Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 06:34:25 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những năm tháng không quên  (Đọc 51287 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #140 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2025, 09:33:26 pm »

Trường hợp thứ 2 mà tôi phải suy nghĩ và trực tiếp giải quyết là trường hợp hôn nhân của một nữ nhân viên cấp dưỡng của Đoàn. Chị khoảng 24, 25 tuổi, trước đây đã có chồng, nhưng vì không hợp nhau nên chia tay. Chị nghe tin anh ta đã lấy vợ và chị quyết định yêu một đồng chí cán bộ ở B68 (Đoàn chuyên gia dân, chính, Đảng) và xin được kết hôn chính thức. Khi được biết, tôi gửi một công văn cho Hội phụ nữ xã ở quê chị, nói rõ nguyện vọng của chị khi chị nghe tin ở quê chồng cũ đã lấy vợ và đề nghị Hội phụ nữ xã của chị xác nhận chuyện này và có ý kiến về đề nghị được kết hôn với người yêu của chị. Chỉ ít lâu sau, Đoàn nhận được công văn phúc đáp của Hội phụ nữa xã xác nhận là chồng cũ của chị đã lấy vợ khác và đồng ý với đề nghị của chị. Như vậy, tôi đã đủ bằng chứng pháp lý để làm công văn gửi Đại sứ quán ta ở Phnôm Pênh làm thủ tục cho chị và người yêu kết hôn. Khoảng một năm sau, hai người đã có con và bế con đến thăm, cảm ơn tôi. Có những đồng chí cán bộ, vợ con ở bên nước có khó khăn về nhà cửa phải đi ở nhờ người thân, Đoàn cũng phải tìm cách đề nghị với đơn vị cũ xét cấp nhà ở cho gia đình các đồng chí đó. Có đồng chí chỉ muốn mua một máy khâu về cho vợ làm thêm để tăng thu nhập giải quyết khó khăn cho gia đình, xin giấy chứng nhận để qua cửa khẩu (vì cũng có một số lợi dụng buôn lậu). Tất cả những yêu cầu chính đáng đó đều được Đoàn bằng cách này hay cách khác giúp đỡ và đều có kết quả.


Những chuyện cụ thể như trên diễn ra khá nhiều đòi hỏi phải được giải quyết thích đáng và cũng mất nhiều thời gian. Tuy các chi bộ gồm phần lớn là cán bộ có kinh nghiệm, chủ động giải quyết được rất nhiều việc nhưng các cơ quan chức năng của Đoàn quy định về biên chế rất hạn chế, về nhân sự nhất là chuyên gia có hạn định thời gian phục vụ luôn thay đổi hoặc bổ sung nên cũng có nhiều trường hợp bị bỏ sót, Đoàn không quán xuyến được hết. Nhưng nếu lãnh đạo quan tâm, khắc phục khó khăn, cũng có thể giải quyết được tốt hơn. Tôi lấy ví dụ như tổ chức gặp mặt cán bộ, chiến sĩ là thương binh hay gia đình có liệt sĩ vào những ngày kỷ niệm khác trong năm thường bị bỏ quên. Đó là những thiếu sót trong công tác chính trị.


Trong ba năm (1985 - 1987) công tác tại Đoàn chuyên gia quân sự 478, có một số sự kiện quan trọng và một vài tình huống đáng nhớ.

Việc thứ nhất diễn ra đã đẩy tôi vào một tình huống rất khó xử. Khi tôi được quyét định bổ nhiệm làm Phó Đoàn trưởng về Chính trị Đoàn 478 vào tháng 10 năm 1984 sau gần hai năm là Cục phó phụ trách Tiền phương Cục Tuyên huấn và ba năm là Phó Chủ nhiệm Cơ quan Chính trị Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam, tôi yên chí nhiệm vụ của mình chỉ là giúp Đoàn trưởng Mai Xuân Tần về công tác nội bộ của Đoàn. Tôi hoàn toàn không biết ý định của cấp trên về việc sử dụng lâu dài đối với mình ra sao. Khi Thiếu tướng Nguyễn Như Ngà có quyết định điều về đoàn làm Phó Đoàn trưởng về Chính trị sang làm việc với Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị của Quân đội nhân dân Campuchia, và có quyết định của Tổng cục Chính trị ta bổ sung là Đảng ủy viên Đảng ủy Đoàn 478, tôi cũng yên chí đồng chí là chuyên gia Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị của bạn. Nhưng tôi thấy anh Mai Xuân Tần cũng không giới thiệu ở trong Đoàn là anh Ngà làm chuyên gia cho bạn.


Đến khi tôi nhận được Quyết định số 244/QP của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Văn Tiến Dũng ký ngày 23 tháng 8 năm 1986 về việc bổ nhiệm "Thiếu tướng Đinh Mộng Tiên, Phó Đoàn trưởng Đoàn 478, nay giữ chức Phó Đoàn trưởng về Chính trị Đoàn 478 kiêm chuyên gia Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Campuchia", tôi mới biết rõ ý định lâu dài này của cấp trên.


Khi nhận được quyết định này, tôi rất phân vân bởi vì người làm việc với Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị quân đội bạn lâu nay vẫn là Thiếu tướng Nguyễn Như Ngà và tôi cứ yên chí anh Ngà đã là chuyên gia Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị của quân đội bạn.


Tôi cảm thấy mình bị rơi vào một tình thế rất khó xử vì nếu tôi nhận nhiệm vụ này thì Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị của bạn sẽ có "2 chuyên gia" là anh Ngà và tôi. Như vậy sẽ rất khó cho anh Ngà và tôi, khó cả cho bạn.


Tôi hiểu rằng được bổ nhiệm làm chuyên gia Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị quân đội bạn là một vinh dự lớn, đồng thời trách nhiệm cũng rất nặng nề. Và tôi cũng tự hào là các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy quân sự ở Campuchia cũng tin tưởng ở phẩm chất, năng lực của mình mới đề nghị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ta quyết định giao nhiệm vụ đó cho tôi.


Bởi thế, vì lòng tự trọng của một đảng viên, một cán bộ cao cấp, không muốn mình là một người gây khó dễ cho cấp trên, là một người ham muốn địa vị, tôi phải tìm cách giải quyêt để thoát ra khỏi "tình thế nhùng nhằng" đó. Lúc này, tôi cảm thấy rõ là sức khỏe của mình giảm sút khá rõ nên khi nhận được quyết định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, tôi nói với anh Mai Xuân Tần rằng, "sức khỏe của tôi dạo này giảm sút, mà đã nhận nhiệm vụ thì tôi phải cùng bạn đi sát thực tế, đòi hỏi sức khỏe phải tốt. Nếu không thế, vì mới đi làm đã ốm sẽ vừa khó cho bạn, khó cho trên". Tôi đề nghị trên hoãn cho tôi. Tôi nói chung chung như vậy vì không biết rõ cấp trên ai là người giải quyết việc này. Vài hôm sau, anh Mai Xuân Tần về nói với tôi: Rằng nghe nói có ý định cho tôi nghỉ hưu.


Quả thật, lúc đó sức khỏe của tôi giảm sút rất rõ, leo lên thang gác có lúc đã vấp, tôi có cảm giác là mình sẽ "không sống nổi" nếu hiện tượng này tiếp tục kéo dài. Tôi đã viết một lá thư cho con ở nhà dặn những điều cơ bản cần thiết nhất nếu mình "về với tổ tiên". Vì vậy, không do dự tôi nói với anh Tần:

"Tôi sẵn sàng về hưu nếu được như thế anh ạ".

Việc thứ hai là, anh Mai Xuân Tần nói tôi phải chuẩn bị cho Đại hội đại biểu của Đảng bộ Đoàn 478 lần thứ ba. Đây là một đại hội quan trọng nằm trong kế hoạch chuẩn bị cho cả Đại hội đại biểu của Đảng bộ Quân đội và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng được tiến hành vào khoảng trung tuần tháng 12 năm 1986.


Đại hội đại biểu của Đảng bộ Đoàn 478 được tiến hành từ ngày 6 đến ngày 10 tháng 10 năm 1986 nhằm đánh giá kết quả đạt được của công tác chuyên gia, xác định phương hướng nhiệm vụ giúp Bộ Quốc phòng bạn trong tình hình mới, đẩy mạnh việc thực hiện ba mục tiêu chiến lược mà Đảng ta và Đảng bạn đã đề ra, đồng thời bầu đại biểu đi dự Đại hội đại biểu của Đảng bộ Quân đội.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #141 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2025, 09:38:05 pm »

Để chuẩn bị cho nội dung của Đại hội đảng bộ Đoàn, tôi và anh Mai Xuân Tần phải chuẩn bị trước hằng tháng. Và sau đó tôi bị mắc một bệnh khó chữa phải nằm bệnh viện hai tháng. Do làm việc căng thẳng, bệnh viêm da dị ứng toàn thân của tôi tái phát. Căn bệnh quái ác này tuy không gây nguy hiểm chết người nhưng toàn thân bị viêm da, ngứa ngáy thật khổ sở, bàn chân nứt nở, sạm đen..., sức khỏe giảm sút ăn không ngon, ngủ không yên (tôi bị bệnh này sau khi hành quân trên đường Trường Sơn và ở Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh qua nhiều điểm Mỹ rải chất độc da cam). Tôi cố gắng dự xong Đại hội và tuy được đề cử đi dự Đại hội đại biểu toàn quân, tôi xin phép được nghỉ đi chữa bệnh và được Đại hội đồng ý. Sau Đại hội Đảng của Đoàn 478, tôi được đưa về Quân y viện 175 tại Thành phố Hồ Chí Minh để điều trị. Viện 175 mời cả chuyên gia da liễu của thành phố vào chẩn đoán. Tôi được đi xét nghiệm máu, không biết bác sĩ yêu cầu xét nghiệm thế nào mà chị y sĩ ở phòng xét nghiệm nhìn tôi trừng trừng ra vẻ ngạc nhiên. Hôm sau tôi đến lấy kết quả xét nghiệm, chị nhìn tôi cười: "May, âm tính chú ạ".


Trời ạ! Các ông ấy nghi tôi bị nhiễm HIV. Viện 175 không có khả năng chữa khỏi nên chuyển tôi ra Bắc, vào Khoa Da liễu của Viện 108. Ở Viện 108 chữa Tây y không có chuyển biến gì nên cho tôi ra viện, điều trị ngoại trú. Tôi gặp giáo sư Nguyễn Xuân Hiền, chuyên gia đầu ngành về da liễu của Quân đội đã nghỉ hưu và xin lời khuyên của anh thì anh nói: "Phải "chung sống hòa bình" với nó thôi anh ạ!".


Tôi rất buồn, nghĩ "có lẽ minh sẽ bị loại khỏi vòng chiến đấu vì bệnh này rồi". Trước khi ra viện, gặp Chủ nhiệm Khoa Da liễu, tôi hỏi anh 3 điều:

Một là, "bệnh này có lây sang người khác được không, để tôi tránh người thân trong nhà" được trả lời "không";

Hai là, "có chữa khỏi được không" - trả lời "khó chữa";

Ba là, "dùng xà phòng được không?" - trả lời "được, nhưng hạn chế".

Tuy thất vọng nhưng tôi thấy mình không thể bó tay. Tôi xin giấy giới thiệu của cơ quan đến Viện Y học dân tộc Quân đội. Viện trưởng, Viện phó cắt cho tôi năm thang thuốc bắc dùng trong 10 hôm và yêu cầu chữa ngoại trú. Uống xong 10 thang thuốc này tôi thấy có dấu hiệu đỡ bệnh, nhưng hai vợ chồng con trai thứ hai của tôi rất vất vả, vừa phải chăm sóc bố, nuôi con nhỏ, lại phải vừa công tác. Tôi xuống Viện đề nghị cho tôi chữa nội trú, Viện trưởng Huỳnh Thủ không nhận vì ở Viện "không có phòng ở cho cấp tướng, lúc này Viện còn nghèo, trừ một ngôi nhà hai tầng, chỗ làm việc chung cho thủ trường và cơ quan, còn chỗ cho bệnh nhân toàn nhà một tầng cấp 4". Tôi phải khẩn khoản đề nghị với các đồng chí cho tôi ở lại nội trú và cho tôi ở chỗ nào cũng được, miễn là được theo dõi thường xuyên. Các đồng chí lãnh đạo Viện chấp nhận yêu cầu và bố trí cho tôi ở cùng phòng với một số anh em chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng cũng có bệnh da liễu khó chữa đang điều trị tại Viện. Đó là một căn nhà lá có hai gian, vách ghép sơ sài bằng những tấm ván gỗ, gió lùa qua khe hở lạnh giá. Tôi vui vẻ ở chung với anh em trong một gian hẹp không có tiện nghi gì đáng giá trừ một cái giường, màn và một cái chậu thau. Anh em cùng phòng rất tốt và giúp đỡ tôi rất nhiều trong sinh hoạt.


Ngay hôm đầu tiên, tập thể các đồng chí lãnh đạo của Viện đã bàn về phương hướng điều trị cho tôi. Sau đó tôi được đồng chí bác sĩ trực tiếp phụ trách một số anh em bị bệnh da liễu xuống phổ biến cho tôi về phương hướng điều trị đã được các đồng chí lãnh đạo Viện nhất trí là "Lương huyết - thanh khí - tiêu độc - chống dị ứng" và yêu cầu tôi kiên trì theo phương hướng này. Tôi rất phấn khởi, tin tưởng vì các đồng chí đã làm việc với một tinh thần rất nghiêm túc và có trách nhiệm với bệnh nhân, về phần mình tôi cũng rất nghiêm túc làm theo hướng dẫn của bác sĩ. Đồng chí bác sĩ trực tiếp phụ trách là một bác sĩ Tây y, có bố là một lương y thuốc bắc và thuốc nam, nên rất tâm huyết với y học dân tộc cổ truyền, luôn luôn ân cần thăm hỏi bệnh nhân và giải thích cặn kẽ, hướng dẫn tỷ mỷ cho bệnh nhân. Một sinh hoạt tôi rất thích là mỗi tuần, Viện trưởng Huỳnh Thủ đều triệu tập bệnh nhân lên lớp vài giờ, truyền bá những kiến thức phổ thông về y học dân tộc rất bổ ích cho mọi người.


Trong thời gian tôi điều trị ở Viện, chủ nhật nào Châu - con dâu thứ hai, hoặc Mai - con gái tôi cũng đến thăm và giặt giũ quần áo cho tôi. Mọi người trong Viện, kể cả các chị đang điều trị tại đó rất quý các cháu. Nhờ sự chăm sóc chu đáo của Viện và của gia đình nên mặc dù bệnh rất khó chữa, nhưng tôi cảm thấy rất thoải mái, và tin tưởng sẽ được chữa khỏi. Quả nhiên, chỉ sau 2 tháng, tôi khỏi bệnh. Tôi đã được Tây y chữa khỏi nhiều bệnh nhưng lần này thấy rõ thêm sự kỳ diệu của y học dân tộc. Tưởng lần này sẽ tuyệt vọng, "bị loại khỏi vòng chiến đấu" vì Tây y đã bó tay và khuyên "chung sống hòa bình" với nó nhưng y học dân tộc đã chữa khỏi. Da tôi sau khi lành bệnh trở nên đẹp hơn cả lúc tôi còn khỏe mạnh. Một hôm, tôi thấy Chủ nhiệm Khoa Da liễu của Viện Quân y 108 đến chỗ tôi hỏi chuyện về quá trình điều trị và làm việc với Viện Y học dân tộc Quân đội, có lẽ để rút kinh nghiệm cho Khoa Đông y của Viện 108.


Tuy nhiên, khi tôi ra viện, các đồng chí của Viện Y học dân tộc Quân đội cũng nhắc thêm là bệnh này có thể tái phát nếu khả năng miễn dịch suy yếu và khi tinh thần quá căng thẳng. Trên thực tế thì 12 năm sau, bệnh lại tái phát đúng như dự đoán của Viện. Tôi lại dùng bài thuốc đó, với 30 thang thì lại lành bệnh. Có vài người quen bị bệnh tương tự như tôi, tôi giới thiệu nên đến Viện Y học dân tộc Quân đội lấy thuốc chữa, nhiều người khỏi, nhưng cũng có người không khỏi. Từ việc này tôi thấy sự phát triển của khoa học là không giới hạn, đặc biệt là trong y học; cho nên không thể võ đoán một cách cứng nhắc mà cần nghiêm túc nghiên cứu với một tinh thần thực sự cầu thị.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #142 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2025, 09:39:37 pm »

Sau hai tháng chữa bệnh ở Viện Y học dân tộc Quân đội, bệnh viêm da dị ứng của tôi được chữa khỏi, sức khỏe dần dần hồi phục. Tôi rất phấn khởi trở lại Campuchia tiếp tục công tác. Chỉ ít ngày sau, tôi nhận được Quyết định số 301/QP-QĐ do Đại tướng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Lê Đức Anh ký ngày 25 tháng 10 năm 1987 điều tôi trở lại nhiệm vụ cũ là Phó Chủ nhiệm Cơ quan Chính trị của Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện. Lúc này Thượng tướng Lê Ngọc Hiền (thay đồng chí Đoàn Khuê về nước nhận nhiệm vụ mới) là Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia.


Tôi nhanh chóng bàn giao công việc cho Đại tá Lê Văn Ba, Phó Tư lệnh Chính trị, Chủ nhiệm Chính trị Mặt trận 579 về thay tôi và về cơ quan cũ làm việc. Tôi được biết đồng chí Lê Khả Phiêu, Chủ nhiệm Cơ quan Chính trị vừa có quyết định của trên bổ nhiệm làm Phó Tư lệnh Chính trị và vẫn kiêm Chủ nhiệm Chính trị. Việc đầu tiên tôi phải bắt tay vào làm là giúp Bộ Tư lệnh triển khai ngay công tác chính trị trong đợt rút quân lần thứ 6 của một bộ phận Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia về nước. Đối với tôi, công việc này không có gì khó khăn vì cả 5 đợt rút quân trước của quân tình nguyện tôi đều được Bộ Tư lệnh giao cho chủ trì giúp Bộ Tư lệnh. Song, việc rút quân lần này được tiến hành trên một phạm vi rộng lớn hơn từ đông bắc đến nam của Campuchia trong đó có cả một bộ phận hải quân của ta. Vì vậy, tôi phải đi lại nhiều hơn khi tình hình sức khỏe không được tốt. Việc đi từ Phnôm Pênh sang Xiêm Riệp bằng trực thăng không có gì lớn về an toàn, nhưng khi đi một mình trên máy bay, không hiểu phát hiện thấy gì ở tôi, một đồng chí trong tổ lái đến hỏi: "Thủ trường mệt lắm phải không".


Tôi vẫn tin là mình còn có thể làm việc, nên trả lời qua loa với đồng chí ấy là tôi vẫn bình thường. Nhưng khi bắt đầu bay tôi cảm thấy người mệt mỏi, ngủ gà ngủ gật và có lúc thiếp đi. Làm việc xong với các đồng chí ở Bộ tư lệnh 479 và Cơ quan Chính trị ở đó, tôi phải trở về Phnôm Pênh ngay để hôm sau xuống cảng Xihanúc Vin làm việc với đơn vị hải quân của ta. Chuyến đi ấy của chúng tôi có hai chiếc xe: Một xe là của Cơ quan Tham mưu do Thiếu tướng Nguyễn Trân, Tham mưu phó phụ trách và một vài trợ lý; một xe của Cơ quan Chính trị có một mình tôi và đồng chí lái xe. Đường từ Phnôm Pênh đi Xihanúc Vin khoảng 300 kilômét (nếu tôi nhớ không nhầm), phải qua đèo Pícnin, nơi thường có bọn tàn quân Pôn Pôt phục kích nên không được an toàn lắm, nhưng không hiểu sao Cơ quan Tham mưu không tổ chức một bộ phận bảo vệ chung, nên mạnh ai nấy đi. Nhiều đoạn đường vắng ngắt không có người đi lại nên xe phóng rất nhanh, nhất là khi đi qua đèo Pícnin. Tôi nghĩ bụng đấy là một chuyến đi khá mạo hiểm và Cơ quan Tham mưu có vẻ giản đơn coi nhẹ vấn đề an toàn. Nhưng rồi thật may mắn, chúng tôi vẫn tới nơi an toàn, nhưng tôi cũng đã thấm thìa với chuyến đi mệt mỏi ấy.


Làm việc với các đồng chí chỉ huy các đơn vị hải quân về kế hoạch cho việc rút quân của một bộ phận tương đổi lớn ở cảng nói chung là suôn sẻ nhưng cũng có một việc phải thống nhất với các đồng chí Campuchia đó là việc sử dụng phương tiện và chi phí cho việc rút quân bằng đường biển về Việt Nam cho đơn vị hải quân của ta. Theo ý kiến của đồng chí Trân trao đổi với tôi thì nên đề nghị với bạn để bạn phụ trách việc này. Trong thâm tâm tôi thấy việc này không nên đặt vấn đề với bạn vì bạn còn nghèo và nhiều khó khăn. Tôi đề nghị việc này cần bàn với đồng chí chuyên gia ta giúp bạn ở cảng. Tôi đến gặp đồng chí Trưởng đoàn của ta ở cảng là một đồng chí của Thành ủy Hải Phòng cử sang thì đồng chí không đồng tình với ý định đó vì bạn còn rất nhiều khó khăn. Tôi thấy ý kiến đó là chính xác và không nên đặt vấn đề đó với bạn. Trở về, tôi nói lại với đồng chí Trân thì đồng chí có vẻ không vui vì sợ ta tốn kém nhiều cho đợt rút quân.


Sau khi đã góp ý kiến và kiểm tra kế hoạch công tác chính trị đối với việc rút quân ở cảng Xihanúc Vin thấy đã ổn định, chúng tôi trở về Phnôm Pênh.

Cũng như các lần trước, kể hoạch của việc tổ chức tiễn đưa các đơn vị của ta rút quân lần thứ 6 về nước được bạn và ta tổ chức rất chu đáo; chỉ cần bám sát việc thực hiện và tổ chức rút kinh nghiệm với bạn ra sao thôi.

Hôm các đơn vị của ta triển khai đội hình và đoàn xe của bộ đội ta diễu qua quảng trường, nhân dân Phnôm Pênh trong tình cảm biết ơn, lưu luyến tiễn đưa bộ đội ta rất trọng thể trước con mắt của nhiều phóng viên quốc tế đến theo dõi. Trong khi đứng trên nóc của một tòa nhà cao tầng, tôi và đồng chí Lê Khả Phiêu theo dõi, quan sát đoàn xe của bộ đội ta từ từ lăn bánh rất đẹp và không khí tiễn đưa của nhân dân Campuchia thì tôi cảm thấy lạnh và trong người rùng mình khó chịu. Lúc đó, trời có mưa phùn và gió thổi hơi mạnh. Tôi vội nói với anh Phiêu là tôi xin về trước vì cảm thấy khó ở. Trở về nhà, tôi khá mệt và nằm nghỉ. Sáng hôm sau, theo chương trình đã định từ trước, bạn tổ chức rút kinh nghiệm có sự tham gia của đại biểu Cơ quan Tham mưu và Chính trị của Quân tình nguyện. Tuy còn mệt nhưng tôi cũng cố gắng đến dự vì cũng còn tin là mình đủ sức dự cuộc họp để kết thúc công việc của đợt rút quân lần thứ 6. Họp xong, trở về cơ quan tôi mệt rã rời. Tôi mở chai rượu vốtca Nga do Tùy viên quân sự Đại sứ quán Nga tại Campuchia vừa tặng mới đây, khi tôi còn công tác ở Đoàn 478 ra uống một ly nhỏ, hy vọng tăng tuần hoàn máu cho đỡ mệt, nhưng không có tác dụng gì. Tôi bảo đồng chí công vụ gọi đồng chí y sĩ ở cơ quan lên đo huyết áp cho tôi. Y sĩ của cơ quan là Uông Sỹ Phi, trước đó là công vụ của Tiền phương Cục Tuyên huấn làm việc rất tốt, được tôi cử đi học lớp quân y sĩ, sau khitốt nghiệp đã trở lại cơ quan làm việc. Sau khi đo huyết áp, Phi có vẻ hoảng hốt nói với tôi:

"Chú ơi, nhịp tim cửa chú rối loạn ở mức rất nguy hiểm, chú phải đi viện ngay". Phi vừa mới ra trường tôi nghĩ thầm rằng, Phi còn thiếu kinh nghiệm nên dễ "quan trọng hóa" và cũng vốn chủ quan với sức khỏe của mình, tôi nói với Phi:

- Còn việc cuối cùng chú phải giải quyết là chú bảo văn phòng chuẩn bị báo cáo thường kỳ hằng tháng với Tổng cục và về đợt rút quân lần thứ 6, còn chú đi viện bây giờ nhất định họ sẽ giữ lại.

Nhưng rồi tôi cứ xỉu dần và chỉ kịp nói với Phi:

- Chú quỵ thật rồi Phi ạ!.

Rồi không biết ai quyết định đưa tôi về Bệnh viện Quân y 175 ở Thành phố Hồ Chí Minh bằng trực thăng để được cấp cứu ngay. Từ lúc đó tôi ở trong trạng thái lúc tỉnh lúc mê; đi hộ tống là Phi.

Lúc này, anh Lê Hai với sự chăm sóc của chị Phúc cũng đang điều trị tại Bệnh viện Quân y 175. Khi xe đến cổng bệnh viện, tôi bỗng tỉnh và vẫn gắng đi được. Tôi thấy chị Phúc chạy ra đón, bảo Phi vào làm thủ tục nhập viện cho tôi. Còn chị dẫn tôi vào nhà dành cho cấp tướng và rất ân cần nói với tôi:

- Tôi pha cốc sữa nóng cho chú uống nhé!.

Sau khi uống hết cốc sữa nóng của chị, tôi bắt đầu hôn mê hoàn toàn và từ đó không biết gì nữa.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #143 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2025, 09:41:21 pm »

Sau này tôi được nghe chị nói lại, Hội đồng Giáo sư, bác sĩ của Bệnh viện Quân y 175 kết luận là bệnh rất nặng không có khả năng cứu sống được nữa. Tôi hôn mê sâu đến mức có lúc đi tiểu lại mở tủ quần áo và đái vào trong đó, có lúc không đủ sức lên giường và ngã ngay dưới sàn. Trước tình hình đó, anh Lê Hai và chị Phúc lấy cuốn lịch túi tôi đang dùng tìm được địa chỉ của chị vợ tôi là chị Yên và địa chỉ của Tài con thứ ba của tôi là cán bộ trung cấp về ra đa MiG-21 của Liên Xô và gọi đến. Chị Yên thì nhà rất nghèo ở gần chợ Bàn Cờ, thấy tình cảnh đó của tôi cũng chẳng biết phải làm gì. Còn Tài từ Biên Hòa lên thăm bố, nghe lỏm là không thể cứu sống tôi được nữa chỉ biết khóc sướt mướt. Trong tình thế hiểm nghèo đó, chị Phúc vốn là bác sĩ, Phó Chủ nhiệm Khoa Tim mạch của Viện Quân y 108, đề nghị tôi chuyển ra Viện 108 để điều trị theo tinh thần "còn nước còn tát". Ý kiến đó được anh Lê Hai đồng tình và anh chị đã thu xếp cho tôi ra Hà Nội bằng đường hàng không, có giáo sư bác sĩ Cự - Viện phó Bệnh viện Quân y 175 kết hợp về công tác ở Hà Nội đi theo hộ tống. Sau 7 ngày hôn mê tại Bệnh viện 175, nhờ có quyết định đúng đắn với tình cảm đồng chí sâu sắc đó của anh chị mà tôi được kịp thời đưa về Hà Nội và nếu như có chết cũng được chết ở gần nhà. Việc điều trị cho tôi ở Bệnh viện 108 cũng gặp không ít gian nan trắc trở. Sau này, tôi được biết Hội đồng Giáo sư, bác sĩ của Viện 108 xác định là tôi bị thiểu năng tuần hoàn não nghiêm trọng và cũng không thể cứu sống được nữa. Riêng đồng chí Phạm Tử Dương, Viện phó kiêm Chủ nhiệm Khoa A1 (khoa phụ trách chăm sóc sức khỏe và điều trị cho cán bộ cao cấp toàn quân) không nhất trí với kết luận đó và tìm mọi cách duy trì cuộc sống cho tôi. Lúc này, Phúc - vợ tôi và chị cả tôi là chị Kỳ cũng đã thay nhau thường xuyên có mặt để chăm sóc tôi. Tôi vẫn hôn mê sâu trong ba tuần nữa, tưởng như cuộc sống sẽ kết thúc. Cơ thể tôi teo tóp chỉ còn lại 31 kilôgam (từ 50 kilôgam lúc khỏe). Tất cả các đồng chí quen biết trong Tổng cục Chính trị, trong đó có cả Thượng tướng Phạm Ngọc Mậu, Phó Chủ nhiệm Tổng cục phụ trách mảng công tác tổ chức cán bộ đến thăm đều lắc đầu thất vọng. Thiếu tướng Nguyễn Sỹ Quốc, Cục trưởng Cục Quân y quen biết tôi từ Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, cũng đến thăm vài lần và cũng cho rằng không còn hy vọng cứu sống, nhưng không hiểu sao tôi vẫn còn thoi thóp thở...


Nhưng điều kỳ diệu đã đến. Sau 28 ngày hôn mê, một chuỗi giấc mơ lạ lùng xuất hiện. Lúc thì tôi ở cảng Xihanúc Vin cùng đồng đội ra biển đuổi đánh bọn Pôn Pốt, lúc thì đi thăm nước Ý, đến nước Pháp, nước Angiêri và cuối cùng đi an dưỡng tại Cộng hòa dân chủ Đức là những nước tôi chưa hề đến bao giờ. Trong lúc chập chờn như vậy, tôi bỗng nghe thấy một giai điệu rất êm dịu quen thuộc văng vẳng bên tai. Giai điệu của bài ca đó từ chiếc đài bán dẫn của một đồng chí Đại tá nằm đối diện với tôi ở phòng cấp cứu của Viện 108 cho những bệnh nhân nặng. Sau này khi tỉnh rồi, tôi mới nhớ ra, đó là bài hát "Đất nước tình yêu" do chị Lê Giang sáng tác, thiết tha được thể hiện rất thành công; một ca khúc mà tôi rất yêu thích. "Khi em nói yêu anh, vườn cây đầy hoa trái. Khi anh nắm tay em, mây giăng giang bay chỉ còn ánh trăng mờ - Và khi chúng ta yêu nhau, không kẻ thù nào làm cho con tim ta yếu mềm. Ôi! Việt Nam - đất nước tình yêu...".


Theo tôi, bài hát đã biểu đạt được sự hòa quyện giữa tình yêu riêng tư và tình yêu đất nước của hàng triệu những cặp vợ chồng trẻ và những cặp trai gái đang yêu nhau, trong các cuộc đấu tranh sinh tử chống lại kẻ thù để giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam yêu quý của chúng ta. Cũng trong lúc chập chờn đó, tôi cảm nhận thấy một hơi ấm rất quen thuộc và một bàn tay ấm áp nắm cổ tay mình. Tôi chợt bừng tỉnh, thoát khỏi cơn hôn mê kéo dài 28 ngày và đã sát cái chết. Mắt còn chưa mở nổi, tôi hỏi:

- Tôi đang ở đâu thế này?

Một câu trả lời:

- Anh đang ở Viện 108.

Tôi nhận ra ngay đó là giọng nói của Phúc - vợ tôi. Dù chưa mở được mắt và chưa thấy gì, nhưng tôi thấy mình trẻ ra và có một yêu cầu ngớ ngẩn với vợ:

- Lấy xe đạp cho anh để anh đi mấy vòng - và tôi ngồi dậy. Nhưng vừa cất đầu lên khỏi gối thì lập tức đầu lại rơi xuống gối...

Sự tỉnh lại của tôi và thoát khỏi lưỡi hái của tử thần, gây nên sự ngạc nhiên của Bệnh viện, đặc biệt là Khoa A1 và tất cả bạn bè của tôi, trong đó có cả các giáo sư, bác sĩ của Bệnh viện. Mọi người đều rất mừng cho tôi và vợ tôi. Chị Mạc Thị Phúc, vợ anh Lê Hai, khi từ Campuchia ra Hà Nội có việc lần thứ hai kể từ khi tôi được chuyển về Bệnh viện 108, khi nhìn vào cái giường tôi nằm khi chị ra lần trước, chị kinh ngạc, mở to mắt nhìn toàn phòng, chắc tưởng tôi đã chết. Cũng lúc đó, tôi thấy chị đứng ở cửa phòng, tôi gọi:

- Chị Phúc.

Chị nhào đến chỗ tôi:

- Ôi! Anh Tiên, không thấy anh, tôi tưởng...

Tôi rất cảm động khi nhìn thấy chị và sự vui mừng của chị khi thấy tôi còn sống. Tôi rất quý chị, coi chị như một người chị hiền, rất đôn hậu khi tôi làm việc với anh Lê Hai. Thỉnh thoảng, chị cho ăn những bữa cơm đạm bạc nhưng ngon miệng,và sự chăm sóc của chị đối với tôi khi tôi bị ốm. Tôi thường nghĩ rằng, chị là một trong những ân nhân đã giúp tôi thoát khỏi cái chết cận kề. Những người tôi mang ơn, cũng là những anh chị em bác sĩ, hộ lý của Khoa A1, đặc biệt là Giáo sư, bác sĩ Phạm Tử Dương, Viện phó Viện Quân y 108 kiêm Chủ nhiệm Khoa A1.


Trong một buổi vợ tôi dìu tôi tập đi để phục hồi chứcnăng dọc tầng 2 khu A1, tôi và vợ ngồi nghỉ trên một cái ghế dài thì anh Phạm Tử Dương đi qua. Thấy hai vợ chồng tôi,anh ngồi xuống cạnh tôi và nói một câu làm tôi ngạc nhiên hết sức:

- Anh sống được là nhờ ở chị ấy đấy!.

Tôi vội nói:

- Sao anh lại nói thế, đó là nhờ Bệnh viện, nhờ anh và anh chị em ở Khoa A1 chứ!

Anh không nói gì thêm, đứng dậy đi thăm các bệnh nhân của mình. Tôi biết anh là người kiệm lời, rất nghiêm túc, chắc chắn không phải là những lời nói để lấy lòng. Tôi hỏi Phúc:

- Tại sao bác sĩ Dương lại nói thế?

Vợ tôi trả lời:

- Em thấy anh đái rất nhiều, mất nước ngày nào cũng phải thay ga, thay đệm. Một lần, mẹ ốm em chăm sóc cũng thấy mẹ đái nhiều và hôn mê như anh. Em thấy người ta tiếp đạm cho mẹ, được vài lần thì mẹ khỏi bệnh. Khi bác sĩ Dương đến thăm anh, em đánh bạo kể lại chuyện đó và đề nghị bác sĩ tiếp đạm cho anh và bác sĩ cho truyền xen kẽ cho anh hai bình huyết thanh, hai bình đạm thì anh tỉnh lại".
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #144 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2025, 09:43:51 pm »

Tôi không biết vợ tôi đã nói gì, làm gì khi chăm sóc tôi. Tôi thấy cánh nữ bác sĩ và trợ lý trẻ gọi vợ tôi là "mẹ Đốp", một nữ nhân vật chính diện trong vở chèo kinh điển nổi tiếng "Quan âm thị kính" của ta. Đó là "mẹ Đốp" - vợ một ông mõ làng yêu chồng, chống lại những thói xấu xa của bọn cường hào, "kỳ mục - kỳ nát". Nhưng tôi biết rõ tình yêu hồn nhiên, giản dị, trong trẻo của vợ mình, thỉnh thoảng có đôi chút đáo để, bỗ ba với chồng thường được tôi bỏ qua. Tôi thấy yêu cái không khi ấm cúng đó của chị em Khoa A1 thân mật, gần gũi giữa anh chị em của khoa với bệnh nhân, người nhà bệnh nhân. Tôi nghĩ đây cũng là một biểu hiện rất tốt đẹp, giàu tính nhân văn góp phân tích cực đáng kể cho việc điều trị cho bệnh nhân, trong đó có vai trò của người phụ trách.    


Tôi quý trọng anh Dương ở nhiều điểm, trong đó là sự quyết tâm phấn đấu vươn lên từ một nhân viên quân y của cơ sở trở thành một giáo sư, tiến sĩ y khoa, thầy thuốc nhân dân, có nhiều cống hiến cho y học quân sự cũng như y học nói chung, ở tình thương và sự tận tình với bệnh nhân, đặc biệt là sự khiêm tốn, sự trung thực hiếm có của một nhà khoa học, lắng nghe một cách nghiêm túc người thân của bệnh nhân giúp cho công tác điều trị của mình. Khi tôi sắp ra viện, anh yêu cầu tôi viết, kể tỷ mỷ về trường hợp mắc bệnh của mình để anh có thêm tài liệu cho một vấn đề gì đó đang nghiên cứu. Một bác sĩ trẻ dưới quyền anh nói cho tôi biết:

- Chú khỏi bệnh, được cứu sống mà không biết rõ là bệnh gì. Bác sĩ Dương không nhất trí với kết luận của Hội đồng Giáo sư, bác sĩ là chú bị thiểu năng tuần hoàn não.

Về điểm này, một hôm tôi hỏi anh:

- Theo anh thì tôi bị bệnh gì?

Anh trả lời tôi:

- Có lẽ anh bị viêm não cấp tính.

Sau này có vài hôm tôi gặp anh và có những kỷ niệm thú vị. Tôi không thể ngờ được là anh lại mất trước tôi; anh qua đời ngày 13 tháng 12 năm 2009 ở tuổi 80. Hôm tiễn biệt anh ở nhà tang lễ Viện Quân y 108 có rất đông người đến viếng. Trong đó có khá đông là những trí thức, cán bộ cao cấp ăn mặc trang trọng và cùng khá đông những người lao động ăn mặc bình thường. Tôi rất ít thấy có đám tang lớn như thế ở Nhà tang lễ số 5 Trần Nhân Tông. Rất nhiều vòng hoa để hàng dãy dài ở ngoài sân. Không biết có bao nhiêu người đã được anh cứu chữa. Nhân ngày Thầy thuốc Việt Nam (27.2.2015), tôi có viết bài "Nhớ về một lương y áo lính", một hồi ức về anh nhân ngày giỗ lần thứ 5 của anh gửi Viện Quân y 108 và Báo Quân đội nhân dân. Nhưng rất tiếc là không có hồi âm, tôi không hiểu vì lý do gì. Sau đó, tôi gửi đến gia đình anh và được con trai anh hiện đang là Viện phó của Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 để biểu thị lòng biết ơn và sự ngưỡng mộ của tôi đối với anh. Con trai anh đã tiếp nhận và gọi điện thoại cảm ơn tôi.


Cùng nằm viện với tôi thời gian đó, sau khi tôi đã tỉnh lại còn có Giáo sư, bác sĩ Nguyễn Thúc Mậu. Chúng tôi được bố trí ở một phòng rộng chỉ có hai người và được ưu tiên cho người nhà ở cùng để chăm sóc. Một sự ngẫu nhiên là người chăm sóc lại là hai người vợ: Chị Lịch - vợ anh Mậu và vợ tôi. Anh Mậu lớn tuổi hơn tôi, dễ gần chục tuổi. Anh là Thiếu tướng, Giám đốc Học viện Quân y, đã có một thời gian dài phục vụ ở chiến trường miền Nam trong chiến tranh chống Mỹ, một trí thức được đào tạo ở Trường y dược Đông Dương dựới chế độ cũ. Ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp anh đã công tác ở ngành Quân y. Còn chị là một phụ nữ dân tộc Tày, quê ở thị xã Cao Bằng nghe nói là Hiệu trưởng một trường phổ thông cơ sở ở Hà Nội đã về hưu. Nghe anh Thái Dũng, Thiếu tướng nguyên là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 308, Thủ trưởng cũ của tôi cũng nằm viện lúc đó nói chuyện với chị vì hai người quen biêt nhau từ khi chị còn là một thiếu nữ xinh đẹp, được mệnh danh là hoa khôi của tỉnh thời đó.


Anh và chị đã để lại ấn tượng rất đẹp đối với vợ chồng tôi vì anh chị rất đôn hậu. Chị rất yêu anh và ngày đêm ở cạnh anh để chăm sóc chồng. Còn anh chị cũng tỏ ra yêu mến vợ chồng tôi. Với vợ tôi, một thợ thủ công đồ gốm, ít học, quê mùa nhưng tính tình cởi mở, chân chất, thực thà cũng đang chăm sóc chồng ốm, nên hai người phụ nữ ấy cũng dễ thân nhau. Anh cũng hay chuyện trò với tôi và thường hỏi tôi về tình hình Campuchia. Tôi cũng vui vẻ, luôn nói chuyện với anh, nói cả những cảm nghĩ của mình về những vấn đề lớn và những câu chuyện thú vị về đất nước bạn. Anh biết tôi là một cán bộ chính trị, hơn tôi đến cả chục tuổi nhưng một lần sau một câu chuyện, bỗng nhiên anh nói: "Tôi thấy anh rất hợp với tôi".


Riêng tôi, đối với anh tôi cũng rất quý trọng và yêu mến nhân cách, sự đôn hậu và tấm lòng của anh đối với Quân đội và đất nước. Gần anh, tôi thường liên tưởng đến các anh Trần Đại Nghĩa, Đặng Văn Ngữ, Lương Đình Của, Nguyễn Văn Tố, Tạ Quang Bửu, Phạm Ngọc Thạch, Tôn Thất Tùng..., những trí thức được đào tạo dưới chế độ cũ, theo tiếng gọi của Bác Hồ, của Đảng, trong đó có nhiều người không hề luyến tiếc, bỏ lại đằng sau cuộc sống nhung lụa, đầy đủ, lương cao, bổng lộc để hòa mình cùng với nhân dân trong cuộc đấu tranh gian khổ, ác liệt, thiếu thốn để giành độc lập, tự do cho Tổ quốc mình, một lòng son sắt với chế độ mới, với con đường mình đã chọn. Với tôi, một học sinh nhỏ tuổi, thuộc lớp hậu sinh đi theo cách mạng, rất quý trọng những con người ấy, coi đó là những nhân cách lớn, những tấm gương trong sáng về lòng yêu nước nồng nàn mà mình phải noi theo, phấn đấu rèn luyện đức, tài cống hiến được nhiều cho chế độ mới, cho đất nước.


Tôi thầm nghĩ, đồng chí Nguyễn Thúc Mậu là một con người trong những vị tôi nói ở trên. Anh âm thầm lặng lẽ phục vụ Quân đội, phụng sự đất nước, chịu đựng gian khổ hy sinh, bị bệnh hiểm nghèo, nhưng rất khiêm tốn. Ở cạnh anh trong hơn một tháng, nhưng tôi không thấy anh nói một lời nào về công lao của mình, không một lời kêu ca, đòi hỏi gì về chế độ đãi ngộ, chăm sóc mình. Tôi thấy một số đồng nghiệp trẻ đến thăm anh đều rất kính trọng, yêu mến anh một điều "thưa thầy", hai điều "thưa thầy" với thái độ rất xúc động và anh cũng rất thân ái với họ.


Gần đến Tết Nguyên đán, cháu Mai - con gái tôi, đang là sinh viên năm thứ nhất Khoa Lịch sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn) được nghỉ Tết. Cháu Mai đến thay mẹ chăm sóc tôi để mẹ về lo Tết cho gia đình. Cháu cũng được anh chị rất yêu quý vì ngoài việc chăm sóc bố, đôi lúc cháu cũng giúp chị chăm sóc anh khi cần thiết. Có lần, anh chị nói bóng gió có ý muốn giới thiệu Mai cho con trai mình là một kỹ sư đang công tác. Nhưng tôi thấy cháu Mai mới bước sang tuổi 18, còn quá trẻ vả lại còn đang tuổi học tập nên tôi cũng không tỏ vẻ hưởng ứng.


Ngày 28 tháng Chạp năm đó (tháng 2 năm 1988), tôi được ra viện trước Tết hai ngày. Tôi lưu luyến chào từ biệt anh chị và chúc anh mau bình phục. Chị cùng các cháu nhà tôi mang giúp tôi một túi đồ dùng, tiễn tôi ra viện. Vừa ra khỏi phòng, chị khóc và cho tôi biết là anh bị ung thư và đã đến giai đoạn di căn, không thể qua khỏi. Tôi rất xúc động và thông cảm với nỗi đau của chị, thấy sẽ rất thừa nếu có những lời an ủi chị lúc đó. Tôi buồn rầu cảm ơn và từ biệt chị.


Tôi được Viện Quân y 108, chủ yếu là Khoa A1 do Viện phó Phạm Tử Dương kiêm Chủ nhiệm Khoa cứu sống sau một cơn đột quỵ ở Campuchia và hôn mê sâu trong suốt 28 ngày, tưởng như không thể qua khỏi. Tôi vẫn nói vui với bạn bè rằng "quan thổ địa cai quản nghĩa trang Văn Điển không cấp hộ khẩu, nên vẫn phải sống", nhưng cảm thấy mình còn rất yếu dễ bị "loại khỏi vòng chiến đấu" lắm.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #145 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2025, 09:45:00 pm »

Trong khi tôi đang ở với vợ chồng con trai thứ hai tại căn hộ trong khu tập thể 3B Ông ích Khiêm của Quân đội thì nhận được quyết định của Thủ trưởng Bộ Quốc phòng cho nghỉ dài hạn để tiếp tục chữa bệnh, do đồng chí Trưởng phòng Cán bộ của Cục Chính trị thuộc Tổng cục Chính trị mang đến. Tôi ngạc nhiên khi thấy trong quyết định ghi tôi là Chủ nhiệm Cơ quan Chính trị Bộ Tư lệnh 719 (Quân tình nguyện tại Campuchia). Tôi nói với đồng chí ấy rằng tôi chưa hề nhận được quyết định bổ nhiệm là Chủ nhiệm và cũng chẳng hiểu vì sao lại có quyết định đó. Đồng chí đem về cơ quan và hôm sau đưa cho tôi quyết định chữa lại là Phó Chủ nhiệm. Ít lâu sau, tôi được đồng chí Nguyễn Trọng Hợp, Cục trưởng Cục Cán bộ trực tiếp thông báo bằng miệng rằng Quân ủy Trung ương vừa quyết định cho 9 cấp tướng trong Quân đội bị bệnh nặng được nghỉ dài hạn để chữa bệnh và được hưởng nguyên lương và các chế độ đãi ngộ khác cho đến khi khỏi bệnh. Từ đáy lòng, tôi rất cảm động và biết ơn Quân ủy Trung ương đã quan tâm chăm sóc cán bộ, nhất là đối với những đồng chí không may gặp nạn. Và tôi nghĩ rằng tôi khỏi bệnh có thể tiếp tục nhận công tác. Riêng tôi cũng cảm thấy mình trong gần 10 năm công tác ở Campuchia có bước trưởng thành đáng kể, đang ở độ chín chắn về mặt chính trị, nếu sức khỏe tốt vẫn còn có thể tiếp tục cống hiến cho Quân đội và đất nước. Thời gian đó, nhiều đồng chí thiếu tướng ngoài 70 tuổi sức khỏe tốt vẫn tiếp tục công tác, chứ không như sau này Luật Sĩ quan Quân đội thay đổi quy định 60 tuổi là về hưu.


Trước khi được cử đi làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, tôi là Cục phó Cục Tuyên huấn. Nhưng để tiện việc quản lý cán bộ, tôi đề nghị Tổng cục cho tôi sinh hoạt chi bộ ở Cục Chính trị để tiện việc thực hiện chế độ và được chấp nhận. Từ đó, hằng tháng đến kỳ sinh hoạt chi bộ, Cục Chính trị thường cho xe đến đón tôi đi họp. Sự chăm sóc của anh chị em ở Cục Chính trị cũng rất chu đáo và thân tình nên tôi cũng rất yên tâm.


Theo tiêu chuẩn cấp tướng, tôi được điều chỉnh từ căn hộ tại khu tập thể 3B Ông ích Khiêm về một căn hộ rộng rãi hơn tại chung cư E3 thuộc phường Thanh Xuân Bắc, quận Thanh Xuân, về nơi ở mới, nhà cửa chưa được hoàn chỉnh, còn bề bộn nhưng tôi rất thích vì con trai cả và con trai thứ hai của tôi đang công tác tại trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội và Trường Đại học tổng hợp Hà Nội. Một sự đoàn tụ với con cái ngoài sự mong đợi của tôi.


Hôm chuyển nhà là ngày 16 tháng 8 năm 1988. Cơ quan cho một chiếc xe tải đến để chở đồ đạc về nơi ở mới. Xếp lên xe chỉ lỏng chỏng có hai cái giường được tháo ra để chưa hết một góc xe. Bà con, đồng đội ở khu tập thể 3B Ông ích Khiêm nhiều người lắc đầu và thông cảm vì thấy gia đình nghèo quá. Đúng là thời gian đó, đất nước còn quá khó khăn, không cứ là gia đình tôi mà nhiều người cũng trong hoàn cảnh như vậy. Mấy hôm sau, Cục Hậu cần của Tổng cục cho xe chở đến cấp cho một chiếc giường đôi, một chiếc tủ đứng và một chiếc quạt trần do Quân đội ta sản xuất (riêng quạt trần đến nay tôi vẫn còn dùng, sau 28 năm vẫn còn tốt).


Căn hộ ở đầu hồi tầng 1, rộng khoảng hơn 80 mét vuông, là căn hộ loại một của chung cư gồm 3 phòng, một bếp, khu vệ sinh, một hành lang nhỏ, 4 ban công, thiết kế tương đổi tốt, thoáng mát nhưng cũng còn có chỗ không hợp lý ví dụ chỉ có một bể con chứa độ 200 lít nước... Cả chung cư cũng như toàn căn hộ còn ở dạng thô, bẩn thỉu, còn cần nhiều công và tiền của để hoàn chỉnh. Tôi có may mắn là có nhiều con công tác gần đó nên chúng nó xúm lại giúp nên cũng tạm ổn. Tuy nhiên, đồ dùng trong nhà còn thiếu thốn đủ thứ nhưng cũng là có chỗ trú ngụ sung sướng lắm rồi. Từ đó, Mai con gái tôi đang ở ký túc xa về ở với bố trong khi vợ tôi vẫn ở quê.


Lúc này vẫn còn là thời kỳ bao cấp, lương thiếu tướng của tôi chỉ có 68đ/tháng cùng với trợ cấp thâm niên. Vợ ở quê đã đến tuổi nghỉ lao động ở hợp tác xã thủ công đồ gốm, phải buôn thúng bán mẹt kiếm sống. Tôi phải trích tiền lương gửi về giúp đỡ thêm vì vợ còn phải nuôi thằng con trai thứ 5 bị tâm thân phân liệt ở bộ đội về. Có thể nói, đời sống của nhân dân và bộ đội nhất là đối với những gia đình đông con như gia đình tôi cực kỳ khó khăn. Đời sống của giáo viên, sinh viên ở các trường đại học xung quanh khu vực tôi ở cũng nằm trong tình trạng đó. Con dâu cả của tôi là giáo viên của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (chồng là giáo viên Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội) phải đi bán trứng thêm ở chợ mới tạm đủ sống. Tôi khoán cho Mai, con gái tôi mỗi ngày chỉ được chi 5 hào tiền thức ăn. Có bữa, bạn thân của nó đến chơi ở lại ăn cơm, ba bố con, bác cháu chỉ có một quả trứng vịt rang mặn, bó rau muống làm thức ăn.


Chung cư E3 tôi ở đều là cán bộ Quân đội được chia, dần dần đưa gia đình về ở. Bên cạnh căn hộ của tôi là căn hộ loại hai của gia đình đồng chí Võ Bá - Thượng tá, trợ lý của Cục Cán bộ. Chị là công nhân viên của Xí nghiệp trồng dâu nuôi tằm ở Mai Lĩnh, cách chỗ chúng tôi ở hơn 10 kilômét. Anh chị mỗi khi được cơ quan chia cho thực phẩm đều xẻ bớt cho tôi và Mai, khi thì một mớ cá rô phi, khi thì bơ nhộng. Chị Nhu, cán bộ của Trường Đại học Y, chồng là đồng chí Hoàng Văn Hoan - Thượng tá, Phó Chủ nhiệm Chính trị một sư đoàn của Quân khu 3, thấy hai bố con tôi đời sống quá đạm bạc, chị có ý định giúp lấy các loại thuốc thông thường mở một tủ bán thuốc ở căn hộ tầng 1 của tôi, bán được mới phải trả tiền sau, nhưng tôi thấy không thể thực hiện được vì cháu Mai còn bận học, còn tôi thì quá yếu. Trong hoàn cảnh khó khăn, trước những nghĩa cử chia sẻ với nhau như vậy, tôi rất cảm động và thấy ấm lòng vì tình nghĩa hàng xóm láng giềng.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #146 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2025, 09:46:43 pm »

THAY LỜI KẾT


Bố đã đi xa hơn 3 năm nhưng hình ảnh người cha, người ông mẫu mực vẫn như còn đâu đây, trong tâm thức của các con, cháu trong gia đình chúng tôi.

Ngược thời gian trở về hơn 30 năm trước (năm 1987), khi vừa hoàn thành nhiệm vụ công tác đảng, công tác chính trị cho đợt rút quân lần thứ 6 Quân tình nguyện Việt Nam về nước, Bố tôi - Thiếu tướng Đinh Mộng Tiên bị đột quỵ tại Phnôm Pênh (Campuchia). Từ đây bắt đầu chặng đường hơn 7 năm ông kiên trì rèn luyện, kết hợp với thuốc thang và sự chăm sóc, chữa chạy của các y bác sĩ cùng gia đình. Ý chí, nghị lực của một người cán bộ cách mạng, tướng lĩnh Quân đội cùng sự chăm sóc tận tình của thầy thuốc và gia đình đã đưa ông trở lại với cuộc sống bình thường. Tháng 12 năm 1994, ông được Nhà nước, Quân đội cho nghỉ hưu ở tuổi 65 với gần 50 năm hoạt động và cống hiến cho cách mạng.


Khép lại chặng đường sự nghiệp, đối với ông - một người đã kinh qua nhiều cương vị công tác, cả ở Quân đội và cơ quan của Đảng, cả ở trong nước và ngoài nước, chắc chắn chất chứa biết bao nhiêu kỷ niệm gắn liền với lịch sử dân tộc, đất nước, quê hương, gia đình. Nói cách khác, cuộc đời của Thiếu tướng Đinh Mộng Tiên gắn với sự nghiệp cách mạng của đất nước,với sự nghiệp xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc. Thế hệ các ông nhiều người trải qua như vậy, nhưng ông là một trong số ít người tự ghi lại chặng đường đời và sự nghiệp của mình. Giờ đây, trang đời quý giá ấy được ông tái hiện vô cùng sống động, phong phú, thông qua những câu chuyện, sự kiện, hình ảnh, đặc biệt là những ngẫm suy về gia đình, đồng chí, đồng đội, về những cung bậc cảm xúc của chiến tranh và hòa bình gắn liền với lịch sử đầy biến thiên của đất nước, dân tộc.


Có thể nói, gần như cả cuộc đời ông gắn với sự nghiệp cách mạng của đất nước, với sự nghiệp xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc. Những năm tháng hoạt động công tác đó và cuộc sống gia đình đã để lại trong đồng chí, đồng đội và con cháu những ký ức khó phai mờ.


Sinh ra trong một gia đình nhà Nho tiến bộ, giàu lòng yêu nước; lớn lên trên quê hương giàu truyền thống cách mạng, được sự dìu dắt, giáo dục, rèn luyện của Đảng, Quân đội, ông không ngừng phấn đấu, học tập, trưởng thành và đã được tổ chức tin tưởng, bố trí vào những vị trí công tác phù hợp với sở trường, năng lực, trình độ của ông. Trải qua quá trình công tác từ trước Cách mạng Tháng Tám đến khi về với thế giới người hiền, ông luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân giao phó. Dù công việc bộn bề, song ông luôn kết hợp hài hòa công việc của tổ chức với chăm lo cuộc sống gia đình, cùng người vợ hiền, thủy chung hết mực yêu thương nuôi dạy các con, cháu nên người. Anh em chúng tôi lớn lên, trưởng thành từ truyền thống cách mạng cùng sự yêu thương đùm bọc của bà con quê hương và tình cảm gia đình ấm áp như thế.


Chúng tôi còn nhớ mãi, khi nghỉ hưu, sức khỏe của bố vẫn còn yếu lắm. Lúc giao mùa hay khi thời tiết thay đổi cũng làm bố muốn ngất đi. Năm 1999, vết thương do mảnh mìn ở chiến trường Thượng Lào còn sót lại tái phát1 (Ông bị liệt nửa người phía dưới. Khi nhập viện, ông đề nghị được mổ. Người thực hiện ca mổ là Bác sĩ, Tiến sĩ Nguyễn Tiến, chuyên gia đầu ngành về chấn thương chỉnh hình đã gắp ra được mành mìn và một lít rưỡi máu, mủ), bố tưởng mình sẽ bị liệt vĩnh viễn. Lúc này, bố tôi nghĩ mình hình như sắp quy tiên nên vội nghĩ đến gia đình, con cái và cố gắng sắp xếp theo ý tưởng của người chuẩn bị làm di chúc. Nhưng thật may mắn và nhờ hồng phúc tổ tiên, sức khỏe của ông dần được hồi phục và ông được sống trong tình yêu thương của gia đình và người thân gần 20 năm nữa. Trước đó (năm 1996), với số tiền lương hưu cấp tướng của bố không đủ để mua nhà thanh lý, chúng tôi góp cùng bố, mẹ mới mua được căn nhà 101, E3, Thanh Xuân Bắc do Quân đội cấp, bán và ở đó đến cuối đời, quây quần bên các con, cháu. Bốn năm sau, Nhà nước có chính sách hỗ trợ 100% tiền nhà nên bố đã được hoàn lại số tiền nho nhỏ. Bố dùng khoản tiền này cùng một phần lương hưu gửi tiết kiệm làm Quỹ khuyến học cho các con, cháu trong gia đình và Quỹ hương hỏa để giỗ tết; một phần còn lại bố tôi dùng xây dựng quỹ hỗ trợ để giúp đỡ các con, cháu trong gia đình lúc gặp khó khăn.


Bố cũng quy định hằng năm đại gia đình phải sum họp vào các ngày tết, ngày lễ... và nhất thiết không được ai vắng mặt. Ngày có ý nghĩa nhất đối với gia đình chúng tôi là ngày 2 tháng 9 hằng năm. Đó vừa là ngày Quốc khánh của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là ngày sinh nhật của bố và trong ngày này cũng là ngày bố, mẹ tôi luôn ôn lại truyền thống gia đình, biểu dương, khen thường các con, cháu, chắt học giỏi, có thành tích cao trong học tập, công tác và nâng đỡ, động viên mọi cố gắng của các con, cháu khác. Bố, mẹ tôi đã về với tổ tiên, ông bà nhưng đến nay gia đình chúng tôi vẫn giữ nếp gặp mặt các con cháu vào ngày này tại tổ ấm - nơi bổ, mẹ, anh em tôi đã có những ngày tháng vô cùng vui vẻ, hạnh phúc trong điều kiện còn nhiều gian khó.


Nhờ sự định hướng, dìu dắt và chăm lo của bố, mẹ mà tất cả anh em, con cháu chúng tôi đã xây dựng gia đình là những gia đình độc lập, làm ăn chân chính, không có ai vướng vào tệ nạn. Ông, bà có tám người con và mười một người cháu, hai chắt thì hai vợ chồng con trai trưởng và cháu nội đều là giảng viên đại học. Con trai thứ sáu và con gái thứ bảy công tác ở Văn phòng Quốc hội. Con trai thứ ba là sĩ quan cao cấp và con gái út phục vụ trong Quân đội. Nhờ truyền thống hiếu học và sự khích lệ của ông bà, bố mẹ mà đại gia đình tôi cả con đẻ, con dâu, con rể đã có một tiến sĩ, một là bác sĩ chuyên khoa cấp II, bốn thạc sĩ; bốn cháu nội, ngoại đi du học ở nước ngoài trong đó có một cháu đang làm luận án Tiến sĩ ở Hàn Quốc.


Trong ký ức của chúng tôi, bố là người cha nghiêm khắc, nhưng lại rất hiền từ, rất thương con. Bố nghiêm khắc với chính mình và con mình, nhưng lại bao dung, nhân ái với mọi người. Bố xa nhà nhiều năm, công việc của một người lính lúc nào cũng bận rộn, nên ít có thời gian gần gũi anh em chúng tôi. Tuy vậy, việc học hành, công tác của chúng tôi, ông đều sát sao và định hướng khi cần thiết. Bố không giáo huấn nhiều lời, mà bằng hành động, bố giáo dục chúng tôi tính tự lập, quý trọng lao động và người lao động; không phân biệt giàu nghèo, sống có trước, có sau và biết quan tâm, chia sẻ với mọi người. Không những trong gia đình, với họ hàng, quê hương ông cũng có những đóng góp cho các hoạt động chung, ông đã vận động bà con, họ hàng đóng góp xây dựng nhà thờ chi họ Đinh ở thị trấn Quế, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam - đây đã là nơi quy tụ bà con thân quyến mỗi khi tết đến, xuân về và cũng là nơi thành lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên của huyện Kim Bảng năm 1930 do thầy giáo Nguyễn Văn Đạt làm Bí thư. Ông đã tìm kiếm và kết nối họ Đinh ở Phượng Dực, Hà Nội với chi họ Đinh ở thị trấn Quế sau nhiều năm mất liên lạc để con cháu tìm về cội nguồn của mình, ông đã đóng góp tiền lương ít ỏi để cùng với nhân dân thị trấn Quế tu tạo Đình Xuân - nơi trước Cách mạng Tháng Tám, chi bộ cộng sản đầu tiên đã chọn là một trong những địa điểm họp kín để bàn bạc xây dựng, mở rộng cơ sở cách mạng của huyện...


Khi bố khuất bóng, cùng với sự ra đi của mẹ nhiều năm trước đã để lại trong chúng tôi những khoảng trống thiếu vắng không gì bù đắp nổi. Mặc dù vậy, anh, em, con, cháu chúng tôi thường xuyên gắn bó, động viên nhau nên dường như vẫn cảm thấy bố, mẹ, ông, bà luôn luôn ở bên mỗi chúng tôi cả những lúc vui, buồn, luôn khích lệ, động viên chúng tôi trong quá trình trưởng thành, trong học tập, công tác cũng như cuộc sống.


Cuốn hồi ký "Những năm tháng không quên" được bố tôi - Thiếu tướng Đinh Mộng Tiên viết nên bằng tâm huyết, sự minh mẫn và trí nhớ tuyệt vời của ông, dù đã phải trải qua lần đột quỵ, hôn mê sâu tưởng như không thể qua khỏi. Tất cả cuộc đời ông lần lượt tái hiện qua từng trang viết, đọng lại những ký ức khó phai mờ. Mỗi một sự kiện, con người trong cuốn hồi ký đều gắn với sự nghiệp cách mạng của Đảng, với chặng đường phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam và quê hương, gia đình thân yêu. Cuốn sách cung cấp những thông tin bổ ích về đạo đức, tác phong, những cống hiến của ông cho Đảng, Quân đội cũng như những tình cảm của ông thể hiện trong quá trình công tác, trong cuộc sống với đồng đội, người thân.


Nhân kỷ niệm 77 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22.12.1944 - 22.12.2021), cuốn sách được xuất bản là bó hoa thơm kính dâng lên người cha, người ông của chúng tôi; đồng thời cũng là lời tri ân của gia đình đối với Đảng, Nhà nước, Quân đội đã giáo dục, đào luyện ông trưởng thành; là lời cảm ơn đối với đồng đội, người thân và gia đình đã gắn bó, chia sẻ giúp đỡ những lúc khó khăn để ông yên tâm công tác, hoàn thành nhiệm vụ.


Cuối cùng, gia đình chúng tôi xin chân thành cảm ơn Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, các đồng chí cán bộ Viện Lịch sử quân sự Việt Nam đã giúp đỡ, tạo điều kiện xuất bản cuốn hồi ký của bố tôi - Thiếu tướng Đinh Mộng Tiên!

Hà Nội, tháng 10 năm 2021
ĐINH CAO PHONG
(Con trai cả)
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM