hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #10 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2023, 04:45:22 pm » |
|
Chương 11
1 Đã lâu lắm rồi căn cứ xã Phụng mới có một buổi chiều yên tĩnh đến lạ lùng như vậy. Không một tiếng máy bay, không một tiếng pháo, và cả tiếng ve kêu cũng không còn nữa. Sau những trận đánh quyết liệt, cả ta và địch tạm thời ngừng hoạt động để lấy sức cho những trận giao tranh sắp tới. Chiều chiều, bọn bảo an, dân vệ, nghĩa quân cũng tập trung quân sớm rồi kéo về co cụm xung quanh cứ điểm núi Sầm. Chính vì vậy mà các đơn vị đi khẩu cũng như anh em xã Phụng tới chỗ tập trung sớm. Lâm bị thương, Mai chuẩn bị đi họp nên ở nhà chỉ còn lại có hai người. Nhìn cây me cao vổng, thân cây to hơn hai người ôm, vỏ cây nứt nẻ đan xen những lớp vằn mềm mại, Mai nghiêng đầu nhìn vào khỏang không vô định. Đôi mắt như tò mò, như thiết tha lẫn ngạc nhiên, như đang tìm những điều bí ẩn trong vũ trụ bao la, trông Mai giống như một cô bé ngây thơ ngồi chờ phép lạ. Lúc này chẳng biết mở đầu câu chuyện với Lâm như thế nào, Mai có cảm giác như có hàng ngàn, hàng vạn con sóng li ti vô hình đang vỗ vào da thịt mình. Tâm hồn Mai bồng bềnh như làn mây trắng đậu lơ lửng trên nền trời xanh thẳm. Mai nhìn Lâm thấy đầu óc mình trở nên bâng quơ, lộn xộn bỗng mỉm cười với mình và tự hỏi “Tại sao mày cứ như người mất hồn vậy Mai ơi!...” Nằm trên võng say sưa nhìn Mai, nhận ra mùi tóc thơm thoang thoảng như hương hoa bưởi, hoa lài, bay tỏa xung quanh, Lâm không dám cựa mình và chỉ sợ mùi thơm đó bay đi mất. Khuôn mặt thon và bầu lấp ló dưới mái tóc dài buông xõa, làn da trắng ngần, đôi mắt đen dài khiến Lâm bàng hoàng, ngây ngất trước vẻ đẹp lạ lùng của Mai. Lâm chợt thấy Mai như nàng Tố nữ đang ngồi trên võng giữa cánh rừng hoang dã và xung quanh nàng ngạt ngào hương sắc của hàng ngàn vạn loài hoa. Nhìn người yêu Lâm tự nhủ thầm: “Tội nghiệp! Có mấy khi Mai được ngồi thư thái như thế này đâu!...” Gió ngoài đồng thổi tới xôn xao, những cành me la đà trong gió. ánh nắng vàng mượt xuyên qua những kẽ lá rơi nhè nhẹ xuống mặt đất. Mặt đất hóa thành một bức tranh do nắng và bóng cây tạo ra lung linh nhảy nhót. Giật mình khi Lâm cựa mình trên võng, nhìn chân Lâm bị thương gượng gạo co lại, Mai tới ngồi cạnh Lâm nhỏ nhẹ: -Đau không anh!... Phải chi em gánh được cái đau cho anh... -Không đau lắm đâu, vết thương bắt đầu ăn da non rồi. Mai ân cần: -Đưa em băng lại cho, đầu băng buộc gút lớn như vậy nằm võng bị cấn đau lắm anh à. Lâm ngồi dậy, tay vuốt nhẹ lên tóc người yêu hóm hỉnh: -Đáng lẽ để y tá lo, ai dám nhờ bí thư. Lấy đầu mình cụng nhẹ vào đầu Lâm, Mai tinh nghịch: -Đây là loại lính đặc biệt, chuyên ăn hiếp bí thư. -Chẳng bao giờ mình làm lớn được. -Khi nào cưới, chức anh lớn hơn em nhiều. -Chức gì mà lớn? -Anh là ông xã, em thì cũng chỉ tới chức bà xã phải không, nè phải để em lo cho anh, nếu không Tỉnh đội bắt đền xã Phụng đó. Hơi duỗi chân cho Mai băng, Lâm cười và chỉ vào mình: -Vừa là thương binh, vừa là ông xã, bắt bí thư phục vụ cả đời. Mai cười khúc khích: -Thương binh này thì hư nhất. Mai đứng dậy lấy hộp bông băng và bi đông nước đặt trước mặt Lâm: -Đưa em rửa vết thương ở đùi cho. -Để anh tự lo. Mai phì cười: -Em ra lệnh cho anh cởi quần dài , vạch quần đùi lên. Thấy Lâm lúng túng, Mai nhỏ nhẹ: -Chúa mắc cỡ, ở đùi non vết thương bị quần cà vào dễ bị xây xát, anh độ rày không cho con Phượng rửa thương mà tự rửa phải không? -Tại anh thấy vết thương đã ăn da non nên anh nói để anh tự rửa. Giúp Lâm nằm nghiêng trên võng, rồi cầm “panh” nhẹ nhàng bóc miếng “gạc” Mai hóm hỉnh: -Em mà rửa vết thương thì anh tha hồ khóc. Ngón tay vuốt nhẹ lên tóc người yêu, Lâm dịu dàng: -Tất nhiên là phải dịu hơn y tá rồi, nè... Nếu mà đau thì em phải đền đấy. -Đền gì, em trả. Lâm quàng tay lên vai Mai, kê sát đầu mình lên đầu và hôn lên má người yêu. Mai tinh nghịch: -Em không như con Phượng đâu, hễ rửa thương là động viên “ Đau không anh Lâm? Ráng chịu nghe anh...”. Em thì cứ ra lệnh. -Anh xin tuân lệnh. -Bữa nay anh của em ngoan quá. Nước muối vào vết thương làm Lâm xót và đau khiến nhăn mặt, Mai động viên: -Chút xíu thôi, em mát tay lắm. Lâm điềm tĩnh: -Hồi nhỏ anh đá bóng trầy cả chân rồi lấy cát rắc vào, vậy mà khỏi lúc nào không hay. Vết thương này ăn nhằm gì. -Nhưng đây là mảnh đạn, hơi thuốc và mảnh độc lắm, lơ mơ nhiễm trùng ngay anh à. -Em dọa anh, đi phát rẫy, cành nhọn xóc vào bắp chân lấy lá đắp vào rồi cũng khỏi. -Vậy mà cũng kể, anh thuộc loại đại dơ. Anh với Út Hân ở với nhau thật xứng đôi. Lâm cười xòa: -Ừ... Anh là sư phụ, nó là đệ tử nên có lần anh vạch bụng nó lên thấy toàn ghét, anh ngầy, nó nói: “ Sư phụ ơi, quần áo sư phụ thay ra không giặt, phơi nắng gấp lại rồi mặc tiếp. Em học tập sư phụ đó.” Mai phì cười: -Hèn gì người ta cũng nói ngồi cách một cây số cũng thấy mùi mấy chú giải phóng. -Vậy mà lắm cô chết mệt. -Tại thương lỡ rồi. Hì...hì... Rắc thuốc, bôi mỡ lên vết thương, Mai cẩn thận băng cho Lâm. Thuốc thấm vào vết thương xót cứng đùi, Lâm phải đứng dậy đi lại, vặn mình làm những đốt xương kêu răng rắc. Lâm nằm xuống võng, nhìn Mai khoác súng đi kiểm tra xung quanh căn cứ xã, mỉm cười rồi nhìn cây me bóng ngả xuống, từng cặp lá me cụp vào nhau đu đẩy. Rất lâu mới nghe bước chân của Mai tới gần, Lâm hỏi trống không: -Về rồi à... -Dạ... Mai tháo võng của mình tới cột cạnh võng Lâm rồi đặt khẩu AK bên chiếc ba lô , khoan khoái ngã lưng trên võng. Hai cánh võng nhẹ đưa, Mai thấy giống như hai cái thuyền cột chung vào một cây sào bất giác mỉm cười. Lâm bỗng hỏi: -Em cười gì? Nhìn lên cây me, Mai reo lên và đập nhẹ vào vai Lâm: -Anh coi, cây me bắt đầu đi ngủ rồi nè. Lâm ngước nhìn cây me, bất giác bật cười: -Đố em biết hồi nào cây me thức. -Buổi sáng, khi mặt trời mọc, lá me xòe ra là lúc cây me thức dậy đúng không? -Để ngày mai anh kiểm tra lại đã. Mai thủ thỉ: -Những buổi sáng không có địch, em ngồi đếm lá me mà không biết đếm để làm gì, nhìn miết mới phát hiện ra cây me cũng thức và ngủ như con người...Anh thấy có lạ không. Lâu nay sống và đi lại dưới gốc me già bây giờ Lâm mới thấy nhận xét của Mai quả là tinh tế. Niềm tự hào bỗng dâng lên khiến Lâm lâng lâng. Thầm cảm ơn trời đất đã cho Mai sắc đẹp và phẩm hạnh quí giá vô ngần, Lâm dịu dàng: -Em quan sát và sử dụng hình ảnh như một nhà thơ! Thật bất ngờ!... Mai đỏ mặt lặng im mỉm cười. Ngồi dậy kéo Mai ngồi chung võng Lâm choàng tay lên vai Mai thủ thỉ: -Hồi nào còn là học trò, vậy mà bây giờ hai đứa mình đã ngồi đây! -Hơn sáu năm thoát ly rồi phải không anh? Lâm suy tư: -Đời học trò thoảng qua như cơn gió... Lăn vào chiến đấu, ngoảnh mặt lại đã hơn nửa thập niên. Mai tinh nghịch: -Xếp bút nghiên lên đường chiến đấu phải không chàng hiệp sĩ? Lâm bật cười: -Hồi chưa thoát ly, câu thơ: áo chàng đỏ tựa ráng pha, ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in. Mình ngâm nga, hình dung anh giải phóng như là một hiệp sĩ thời thượng... Bây giờ thì như ở trên trời rơi xuống đất cái bịch. -Sao vậy? -Giản đơn thôi... Bây giờ mình là anh giải phóng, mũ tai bèo chân đất, đường hành quân xa lắc,vào trận thì bom đạn đầy trời. Lâm ôm chặt lấy vai Mai rù rì: -Nói cho cùng, mình phải cảm ơn cái thời bị lộ, cảm ơn cái đợt công tác này anh mới có dịp được ngồi bên em. Thấy Lâm lặng yên, đăm chiêu, Mai nhìn Lâm thấy thương thương, tội tội... Lúc này, Mai chỉ muốn ngồi bên và nghe Lâm nói. Lâm bộc bạch: -Thú thiệt, những lúc trời mưa một mình nằm trên võng hễ nghĩ đến em là cồn cào cả người; những đêm anh ngủ rất say, nằm chiêm bao thấy hai đứa mình đi học, em chạy anh đuổi theo, tà áo trắng bỗng quấn vào người và anh nắm được tay em thì giật mình tỉnh giấc thấy tiếc ơi là tiếc. Mai ngạc nhiên: -Ủa!... Sao em cũng nằm chiêm bao thấy y như anh...? -Có thể lúc đó hai đứa cùng nghĩ về kỷ niệm nên chiêm bao có sự trùng lặp. -Em không tin, công tác mệt muốn chết em hỏi anh còn thời gian đâu mà nghĩ chuyện xưa. Lâm bỗng vỗ vào trán mình: -Anh nhớ hồi lớp 11 hai đứa mình lên chùa, em chạy, anh chẳng đuổi bắt em là gì. -Ừ... Em nhớ rồi. -Bữa đó em vấp guốc, anh không kịp ôm thì té xuống ruộng là cái chắc. Mai khúc khích: -Ừ... Nực cười nhỉ, hồi đó hai đứa mình khờ quá phải không anh? Lâm thở dài: -Nếu không có chiến tranh thì với sức học của bọn mình thi đậu đại học là cái chắc. Nếu được học hai đứa mình cũng như Nguyệt đúng không!... Nép vào ngực người yêu Mai cảm thấy ấm áp lạ thường. Mơ ước đi học đã nguôi dần trong Mai giờ đây trỗi dậy thành niềm khao khát lạ lùng. Mai tâm đắc: -Thống nhất nước nhà, hai đứa mình cùng xin đi học phải không anh? -Phải học chứ dù chiến tranh hay hòa bình, kiến thức và học vấn bao giờ cũng là cốt lõi cho sự phát triển của từng con người, sau này mình cưới, có con thì nhiệm vụ vẫn là đi học. Mai mơ màng: -Có con làm sao đi học được? -Hai đứa phân công nhau đi học và trông con, anh nhất định dành nhiều thời gian cho em học. Giọng Mai đầy tin tưởng : -Anh yên tâm, em chịu cực quen rồi miễn là được đi học, khổ mấy em cũng học chỉ cần anh phụ giúp em nuôi con thôi. - Miễn em và con vui, bao khổ cực anh gánh hết. -Dạ...Em biết tính anh. Ngừng một lát Mai vội khoe: -Em vừa nhận được thư Nguyệt . -Sao không đưa anh coi. -Hồi trưa em đang cùng chú Chín họp với cơ sở ngoài bìa mương, với lại mải việc nên em quên. Lâm móc trong túi lấy bịch thuốc rê quấn và mồi lửa hút thuốc. Lâm hỏi Mai : -Trong thư Nguyệt nói gì? Mai thủ thỉ: -Nó nói nhiều về anh Đoan và gửi anh Đoan cho bọn mình chăm sóc. Năm nay ra trường nó xin việc ở Sài Gòn. Nó còn biểu... Không nói nữa... Ngày mai anh với anh Đoan đọc sẽ rõ. Lâm tò mò, hôn nhẹ lên tóc Mai: -Nói đi cưng, anh sốt ruột lắm rồi. -Nó biểu đánh Mỹ còn trường kỳ gian khổ, bọn mình cưới đi. Nếu em sinh, gửi con xuống cho nó nuôi, con mình phải là con nuôi của nó. Nó đón vào Sài Gòn cho ăn học, thống nhất trả lại con cho bọn mình. Lâm bật cười: -Người lớn ghê ta , chưa lấy chồng đã đòi làm mẹ rồi. Hay là tụi mình tổ chức cưới, có con gửi cho Nguyệt chăm sóc? -Anh chỉ có được cái nói ào ào, đã nhất trí ngày hòa bình thống nhất mới tổ chức đám cưới ... -Ừ thì anh nói vậy, nhưng cuộc chiến đấu còn lâu dài, gian khổ, là một sự thật không ai chối cãi được. Mai lặng yên trong suy tư, bỗng nói với Lâm như nói với chính mình : -Em công tác ở xã còn đỡ vất vả, anh và anh Đoan cuộc sống gian khổ, hiểm nguy và khắt khe gấp em bao nhiêu lần... -Ở đâu cũng vậy thôi, tất cả rồi cũng quen hết. Em à... Anh thấy Nguyệt nói có lý đấy. Mai lắc đầu cười : -Anh thì lúc nào cũng đòi cưới, chú Chín không chịu đâu. -Bộ em không muốn sao? -Con gái thì có một thời, làm đến chức gì đi nữa thì cũng phải có chồng đúng không? Lâm gật đầu, tay dụi tàn thuốc nhìn người yêu say đắm. Mai nũng nịu: -Nhưng hoàn cảnh hiện tại làm sao cưới được. Cuộc đời trong trắng của em trước sau cũng trao gửi cho anh, anh yên tâm đi . Ghì chặt người yêu vào lòng, Lâm nhìn sát vào mắt Mai: -Hay là mình báo cáo với tổ chức xin cưới cho xong đi. Được không? -Có con khổ lắm anh à... Em đã nói rồi, lúc nào em chẳng là của anh. Lâm thiết tha : -Thương anh không!... Mai nhìn thẳng vào Lâm : -Từ trước tới giờ, em chỉ có một mình anh. Mối tình đầu tiên và cũng là duy nhất. Em đã nguyện suốt đời ở bên anh. Ngày đêm em cứ cầu trời, khấn phật phù hộ cho hạnh phúc của hai đứa mình. Anh có cho em là mê tín không? Lâm lắc đầu : -Không! Đạo Phật cũng là một khoa học. Những điều huyền bí của vũ trụ chưa hẳn đã là mê tín. Dù muốn hay không, nhà phật cũng dạy mình hướng thiện, sống phải vị tha và tin vào nhau thì mới tạo nên sức mạnh. Anh nghĩ tình yêu cũng phải như vậy đúng không? Nép vào ngực Lâm, Mai mơ màng : -Nhiều lúc em nghĩ miễn là hai đứa mình có một đứa con, anh có đi đâu và xa mấy đi nữa em vẫn chờ anh và nuôi con. Có con ở bên tức là có anh rồi phải không anh? Lâm hỏi dồn : -Vậy mình tổ chức cưới nghe! -Khoan đã anh à. Lâm nhìn xung quanh, rồi ngước mắt nhìn cây me. Mai cũng ngước mắt nhìn cây me bỗng reo khẽ : -Anh coi, những chùm lá me dày như vậy mà vẫn không che nổi những ánh sao trên trời. Trông những ánh sao giống như bày đom đóm đang đậu dày trên cây me phải không anh... Nhìn những ánh sao lay động, nhấp nháy như nhảy qua kẽ lá me sà xuống đậu trên cánh võng, Lâm bỗng nhận ra những cặp lá me đang úp vào nhau cũng phập phồng như hơi thở nồng nàn của một cặp vợ chồng đang thì thầm tâm sự giữa đêm sâu. Bồn chồn Lâm hỏi Mai: -Em tìm đâu ra hoa chanh mà gội đầu vậy? -Lá chanh rừng chứ không phải hoa chanh đâu. Gội lá chanh rừng vừa thơm vừa sạch đầu anh à. Kéo người yêu vào lòng đặt những nụ hôn nồng thắm lên tóc, lên má Mai, hơi thở của Lâm dập dồn khiến người Mai như nhũn ra. Bỗng tiếng cây khô kêu rắc trong đêm rồi rơi ào xuống đất làm cả hai cùng giật mình nhìn xung quanh rồi nhìn nhau cười. Mai bỗng hỏi Lâm : -Nghe nói anh với anh Đoan và anh Yến thi nhau đọc xem ai nhớ được nhiều thơ trong truyện Kiều có đúng không? -Có chuyện đó, coi như huề vì đứa nào bình cũng có ý hay. Cao hứng Lâm hỏi Mai: -Em có nhớ câu thơ: “Trời xinh xinh, cảnh xinh xinh, trên trời, dưới nước, giữa mình với ta”. Của nhà thơ nào? Câu thơ đó hợp với cảnh chúng mình lúc này ở chỗ nào? Mai cười khúc khích cố ý chọc quê Lâm : -Thơ Nguyễn Du thì hay rồi, nhưng ở đây làm gì có cảnh “trên trời, dưới nước”. Lâm cười khà chống chế : -Thì nước suối, nước giếng ở xung quanh mình, vậy cũng hợp cảnh đúng không. Mai phì cười: -Vậy em cũng đọc thơ cho anh nghe : “Trời sinh ông Gia Cát - Đất nứt con bọ hung”. ý...không phải ...Em lầm...Đấy là câu đối, không phải thơ. -Chà...thơ hay quá tay...Có lẽ trời sắp mưa... Đấm thùm thụp vào lưng Lâm, Mai phì cười: -Ông quỷ!... Lần nào mình cũng thua cuộc!... Lâm bỗng hỏi: -Em nghe chuyện sự tích cây me chưa? -Chưa...Anh đọc ở sách nào ? -Hình như trong một cuốn sách biên khảo nào đó, anh quên tên mất rồi. 2 Sương đêm xuống lành lạnh, nép mình vào người yêu, Mai lắng nghe giọng trầm trầm và ấm áp của Lâm: -Ngày xưa có một chàng thư sinh mới mười bảy tuổi đã nổi tiếng hay chữ. Trong vùng chỉ có vị hòa thượng là người có kiến thức thâm uyên, là người trực tiếp dạy chàng, nhờ vậy vốn đã học giỏi, chàng càng giỏi thêm. Nhà có một mẹ, một con lại rất nghèo nên chàng phải đi kiếm củi lấy tiền nuôi mẹ già và ăn học. Ở làng bên có một gia đình phú ông rất giàu và nổi tiếng là tham lam keo kiệt sinh được ba người con gái: Cô Hai thì chua chát, điêu ngoa, cô Ba thì đỏng đảnh hay ăn hàng. Chỉ có cô út nết na, xinh xắn và thông minh. Mới mười hai tuổi cô đã nổi tiếng dệt lụa giỏi. Phú ông mời thầy tướng xem cho cô út, ông thầy lắc đầu thở dài cười ba tiếng và nói: “Ngọc nằm trong đá, oan nghiệt lìa đời, mưa xuân hoa nở” rồi bỏ đi. Phú ông ngày đêm lo sợ cho cô út chết non. Vốn đã được nghe tiếng về nhau nên trong dịp trảy hội mùa xuân hai người gặp nhau và duyên trời đã định nên họ cùng nhau đến chùa, thắp hương cầu xin trời phật cho họ thành vợ thành chồng và khi chết cả hai người đều hóa thành một loài cây để đời đời được sống bên nhau. Tan hội, cô út về xin phép cha cho nhà trai tới xin cưới. Nghe con gái nói, Phú ông cười khẩy trả lời: -Chuông khánh còn chẳng ăn ai, huống chi mảnh chĩnh vứt ngoài bờ tre. Cô út lễ phép trả lời: -Thưa cha, anh ấy tuy là nhà nghèo nhưng học giỏi. Người có chí học hành nhất định sẽ nên danh. Chúng con thương nhau và chúng con đã đưa nhau đến cửa phật làm lễ ăn thề rồi. Phú ông bực mình nói sẵng: -Một bồ chữ của nó không bằng một giạ lúa của tao, loại khố rách áo ôm ấy làm sao làm rể tao được. Cô Hai khinh khỉnh bĩu môi: -Cái thứ học trò dài lưng tốn vải ăn no lại nằm, thà nuôi heo còn hơn. Cô Ba nguýt dài giọng như gió đánh đò đưa: -Út à... Hoài công mà lấy thằng nghèo. Lên dốc, xuống đèo vẫn kiếp đốt than..., phận đốt than có học giỏi cũng đốt than em à. Cô út không nói năng gì chỉ lủi thủi một mình dậy sớm thức khuya dệt vải, dành tiền nuôi người yêu ăn học. Một hôm ngồi dệt vải chợt nhớ người yêu, cô út liền hò: “Dù ai lấp trổ rào truông, em nguyền vạch lách mà luồn theo lau”. Giọng hò của cô út trong vắt ngọt ngào khiến cỏ cây xao xuyến chim muông ngơ ngẩn. Cô Hai nghe giọng hò tức tối nói: -Cái con út vô duyên, cha đã ngăn mà nó vẫn nhớ thương cái thằng đốt than. Lời cha dạy nó có khác nào nước đổ đầu vịt, cứ đà này nhất định con út sẽ bị chửa hoang... Cô Ba lập tức xía vào: -Đúng... Con gái chửa hoang cả làng phạt vạ, con út nhất định sẽ bị gọt đầu bôi vôi dong đi khắp làng về tội trai trên gái dưới. Vậy là lời nói không cánh mà bay, chuyện gà hóa thành chuyện vịt và tin cô út chửa hoang cả làng đều biết. Tin đến tai phú ông, phú ông vội gả cô út cho con trai nhà lý trưởng ngu dốt, cô út quẫn trí ra sông tự tử. Hôm cô út tự tử, mưa gió suốt bảy ngày đêm, phú ông tìm hoài mà không thấy xác. Trong mưa gió, cô út hiện về báo mộng cho người yêu khi nào nước sông chảy ngược về suối thì xác cô sẽ được dòng nước đưa về dưới chân chùa. Được cô út báo mộng , trong mưa gió dầm dề, chàng thư sinh vừa đi, vừa khóc. Ôm xác người yêu đi tới vườn chùa, bỗng một tiếng sét đánh ngay trước mặt. Lạ thay, nơi bị sét đánh hóa thành một cái huyệt có hương thơm tỏa mãi không thôi. Chôn xác người yêu xong, chàng thư sinh sớm chiều tới mộ người yêu mài kinh nấu sử. Rồi một đêm chàng thiu thiu ngủ thì một luồng gió thổi tới làm cánh cửa hé mở và cô út hiện lên trước mặt chàng. Mừng rỡ chàng trai vội ôm choàng lấy người yêu khóc nức nở. Cô út nhìn chàng và nói: -Em đã là ma, chàng thương tiếc làm gì. Chàng trả lời: -Dẫu là ma em vẫn là vợ của anh, đã gặp được em anh nhất định không cho em đi đâu nữa. Nép mình trong vòng tay người yêu cô út thủ thỉ: -Cảm ơn chàng ngày ngày đã tới bên mộ em nhờ hơi ấm của chàng mà từ nay đêm đêm em mới được đến với chàng. Chàng vội hỏi: -Làm cách nào để ban ngày ta vẫn được ngồi bên nhau trò chuyện như lúc này. Cô út trả lời: -Cá không bao giờ nhìn thấy được nước nên bơi lội tự do trong nước, ma không bao giờ nhìn thấy đất nên đi lại tự do trong đất. Người ở dương thế không thể đi lại tự do trong đất được, đêm đêm em sẽ về với anh. Và từ đó đêm nào hai người cũng gặp nhau để trò chuyện. Cô út vốn đã đẹp bây giờ càng đẹp hơn. Kìm lòng không được chàng trai đòi chuyện chung chăn gối, cô út dịu dàng nói: -Em không tiếc chàng nhưng kẻ âm, người dương việc loan phượng trùng phùng sẽ nguy hại tới tính mạng chàng. Nếu chàng chết thì theo vòng kiếp luân hồi chắc gì đã ở chung được với nhau. Chàng cố đợi chờ sẽ có ngày nên duyên chồng vợ. Khoa thi năm đó chàng thi đỗ trạng nguyên và được nhà vua bổ nhiệm về làm quan tại quê nhà. Ban ngày bận việc công đường, đêm đêm chàng lại ra ngồi bên mộ nàng. Một đêm trăng sáng vằng vặc, một cục lửa xuất hiện giữa trời, bay vờn trước mặt chàng và chạm vào mộ hóa thành tiếng sét long trời, lở đất. Kỳ lạ thay, sau tiếng sét, cô út từ trong mộ bước ra tươi cười và rực rỡ như một nàng tiên nữ. Mừng rỡ, quan trạng dẫn người yêu về nhà và tổ chức lễ cưới linh đình. Từ đó hai vợ chồng sống bên nhau rất hạnh phúc. Cô út lại sinh cho chàng một đứa con trai khôi ngô tuấn tú, lớn lên thi đậu được bổ làm quan. Rồi một đêm mưa gió đầy trời vợ chồng quan trạng đang ngồi thì đột nhiên một tiếng sét vang lên và mọi người không thấy vợ chồng quan trạng đâu nữa. Nơi sét đánh hóa thành cái mộ vuông vức. Và lạ thay trên mộ mọc lên một cái cây lá mọc đối nhau thành từng cặp. Đêm đêm khi những đàn đom đóm bay tới đậu sáng trên cành là lúc lá cây úp vào nhau như vợ với chồng. Trong gió thổi cây phát ra tiếng “Em nghe!... Anh nghe!...”. Nhiều người nghe không rõ tiếng gọi lầm là Me; bởi vậy mới có tên là cây Me. Ngồi lọt thỏm trong lòng người yêu, chợt nhận ra hơi ấm từ cơ thể Lâm đang truyền vào từng làn da, thớ thịt của mình, Mai mơ màng: -Chúng mình cũng thủy chung như vậy phải không anh? Lâm thì thầm: -Em có lạnh không? -Tay anh cũng lạnh. Lâm lấy tay ủ vào người Mai. Mai nắm tay Lâm lặng yên. Bàn tay Lâm nhè nhẹ luồn qua áo chạm vào da thịt làm Mai rùng mình níu chặt lấy Lâm: -Anh!... Thoáng nghĩ: “Đằng nào mình cũng là của anh ấy. Tội nghiệp!... Chiều ảnh một chút....”, trái tim Mai run lên phập phồng khi tay Lâm cứ lướt nhẹ lên cơ thể mình. Mai nhắm mắt ngã vào lòng Lâm trong tiếng rên nhè nhẹ. Khoảng khắc của cuộc chiến tranh tan biến xung quanh, tiếng pháo nổ phía trời xa đã câm lặng và cả tiếng bầy chim krung-krinh cũng lặng im nhường chỗ cho tiếng Mai nói trong gió thoảng: -... Đừng anh!... Đằng nào cũng của anh!... Hơi nóng từ người Lâm ập lên khiến Mai ngã người nằm trên võng cố chống đối yếu ớt với cơ thể Lâm đang ập lấy cơ thể mình: -Đừng!...Em giận anh đó!... -Ôi!... Anh!... Mai ghì chặt lấy Lâm, giọng yếu dần trong hơi thở dồn dập và oằn mình ôm chặt lấy Lâm. Cánh võng rung lên trong tiếng rên nhè nhẹ của Mai ngọt ngào như mật ngọt. Khá lâu tiếng Mai thì thầm: -Anh!... Tất cả em đã trao cho anh rồi đó!...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #11 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2023, 04:54:21 pm » |
|
Chương 12 Mặc dù được Lâm an ủi và động viên, nỗi lo vô cớ cứ ám ảnh khiến Mai thở dài tự vấn an: “... Cầu mong đừng có chuyện đó vội...”. Nhưng bằng linh cảm của mình, Mai thấy khả năng mình có bầu. Cả Lâm và Mai đều thống nhất gặp ông Chín Tòng để báo cáo xin cưới và đề nghị ông thay mặt tổ chức làm chủ hôn cho đám cưới thì mọi việc sẽ yên. Điều trớ trêu là chiến dịch mở ra, sự sống và cái chết đang diễn ra trên khắp chiến trường nên cái sự cưới xin trong lúc này là không phù hợp. Rồi nhiệm vụ đánh vây ép địch trong làng hỗ trợ cho đặc công tiêu diệt cứ điểm núi Sầm ập đến chẳng lẽ bí thư thoái thác nhiệm vụ để xin lấy chồng và anh em xã Phụng làm lơ với cái sự cưới xin của bí thư... Một loạt“ cái sự” nảy sinh khiến ông Chín phải gọi Lâm và Mai đến giải thích và tất nhiên cũng không ngoài hai chữ “khoan cưới”. Lo lắng lẫn lúng túng Mai và Lâm cũng chỉ còn biết năn nỉ để ông Chín thông cảm “xuống thang” gật đầu thì lập tức đám cưới sẽ được tổ chức. Trưa nay thấy ông Chín Tòng ngồi một mình dưới gốc me già uống nước, Lâm vội vàng đến ngồi bên xoa tay ấp úng: -Chú à!... -Lại chuyện mày đòi cưới chứ gì? -Chú thông cảm!... Chỉ còn ít ngày nữa là cháu phải về đơn vị mà thời gian chiến dịch chắc còn kéo dài nên bọn cháu mới tính chuyện tranh thủ xin tổ chức cưới... -Tình hình nhiệm vụ cũng như cương vị công tác của con Mai trong lúc này thì chưa thể cưới được, mà tại sao mày cứ bắt tập thể phải theo ý của mày như vậy? Chợt thấy Mai đứng thập thò trong nhà ông Chín liền gọi: -Mai ra chú hỏi...Mày bị thằng Lâm hớp hồn rồi hay sao mà cứ để nó xỏ mũi dắt đi hoài như vậy? Như đứa trẻ ăn vụng bị bắt quả tang Mai bẽn lẽn đến ngồi bên Lâm và lấm lét nhìn ông Chín. Nhìn đôi trẻ thu người ngồi bên nhau lo lắng và ngơ ngác ông Chín mủi lòng nghĩ thầm “Tội nghiệp!... Chuyện công tác thì chúng xông xáo bài bản, còn tới chuyện riêng tư thì tồ ngồ tộc ngộc y như lũ cò mắc mưa!...” Nén tiếng thở dài ông Chín chậm rãi nói: -Trà Brao thứ thiệt đó đứa nào uống thì tự rót. Cưới xin là việc trọng đại của cả đời người mà hối hả như truy kích địch ấy thì còn ra thể thống gì nữa. Còn con Mai tại sao chuyện công tác thì mày xông xáo bài bản, tới chuyện chồng con thì lúng túng như gà mắc tóc nghĩa là sao? Ngừng một lát ông Chín Tòng đột nhiên hỏi: -Hai đứa đều là cán bộ lãnh đạo và đều là Đảng viên có đúng không? -Dạ đúng!... Gật đầu ông Chín lại hỏi: -Bay nghĩ thế nào khi bay giảng giải cho anh em cấp dưới “Ba khoan” trong khi bay cứ một hai xin tổ chức đám cưới? Đỏ mặt lúng túng Lâm gãi đầu: -Đợt này được về xã nhà công tác nên mới có dịp nhất trí cưới để cả hai đứa yên tâm chuyện tình cảm... Và chỉ còn một bề lo giúp nhau tiến bộ trong công tác. -Vậy khi chưa cưới hai đứa mấy bề công việc hay cũng chỉ là đánh giặc và công tác? Tóm lại là mày không tin con Mai chứ gì? Giọng nói ông Chín bỗng căng lên bực bội: -Tao biết, hai đứa thương nhau đã lâu, nhưng mày cũng biết tính con Mai một khi nó đã thương thì dù lửa cháy nó cũng không rời người thương!... Tao nghĩ điều đó mày phải hiểu nó hơn ai hết chứ. -Dạ cháu hiểu!... Rót nước uống một hơi dài ông Chín nhìn Lâm: -Tao biết chuyện gái gặp trai như cá gặp nước, rồi khi đã thương nhau thì như người ăn phải bả và khi đã say đòn thì chẳng còn biết gì nữa ngoài chuyện nằng nặc đòi cưới. Suy cho cùng thì bay ích kỷ và thiếu gương mẫu. Sượng sùng cúi gằm xuống đất Lâm và Mai chỉ còn biết ngồi im nghe ông Chín giảng giải. Nước mắt bỗng trào ra, Mai chỉ muốn đất nứt ra cho mình chui xuống để dưới bóng đen của lòng đất để mình không nghe, không trông thấy mình nữa. Nhìn đôi trẻ, đôi mắt ông Chín Tòng hiện lên những kỷ niệm thiêng liêng sâu lắng mà cuộc đời mình đã trải qua và rất lâu giọng nói ông Chín bỗng trầm hẳn xuống: -Hồi xưa khi lấy vợ, lấy chồng người ta phải xem tuổi tác ngày giờ, rồi phải bốn năm cái lễ mới tới lễ cưới... Chuyện xưa ngó bộ như lạc hậu xong xem ra rất thiêng liêng nên vợ chồng từ lúc trẻ tới khi bạc đầu vẫn nhất mực thủy chung. Bây giờ bay được tự do tìm hiểu vậy mà nhiều đứa chưa kịp báo cáo mà đã có bầu tới bốn năm tháng rồi tao thấy nó thế nào ấy!... Ông Chín Tòng nói một hơi dài khiến Lâm và Mai lặng đi trong ân hận và thổn thức. Đột nhiên ông Chín ngâm nga: -Vợ chồng là nghĩa tao khang, xuống khe bắt ốc, lên ngàn hái rau...- Đọc xong câu ca ông Chín khẽ nghiêng đầu:- Cứ nghiệm câu ca xưa chú thấy không sai một chữ. Chuyện vợ chồng là trọng đại trong đời các cháu à, bay phải nghe chú. Biết thuyết phục ông Chín Tòng lúc này chưa ổn, chờ cho ông Chín bình tâm lại Lâm lựa lời: -Bọn cháu đã nghỉ kỹ rồi chú à! Có nhiều chuyện chưa tiện nói mong chú thông cảm... Ngày mai Đoan và cháu trình bày để chú nghe tường tận sự việc, có được không chú? Ông Chín Tòng vui vẻ: -Cũng được, không lý để con Mai lại nói chuyện về nó. Chú sẽ báo cáo lên trên, còn việc cưới từ từ sẽ tính. Lâm quay sang hỏi Mai: -Ý em sao? -Dạ... Tùy anh. Ông Chín Tòng cười ha hả: -Trâu sắp đóng cọc rồi, lúc này nó chỉ dạ như cái máy chứ biết nói gì, con gái là vậy, mười đứa y như nhau cả mười. Chào ông Chín xong Mai hấp tấp đi vội vào trong nhà. Lâm vội đuổi theo hỏi nhỏ: -Sao em không nói? Mai nhỏ nhẹ: -Anh sao... Em vậy... Em nói không được. -Em cột võng tranh thủ nghỉ tối còn xuống làng, mọi chuyện để anh lo. -Dạ... Liên tục cuốn thuốc hút, càng hút Lâm càng thấm hậu quả của sự bồng bột. Lâm vẫn nhớ như in đêm hai đứa đến với nhau, Mai đã khóc sau những phút giây đầy hạnh phúc và ân hận. Tiếng Mai thì thầm vọng lên “Nếu anh có bề gì em nhất định ở lại nuôi con; nếu em hy sinh anh nhớ lo cho giọt máu của chúng mình trọn vẹn”. Giá như đêm ấy Lâm không chủ động bắt Mai chiều mình thì đâu đến nỗi Mai phải lao lý như hôm nay. Lâm nghĩ kỹ rồi, nếu hết chiến dịch mới cưới thì ít nhất Mai đã có bầu gần năm tháng, lúc đó không dấu được ai nữa, dù có báo cáo nhưng cả hai đứa đều bị kỷ luật. Thà Lâm gánh hết mọi khuyết điểm không thể để tổn hại đến uy tín của Mai được. Lâm hiểu tâm trạng của Mai lúc này như con thuyền trên sóng, Lâm lái đi đâu thì Mai đi đó, lúc này động viên Mai là tốt nhất, mọi việc Lâm tin ông Chín Tòng và Đoan sẽ tính toán êm xuôi. Lâm bỗng đứng vụt dậy đến chỗ Đoan hy vọng cùng Đoan tới gặp ông Chín và cả hai người sẽ cùng ủng hộ mình. Nói vậy, xong khi cùng Đoan gặp ông Chín, Lâm nói cứ ấp úng luần quần hoài. Chờ Lâm trình bày xong, ông Chín phê bình luôn: -Cái thằng, là cán bộ, Đảng viên cứ nói thẳng vào việc xin cưới, triết lý bồng bềnh mà chẳng sâu sắc gì trơn. Ông Chín thở dài: -Tao nản quá, hình như hai đứa bay có điều gì đó không thiệt? Đoan nhìn ông Chín Tòng cười vang: -Có gì đâu chú. Nó triết lý tầm quan trọng của tình yêu đó. Lâm bực mình: -Chuyện nghiêm túc cả đời người, mày hiểu chứ? Đoan nghiêm giọng: -Tao hỏi mày đợt này về xã làm nhiệm vụ mày đã hoàn thành chưa? Lâm nói ngay: -Cái đó đâu ảnh hưởng gì đến việc tổ chức cưới? Đoan vẫn tinh tỉnh: -Tao hỏi mày chuyện vợ chồng là quan trọng, nói một cái là cưới ào không chuẩn bị gì hết, làm sao tập thể lo cho mày được. Nếu hai đứa bay coi báo cáo tổ chức là xong, muốn làm gì bay làm thì tùy. Ông Chín Tòng cắt ngang: -Chú nói mãn chiến dịch hãy cưới mà thằng Lâm không chịu. Đoan khoát tay: -Xin chú cho con nói hết đã. Tao về đây cũng đã nghe nhiều người đặt vấn đề với con Mai, mày cũng nghe chuyện đó, có đúng không? Lâm lúng túng gật đầu: -Nhưng... -Không nhưng gì trơn, để tao nói hết, mày sợ con Mai không chung thủy với mày nên theo sách “cưới vợ cưới liền tay, chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha” chứ gì. Con Mai không phải là người thấp hèn, ham địa vị tiền tài. Tao đảm bảo ngoài mày ra không ai len được vào tâm hồn con Mai đâu. Đoan nghiêm giọng: -Con Mai thương mày sâu sắc hơn mày tưởng. Tình yêu của nó là vàng ròng không đổi được. Người phổi bò như mày làm sao hiểu được tình yêu sâu sắc, tinh tế, dám hy sinh chịu đựng của nó cho mày. Thấy sự việc không cần phải tranh luận nữa, ông Chín Tòng chậm rãi: - Thôi, hai đứa khỏi phải tranh luận nữa. Chú nhất trí cho bọn bay tổ chức lễ cưới. Chú chịu trách nhiệm báo cáo lên tổ chức cho đúng nguyên tắc. Nếu thời gian và điều kiện cho phép là làm lễ cưới được chưa? Đoan vẫn ấm ức: - Uổng cho con nhỏ đang trong thời kỳ tiến bộ. Bây giờ có chồng như gông đeo cổ... Ông Chín Tòng thở dài: -Ý nó đã quyết biết nói sao...Con Mai đang trong diện đề nghị bổ sung vào thị ủy thiệt là uổng. Mai ngồi bên Lâm tay vân vê túi xắc. Túi xắc bằng vải ni-phăng màu xanh xám. Trên túi là những đường thêu viền hình một cái lá trong đó nổi lên hai chữ L và M lồng vào nhau. Đường viền trên miệng túi được thêu bằng màu xanh lá mạ, trong túi xắc chỉ có một cái võng, thêm một cái gương và một cái lược. Lâm nhìn Mai phảng phất buồn, bất giác nắm chặt tay Mai : -Chiến dịch đã vào giai đoạn quyết liệt, anh và Đoan cũng sắp về tỉnh nhận công tác mới. Chú Chín Tòng cố sắp xếp thời gian cưới nhưng không có. Hay là... Mai nhỏ nhẹ cắt lời Lâm: -Làm cách mạng sống chết cũng cần phải có tập thể, việc cưới xin cũng phải vậy, biết làm sao bây giờ. Lâm mạnh dạn: -Hay là mình đề nghị chú Chín trong tuần này làm lễ tổ chức cho mọi việc êm xuôi. Mai cố giải thích: -Không được anh à, tiềm thức con người lớn hơn mình tưởng. Em biết nếu tổ chức cưới thì cả xã phải nghỉ cả ngày, thời gian không có, chú Chín và anh Đoan không chịu đâu. Lâm thở dài ngồi lặng yên nắm tay Mai. Mai lỷ kỷ: -Từ hôm hai đứa mình lấy nhau đến giờ đã hơn hai tháng, chuyện đàn bà không có, em biết mình đã có. Đằng nào mình lấy nhau có con rồi, anh cứ phấn đấu em chấp nhận tất cả. Lâm nhìn thẳng vào mắt Mai : -Mai à...Dư luận con trai không bằng con gái, nhất là hiện nay em là bí thư hãy để anh tính, bằng giá nào anh phải bảo vệ cho em. Mai cười nhìn Lâm, giọng buồn buồn: - Phận con gái...Khi trâu đã đóng cọc, đâu còn như thời con gái. Dù sao chúng mình đã báo cáo tổ chức rồi. Em chỉ mong anh đừng phụ em. Lâm ôm chặt Mai vào lòng rưng rưng nước mắt: - Em đã gởi gắm cả cuộc đời cho anh. Anh sẽ làm tất cả để chúng mình được cưới, em chịu không? Mai ngạc nhiên: - Anh thuyết phục chú Chín bằng cách nào? Lâm nghiêm giọng: - Miễn là em chịu bằng cách nào để anh tự lo. Mai cúi mặt bẽn lẽn: - Tùy anh... Lán du kích vắng teo, chỉ còn một mình Đoan ngồi hí hoáy viết báo cáo. Lâm xăng xái bước vào lay đầu võng: - Nè... tao có chuyện cần nói. Đoan cười tinh nghịch: - Mày với con Mai mới hội ý rồi tới đây báo cáo sư phụ chứ gì? - Ừ...Sư phụ, sư chính gì thì mày cũng nghe đã. - Vậy báo cáo kết quả tao nghe. - Tao định tổ chức đám cưới trước khi bọn mình về cơ quan. - Mày không thể “khoan” được nữa à? - Mày với chú Chín lúc nào cũng “khoan”. Tao nói nghiêm túc đấy. Đoan cười khanh khách khi thấy bộ mặt nghiêm túc lẫn lúng túng của Lâm liền vỗ vai bạn : - Hà ...Hà... Tao không đồng quan điểm với chuyện “khoan” của mấy ông già áp dụng “ba khoan” cho lớp trẻ như cái máy. Nhưng tao cũng không đồng ý những thằng chỉ có “khoan” cho thủng bụng con nhà người ta sau khi thỏa mãn thì chạy làng không dám nhận tội hủ hóa. - Mày lúc nào cũng dỡn được Đoan à. Đoan bỗng nghiêm giọng: - Chú Chín nói đúng đấy Lâm à. Cưới rồi thì cả hai đứa cùng khổ, mày thì chịu khổ ít còn Mai sẽ khổ gấp trăm ngàn lần. Có con trong điều kiện gian khổ ác liệt không ai tưởng tượng được cái khổ đâu. Tốt nhất cứ tiếp sức cho nó bật trên đà tiến bộ hiện nay, hiểu chưa? Lâm làu bàu: - Mày cũng vô tình đâu có hiểu tao và Mai đã... - Sao? Mày với nó đã!... Giật mình, thấy Lâm cúi đầu im lặng, Đoan hiểu lý do Lâm và Mai cứ nằng nặc đòi cưới. Từ ánh mắt tinh nghịch, đồng cảm, ánh mắt Đoan bỗng bực dọc, giận dữ rồi dịu lại xót xa: - Mày làm khổ con Mai rồi!...Hèn gì!... Lâm ngượng ngùng: - Tao không thể nói dối mày, không thể trốn trách nhiệm bỏ mặc Mai lúc này. Đoan tư lự: - Cả bốn đứa mình hứa chăm sóc bảo vệ nhau, hồi nào mày ngon lành... Sao bây giờ mày vậỵ. Tao không tin con Mai... Lâm thấm thía: - Tại tao chủ động, Mai năn nỉ tao đừng!...Tại tao!... Chuyện đã rồi. Đoan nhìn Lâm: - Chuyện xẩy ra lúc nào? - Gần hai tháng rồi. Mai có bầu... Đoan giật mình rồi bình tĩnh lại: - Hèn gì... Lâm bộc bạch: - Mai hy sinh tất cả cho tao nên phải cưới sớm mới giữ uy tín cho Mai được. Giá chi lúc này cái bầu tao mang được cho Mai. Giọng Đoan trở nên thâm thúy, chua chát: - Vui thú say sưa chàng nhận hết. Khối tình kỷ luật thiếp xin mang. Vậy đấy Lâm à. Tao sẽ đến nói với chú Chín Tòng, mày phải thực sự nhận khuyết điểm và báo cáo cho cơ quan rõ việc mày và Mai. Đấy là con đường thông minh nhất hiểu chưa. Đoan thở dài: - Ở vào hoàn cảnh như bọn bay tao và Nguyệt chắc cũng vướng, thôi đừng làm khổ Mai. Lâm và Đoan ngồi bên nhau, thỉnh thoảng mới nói với nhau vài câu về những kỷ niệm của bốn đứa hồi một thời áo trắng...Có tiếng tách nhẹ của một cành cây khô rơi xuống, và có lẽ... Một mầm non sắp sửa đâm chồi.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #12 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2023, 08:55:00 am » |
|
Chương 13
1 Vậy là kỷ luật cảnh cáo của Lâm và Mai được thông báo, nói theo kiểu lính là tội “ăn cơm trước kẻng”. Nhờ có bản kiểm điểm của Lâm và Mai mà khối chàng trợ lý tỉnh đội xung phong về xã Phụng công tác. Lãnh đạo thì tiếc cho Lâm và Mai vì bồng bột mà bị kỷ luật. Riêng lớp cán bộ và chiến sĩ trẻ đa phần ủng hộ và thông cảm tình yêu của hai người. Chẳng vậy mà tại gộp Mùa Thu bên dòng suối Cái, nơi dừng chân của nhiều cán bộ, bộ đội đã có một cuộc tranh luận sôi nổi. Câu chuyện bắt đầu từ một tốp cán bộ dân chính và bộ đội nấu cơm chung ăn cho vui rồi đem chuyện Lâm và Mai ra tranh luận đúng, sai và anh chị em nhiều đơn vị nhảy vào “tham chiến” khiến câu chuyện trở nên sôi nổi. Một chàng sĩ quan nhanh nhẹn đặt nồi cơm lên rồi quay lại xen vào cuộc: -Mình hỏi các ông, thế yêu không được quyền ngủ chung với nhau à. Miễn là thành vợ thành chồng chung thủy với nhau là tốt rồi. Một cô gái cắt ngang: -Đâu được, phong trào thanh niên “ba sẵn sàng, ba khoan” anh để đâu. Một anh cán bộ dân chính nói ngay: -Em ơi anh khốn khổ về cái khoản ba khoan. Lấy vợ là lẽ đương nhiên của ông bà ta từ xưa tới nay. Chiến tranh lâu dài gian khổ, phải có thế hệ kế tiếp lớn lên tiếp tục đánh Mỹ chứ. Cô gái trả lời gọn trơn : -Vậy em hỏi anh: Ai thoát ly cũng chỉ lo lấy vợ, lấy chồng ắt phải sinh con. Trẻ con trên căn cứ đông thì phải lập nhà trẻ. Vậy địch nó càn lên dắt trẻ con chạy đi đâu. Lúc đó trẻ khóc thì có khác gì lạy ông tôi ở bụi này với địch. Một anh lính ngồi thẳng người, nhướn cổ kêu lên: -Chà! Lính bà Định có khác. Nhưng em ơi, nếu em chưa yêu thì có anh đây ứng chiến, lúc đó em biết thế nào là yêu thì phải cưới ngay. -Cái ông quỷ chỉ được cái bạo miệng... Cô gái mắc cỡ liếc nhìn anh lính. Anh chàng dân chính lại lên giọng: -Tôi nói thiệt... Ông Lâm và bà Mai rất khôn, phải cảm ơn kỷ luật mới đúng. Chiêu thức hai người thuộc loại cao thủ võ lâm đấy. Anh chàng sĩ quan hùa theo: -Ông nói chí phải, nếu không tấn công ồ ạt, đánh vào “ thung lũng” trận địa thì mấy ông bắt “ba khoan” tới già, chiến tranh còn lâu dài gian khổ, phải không mấy ông bạn? Một cô gái nói đỡ cho bạn: -Mấy anh chỉ già miệng ăn hiếp con gái thôi, yêu thì em chấp nhận còn chuyện đó... phải xét lại, tốt nhất là không có gì mới công tác tiến bộ được. Anh chàng dân chính nháy mắt tinh nghịch: -Em ơi, khoan lui làm gì, anh thì cứ khoan tới... Nếu có con, anh sẽ nói với con rằng: Con ơi đời ba đánh Mỹ không xong, đời con hãy tiếp tục đánh Mỹ đến thắng lợi cuối cùng. Nhiều ý kiến reo lên: -Chà... lời nói vừa có tình riêng, vừa có ý chí tiến công địch, hay thiệt. -Ông này cho làm chính trị viên thì hết ý. -Các em ơi, biết đâu lần gặp gỡ này chúng mình sẽ học tập anh Lâm, chị Mai, cho anh biết hòm thư của em, chúng mình sẽ viết thư cho nhau. Riêng ông Chín Tòng thì thật sự ân hận. Lâu nay ông vẫn ngầm tự hào mình là người dạn dày kinh nghiệm. Ông tin vào bản lãnh, sự phấn đấu vươn lên của lớp trẻ. Nhưng ông quên và sơ sót một điều, dù là người cộng sản gan đồng, dạ sắt họ vẫn là một con người. Vậy yêu đương đâu hẳn là khuyết điểm. Giá như ông nhạy thêm một chút và hiểu sâu thêm cái “lý cắc cớ” của tình yêu thì đâu đến nỗi nào. Ông tự trách cách xử lý của mình thiếu nhạy bén nên để mất đi một bí thư xã năng nổ, bản lĩnh và đầy triển vọng, nhất là Lâm và Mai đều là những cán bộ do ông dẫn dắt mà trưởng thành. Ông Chín Tòng nghĩ đến Mai, nghĩ đến một loạt con gái ở xã tới đây rồi cũng sẽ yêu và có chồng như Mai... bất giác thở dài. Dẫu sao thì ông Chín Tòng cũng đề nghị tỉnh đội xuống làm lễ ăn hỏi để nhà gái tổ chức đám cưới, phép tắc ông bà ngày xưa quan trọng, là bước ngoặt lớn của đời người, như vậy tình nghĩa vợ chồng mới trở nên thiêng liêng, hạnh phúc. Đám cưới của Lâm và Mai được tổ chức tại căn cứ xã Phụng. Ý của ông Chín Tòng qua đám cưới của Mai phải là một bài học giáo dục cho anh em ở xã: Thứ nhất là khi đã yêu rồi không nên “tạm ứng trước” rồi mới báo cáo thì nhất định sẽ bị kỷ luật. Thứ hai là khi đã sai thì thành thật nhận khuyết điểm sửa chữa, lãnh đạo và tập thể sẽ không bao giờ bỏ anh. Thứ ba là biết sửa sai thì điều kiện tiến bộ của anh vẫn rộng mở phía trước chứ không phải đến đấy là hết. Còn một ý nghĩa nữa nếu có tinh mới hiểu được ông Chín là dù sao Mai cũng là con cưng của xã. Toàn bộ cán bộ, du kích trong xã được rút về căn cứ. Mời một số khách ở dưới làng lên để họ thấy được cách thức tổ chức đám cưới của cách mạng. Sau đám cưới về dưới làng họ sẽ nói cho bà con hiểu người cộng sản rất dân tộc, rất tân tiến chứ không phải như bọn địch nói cộng sản không có gia đình, quê hương, vợ chồng gì trơn, cái gì cũng cộng chung ráo trọi. Rồi khách ở tỉnh, ở huyện trong đó có mấy ông lãnh đạo là bạn tri kỷ của ông Chín nhất định có mặt. Ông Chín Tòng thì lo vậy, còn anh em cán bộ xã và nhất là du kích thì vui ra mặt. Mấy khi cả xã tập trung liên hoan và ca hát. Phái nữ ở xã lại khác, từ Chín Phượng đến thím Năm lo nấu nướng và ủi quần áo. Nghe tin Mai lấy chồng, bà con xã Phụng xúm lại cho bánh kẹo và cả một con heo. Vậy là Út Hân cùng hai tổ du kích xuống làng gùi quà và khiêng heo lên cứ. Riêng mấy cô du kích hợp pháp gởi lên một bộ dây xúc xích hoa ny-lon để trong hộp đàng hoàng, bắt tội mấy chàng du kích thay nhau ôm hộp hoa khư khư trước ngực, còng lưng gùi hàng, mà vẫn lo trượt chân ngã mà hư bộ dây hoa thì uổng công biết bao. Còn Tỉnh đội cho hẳn một họa sĩ xuống cắt chim hoa và chữ dán trên phông trang trí phòng cưới. Đám cưới của Lâm và Mai trở thành đám cưới to và trang hoàng lộng lẫy. Ông Chín Tòng phải công nhận là đẹp hết ý và nói nửa đùa, nửa thiệt với đồng chí họa sĩ: -Mấy ông tổ chức như vậy, bọn con gái đua nhau lấy chồng hết, có nước chết bọn tôi... Lo sao nổi. Đồng chí họa sĩ hóm hỉnh: -Chú thứ chín thì tổ chức chín cặp là vừa. Tên chú là Tòng thì cứ tòng theo cái mẫu này mà tổ chức. Sau này thành ông ngoại tha hồ lắm con cháu. Xã tổ chức riêng một nhà trẻ, một ban hậu cần lo ăn cho bọn trẻ. Ông Chín Tòng phá lên cười: -Tôi có một cái cằm mà phải mọc chín bộ râu để làm ông ngoại cho chín đứa...chắc chết quá. Bỗng anh chàng Yến phóng viên của tờ báo tỉnh là bạn chí cốt của Đoan và Lâm xồng xộc vác ba lô xuống xã. Công việc biên tập, in ấn ở tòa soạn ngập đầu, vậy mà bịa lý do lấy tài liệu viết phóng sự cho số báo tới, lãnh đạo tưởng thật cho Yến đi. Sự thật trong ba lô Yến đã có bài phóng sự, nhưng không thể vô trách nhiệm với bạn nên bịa chuyện để đi dự đám cưới. Là phóng viên báo nên bao giờ đi công tác cũng thủ chiếc máy ảnh Ca-non trong ba lô, Yến đã làm con toán khá chi li: cuốn phim nằm trong máy đã chụp chỉ còn lại chín pô. Năm pô dành cho cô dâu, chú rể, một pô dành cho ông Chín Tòng, một pô dành cho Đoan, một pô chụp chung và một pô chụp Năm Đồng đang chế tạo pháo 105 ly thành mìn tại xưởng công binh của xã. Tình thế lật ngược, Yến đành phải móc một cuộn phim mới ra để chụp vì người quá đông. Những cô gái chàng trai ở tỉnh ủy, tỉnh đội, thị ủy xuống địa bàn công tác đều muốn chụp pô ảnh làm kỷ niệm. Ông Chín Tòng tự hào nói với anh em ở xã: -Ông bà xưa nói giàu vì bạn sang vì vợ, mấy người ở dưới làng lên dự đám cưới ai dám bảo cách mạng nghèo, chính sức mạnh tổng hợp mới có đám cưới như vậy đó. Chín Phượng nói giỡn: -Vậy đến lượt con, chú cũng tổ chức như thế này chứ? Ông Chín Tòng cười rạng rỡ: -Chị Mai mày yêu đã bảy tám năm rồi, còn bọn bay chưa được. Nhự thiệt thà: -Vậy chi Mai yêu anh Lâm từ hồi mười lăm tuổi à chú? Dữ quá ta... Ông Chín Tòng xua tay: -Bậy nào... ấy là tao độ chừng ngần ấy năm, ai lại yêu từ năm mười lăm bao giờ. Thấy Yến và anh chàng họa sĩ đang đứng nói chuyện với nhau, ông Chín Tòng vẫy hai người lại nói chuyện. Trước mặt anh em xã Phụng, ông Chín vỗ vai hai người: -Các đồng chí thấy không, các nhà báo, họa sĩ về giúp đám cưới, con Mai tuy khuyết điểm nhưng quan hệ xã giao là điều phải học tập nó. Sở dĩ xã Phụng đạt được nhiều thành tích là nhờ nhiều người giúp. Ông Chín Tòng vỗ vai anh chàng họa sĩ: -Tôi nhờ anh một việc, anh vẽ giúp cho ông bạn tôi một tấm hình. Ông ấy nói sau này có chết thì lấy ảnh đó mà thờ. -Sao ông ấy nói gở vậy chú? Ông Chín Tòng chậc lưỡi: -Tại tôi quảng cáo là họa sĩ cách mạng trông người mà vẽ y chang, ông bạn cứ năn nỉ tôi hoài . Anh chàng họa sĩ đành phải đồng ý và mắt lóe lên một ý định sáng tác từ bức tranh sắp vẽ này. Quay lại phía anh em xã Phụng, ông Chín tuyên bố một câu xanh rờn: -Nhà báo cách mạng sẽ bồi dưỡng cho anh em chúng ta món ăn tinh thần bằng chiếc máy ảnh đem theo. Chúng ta sẽ được đồng chí Yến chụp ảnh. Mời mọi người tới chụp thoải mái. Ông Chín Tòng hể hả nói với Yến: -Món ăn tinh thần này quan trọng lắm, mấy khi được mấy ông động viên. Yến ái ngại cười nói nhỏ: -Còn phim... -Ái dà... Máy đó, giơ lên bấm thu hình thoải mái, thôi mình đi một lát rồi quay lại, ta sẽ tiếp tục câu chuyện. Yến đứng như trời trồng, mặt vẫn phải tươi như hoa trước sự hoan hỉ của anh em xã Phụng. Gật đầu chào mọi người, Yến tìm Đoan nói nhỏ: -Đoan ơi, tao chỉ còn một cuộn phim ba mươi sáu pô thôi, chú Chín Tòng tuyên bố cho anh em chụp thoải mái, làm sao bây giờ? Đoan phì cười: -Tại chú Chín không biết, cho rằng máy ảnh của ông là vạn năng, giơ máy lên bấm là có hình ngay, chụp bao nhiêu cũng được. Yến lúng túng: -Thật là khó xử. Đoan phì cười: -Câu tuyên bố xanh rờn của chú Chín thì chỉ có cách cho mày uống thuốc mới trị được. -Thuốc gì? -Thì loại thuốc “cố lên nè”, “ khó khăn khắc phục nè”. Ông biết đấy, ở rừng núi ngoài các ông ra thì lôi đâu ra phim. Sao ông không xử dụng ngón nghề của ông vừa “viết” vừa “lách” trong trường hợp này. Yến nghe Đoan nói bỗng cười khì chắp hai tay: -Có lý... Bái kiến quân sư. Đoan ngạc nhiên: -Tôi giúp gì ngoài bài văn chính trị an ủi ông? Yến mỉm cười không nói, đeo máy ảnh đến chỗ ông Chín Tòng vui vẻ: -Chú à, người đông quá nên ai không phải là diện quan trọng cho chụp trước, người quan trọng trong đám cưới ta bố trí chụp riêng như vậy hợp lý hơn. Ông Chín Tòng tâm đắc: -Đúng, nhà báo có khác, bố trí như vậy là hợp lý, để tôi đi thông báo cho lũ nhỏ. Thông báo của ông Chín được mọi người răm rắp chấp hành. Ai cũng khen nhà báo tâm lý, bố trí hợp lý. Đám cưới chụp riêng mới vui và ý nghĩa còn người không quan trọng thì chụp riêng khỏi mất công vừa lo dự đám cưới, vừa lo đi chụp ảnh. Từng tốp nam nữ cho than hồng vào chiếc ca US cho nóng lên làm bàn ủi, ủi quần áo. Mấy căn nhà được trưng dụng làm nơi chải tóc, soi gương. Mấy chàng trai tranh thủ lấy tay, cào lên đầu cho rõ đường ngôi. Nói chung, khí thế đi chụp ảnh xem ra rộn ràng như đi nhận phần thưởng. Từng tốp nam nữ thay nhau chụp chung, chụp riêng, không những vậy, họ còn tìm cảnh để chụp ảnh, vì vậy anh chàng Yến bị lôi xềnh xệch hết chỗ này đến chỗ khác. Yến tỏ ra rất ngoan, ai lôi đi đâu cũng được và tới là giơ máy, lên phim, ngắm và chụp. Thỉnh thoảng đứng nhìn quanh không thấy ai, Yến chép miệng: “ Mô phật! Dù sao cũng chưa có nghĩa trang cho thằng nói láo...Lâm ơi là Lâm... Cưới ơi là cưới...” Đoan thấy Yến chụp ảnh lia lịa lo quá tới ghé tai nhắc nhỏ: -Sao ông chụp lia lịa vậy. Phải giành phim để chụp cho đám cưới và bọn tôi nữa chứ. Yến tặc lưỡi ghé tai Đoan nói thầm: -Mình đang thực hiện chiến thuật phản ứng linh hoạt do ông bày cho đấy. -Sao? Yến thì thầm: -Máy không có phim, lần sau xuống các đơn vị tôi chụp trả nợ cho họ sau. Phim dành cho chương trình cưới còn nguyên. Ông bí mật kẻo biết họ chửi có nước tôi chui xuống lỗ nẻ họ cũng kéo lên mà chửi đấy. Đoan phì cười đấm vào lưng Yến: -Mày chết với ông!...Ông sẽ... -Thôi bí mật! Tôi xin ông kẻo đám cưới mất vui tội chúng nó. Đoan lắc đầu: -Tao chịu mấy cha nhà báo...Láo một cây. Lúc này Yến mới phá lên cười: -Ông dạy tôi “viết” phải “lách”, tôi làm theo ý ông chỉ dẫn đấy chứ. Ông quên là tôi đã tôn ông làm quân sư rồi à. Đoan và Yến cười rũ và kéo nhau ra góc vườn táo nhơn cạnh con suối cạn tâm sự. 2 Cảnh cô dâu chú rể thời kháng chiến ở đâu cũng gọn gàng và tư trang duy nhất của họ là ba lô và khẩu súng. Ba lô của hai người nằm song đôi trong lán. Chín Phượng, Nhự và Đào quấn quýt giúp cô dâu chải đầu thay quần áo mới. Họ bắt Mai ngồi tới giờ “tuyên bố” mới ra trình diện. Mai mặc chiếc áo hồng, mái tóc xõa ngang vai, ngồi và làm theo lệnh của các cô gái. Lán của ông Chín Tòng được chọn làm phòng cưới, tấm phông màu xanh lơ căng rộng, đối diện với tấm phông là hai dãy bàn ghế. Anh em du kích lên tận suối Sổ chặt cây vác về làm bàn ghế. Những sợi dây chìu đỏ hồng chẻ mỏng, kết cây lại thành mặt bàn và mặt ghế, phẳng phiu nổi lên những đường viền màu hồng đậm. Trên tấm phông trang trí được cắt bằng giấy trang kim óng ánh hình hai trái tim, hai chữ L-M lồng vào nhau. Đôi chim bồ câu ngậm một cành ô liu nâng hai chữ hạnh phúc nằm ở trung tâm. Chạy dài phía dưới phông là chữ “Vui duyên mới không quên nhiệm vụ”. Một khoảng trống còn lại của phông, người họa sĩ đính những ngôi sao tượng trưng cho hạnh phúc của họ bay vào bầu trời lung linh sao sáng. Chiếc ca US được trang trí thành lọ hoa để trên một chiếc bàn nhỏ cắm đầy hoa rừng. Kiểm tra từng chút một, chú Chín Tòng chậc lưỡi tiếc rẻ cái lán hẹp và thấp làm cho hai dải hoa ny-lon dăng chéo trong lán vẫn còn thừa quá nhiều. Chú thầm nghĩ, đám cưới này mà ở dưới làng nhất định được xếp vào loại sang đây, chiến tranh được như vậy là quí lắm rồi... Có tiếng xôn xao nói cười, chú Chín Tòng vui hẳn lên bước vội vẫy Đoan theo mình. Năm sáu bà con dưới hợp pháp lên căn cứ dự đám cưới. Người nào người nấy bùn lấm tới đầu gối và một cái giỏ cầm tay. Mới nhìn thấy chú Chín Tòng, má Hai Hiền tay chỉ vào cái giỏ: -Quần áo cưới... Đoan bỗng sững người: -Nguyệt!... -Anh!... Đoan chạy tới chỗ Nguyệt, ông Chín Tòng cười ran: -Bất ngờ hả... Khách từ Sài Gòn về đó. Quần ống thấp, ống cao Nguyệt đứng ngây người nhìn Đoan. Đoan luống cuống: -Tất cả đi rửa chân tay đã chứ. Thấy Nguyệt cứ đứng nép vào bóng cây cùng Đoan nói chuyện quên cả rửa chân, Út Hân giục: -Anh Đoan, nói khách đi rửa chân còn thay đồ, ăn uống, dự đám cưới chứ. Ông Chín Tòng cười xòa: -Đấy là người của anh mày mời lên, anh mày tự lo. Đám cưới qua rồi, mọi người đã trở về nhưng dư âm của những lời thơ, câu hát, những tràng vỗ tay như vẫn còn đọng lại ở căn cứ xã Phụng. Đã lâu lắm rồi, Mai và Nguyệt mới có dịp ngồi lại nhau tâm sự. Dồn đồ vào ống pháo quay về phía Nguyệt, Lâm cười thoải mái: -Tư trang, gia tài của bọn mình cũng nhiều đấy chứ. Nguyệt mỉm cười: -Em về dưới đó sẽ gởi lên một ít đồ cho mẹ con Mai dùng. Mai thư thái: -Đời cách mạng nhiêu đấy là đủ, ngoài cái ba lô ra, thêm cái gì vướng cái đó. Lâm gọi với sang nhà bên: -Đoan à... sang đây bọn mình nói cái này. Đoan vừa vào, Lâm phân công ngay: -Ông ngồi nói chuyện với Nguyệt, bọn mình đi dấu ít đồ. Đoan cười: -Những thứ gì trong đó? Lâm hể hả: -Quan trọng nhất là đồ kỷ niệm và quần áo, tã lót trẻ con. Lâm nháy Mai rồi xốc ống pháo đựng đồ lên vai đi trước, Mai ngoan ngoãn bước theo sau. Vừa đi Mai vừa nhắc chồng: - Anh biết không, em bắt chôn gạo trong gộp đá mà bọn Đại Hàn vẫn chui xuống gộp, moi lên được đấy. Lâm quệt mồ hôi trán: -Yên tâm, dấu chỗ bất ngờ em hiểu không? Mai ngồi trên một tảng đá mỉm cười mãn nguyện nghĩ thầm: “Mọi việc đã êm xuôi, mình lo nuôi con để cho Lâm công tác tiến bộ”. Tiếng ve kêu râm ran trong rừng, Mai thấy vui lạ lùng. Lâm từ dưới gộp đá leo lên thở một hơi dài khoan khoái: -Ta về em. Mai ưu tư: -Đêm nay Nguyệt xuống làng, lại vào Sài Gòn tiếp tục học rồi.- Mai bỗng trách Lâm:- Anh vô tình thật đấy, đáng lý để Đoan với Nguyệt nói chuyện với nhau... Anh cứ bắt em nói chuyện với nó nhiều làm gì. Lâm cười hiền lành: -Không ai biết ma ăn giỗ ở chỗ nào, em khéo lo cho bọn nó làm gì cho mệt. Vừa về đến nhà đã thấy cô giao liên hợp pháp lên đón Nguyệt. Mai hỏi cô giao liên: -Nguyệt đi ngay à? -Dạ, tình hình êm, đưa chị Nguyệt tắt qua thôn Đại Bình tới chợ Phong Niên đón xe lam về thị xã chị à. -Liệu có an toàn không? Cô giao liên sờ vào bụng Mai: -Mấy tháng rồi? -Ba tháng. -Chị hên thiệt, có vốn đi chợ rồi. Mai nắm tay Nguyệt đứng lặng im, Nguyệt thủ thỉ: -Mày và anh Lâm nhớ chăm sóc anh Đoan giúp tao nghe. -Mày yên tâm, ráng học giỏi, thành nghề cũng thoát ly như bọn tao. Trên cứ ngành y thiếu lắm Nguyệt à. Nguyệt chân tình: -Ăn dưa, ăn muối mà vợ chồng thương yêu nhau là đủ lắm rồi, mong tao và anh Đoan cũng hạnh phúc như bọn mày. Mai khúc khích cười: -Thôi mày ơi, trâu đã đóng cọc, ván đã đóng thuyền, đi đâu cũng phải xin phép phu quân mệt lắm. Lâm và Đoan đi rất nhẹ tới chỗ Nguyệt đang nói chuyện với Mai bỗng Đoan phì cười: -Tâm sự ngắn dài, nông sâu những gì cho bọn này góp với. Mai đẩy nhẹ Nguyệt về phía Đoan: -Giao nó cho anh tâm sự. Đoan dang hai tay, ưỡn người: -Đã tranh thủ tâm sự rồi. Nguyệt cười ngây thơ: -Ở căn cứ lúc nào cũng vui, vậy mà anh Đoan nói gian khổ, ác liệt lắm. Mai giảng giải: -Những nỗi gian truân trong cuộc sống của anh em trên cứ phải có thời gian mới nói hết được Nguyệt à. Mọi người tiễn Nguyệt ra sát mương số 1 và đứng lặng nhìn theo bóng Nguyệt lội trên đồng xa dần trên cánh đồng Tuy Hòa xanh thẳm dập dìu trong nắng và gió.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #13 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2023, 10:22:20 am » |
|
Chương 14 Hậu cứ xã Phụng nằm tại chợ Đồn thuộc cao nguyên Vân Hòa. Thời Pháp đóng đồn ở đây nên gọi là chợ Đồn. Là vùng cao nguyên đất đỏ màu mỡ, chợ Đồn ngày xưa nổi tiếng có những đàn bò u to và khỏe, những rừng thơm, rừng mít, rứng trái đỏ ngọt ngào hoa trái. Lực lượng địch bị vây ép vào các thành phố, thị xã, chợ Đồn trở thành căn cứ địa cách mạng của tỉnh. Vì vậy chợ Đồn cũng là hậu cứ sản xuất của nhiều đơn vị Huyện, Thị và Tỉnh. Bọn địch cố sức lắm thì hàng năm cũng chỉ tổ chức càn quét lên vùng này hai ba lần. Dẫu sao thì hậu cứ vẫn là nơi xa địch, an toàn hơn so với các địa bàn trực tiếp chiến đấu. Ông Chín Tòng quyết định cho đôi uyên ương hưởng tuần trăng mật tại hậu cứ của xã quả là điều kiện lý tưởng cho Mai và Lâm. Hồi nhỏ Lâm nghe mẹ và các bà truyền miệng cho nhau câu “tháng ba, tháng bảy, dễ sẩy, dễ sa”, Lâm tặc lưỡi “Giữ cả chín tháng mười ngày là an toàn nhất, mình đâu phải nghề y, phòng bệnh hơn chữa bệnh là đại sách”, bởi vậy, trên đường từ căn cứ về hậu cứ xã, Lâm chỉ cho Mai đeo một chiếc ba lô, còn mọi thứ mình mang vác hết. Tới suối Sổ hai vợ chồng dừng chân nghỉ lấy sức, Lâm vừa thở vừa nói giỡn với vợ: -Phải vượt qua núi Lỗ Chài mười hai đoạn dốc, rồi vượt qua dốc lại dốc hai đứa mình mới tới được nơi hưởng tuần trăng mật kể cũng lạ. Lau mồ hôi cho chồng Mai tủm tỉm: -Yêu lắm thành quỷ nên trời đày hai đứa mình đấy. Lâm cười ha hả: -Ở các nước tiên tiến, khối anh muốn một tuần trăng mật tại vùng cao nguyên lộng gió và đầy ắp sương mù như hai đứa mình mà không được đấy em à. Mai rót nước trà nómg trong bi đông, lấy đường phèn đưa cho chồng: -Uống đi cho khỏe tối nay anh hát thiệt to giữa cao nguyên lộng gió cho em nghe. Lâm cầm ca nước uống bỗng khoát tay ra hiệu cho Mai im lặng. Trao bi đông nước cho vợ, rút súng nép vào thân cây Lâm quan sát, mỉm cười ra hiệu cho Mai ngồi im. Tay cầm khẩu K54, Lâm lẩn vào rừng áp sát nơi có tiếng kêu “khịt khịt”. Phát hiện bầy Hón đang ăn trái gắm, Lâm khom người ẩn mình trong cây rậm từ từ nâng súng ngắm rồi nhanh chóng nổ súng. Con Hón rơi xuống và nằm giãy đành đạch. Nhẹ nhàng tới gần, kê súng bắn bồi rồi mới xách con Hón nặng tới năm, sáu ký xốc lên vai Lâm vác về để mặc cho máu dính vào áo. Thấy chồng Mai reo lên: -Con Nhím to quá. Lâm cười đắc ý: -Đây là con Hón chứ không phải con Nhím. Mai xuề xòa: -Thì Hón hay Nhím cũng như nhau. Lâm giảng giải: -Con Nhím thân dài, mỏ nhọn, con Hón thân ngắn tròn mình, tuy rằng chúng cùng một họ. Lông Hón ngắn, màu nhạt hơn lông Nhím em hiểu chưa? -Dạ... Thưa thầy em hiểu rồi. Một tốp dân chính đi lấy gạo vừa tới. Lâm vẫy cả tốp lại cùng nhau thui Hón. Mấy chàng bộ đội thấy Mai có bầu bấm nhau cười khúc khích. Một cậu tò mò hỏi Lâm: -Anh dẫn chị ấy đi sinh à? Lâm trợn mắt cười cú vào đầu chàng lính trẻ: -Bao nhiêu tuổi rồi, quê ở đâu? -Dạ em mười tám, quê ở Hải Phòng. Một cậu bộ đội khác chen vào: -Nó nói láo đấy, mới mười bảy thôi. Ở miền Bắc mười bảy mà cao to là đi bộ đội và được vào Nam chiến đấu rồi thủ trưởng à. Lâm cười khà: -Cái thằng, chưa mọc lông ở chỗ quí thì làm sao biết được phụ nữ khi nào sinh. Cậu lính đỏ mặt thanh minh: -Thì cứ bụng to là sinh. Quê em là vậy tất. Tất cả cười ầm lên, Mai đỏ mặt đấm lưng chồng: -Ông quỷ... Toàn bày chuyện tào lao cho bọn trẻ. Thịt Hón nấu xong, mấy cậu lính trẻ giơ bát Trung Quốc lên, lấy đũa gõ và nói to: -Kẻng ăn cơm... Tập trung toàn đơn vị Tất cả quây quần vừa ăn vừa xuýt xoa vì thịt cho nhiều tiêu và ớt quá. Ăn xong, một cậu lính trẻ đem cả đùm muối ớt nhét vào ba lô của Mai và giải thích: -Bọn em xuống làng, chị lên cứ lấy ăn cho ngon miệng. Trên cứ thiếu muối lắm. Mãi tới bốn giờ chiều, vợ chồng Mai nới về tới hậu cứ xã. Thím Năm, ông Tư Hàm kinh tài, mấy cậu du kích xã đã chuẩn bị sẵn chỗ cho hai vợ chồng nghỉ ngơi. Mọi người dành cho hai vợ chồng ở riêng một lán. Đêm... Bên ánh lửa bập bùng, mắc võng nằm bên nhau rì rầm Lâm ghé vào tai vợ: - Cám ơn kỷ luật anh mới được lên chức làm cha. Mai đấm vào vai chồng: -Vậy mà cũng nói hì... hì... Em có con là có vốn đi chợ rồi lo gì. Lâm ôm lấy vai Mai: -Bà xã của anh... giỏi. Mai cười khúc khích: -Anh chỉ được cái mèo khen mèo dài đuôi thôi. Ngoài trời, rừng đêm đen tím bao la. Tiếng những con chim ăn đêm hòa với tiếng côn trùng như một bản nhạc bất tận. Tiếng gió rừng rào rào thổi lướt qua nương sắn. Từng mảng sương mù lành lạnh khi thoảng đến khi bay xa. Cứ vậy, rất lâu... Lâm ôm ghì lấy vợ trong tiếng thở gấp nồng nàn. Ánh lửa lung linh chờn vờn bóng hai người... và tiếng rên nhè nhẹ thiết tha theo nhịp thở và đôi tay co riết của Mai ôm chặt lấy chồng. Sáng sáng, Lâm cùng anh em ra rẫy làm cỏ sắn, kiếm củi, gài bẫy bắt chồn, sóc... Thấy vợ ngồi khâu Lâm cũng lấy kim chỉ cùng ngồi khâu với vợ. Mai hỏi chồng: -Anh học khâu từ lúc nào mà giỏi vậy, chẳng bù mấy đứa du kích xã quần áo rách là lén dúi vào ba lô mấy đứa con gái nhờ khâu hộ. -Ở đơn vị không có con gái, quần áo rách không tự may vá thì ai làm cho mình, với lại sắp được làm cha anh phải lo cho con chứ. -Có mong thì cũng phải chín tháng mười ngày. Em đố anh biết ngày nào em sinh. Lâm cười giảng hòa: -Thì cứ từ ngày anh đến với em đếm lên chín tháng, cộng vào mười ngày là ra tất. Mai phì cười: -Anh thích con trai hay con gái. -Trai gái gì không được nhưng con trai thích hơn. -Con trai để nối dõi tông đường chứ gì. -Không, nó lớn lên tiếp tục thay cha đánh Mỹ giải phóng quê hương. -Con nhà quân sự có khác, lo xa dữ. Lâm rung đùi: -Hà...hà... Đấy là lo chung, còn bây giờ lo cho mẹ tròn con vuông, sinh nở là việc trọng đại của đời người, khó khăn lắm chứ. Lâm nhìn Mai nháy mắt: -Giá người mà đẻ như gà, thì để đâu cho hết người. -Ông quỉ, nói ghê cả người, phụ nữ sinh như gà thì còn bộ xương, tha hồ cho mấy anh kiếm gái, bồ bịch. Lâm thanh minh: -Một bà là đủ rồi, hai vợ nằm co vì bà nào cũng giành biết ở với ai, ba vợ ra chuồng heo nằm vì bà nào cũng đuổi. Mai đấm vào lưng chồng giãy nãy khi Lâm ôm choàng lấy mình: -Ông quỉ... nghịch quá trời, cẩn thận kẻo kim chích vào người. Lâm cười vang đứng dậy, tới cầm con rựa quay vào nhà dặn vợ: -Em không được làm việc nặng, chiều phải tắm sớm kẻo dễ bị cảm, anh ra rẫy một chút rồi anh về. Chẳng hiểu học đốt than từ lúc nào, sau hơn hai giờ ra rẫy, mặt mũi lấm lem, Lâm gùi về một gùi than to và nhìn vợ cười. Chạy lại đỡ gùi cho chồng, Mai bùi ngùi nghĩ thầm: “ Tội nghiệp... Thời còn đi học lúc nào cũng như công tử, mà bây giờ việc gì cũng làm thoăn thoắt...”. Đột nhiên Mai hỏi chồng: -Anh đốt than làm gì? Lâm ngạc nhiên: -Ơ... Đốt than để cho con và em sưởi sau khi sinh, em không biết à. Sực nhớ ra, mấy bà đẻ đốt than, quấn bụng khi nằm cữ, Mai đỏ mặt lúng túng. Giọng Lâm vẫn tỉnh bơ: -Than phải vừa to vừa chắc mới cháy đượm. Mai nắm tay chồng nước mắt rưng rưng: -Anh đừng lo cho em nhiều, tự em lo liệu được mà. Lâm nhìn vợ nói vui: -Hạnh phúc nhất là được phục vụ bà xã. Kéo chồng ra suối bắt ngồi lên tảng đá Mai rửa tay chân, giặt khăn lau người cho chồng. Lâm vui vẻ: -Để anh. -Không được. Người anh đang ra mồ hôi, tắm vào là cảm ngay. -Xin tuân lệnh bà xã. Lâm ngoan ngoãn ngồi để Mai lau người cho mình. Mai trách yêu chồng: -Anh soi xuống suối xem, chẳng khác gì thằng Mỹ đen. Lâm nhìn xuống suối thấy mặt mình lấm lem bỗng cười ha hả khiến Mai kêu lên: -Coi chừng ướt em. Lâm xắn cao quần cho vợ, thấy đôi bắp chân trắng ngần, bất giác sờ lên bụng vợ nói nựng: -Hư bầu của anh là anh kình đó nghe chưa? Mai hỏi lại: -Anh chỉ thương con chứ không thưong vợ sao? -Hà... hà... Vợ để “úm”. Con để thương, rõ chưa? -Ông quỉ... Tào lao quá trời. Mai đấm nhẹ vào lưng chồng: - Anh thay quần áo cho em giặt, tranh thủ nắng phơi cho khô. -Áo lính dày lắm để anh giặt cho. Họ nhìn nhau ngây ngất. Rừng bỗng nhiên lặng đi, nước suối lung linh trong vắt nhẹ chảy... Tất cả như dành cho họ. Thoang thoảng mùi thơm của mật ong trong rừng bay tới, chắc trong rừng có bầy ong mật đang xây tổ.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #14 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2023, 10:35:44 am » |
|
Chương 15
1 Sau tuần trăng mật, Mai về căn cứ xã công tác, ông Chín Tòng sợ Mai sẩy thai nên ít cho xuống làng. Một bữa, Mai và ông Chín Tòng xuống làng, sau khi họp với cơ sở, ông Chín ngồi nói pháo với bà con: -Các ông có biết tại sao trên căn cứ xã mình mấy đợt địch càn đều chết hoặc bị thương không? Một ông già trả lời chắc chắn: -Thì vướng mìn cách mạng đúng không? -Đương nhiên là vướng mìn. Ông Chín khoái chí vỗ đùi đánh đét rồi cao giọng: -Xã mình được trang bị loại mìn mới từ miền Bắc chuyển vào. -Ôi dà... Mìn nào chẳng là mìn. Ông Chín khoát tay: -Không phải, loại mìn này có tài bắt hơi thuốc xịt muỗi, nếu thấy mùi thuốc xịt muỗi của địch là nó hắt hơi nổ liền à... Mấy ông già, bà già cười vang. Có người hỏi lấp lửng: -Nói giỡn hay thiệt đấy ông Chín? Ông Chín cười ha hả: -Giỡn hay thiệt rồi sẽ biết. Bẵng đi ít tuần, tin xã Phụng có loại mìn mới từ miền Bắc đưa vào nổ sát thương cả một vùng, khi thấy hơi địch, lập tức trái mìn tự quay hướng và nổ về phía địch y như mìn clây-mo của Mỹ vậy. Tin tới tai bọn lính, bọn lính hỏi dân, dân hỏi cán bộ và du kích xã, ai cũng nói lấp lửng “Trên bí mật không cho nói”. Cuối cùng câu chuyện loại mìn đặc biệt từ miền Bắc trang bị cho xã Phụng đánh địch ai cũng tin là có thiệt. Anh em xã Phụng về căn cứ kháo nhau, ông Chín Tòng tủm tỉm cười: -Nghệ thuật đánh địch là trăm phương ngàn kế. Hù dọa cho địch sợ mà chạy cũng là một kế hay. Đánh giặc đâu chỉ có đàn trận và nổ súng. Thấy ông Chín vui, Hai Trúc bạo miệng: -Mìn ở bụng chị Mai ít tháng nữa cũng nổ đó chú Chín à. Ông Chín phì cười: -Ông cố nội cái thằng ... Mày là chúa nói ẩu. Sao lại ví cái bầu của nó với trái mìn. Út Hân hăng máu: -Loại mìn cả năm trời mới nổ đó chú Chín. Được thể Hai Trúc nói chặn: -Út Hân biết quái gì, khi đẻ bụng cũng nổ ầm một cái như mìn nổ mới đẩy được đứa trẻ ra khỏi bụng chớ bộ. Thấy Hai Trúc nghiêm mặt, Út Hân hỏi: -Thiệt không? Ông nói láo, nổ như vậy chị Hai bể bụng còn gì. Mọi người cười ngặt nghẽo, riêng Hai Trúc vẫn tỉnh bơ: -Không tin bữa nào mày về hỏi má mày xem có đúng không. -Lớn rồi ai về hỏi, kỳ lắm... Hai Trúc nói át tiếng cười của mọi người: -Để rồi lúc chị Hai sinh mày coi tao nói có đúng không, mắt tao thấy rồi mà. Mấy cậu bộ đội lập tức đặt chuyện: Ông Lâm tra kíp mìn vào bụng bà Mai. Bầu bà Mai nổ đánh ầm. Cả xã Phụng nghe thấy tưởng pháo tỉnh đường bắn tới vội nhảy hết xuống hầm tránh pháo, sợ quá Chín Phượng luống cuống miệng vấp phải đá gãy luôn một cái răng. Câu chuyện tán gẫu lại ầm lên đến tai Chín Phượng, Phượng tức lắm, cố tìm cho được anh chàng quỷ tha, ma bắt dấu tên dấu mặt dựng chuyện để trị tội. Điều tra không ra, Phượng ấm ức kể lại cho Mai nghe. Mai chỉ tủm tỉm cười và nói với Phượng: -Chuyện mấy ông bộ đội dựng lên để tán gẫu, hơi đâu mà tức. Phượng đỏ mặt: -Thằng cha nào dấu mặt cứ nhè em mà chọc hoài. Mai bật cười: -Mấy ông ấy dựng chuyện thì con muỗi cũng thành con voi, vậy mới gọi là chuyện lính. Phượng đỏ mặt: -Nhưng em ghét cái thằng cha trửng mỡ chuyên dựng chuyện tào lao. Mai bâng quơ: -Ghét hay thương đó cô nàng? Có khi anh chàng nào đó mê em rồi kiếm cớ để bắt chuyện cũng nên. Chín Phượng thanh minh: -Làm gì có chuyện đó. Mai nhìn Chín Phượng bật cười: -À... Có khi do cái răng gẫy của cô mày cũng nên... Ai biểu hôm nhổ cái răng sâu lại cầm giơ lên như khoe cho cả làng biết cái răng sâu. -Tại hồi còn hợp pháp em học nha tá. Mắt Mai lóe lên tinh nghịch: -Thiếu gì anh sâu răng, mặt sưng lên vừa ôm mặt vừa nhăn. Sẽ có cách trả đũa. Chín Phượng khoái chí: -Chị bày em với, em nhất định trả đũa cho mấy ông ấy một vố cho biết tay. Mai hóm hỉnh: -Cậu Duy bên thị đội đang ôm đầu kêu đau răng. Để chị bảo nó tới chỗ em khám răng, cần thiết nhổ răng cho nó. Vậy là bộ đồ nghề làm răng của em đưa lên hữu dụng rồi đó. Phượng hăng hái: -Được. Để em ra rừng lấy về đã, nhưng còn chuyện đó... Mai cười rung cả vai: -Bắt đầu từ cậu Duy, nó cũng là một tay nghịch ngầm và dựng chuyện. Nếu nó tới khám răng thì em phải tát cho nó một cái. Phượng tò mò: -Sao vậy? -Thì em giải thích, về chuyên môn trước khi khám răng phải tát một cái cho chân răng long rộng ra mới dễ nhổ răng, vậy là nó tin ngay. Phượng cười hiền lành: -Ai lại làm vậy, anh ấy đã đau lại càng đau thêm. Mai lắc đầu, ghé vào tai Phượng nói nhỏ. Phượng thích thú gật đầu lia lịa cười như nắc nẻ, giơ hai tay: -Bái kiến sư phụ... Em và chị hợp đồng nghe. Theo kế của Mai, anh chàng Duy bị ăn cái tát trước khi nhổ răng và rối rít cám ơn y tá Phượng. Lập tức Mai gọi năm, sáu du kích tới chỉ vào Duy: -Bay coi, Duy bị Chín Phượng tát một cái răng bay ra ngoài cho chừa cái tật nói xấu con gái. Anh chàng Duy và mấy cậu du kích ngẩn người rồi phá lên cười. Một cậu du kích nắm vai Duy đẩy về phía Chín Phượng: -Nè... Nè nhổ gãy răng người ta, phải lắp răng trả cho anh Duy. Lắp không được phải thường người. Tất cả reo lên líu ríu: -Phải đó... -Anh Duy bắt Chín Phượng bồi thường. -Phải đó, không bồi thường được phải thế người. Phượng nép người vào Mai, Mai khoát tay nói với mọi người: -Chị làm trọng tài, bữa nay bay thua Chín Phượng một không. Ngày mai lũ con gái tuyên truyền “Chàng Duy nói xấu con gái, Chín Phượng nghe được, mới phẩy tay một cái cả răng lẫn lời nói láo bay ra ngoài thì sao”. Tất cả reo lên: -Huề...Huề cả làng. Mai nhìn anh chị em đùa giỡn chỉ cười và hiểu ra điều: Những câu chuyện vui, chuyện tiếu lâm làm anh em dịu lại trước gian khổ, ác liệt. Mai càng hiểu rõ tại sao ông Chín Tòng không bao giờ ngầy la anh em đùa giỡn, thậm chí lắm lúc vô tình lời đùa giỡn hơi quá trớn đối với ông. Đã đến lúc Mai đi đứng nặng nề không thể ở căn cứ xã được nữa, ông Chín Tòng quyết định cho Mai về hậu cứ sinh nở. Ba Hổ, Út Hân và Chín Phượng cùng về hậu cứ với Mai để trồng sắn, chuyển sắn khô xuống căn cứ. Ba Hổ vừa leo dốc vừa pha trò: -Kỳ này vừa đeo ba lô đằng trước, vừa khoác ba lô đằng sau xem ra mệt dữ phải không chị Hai. Mai vừa thở vừa trả lời: -Mệt muốn chết...Cái ba lô đằng trước không có ai mang giùm được. Chín Phượng cười khúc khích: -Cái đó chỉ có anh Lâm mới mang giúp hộ được thôi. Út Hân xen vào: -Mới leo được năm cái nghẹo, còn bảy cái nữa mới hết dốc em thách anh Năm kể chuyện từ đây tới đỉnh dốc không nghỉ hơi đấy. -Yên trí, tao còn đầy bụng chuyện. -Ôi! Con trăn!... Chín Phượng tái mặt kêu lên khi con trăn từ trên cây lao vụt xuống đường, cong mình chồm về phía Chín Phượng khiến Út Hân phải giơ súng gạt cho con trăn văng ra. Con trăn cong đuôi quật văng khẩu súng trong tay Út Hân và bất thần cuộn tròn lấy Út Hân. Út Hân nắm chặt đầu con trăn, từng khúc cuốn của con trăn xiết chặt, cái đuôi cong lên tìm cách xỉa vào đầu Út Hân. Mai thét lên: -Kẹp nách vào, nắm chặt lấy đầu nó. Ba Hổ quăng ba lô, ruột nghé và súng xuống đất lao tới nắm chặt đuôi con trăn ghì xuống đất. Con trăn quẫy mình vằng khỏi tay Năm Hổ, quất đuôi đánh đét làm Út Hân ngã sõng xoài. Ba Hổ rút phắt con dao đeo bên người đâm mạnh vào lưng con trăn. Con trăn quật mạnh đuôi, phóng vào bụi rậm chạy trốn. Cả bốn chị em hoàn hồn ngồi thở rốc. Ba Hổ sờ đùi Út Hân: -Trăn lửa đấy, loại này dữ tợn và nguy hiểm chứ không phải hiền như trăn đất đâu. Út Hân lấy tay xoa bóp người: -Mình con trăn trơn hơn mỡ cứ xoay lượn bắt em chống đỡ hoài. Mai lấy dầu xoa cho Út Hân miệng xuýt xoa: -Tội nghiệp... Hết rắn cắn đến trăn cuốn. Chín Phượng vẫn chưa hoàn hồn: -Khiếp thật!... Hết địch đến thú dữ!...Gặp cọp chắc tiêu!... Ba Hổ phì cười: -Chín thì lúc nào cũng thần hồn nát thần tính. -Gặp cọp!... Nó chồm tới vật rồi cào rách người liền à!... Mai cười nhỏ nhẹ: -Chín Phượng thấy con trai quan trọng chưa, không có Ba Hổ, Út Hân chắc em nằm lăn ra chết siếng rồi đấy. Chín Phượng rùng mình: -Chắc vậy quá... Út Hân đứng dậy hỏi mọi người: -Đố mọi người biết hôm nay đi đường gặp hên hay xui? Chín Phượng khẳng định: -Xui... Ba Hổ giảng giải : -Hên là cái chắc gặp xà thì đi, gặp qui thì về phải không chị Hai? Trăn cũng là xà, đúng không? Mai bỗng bật cười nhìn Ba Hổ: -Lại thêm một ông đồ rồi đấy. Ba Hổ thanh minh: -Thiệt mà... Em nghiệm điều đó linh lắm. Đi đường tốt lành, lại có người mời ăn nữa. Người xưa nói: ai bị xà quấn mà không chết thì học giỏi đậu cao. Cứ nghiệm trong ngày mà xem, đúng hay là sai tất biết. Ba Hổ đứng dậy đeo thắt lưng, cầm súng, khoác ba lô xách súng đi đầu, vừa đi vừa quan sát, cảnh giới đề phòng biệt kích. Câu chuyện thưa dần... Rồi lặng xuống. Những bước chân dẻo dai dồn theo nhịp thở mạnh của từng người đang tập trung leo dốc. Người nặng nề, mồ hôi vã ra ướt đẫm cả áo, hơi thở lùng bùng trong lỗ tai, thi thoảng cái thai trong bụng lại đạp đau nhói làm Mai phải nhăn mặt chịu đựng. Nhìn Mai đi Chín Phượng nói với lên: -Ba Hổ. Đi chậm thôi, chị Hai nặng nề đi sao kịp. Chợt nhớ ra Mai có bầu, Ba Hổ quay lại nói như thanh minh: -Em quên khuấy có chị cùng đi... Mai động viên: -Không sao, cố vượt hết dốc rồi nghỉ. Cả đoàn đi tới quá trưa mới tới Suối Sổ nghỉ ngơi, nấu ăn để tiếp tục lên đường. 2 Buổi chiều, tiếng ve kêu ran trong các cánh rừng. Rừng và rẫy nối tiếp nhau chạy dài tới hút tầm con mắt. Con đường số 6 đất đỏ au được làm từ thời Ngô Đình Diệm làm tổng thống đến giờ nhiều đoạn đã bị sạt lở. Những con đường nhỏ cắt ngang đường số 6 tạo thành một mạng lưới giao thông cho phép đi nhanh chóng từ đơn vị này tới đơn vị khác của vùng hậu cứ sản xuất. Tiếng chim gõ kiến mổ vào thân cây khô tạo thành những âm thanh cộc cộc, cục, cụp... kéo dài như người gõ trống bỏi. Thấp thoáng người đội mũ tai bèo đi làm rẫy. Một vài cột khói đen mờ pha lẫn khói trắng bay cuộn lên trời báo hiệu đã vào mùa đốt rẫy. Sự êm ả của vùng hậu cứ làm Mai cứ nghĩ đến Lâm và những ngày hai người cùng sống trong hương nồng, của mật ngọt tình yêu. Bất giác Mai thèm khát một ngôi nhà nhỏ do vợ chồng Mai tạo nên. Hình ảnh vợ chồng sớm tối bên nhau và đứa con bi bô, quấn quýt suốt ngày làm Mai thấy nôn nao. Băng qua rẫy sắn của hậu cứ xã Phụng, mọi người vào lán đặt ba lô, cột võng nghỉ ngơi. Cái lán nhỏ trong rừng cây rậm rạp nằm gần sát rẫy sắn vậy mà cả chục người cột võng nằm vẫn vừa. Trước cửa lán là một cái bàn kết bằng những cây chà rang to bằng ngón tay thuôn duột. Cách xa cái bàn hai thước là ang nước và mấy cây ớt. Dẫu sao cuộc sống ở hậu cứ cũng yên ổn, trật tự hơn ở căn cứ xã. Sự yên tĩnh của vùng hậu cứ làm Mai yên lòng và bỗng thoáng buồn khi nghĩ tới không khí sôi động, căng thẳng ở căn cứ xã. Út Hân, Ba Hổ, Chín Phượng ra rẫy tìm thím Năm và ông Tư Hàm rồi kiếm rau tập tàng về nấu canh. Nằm nghỉ trên võng, thấy xương cốt như dãn ra, chân tay mỏi nhừ, thỉnh thoảng cái thai lại đạp khiến Mai thấm sự nặng nề và kềnh càng của người có bầu phải đi đứng nhiều. Vừa thiu thiu ngủ đã nghe tiếng cười nói rôm rả của anh em, Mai ngồi dậy đã thấy mọi người bước vào sân. Khệ nệ vác một đùi thịt nai, thấy Mai, Ba Hổ nói liền: -Chị Mai thấy linh nghiệm chưa? Em đoán đúng là bữa nay gặp hên. Chín Phượng cắt lời: -Ông thầy rùa bói gặp thời nên lên mặt nói dóc. Thím Năm xởi lởi: -Bởi cái số của con Mai mau mắn nên nó tới đâu cũng gặp hên là cái chắc. Phải tới hơn tám giờ tối, bữa ăn mới làm xong. Đống lửa giữa lán cháy rực hồng, vậy mà ông Tư Hàm vẫn mồi đèn cho sáng thêm để mọi người dễ gắp thức ăn. Thịt nai xào trên hai cái xoong nhôm nhỏ, thịt nai nướng được để trên lá chuối, còn nồi canh rau tập tàng có lẫn xương nai để cạnh nồi cơm độn sắn đang tỏa mùi thơm ngạt ngào. Chẳng hiểu dự trữ từ hồi nào, ông Tư Hàm cẩn thận lấy trong túi cóc ba lô một chai rượu nhỏ và tự rót cho mình uống. Biết ý ông Tư vừa ăn vừa nhậu nên phần thức ăn được để riêng một phía, còn mọi người vẫn theo tác phong nhà lính “đánh nhanh, rút gọn”. Ông Tư Hàm hớp một hớp rượu và gắp một miếng thịt nai nướng thơm ngậy vừa nhai vừa rung đùi. Chẳng ai là bạn rượu, chỉ có ông với rượu làm bạn mà thôi. Trong ánh lửa loang loáng, Mai nhìn ông Tư ngồi ăn uống một mình với nỗi buồn xa vắng. Nỗi khắc khổ cô đơn hiện lên, nên càng ăn, càng uống ông Tư càng lặng yên. Từ khi ông bị địch bắt đi tù, rồi thả về làng và ông Chín Tòng đưa lên căn cứ thoát ly, tính ông vẫn trầm tư, xa lánh mọi người. Lúc đầu anh em thấy khó chịu, xong rồi quen đi hóa thành bình thường. Vả lại ông Chín cũng dặn anh em trong xã thông cảm với nỗi buồn của ông Tư đã trót khai báo với địch thời gian bị tù... Người già vốn trái tính, trái nết nên phải tôn trọng và hòa nhã với ông. Trời sinh trăm người thì có ngàn tính, bởi vậy lớp du kích có đùa giỡn, hò hét thì ông Tư Hàm vẫn lặng im “mặc xác lũ bay”. Ăn xong, Ba Hổ ngồi dựa cột, vừa đẩy gộc củi cho cháy to vừa thích thú nói: -Con nai cũng tới hai trăm ký thịt, bên y tế một đùi, còn lại hai đùi, đầu và xương ưu tiên cho Huyện đội, phần đơn vị mình một đùi. Út Hân đủng đỉnh: -Anh chỉ theo đuôi mà dính được phần đúng không? -Nói bậy, không có tao lập kế làm sao bắt được nai. Chuyện là vầy: Anh Phi ở hậu cứ sản xuất Huyện đội Sơn Hòa cùng cậu Biển ban Dân y tỉnh rủ nhau đi tìm mật ong rừng. Tới một đám ruộng hoang mọc đầy cỏ ống thì phát hiện một con heo rừng đang bị sa lầy giữa ruộng. Mừng quá Phi vội chạy tới nhảy phắt lên lưng và hai tay nắm chắc hai tai con heo, Phi cố sức nhấn con heo xuống bùn. Biển dùng rựa định chém vào chân con mồi nhưng lại sợ trúng bạn đành buông rựa nhảy vào tiếp ứng. Vừa túm được đuôi heo, Biển bị ngay cái mông của nó táng vào hông ngã sõng xoài trên bùn. Cứ vậy, vừa đạp, vừa trườn, vừa chống trả, con heo vượt qua đám ruộng lầy rồi chạy ra trảng Tranh. Vừa mất con mồi, vừa sợ con heo hất mình xuống đất, Phi nằm rạp trên lưng heo gọi Biển: “Đuổi theo! Đuổi theo!”. Tới gần bụi gai mắt mèo con heo bỗng chồm lên. Cả người lẫn heo bay lên không trung rồi chui tọt vào bụi, heo rừng thì lủi tuốt vào rừng, còn Phi thì nằm rên trong bụi. Biển phải lấy rựa phát bụi gai mới đưa được bạn ra. Quần áo rách toạc, thịt da rướm máu, bùn lấm bê bết, hai chàng chỉ còn biết dìu nhau vừa đi vừa xuýt xoa cho bớt đau. Vừa tiếc của vừa tức, hai anh chàng chửi đổng rồi nghĩ mình dại dột và đột nhiên nhìn nhau phá lên cười. Thất thểu, rủ nhau xuống suối tắm, bỗng Phi và Biển phát hiện tiếng thở phì phì gần suối. Cả hai chạy tới nơi, thấy một con nai chà bị rơi xuống một hố lầy. Phi reo lên: -Phải bình tĩnh không lại hỏng ăn như lần trước. Biển xắn tay áo, giọng đầy tự tin: -Hãy xem đây, tớ sẽ nhận nó xuống bùn chứ không phải như cậu. Anh ta phóng đến vèo một cái và ngôì thót lên lưng con nai, nắm hai sừng, miệng kêu to : “Ớ... Nai, ớ... Nai...”. Phi tái mặt vì ở vùng này có rất nhiều hố lầy đã sâu lại bùn loãng, người rơi xuống mà không được cứu thì cũng chết huống chi cả người lẫn nai. Vừa lúc ấy, Ba Hổ chạy tới vừa sợ vừa buồn cười khi thấy một anh cứ chạy quanh miệng hố lầy, còn một anh ngồi trên lưng nai mà kêu. Lập tức Năm Hổ chặt một cái cây to bằng bắp chân làm đà và cầu đàng hoàng, rồi tháo dây võng tụt xuống lấy rựa chém chết con nai. Cả ba người lấy dây luồn qua bụng kéo con nai lên rồi đưa xuống suối giết thịt. Sáng sáng chờ cho sương mù tan, Mai ra rẫy loanh quanh với sắn bắp rồi về nhà nấu ăn. Dầu lửa khan hiếm, tối tối thắp cho có lệ một chút rồi vội vàng tắt. Đêm đêm bên đống lửa hồng giữa lán, lên võng mạnh ai nấy ngủ. Cuộc sống lằng lặng theo một vòng quay đều đều khiến Mai hụt hẫng bỗng thèm khát cuộc sống nguy hiểm, gian khổ nhưng đầy sôi động dưới địa bàn. Mai bất giác thở dài, nhìn xuống bụng mình mỗi ngày một lớn thầm nghĩ: sinh xong ta lại về dưới đó. Để bù lại khoảng thời gian trống vắng, Mai nhờ ông Chín Tòng xuống làng sưu tầm sách toán, lý, hóa lớp 12, sách Anh ngữ và Hán ngữ để học. Ông Chín Tòng rất mừng, nhắn Nguyệt gửi sách lên cho Mai, ông lại viết riêng cho Mai lá thư đại ý là: Vì đánh Mỹ mà cái sự học hành dở dang, bây giờ ở hậu cứ lo sản xuất và sinh nở thì ráng học. Hòa bình thống nhất xin học đại học đừng theo nếp sống “một dạ lúa lớn hơn một dạ chữ” lạc hậu của người xưa. Vậy là đi làm rẫy về, Mai lại giở vở ra học, ghi chép, lầm bầm trong miệng như tụng kinh. Ông Tư Hàm thấy vậy nói với thím Năm: -Cái con vu vơ, gái có chồng, có con tiến sao được nữa, hơn gì ai mà học. Thím Năm trả lời: -Tôi thất học. Lắm lúc muốn viết thư về nhà nói cho con cháu nó hiểu ý mình cũng phải nhờ tới con Mai. Có học thì ăn nói, làm việc mới rạch ròi, con Mai học là tốt, ông Tư nói gì lạ vậy. Ông Tư Hàm chẹp miệng: -Phận đàn bà, lo cái bầu cho rồi, còn dở chuyện. Thím Năm thiệt thà: -Cái đó thì tôi không biết, nhưng ông Chín động viên nó học, chắc là đúng ông à. Ở đời có học có khác. Ông Tư Hàm hoài nghi: -Đang tiến bộ như vậy mà cái thân còn không giữ được đến nỗi bĩnh bầu làm sao mà tự học được. Bà thì không hiểu chứ tôi biết... Thím Năm nói như thanh minh cho Mai: -Chuyện nó có bầu là khác, hai đứa nó thương nhau từ hồi thoát ly đến giờ ai không biết. Bọn nó dám làm, dám chịu là có nghị lực. Tôi tin là nó tự học được. Ông Tư Hàm lại chẹp miệng: -Để rồi coi, tôi chỉ sợ được mấy bữa háo hức rồi đâu lại vào đó, -Ông Tư Hàm thở dài:- Bom đạn càn quét liên miên. Đói khổ lúc nào cũng như đỉa bám, cái chết kề bên còn đầu óc nào mà học. Chẳng qua nó làm le với mọi người để cho bớt cái khuyết điểm có bầu rồi cưới vội chứ nó không nghĩ như bà đâu. Thím Năm không bằng lòng xong vẫn từ tốn: -Tôi biết con Mai không phải như vậy. Con gái thì phải lấy chồng, thằng Lâm ở lực lượng chiến đấu rủi có chuyện gì thì ít ra cũng có đứa con nối nòi... Bọn nó không nghĩ như ông đâu. Ông Chín Tòng lại gửi sách và viết thư lên dặn Mai đang có bầu, học cho con mày nó thông minh, phải nhớ câu nhàn cư vi bất thiện. Chuyện Mai tự học rồi cũng lắng xuống. Mọi người cho rằng Mai học chỉ để mà học chứ cũng chẳng có tác dụng gì. Vậy rồi một hôm, anh em C3 tiểu đoàn H96 cùng với bộ đội huyện phối hợp đánh địch trên đường số 7 bắt được hai tên Mỹ. Trong lúc phiên địch ở tỉnh chưa xuống kịp, lãnh đạo chẳng ai biết được tiếng Anh, mấy anh thường vụ chợt nhớ và triệu Mai tới với hy vọng không ít thì nhiều cũng giúp cho thường vụ hiểu được hai tên Mỹ lên đoạn đường này làm gì. Không ngờ khi nói tiếng Anh với hai tên tù binh, Mai chỉ lúng túng có nửa ngày rồi sau đó nói chuyện và phiên dịch khá thành thạo. Tới lúc đó mọi người mới biết vốn ngoại ngữ của Mai không đến nỗi tồi. Té ra đây là hai tên kỹ sư cầu đường người Úc, thuộc một đơn vị công binh. Khi phiên dịch về đưa hai tên lính đánh thuê người Úc về Tỉnh, chúng đã cầm tay Mai khóc làm cho mọi người ngỡ ngàng. Đồng chí phiên dịch nói tóm tắt với mọi người là nếu được thả nó sẽ nói lại cho mọi người hiểu Vi-si là những người có học, rất tốt không phải như bọn Mỹ nói với chúng. Nghe được chuyện thằng lính Úc khóc, thím Năm nói với ông Tư Hàm: -Đấy ông coi, có học có khác tôi nói có sai đâu. Ông Tư Hàm lặng im không trả lời, đôi mắt ông nhìn vào khoảng xa xăm, ánh lên nỗi buồn khó tả, vai ông rung rung trong nỗi cô đơn sâu lắng...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #15 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2023, 10:43:45 am » |
|
Chương 16 Từ khi được đưa xuống làm đại đội trưởng đại đội 25 đặc công, công việc của Lâm trở nên bận rộn và mỗi lần về thăm vợ thấy mẹ con Mai khỏe mạnh tính tình Lâm cũng trở nên vui vẻ và điềm đạm hẳn lên. Đại đội 25 là một đơn vị đặc công có nhiều thành tích xuất sắc trong chiến đấu. Với những trận đánh thần tốc, bất ngờ và táo bạo, đại đội 25 đặc công là một trong những đơn vị nổi tiếng ở chiến trường Nam Trung bộ. Đại đội 25 thực sự là một tổ ấm của bốn lớp người kề vai sát cánh, sẵn sàng chia lửa cho nhau trong gian khổ, hiểm nguy. Lớp tuổi từ 24 đến ngoài 30 hầu hết là cán bộ tiểu đội, trung đội và đại đội là lực lượng nòng cốt vững chắc của đơn vị. Lớp tuổi từ 17 đến 24 hầu hết là những chiến sĩ từ miền Bắc được bổ sung vào chiến trường, họ xông xáo và yêu đời, ý thức kỷ luật cao. Lớp du kích từ 13 đến 16 tuổi đã qua chiến đấu ở các xã được rút về huấn luyện và bổ sung cho đơn vị, ở họ con vẫn đọng nhiều nét rất vô tư. Có bốn người thuộc thế hệ tuổi trên 40 đều là quân nhân tái ngũ được bổ sung cho chiến trường và họ kết lại với nhau thành nhóm thuốc lào, được gọi là bộ “tứ bình” . Tháng 5 năm ngoái, đại đội 25 đặc công tổ chức tiếp nhận số bộ đội từ miền Bắc bổ sung về. Anh Hồi, cha của Tưởng về đại đội 25 trong đợt bổ sung quân ấy. Tưởng gặp lại cha mình trong niềm mừng tủi khôn nguôi. Mừng vì cha con gặp nhau, tủi vì với cái tuổi 46 anh Hồi vẫn tái ngũ vào Nam chiến đấu. Đánh Pháp, anh Hồi vào bộ đội chủ lực, hòa bình lập lại anh phục viên về quê lấy vợ rồi sinh ra Tưởng. Đánh Mỹ, chiến trường rộng khắp và ác liệt, trai làng hết lớp này đến lớp khác vào Nam đánh giặc. Rồi đến lượt điều động quân nhân phục viên tái ngũ, anh Hồi lại khoác áo lính vào Nam đánh giặc. Mắt kém lại chậm chạp đơn vị bố trí anh Hồi làm anh nuôi. Sáng kiến của “bộ tứ bình” là lấy thuốc lá tẩm thêm nhựa cây thuốc lá cho thuốc nặng thêm và có màu đen giống thuốc lào. Họ kiếm ống tre về làm điếu cày. Tiếng điếu cày rít lên ròn tan và hơi khói lan tỏa, khiến đám trẻ phát thèm. Nhiều anh tới xin “bộ tứ” cho đầu quân mà không được kết nạp. Riêng tám cậu ít tuổi nhất đơn vị thì kết lại thành một nhóm là “bát tiểu đồng”. Chẳng có cuộc nói chuyện bù khú hay chuyện tiếu lâm nào của lớp đàn anh mà các cậu không có mặt và tình nguyện làm chân điếu đóm để được nghe chuyện. Trung đội phó Tôn gốc là một công nhân dệt Nam Định vốn nổi tiếng là một tay kể chuyện hấp dẫn của đơn vị. Một hôm hết thuốc hút, biết bốn anh già lúc nào cũng có thuốc dự trữ, Tôn liền mở ngay chuyên đề kể chuyện tán gái. Nhóm “bát tiểu đồng” tới nghe liền bị đuổi với lý do chưa tới tuổi. Mấy cậu nhỏ nằn nì xin được nghe, vậy là Tôn ra yêu cầu cả tám cậu phải xin cho được tám điếu thuốc về nộp thì mới được nghe. Bí quá, “bát tiểu đồng” hội ý nhanh và đồng ý đi xin thuốc với điều kiện đưa thuốc về Tôn mới kể chuyện. Tôn nhận lời ngay và thấp thỏm ngồi chờ thuốc lá. Nhóm “bát tiểu đồng” chia nhau tới bộ tứ xin thuốc lá. Anh Hồi cười gật gù nói với mấy ông bạn đồng niên: -Lại cái mẹo của thằng Tôn - Bất chợt Hồi hỏi chặn - Này “bát tiểu đồng”, có phải thằng cha Tôn bắt các cậu tới quấy rầy bọn già này không? -Không phải, bọn em cần thuốc. -Không nói thật thì đi về võng mà nằm, hát hỏng với nhau. Nói thật thì cho thuốc. Mấy cậu “bát tiểu đồng” khai thật, anh Hồi tủm tỉm cười: -Cho các cậu bốn điếu và nói với thằng Tôn nếu không kể chuyện khỏi nhận thuốc thì nó kể chuyện ngay. Y lệnh của anh Hồi, “bát tiểu đồng” ra điều kiện và lập tức Tôn cười hà hà: -Mưu kế ông Hồi thì tao chịu thua, thôi đưa thuốc đây, có thuốc kể mới hay. Cầm thuốc hút trên tay, Tôn che miệng, ngáp dài một cái rồi tay quấn thuốc mồi lửa hít một hơi dài sảng khoái: -Thú thật hết thuốc tớ cứ ngáp dài y như thằng nghiện thuốc phiện ấy. -Anh hút đã chưa? Kể chuyện đi. Tôn cười khanh khách: -Có gì đâu, chẳng là hồi tớ mới vào bộ đội như các cậu, là liên lạc kiêm công vụ cho ông Lý chủ nhiệm thông tin trung đoàn. Vẫn nụ cười tươi rói, Tôn khề khà: -Cơ quan trung đoàn đóng gần mấy đơn vị quân y và dân chính Đảng. Một hôm mình đưa ông Lý đi công tác, buổi trưa cái nóng oi nồng hai thầy trò leo dốc thở hồng hộc. Bỗng ông Lý đứng lại nhìn rồi ra lệnh cho mình rẽ xuống suối nghỉ. Tới gần suối mình định chạy ù xuống bị ông Lý nắm vai nói nhỏ: “Có biệt kích”. Cái mệt bay đâu mất, mình xách súng lò dò theo ông Lý rẽ vào rừng. Có tiếng con gái nói lao xao dưới suối, mình cầm tay ông Lý giật giật nói thầm: -Khả năng không phải biệt kích. Ông Lý giật tay rỉ tai mình: -Cậu tưởng bọn Mỹ không có phụ nữ là biệt kích à. Hai thầy trò núp vào một tảng đá từ từ bò lên. Trời ơi! Năm đứa con gái đang tắm truồng mới chết chứ! Mông, đùi, ngực đứa nào đứa nấy trắng nuốt, mây mẩy, căng như trái banh... Mình căng mắt nhìn, bỗng vô ý chân đạp vào hòn đá làm nó lăn cái xào. Ông Lý nhìn mình làu bàu. ở dưới suối mấy đứa con gái bỗng hớt hãi kêu thất thanh: “Biệt kích”. Và ôm quần áo, vứt bừa đồ đạc bỏ chạy. Hai thầy trò mình đi xuống suối. Ông Lý chẹp miệng: -Cái thằng nhóc, không đạp phải hòn đá còn xem được đã đời!!! Mọi người cười xòa, một bát tiểu đồng tò mò hỏi: -Vậy thủ trưởng với thủ trưởng Lý không bị kỷ luật à?... Tôn phá lên cười: -Làm gì có tội hủ hóa mắt chú em. Cẩn thận gói điếu thuốc cho vào túi áo, Tôn dõng dạc tuyên bố: -Cám ơn “bát tiểu đồng” chuyện mà có thuốc có khác, lần sau tớ kể tiếp... Chương trình kể chuyện lai rai của chúng tôi tới đây là hết. Xin hẹn lại các bạn lần sau. Mọi người ngẩn người rồi cùng cười ồ lên. Một anh chàng chen vào: -Cái đài phát thanh của đại đội mình ăn gian quá... Trong giờ làm việc rất nghiêm túc nhưng ngoài giờ làm việc thì cả lính và thủ trưởng đều nghịch như quỷ sứ, vì vậy không khí ở đại đội rất ít khi thiếu vắng tiếng cười đùa. Chẳng vậy mà khi biết Mai sinh con gái, đám lính trẻ đã quây lấy Lâm hỏi đủ chuyện. Lâm dõng dạc: -Đánh Mỹ lâu dài, gian khổ mình trừ cho các cậu mỗi người mười lăm tuổi. Các cậu gọi mình là bố vợ đi thì vừa. Mấy cậu lính đồng loạt dơ tay xung phong, một cậu vòng tay, cúi lưng: -Dạ... Em xin chào bố vợ ạ... -Em cũng xin đăng ký, tình nguyện mười sáu năm cõng vợ đi chơi rồi mới cưới. -Thủ trưởng ơi, ngoài Bắc con trai vào Nam hết rồi, con gái làng em khô cả rồi, thôi thì: Tới đây thì ở lại đây, khi nào bén rễ xanh cây mới về.Lâm cười vang: -Con gái dưới làng thiếu gì đứa đẹp và ngoan, thống nhất nước nhà, chúng sẽ đứng xếp hàng tha hồ mà chọn. Lâm ngồi trên võng lật cuốn sổ công tác ra ghi chép, tính toán và sửa chữa phương án đánh địch. Mấy địa điểm tập kết cũng như đánh xong rút về thấy chưa ổn, bài học mất cảnh giác của đơn vị khi đóng quân cách đây nửa năm hiện lên day dứt Lâm: Dạo đó, khi đại đội 25 ra quân, chỉ sau hai mươi phút tiêu diệt gọn cứ điểm Hòn Bứa ở Huyện Đồng Xuân. Trận đánh đó diệt rất nhanh trận địa pháo 105 ly và cối 120 ly của địch. Không những vậy, đơn vị kịp thời phát hiện hầm ngầm hai tầng của bọn Đại Hàn, đã chận cửa hầm rồi dộng thủ pháo xuống; đồng thời các mũi hợp đồng và yểm trợ nhau luồn vào hầm ngầm diệt địch. Trận đánh đó đơn vị được tặng thưởng huân chương chiến công hạng hai. Nhưng khi rút về vị trí tạm nghỉ bên bờ suối cạn để nấu ăn, anh Hồi chủ quan gửi bếp cho một đồng chí tân binh để lên rẫy kiếm rau về nấu canh cho đơn vị. Đồng chí tân binh để khói bốc lên, chiếc Mo-ran bay qua phát hiện khói đọng trên tàng cây liền phóng rốc-két xuống. Đồng chí tân binh sợ quá dụi lửa, khói lại càng ùn lên. Lập tức vị trí đóng quân của đơn vị trở thành trận địa oanh tạc của phản lực và trực thăng. Địch dội bom và bắn nát khu vực suối cạn. Từng người chỉ còn biết xách súng chạy thoát thân. Sau gần bốn tiếng đồng hồ oanh tạc của địch, toàn đơn vị buồn thiu chôn người hy sinh, cáng người đi viện chẳng ai nghĩ đến chuyện bình bầu khen thưởng nữa. Hôm đó Toàn đại đội trưởng xách trung liên chạy tới một gò mối nổ súng đánh trả máy bay địch. Một quả bom rơi trúng ụ mối, cả súng lẫn Toàn đều tan trong hố bom sâu hoắm. Mọi người cố tìm thi hài của anh, song chỉ còn một nhúm vải quần áo lẫn xương thịt đành gom lại đào đất đắp lên gọi là mộ. ấy vậy mà khi kiểm điểm, cấp trên vẫn bắt Toàn cái án kỷ luật cảnh cáo về chế độ trách nhiệm. Cả đơn vị đều khóc khi nghe Toàn bị kỷ luật. Phải mất sáu tháng cả chi bộ tập trung vào công tác chính trị tư tưởng anh em chiến sĩ mới lấy lại trạng thái cân bằng trong chiến đấu. Lâm lúi húi móc ba lô lấy cuốn nhật ký đọc lại từng trang ghi chép của mình. Những công việc, những suy tư, tình cảm gửi vào trang nhật ký khiến Lâm xốn xang: “…Ngày 17/6/1970: Nhớ Mai da diết... Có lẽ tiếng ve rừng kêu ran đang hòa vào nỗi nhớ!... ... Ngày 23/8/1970: Hội nghị Pari vẫn họp, hòa bình nghe nói sắp tới?! Liệu có hòa bình thiệt không?... Vẫn đánh nhau với địch lu bù. Đêm nay vượt đường số 6 và quốc lộ số 1 xuống vùng biển An Ninh. Lại những ngày nằm sát biển. Trong gió, cát và sóng biển, ta lại khom lưng ngồi trong những lùm cây lúp xúp suốt ngày. Làm thế nào đây để bò qua những lớp rào kiên cố ở cứ điểm Hòn Bù?. Đánh cứ điểm của bọn Đại Hàn nhất định là ác liệt rồi!... Lạ thiệt!... Mình đâu có sợ khi bò qua những lớp rào để nghiên cứu cứ điểm địch vậy mà cứ són, rắt hoài... ướt cả đũng quần! Thằng lính đặc công nào bò rào mà chẳng vậy...” Gió rừng xào xạc, kỷ niệm xôn xao và nguôi dần. Phương án tác chiến dần dần hiện ra trong óc Lâm. Một loạt các công việc được sắp xếp, cân nhắc gần như thuộc lòng rồi Lâm mới ghi vào sổ công tác.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #16 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2023, 10:53:12 am » |
|
Chương 17
1 Đại đội 25 hành quân trong không khí phấn khởi sau những ngày huấn luyện và học tập. Nhạn, chính trị viên đại đội sau thời gian bị thương phải đi bệnh viện điều trị nay đã trở về. Từ sau khi Toàn đại đội trưởng hy sinh thì Nhạn là cán bộ kỳ cựu nhất của đại đội. Tưởng đã dẫn một bộ phận đi trước tiềm trạm, lại có Nhạn cùng đi nên Lâm cảm thấy yên tâm hơn. Hành quân lần này, chủ yếu là thủ pháo, lựu đạn, súng đạn nên cán bộ, chiến sĩ ai cũng mang vác nặng. Lực lượng dân công được huy động từ các ngành dân chính đảng vì vậy đường hành quân khá nhộn nhịp. Thấy Yến cùng anh em trong ban tuyên huấn cũng đi gùi đạn, Lâm chạy tới hớn hở: -Nè, các nhà văn, nhà báo mà cũng đi gùi đạn chắc kỳ này đánh to, thắng lớn phải không? Yến đặt gùi đạn xuống vệ đường lau mồ hôi nói nhỏ: -Trừ mấy ông cấp côi ở nhà chỉ đạo tình hình còn tổng động viên gùi đạn cho chiến dịch chắc chắn là đánh lớn rồi. Lâm cắt ngang: -Ông nắm tình hình ra sao, chiến dịch có gì mới? Yến nháy mắt: -Thấy mấy ông ấy họp bàn liên tục, gọi lên giao phải có mặt ở địa bàn trọng điểm vừa viết bài vừa viết báo cáo cho mấy ông ấy, thế là tớ lãnh và chuồn... gần “mặt trời” rát mặt lắm, đi công tác tự do hơn ông à... Lâm ngạc nhiên: -Cơ quan ông tập trung đi cho có tổ chức mới động viên nhau được chứ? Yến thật thà: -Cơ quan tôi có lắm đơn vị ông à: Nhà in, văn phòng, văn công, trường Đảng trẻ khỏe đi trước rồi, lẹt đẹt đi sau chỉ có mấy thằng văn nghệ. Đi sau tôi còn một lô các ông quay phim, chụp ảnh, họa, văn nghệ nữa. Bọn tôi thuộc đám quân “mất trật tự”. Dẫu sao bọn tôi cũng hết mình cho chiến dịch đấy chứ. Lâm mở ba lô hồ hởi: -Mình cho ông ít lương khô thịt heo. Chà... loại lính cậu như mấy ông gùi đạn để lấy khí thế thi đua là chính. -Nè...Bọn tôi cũng gùi, cũng phát rẫy trầy tay đấy, mà thịt heo ở đâu vậy? -Liên hoan ra quân, phải giết heo chứ. Này, chia phần thịt heo cho ông, ông phải bám sát đơn vị tôi đó nghe. Yến khoa tay: -Cậu cứ cho mình, sau này thống nhất nước nhà, mình mời vợ chồng cậu ra Bắc, lúc đó mình sẽ trả nợ. Lâm sôi nổi: -Thống nhất, vợ chồng mình xin học đại học, ông phải nuôi vợ chồng mình ăn học đàng hoàng nghe chưa. Yến vỗ vai Lâm: -Vợ chồng ông ra Bắc học, tớ sẽ kiếm phòng cho vợ chồng ông vừa học vừa tự do hú hí. - Yến bỗng nháy mắt nhìn Lâm - Cậu xem mấy cô đang khom lưng gùi đạn có đẹp không? -Con gái quê mình đẹp là cái chắc, trông bộ tịch mấy nàng gùi đạn kiểu đó nhắm mắt cũng biết là lính văn phòng chứ không phải thanh niên xung phong đâu ông à. Yến cười vang: -Ông tinh đấy bái phục, mình đi nhé. Chờ Yến đi rồi cậu Châu liên lạc đại đội mới hỏi Lâm: -Thế ông ấy là nhà báo hả thủ trưởng? -Ừ, ông ấy làm cả thơ và cả viết văn nữa đấy. Châu ngạc nhiên: -Nhà báo mà cũng đi gùi đạn à? Lâm giảng giải: -Đánh Mỹ... Nhiệm vụ cần đến mình thì mình phải làm hiểu không. -Em cứ tưởng... Lâm giảng giải: - Cứ nghe trên đài Tiếng nói Việt Nam phát tin, ấy là bài của mấy ông ấy gửi ra đó. Báo Giải Phóng hàng tháng gửi đến cho đơn vị mình là các ông ấy viết đấy. Châu tò mò: -Vậy là chỗ mấy ông ấy ở phải bí mật và nhiều máy móc lắm phải không thủ trưởng? -Đương nhiên rồi, tối thiểu phải có đài đưa tin ra Bắc, có máy in báo, máy quay phim... đủ loại hiểu không? -Kể ra cách mạng mình cũng lắm thứ phải không thủ trưởng? Ước gì em được đi học, em cũng làm nhà báo, liệu có được không thủ trưởng? -Nhất định là được rồi nhưng nói phải bỏ bớt chữ thủ trưởng đi cho gọn mới làm được nhà báo hiểu không. -Tóm lại làm nhà báo thì việc gì cũng làm được phải không thủ trưởng? -Đại khái là vậy, cái chính là phải học để hiểu biết cho nhiều. Châu cắp khẩu AK báng gấp cố đi nhanh cho kịp những bước dài của Lâm trên đường. 2 Vùng 4 An Lĩnh là một vùng núi thấp nằm sát bên đường tỉnh lộ số 6 và quận lỵ Phú Tân. Địa hình này cho phép triển khai nhiều hướng tạo nhiều thế bất ngờ tiêu diệt những cứ điểm của địch ở huyện Tuy An. Địch hiểu và gần như thuộc lòng đặc điểm của vùng đất này nên chúng không loại trừ một nghi vấn nào, sẵn sàng tập trung đánh phá ác liệt vùng Việt Cộng dấu quân. Nhờ những hang đá rộng rãi, vững chắc nằm dấu mình trong vùng đồi núi gai quýt dày đặc do đó không lúc nào không có lực lượng cách mạng bám trụ ở vùng 4 An Lĩnh .Những đợt tàn sát đẫm máu của bọn Đại Hàn tại các xã miền núi huyện Tuy An đã làm cho một vùng đất rộng mênh mông trở nên hoang vắng. Dân ở vùng 4 An Lĩnh lớp chết, lớp bị địch xúc lên trực thăng chở xuống khu đồn, chỉ còn lại tám gia đình bám trụ cùng cách mạng. Bọn địch cũng liệt tám gia đình này là cộng sản nòi do đó đời sống của người dân ở đây cũng không khác gì anh em cách mạng. Con trai, con gái của họ lớn lên đều thoát ly. Mang tiếng là xã “có dân” song thực chất chỉ còn lại những ông già, bà già sống leo keo mà thôi. Từ vùng 4 An Lĩnh tính theo đường chim bay đến cứ điểm Hòn Ngang thuộc xã An Nghiệp rất gần nhưng đi nhanh theo đường núi cũng phải mất gần 3 tiếng đồng hồ. Địa điểm tập kết chuẩn bị đánh điểm của đại đội 25 nằm dọc nhánh suối cạn gần thác nước suối cái An Lĩnh. Với địa thế thuận lợi cho công tác cảnh giới, phòng địch tập kích bất ngờ lại có gộp đá kiên cố nên toàn đại đội chẳng phải bỏ công sức cho việc đào công sự. Vừa ổn định chỗ ở xong, đại đội 25 được giao nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm Hòn Ngang, vì vậy mọi phân công, chuẩn bị cho công tác đánh địch đòi hỏi hết sức khẩn trương và nhịp nhàng. Cứ điểm Hòn Ngang là tiền đồn của hệ thống cứ điểm phòng ngự của Mỹ-Thiệu tại huyện Tuy An. Mất cứ điểm Hòn Ngang lập tức quận lỵ Phú Tân bị cô lập và địch không kiểm soát được hơn mười xã của ba huyện Đồng Xuân, Sông Cầu, Tuy An nằm giáp nhau. Và hoạt động giao thông trên quốc lộ số 1 và tỉnh lộ số 6 của địch sẽ bị tê liệt. Chính vì vậy địch xây dựng cứ điểm Hòn Ngang rất kiên cố . Nằm lọt giữa bốn cứ điểm của bọn Đại Hàn cứ điểm Hòn ngang luôn nhận được sự chi viện của bọn Đại Hàn ở các cứ điểm trên. Chưa yên tâm, bọn ngụy Sài Gòn ở Phú Yên còn đưa đại đội bảo an số 310 tới trấn giữ và ai cũng biết đây là một đại đội ác ôn. Trong đại đội bảo an này không ít tên đã lấy gan, lấy mật Việt Cộng ăn và hòa với rượu uống để quyết nằm gai nếm mật diệt cộng sản. Chỉ với một tên trung sĩ Chế, không kể bà già, trẻ con, hể là nữ mà lọt vào tay hắn là không tránh khỏi bị hãm hiếp thô bạo. Với cái hất hàm và cái cười hềnh hệch, tên Chế hỏi: -Mày có biết tao là ai không? -Dạ... trung sĩ Chế. -Biết trung sĩ rồi... Hãy cởi quần ra. Người bị bắt chưa kịp phản ứng, tên Chế đã lao tới cấu xé cơ thể người phụ nữ như một con thú điên cắn xé con mồi. Hãm hiếp xong hắn hất tay: -Quần áo đó... Mặc vào rồi xéo! Tao hỏi cung xong rồi đó. Ngày thay nhau đi càn quét, tối về đóng giữ cứ điểm, bọn lính 310 nói với dân: “Nói giùm Việt Cộng có giỏi thì tới đụng lông chân lính 310 sẽ được nếm mùi diệt cộng”. Ý thức được điều quan trọng của trận đánh chẳng những tiêu diệt được nhiều tên ác ôn có nợ máu trong dân mà còn dập tắt được ảo vọng xây dựng mẫu “người hùng chống cộng” của bọn ngụy Sài Gòn ở Phú Yên, tạo niềm tin cho phong trào quần chúng nổi dậy, vì vậy cả đại đội 25 quyết tâm bước vào trận đánh. Lâm quàng túi thủ pháo trước ngực, cầm súng luồn qua hàng rào, tay nhẹ nhàng sờ đất và dây kẽm gai, lần từng quả mìn và lựu đạn của địch gài khóa chốt an toàn. Đội hình nhích dần rồi dừng lại gỡ mìn rồi nhích qua các hàng rào kẽm gai hình quả trám. Đang bò bỗng toàn thân Lâm đau rát và buốt, ngoảnh lại, cậu Châu liên lạc đang cắn răng khẽ cựa mình cố chịu đau. Thì ra hai anh em bò đúng phải đường đi của đoàn kiến bò nhọt, loài kiến to, đen và dài, nọc kiến đốt đau buốt đến rướm máu. Lâm ra hiệu cho Châu và toàn đội hình nằm im cắn răng chịu đau, và bình tĩnh đưa đội hình vượt rào để tránh đường đi của đoàn kiến bò nhọt. Tạnh mưa, từng đoàn mằn hăn nhỏ li ti tới chui vào tai, vào kẽ tóc đốt liên hồi khiến đầu Lâm ngứa ran. Mặt nóng bừng, Lâm có cảm giác như kê mọc dày trên mặt trên da. Cứ bốn năm phút toàn mũi phải nằm im trước từng loạt đại liên, trọng liên bắn quét vào hàng rào. Gần ba tiếng đồng hồ mũi đột phá của Lâm mới tới hàng rào thứ chín. Lâm cho toàn đội hình dừng lại, lăm lăm tay súng yểm trợ, nghiêng mình cho trung đội trưởng Chiến bò lên tháo mìn và lựu đạn hai lớp rào cuối cùng. Kiểm tra đội hình xong, Lâm cho toàn mũi lùi xuống một đoạn đề phòng pháo của ta khi cường kích sẽ bắn lầm vào các hàng rào trong cùng của cứ điểm Hòn Ngang. Đúng giờ G, từng chùm đạn cối 82 ly của ta vạch những đường vòng cung bất ngờ nổ chụp trên cứ điểm Hòn Ngang. Từ các lỗ châu mai trong cứ điểm Hòn Ngang, đại liên và 12ly7 của địch nổ rát, bọn lính ý ới gọi nhau chui vào hầm. Những quả ĐKZ lao thẳng vào lô cốt đầu cầu và trận địa pháo địch làm một mảng tường của chiếc lô cốt đầu cầu đổ ào xuống. Lại một đợt công kích bằng pháo cối và ĐKZ của ta nổ chụp lấy cứ điểm làm bọn địch không dám bắn trả. Loạt đạn ĐKZ cuối cùng vừa dứt ánh lửa thủ pháo sáng bừng khắp cứ điểm Hòn Ngang. Các mũi tấn công của ta nhận ra nhau bằng ánh chớp của thủ pháo, lựu đạn hợp đồng tấn công. Từ lô cốt đầu cầu, một bộ phận địch cụm lại chống trả. Tổ của Chiến lao tới áp sát dùng AK bắn găm vào lô cốt. Trong tích tắc, hàng chùm thủ pháo lao vút vào nơi bọn địch cố thủ. Hỏa lực của địch tắt lịm trong tiếng rên la của bọn địch dưới hầm. Diệt xong địch ở lô cốt đầu cầu Chiến tiếp tục đánh dọc theo chiến hào. Từ lô cốt trung tâm, địch bắn trả dữ dội. Hai khẩu đại liên và 12ly7 của địch bắn đan chéo cánh sẻ về phía Lâm buộc đội hình tiến quân phải dừng lại. Lâm trườn tới cạnh Chiến cầm khẩu B41 đặt lên vai xiết cò. Luồng lửa đỏ rực của B41 chùm lên hầm ngầm. Nạp tiếp quả đạn thứ hai Lâm ép sát vào chiến hào quỳ người bắn tiêu diệt tiếp khẩu 12ly7. Các tổ lao lên diệt bọn địch trong hầm ngầm và đánh len vào các ngách chiến hào tiến vào trung tâm cứ điểm. Tại hướng Bắc mũi do Nhạn chỉ huy đánh tan trận địa pháo và đốt cháy kho xăng. Lửa và khói bay cuồn cuộn đỏ rực trời. Từ phía Nam, mũi khóa đuôi của Tưởng cũng đánh thọc lên... Từng mũi đã bắt được liên lạc với nhau. Các chiến sĩ đại đội 25 triển khai tiêu diệt số tàn quân và thu hồi chiến lợi phẩm. Không đầy mười phút, toàn bộ cứ điểm Hòn Ngang bị tiêu diệt gọn. Trên trời máy bay Đa-cô-ta thả đèn dù sáng rực. Lâm và Nhạn kiểm tra trận địa rồi nhanh chóng tổ chức cho đơn vị rút quân. Trời lại đổ mưa tầm tã. Đêm tối đen như mực. Đang đi chợt Lâm quay sang phía Tưởng nói: -Mình đi sau với Nhạn, ông nắm chặt số lính mới kẻo bị lạc thì gay. Đánh giặc không việc gì đến khi rút quân mà bị thương vong mới nhục. Bùn đá lổn nhổn không đi nhanh được đâu, cái lão trời độc ác làm mưa gió rát cả mặt... Tiếng rít của pháo chụp xuống cùng với những tiếng nổ đinh tai, nhức óc trùm lên, cả Lâm và Tưởng nằm rạp xuống đường. Mảnh văng vù vù trong đêm. Sau loạt pháo Tưởng lồm cồm đứng dậy, miệng lầm bầm: -Cái ông Lâm nói thiêng như ma xó. Bỏ bụng đừng nói, có khi pháo không bắn tới chỗ mình cũng nên. Lâm cười vuốt nước mưa trên mặt: -Hèn gì mấy thằng du kích mới rút về đơn vị mình sợ ma té đái ra quần. Lùi lại phía sau đội hình của đơn vị chờ Nhạn, thấy y tá và Nhạn đi tới Lâm vội hỏi: -Phía sau còn ai rớt lại không? -Hết rồi, cố gắng vượt qua tầm pháo rồi hãy nghỉ. -Hành quân, về nhà nghỉ yên tâm hơn. Mưa như thế này nghỉ làm gì cho khổ. Đoàn người lại hối hả vừa đi vừa đánh vật với bùn đá mà vẫn không tránh khỏi những cái ngã huỳnh huỵch hoặc bất thần nằm xuống tránh pháo rồi lại bật dậy đi tiếp... Tới gần sáng đơn vị mới về tới vùng 4 An Lĩnh. Lúc này Lâm mới thực sự thở phào khoan khoái. Anh Hồi đã chuẩn bị sẵn cơm canh cho toàn đơn vị. Mọi người tranh thủ ăn xong mắc võng ngủ. Lâm thiếp đi trong giấc ngủ say. Ve rừng kêu ran, cái nắng vàng ong rực lên. Lộp độp dưới bếp tiếng chẻ củi của anh Hồi và tiếng nói của mấy đồng chí trực ban...Và tiếng con mang tác rất xa trên triền núi vọng tới báo hiệu trời vẫn còn mưa.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #17 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2023, 11:04:26 am » |
|
Chương 18 Mùa mưa. Những cơn mưa hối hả thi nhau trút nước xuống cả đêm lẫn ngày và kéo dài liên miên. Con Suối Cái Vân Hòa trong mùa khô lỏng chỏng cát và đá nên dưới lòng suối phải khoét thành một cái giếng nhỏ mới có nước uống, mà giờ đây nước trắng đục dềnh lên tới chân núi, chảy cuốn trôi cả đá to, cây cối tạo nên những tiếng ầm ào dữ dội. Trên đỉnh núi, nhiều con thác trắng bạc xuất hiện réo vang cả rừng già. Giữa hai cơn mưa là khoảng thời gian chớp nhoáng của ánh nắng yếu ớt lóe lên rồi vội vã lăn vào trong những đám mây mọng nước. Gió lạnh ngắt vun vút thổi. Mây xếp chồng bao quanh các đỉnh Hòn La, Hòn Đác. Khi trời ngừng mưa, mây tạo thành những mảng sương trắng như sữa bay là là trên rừng cây, đồng cỏ. Những giọt nước to, mọng, trong suốt đậu dày trên lá rừng gặp gió rùng mình rơi xuống đất đồm độp. Đất và đá ướt sũng, mùi lá mục bốc lên hăng xè. Đất đỏ nhão quánh, bám đầy dép, nhấc chân lên, quai dép bị tuột là phải lếch thếch cầm dép. Lúc đó, đôi dép trông y như hai con cá mực to bè đỏ cạch. Không đầy một ngày, địch dùng trực thăng đổ quân xuống chiếm đóng các cao điểm vùng Nam, Tây Nam huyện miền Tây và toàn bộ huyện Sơn Hòa. Rải quân trên quy mô lớn, địch tổ chức lực lượng hỗn hợp gồm sư đoàn mãnh hổ Đại Hàn, trung đoàn ngụy số 47 và lực lượng bảo an ngụy tỉnh Phú Yên. Trên trời, trực thăng bay thành từng đoàn nối đuôi nhau tạo nên âm thanh phành phạch rền rĩ. Tiếng những chiếc tàu rọ vừa làm nhiệm vụ oanh tạc, vừa trinh sát kêu ro ro. Tiếng máy bay cào cào, chỉ điểm kêu vè vè. Tiếng máy bay phản lực bay xoáy rít ầm òa... Và tiếng pháo hạng nặng, hạng vừa, nổ chát chúa trộn lẫn với tiếng súng bộ binh kéo dài từng hồi như trống gõ. Có thể nói cả vùng trời huyện miền Tây và huyện Sơn Hòa đang bị âm thanh của sắt thép làm nứt vỡ ra. Dưới mặt đất, các tiểu đoàn ngụy và Đại Hàn từ các chi khu của ba huyện Tuy An, Đồng Xuân, Tuy Hòa 2 lặng lẽ luồn rừng tiến vào căn cứ địa cách mạng tỉnh Phú Yên. Từ trên các cao điểm vừa đổ quân chiếm đóng, bọn ngụy cũng như Đại Hàn nhanh chóng chia thành từng mũi nhỏ đi lùng sục, tìm kiếm và đánh phá các vị trí đóng quân của ta. Hơn mười ngày lùng sục, càn quét, hầu hết những vị trí ở của các cơ quan, đơn vị trong tỉnh đều bị địch sục vào đốt cháy. Địch đưa cả máy rà mìn để tìm máy móc, tài liệu của ta chôn dấu dưới đất và các hang đá nằm sâu trong rừng. Các đội tự vệ luôn cảnh giới, dẫn dắt anh em ra rừng tránh địch. Các đơn vị công an và bộ đội quần bám địch suốt ngày đêm. Người già, phụ nữ, trẻ em lếch thếch, phập phồng bám sát lực lượng tự vệ của mình, bí mật di chuyển xoành xoạch. Mai ngồi bên một bụi lách chùm tấm áo mưa che cho con. Bé Trung nằm ngủ mắt nhắm nghiền, da trắng hồng, vành môi mấp máy như cười. Ngồi sát bên Mai, thím Năm nói nhỏ: -Con nhỏ ngủ chẳng biết trời trăng mây nước ra sao...trông dễ ghét quá ta. Phải giữ ngực cho ấm kẻo nó bị nhiễm lạnh thì khốn con à. Mai rủ rỉ: -Bữa qua nó khóc, trời thì mưa tầm tã, nghĩ vừa bực vừa thương con thím à... -Ôi dà... Trẻ con là phải khóc làm sao bịt miệng được nó. Nghe thím Năm nói, Út Hân đạp vào chân Ba Hổ cười: -Vú chị Mai tài thiệt, nhét vô miệng là con bé nín liền. -Thằng ngu, tại có sữa cho nó bú. Ba Hổ và Út Hân nhìn nhau cười. Mai nhìn hai cậu du kích hồn nhiên và không rời nhau nửa bước bỗng thương hai đứa lên hậu cứ lấy sắn không ngờ gặp địch càn nên bị kẹt. Công tác bám địch, cảnh giới, dẫn mọi người luồn tránh địch, rồi nấu cơm, hái củi gần như hai đứa gánh vác hết. Tay bế con, Mai nhìn Út Hân và Ba Hổ bỗng nhớ và thèm thời kỳ chưa có chồng, cũng xốc vác chẳng kém ai. Nhìn chiếc ba lô căng phồng quần áo, tã lót, đường sữa cho bé Trung... Bất giác Mai thở dài trong nỗi lo buồn vô cớ. Tay ẵm con, vai đeo ba lô Mai cảm thấy như bị thừa ra trong đội hình những người chiến đấu. Địch thì luồn rừng bất thình lình tập kích, cái chết và sự sống luôn rình rập bên nhau, con bú, con đái, con ỉa, con khóc... quả là sự cản trở cho mọi người lúc này. Phần lo địch, phần lo cho con, Mai tọp hẳn xuống. Những giọt mưa đọng và chảy luồn vào tấm áo mưa thấm vào người lành lạnh khiến Mai vội xoay tay ôm con vào lòng và đẩy nhẹ tấm áo mưa cho nước rơi ra ngoài. Có tiếng lục cục như người bị trượt chân khiến đá lăn, tiếng lau lách ngả nghiêng trong gió như bước chân người đi, ông Tư Hàm giật mình nhổm người hớt hải: -Có địch. Ba Hổ và út Hân nắm tay ông Tư giật mạnh ra hiệu im lặng. Cả hai xách súng trườn trong lách nghe ngóng. Bé Trung ọ ọe... khóc, Mai vội vàng vạch vú ấn vào miệng con, con bé hất đầu ra khỏi vú khóc to, Mai cố nựng con mắt vẫn quan sát Ba Hổ. Ông Tư Hàm mặt xanh lét trừng mắt nhìn Mai, giọng rít trong kẽ răng: -Thiệt!...Trời báo!...Chết hết bây giờ. Ẵm nó đi chỗ khác, hai mẹ con ngồi riêng ra một chỗ. Mai nựng con, mặt hơi cúi xuống, lấy vú nhét vào miệng con, nước mắt chảy dài trên gò má. Ba Hổ cầm súng trườn đến chỗ có tiếng động nghe ngóng rồi lui về vấn an mọi người: -Một con mang... Nó chạy rồi. Út Hân nói nhỏ với ông Tư Hàm: -Để chị Mai dỗ cháu...Dù sao chị ấy cũng là bí thư. Biết là không có địch, ông Tư gắt lên: -Bí bí... Bầu bầu...Cái con khỉ. Sướng cho lắm...Bây giờ đè cái khổ lên lưng mọi người. Út Hân vẫn nói nhỏ: -Bảy người ở đây không giúp được chị ấy hay sao? Chú khó tính quá. Thím Năm đấu dịu: -Thôi bỏ qua đi anh Tư, ai bịt được miệng trẻ nhỏ. Quay sang Mai, thím Năm nhắc nhỏ: -Con nhỏ tè ướt người nên khóc đó, thay tã cho nó đi con. Ông Tư Hàm rít răng đay nghiến: -Lúc tít mắt ôm nhau cho sướng sao không khóc, bây giờ giọt ngắn giọt dài!... Út Hân nhìn ông Tư khó chịu, xách súng ra chỗ Ba Hổ cảnh giới. Bé Trung lại khóc, ông Tư Hàm nổi khùng thiệt sự: -Ẵm nhau đi trốn riêng! Ở lại thì bóp mũi cho con nhỏ nó chết đi. Mày bắt bọn tao cùng chết lây theo mẹ con mày sao?!... Ba Hổ nóng gáy: -Cả tuần nay bọn cháu bám địch bảo vệ mọi người, chú cũng bám theo bọn này... Ông Tư Hàm giận dữ chận ngang: -Mày câm đi!...Nè! Ăn nói phải có đầu có đũa nghe chưa?... Út Hân chen vào: -Chẳng biết ai đi trước thì sợ chết, đi sau thì sợ lạc, có giỏi thì đi trốn một mình... Thím Năm xua tay: -Thôi ... Tôi xin... Địch sát bên mà còn kình cãi nhau, tất cả nín đi, đừng ai nói nữa. Như bắt trúng mạch sợ chết của mình, ông Tư Hàm lặng im gườm gườm nhìn mọi người. Út Hân an ủi Mai và cố ý nói cho ông già nghe thấy: -Bọn em chết, chị chết; bọn em sống, chị sống; ai giỏi thì ngồi riêng ra một chỗ. Mưa lại ập xuống, mọi người vừa ngồi vừa vuốt nước mưa trên mặt, cố cắn chặt răng cho đỡ run, vừa chóc ngóc nghe ngóng và quan sát xung quanh. Xế chiều, trong tiếng gió mưa vật vã, Ba Hổ bỗng bật người nhổm dậy vừa chạy lùi vừa vẫy tay ra hiệu cho mọi người chạy. Út Hân ra hiệu cho Mai chạy theo mình. Mai ẵm con chạy theo sau, ông Tư Hàm hổn hển lấy tay gạt mẹ con Mai chạy bám sát Út Hân. Tiếng AK của Ba Hổ nổ ròn chặn đứng bọn địch lại. Út Hân vừa chạy,vừa cảnh giới và chờ mẹ con Mai và mọi người. Chạy tới gần suối Vân Hòa, Út Hân ra hiệu cho mọi người dừng lại nghỉ rồi sách súng đi sục sạo, xem có địch phục kích hay không. Thấy vị trí tương đối an toàn, Út Hân dẫn mọi người tới một gộp đá ngồi nghỉ và chờ Ba Hổ. Khá lâu mọi người mới thấy Ba Hổ quần áo, đầu tóc bê bết bùn đất, lưng đeo gùi tòng teng, tay xách khẩu AK, nhìn mọi người cười xòa: -Đơn vị mình an toàn chứ? Út Hân nhanh nhảu : -Không ai việc gì. Ba Hổ thở phào: -Vậy mà mình cứ lo, rủi có ai bị thương hay bị lạc thì gay go. Ba Hổ đắc ý: -Lúc mình nổ súng, bọn chúng bắn rát quá, phải chạy tạt xuống gần chân núi gặp đường đi của bọn Đại Hàn, vậy là ngược đường bọn chúng đi mình kiếm được một số đồ hộp Út Hân thán phục : -Chà!... Đã đời!... Cầm một hộp trái cây xay đưa cho Mai, Ba Hổ vui vẻ: -Ưu tiên chị ăn để có sữa cho cháu bú - Ba Hổ, lấy đồ hộp vừa lượm được đưa cho ông Tư Hàm cười cười - Cháu nộp kinh tài, chú phân cho mọi người cùng ăn. Lúc này ông Tư Hàm vui vẻ cầm bánh phân đều cho mọi người và dặn : -Bánh thì ăn, bơ thì để lại dành nấu canh. Xem chừng địch còn càn dài ngày đấy. Mai nhìn ông Tư Hàm thấy tồi tội, ngay cả lúc vui và cười nét mặt ông vẫn thoang thoảng buồn. Ở xã Phụng, ông Tư Hàm còn nhiều tuổi hơn cả ông Chín Tòng nên chẳng ai muốn đụng tới ông làm gì. Đưa hộp trái cây cho ông Tư, Mai tế nhị: -Ưu tiên cho chú và thím Năm mỗi người một nửa. Kính lão đắc thọ phải không chú Tư? Ông Tư kinh tài cầm lon đồ hộp gật gù: -Đồ hộp Mỹ chỉ có thứ này là ngon nhất. Ông già nhìn Mai bỗng rưng rưng, lấy tay dụi mắt để che đi những giọt nước mắt: -Nhiều lúc chú không phải... Bỏ qua cho chú nghe con... Thôi tao cất để giành sau sẽ tính. Ba Hổ và Út Hân kiểm tra địa hình thấy không có địch, quyết định “hạ trại” để mọi người nghỉ ngơi. Màn đêm mênh mông trùm xuống. Tiếng pháo, tiếng súng, tiếng máy bay lắng xuống. Thỉnh thoảng tiếng may bay B57 lướt qua trinh sát mục tiêu để khi phát hiện được những khu vực có ánh lửa trong đêm cắt bom tọa độ. Cái bếp được che bằng tấm tăng đi mưa và lá rừng, không để ánh lửa lọt ra ngoài khá rộng rãi. Tay ẵm con, tay xếp những thanh củi khô xuống nền đất ướt sũng, Mai đặt và gài những thanh củi chẻ nhỏ nhóm bếp. Ánh lửa hồng vụt sáng trong đêm, khói ấm thơm bay lan tỏa. Mai nghiêng người cho Út Hân đặt nồi cơm lên bếp. Lửa hút nước dưới nền đất kêu xèo xèo. Thím Năm ngồi chếch phía sau Mai thái rau môn dóc, bầu đá và lá bứa non để nấu canh. Xốc lại khẩu súng trên vai, Út Hân nhìn quanh rồi tới ngồi bên bếp: -Chị đưa tã với quần áo bé Trung em hơ cho, chút xíu là khô liền. -Để chị, em lo cảnh giới đi. -Có Ba Hổ và hai anh bộ đội bị bệnh với chú Tư nữa là gì. -Mang tiếng bộ đội nhưng mới từ Bắc vào lạ nước lạ cái, lại sốt rét liên tục. -Chị yên tâm, bọn em phân công nhau đâu vào đó rồi. Một tiếng cây khô rắc nhẹ và tiếng lầm bầm của ông Tư Hàm đang chuẩn bị cho mình một chỗ căng tăng và mắc võng... Ăn cơm xong, Mai và thím Năm dập lửa cẩn thận lấy lá khô ngụy trang và ngồi chờ Ba Hổ, Út Hân đi kiểm tra xung quanh khu vực đóng quân rồi mới căng tăng mắc võng. Ôm con ngồi trên võng, Mai với tay để vắt cơm vào túi cóc ba lô. Vắt cơm ấm nóng, những miếng sắn mềm mại quyện với cơm chắc mịn tỏa ra một mùi thơm thoang thoảng. Mai bỗng mỉm cười khi biết Út Hân lấy lá cơm nếp cho vào túi cóc ba lô nên cơm mới có mùi thơm như vậy. Mai thầm phục hai cậu du kích của mình bám địch, bám rẫy nhổ sắn về ăn, quả là gan cùng mình. Hơi canh bầu đá ợ lên mùi hăng hắc, ngầy ngậy, bụng sôi óc ách một hồi làm Mai nhẹ hẳn người. Bất giác Mai thấy xót xa cho Út Hân và Ba Hổ đi làm cách mạng chỉ có niềm tin chứ đã hiểu sâu sắc gì về cách mạng... Nếu không có chiến tranh cũng được đi học đến nơi, đến chốn rồi chứ đâu đến nỗi lồm bồm lớp ba, lớp bốn như hiện nay. Mai nằm trên võng nhìn bầy đom đóm bay chấp chới giữa màn đêm đen tím và những chiếc lá mục phát ra những ánh sáng lân tinh lờ mờ. Tiếng bầy chim “krung...kring” kêu trong như tiếng chuông. Mai nhận rõ hơi ấm của bé Trung đang lan tỏa trong cơ thể mình. Nhìn con Mai bỗng nhớ thương chồng và thầm nghĩ: “Không biết sau này lớn lên con Trung nó giống cha nhiều hơn hay mẹ nhiều hơn... Giống cha nhiều càng tốt con gái giống cha giàu sang ba họ. Câu ca xưa nói vậy mà...”, cái ông Tư Hàm thật là khó tính... Bao ý nghĩ không đầu, không đuôi xô đẩy nhau như ru mẹ con Mai đi vào giấc ngủ. Trong giấc ngủ, Mai thấy mình cùng Lâm đi trên đường rất rộng, thẳng băng và xám bóng những hàng lan can chạy dài xây bằng đá trắng chạy dọc hai bên đường. Lâm chỉ tay nói với Mai. -Em thấy con đường ngăn lũ anh vừa xây chưa? Rất chắc và đẹp. Mai lại thấy cầu Đà Rằng như một chiếc cầu vồng, màu trắng lóa nắng, xe chạy như mắc cửi và đoàn tàu màu xanh lá cây chạy lượn dài. Sông Đà Rằng mênh mông, hàng trăm tàu thuyền đậu bên nhau san sát. Những con sóng như đàn ngựa trắng tung vó chạy đua trên biển. Trên công viên nằm dọc bên đường, những trảng hoa hồng, hoa nhài, hoa đào Ấn Độ rực rỡ sắc màu. Bé Trung đang chạy trong vườn hoa đùa giỡn với đàn bướm Phượng Hoàng. Lâm chỉ cho Mai ngôi nhà sáu tầng hình hoa cúc và nói: -Bệnh viện tỉnh mới xây là nơi phân công em về công tác, ước mơ của em được thỏa mãn rồi đó. Dựa vào vai chồng say sưa ngắm nhìn sông, biển bao la, Mai bỗng thấy Lâm từ từ bay vào không trung, Mai cố chạy theo chồng mà không tài nào chạy... Trời bỗng chớp lòe một ánh sáng xanh biếc, Mai giật mình tỉnh dậy bàng hoàng thấy mình nằm trên võng, còn bé Trung vẫn ngủ say và tay đặt lên ngực mình. Tiếng máy bay phản lực B57 bay xẹt qua khiến Mai tỉnh hẳn, tiếc hoài một giấc mơ đẹp. Tiếng “bục...bục” từ phía biển rồi tiếng xoáy rít trên đầu và tiếng nổ chát chúa chụp lấy khu rừng. Mai ôm con từ trên võng của mình lao vào gộp đá. Bỗng một vật đập vào hông hất mẹ con Mai lăn trên đất bé Trung giật mình khóc thét lên. Thì ra ông Tư Hàm chẳng kể trời đất, từ võng mình lao tới hất mẹ con Mai ra ngoài để ông ta chui vào trong gộp đá. Mai ôm con, đẩy ông già Tư vào trong gộp, nằm ép xuống đất trong tiếng rung bần bật, vun vút của đất đá và mảnh pháo. Đợt pháo dứt, mọi người mới ngồi sát vào nhau. Chân ông Tư Hàm run bần bật dẫm lên chân Mai, Mai đẩy chân ông Tư nói nhỏ: -Hết pháo bắn rồi chú Tư à. Bất giác Mai thở dài “... Biết làm sao được với một ông già lúc nào thần chết cũng ám vào người. Hồi ở dưới làng ông Tư tham gia hoạt động bị địch bắt, sợ chết ông khai bậy bạ; khi thoát ly lên núi đi đâu cũng sợ chết... Gắn cho chức phụ trách kinh tài xã thì không dám xuống làng móc gạo... Còn bao chuyện nữa... Dẫu sao ông Tư Hàm cũng đứng hẳn về phía cách mạng, dụng nhân như dụng mộc... Biết tính sao bây giờ...”. Đợt pháo thứ hai rồi thư ba dội xuống, lần này thì ông Tư Hàm sợ hãi bật thành tiếng rên trong gộp đá. Cuối cùng ông Tư Hàm quyết định tháo võng vào nằm ngủ trong gộp đá mặc dù từ lúc đó cho đến sáng pháo địch không bắn tới nữa. Trời chạng vạng sáng mọi người đã dậy cuốn võng, xếp tăng cho vào ba lô và phân công nhau cảnh giới địch. Mùi thuốc pháo khét lẹt dai dẳng bám vào thân cây, đất đá. Cây rừng bị mảnh pháo chém xơ xác. Mai thư thả nói với Út Hân và Ba Hổ: -Có lẽ sáng nay địch rút quân đó. Út Hân nghi ngờ: -Sao chị biết? Ba Hổ chậm rãi: -Thì máy bay trinh sát B57 và B56 bay lượn cả đêm, rồi pháo bắn vào rừng tức là địch đã cụm lại ngoài trảng trống. Biệt kích còn ở trong rừng làm sao mà nó dám bắn vào quân nó. Út Hân à lên một tiếng gật đầu nhìn Mai nhoẻn miệng cười. Mai giảng giải: -Địch càn hơn hai chục ngày rồi còn gì. Khả năng chúng rút quân là chắc chắn. Tiếng máy bay các loại lại bay rền trời. Ba Hổ trèo lên cây thấy chiếc Si-núc hai chong chóng đậu trên đỉnh Hòn Đác khá lâu rồi cất cánh, dưới bụng máy bay một khẩu pháo buộc tòng teng từ một khoảng trống nhỏ trong rừng, ông Tư Hàm nhìn chiếc máy bay câu khẩu pháo 105 ly lơ lửng giữa trời bỗng thở phào khoai khoái, nói to cho mọi người cùng nghe: -Tổ cha cái thằng Mỹ... tưởng mày càn nữa!... Út Hân cười hì hì: -Vậy chú muốn chúng càn thêm à. Ông Tư Hàm dõng dạc: -Tao ngán gì... Đời tao đã bị biết bao trận càn như thế này rồi. Mọi người cười ầm lên. Mai ôm con, cười theo và nhìn ông Tư Hàm đang vung tay nói như diễn thuyết với Út Hân và thoáng nghĩ: “ Từ khi mình thoát ly đến giờ đã bị bao nhiêu đợt càn rồi nhỉ? Không nhớ nổi!...”
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #18 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2023, 02:18:24 pm » |
|
Chương 19
1 Sau cuộc càn nhà của hậu cứ xã Phụng bị địch đốt nên phải làm lại trên nền nhà cũ. Dưới nền nhà vẫn là cái hầm tránh pháo rất kiên cố. Những tàn cây xơ xác do pháo bắn đã héo khô, song ngụy trang kỹ ít bữa cây xanh tốt trở lại. Ông Chín Tòng thấy cần tăng cường lực lượng cho công việc thu hoạch sắn khô làm lương thực dự trữ nên để Út Hân, Ba Hổ ở lại và tăng cường thêm Đào lên hậu cứ xã. Có thêm ba thanh niên, công việc ở hậu cứ được giải quyết phăng phăng đến nỗi ông Tư Hàm phải thốt lên: -Ba đứa như ba con trâu chiến, giải quyết bao khó khăn mà hậu cứ mình lâu nay chưa làm được. Thím Năm nhẹ nhàng: -Đáng lý anh Tư phải gần gũi thân mật bảo ban chúng có cái tình là thắng hết anh Tư à. Ông Tư cởi mở: -Ừ ... Lâu nay tôi vậy ... Giờ thì sửa chị Năm à. Hậu cứ xã Phụng thêm đông khi Đoan, Lâm cùng hai công vụ tới “đầu quân” lập tức mọi người nới thêm lán và tạo cho mẹ con Mai một buồng riêng. Ông Tư Hàm không nói ra song gật gù cảm phục. Thương mẹ con Mai, anh em trong đại đội của Lâm gởi cho đơn vị hai chục ký gạo, ít hộp cá và sữa. Bữa Lâm và Đoan tới, thím Năm và ông Tư ngạc nhiên khi Lâm và Đoan è cổ gùi gạo, khoác AK còn hai cậu lính trẻ thì đeo ba lô, súng ngắn. Té ra dọc đường cả hai bị sốt nên Lâm và Đoan phải gùi, cõng cho lính. Thấy Mai gầy rộc đi, Lâm thương cảm: -Ráng ăn cho khỏe lấy sữa nuôi con. Đoan xót xa: -Con nhỏ da xanh mét...Chà!... Không ổn. Hai ngày thoáng vụt qua, chiều nay, Mai, Lâm và Đoan ngồi bên nhau nói chuyện khá lâu. Đoan nhìn Mai áy náy: -Mình nói hai người nghe và suy nghĩ, nhất là Mai... Cuộc chiến đấu còn ác liệt và lâu dài, theo mình Mai nên gửi cháu xuống làng cho Nguyệt nuôi. Lâm giãy nảy: -Không được! Nguyệt chưa chồng sao lại có con, địch nó sẽ bắt ngay. Nguyệt còn hoạt động, còn đi học... Đoan cười rung vai, nheo mắt diễu bạn: -Vậy mà đòi có vợ, ông chưa hiểu hết phụ nữ. Mình tin là Mai và Nguyệt sắp xếp ổn thỏa. Đoan nhìn Mai: -Em gái, nói thay Nguyệt dùm anh. Mai cúi đầu cảm động vừa bẽn lẽn vừa tần ngần: -Em tin là Nguyệt thay em nuôi cháu tốt lành... Nhưng vừa đi học, vừa hoạt động hợp pháp mà nuôi cháu thì rất dễ bị lộ... Đoan cười chen ngang: -Nếu bị lộ thì hai dì cháu ẵm nhau lên núi thoát ly.Từ trước tới nay đã có bao nhiêu trường hợp cán bộ gửi con xuống làng đã có trường hợp nào bị lộ đâu. Cả ba cùng cười, Mai ấp úng: -Tùy hai anh... em sao cũng được... Kể ra bé Trung còn nhỏ quá! Lâm gãi tai, gãi đầu: -Ở với Nguyệt con bé nhà mình thuận lợi hung rồi, nói thiệt... dẫu sao cũng nhơ nhớ ông à. Đoan vui vẻ: -Mình tranh thủ xuống xã bàn chuyện này với chú Chín Tòng. Việc này nhất định phải nhắn Nguyệt lên gặp mới bàn cụ thể được. Đoan tinh nghịch nháy mắt nhìn Lâm: -Mình ở đây chỉ tổ cản chân đâu còn thời gian cho các vị hú hí với nhau nữa... Mai đấm vào lưng Đoan: -Ông quỉ, sinh chuyện!... Đoan đứng dậy vỗ vai Lâm vừa đi vừa ngoái lại nói to: -Đó, con Mai nó đuổi khéo mình... Mình đi đây... Chiều nào cũng vậy, Út Hân và Ba Hổ đi rẫy về trên vai đều trĩu nặng những bó củi khô. Chiếc gùi sau lưng thím Năm bao giờ cũng đầy rau cải tàu ô, ngò tàu và sắn. Lâm nhanh miệng hỏi: -Chú Tư chưa về à? Út Hân khoái chí: -Chú ấy đang gài bẫy bắt sóc, em nói: chú mà bắt được sóc cháu sẽ để lưng cho chú đốt lửa thui sóc, ông ấy tức khí ở lại gài bẫy bắt sóc cho bằng được. Thím Năm chẹp miệng: -Cái thằng, lúc nào nó cũng tìm cách chọc ông già. Ông Tư nói với tao, ở hậu cứ chẳng còn đồ ăn, bọn bay tới không liên hoan cải thiện gì được nên ông đi bẫy sóc. Út Hân báo tin ngay: -Thím yên tâm, tối nay Ba Hổ đi bắn cải thiện. Ba Hổ giọng gọn trơn: -Anh Đoan dẫn đầu nhóm đi săn tối nay, tao đi bắn phụ, còn thiếu đứa đi ếch. Út Hân hăng hái: -Em đi với, bắn được con nai, con quảy mình hạ trại, việc bếp núc có “ếch” này lo. Ba Hổ đủng đỉnh: -Cái thằng, mày làm như thú rừng nằm trong túi lúc nào muốn lấy ra có liền không bằng. Thím Năm và Mai đang lúi húi nấu ăn, ông Tư trở về với dáng tiếc rẻ và hậm hực: -Tức muốn chết, con sóc đỏ dạ vậy mà nhoằng một cái phá bẫy nhảy mất. Mai đỡ lời: -Chim trời, cá nước một may một rủi, ngày mai biết đâu trúng. Ông Tư chẹp miệng: -Nói ra bảo tôi là duy tâm chứ cái miệng thằng Hân độc thiệt. Hèn gì ngày xưa đi săn, đi câu người ta lẳng lặng đi, nói trước một bước không qua là vậy. -Ôi dà! Cái thằng Hân, nó biết gì, chẳng qua nó khích vì nó muốn ông truyền cho nó cái nghề làm bẫy bắt sóc, bắt chồn đấy thôi. -Cũng tại tao, hạ quyết tâm bắt cho được con sóc đỏ dạ để cho nó biết mặt... 2 Muôn vạn ngôi sao trên trời long lanh. Chòm sao Bạch Hổ ở phương tây chói sáng, chòm sao Ba sáng vàng, chòm sao Chu Tước sáng đỏ. Tận xa thẳm trong dải sông Ngân mênh mông ánh sao sáng quyện vào nhau. Thỉnh thoảng một vùng sao bị mờ đi rồi sáng ra, đó là lúc những đám mây che ánh sáng long lanh huyền ảo ấy. Đoan cùng Ba Hổ, Út Hân đội đèn đi băng qua rẫy. Ba Hổ nhắc Út Hân: -Có mang theo Pin dự trữ không? -Yên tâm, địch mới càn, lượm được vô khối. Cúi xuống buộc dây giầy và nhìn chiếc giầy to bè dưới chân, Đoan cười vang: -Hơi to một chút, công nhận là đồ quân sự của Mỹ tốt thiệt. Hai đứa buộc dây giầy cho chặt, kiểm tra một lần nữa xem nào. Khoác khẩu AK, Đoan bước những bước dài trên trảng tranh. Một vùng đồi núi bát ngát lộng gió, ánh đèn pin trên đầu quất loang loáng, cả ba người vừa đi vừa quan sát. Ban ngày trông Hòn Chuông giống như một chiếc chuông chùa màu xanh vàng của cỏ tranh, nhưng ban đêm trông giống như một cái nấm rơm khổng lồ màu đen tím giữa trời... Ba Hổ và Út Hân tuy không được sử dụng đèn, song bước chân của từng người khá thuần thục. Soi đèn về phía cây cao đứng chơ vơ trên bãi cỏ tranh. Ánh đèn tạo thành một luồng sáng tròn Đoan tỳ vai ngắm bắn. Viên đạn vụt bay cùng với tiếng rơi nhẹ từ trên cây xuống. Cả ba anh em chạy tới, Út Hân reo lên: -Một con cù lần. Ba Hổ quất đèn pin soi liền vỗ vai Út Hân: -Mày thấy tài bắn của đại sư chưa? Út Hân buồn bã: -Bữa nay anh em mình gặp xui hung rồi... Ba Hổ khẳng định: -Theo tao thì coi như bình thường thôi . Út Hân khẳng định: -Gặp con cù lần làm sao không xui. Cả ba anh em lại lặng lẽ đi trên đồi tranh. Vẫn một cái đèn bắn quất ngang, quất dọc, đi gần một tiếng đồng hồ mà chẳng thấy bóng dáng một con nai, con quảy nào cả. Đi tới Hòn Chuông, Đoan dừng lại nói: -Ngồi nghỉ một chút rồi tiếp tục đi. Út Hân theo mình, còn Ba Hổ đi lên phía trên trảng tranh vòng tới đường xuống Đá Bàn rõ chưa. Vừa hút thuốc vừa nhìn về phía đầm Ô Loan, Đoan nhận ra những ánh đèn chạy dài không sáng lắm là đèn cắm đăng trên đầm. Xa tít ngoài khơi là ánh đèn của những con thuyền đánh cá sáng trắng bồng bềnh là ánh đèn nê-ông. Những ánh đèn nối kết đan dày hàng chục cây số khiến người ta có cảm giác ở đó là một thành phố trên biển. Đoan bỗng nhớ đến thời còn đi học cùng bạn ra đầm Ô Loan đi thuyền và mua cua đầm về ăn. Con cua đầm chỉ bằng nắm tay, mai cua rất mềm. Khi luộc xong chỉ cần bóc nhẹ một chút đã thấy gạch cua đóng dày trong mai và thân cua. Thịt cua mềm, gạch cua ngậy, bùi và thơm, đã ăn rồi thì hương vị không bao giờ quên được. Ngày xưa cua đầm Ô Loan là sản vật cung tiến cho nhà vua, thế mới biết các cụ xưa rất tinh tường. Hơn một tiếng đồng hồ đi vòng quang Hòn Chuông, mồ hôi Đoan vã ra ướt đẫm lưng áo. Một cơn gió mạnh ùa tới kéo theo sương đêm lành lạnh phả vào mặt khiến Đoan thoáng rùng mình. Bỗng một tiếng xoạt... xoạt... phía bên trái, Đoan quất đèn rọi theo một con quảy không chịu bắt đèn đang cong đuôi chạy, Út Hân tiếc rẻ : -Chà...Uổng thiệt. Em đã nói rồi mà anh không chịu tin, đi săn gặp cù lần là thất bại ngay. Đoan cười: -Cứ yên lặng theo anh. -Anh nói động viên em thì có. -Để rồi Út coi. Ánh đèn đang quét ngang dọc trên trảng tranh bỗng hai đốm sáng đỏ bắt thẳng đèn của mình bỗng thấy Đoan nhanh chóng chống cây chạc, tỳ súng ngắm bắn. Một tiếng nổ đanh gọn kèm theo tiếng “bục” nhẹ và Đoan liên tiếp bắn hai phát rồi cả Đoan và út Hân cùng chạy tới. út Hân reo lên: -Con nai chà. Ánh đèn rọi thẳng vào con nai đang nằm gục trước mặt, cặp sừng khẻ ngọ ngoậy Đoan cẩn thận bắn bồi rồi quay lại: -Thấy chưa Út ? -Con nai phải tới hơn trăm ký thịt ... Anh nói thiêng thiệt. Út Hân nhướn cổ hú vang, tiếng Ba Hổ hú vọng nhỏ và rền chứng tỏ còn ở rất xa Đoan và Út Hân. Hai anh em ngồi chờ gần tiếng đồng hồ mới thấy Ba Hổ vác về một con nhím. Cả ba anh em kéo nhau xuống suối xả thịt nai, nhổ lông nhím. Ánh lửa bập bùng uốn lượn, hơi lửa hút đất ướt xèo xèo xua tan cái lạnh trong đêm. Lóc một miếng thịt nai bỏ vào nồi cháo rồi lấy thịt nhím và thịt nai thái nhỏ trộn với gia vị để làm món chả nướng Ba Hổ vui vẻ: -Anh mắc võng nghỉ, bọn em làm chút xíu là xong ngay thôi mà. Nằm hoài vẫn không chợp mắt được, Đoan cầm đèn pin đi lên dốc ra chỗ hòn đá đầu trảng tranh ngồi một mình. Rít những hơi thuốc dài, Đoan đăm chiêu nhìn về thị xã Tuy Hòa đang ánh lên một vùng sáng màu da cam của ánh điện. Mới đó mà đã hơn sáu năm xa thị xã Tuy Hòa, không ngờ cậu học sinh Nguyễn Huệ năm nào bây giờ đã trở thành anh giải phóng quân... Đoan tư lự ngồi với bao kỷ niệm ... “Ngôi trường Nguyễn Huệ hai tầng núp sát bên những lùm cây phượng vỹ, mỗi mùa thi tới hoa nở đỏ như lửa, những cánh hoa rụng lả tả trong những cơn gió nam đậu dày sân trường. Hai hàng cây chạy dọc theo con đường vào hội trường mà thầy trò thường hội họp, diễn văn nghệ bốn mùa xanh rợp bóng cây. Trường Nguyễn Huệ quả là một nơi yên tĩnh lý tưởng. Xung quanh trường là những con đường nhựa thẳng tắp, những vi la nhỏ của các gia đình viên chức lấp ló trong những vườn cây. Mỗi buổi tan trường học sinh ùa ra đi chật cả đường Hoàng Diệu. Cái nhóm thằng Châu, thằng Cảnh, con Loan cùng lớp với Đoan cù mỉ, cù mì chịu thua đứng ép vào lề đường khi mấy thằng con trai lục tặc đi xe đạp đánh võng cố ý ép cả ba đứa vào một chỗ...”. Đoan thở dài: “Vậy mà thằng Châu bây giờ là sĩ quan biệt động, nghe nói nó hận đời gì đó mà tự nguyện vào lính biệt động. Còn thằng Cảnh vào cảnh sát. Con Loan lấy Mỹ nghe nói theo chồng đi xuất ngoại... Thật là trớ trêu, sau này hòa bình thống nhất gặp lại nhau sẽ ra sao nhỉ?...”. Đoan đứng dậy sảng khoái đi xuống suối. Cháo đã nhừ. Thịt nướng, thịt luộc đã được đã được thái thành từng miếng to bày lên mấy tấm lá chuối rừng. Ba Hổ chọn một tảng đá bằng bày thức ăn và đặt nồi cháo bên cạnh trông thiệt ngon miệng. Đoan gật gù: -Trông như bữa tiệc trong tiệm ấy. Ba Hổ thiệt thà: -Ăn như vầy còn ngon hơn ăn đám giỗ, em lấy mấy viên vi-ta-min C hòa với muối ớt thì ăn mới đã. Út Hân cầm chén múc cháo cho từng người hào hứng: -Ăn đi mấy anh... Ăn uống dọn dẹp xong cả ba anh em lên võng nằm ngủ. Ba Hổ, Út Hân vừa đặt lưng lên võng là ngủ say như chết. Riêng Đoan bao giờ cũng nằm một lát mới ngủ được. Nghĩ đến Lâm và Mai, Đoan thấy mừng cho hai đứa đã nên vợ nên chồng, dám làm, dám chịu, kiên quyết cưới nhau cho bằng được mà hóa hay. Xét cho cùng tại cấp trên, hai đứa báo cáo xin làm lễ cưới thì ghim lại, động viên khoan tới, khoan lui báo hại cho đôi bạn tự dưng mang vạ vào thân. Bất giác hình ảnh Nguyệt hiện lên, đôi mắt đen láy đang nheo lại nhìn như cố tình chọc cho Đoan cười. Chiếc răng khểnh nổi lên hòa quyện trên hàm răng hạt lựu càng làm cho khuôn mặt trái xoan của Nguyệt thêm duyên dáng biết bao. Thời Diệm cầm quyền, ba Đoan bị bọn ác ôn bắt, tra tấn dã man rồi thủ tiêu. Ba má Nguyệt thay nhau tới nhà động viên giúp đỡ, an ủi Đoan. Có lần nhìn Đoan và Nguyệt học bài ba Nguyệt đăm chiêu rồi buột miệng: “Tội nghiệp! Chúng đưa ảnh đi thủ tiêu, ảnh chửi lại chúng, chửi lại thằng Như phản bội... Tội nghiệp thằng nhỏ giống cha như đúc”. Rồi ba Nguyệt thoát ly và hy sinh, hai gia đình càng gắn bó với nhau, hình như trong sâu thẳm, ánh mắt má Nguyệt ẩn náu một điều gì đó chưa tiện nói ra. Bỗng Đoan nhớ tới buổi chiều mưa ào ào dội xuống mái tôn. Gió và mưa quật vào cây cối vun vút, Đoan và Nguyệt chụm đầu giải những bài toán khó. Đang học bỗng Nguyệt viết tờ giấy nhỏ trao cho Đoan: “Nguyệt buồn ngủ!... Đoan nằm xa lông mà nghỉ, lát nữa học tiếp đồng ý không?...”. Đoan gật đầu và nằm dài trên xa lông khoan khoái tai lắng nghe tiếng mưa rơi đều đều và tiếng gió đập lao xao. Đoan bỗng nói bâng quơ: -Một lát nữa là tạnh mưa. Thấy nguyệt không trả lời, biết Nguyệt đã ngủ, Đoan cầm cuốn truyện chăm chú đọc. Một lát sau thấy Nguyệt tới dúi vào tay Đoan tờ giấy: “Đố Đoan biết từ nãy đến giờ Nguyệt ngủ hay thức. Ghi vào giấy trả lời, yên lặng cho má ngủ...”. Đoan ngồi dậy viết tiếp vào tờ giấy “Lim dim con mắt đúng chưa?...”. Nguyệt xem giấy khúc khích cười: -Tài thiệt! Sao biết người ta mắt lim dim. -Thầy bói có hạng sao không đoán trúng. -Xạo!... Chọc quê em!... -Muốn ngủ mà không ngủ được, cố nhắm mắt mà mắt vẫn mở vậy không lim dim là gì. Nguyệt thiệt thà: -Ừ... em cứ nghĩ đâu đâu ấy thôi mình học tiếp đi anh. Đoan tinh nghịch: -Đánh cờ ca- rô giải trí. Nguyệt nheo mắt: -Bữa nay nhất định bị em vây cho anh hết lối chạy. -Để rồi coi. Hai mái đầu chụm vào nhau, vô tình Đoan nhận ra mùi thơm lá sả từ mái tóc Nguyệt, Đoan ngây người nhìn Nguyệt. Nguyệt ngạc nhiên: -Anh làm sao vậy? Đoan giật mình vụng về: -À không có gì... Lại chụm đầu vào học, mái tóc lòa xòa thơm mát của Nguyệt thỉnh thoảng lướt qua má mình, tự nhiên tim Đoan đập thình thịch rồi chợt nghĩ “cùng lắm xin lỗi là cùng...” Đoan nghiêng đầu hôn lên tóc Nguyệt. Vai Nguyệt bỗng rung lên, đôi mắt sáng ướt nhìn Đoan đăm đắm. Đoan đánh bạo: -Cho hôn một cái. Nguyệt vẫn khúc khích: -Bộ hôn dễ lắm sao!... Nhưng chỉ được một cái thôi nghen!... Cơn gió mạnh kéo theo mảng sương đêm lành lạnh ùa tới làm Đoan thoáng rùng mình trườn người lấy tấm dù đắp trùm lên đầu và ngủ thiếp đi trong đêm sâu. 3 Ánh sáng lộng lẫy của buổi sáng bừng trên cao nguyên Vân Hòa. Trên đỉnh Hòn Đác, Hòn La cao ngất ngưởng mây trắng như bông ôm tròn chóp núi, tạo thành những vòng bạc lấp lánh. Rất xa thị xã Tuy Hòa nổi lên giữa khoảng xanh mơn mởn của đồng lúa và biển cả bao la. Xa nữa, gần sát chân núi Đá Bia sừng sững là sân bay Đông Tác với những nhà vòm chứa máy bay uốn vòng nối tiếp nhau như sóng.Tít tắp ngoài biển giữa sóng nước mênh mông, hai chiếc tàu Mỹ trắng lốp đứng chơ vơ. Tận cùng vòm trời là vạch nước thẳng tắp như cái đập chạy dài vô tận khiến người ta có cảm giác như một bức tường xây bằng đá xám mờ phẳng phiu. Không một tiếng pháo, không một tiếng bom, không một tiếng máy bay. Sự yên tĩnh mênh mông của buổi sáng quả là hiếm có ở chiến trường Nam Trung bộ. Sương đọng dày trên cỏ tranh, quệt vào người làm cho quần áo của ba anh em ướt sũng. Đất đỏ au, dẻo quạch dính chặt vào giày làm cho giày nặng trịch. Băng qua những rẫy sắn cao quá đầu người, cả ba anh em về tới nhà trong niềm hân hoan sảng khoái. Lâm và ông Tư Hàm đỡ gánh xương nai trên vai Ba Hổ và Út Hân để lên bàn ăn. Thím Năm và Đào hối hả chặt lá cây trải dày trên nền nhà rồi để gần một trăm cân thịt nai. Các loại xoong, nồi được rửa sạch và bày ra. Mọi người xúm vào thái thịt. Ông Tư Hàm lật đật đứng dậy với chiếc gùi vừa đi vừa nói với mọi người: -Tôi ra rẫy hái rau, kiếm gia vị. Mai cầm ca cà phê đưa cho Út Hân: -Mời ba anh em trút bộ đồ đi săn ra để bọn này giặt. Cả huyện người nấu ăn không cần ba anh em phải tham gia đâu. Út Hân nhanh nhảu cầm ca cà phê san ra chén mỏng đưa cho Đoan và Hổ: -Nước cà phê đựng trong chén mỏng uống mới đúng cách. Lâm đắc ý: -Cái gì cũng phải đàng hoàng chứ. Ông Tư Hàm tới chỗ dấu đồ của mình đem về chai rượu gạo đắc ý dơ cao cho Lâm và Đoan biết. Bao giờ cũng vậy, cánh phụ nữ ăn xong rồi mà cánh đàn ông vẫn còn khề khà. Thím Năm, Mai và Đào thay nhau phục vụ bữa tiệc nhậu của cánh đàn ông. Tiếng bánh tráng nướng bẻ kêu rôm rốp, tiếng xuýt xoa vị cay nồng của ớt, của rượu quyện trong tiếng cười nói rôm rả. Ông Tư cầm ly rượu dơ cao và kéo dài giọng: -Nè...Mấy chú...Tất cả năm mươi...phần trăm... Sao hay là một trăm...phần trăm. Thấy Lâm và Đoan chỉ nhấp sơ vào ly rượu, ông Tư Hàm dang tay nói to: -Chưa được...Chưa được...Hai chú phải uống hết...Nếu không bị phạt... Út Hân biết phận chỉ ngồi ăn và gắp. Ông Tư thấy vậy khoa tay chỉ vào Út Hân: -Thằng Út ăn hùng hục như trâu sao gọi là ngon. Phải biết món nộm có cả chua, ngọt, bùi, cay, mới đủ vị. Ăn miếng thịt nướng phải biết cái ròn, ngậy mới là ngon...Tôi nói có phải không các chú? Bữa ăn vui vẻ kéo dài và trọn vẹn. Ông Tư mặt đỏ gay, chưa có bữa nào ông nói to và nói nhiều như hôm nay. Ăn uống dọn dẹp xong mọi người mới mắc võng đi nghỉ. Vừa đặt mình lên võng, ông Tư Hàm đã ngáy pho pho. Đầu ông hơi nghiêng sang một bên, những nếp nhăn ngang dọc hiện rõ trên khuôn mặt. Nhìn kỹ mới thấy trên khuôn mặt của ông Tư như ẩn chứa bao vui buồn, thăng trầm của cuộc đời mà ông đã trải qua. Ẵm con nằm trên võng, Mai nhìn ông Tư Hàm thấy tồi tội lẫn thương hại, lẫn cảm thông và trân trọng. Quả là khó mà phân tích được nỗi đồng cảm của Mai đối với ông Tư Hàm. Một cơn gió thoảng qua, ông Tư Hàm khẽ rùng mình ngồi bật dậy và ôm bụng. Út Hân nghe tiếng võng kêu đánh “soạt...” vội bật người ngồi dậy ngơ ngác. Thấy ông Tư ôm bụng chân bước xiêu xiêu liền đứng dậy dìu ông già. Ông Tư bước những bước dài hối hả. Rồi bỗng gạt phắt Út Hân sang một bên và vội vàng tụt quần ngồi thụp xuống. Mùi phân chua khẳn xông lên, bụng sôi lên rong róc, chân tay bỗng bủn rủn, ông Tư dựa vào thân cây lầm bầm: -Cái ruột không yên! Út Hân dìu ông Tư vào nhà và đỡ ông nằm trên võng. Thím Năm chẹp miệng: -Tại ăn quá nhiều, uống quá chén đó ông Tư à. Ông Tư Hàm vừa rên vừa trả lời: -Lâu ngày có một bữa ngon thành thử quá đà. Út Hân cười hì hì: -Anh Lâm, Anh Đoan cũng ăn uống như chú sao không việc gì. Ông Tư Hàm lặng im không trả lời, lấy tấm đắp tủ lên người. Ánh lửa bập bùng giữa lán tỏa hơi ấm vỗ về mọi người chìm vào trong giấc ngủ sâu để bù đắp lại những đêm mưa dầm phải nằm co ro trong gió lạnh giữa rừng. Những cây củi bằng bắp chân, bắp đùi được xếp chồng lên nhau cháy lem lém. Những ngọn gió lùa qua uốn những ngọn lửa nghiêng ngả như người đang nhảy múa. Củi khô lách tách nổ làm bay ra những tàn lửa đỏ hồng vọt lên rồi tắt ngấm. Từng bầy đom đóm ngoài rẫy bay chấp chới và tiếng dế mèn kêu ri ri... hoài trong đêm. Bỗng những ánh chớp xanh lè và những tiếng nổ xé tai chụp tới. Mai hất bọc võng ôm con bật dậy nhoài người xuống đất. Mùi thuốc đạn khét lẹt và mảnh pháo bay sát sạt như muốn xé tan căn lán. Khom người lấy lưng che mảnh đạn cho con, Mai nhoài người chui xuống hầm. Căn hầm rung lên bần bật. Người trong hầm như dán chặt vào nhau. Bỗng ông già Tư dẫy lên hai cái toàn thân mềm nhũn, đầu nghẻo xuống vai Mai. Tiếng khò...khò...ặc...ặc...của ông Tư làm mọi người hoảng hốt. Mai sờ tay lên cổ, lên mặt ông Tư Hàm bỗng hốt hoảng kêu lên: -Chú Tư chết rồi!... Lại một loạt pháo bắn tới làm cho đất trên nắp hầm rơi xuống rào rào khiến mọi người phải ngồi ép sát vào nhau. Ngồi ngoài cùng, Đoan quay vào hỏi: - Còn ai việc gì không? -Không... Đoan nói như ra lệnh: -Dãn ra đặt chú Tư nằm xuống! Trời hửng sáng. Cây cối ướt đẫm sương đêm. Những mảng sương mù vẫn bay là là trên rừng, trên rẫy. Ngọn lửa giữa nhà vẫn bập bùng cháy. Không khí im lặng nặng nề trùm lên từng người. Lâm, Đoan cùng Ba Hổ, Út Hân cùng hai cậu liên lạc đi đào huyệt. Mai, Đào và Thím Năm ở nhà sắp xếp lại quần áo, tư trang của ông Tư Hàm. Ông già Tư người lạnh cứng, da xám nhợt nằm ngay ngắn trên tấm tăng võng trải bên đống lửa. Toàn thân ông Tư không bị một mảnh pháo nào ngoài một vết thương chỉ bằng trái táo trên trán. Có lẽ ngay từ loạt pháo đầu tiên mảnh đã găm trúng đầu nên ông Tư chỉ kịp lao xuống hầm nấc lên rồi chết. Mọi người đặt ông Tư Hàm lên võng và phủ lên người ông tấm đắp bằng vải dù của chiếc đèn dù mà ổng đã lượm được rồi hì hục lấy thuốc quả pháo mù màu tím về nhuộm. Mắt ông già vẫn như hé mở. Đuôi mắt của ông Tư những nếp hằn sâu, cái giựt lên, cái kéo xuống như muốn kéo cặp mắt mở ra để nhìn mọi người và trời đất. Cặp môi ông như mấp máy, như muốn nói ra những điều với mọi người mà ông chưa nói được . Vết máu trên trán ổng được lau sạch chỉ còn một vết tím hơi dài. Nếp nhăn trên vầng trán ông Tư có cái hất lên, có cái dãn ra. Có lẽ những nếp nhăn dãn ra là những điều ông đã nói được với mọi người, đó là điều ông đã khẳng định cho mình quyết tâm một đời chiến đấu hy sinh cho cách mạng. Những nếp nhăn nằm vằn vèo trên trán phải chăng là dấu ấn của những tháng năm trăn trở về những uẩn khúc mà thời gian ông sống trong tù, trong quản thúc của địch mà Đảng chưa có điều kiện lý giải giúp ông. Thím Năm lấy tờ giấy pô-luya trắng tủ lên mặt ông Tư Hàm rồi nức lên: -Mới đó anh ấy còn!... Giờ đã đi rồi!... Mai đỡ thím Năm đứng dậy an ủi: -Chiến tranh thím à, cái chết có từ ai đâu. Ấy vậy rồi đôi vai Mai cũng rung lên, gục vào thím Năm, cả hai thím cháu ôm nhau khóc rưng rức. Tiếng Út Hân nói trong nỗi buồn lẫn bâng quơ: -Tối nay... Chỗ chú Tư...trống rồi!...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #19 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2023, 03:15:21 pm » |
|
Chương 20
1 Đào, Út Hân, Ba Hổ cùng Đoan về căn cứ xã Phụng báo tin chú Tư Hàm hy sinh cho anh em dưới căn cứ biết. Toàn bộ đồ đạc, tư trang của ông Tư Hàm, Đoan mang về bàn giao cho ông Chín Tòng. Biên bản kê khai đồ đạc và tư trang của ông Tư được làm rất kỹ, có chữ ký của tất cả những người chứng kiến. Ở với ông Chín Tòng khá lâu biết rất coi trọng công tác tử sĩ nên Mai viết thư trình bày rõ trường hợp hy sinh của ông Tư Hàm để ông Chín Tòng xuống làng báo tin và trao tư trang cho gia đình ông Tư. Người đi rồi nhưng kỷ vật còn đó, nhất định con cháu ông Tư Hàm lại nối bước ông đi đánh Mỹ cứu nước. Trong thư viết cho ông Chín Tòng, Mai không quên việc thím Năm nhắn anh em mua nhang gửi lên hậu cứ để thắp cho ông Tư. Trong nhà chỉ còn lại Mai và Lâm. Lâm ẵm bé Trung nằm trên võng. Từ khi sinh con đến giờ, bữa nay Lâm mới được ẵm và đùa giỡn với con. Bé Trung cười toe toét, tay sờ lên cằm cha. Lâm hôn con, con bé vừa đau vừa nhột khi cái cằm đầy râu chạm vào má. Lâm nựng con: -Ba xin lỗi, ba quên cạo râu. Nô đùa chán hai cha con ôm nhau ngủ. Mai lấy quần áo của chồng, tã lót của con đem đi giặt. Nhìn những chỗ rách, trên quần áo chồng, Mai thấy thương chồng và tự trách sao không để ý khâu vá để chồng mặc rách. Quả thực quần áo của Lâm không có bộ nào mới cả, không những vậy, áo quần cháy lỗ rỗ vì bị dính tàn thuốc. Từ suối về, Mai phơi quần áo, tã lót rồi lẳng lặng ngồi cạnh chồng. Nhìn chồng và con nằm ngủ Mai bần thần: “Lâm khổ quá!... chiến đấu đã căng thẳng lại lo cho vợ, cho con, cứ đà này chẳng mấy lúc mà nếp nhăn đến trước tuổi... Ở đơn vị, biết tâm sự cái khó với ai, chỉ biết lấy thuốc hút để tâm sự một mình...với mình!...” Mai mỉm cười nhìn chồng “ Tội nghiệp anh chàng đến là ham con...cứ dành ẵm mà tới bữa nay mới được ẵm con”. Mai lấy chiếc khăn trong ba lô ra thêu, chiếc khăn trắng muốt, xung quanh khăn là đường viền bằng chỉ thêu màu xanh lá cây. Mai thêu cho chồng chiếc khăn để khi nhìn thấy khăn đỡ nhớ mẹ con Mai. Sực nhớ chùm hoa trên chiếc khăn mà bé Trung được tặng khi mới sinh. Lấy khăn ra, Mai ngắm nhìn chùm hoa và dòng chữ : “Tặng bé Thủy Trung”. Trong khăn lại thêu cả câu thơ: Cháu là hoa của núi rừng, là mặt trời nhỏ sáng bừng tương lai Chú của cháu :Tự Tôn Mai nhìn chùm hoa trên chiếc khăn của Tôn bất giác cười: Câu chuyện Lâm đặt tên cho con là Trung bắt nguồn từ chiếc khăn thêu của Tôn. Hồi Mai mang bầu, trên đường lên Tỉnh họp ghé vào đại đội 25 thăm Lâm. Việc Mai sinh con trai hay con gái bỗng nổ ra cuộc tranh luận của anh em trong đơn vị và được chia làm hai phe rõ rệt: Với những kinh nghiệm gia truyền, thâm niên coi tướng số kết hợp với các lý thuyết y học đông tây kim cổ, hai phe đều đem ra bảo vệ ý kiến của mình và chẳng bên nào chịu thua bên nào. Cuối cùng một anh lính trẻ đưa ra ý kiến hai phe phải ký biên bản làm bằng chứng, chờ chín tháng mười ngày Mai sinh thì mới xác định được phe nào thắng cuộc. Phe thua thì cứ trên danh sách đã ghi tới lục ba lô lấy đường tập trung lại đưa cho anh Hồi nấu chè liên hoan. Giấy này đưa cho anh Hồi giữ và bầu anh Hồi vừa làm trọng tài và kiểm sát. Phe tiên đoán con trai đưa ra hơn mười tên nào là: Trung Dũng, Trường Sơn, Minh Triết..v.v.. Phe tiên tri con gái cũng đưa ra hơn mười tên đẹp như: Kim Oanh, Ngọc Hà, Minh Hằng..v.v... Duy chỉ có một mình trung đội trưởng Tôn xông vào đề nghị : -Thắng thua y như khế ước mà thực hiện, còn việc đặt tên phải có ý nghĩa tớ xin đặt tên là Lê Nguyễn Thủy Trung. Trung ở đây là “tê e rờ ung trung” nghe chưa các vị? Một anh chàng kêu lên: -Ông đồ ơi, ông lại giở Hán chùm ra rồi đấy. Một người khác đế vào: -Chèn đét ơi!.. Nam Mô a di đà Phật...và lạy Chúa... Ông đồ à, ông cao lênh khênh, đôi vai chè bè, khăn xếp áo đóng nào chịu nổi thân hình ông. Mọi người cười ầm lên, Tôn cố nói xong không lại với mọi người. Cuối cùng lại anh lính trẻ dàn xếp: -Đề nghị im lặng...Ưu tiên lớp trẻ nói chứ. Không cho em nói là em phá đám đấy. -Thôi...Cho nó nói. -Nào đặt tên cho vợ tương lai đi em. Chàng lính trẻ e hèm một tiếng rồi dõng dạc: -Đề nghị anh Tôn, tên cúng cơm là Văn Tôn, hiệu là Tự Tôn, xin trả lời ý nghĩa cái tên đại ca đặt. Tôn cười hà hà: -Này... Nói có sách, mách có chứng. Đây là quà tớ tặng đôi uyên ương. Tôn dơ chiếc khăn lên dứ dứ. Chàng lính trẻ hỏi vặn: -Anh lấy ở đâu ra cái khăn, hay là đi xin rồi tặng lại? Tôn lại cười hà hà: -Tớ quen một nàng bên Tỉnh ủy. Nàng quen tớ trong một buổi trưa hè, hai đứa gùi gạo tóe mồ hôi. Cảnh trời, trăng, mây nước mắt tớ tóe đom đóm vì mệt. Tớ xin nàng ngụm nước thế là quen. -Rồi sao nữa, tiếp tục. -Cô em viết thư qua, tớ viết thư lại, thấy chữ tớ đẹp, cô em nhờ tớ viết giúp khăn thêu, tớ liền nhờ cô em thêu giúp chiếc khăn. Cô em cảm động việc làm của tớ viết thư sang nhận lời và còn nhiều tình tiết thiết tha..v.v... -Thì giải nghĩa đi, để anh Lâm chị và chị Mai duyệt. -Chữ Thủy là thủy chung. Chữ Trung là trung hiếu. Nào thấy ý chưa? -Nghe...Có lý đấy. Tôn tự hào: -Trai hay gái tên ấy đều được hết. Tôn đưa khăn cho chàng lính trẻ: -Này giao nhiệm vụ cho thằng con rể, tới gặp bố mẹ vợ tặng quà cho vợ hãy còn trong bụng mẹ, có tao đi kèm. Trong lúc vui, Lâm và Mai nhìn nhau nhận lời ào vậy mà chuyện đùa thành thật. Nhớ đến Tôn, Mai thoáng buồn và thở dài: “Chữ chú Tôn còn đây mà người đã hy sinh rồi. Tội nghiệp!... Lúc bé Trung ra đời cũng là lúc đại đội 25 đánh địch ở xóm Cây Dừa huyện Củng Sơn, Tôn hy sinh, trong ba lô chỉ có mấy bộ quần áo đã sờn và cuốn sổ tay để ghi nhật ký. Lâm đã cẩn thận gửi theo đường giao liên để gia đình giữ làm kỷ niệm, không hiểu có tới nơi được không?!..”. Ngồi lặng yên trong miên man xao động, Mai nhớ bài hát mà Tôn hát hôm Mai đến đơn vị thăm Lâm. Chẳng hiểu ai sáng tác bài hát đến là hay: “Nắng lên, nắng lên đi cho hoa gạo quê tôi rực rỡ. Xuân đến từ cửa Đông cho hoa chào đón xuân về...” Mai quên mất lời bài hát đó rồi. Hẳn thành phố Nam Định quê Tôn đẹp lắm, Mai nghĩ thành phố Nam Định, chắc cũng như thị xã Tuy Hòa, và có lẽ lớn hơn Tuy Hòa nhiều. Bé Trung cựa mình Lâm bừng tỉnh, thấy vợ ngồi cạnh, vội ngồi dậy đưa con cho Mai ẵm: -Để anh mắc võng cho hai mẹ con nằm. Em nghỉ một lát cho đỡ đau lưng. -Dạ... Nằm sát bên chồng, Mai ẵm con, vạch vú cho con bú nhìn chồng âu yếm. Gió rất nhẹ, nắng nhạt xuyên qua lá cây và nắng lung linh nhảy nhót trên mặt đất. Tiếng con chim “Bắt cô trói cột...Khó khăn khắc phục” kêu vọng lại đều đều. Lâm nắm tay vợ mỉm cười. Chiến tranh và cái chết lúc này bỗng tan biến trong họ và chỉ còn lại nỗi rạo rực khát khao của tình yêu đang tràn ra mênh mông. 2 Từ căn cứ trở về hậu cứ sản xuất của xã, Đoan đem về bao chuyện nóng hổi ở dưới địa bàn kể lại cho mọi người: Chuyện ông Chín Tòng về xóm Than công tác bị địch phục kích suýt chết làm mọi người mừng mà lại thêm lo. Bọn địch nói diệt được hai cộng sản cồ là Mai và ông Chín thì tình hình xã Phụng sẽ yên ổn. Chuyện giữa nhà ông Chín Kiều và ông Bảy Phấn vì bênh con mà mâu thuẫn giữa hai gia đình trở nên gay gắt. Ông Chín Kiều cho nhốt gà của mình rồi lấy thuốc chuột trộn với bắp xay nhử cho gà ông Bảy Phấn ăn. Ông Bảy Phấn bắt được vậy là hai nhà đánh nhau, ông Chín Tòng phải thay mặt xã hòa giải mới yên. Nói chuyện một thôi, một hồi rồi Mai giục Lâm và Đoan đi mắc võng ngủ, còn mình chuẩn bị quần áo và lương khô cho hai anh em về đơn vị. Ăn cơm xong nghỉ một lát thím Năm và mẹ con Mai đi tiễn Lâm tới mối đường số sáu mới dừng lại. Mai ngơ ngẩn ẵm con nhìn theo chồng đến nỗi thím Năm phải giục: -Thôi mình về, đưa con nhỏ tao ẵm cho. Thím Năm vừa chìa tay thì bé Trung đã vội vã sà vào lòng bà. Thím Năm vừa đi vừa nựng: -Cha mày... quen hơi bà rồi, quấn suốt... Mai nhìn thím Năm cảm động: -Có thím bên cạnh mẹ con cũng đỡ khổ thím à. -Mày nói gì lạ vậy, làm cách mạng phải ôm nhau mà sống chứ, có con Trung bà cháu tao quấn quýt cũng đỡ buồn mày ơi. Hai thím cháu vừa đi vừa nói chuyện, thím Năm lỷ kỷ: -Bữa về làng tao ẵm con thằng Hai nhà tao mà thằng bé lạ hơi không cho tao ẵm, tao tủi thân ôm ào lấy nó rồi đưa kẹo cho nó ăn vậy mà thằng bé cứ khóc giẫy nãy lên, tao đành chịu thua, phải đưa cho mẹ nó ẵm. Thoáng nhìn đôi mắt thím Năm ướt nhòa, Mai nén tiếng thở dài nghĩ thầm: “Tội nghiệp bà già hay tủi thân tủi phận!...”. Đi sát thím Năm Mai nhỏ nhẹ: -Thím à, máu nào, ruột đó, cứ ở một hai bữa là nó đeo lấy nội, lúc đó có dứt ra cũng chẳng được đâu. Thím Năm chép miệng: -Nhưng biết làm sao... Lâu lâu mới được về nhà một tối rồi lại vội vội, vàng vàng ra đi, làm sao mà cháu bén hơi bà. Bất giác Mai thở dài nói với thím Năm: -Mọi người đều phải chịu đựng như vậy thím à. Hai thím cháu về nhà, thấy thím Năm ríu rít với bé Trung, Mai xách cuốc, đeo gùi ra rẫy đào sắn. Mọi bữa đông vui vậy, bây giờ rốt cuộc chỉ còn lại hai phụ nữ và một trẻ thơ lo mọi công việc sản xuất ở hậu cứ. Nếp sống gian khổ và ác liệt của chiến trường tạo cho cho Mai thành thói quen đến nỗi thím Năm thấy Mai lấy gạo nấu cơm phải kêu lên: -Sao hai người chỉ có nửa lon gạo. Gạo dưới căn cứ mới đưa lên, lại thằng Đoan, thằng Lâm vác về tất cả tới gần trăm ký mà mày kiệm giữ vậy. -Có lương khô thịt nai lại canh tập tàng tăng sắn lên mà ăn cũng không xót ruột đâu thím à. -Tao thì sao cũng được, còn mày ăn vậy lấy đâu ra sữa cho con bú? Mai cười hiền lành: -Đu đủ xanh, hoa chuối luộc toàn là thứ ăn vào mát sữa Thím à. -Cái con nhỏ!... Tao chịu mày!... Thím Năm ngồi võng ôm bé Trung hát ru, Mai lặng nghe câu ca mới ngọt ngào ý vị làm sao: Một mai con cá hóa rồng, đền ơn bác mẹ dưỡng công sinh thành. Cầu mong cho con ăn no, chống lớn Mai thầm nghĩ: “Đời nó lớn lên chắc mới hết chiến tranh, không phải bỏ học giữa chừng như mẹ nó...” Cứ vậy Mai vừa nấu ăn vừa nghĩ bâng quơ, và bỗng giật mình khi thím Năm hỏi: -Bay quyết định đưa con bé Trung về dưới làng sống hợp pháp à? -Dạ...Cháu ngủ rồi hả Thím? -Ừ, tao ru nó ngủ rồi, mày có nghe tao hỏi không? -Dạ...có, việc đó tùy anh Lâm và anh Đoan quyết định . -Còn mày, cũng phải có ý kiến chứ Mai. -Dạ...Cháu sao cũng được, thuyền theo lái, gái theo chồng mà Thím. Thím Năm lưỡng lự: -Kiếp đàn bà mình là vậy con à, nhưng tao nghĩ lon son cũng con với mẹ, lẹ chẹ cũng mẹ với con. Bây giờ bà cháu quen hơi, xa nó đến tao cũng nhớ chứ huống chi mày. Mai thú thiệt: -Xa nó chắc nhớ con không chịu nổi... Nhưng tình cảnh vợ chồng con đều thoát ly, anh Lâm nghĩ như vậy cũng phải. -Biết là vậy nhưng tao vẫn cảm thấy nó thế nào ấy. Thấy Mai im lặng thở dài, thím Năm bắt qua chuyện khác: -Hồi sáng thì đông vui, giờ chỉ còn lại tao với mày và con nhỏ. Tao thấy nhà không có đàn ông sao mà lạnh ngắt. Mai phì cười: -Thì còn lại phụ nữ ba đảm đang. Thôi thím cháu ta đi ăn cơm kẻo bé Trung nó thức giấc. Đang ăn cơm, bỗng có tiếng người xôn xao ngoài rẫy, chỉ thoáng một chút một cậu bộ đội mặt non choẹt khoác khẩu AK bước vào nhà. Nhìn thấy Mai và thím Năm, cậu bộ đội quay lại gọi to: -Vào đây...Vào đây... Có nhà đây này. Cậu ta bẽn lẽn và lúng túng: -Thím và chị... cho bọn em ở nhờ... Nấu ăn xong bọn em đi ngay. Mai vui vẻ: -Củi bếp sẵn, các đồng chí cứ tự nhiên, các đồng chí đi đâu? -Dạ... Chúng em đưa một đồng chí bị sốt rét ác tính đi viện. Viện Trúc Bạch có gần đây không thím? Thím Năm bật cười: -Tội chưa... Còn hơn nửa ngày đường nữa mới tới. -Thế mà thủ trưởng cháu bảo đi gần ba tiếng đồng hồ là tới viện. Mai hỏi đồng chí bộ đội: -Các đồng chí mới vào hay sao mà không biết đường đi? -Dạ... Chúng em mới vào chiến trường. Mai nhìn chàng bộ đội ngơ ngác như con nai giữa rừng thư thả nói: -Cứ gọi anh em vào nấu ăn rồi chị chỉ đường cho mà đi. Địa hình không thông thạo dễ đi lạc lắm. Tốp bộ đội cáng bệnh nhân ùa vào nhà như một luồng gió. Thấy chủ nhà chỉ là hai phụ nữ và một cháu nhỏ, tốp bộ đội ý nhị xuống suối xách nước, ra rẫy kiếm củi để bà già và phụ nữ đỡ vất vả. Mai chỉ vào gùi sắn mới đào: -Lấy sắn ghé cơm ăn cho no em à. Cậu bộ đội lúng túng: -Chúng em không có gì để đổi lấy sắn chị à. Mai bật cười: -Sắn cách mạng đấy, ăn đi, không phải đổi chác gì đâu. Mừng quá cậu bộ đội cảm ơn và thành thật: -Bụng lính như cái máy nghiền cơm, ăn chưa đầy tiếng đồng hồ đã thấy đói thắt ruột, thắt gan mới lạ chứ, đi ròng rã ba tháng từ Bắc vào chiến trường, bọn em ăn toàn sắn và rau rừng. Mai thông cảm: -Vào chiến trường thì phải khổ chứ. -Nghe trên đài nói em cứ tưởng vào miền Nam chỉ có đánh giặc chứ có nói đói đâu. -Ừ thì nhà báo họ làm công tác tuyên truyền tư tưởng chúng mình mà. Một cậu đi ngoài rẫy hái rau về hỏi thím Năm: -Ở đây không có bí à thím? -Không có. -Thế mà cháu cứ đi tìm hoa bí. Thím Năm xúc hai tô thịt nai đưa cho cậu bộ đội: -Cho vào rau nấu canh cho anh em ăn. Chàng lính nhìn nhìn khẩu AK để bên ba lô của Mai ngạc nhiên: -Thế dân ở đây cũng được phát súng hả chị? Mai nhìn cậu lính nheo mắt tinh nghịch: -Vậy dân không biết bắn súng, không biết đánh giặc à? Thấy cậu bộ đội lúng túng, Mai vui vẻ: -Nói để các đồng chí yên tâm, đây là nhà của hậu cứ sản xuất xã Phụng. Trước sau gì thì các đồng chí cũng về xã Phụng công tác thôi mà. Như gỡ được thế bí anh chàng reo lên: -Em hiểu rồi. Chị có biết không, một lần trên đường hành quân chúng em vào rẫy thấy những quả bí to như quả dưa hấu, tưởng là bí của cách mạng hái về ăn thế là dân đến đơn vị bắt đền có chết không chứ. Thấy Mai vui vẻ, anh chàng hứng chí: -Hôm sau bọn em bị tiểu đoàn cảnh cáo. Thế là một anh cán bộ đại đội cũng ở chung với chúng em trong trạm giao liên dạy cho một bài thơ, để em đọc cho chị nghe: Tà tà chân bước vào nương
Tay ôm trái bí, miệng thương đồng bào
Đồng bào bắt hỏi làm sao
Rằng: Em giải phóng mới vào tới đây. Nghe câu thơ mọi người cười ầm lên. Anh chàng vừa nhặt rau mặt vẫn tỉnh bơ: -Còn quần áo đem đổi lấy gà, lấy sắn ăn hết rồi. Một cậu bộ đội khác thanh minh: -Bí quá nên bọn em ăn cắp bí của đồng bào về ăn. Đồng bào bắt được đem bọn em tới trạm giao liên kiện cách mạng. Ông trạm trưởng trạm giao liên đến vừa nói tiếng Kinh, vừa nói được tiếng dân tộc chúng em được thả về nên mới có câu thơ đó. Trên võng, đồng chí bộ đội sốt mê man, trong cơn mê sảng liên tục gọi mẹ làm Mai và thím Năm xốn xang cả ruột gan. Đưa con cho thím Năm ẵm, tới sờ trán người bệnh, thấy mặt đỏ ửng và môi khô lại, Mai lấy khăn ướt đắp lên trán bệnh nhân hỏi đồng chí y tá: -Em cho uống thuốc và tiêm chưa? -Em tiêm và cho uống thuốc rồi. -Mưa gió liên tục, mới vào chiến trường dễ bị sốt rét ngã nước lắm. Mới lớn lên sức chịu đựng có hạn thành ra bệnh nặng càng nặng thêm đấy. Thím Năm bảo Mai: -Hay là lấy lá trầu không quệt với vôi đắp vào gan bàn chân, gan bàn tay cho bớt sốt. Mai à, con đi hái ít rau diếp cá và kiếm cỏ mực về đâm ra vắt lấy nước cho nó uống. Mai gật đầu: -Dạ, loại cỏ này hạ nhiệt nhanh không kém gì thuốc tây. Thím Năm bùi ngùi: -Tội nghiệp... Con gà con mới rời ra khỏi cánh mẹ đã phải đi hàng ngàn cây số, tới nơi chưa được nghỉ ngơi đã đặt ba lô đi đánh giặc ngay làm sao mà không bị bệnh. Đồng chí y tá thanh minh: -Hơn mười ngày đánh nhau dưới làng, quần áo bọn con gần như lúc nào cũng ướt. Lạnh đến mức môi đứa nào đứa nấy tím ngắt, răng đánh vào nhau cầm cập. Tối đến bọn con tranh thủ vắt quần áo hong cho khô, sáng lại mặc vào, không có thời gian giặt. Cầm thuốc về, Mai vội ôm con vạch vú cho bú, thím Năm càu nhàu: -Đi gì mà lâu lắc, con mày ở nhà khát sữa dỗ hoài vẫn không nín. Thím Năm cầm nắm lá rửa sạch lấy một ít muối cho vào cối đá giã nhỏ, vắt lấy nước rồi bưng chén thuốc đưa cho đồng chí y tá: -Uống xong khoảng một tiếng đồng hồ là hạ nhiệt ngay. Ẵm con ngồi trên võng, Mai nhắc thím Năm: -Thím mở ba lô của con lấy viên thuốc hạ nhiệt cho y tá điều trị cho em nó mau khỏi. Nhìn đồng chí y tá cho bênh nhân uống thuốc, Mai tận tình: -Lấy thìa đổ thuốc cho bệnh nhân em à. Xúc thuốc để lên miệng bệnh nhân đồng chí y tá dỗ dành: -Uống đi, thuốc gia truyền đấy. Thấy y tá ngoan ngoãn làm theo sự hướng dẫn của mình, Mai bật cười: -Làm như vậy có được không bác sĩ? Đồng chí y tá lúng túng trả lời: -Thú thật với chị việc chăm sóc bệnh nhân em chưa có kinh nghiệm. Bất giác Mai nhận thấy đồng chí bộ đội có nét mặt hao hao giống em trai mình. Em trai của Mai đã được đưa ra Bắc học ở Đông Triều. Thư của nó gửi nói về than đá Đông Triều, về cái lạnh mùa đông làm cây rụng lá để trơ lại những thân cành xơ xác, khẳng khiu. Mai bỗng tự hỏi không biết em trai mình có học kịp bạn bè không, tiết trời lạnh như vầy làm sao chịu nổi. Nghĩ tới em trai, Mai thấy mừng vì dù sao việc học hành của nó cũng đến nơi đến chốn hơn mình. Đường tới bệnh viện còn xa, trời lại sắp tối, khiêng cáng mà lạc trong rừng thì thật khốn khổ, tốp chiến sĩ đưa bệnh nhân đi viện quyết định ở lại. Mọi người mắc võng xung quanh đống lửa ở giữa nhà, võng đan chéo nhau thành nhiều tầng. Bệnh nhân ưu tiên cho nằm gần lửa, vì vậy mỗi lần y tá muốn chăm sóc bệnh nhân phải luồn qua mấy cái võng. Có lẽ do thuốc và hơi ấm của lửa làm cho cơn sốt của bệnh nhân giảm đi nên không mê sảng nữa, hơi thở đều đặn hơn nhiều. Cơn mưa đêm bỗng ập xuống, hạt mưa to và nặng bay xoáy trong gió rừng khiến người ta có cảm giác là những mũi khoan đang khoan xuống đất để nhổ tróc gốc cây rừng lên. ánh đèn pin loang loáng soi vào đầu dây võng cột sít vào nhau. Một anh chàng đập mạnh vào võng hối hả: -Dậy... Dậy... dây võng của ông cột chồng lên dây võng của tôi rồi nằm ngủ say như chết ấy. -Có chuyện gì đâu? -Nhưng mưa ướt hết võng đây này. -Đang ngon giấc... Rõ chán... Lắm chuyện. -Ngủ như ông thì địch tới sát nách cũng chẳng biết. -Vâng, sao đêm nay ông tiến bộ thế. Mọi tối ông trèo lên võng là ngáy pho pho, địch nó tới xẻo chim ông mang đi ông cũng không biết lại còn chê tôi. Nhiều tiếng cười rộ lên, một anh chàng xen vào: -Thôi tôi xin hai bố cột lại võng rồi yên vị, thật là: Lươn ngắn lại chê trạch dài thườn bươn méo miệng chê trai lệch mồm. Tiếng cười rộ hẳn lên, nhiều tiếng bình luận xen vào. Thím Năm nằm trên võng dàn hòa: -Bọn bay đang sức ăn, sức ngủ, nói qua nói lại hơn thua lời nói có ích gì đâu chà... Lạnh quá, ai nằm gần lửa cời than, xếp thêm củi cho cháy to lên chút nào. Ôm con nằm nghe chuyện lính bất giác Mai mỉm cười khoan khoái và ấm áp thầm nghĩ: “Đúng là người trăm xứ đi làm cách mạng có khác; vô khối chuyện...”. Tiếng cậu y tá càu nhàu: -Nói nhỏ thôi mấy ông để cho thằng Liên ngủ. Nó mê sảng suốt ngày mới chợp mắt được một lúc thì lại làm ầm lên. Đêm lại chìm sâu vào trong giấc ngủ. Nghe kỹ trong lán lúc này thấy rất rõ tiếng thở đều đều trong từng cánh võng. Tiếng mưa rơi, tiếng gió rừng, tiếng réo rất xa của con thác vọng tới hòa quyện vào nhau ru mọi người vào giấc ngủ. Ngọn lửa trong đêm vẫn cần cù uốn lượn sưởi ấm và thi thoảng có tiếng một anh lính nói mớ trong giấc ngủ say.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|