là giúp bạn tổ chức cuộc triển lãm mà nội dung phần lớn là do quân đội phụ trách và chuẩn bị. Ngoài ra, toàn bộ nội dung tường thuật tại chỗ cuộc diễu binh và điều hành của bộ đội và nhân dân bạn trong ngày lễ, ngoài ra còn đón và tổ chức hoạt động cho đoàn văn công quân đội và các đoàn văn công của các quân khu phía Nam sang biểu diễn... đều do Tiền phương Cục Tuyên huấn phụ trách. Ngoài lực lượng tuyên huấn của Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện và chuyên gia tuyên huấn của Đoàn 478, Cục Tuyên huấn ở Hà Nội còn cử các đồng chí cánbộ làm công tác triển lãm và cán bộ các ngành có liên quan do đồng chí Chính Hữu, Cục phó Cục Tuyên huấn dẫn đầu sang giúp đỡ thêm.


Với sự giúp đỡ rất tận tình của ta, Lễ kỷ niệm Ngày giải phóng Campuchia (7.1.1980) lần đầu tiên do bạn tự điều hành từ đầu đến cuối, diễn ra rất tốt đẹp, phong phú, hoành tráng và an toàn. Buổi lễ lần thứ hai (7.1.1981) lớn hơn, phong phú hơn. Sự giúp đỡ của ta vẫn còn nhưng không cần nhiều chuyên gia như năm 1980. Bạn đã biết tổ chức và điều hành buổi lễ rất tự tin và thành công tốt đẹp.


Một kỷ niệm trong cuộc diễu hành của quần chúng ngày 7 tháng 1 năm 1980 rất đáng nhớ là đội ngũ các nữ thanh niên Campuchia xinh đẹp, nét mặt rạng rỡ, tay vẫy cờ và những cành hoa, bước đi khỏe khoắn, tươi vui. Tôi bỗng nhớ tới những ngày đầu tiên của năm 1979, trên đường phố Phnôm Pênh tôi luôn luôn gặp những người phụ nữ gầy yếu, ốm đau, liêu xiêu từ các nơi trở về, trong tôi trào lên một cảm xúc rưng rưng khó tả. Nhìn sang bên cạnh, tôi thấy cháu thanh niên lái xe của cơ quan tôi, cũng sang từ những ngày đầu, mắt đỏ hoe.


Còn trong ngày bầu cử mùng 1 tháng 5 năm 1981, với sự giúp đỡ của chuyên gia các ngành của ta, bạn đã tổ chức cuộc bầu cử Quốc hội rất bài bản và thành công ngoài sức tưởng tượng của tôi trong tình hình tàn quân Pôn Pốt còn hoạt động khá mạnh ở nhiều nơi. Quân tình nguyện, nhất là các tiểu đoàn của ta đứng chân ở huyện đã cùng bộ đội bạn truy quét địch, bảo đảm an toàn cho cuộc bầu cử, đồng thời cùng các đội công tác và đại đội hai chức năng bạn vận động nhân dân đi bầu cửrất có hiệu quả. Hôm đó, tôi đi đến một số điểm bầu cử ở nội, ngoại thành và một số điểm ở hai tỉnh Côngpông Chơnăng và Canđan thấy cử tri đi bầu rất trật tự. Ở các điểm bầu cử đều có ảnh của các ứng cử viên và tóm tắt tiểu sử được treo rất trang trọng. Theo tổng kết của bạn đã có tới hơn 97% cử tri đi bỏ phiếu và đến cuối tháng 6 năm 1981, trong kỳ họp đầu tiên của Quốc hội Campuchia đã bầu ra Hội đồng nhà nước, Hội đồng bộ trưởng và thông qua Hiến pháp của nước Cộng hòa nhân dân Campuchia. Một đất nước có chủ quyền, có thể chế dần dần hoàn chỉnh đang tiến lên từng bước vững chắc.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #121 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2025, 08:29:32 pm »

Qua những việc như giúp bạn tổ chức bầu cử Quốc hội, tổ chức các cơ quan nhà nước, tổ chức những cuộc kỷ niệm lớn... đòi hỏi công tác tổ chức phải rất tỷ mỷ, chu đáo, có sự phối hợp rất chặt chẽ với các ngành của bạn, phối hợp giữa ta và bạn. Tôi có một cảm nhận và đánh giá cao là bạn đã tiếp nhận rất tốt sự giúp đỡ, rất năng động và sáng tạo trong việc thực hiện. Không phải ngẫu nhiên mà một đồng chí cấp tướng trong Đoàn cố vấn của Liên Xô giúp Campuchia đã tâm sự với ta mong ở Ápganixtan cũng được như thế (lúc đó Liên Xô cũng đang có lực lượng quân sự ở Ápganixtan giúp Chính phủ Nagibula, nhưng đã không thành công và người đứng đầu đã bị những lực lượng phản cách mạng bắt treo cổ).


Vừa làm việc vừa tìm hiểu sâu hơn về tình hình đã giúp tôi ngày càng tích lũy được những hiểu biết cần thiết để phục vụcho công tác. Riêng về những lực lượng quân sự chống lại chính quyền cách mạng Campuchia như bọn Pôn Pốt, bọn Xrâyca, về bản chất con người của chúng như thế nào thì chúng tôi chưa hiểu rõ lắm, chỉ biết chung chung. Nhưng may mắn có hai sự kiện giúp tôi hiểu sâu về chúng hơn.


Chuyện thứ nhất:

Trong một buổi giao ban tại Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện, Mặt trận 979 thuộc Quân khu 9 báo cáo: Tại thị xã Côngpông Xpư, cách thủ đô Phnôm Pênh khoảng 40 kilômét, do sơ suất của bạn, đã bị bọn Pôn Pốt tập kích vào trại giam hơn 300 tù binh Pôn Pốt bị ta và bạn truy quét bắt được. Cuộc tập kích của chúng đã giúp cho hơn 300 tên tù binh đó trốn thoát. Bộ Tư lệnh đã chỉ đạo cho Mặt trận 979 cùng bạn rút kinh nghiệm trong việc quản lý tù binh, hàng binh. Khoảng gần hai tháng sau, cũng trong một buổi giao ban, Mặt trận 979 báo cáo là gần hết trong số hơn 300 tên tù, hàng binh Pôn Pốt được đồng bọn tập kích phá trại giam, giúp cho chúng trốn thoát đã lục tục trở về xin được tiếp tục ở tù vì ờ với bọn Pôn Pốt khổ quá! Tinh thần của chúng là như thế. Tôi và nhiều đồng chí rất thú vị về tin này. Riêng tôi đang loay hoay suy nghĩ là nên xử lý với bọn này như thế nào thì đồng chí Tư lệnh Lê Đức Anh phát biểu: "Thả hết cho họ về với gia đình, bắt họ viêt cam kết không được trở lại hàng ngũ Pôn Pốt, báo cho gia đình họ lên đón và yêu cầu gia đình họ cũng viết cam kết không để chồng con đi theo Pôn Pốt". Tôi rất hoan nghênh, đồng tình với cách giải quyết khoan hồng và nhân đạo đó và tin rằng như vậy sẽ có ảnh hưởng tốt đẹp đến công tác địch vận của bạn sau này.


Chuyện thứ hai:

Có một đơn vị hơn 400 tên Xrâyca (Khơme tự do) của bọn Son San thân Mỹ đem toàn bộ vũ khí ra hàng ở Batambang. Tôi được đồng chí Phó Tư lệnh Chính trị Lê Hai đang công tác ở đó gọi lên Batambang làm việc. Từ Phnôm Pênh, tôi và trung tá Ngô Ry, chuyên gia dân vận, địch vận của Đoàn 478 đi trực thăng đến Batambang thì được anh Lê Hai cho biết: Toàn bộ hơn 400 tên đó ra hàng tập thể, được bạn bố trí cho ở một trại giống nông nghiệp ở huyện Môngcônlôrây. Trại giống này ở giữa một khu ruộng nước chỉ có một con đường độc đạo dài khoảng gần hai kilômét đi được bằng ô tô vào. Bạn đã cử một phó chủ tịch tỉnh đến giải thích cho họ về chính sách khoan hồng của cách mạng đối với hàng binh, khuyên họ giao nộp vũ khí. Anh yêu cầu chúng tôi đến đó để nghiên cứu tình hình ra sao. Thật ra, việc này không phải thuộc lĩnh vực của tôi đảm nhiệm, mà có đồng chí Phạm Đình Thức, Cục phó Tiền phương Cục Địch vận đang thường trực ở Phnôm Pênh phụ trách. Không tiện hỏi anh vì sao lại không gọi anh Thức làm việc này, tôi và anh Ngô Ry cùng một trợ lý tuyên huấn dùng một chiếc xe commăngca, qua thị trấn Sisôphôn đến Môngcônlôrây và vào trại giống. Tôi được báo là đồng chí Phó Chủ tịch tỉnh của bạn đã đến rồi, nên không kịp trao đổi với bạn. Ngồi trên xe, tôi đã suy nghĩ dự kiến các tình huống có thể xảy ra như thế nào và thấy vào giữa một toán giặc mà vũ khí đang còn trong tay chúng sẽ là một việc khá mạo hiểm cả cho bạn và cho mình. Tuy nhiên, tôi cho rằng đây cũng là dịp tốt để hiểu thêm về trạng thái tinh thần của một lực lượng mạnh thứ hai sau bọn Pôn Pốt chống lại chinh quyền cách mạng và Quân tình nguyện Việt Nam. Hơn nữa, dù sao việc chúng đầuhàng cũng chứng tỏ tinh thần của chúng đã rệu rã nên khó có thể dám manh động một cách dại dột. Sở dĩ chúng vẫn đang giữ trong tay toàn bộ vũ khí mà chưa nộp có lẽ là muốn có điều kiện để mặc cả một điều gì đó đối với chính quyền cách mạng. Vì vậy, tôi nghĩ mình chỉ cần có một thái độ đàng hoàng, đúng mực, không nên có những lời nói hoặc cử chỉ gì làm chúng tự ái, kích động tính chất lưu manh của chúng. Đến gần trại giống, trên đường cái lớn thỉnh thoảng tôi thấy có một số người lẻ tẻ đi trên đường, đầu tóc bù xù, quần áo nhếch nhác, mặt mày lấm lét, trong đó có một vài tên còn trẻ, đeo kính trắng có vẻ trí thức đi về phía Sisôphôn, có lẽ là những tên trong đơn vị đầu hàng được phép của chỉ huy của chúng và cán bộ của bạn cho phép ra ngoài về thăm gia đình gần đó.


Chúng tôi để xe ở ngoài cổng trại và ung dung đi vào trại thì được biết đồng chí Phó Chủ tịch tỉnh của bạn vừa bắt đầu nói chuyện với bọn chúng ở một ngôi nhà rộng gần đó. Nhưng bọn chúng vẫn bố trí một số tên lăm lăm súng trong tay có vẻ sẵn sàng chiến đấu, đi lại quanh trại và nơi đang họp. Người đầu tiên tôi gặp, có vẻ chăm chú theo dõi chúng tôi là một tên to cao, vẻ mặt bặm trợn, tay xách một khẩu súng trung liên, hai vai đeo bắt chéo hai băng đạn lắp đầy, mắt trừng trừng nhìn chúng tôi, lầm lỳ không nói không rằng, chúng tôi đi đâu hắn đi theo đến đó. Tôi thấy hắn giống như một tên phỉ hay một tên bảo vệ chống lại chính quyền Xôviết như trong một số phim của Liên Xô trước đây. Còn những tên khác, khi chúng tôi đi qua chỉ yên lặng đứng nhìn và có vẻ sợ sệt tên đang đi theo chúng tôi. Chúng tôi đi quanh trại và quan sát khoảng một giờđồng hồ rồi ra về trong khi đồng chí Phó Chủ tịch tỉnh vẫn còn nói chuyện với số hàng binh Xrâyca.


Chúng tôi trở lại Batambang, báo cáo với anh Lê Hai những gì mà chúng tôi quan sát thấy và những suy nghĩ và nhận xét của mình rồi trở về Phnôm Pênh. Về sau, bạn giải quyết vụ này như thế nào, tôi cũng không theo dõi tiếp vì không phải là chức trách của mình và cũng vì bận quá nhiều việc. Song qua hai việc trên cũng giúp tôi hiểu biết thêm những khía cạnh về trạng thái tinh thần của bọn lính Pôn Pốt và Xrâyca.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #122 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2025, 08:30:51 pm »

Trong khi làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, mặc dù đã được hơn một năm, nhưng tôi vẫn chưa thỏa mãn với những gì mình hiểu về Campuchia giúp cho một cán bộ chính trị có một cái nhìn chính xác, đầy đủ. Để có những việc làm sát, đúng với tình hình thực tế, có hiệu quả thực sự trong nhiệm vụ giúp bạn, nhất là hiểu về dân, về lực lượng cách mạng của bạn. Có lần, anh Lê Hai phân công cho tôi trực tiếp giúp Bộ Tư lệnh về công tác vận động quần chúng xây dựng thực lực cách mạng ở cơ sở trong một cuộc họp của các cơ quan Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện. Hôm đó đồng chí Tư lệnh Lê Đức Anh cũng có mặt, khi tôi phát biểu rằng đây là một công việc rất lớn, rất quan trọng trong việc giúp bạn, coi đó như một cuộc vận động cách mạng thì anh Lê Hai không đồng ý với ý kiến của tôi. Anh nói là tôi "quan trọng hóa" vấn đề, nhưng đồng chí Lê Đức Anh thì không nói gì. Tôi không tranh luận gì, nhưng trong thâm tâm tôi vân giữ ý kiến của mình và trong công tác tôi dành nhiều công sức vào việc này vì tôi nghĩ ràng nếu làm tốt, nó sẽ có ý nghĩa rất quyết định đối với thắng lợi của cách mạng Campuchia. Vì vậy, tôi không bỏ lỡ một cơ hội nào để thu thập tình hình, tích lũy những hiểu biết của mình về Campuchia, kể cả những chuyện cụ thể và tìm mọi cách để thực hiện, kể cả việc đọc sách.


Qua việc tiếp cận tài liệu giúp tôi hiểu thêm về tình hình lịch sử quan hệ giữa Campuchia và Việt Nam từ trước tới nay vốn không được thuận lợi lắm. Trong khi đó, các chế độ cai trị khác nhau ở Campuchia đều có chung một điểm giống nhau, đặc biệt là bọn Pôn Pốt với một thứ chủ nghĩa dân tộc bệnh hoạn không ngừng nhồi nhét cho nhân dân Campuchia tâm lý thù hằn dân tộc, căm ghét người Việt Nam. Đó là một vấn đề đo được, đặc biệt là ở một số không nhỏ trong giới trí thức.


Về phía người dân Campuchia là như thế, còn trong cán bộ ta, cũng không phải là không có những anh em không có những quan niệm, suy nghĩ không đúng về người dân và anh em cán bộ Campuchia. Có lẽ vì rất rõ tình hình đó nên anh Lê Xuân Đồng đã tổ chức một cuộc hội thảo ở Thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề này. Tôi cũng tham dự cuộc hội thảo ấy và tôi cho đó là một việc làm có ích trong công tác tư tưởng đối với chuyên gia và cán bộ, chiến sĩ ta đang công tác và chiến đấu ở Campuchia.


Trong hội thảo, có đồng chí đem những nghiên cứu của các học giả tư sản nói về người dân Campuchia và ít nhiều cóảnh hưởng đến một số cán bộ ta. Nào là tượng thần Bayon bốn mặt ở đền Ăngco với nụ cười bí hiểm phản ánh một tính cách khó hiểu hay thay lòng đổi dạ. Nào là đặc điểm tính cách người dân Campuchia là hời hợt (superpicieux), nhẹ dạ (naïf), mộ đạo (zeligiexu) và tàn bạo (brutal) và trong cách đối xử cũng "sớm nắng chiều mưa"... Cuộc hội thảo diễn ra nhẹ nhàng, không có những tham luận dài dòng, nặng nề. Có nhiều ý kiến phản bác lại những luận điệu như vậy. Ý kiến nói chung là, tất nhiên mỗi dân tộc có thể do điều kiện lịch sử có những đặc điểm khác nhau, nhưng nhân dân ở đâu cũng đều phân biệt được thiện ác, đúng sai, phải trái, tốt xấu... Tôi đặc biệt có ấn tượng với một đồng chí khá lớn tuổi, hình như ở Cần Thơ, là một đảng viên lão thành của Đảng đã hoạt động nhiều năm ở Campuchia khi còn là một bộ phận của Đảng cộng sản Đông Dương. Đồng chí kịch liệt phản đổi việc nói người dân Campuchia là hay thay lòng đổi dạ, là tàn bạo... Đồng chí dẫn ra những chuyện đồng chí đã trải qua, khi đồng chí hoạt động ở nhiều địa phương Campuchia, trong khi bị mật thám Tây và bọn tay sai bản xứ theo dõi truy bắt, đồng chí đã được nhân dân bảo vệ, đùm bọc, nuôi dưỡng, an toàn như thế nào. Suốt một thời gian hoạt động nhiều năm ở Campuchia, chưa bao giờ đồng chí bị phản bội cả. Phát biểu của đồng chí rất chân thực và thuyết phục. Tôi rất tán thành về cách đánh giá đó qua thực tế thái độ của nhân dân Campuchia rất quý mến và biết ơn cán bộ, chiến sĩ Quân tình nguyện Việt Nam. Và tình hình này là rất phổ biết ở mọi nơi. Tôi cũng hình dung được rằng, cuộc đấu tranh để có được những nhận thức đúng đắn và xây dựng được tình đoàn kết giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Campuchia còn khó khăn, gian khổ, nhất là với những hậu quả của lịch sử đã để lại.


Trong thắng lợi chung to lớn của cách mạng ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia hiện nay, có những bước thăng trầm khác nhau của mỗi nước, song đó là thắng lợi tất yếu vĩ đại dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản. Riêng đối với Việt Nam và Campuchia, hiểu về những vấn đề lịch sử để lại trong quan hệ hai nước, cũng rất cần chú ý thêm đặc biệt là tình hình Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia và những vấn đề về quan hệ giữa hai đảng. Tôi hết sức quan tâm tới vấn đề này vì nghĩ rằng đây là vấn đề cốt lõi nhất bảo đảm sự đoàn kết giữa cách mạng và tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước. Trong việc tìm hiểu tình hình đó, tôi phải nhớ lại, lắng nghe những tin tức có chọn lọc, bảo đảm sự chính xác từ những nguồn tin đáng tin cậy và nghiêm túc phân tích chứ không chủ quan, hời hợt được.


Đó là những sự kiện như sau: Ai cũng biết rằng cả ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia có chung một cảnh ngộ là đều bị thực dân Pháp xâm lược, đều bị đặt dưới ách thống trị của chúng. Từ khi chưa có Đảng, ở mỗi nước đều có những cuộc nổi dậy của những người yêu nước nhưng còn rời rạc, lẻ tẻ. Từ khi có sự chỉ đạo của Quốc tế cộng sản, quan hệ giữa các lực lượng yêu nước chặt chẽ hơn, nhất là khi Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập, trong đó bộ phận Đảng ở Việt Nam mạnh hơn cả. Có sự giúp đỡ của Việt Nam, cách mạng Lào và Campuchia ngày càng phát triển, trưởng thành. Vì vậy, đến Đại hội lần thứ II của Đảng ta, Đảng bộ ở Lào và Campuchia mới tách ra thành đảng riêng. Trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp giành độc lập dân tộc mình, sự đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau giữa ba đảng ngày càng chặt chẽ. Sau chiến thắng vang dội tại Điện Biên Phủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, thực dân Pháp phải ngồi vào bàn đàm phán với Việt Nam tại Hội nghị Giơnevơ và kết quả của nó được coi như sự cáo chung của nền thống trị của thực dân Pháp ở ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia. Và khái niệm về xứ Đông Dương thuộc Pháp cũng không còn nữa.


Song do so sánh lực lượng lúc đó, kết quả cụ thể chỉ miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở ra được hoàn toàn giải phóng. Còn bạn Lào có được hai tỉnh Sầm Nưa và Phongxalỳ được giải phóng. Riêng Campuchia, chế độ Hoàng gia cai trị vẫn tồn tại không còn sự cai trị của thực dân Pháp. Nếu tôi nhớ không nhầm thì lúc đó trong thành phần chính phủ Campuchia có ba đảng viên cộng sản (trong Đảng nhân dân cách mạng Campuchia) là Khiêu Xăm Phon, Hu Nim, Hu Yun.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #123 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2025, 08:32:15 pm »

Sau thắng lợi của ta ở Hội nghị Giơnevơ, tôi đang công tác ở Phòng Chính trị Đại đoàn 308 - Đại đoàn Quân Tiên phong. Tôi còn nhớ, trong đợt sinh hoạt chính trị, học tập về thắng lợi của phái đoàn ta tại Hội nghị Giơnevơ của cán bộ trung cấp toàn Đại đoàn, nhiều cán bộ rất băn khoăn về việc cách mạng Campuchia không được vùng đất nào, không được như cách mạng Lào. Thắc mắc đó được giải thích chung là so sánh lực lượng chi cho phép giành thắng lợi như thế, đồng thời hai tỉnh Lào giáp với miền Bắc Việt Nam có chỗ dựa, không bị cô lập bảo đảm giữ được, thành căn cứ địa cách mạng của Lào. Còn Campuchia nếu có khu vực nào đó cũng dễ bị cô lập. Với cán bộ, chiến sĩ ta giải thích như thế cũng dễ thông. Tôi không thể ngờ ràng đó lại là chuyện thắc mắc kéo dài cho đến nay của các đảng viên Campuchia, cho rằng lợi ích của cách mạng Campuchia không được quan tâm đúng mức. Và nỗi băn khoăn đó đã đeo bám trong tâm trí các đồng chí mấy chục năm trời.


Lịch sử từ khi có Đảng Cộng sản Đông Dương đã gắn bó lực lượng cách mạng và nhân dân hai nước Việt Nam - Campuchia trong cuộc đấu tranh chung chống lại bọn xâm lược Pháp và sự thống trị, bóc lột của chúng. Đó là một thuận lợi lớn giúp cho việc xây dựng tình hữu nghị và một biên giới hòa bình lâu dài và bền vững giữa hai nước. Tuy nhiên, trong khi tìm hiểu tình hình Campuchia, tôi nắm được một số sự kiện đặt ra cho chúng ta cần phải có một sự nghiên cứu sâu sắc để hiểu đúng bản chất của vấn đề để từ đó có chủ trương và cách xử lý đúng đắn. Đây chỉ là những việc rất cụ thể nhưng tôi nghĩ là rất có ích cho việc nghiên cứu.


Sự kiện thứ nhất là, khi bọn Pôn Pốt bộc lộ rõ ràng bộ mặt cực kỳ phản động của chúng. Cùng với tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, cũng là lúc chúng ra sức trấn áp và thanh trừng nội bộ rất tàn bạo các lực lượng nổi dậy ở trong nước chống lại chính sách đối ngoại và đối nội của chúng. Trong số các lực lượng đó, ở Quân khu miền Đông, giáp biên giới ta do đồng chí Xurama, một ủy viên Bộ Chính trị trong Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội, Bí thư Quân khu ủy lãnh đạo nổi lênchống lại chúng quyết liệt (đồng chí Hêng Xomrin là một sư đoàn trưởng, Quân khu ủy viên lúc đó). Đồng chí Xurana vốn là đảng viên cũ mà ta biết thân mật theo tên Việt Nam là đồng chí Mười Xu. Bọn Pôn Pốt đưa một lực lượng mạnh có xe tăng và pháo binh đi kèm đến đàn áp. Đồng chí Nguyễn Bá Ngọc là một Thượng úy quân báo, sau này là Đại úy, Thư ký riêng của Tư lệnh Lê Đức Anh cho tôi biết là đồng chí Lê Đức Anh giao nhiệm vụ cho đồng chí ấy chỉ huy một tổ quân báo vượt biên giới theo đường rừng để liên lạc với đồng chí Mười Xu. Sau nhiều ngày tìm kiếm, chuyến đi không thành công, về sau tôi được các đồng chí Việt Nam ở Đoàn chuyên gia quân sự Bộ Quốc phòng Campuchia cho biết thêm là đồng chí Mười Xu đã trực tiếp chỉ huy lực lượng của mình chiến đấu anh dũng chống lại bọn Pôn Pốt nhưng vì lực lượng quá chênh lệch, đồng chí Mười Xu đã bị tử thương. Trước khi qua đời, đồng chí Mười Xu đã nói một câu cuối cùng với các đồng chí thân cận lúc đó: "Hãy chạy về phía Đông!". Nghe xong câu chuyện này, tôi suy nghĩ và tự hỏi: Tại sao đồng chí Mười Xu không theo ta? Đồng chí ấy là một đồng chí tốt đối với ta, quân khu do đồng chí chỉ huy lại giáp biên giới ta, rất thuận lợi để liên lạc với ta mà đồng chí không làm. Chỉ đến lúc chết đồng chí mới trăng trối lại cho cấp dưới mình chạy sang Việt Nam.


Một chuyên khác cũng diễn ra tương tự như thể. Hun Sen lúc bấy giờ mới 26 tuổi là Trung đoàn phó của một trung đoàn sát biên giới ta. Ngày 20 tháng 6 năm 1977, Hun Sen cùng một số ít cán bộ và lính của mình chạy sang ta. Theo bản tường trình của Hun Sen với cán bộ ta thì ở Trung đoàn của Hun Sen cũng có nhiều người chống lại bọn Pôn Pốt, trong đó có người Chính ủy Trung đoàn, là bạn thân của anh. Một hôm, người Chính ủy đó được bọn Pôn Pốt triệu tập về Phnôm Pênh họp. Dự đoán sẽ có chuyện chẳng lành đối với mình, trước khi đi anh nói với Hun Sen: "Nếu 3 ngày không thấy tôi về thì anh hãy cùng một số bạn tin cậy chạy sang Việt Nam vì có thể chúng sẽ giết tôi. Đúng là về sau người Chính ủy ấy đã bị bọn Pôn Pốt giết hại. Tôi nghĩ tính chất của vụ việc này và cách xử sự của người Chính ủy Trung đoàn ấy tương tự như cách xử sự của đồng chí Mười Xu. Tại sao anh biết là có thể bọn Pôn Pôt sẽ giết mình nhưng vẫn về Phnôm Pênh theo triệu tập của chúng mà lại không chạy sang Việt Nam, nhưng lại khuyên những bạn của mình làm thế.


Với hai trường hợp trên của đồng chí Mười Xu và người Chính ủy Trung đoàn ở cùng trung đoàn với Hun Sen, có điều kiện rất thuận lợi để liên lạc với ta tranh thủ sự giúp đỡ mà họ không làm? Phải chăng đó là do ý thức tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc thái quá, hay còn ảnh hưởng bởi một thiên kiến, một mặc cảm nào đó chưa thực sự tin cậy ta? Hay bị ảnh hưởng ít nhiều một cách vô thức do sự kích động của bọn Pôn Pốt gây ra cho nhân dân Campuchia một tâm lý hằn thù đối với Việt Nam? Đó là một vấn đề ta phải nghiên cứu và tìm lời giải đáp. Riêng tôi nghĩ, có lẽ chỉ có các đồng chí Campuchia mới giải đáp đúng được chuyện này khi đã có sự tin cậy và thực sự mở lòng chia sẻ với chúng ta.


Tôi nghĩ rằng, trong số các đảng viên Campuchia chân chính cũng có người gặp phải những trường hợp có lẽ trong quan hệ với Đảng Cộng sản Việt Nam, đã dũng cảm bày tỏ nỗi lòng của mình và đã xác định được cho mình thái độ đúng đắn, biết gạt bỏ ấm ức cá nhân, đặt lợi ích của cách mạng, của đất nước mình lên trên. Đó là trường hợp của đồng chí Sại Bu Thoong, Ủy viên Bộ Chính trị phụ trách công tác tổ chức của Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia, được chính đồng chí nói lại trong một hội nghị cán bộ cao cấp, trung cấp của Quân đội nhân dân Campuchia, có mặt cả chuyên gia các ngành chủ chốt của Đoàn 478. Đồng chí Nguyễn Trọng Hợp, Đoàn trưởng Đoàn 478 cũng ở đó. Lúc đó, tôi là Phó Chủ nhiệm Cơ quan Chính trị của Quân tình nguyện, được Bộ Tư lệnh cử đi dự Hội nghị đó theo lời mời của bạn. Tôi được nghe nói, đồng chí Sại Bu Thoong trước cũng đã chiến đấu trong hàng ngũ Quân đội nhân dân Việt Nam trong cả cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp sau đó xin trở lại Campuchia chiến đấu dưới chế độ Pôn Pốt, đồng chí là Tỉnh đội trưởng Cô Công.


Ở Hội nghị đó, đồng chí Sại Bu Thoong có một bài phát biểu khá dài. Trong lúc đang phát biểu bằng tiếng Campuchia với Hội nghị, đột nhiên đồng chí nói: "Vấn đề này tôi xin được phát biểu bằng tiếng Việt".
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #124 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2025, 08:33:30 pm »

Đồng chí nói rằng, khi là "Tỉnh đội trưởng Cô Công đã thấy rõ sự phản động của bọn Pôn Pốt trong chính sách đối với Việt Nam và việc thanh trừng nội bộ rất tàn bạo của chúng. Biết chắc chắn chúng sẽ tìm cách tiêu diệt mình, tôi và đồng chí Tia Banh1 (Đồng chi Tia Banh là cháu của đồng chí Sại Bu Thoong, sau này là Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Vương quốc Campuchia) đã đưa hai tiểu đoàn của tỉnh Cô Công chạy sangThái Lan để bảo toàn lực lượng, được phía Thái Lan đồng ý. Đồng thời, tìm cách liên hệ với Đảng Cộng sản Việt Nam nhưng không được. Dù như thế nhưng tôi vẫn nghĩ rằng đoàn kết với Việt Nam, đối với Campuchia cần thiết như cơm ăn, như nước uống, như không khí để thở, không thể khác được. Tôi đề nghị với các đồng chí Campuchia và các đồng chí Việt Nam phải luôn luôn giáo dục cho các thế hệ con cháu chúng ta mãi mãi coi trọng và vun đắp cho tình đoàn kết đó". Đồng chí Sại Bu Thoong là một đồng chí đã lớn tuổi, có lẽ phải đến gần 70 rồi, nhưng còn khỏe mạnh và minh mẫn, nói về vấn đề này rất tha thiết và xúc động. Tôi cảm nhận thấy đây là một con người trung thực, cương trực mới có thể có những lời lẽ và thái độ thẳng thắn như thế. Tôi tin đó là những lời tâm huyết, từ đáy lòng của một con người thực sự quan tâm đến lợi ích của đất nước, của cách mạng. Đồng thời, cũng suy nghĩ, chắc có thể có nhiều lý do mà có sự từ chối không gặp đồng chí Sại, nhưng tôi cũng cho rằng ta có thiếu sót trong việc năm tình hình, còn chủ quan, đơn giản, ảnh hưởng tới lòng tin của bạn. Nói rõ hơn là lòng tin của bạn đối với Việt Nam chưa được vững chắc.


Đến lúc chúng ta đã nhận ra sự phản bội và tội ác của chúng, đã giúp bạn và cùng bạn đập tan được bộ máy thống trị của bọn Pôn Pốt giành thắng lợi lớn ngày 7 tháng 1 năm 1979 và đã lập được chính quyền cách mạng từ trung ương tới cơ sở rồi, nhưng trong quá trình truy quét bọn tàn quân, còn có những thiếu sót ảnh hưởng tới lòng tin của bạn. Không thể cầu toàn để ta sẽ không mắc một thiếu sót nào trong công tác giúp bạn,nhưng vì ta chưa nghiêm túc rút kinh nghiệm kịp thời và tích cực sửa chữa nên vẫn tiếp tục phạm những khuyết điểm không đáng có, hoàn toàn có thể tránh được để không tổn hại đến lòng tin của bạn đối với ta.


Tóm lại, ý định của tôi là vừa tiến hành công tác vừa chú ý tìm hiểu sâu thêm tình hình trong hai năm 1979 - 1980 cũng thu được một số kết quả nhất định. Sự hiểu biết thêm về quá khứ lịch sử quan hệ Việt Nam - Campuchia, về bạn, về địch, và ta sau thắng lợi ngày 7 tháng 1 đến nay cũng giúp tôi nắm sâu thêm về tình hình, tự tin hơn trong công tác theo chức trách của mình để giúp Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện có hiệu quả hơn.


Ngay từ cuối năm 1978, khi được cùng đồng chí Lê Hai đi công tác ở biên giới Tây Nam sau khi bọn Pôn Pốt tiến hành cuộc chiến tranh lấn chiếm nước ta trên toàn tuyến biên giới, có một nhận thức lớn trong tôi ngày càng trở nên sâu sắc. Đó là chính sách diệt chủng của bọn Pôn Pốt ở Campuchia cùng với việc phát động cuộc chiến tranh chống Việt Nam dẫn tới một tất yếu khách quan là: Nhân dân Campuchia, những người cách mạng chân chính của Campuchia và nhân dân Việt Nam cùng có một kẻ thù chung cần phải đánh đổ. Vì lợi ích sống còn của nhân dân hai nước.


Chưa bao giờ tôi thấy nhiệm vụ dân tộc thiêng liêng và nghĩa vụ quốc tế cao cả của Đảng và nhân dân ta lại gắn chặt với nhau như thế, chưa bao giờ di huấn của Bác Hồ: "Giúp bạn tức là mình tự giúp mình" lại sáng tỏ như lần này. Nhiệm vụ của công tác chính trị, tư tưởng cần làm cho di huấn của Người được sáng tỏ trong cán bộ, nhân dân và lực lượng vũ trang ta. Đồng thời, chúng ta cùng cần làm cho bạn bè quốc tế và nhân dân thế giới thấy rõ việc chúng ta tiến vào Campuchia là hoàn toàn chính đáng vì cả lợi ích của chúng ta và cả lợi ích sống còn của nhân dân Campuchia.


Từ nhận thức đó, thực tế dư luận quốc tế và ngay cả tình hình trong nước, công tác tư tưởng trong nội bộ ta và công tác tuyên truyền quốc tế lúc đó quá nhấn mạnh và chỉ nhấn mạnh đến việc cứu giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng theo kiểu "ban ơn" mà nhẹ việc vạch trần tội ác chiến tranh man rợ của chúng đối với nhân ta và chúng ta phải diệt chúng vì cả lợi ích chính đáng của chúng ta nữa. Sự lệch lạc này gây một ảnh hưởng tiêu cực không nhỏ đối với một sự nghiệp chính nghĩa, trong sáng của Đảng ta và nhân dân ta.


Các thế lực thù địch với đất nước ta nhân cơ hội này lớn tiếng rêu rao là "Việt Nam xâm lược Campuchia", dùng mọi thủ đoạn xuyên tạc, bôi nhọ và cô lập Việt Nam. Điều đó dĩ nhiên là sẽ như thế. Vì đối với ta, chúng đã quen đổi trắng thay đen, thiện chúng vẫn bào là ác, tốt chúng cũng bảo là xấu...


Bạn bè quốc tế, nhân loại tiến bộ vổn trước kia ủng hộ rất nhiệt tình Việt Nam trong hai cuộc chiến tranh chính nghĩa chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước, thì nay một số khá lớn hoài nghi động cơ của cuộc tiến quân của ta vào đất Campuchia đánh bọn Pôn Pốt, mà không nhận rõ sự bức bách và sự cần thiết trong hành động đó của Việt Nam chính vì lợi ích của bản thân mình nữa. Tôi nghĩ làm rõ điều này bạn bè quổc tế dễ thông cảm hơn với Việt Nam.


Ngay cả đối với một bộ phận của giới trí thức Campuchia, họ biết ơn Việt Nam đã cứu dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng, nhưng có người hoài nghi hỏi thẳng cán bộ ta: "Chúng tôi không hiểu tại sao Việt Nam, Quân tình nguyện Việt Nam còn quá khổ, quá khó khăn mà lại quá tốt với dân Campuchia như thế?".


Tôi nghĩ, nếu như công tác tuyên truyền đối ngoại, cũng như trong công tác tư tưởng đối với nhân dân và Quân đội ta, chúng ta thẳng thắn nói rõ sự thật về việc thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả của chúng ta. Với nội bộ chúng ta, công tác tư tưởng cần làm rõ đây vừa là nhiệm vụ dân tộc thiêng liêng, vừa là nghĩa vụ quốc tế cao cả của nhân dân và Quân đội ta. Ta giúp bạn và bạn cũng giúp ta cùng diệt kẻ thù chung, chứ không phải chỉ thấy một chiều ta giúp bạn theo kiểu "ban ơn". Sự đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau là một tất yếu phải thấy ở cả hai phía, không thể khác được. Và nếu không có sự cộng tác của lực lượng cách mạng, sự giúp đỡ ủng hộ của nhân dân Campuchia, dù ta có mạnh bao nhiêu, giỏi bao nhiêu cũng không thể giành được thắng lợi.


Tôi thuộc lớp người giác ngộ cách mạng sớm, khi còn là một thiếu niên, được các bậc thầy và đàn anh dậy dỗ chỉ bảo, lớn lên và trưởng thành qua cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trở thành một cán bộ chính trị của Quân đội trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, nên ít nhiều cũng có kinh nghiệm và sự nhạy cảm về chính trị. Qua chuyện trên, tôi thấy rõ thêm một điều, trong công tác tuyên truyền, giáo dục, nếu chúng ta có lòng tin vững chắc vào chính nghĩa của sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp chiến đấu của mình thì phải kiên trì làm cho quần chúng, nhân dân hiểu rõ sự thật, hiểu rõ chân lý trọn vẹn của sự nghiệp đó một cách khách quan, chứ không phải chủ quan theo ý muốn của mình, muốn nói thế nào cũng được.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #125 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2025, 08:34:57 pm »

Vào khoảng đầu năm 1981, sau hơn hai năm giúp bạn, căn cứ vào chủ trương của Bộ Chính trị Đảng ta và Nghị quyết của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia; về Đảng thành lập Ban Cán sự Đảng của Quân tình nguyện, bảo đảm cho sự lãnh đạo tập thể của Đảng đối với công cuộc chiến đấu và giúp bạn Campuchia.


Đây là một sự chuyển đổi về tổ chức lãnh đạo, chỉ huy rất quan trọng nhằm mục đích thống nhất việc lãnh đạo, chỉ huy Quân tình nguyện và Chuyên gia quân sự Việt Nam ngày càng chặt chẽ và có hiệu quả hơn. Từ Tiền phương Bộ Quốc phòng nay chuyển thành Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện (phiên hiệu là Bộ Tư lệnh 719) do Thượng tướng Lê Đức Anh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh, Trung tướng Lê Hai, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Phó Tư lệnh Chính trị. Đồng thời, theo Quyết định, Bộ Tư lệnh 719 trực thuộc Bộ Quốc phòng vẫn là cơ quan đại diện của Bộ Quốc phòng ở hướng Tây Nam được ủy quyền của các tổng cục, các quân khu, quân chủng binh chủng trong nhiệm vụ bảo đảm chiến đấu, bảo đảm hậu càn, kỹ thuật cho các đơn vị lực lượng vũ trang của mình trong việc cùng bạn và giúp bạn chiến đấu. Đoàn chuyên gia quân sự ở Campuchia cũng hoạt động dưới sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh 719. Ban Cán sự Đảng của Quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia cũng được thành lập do đồng chí Lê Đức Anh làm Bí thư và đồng chí Lê Hai là Phó Bí thư.


Như vậy, Bộ Tư lệnh 719 có nhiệm vụ rất lớn và quyền hạn rất cao là đại diện của Bộ Quốc phòng ở phía Nam chỉ đạo toàn bộ hoạt động chiến đấu và giúp bạn Campuchia.

Riêng về tiền phương của các cục thuộc Tổng cục Chính trị, theo Quyết định cũng được tổ chức thành Cơ quan Chính trị thuộc Bộ Tư lệnh 719. Và tôi có quyết định của Bộ, nhận nhiệm vụ làm Phó Chủ nhiệm Cơ quan Chính trị của Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia. Vì chưa có người bố trí làm Chủ nhiệm (theo tôi biết là sẽ bố trí một thiếu tướng) nên đồng chí Lê Hai vẫn phải kiêm chỉ đạo trực tiếp Cơ quan Chính trị.


Một hôm, tôi được đồng chí Lê Đức Anh và đồng chí Lê Hai gọi lên giao nhiệm vụ chuẩn bị một dự thảo nghị quyết cho cuộc họp đầu tiên của Ban Cán sự Đảng. Tôi hơi ngạc nhiên và thấy quá khó khăn đối với mình, vì trong hai năm qua tôi chỉ làm theo chức năng của một người phụ trách Tiền phương Cục Tuyên huấn nên nhiều mặt khác không đi sâu để nắm vững tình hình mọi mặt được. Tôi trình bày với các anh về khó khăn đó và đề nghị trao cho Văn phòng Bộ Tư lệnh mà trước đây là Văn phòng Tiền phương Bộ Quốc phòng và xin công tác chuẩn bị theo chức trách của mình. Nhưng các anh không nghe và nhất thiết động viên tôi viết, tôi không thể thoái thác được. Các anh cũng không có sự chỉ đạo nào về mặt nội dung. Tôi đề nghị với anh Lê Hai, trong thời gian tôi viết, các công việc khác của Cơ quan Chính trị anh giao cho các đồng chí khác, để tôi có thời gian tập trung soạn thảo dự thảo nghị quyết và được anh đồng ý.


Tôi suy nghĩ rất lâu, tìm mọi cách thu thập các tài liệu để đánh giá tình hình và đề ra chủ trương công tác mọi mặt tiếp theo. Sau 3, 4 hôm thì tôi viết xong lần thứ nhất, nhưng tôi cảm thấy không hài lòng lắm về nội dung chuẩn bị lần đầu của mình, còn vụn vặt không xứng tầm với tổ chức đảng làm nhiệm vụ lãnh đạo chiến đấu rất nặng nề và còn giúp về mặt quân sự cho cả một quốc gia. Tôi đem bản chuẩn bị lên đọc cho đồng chí Lê Đức Anh nghe. Anh rất chăm chú lắng nghe và suy nghĩ một lát rồi nói: "Tôi muốn cuộc họp đầu tiên của Ban Cán sự bàn và ra nghị quyết về những vấn đề có ý nghĩa chiến lược, chỉ đạo cho nhiệm vụ chiến đấu và giúp bạn lâu dài cho đến thắng lợi".


Không hiểu sao lúc đó, xuất thần tôi nghĩ ra là những vấn đề có ý nghĩa chiến lược, tôi đã được nghe nhiều lần đồng chí Lê Đức Thọ truyền đạt ý kiến của Bộ Chính trị của ta và giải thích của đồng chí trong nhiều hội nghị quan trọng với các cán bộ chủ chốt của các ngành đang giúp bạn trong 1, 2 năm qua và là những công việc đã và đang làm có hiệu quả. Đó chính là những vấn đề lớn có ý nghĩa chiến lược mà tôi đã tiếp thu được và đã tham gia thực hiện trong hai năm qua. Nếu viết dự thảo nghị quyết cho Ban Cán sự theo ý kiến của đồng chí Lê Đức Anh, chỉ cần khái quát tái hiện lại thành văn bản. Trong hai năm đó, tôi cũng đã nắm được những công việc chính và hiểu sâu hơn tình hình mọi mặt nên phải viết làm sao cho phù hợp với sự phát triển của tình hình để có những yêu cầu mới cho chính xác, đúng đắn. Như vậy, tôi thấy đó là một thuận lợi rất lớn, để chấp bút rồi. Nghĩ rằng đã có lối thoát để bảo đảm một nội dung có chất lượng, tôi "bạo gan" nói với anh: "Vâng. Tôi đã hiểu ý anh, tôi về viết lại và đề nghị 5 giờ chiều mai anh cho thông qua".


Về phòng mình, tôi bắt tay vào viết. Tôi nhớ lại, suốt những lần nghe đồng chí Lê Đức Thọ phát biểu, tôi thấy toát lên ba vấn đề lớn nhất:

Một là, cùng bạn và giúp bạn đập tan chế độ diệt chủng Pôn Pốt.

Hai là, giúp bạn để bạn tiến lên, đủ sức tự mình đảm nhiệm được nhiệm vụ đánh địch và xây dựng đất nước.

Ba là, bảo đảm củng cố và tăng cường tinh thần đoàn kết hữu nghị giữa Việt Nam và Campuchia.

Đó là thu hoạch lớn nhất của tôi, sau mỗi lần họp, ngày càng sâu thêm. Tôi thấy rõ đây là ba điều cốt tử trong công tác giúp bạn. Hiệu quả chiến đấu và công tác giúp bạn phải dựa vào ba điểm này để đánh giá là đúng hay sai, tốt hay xấu. Đó cũng là quan điểm, tư tưởng chỉ đạo trong mọi suy nghĩ và hành động của chuyên gia và bộ đội ta, không được phép sai lầm hoặc chệch hướng.


Sau khi viết xong phần đánh giá tình hình và ưu khuyết điểm lớn trong hai năm 1979 - 1980, tôi tập trung suy nghĩ cách thể hiện làm sao cho bộ đội và chuyên gia quân sự ta quán triệt sâu sắc ba vấn đề trên. Trong phần phương hướng nhiệm vụ và các biện pháp công tác lớn trong nhiệm vụ giúp bạn, sau khi suy nghĩ kỹ, tôi dùng cụm từ Ba mục tiêu chiến lược với ý nghĩ giản đơn ban đầu là chỉ đạo cho mọi người dễ hiểu, dễ nhớ.


Tôi nhớ rõ khi nêu ra Ba mục tiêu chiến lược, để thực hiện các mục tiêu đó phải có những biện pháp quan trọng đã làm, đang làm tốt và phải tiếp tục làm vì những biện pháp đó đã đưa đến những hiệu quả rất thiết thực, được coi như những biện pháp có ý nghĩa chiến lược. Trong những biện pháp đó có những biện pháp rất quan trọng như: Vận động sản xuất để cứu đói và chữa bệnh cho dân ngay từ đầu mà anh em quen gọi là "cứu đói, cứu đau", bây giờ vẫn cần tiếp tục đẩy mạnh, việc vận động quần chúng xây dựng thực lực cách mạng ở cơ sở, việc giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang theo hướng có thê độc lập tác chiến và ngày càng phát triển... Để thực hiện các biện pháp đó cần có các lực lượng của ta và bạn cỏ tầm quan trọng chiến lược. Trong các lực lượng này, ta đặc biệt chú ý đến việc xây dựng và sử dụng tốt các tiểu đoàn của ta đứng chân ở huyện, các tiểu đoàn địa phương tỉnh, các đại đội hai chức năng(chiến đấu và vận động quần chúng), các đội du kích, các tổ công tác ở phum của bạn...


Tôi cho rằng đây là sự vận dụng rất sáng tạo những kinh nghiệm của Việt Nam, của lãnh đạo và chỉ huy các cấp của ta, phù hợp với tình hình thực tế Campuchia.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #126 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2025, 08:36:24 pm »

Trong khi viết tôi cũng tính tới chuyện vì lý do gì đó rơi vào tay những thế lực thù địch, làm sao trong nội dung của nghị quyết tránh không để lộ bí mật mà địch có thể lợi dụng, hoặc những ngôn từ chúng dễ xuyên tạc hoặc kích động để vu cáo ta... Tôi cặm cụi viết suốt đêm hôm đó và cả ngày hôm sau hầu như không nghỉ, chỉ dừng lại ăn hoa quả để lấy sức. Đúng 5 giờ chiều hôm sau tôi đem đến đọc chậm cho anh Lê Đức Anh nghe đểanh tham gia và thông qua theo như đã hứa. Anh rất hài lòng chỉ thêm vài chữ. Tôi cũng rất phấn khởi vì mình đã thể hiện được bằng văn bản những quan điểm tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị ta và những chủ trương công tác của Tiền phương Bộ đã, đang tiến hành một cách có hiệu quả và sẽ tiếp tục đẩy mạnh. Văn bản được nhanh chóng đánh máy dài hơn 40 trang và được gửi tới các Ủy viên Ban Cán sự Đảng và các đồng chí chủ chốt của các cơ quan Tham mưu, Hậu cần, Kỹ thuật... tham gia ý kiến. Nói chung, dự thảo được hoàn toàn nhất trí, có một số ý kiến nhỏ được bổ sung thêm. Trong Hội nghị Ban Cán sự được mở rộng tới Tư lệnh và Bí thư đảng ủy các mặt trận và Thủ trưởng các cơ quan Bộ Tư lệnh 719, Tư lệnh và Bí thư đảng ủy các quân khu 5, 7, 9 được tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh, đồng chí Lê Đức Anh giao cho tôi nhiệm vụ đọc tại hội nghị. Hội nghị nói chung nhanh chóng nhất trí với dự thảovà trở thành Nghị quyết chính thức đầu tiên của Ban Cán sự Đảng Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia vào khoảng tháng 7 năm 1981.


Ngay sau Hội nghị, đồng chí Lê Đức Anh đề nghị với Bộ Chính trị Đảng bạn để đồng chí Lê Hai, Phó Bí thư Ban Cán sự sang báo cáo lại Nghị quyết này và được bạn đồng ý. Tôi nghĩ rằng, đấy là một ý kiến rất hay vì không những việc làm đó biểu thị một sự trọng thị, tin cậy đối với cấp lãnh đạo của bạn mà còn để bạn nắm vững chủ trương của lãnh đạo và chỉ huy Quân tình nguyện để hợp tác và giúp đỡ thực hiện đạt được kết quả tốt nhất.


Sau buổi làm việc với bạn, khi gặp tôi ở cơ quan, anh Lê Hai nói với vẻ không được vui vẻ lắm. Anh nói nhỏ với tôi, bạn nghe nhưng chưa được chú ý và mặn mà lắm. Tôi nghĩ việc đó có thể có nhiều lý do nhưng cũng thấy rõ là nội dung Nghị quyết có rất nhiều vấn đề lớn trong đó có nhiều việc đã và đang làm, hầu như không có những vấn đề mới, nên một mặt không dễ chốc lát nhận thức được ngay vì nội hàm của nó phong phú, mặt khác còn chưa thu hút, hấp dẫn được người nghe vì có nhiều việc đã làm trong hai năm qua, dễ có cảm giác là không có gì mới.


Mãi đến ngày 15 tháng 2 năm 1983, với sự giúp đỡ của các đồng chí chuyên gia dân, chính, Đảng (B68), Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia họp ra Nghị quyết số 39/NQ-TƯ về điều chỉnh tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang (1983 - 1986). Trong Nghị quyết này, bạn mới xác định ba mục tiêu chiến lược của cách mạng Campuchia:

1-Tiếp tục làm cho bọn Pôn Pốt tan rã, suy tàn hơn nữa.

2-Tiếp tục xây dựng thực lực cách mạng Campuchia mạnh hơn lên cả về số lượng và chất lượng, đủ sức đảm nhiệm cuộc chiến đấu thắng lợi với mọi kẻ thù, bảo vệ và phát triển thành quả cách mạng, bảo vệ và xây dựng đất nước.

3-Bảo đảm đoàn kết liên minh chiến lược, chiến đấu Campuchia - Việt Nam trên một thế vững chắc hơn và mạnh hơn.

Ba tháng sau, ngày 14 tháng 5 năm 1983, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta ra Nghị quyết số 11/NQ-TƯ về "trách nhiệm giúp bạn đẩy mạnh lên tự đảm đương cuộc đấu tranh với địch trong những năm tới". Nghị quyết có một nhận định rất quan trọng và nêu rõ: "Cách mạng Campuchia tuy có bước trưởng thành đáng kể nhưng chưa đủ mạnh để tự đảm đương cuộc đấu tranh với địch. Nhiệm vụ của ta rất nặng nề và khẩn trương. Trong khoảng 3-5 năm trước mắt, ta phải giúp cách mạng Campuchia đạt được ba mục tiêu chiến lược:

1-Tiếp tục làm cho địch suy tàn đến mức không thể gượng dậy được, không thể bám trụ được trong nội địa lãnh thổ Campuchia.

2-Làm cho bạn đủ mạnh, dần dần đáp ứng được cuộc đấu tranh với địch, bảo vệ và phát triển thành quả của cách mạng, bảo vệ và xây dựng đất nước trong tình hình như hiện nay.

3-Liên minh chiến lược và chiến đấu Việt Nam - Campuchia được tăng cường trên một thế mới vững chắc hơn.


Khi được đọc và nghiên cứu Nghị quyết của Đảng bạn nói về ba mục tiêu chiến lược và sau đó là Nghị quyết của Bộ Chính trị Đảng ta cũng nói về ba mục tiêu chiến lược phù hợp với vị trí của mỗi Đảng và sự phát triển đi lên của cách mạng Campuchia, tôi rất phấn khởi. Bởi lẽ cho đến giữa năm 1983, ba mục tiêu chiến lược đã đạt tới sự thống nhất về nhận thức và hành động giữa ta và bạn. Ba mục tiêu chiến lược đã trở thành một hướng đi, một cái đích của ta và bạn, của lãnh đạo, chỉ huy và quần chúng, của cản bộ và chiến sĩ, là nền tảng chính trị tạo nên sức mạnh của sự đoàn kết dẫn tới thắng lợi sau này.


Tác giả nội dung của ba mục tiêu chiến lược đó là Bộ Chính trị của Đảng ta, được thể hiện đầu tiên trong Nghị quyết của Ban Cán sự Đảng Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia.

Đối với tôi, khi chuẩn bị dự thảo nghị quyết của Ban Cán sự theo chỉ định của đồng chí Lê Đức Anh, tôi chỉ nghĩ đơn giản là dùng một cụm từ cho dễ nhớ, dễ hiểu là "ba mục tiêu chiến lược", chứ hoàn toàn chưa hình dung được tác dụng lớn lao của nó sau này đã trở thành một khái niệm lớn trong nghị quyết của hai Bộ Chính trị của Đảng bạn và Đảng ta, là cơ sở chính trị cho sức mạnh của nhận thức và hành động trong đấu tranh chung của Campuchia và Việt Nam để có chiến thắng cuối cùng đập tan chế độ diệt chủng Pôn Pốt.


Tôi cũng rất tự hào trong khi làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia đã có một trong những đóng góp ý nghĩa của mình với việc dùng cụm từ "ba mục tiêu chiến lược".

Và tôi cũng cảm thấy sự khéo léo, rất khiêm tốn và tế nhị của Bộ Chính trị Đảng ta khi ra nghị quyết sau Nghị quyết của Bộ Chính trị Đảng bạn với sự nhiệt tình, chân thành, hưởng ứng thực hiện "ba mục tiêu chiến lược" mà bạn đề ra, với một nội dung rất chuẩn xác, phù hợp với yêu cầu phát triển của thực tiễn mà tôi sẽ nói rõ ở phần sau trong hồi ký này.


Sau khi Ban Cán sự Đảng đã có nghị quyết chính thức, tôi được cử ra Hà Nội báo cáo Nghị quyết với Tổng cục Chính trị và sau đó đến chỗ đồng chí Lê Đức Thọ báo cáo về tình hình mới nhất ở Campuchia với đồng chí. Buổi báo cáo ở Tổng cục Chính trị chỉ có đồng chí Cục trưởng Cục Tổ chức và đồng chí Chánh Văn phòng của Tổng cục nghe; các đồng chí ấy không hỏi gì thêm. Ngay buổi chiều hôm đó, tôi sang nhà riêng của đồng chí Lê Đức Thọ để làm việc. Sau khi tôi báo cáo tình hình khoảng nửa tiếng, đồng chí Lê Đức Thọ phát biểu liên khoảng gần 2 giờ, chỉ đạo cho những công việc ở Campuchia. Tôi tập trung nghe và ghi một mạch nội dung phát biểu của đồng chí. Phải nói rằng, đồng chí là người nắm rất vững tình hình Campuchia và làm việc với đồng chí cũng thoải mái. Phát biểu đến nửa chừng, đồng chí bảo nghỉ và sai người pha sữa cho uống. Theo yêu cầu của Văn phòng Tổng cục, tôi phải viết lại những phát biểu chỉ đạo của đồng chí Lê Đức Thọ để các đồng chí đánh máy báo cáo lại với Thủ trưởng Tổng cục, đồng thời in cho tôi một bản để đem về Campuchia.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #127 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2025, 08:38:09 pm »

Sau đó ít hôm, đồng chí Lê Trọng Tấn, Phó Tổng Tham mưu trưởng sang Campuchia làm việc với Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện và Thủ trưởng một số cơ quan của Bộ Tư lệnh. Việc đầu tiên trong buổi làm việc, đồng chí Lê Đức Anh giao cho tôi đọc toàn văn bản Nghị quyết của Ban Cán sự báo cáo với đồng chí Lê Trọng Tấn. Sau khi đọc xong, đồng chí Lê Trọng Tấn nói rằng Nghị quyết đã đề cập rất đầy đủ các vấn đề công tác, chiến đấu của Quân tình nguyện, công tác giúp bạn và đồng chí rất tán thành. Hình như đồng chí Bí thư Ban Cán sự muốn tranh thủ sự giúp đỡ của các đồng chí có trách nhiệm của Bộ trong việc thực hiện Nghị quyết này.


Vui chuyện, đồng chí Lê Trọng Tấn kể lại hai mẩu chuyện của bạn Lào và bạn Campuchia.

Chuyện ở Lào là thế này: Sau khi được giải phóng, đất nước Lào do chính quyền, do Đảng nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo. Tuy nhiên, bọn phỉ Vàng Pao còn hoạt động rất mạnh chống lại Nhà nước cách mạng Lào. Lúc đó, đồng chí Lê Trọng Tấn là Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam vẫn chỉ huy các đơn vị giúp bạn và cùng bạn Lào diệt bọn phỉ mà chúng còn có những căn cứ mạnh. Lúc đó cũng có một số đơn vị Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc giúp Lào ở phía Bắc, chủ yếu là làm đường. Bạn đột nhiên yêu cầu cả Trung Quốc và Việt Nam cùng rút quân ra khỏi Lào (việc này đồng chí không nói rõ lý do) nhưng đồng chí nắm vững là bạn chưa đủ mạnh để đánh bọn Vàng Pao. Theo lệnh của trên, ta rút khỏi Lào, nhưng đồng chí đề nghị cho các đơn vị của ta đóng quân ngay sát biên giới để giúp bạn được nhanh chóng khi cần thiết. Quả nhiên, phỉ Vàng Pao đã lợi dụng cơ hội đó tràn ra đánh phá dữ dội. Không đủ sức chống lại chúng; bạn lại khẩn thiết đề nghị ta đưa quân vào giúp. Sau này ta đã giúp bạn mạnh lên và cùng bạn dẹp tan được bọn Vàng Pao.


Còn chuyện ở Campuchia lại có những nét khác: Khi đó, đồng chí Lê Trọng Tấn đang là một trong những đồng chí chỉ huy đánh lại bọn Pôn Pốt xâm lược ở biên giới Tây Nam. Khi ta liên lạc được với đồng chí Chia Xim và đoàn của đồng chí chạy sang ta, đồng chí Lê Trọng Tấn đến gặp, thăm hỏi chuyện khai thác tình hình để có kế hoạch giúp đỡ thì có một anh trong đoàn của đồng chí Chia Xim nói ngay một câu hỏi không đúng lúc về vấn đề biên giới Việt Nam - Campuchia. Đồng chí Lê Trọng Tấn kể, nghe anh ta nói thế, đồng chí ngạc nhiên và rất bực, nhưng đồng chí ôn tồn nói: "Bọn Pôn Pốt đang tàn sát nhân dân Campuchia rất dã man, việc cấp thiết của chúng ta bây giờ là cứu nhân dân Campuchia khỏi họa diệt chủng chứ không phải là bàn chuyện biên giới". Nghe thật khôi hài. Ai cũng bật cười nhưng đó lại là chuyện có thật. Trong 9 năm công tác ở Campuchia, tôi cũng chưa gặp anh ta lần nào.


Trong khi ta có sự chuyển đổi về mặt tổ chức cho phù hợp với sự phát triển mới về tình hình mọi mặt trên chiến trường nhằm tăng cường sức mạnh chiến đấu của ta và đẩy mạnh sự giúp đỡ bạn đánh địch và xây dựng lực lượng có hiệu quả hơn, thì về phía địch tình hình cũng có nhiều thay đổi. Trong mùa khô 1981 - 1982, bọn Pôn Pốt ra sức củng cố lại tàn quân thành các đầu sư đoàn của chúng như trước kia và tiến hành xây dựng căn cứ của chúng dọc biên giới Campuchia - Thái Lan, đẩy mạnh hoạt động trong nội địa tuy mức độ yếu hơn không được như các năm trước. Đồng thời, đến cuối năm 1981, các lực lượng chống lại chính quyền cách mạng thỏa hiệp với nhau thành lập cái gọi là "Chính phủ liên hiệp ba phái". Trong đó, bọn Pôn Pốt vẫn là lực lượng mạnh hơn cả giữ vai trò nòng cốt, còn lại là phái Moulinaka của ông Hoàng Xihanúc (tên gọi tắt của "Mouvement de libénation nationcale du Kampuchea, có nghĩa là Phong trào giải phóng dân tộc Campuchia) và bọn Xrâyca. Chính phủ Liên hiệp ba phái do ông Hoàng Xihanúc đứng đầu, có trụ sở tạm thời ở Caomêlai, một vùng núi rất hiểm trở ở Tây Bắc Campuchia thuộc tỉnh Batambang giáp ngay biên giới Thái Lan. Sự xuất hiện của Chính phủ ba phái do Xihanúc đứng đầu, đã gây được một ảnh hưởng chính trị nhất định cả trong và ngoài nước Campuchia. Chính vì vậy hoạt động chống phá của địch được đẩy mạnh hơn ở nhiều nơi cả về mặt quân sự và chính trị.


Tình hình trên đặt ra yêu cầu cấp thiết là ta phải đẩy nhanh việc giúp đỡ bạn để tốc độ trưởng thành của bạn nhanh hơn.


Tôi nhận thấy lúc này về chủ trương giúp bạn có những biện pháp mới có hiệu lực tốt hơn. Cách giúp bạn của ta là từng bước, đồng bộ, chuẩn bị mọi điều kiện để bạn tiếp thu được sự giúp đỡ và sử dụng sự giúp đỡ đó nhanh chóng, có hiệu quả thực tế. Định giúp đỡ việc gì ta chuẩn bị rất kỹ mọi điều kiện vật chất, bồi dưỡng tập huấn cán bộ của bạn và chuyên gia của ta. Vì vậy, Trường 481 được thành lập tháng 4 năm 1981 ở Thành phố Hồ Chí Minh. Trường tổ chức các lớp tập huấn cho cán bộ ta sang làm chuyên gia giúp bạn những vấn đề cơ bản, cần thiết nhất, do một đồng chí Thiếu tướng đã từng làm Trưởng đoàn chuyên gia Bộ Quốc phòng bạn (Đoàn 478) làm Hiệu trưởng.Về mặt kỹ thuật, các ngành cũng cử những cán bộ giỏi sang để giúp cán bộ bạn nhanh chóng có trình độ chuyên môn kỹ thuật tương ứng với yêu cầu, sử dụng tốt viện trợ của ta và bạn bè quốc tế. Vì vậy, thời gian này bạn cũng tiến bộ rất nhanh. Ở huyện Puốc, một vùng nóng ở tỉnh Xiêm Riệp, nơi có tàn quân của mấy đầu sư đoàn Pôn Pốt mà chúng tập hợp lại được hoạt động khá mạnh. Bí thư Huyện ủy kiêm Chủ tịch huyện Chia Xô Phát đã lãnh đạo, chỉ huy bộ đội địa phương và du kích bạn, được nhân dân giúp đỡ đã cùng tiểu đoàn của ta truy quét tàn quân địch có hiệu quả; hiệu suất chiến đấu của bộ đội và du kích bạn có nhiều trận hơn cả hiệu suất chiến đấu của ta. Do đó, Sư đoàn 317 của ta thuộc Quân khu 7 làm nhiệm vụ truy quét tàn quân địch ở huyện Puốc đã có thể rút quân về nước đợt đầu tiên và tháng 7 năm 1982, chỉ còn ở lại tiểu đoàn đứng chân ở huyện tiếp tục nhiệm vụ. Cơ quan chính trị trước đó đã có hướng dẫn về công tác chính trị cho đợt rút quân này. Tôi và hai đồng chí ở cơ quan đã đi ô tô từ Phnôm Pênh đến Xiêm Riệp để cùng Mặt trận 479 hướng dẫn, theo dõi và rút kinh nghiệm về đợt rút quân đầu tiên này. Đường đi lúc đó chưa được an toàn lắm. Phóng viên nước ngoài rất quan tâm tới cuộc rút quân. Nhưng trên đường tới Xiêm Riệp, chúng tôi chỉ thấy có một chiếc ô tô dân dụng của một phóng viên người Nhật tự lái cùng đi về hướng Xiêm Riệp. Con đường quốc lộ Phnôm Pênh - Xiêm Riệp rải đá rất xấu, xe đi rất xóc, suốt dọc đường không một bóng người, đi cũng thấy hơi rờn rợn. Nhưng tôi nghĩ rằng tiểu đoàn đứng chân ở các huyện dọc đường cũng đã được giao nhiêm vụ bảo đảm an toàn nên cũng yên tâm.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #128 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2025, 08:39:50 pm »

Đến làm việc tại Bộ Tư lệnh Mặt trận 479, tôi gặp đồng chí Được, nguyên là Trung đoàn phó của Trung đoàn 88A chi viện cho miền Nam từ cuối năm 1965, nay là Tham mưu trưởng Mặt trận. Được gặp đồng đội trước đây cùng Sư đoàn 308, tôi rất vui và được anh cho biết là đã có kể hoạch hành quân về nước chu đáo cho Sư đoàn 317. Cơ quan chính trị Mặt trận cho biết cũng đã chuẩn bị kỹ cho Sư đoàn 317 về mặt công tác chính trị. Tỉnh Xiêm Riệp được sự giúp đỡ của bạn từ Trung ương tổ chức cuộc mít tinh tiễn đưa gồm các đại biểu của Sư đoàn 317 tại hội trường lớn của tỉnh rất trọng thể. Phía bạn nói nhiều đến sự biết ơn Quân tình nguyện, biết ơn cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn đã không quản ngại hy sinh, gian khổ giúp nhân dân Campuchia nói chung và nhân dân Xiêm Riệp nói riêng thoát khỏi nạn diệt chủng.


Sáng hôm sau, cuộc tiễn đưa cán bộ, chiến sĩ của Sư đoàn diễn ra trên đường phổ Xiêm Riệp. Nhân dân đứng hai bên đường tay cầm cờ hai nước, vẫy cờ tiễn đưa đoàn xe của đơn vị đi qua với tình cảm lưu luyến thật sự. Tôi quan sát thấy những cặp vợ chồng trẻ trên tay bế các cháu nhỏ khoảng 2-3 tuổi, nét mặt xúc động cầm tay con vẫy vẫy, tiễn đưa các chiến sĩ ta.


Tôi và các đồng chí cùng đi trên chiếc YAZ, nhập vào đoàn xe của bộ đội tiến về hướng Phnôm Pênh. Một điều tôi không ngờ tới là trên dọc đường, bạn đã huy động dân ở các phum gần đường quốc lộ đứng sẵn trước để tiễn bộ đội. Suốt chặng đường mấy trăm cây số, có dăm chỗ như vậy.


Có một sự cố xảy ra, khi cả đoàn xe đang đi bỗng bị ùn lại rồi dừng hẳn. Đợi một lúc không thấy nhúc nhích gì, tôi cho xe tách ra vượt lên xem chuyện gì đã xảy ra. Đi được một đoạn thì thấy có một chiếc xe chết máy. Cán bộ chỉ huy tiểu đoàn có mặt nhưng không có thợ sửa nên đành chịu để cả đội hình đứng lại. Tôi lên gặp đồng chí ấy, yêu cầu đẩy chiếc xe sang rìa đường để cho đội hình tiếp tục hành quân. Tôi không đeo quân hàm, đi trong đội hình với tư cách phái viên cấp trên nên đồng chí ấy không nghe. Tôi phải giải thích cho đồng chí ấy là nếu không giải quyết vấn đề như thế thì toàn bộ đội hình đằng sau sẽ không đi được, như thế sẽ không thực hiện được kế hoạch của Sư đoàn là đến tối phải đến vị trí trú quân gần doanh trại của Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 trên địa phận tỉnh Côngpông Chơnăng, cách Phnôm Pênh vài chục cây số. Đồng chí ấy cũng không nghe, nói rằng một mình xe ở lại sẽ không an toàn. Một đồng chí đi cùng tôi phải nói tôi là Đại tá, Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân tình nguyện góp ý đúng, đồng chí nên làm theo. Tôi cười không nói gì, lúc ấy đồng chí mới cho bộ đội xuống xe và đẩy xe sang rìa đường, đội hình đằng sau mới tiến lên được. Kể cả thời gian ùn đến lúc đi được phải mất đến hơn nửa giờ đồng hồ, thế mà trong kế hoạch hành quân một tình huống đơn giản như vậy cũng không được nhắc đến và hướng dẫn cho bộ đội cấp dưới xử trí. Vì vậy, mãi tới gần 8 giờ tối cả Sư đoàn mới tới được chỗ trú quân theo quy định.


Có một chuyện nhỏ khác cũng nằm trong kế hoạch rút quân. Trước khi đi Xiêm Riệp, đồng chí Lê Hai bảo tôi đến Hội trường Chắcđamúc xem bạn chuẩn bị tổ chức mít tinh tiễn đại biểu của Sư đoàn 317 thế nào. Đến đó đã thấy bạn chuẩn bị đầy đủ. Một cán bộ bạn của Mặt trận Dân tộc cứu nước trong Ban Tổ chức lễ tiễn do Chính phù và Mặt trận của Campuchia phối hợp tổ chức. Tôi biết anh biết tiếng Pháp vì đã gặp vài lần.


Tôi ngại các phóng viên quốc tế sẽ gây mất trật tự trong cuộc mít tinh. Anh trả lời là không ngại vì bạn đã có kế hoạch chu đáo và cả vấn đề bảo đảm an ninh nữa. Rồi anh chỉ lên một chiếc "băng rôn" viết bằng hai thứ tiếng Việt Nam - Campuchia chào mừng các cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 317, trên là tiếng Việt Nam, dưới là tiếng Campuchia và hỏi tôi như thế có được không. Tôi trả lời anh: Các đồng chí Campuchia là chủ, theo tôi nên đặt chữ Campuchia lên trên, dưới là tiếng Việt Nam. Tôi nghĩ việc này chắc bạn đã cân nhắc và thấy bạn rất cẩn thận, tế nhị. Nghe tôi trả lời, anh có vẻ hài lòng. Đến hôm diễn ra cuộc mít tinh tại Hội trường trên, tôi thấy bạn thực hiện rất chu đáo, tỷ mỷ, buổi lễ diễn ra trang trọng, thân mật; phóng viên quốc tế khá nhiều nhưng trật tự. Nhìn lên "băng rôn" bạn đã sửa lại và dán chữ Campuchia ở hàng trên. Việc tiễn đưa Sư đoàn 317 trở lại Việt Nam, bạn tổ chức ở Phnôm Pênh rất tốt.


Cuộc rút quân của ta lần đầu tiên diễn ra suôn sẻ, an toàn. Thắng lợi về mặt chính trị có ý nghĩa quan trọng ở trong nước và quốc tế, thể hiện rõ thiện ý của ta trong việc thực hiện cam kết sẽ dần dần rút quân ra khỏi Campuchia, đồng thời cũng chứng minh bước đầu về sự trưởng thành của bạn trong việc tự đảm đương công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước mình.


Qua cuộc rút quân lần đầu, ta và bạn cũng rút ra được nhiều kinh nghiệm về công tác chính trị cho những lần sau. Tôi còn phụ trách giúp Bộ Tư lệnh 719 về công tác chính trị 5 đợt rút quân nữa, tức là đợt rút quân lần thứ 6 vào cuối năm 1988 và càng làm về sau càng tốt.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #129 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2025, 08:41:38 pm »

Trong năm 1981 và đầu năm 1982, tôi có nhiều lần đi lại bằng đường hàng không giữa Phnôm Pênh và Hà Nội vì có những cuộc họp do Trung ương triệu tập, cũng là năm có những sự kiện lớn không thể quên.


Việc thứ nhất là việc riêng, nhưng tôi không thể không quan tâm. Đó là việc Đinh Gia Đức, con trai thứ hai của tôi và người yêu của nó đang gặp rất nhiều khó khăn trong bối cảnh tình hình quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc đang cực kỳ căng thẳng và ngày càng xấu đi. Hai đứa đang nóng lòng mong mỏi được chuyển tình yêu của chúng đã kéo dài trong chín năm để đi tới hôn nhân. Đối với chuyện cưới nhau của hai đứa, trong người thân và bạn bè của chúng đều có hai luồng ý kiến khác nhau. Ý kiến tán thành, ủng hộ là số đông bạn học trước kia của chúng ở Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Đại học Bách khoa Hà Nội, cùng một số thầy giáo trẻ. Ý kiến thứ hai, chủ yếu là một số đồng chí lãnh đạo của hai trường cũng thông cảm cho rằng đó là một tình yêu trong sáng, nhưng thấy rất khó trong bối cảnh chính trị lúc bấy giờ, "đành phải hy sinh thôi", số ít thì thấy cần phải cảnh giác. Trong họ hàng, gia đình và ngay cả bạn bè của tôi, dù ý kiến có những khía cạnh cụ thể khác nhau những về đại thể cũng nằm trong hai loại ý kiến đó.


Sự việc càng trở nên khó khăn và gay cấn hơn khi gia đình Châu không thể vượt qua được áp lực của tình hình chính trị lúc đó nên xin được xuất biên và buộc Châu phải đi cùng. Lúc này, Đức đã tổt nghiệp đại học và được giữ lại công tác tại trường, còn Châu trước đó đã tốt nghiệp kỹ sư chế tạo máy và đang công tác tại Xưởng đóng tàu Xi măng lưới thép tại thành phố Nam Định. Nhưng Châu, theo tiếng gọi trái tim không thể rứt nổi tình yêu với Đức, kiên quyết không đi, trốn gia đình ở lại. Một cuộc săn tìm ráo riết của gia đình Châu trước khi xuất biên nhưng vô ích vì Châu được bạn bè và nhiều người thân giúp đỡ. Bố mẹ và các em Châu đành ngậm ngùi lên đường. Câu chuyện này tôi được nghe nói lại vì thời gian đó tôi đang ở Campuchia nên hoàn toàn không biết gì. Khi nghe chuyện, thú thực là tôi rất thương hai đứa, một tình yêu sâu thẳm từ đáy lòng mình, tuy tôi chẳng nói với ai.


Một ngày trung tuần tháng 2 năm 1981, tôi từ Phnôm Pênh về Hà Nội dự một cuộc họp để nghe phổ biến nghị quyết của Trung ương về vấn đề kinh tế do Ban Bí thư triệu tập. Từ sân bay Nội Bài tôi về thẳng căn phòng của mình ở 32A Lý Nam Đế. Lúc đó vào khoảng gần 10 giờ sáng, các đồng chí cùng ở dãy căn nhà tập thể đều đang làm việc trong nội thành, các cháu nhỏ ở với bố còn đang đi học, chỉ có đồng chí bảo vệ đang ở căn buồng của đồng chí ấy.


Căn phòng tôi ở, cửa khóa. Đức xuống Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội công tác chưa về. Tôi thấy một lá thư gài ở trên cửa, tôi vội lấy xuống xem. Liếc qua tôi thấy đó là một lá thư của Văn phòng Phủ Thủ tướng gửi cho Đinh Gia Đức. Tôi lặng người đi vì tôi nghĩ đó là một chuyện rất quan trọng. Tôi nhớ ra trước khi đi, Đức cho tôi biết Đức và Châu đã viết thư lên trình bày với Thủ tướng Phạm Văn Đồng về tình yêu của chúng, xin ý kiến giúp đỡ và hứa hẹn sẽ tận tâm công tác phục vụ đất nước.


Tôi đóng cửa lại, rất hồi hộp và xúc động mờ ra đọc. Đó là một lá thư viết tay của Thủ tướng Phạm Văn Đồng

Nội dung lá thư nguyèn văn như sau:

"Hai cháu Đức và Châu thân mến!

Bác đã xem hai bức thư của hai cháu. Nếu tình hình đúng như hai cháu đã trình bày trong thư thì các cháu có quyền và có nghĩa vụ cùng nhau kết hôn, xây dựng hạnh phúc gia đình thương yêu giúp đỡ nhau làm tròn mọi công việc của mình.

Bác thân ái chúc hai cháu làm tốt mọi việc nhằm tranh thủ mọi người có liên quan giúp hai cháu thực hiện những điều mong ước chính đáng của hai cháu.

Bác chúc hai cháu khỏe mạnh về cơ thể và tinh thần, dũng cảm vượt qua mọi khó khăn nhất là làm tốt công việc của hai cháu ở nơi làm việc.

Thân ái!

12-2-1981
Ký tên: Phạm Văn Đồng"


Chữ viết của Thủ tướng rõ ràng và rất đẹp. Đọc xong, nước mắt tôi trào ra. Tôi đọc lại nhiều lần, mỗi lần đọc không thề kìm được cảm xúc của mình. Tôi cực kỳ xúc động trước trái tim nhân ái, cao cả của một nhà lãnh đạo, một người cộng sản, dù chồng chất công việc nặng nề của đất nước vẫn quan tâm sâu sắc tới hạnh phúc của con người và có những lời khuyên bảo ân cần và cụ thể như vậy đối với một cặp trai gái trẻ yêu nhau. Trong cảm xúc tột cùng đó còn có sự cảm kích của tôitrước sự chia sẻ của một con người có lòng nhân ái bao la và trí tuệ kiệt xuất đối với mình. Đó là sự chia sẻ về tình cảm của một người cha với con mình đang có một tình yêu chính đáng trong một bối cảnh rất phức tạp, không dễ gì có sự chia sẻ của nhiều người.


Về câu chuyện xúc động của tôi khi đọc lá thư của Thủ tướng, tôi chưa hề nói với ai kể cả với những người thân nhất. Đây là lần đầu tiên tôi thổ lộ ra trong hồi ký.

Có thể nói, đến bây giờ ở tuổi 86, chỉ có hai lần tôi xúc động đến tận cùng nỗi xúc động mà tôi không thể kiềm chế nổi mình.

Trường hợp thứ hai là ngày 30 tháng 4 năm 1975, lúc đó tôi đang làm việc ở cơ quan trong nội thành Hà Nội; Đài Tiếng nói Việt Nam đưa tin Sài Gòn đã hoàn toàn được giải phóng lúc 11 giờ 30 phút; ngụy quyền Sài Gòn đã đầu hàng vô điều kiện. Từ trong thành, tôi lấy xe đạp qua Cửa Đông đi theo đường ra bờ Hồ Hoàn Kiếm để được hưởng không khí ngày toàn thắng của đất nước sau 30 năm vượt qua bao nhiêu gian khổ hy sinh, mất mát đau thương. Nhưng chỉ đi được vài trăm mét, tôi không thể kìm nổi nước mắt phải dắt xe quay lại. Tôi bỗng nhớ tới đồng đội của mình mà rất nhiều người đã nằm lại chiến trường không được thấy ngày hôm nay. Trong chiến đấu trước sự hy sinh của đồng đội, cả thời gian dài đằng đẵng ấy, nước mắt tôi chảy vào trong, tích tụ lại trong lòng; bây giờ đến ngày toàn thắng mới được vỡ òa ra...


Ít lâu sau, tôi nhận được tin từ bên nước ta sang. Đám cưới của hai đứa con đã được tổ chức rất giản dị trước sự vui mừngcủa bạn bè chúng và những người thân trong gia đình. Thủ tướng trong ngày hôm đó cũng cử cán bộ Văn phòng Chính phủ tặng hai chiếc bút máy Hồng Hà cho Châu và Đức.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM