Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 06:29:51 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đất lửa  (Đọc 31035 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« vào lúc: 08 Tháng Chín, 2024, 10:59:10 am »



ĐẤT LỬA

Tiểu thuyết
Tác giả: Nguyễn Quang Sáng

Rút trong tập "NGUYỄN QUANG SÁNG - Tác phẩm văn học được giải thưởng Hồ Chí Minh",
Nhà xuất bản Văn học - 2007.
(Theo bản in năm 1963 của Nhà xuất bản Văn học)

Nguồn pdf: Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyển sang text: hoi_ls
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #1 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2024, 11:04:29 am »

I


Tiếng tù và từ đình làng túc lên “bun bun” dồi dội từng chập một, rồi buông một hơi dài lơ lửng trong mênh mông và vắng lặng.

Đường làng, nhà cửa, cụm xoài, và cả cánh đồng hoang đều im lìm, mê mệt dưới cái nắng chói chang của mùa mưa. Chỉ có dòng sông là còn hổn hển với những ngọn sóng lừ đừ, và ọp ẹp vỗ vào bờ. Và, từng bầy quạ đen, réo nhau “quang quác”, bay rảo theo ven sông tìm xác chết.
Sau hồi còi hiệu ấy, liền theo, tiếng ngựa chạy theo nước, kiệu, giòn giã gõ qua mặt đường. Người cưỡi ngựa lưng thẳng, mình mặc chiếc áo màu già dài phủ đến tận gối, sau ót tòn teng cái búi tóc, tay giữ cương, và tay phất ngọn cờ đuôi nheo màu già. Đó là người giữ chức trưởng ban trị sự đạo trong làng. Người làng vẫn quen gọi ông ta là Quản Dõng. Vì, hồi thời Pháp, ông ta làm hương quản. Ông ta dùng vó ngựa để đánh thức tín đồ.

Xóm Đìmh bắt đầu chộn rộn. Những tín đồ Phật giáo Hòa Hảo, từ các nhà, các ngõ, các bóng mát, lần lượt kéo ra đường. Mỗi người có mỗi lối ăn mặc và trang bị khác nhau. Nhưng tất cả đều có chung một vẻ lạ kỳ. Người mặc bà ba đen có thắt lưng bằng vải trắng, hông đeo lủng lẳng cây gươm trần sáng chói; kẻ mặc quân phục đen, đầu chít khăn rằn, vai vác siêu đao. Người mang giày da, kẻ đi giày ống, kẻ đi chân. Có cô con gái mặc quần xanh áo trắng, lưng thắt vải hồng, và đầu chít chiếc khăn bằng miếng nhiễu màu xanh da trời. Họ hợp thành tốp ba, tốp bảy. Tốp kéo lại đình làng, tốp kéo ngược ra cầu, tốp kéo ra cây gừa ở bến sông. Mỗi tốp mỗi việc: học võ, canh gác, và dựng pháp trường. Họ đi dưới cái nắng hừng hực. Trên đầu họ, đàn quạ đen vẫn ngang dọc trên không réo nhau tìm xác chết.

Lúc đầu họ còn tán chuyện, cười, nói, la, ó; sau khi sắp thành hàng, họ vừa đi vừa cất tiếng hát:

Lệnh vua hành quân trống kêu dồn
Quan với quân lên đường
Đoàn ngựa xe cuối cùng vừa khuất theo lối thôn
Phất phơ ngậm ngùi bay...
1

Họ hát mỗi người mỗi giọng to nhỏ, và lệch lạc khác nhau, nhưng đều hòa hợp trong âm điệu u buồn.

Tiếng hát vờn lên trong ánh nắng, rồi theo hướng gió tan đi trong tiếng sóng vỗ ầm ì.

Quản Dõng phi ngựa đến từng tốp, nghiêng đầu nhìn. Ông ta thấy trong những tốp người ấy, vắng mất hai cha con nhà lão Ịnh.


*
*      *


Nhà của lão Ịnh cách đình làng không đầy năm tầm đất, và khoảng cách là con đường nhựa. Cửa ngó thẳng về hướng mặt trời mọc. Trước sân có con đường mòn chạy lẫn trong bãi ngô bãi mía đổ tận ra bờ sông. Nhưng bây giờ, đó là bãi cỏ hoang bị giẫm nát dưới vó ngựa và chân người. Nền nhà của lão là mảnh đất rìa của sân đình, hàng năm khỏi phải đóng thuế. Lão dời nhà lại đó cách đây đã tám năm, sau một vụ mất lòng với Quản Dõng. Trước đây, nhà của lão nằm sát mí hàng rào bông bụp của nhà Quản Dõng. Người ta còn nhớ, ngày ấy là một ngày tháng năm năm 1939. Quản Dõng tập trung tất cả tá điền ra chợ để đón chào quan chủ tỉnh về thăm làng. Trước khi đi, Quản Dõng bắt tá điền sắp hàng chỉnh tề để đón thử. Hắn căn dặn từng người một, hễ xe quan chạy qua thì tất cả phải đồng thanh hô to: “Quyu quơ mông xừ lắc mi nit tra tưa” 2. Hắn bắt mỗi người phải hô thử một lần, và xem chừng đã rành rọt nhuần nhã rồi hắn mới cho đi.

Nhưng đến khi xe quan chủ tỉnh chạy qua, thì lão Ịnh xăng áo, nắm quả đấm, đưa cao cái cánh tay đầy lông lá lên, và gào to: “Quyu quơ mông xừ nắc đít gà tơ”. Lão nhấn đi nhấn lại cái tiếng “mông xừ nắc đít gà tơ” ấy. Lão vừa hô vừa đưa quả đấm hướng theo xe. Tiếng của lão lại to lại rõ và át tất cả những tiếng chung quanh. Quản Dõng sợ điếng cả người. Hắn nửa muốn chạy lại bịt miệng lão, nửa lại sợ mất trật tự, nên hắn cứ trợn mắt nhìn lão, miệng cứ ú ớ, hai cái đuôi của bộ râu mũi cứ nhách lên nhách xuống và người cứ nhấp nhỏm. Bà con tá điền đứng trong hàng cứ nghiến chặt răng để khỏi bật tiếng cười. Sau khi xe quan đi qua, Quản Dõng liền đến cật vấn lão. Lão làm bộ như không biết gì, ra vẻ ngạc nhiên và đáp:

- Dạ! Thầy Hương quản hồi nãy dạy tôi làm sao thì tôi hô làm vậy, tôi là dân tá điền, tôi có biết tiếng Tây tiếng u gì!

Lão có nhiều mối cựu thù với gia đình Quản Dõng. Không biết làm cách nào, lão trả thù hắn bằng cách ấy. Quản Dõng biết thế, nhưng không dám làm gì lão. Vì hắn sợ cái tính liều của lão.

Sau đó, Quản Dõng trả thù lại bằng cách mở rộng sân nhà để lấy cớ đuổi lão đi. Khi lão gồng gánh đồ đạc qua nhà mới, lão không có vẻ gì buồn rầu cả. Gặp ai lão cũng nhếch miệng cười và nói mỉa lại:

- Chà! Nhờ thầy Hương quản mà nhà tôi khỏi phải đóng thuế hà hà...!

Sau đó một tháng, cũng như mọi năm, dòng Cửu Long bắt đầu đổi ngọn nước. Nước từ nguồn đổ xuống cuồn cuộn, mang theo từng ề củi riều trôi qua làng. Mùa nào cũng thế, vợ lão bơi xuồng ra giữa dòng vớt củi để chụm và lựa những loại củi quý, lấy mạt cưa làm hương để bán. Không may, gió nổi thình lình, những ngọn sóng to chen nhau tràn tới nhận chìm người đàn bà khắc khổ ấy. Vợ lão chết, để lại cho lão ba đứa con. Đứa con trai lớn mười năm tuổi, tên Hiếu, giữ lại trên gương mặt một hình ảnh của người mẹ là vầng trán hơi cao cao, khác hẳn cái trán thấp tè tè của cha, và hai đứa gái nhỏ một đứa lên tám, một đứa lên ba.

Từ đó, nhà của lão càng hiu quạnh hơn.

Người lão vốn to lớn, vai rộng, ngực nở nang và đầy lông. Gương mặt của lão hơi vuông, lầm lì, trán thấp; hai con mắt xếch to, rừng rực nhưng buồn rầu và cái mũi to như mũi lân. Lão, lúc nào áo cũng cởi phanh, ưỡn cái bộ ngực căng phồng và đầy lông về phía trước. Người ta bảo: lão lấy ngực ở đời. Tính tình của lão nóng nảy, sôi nổi và dữ dội. Lần biểu tình đấu tranh nào cũng có lão, lão luôn luôn đi đầu. Lão đi, vai hơi nghiêng với một vẻ ngang tàng như muốn đưa ngực mình ra đỡ đạn cho anh em.

Năm 1940, sau ngày khởi nghĩa, tưởng là Quản Dõng có dịp để trừ lão; nhưng không, cùng với cảnh tan tác chung, lão đã bỏ làng đi. Bỏ làng đi, lão mang theo hai đứa con nhỏ. Mấy năm sau, ông già Tư Ịnh ấy trở về, người khác hẳn: tóc dài chấm đến lưng, râu cằm che mất cả cổ. Lão mặc quần áo màu già và áo luôn luôn gài cúc. Ông về một mình. Còn hai đứa con nhỏ thì bị chết ở tận làng Hòa Hảo trong năm bị dịch tả.

Ông Tư Ịnh đã vào đạo Phật giáo Hòa Hảo.

Về đến làng, ông không kịp đi thăm hàng xóm, chưa chào hỏi ai một lời, đã vội vã vọt lên nhà Quản Dõng, ngồi chung bàn với Quản Dõng đàm đạo. Vì Quản Dõng cũng mới vừa vào đạo. Người làng nghe có người thuật lại: cách đó không bao lâu, Quản Dõng có lên tận làng Hòa Hảo để xin quy y theo đạo. Quản Dõng gặp lại ông ta, và ngỏ lời muốn mời ông ta trở về làng. Thế là từ đó, hai mối thù của hai gia đình từ lâu thắt chặt lại như cái nút, nay như đã cởi mở ra rồi.

Người ông trở nên đăm chiêu và trầm lặng hơn trước. Mỗi ngày, sau khi việc đồng áng xong là ông mang quyển kinh, quyển sấm đi lê la cùng xóm. Gặp ai, ông cũng gây chuyện, rồi khom mình xuống, kính cẩn lật quyển kinh ra đưa ngón tay to lớn chỉ vào một đoạn:
- Đây! Đây! Đoạn này đây, bổn đạo mình đọc thử câu này coi! - Rồi lão cất giọng trầm trầm:

Người tu có đất để cày
Có non có nước có thầy hộ thân...


và lão rỉ nhỏ vào tai người nghe:

- Đạo này là đạo của dân cày mình. Đạo này là đạo yêu nước, đánh Tây. Đạo này là đạo mưu toan việc nước có Phật trời phù hộ. Bà con không thấy đạo thờ trần điều hay sao? Trần điều màu đỏ là màu máu, màu cách mạng, đó là cờ của đạo mình...

Nếu không thế thì lão cũng đứng giữa mọi người, - tay nắm chặt lấy chòm râu như giữ lấy bộ mặt đừng vênh cao hơn nữa - lão nói về cái hội Long hoa sắp tới theo trí mơ tưởng của mình:

- Sắp đổi đời rồi! Đời sắp tới rồi! Chừng đó, bổn đạo ai mà thành tâm thì mặc sức mà coi - Tay lão đưa tròn lên như vẽ ra cái bầu trời mới - đủ các chư tiên chư phật, muôn thứ hào quang chớp nhoáng, có biết muôn vạn phép tắc thần thông nào mà nói. Con rồng bay phụng múa thì hằng hà sa số Phật!

Rồi, đôi mắt của lão dịu lại, mơ màng và giọng êm dần xuống như khuyên nhủ:

- Bổn đạo mình phải thành tâm theo đạo mới được. Ví như ông trưởng ban kia (ý muốn nói Quản Dõng) bây giờ còn biết cải tà quy chánh thay! Những người biết hồi tâm như vậy, chừng đó Phật trời đâu có bỏ.

Sau cùng, lão kết luận câu chuyện bằng hai câu thơ để nói cái viễn ảnh cuối cùng của đạo mình; lão vừa gật gù vừa ngâm:

Giàu nghèo nào có biệt phân
Người đời cũng hết nợ trần lao đao.


Người nào chịu theo đạo với lão, người đó dù trước đây có thù hằn với lão, lão cũng coi như người ruột thịt. Nếu ai tỏ ra chống lại đạo, thì người đó dù là ruột thịt của lão, lão cũng coi như là kẻ thù.

Lão giữ chức phó ban trong ban trị sự.

Nhờ đó nên Quản Dõng cho lão về với mảnh đất cũ, mỗi mùa được miễn nửa phần thuế và được Quản Dõng cấp riêng cho hai cha con lão một con ngựa lông hồng.


*
*     *


Đêm nay, lão là người xuống tay giết Sáu Sỏi, nguyên là chủ nhiệm Việt Minh huyện. - Tin ấy chưa có gì đích xác, nhưng tín đồ trong làng cứ nghĩ như vậy. Vì Sáu Sỏi là bạn thân của lão - Giờ này lão hãy còn nằm sải tay trên bộ phản đen mun. Lão hãy còn say nắng và đang chập chờn với giấc ngủ nặng nề. Đầu lão gối lên bộ truyện Tam quốc đã sờn gáy và hoe hoe vàng. Áo lão cởi phanh ra, phơi bộ ngực to lớn và xoắn xuýt những chòm lông, chòm râu dài vắt sang một bên cổ.

Trong tiếng sóng trầm trầm và trong tiếng gió rì rào qua hàng dương bên đình, quanh quẩn đâu đây bên tai lão, vờn vợn lên một giọng hát như mơ màng.

Giọng hát của bọn con trai là đà với một nỗi buồn man mác:

Ngựa đi ngoài xa hí vang trời
Chiêng trống khua trầm hồi
Ngần ngại trên núi đồi
Rồi vọng xa khắp nơi
Thắm bao niềm chia phôi.


Giọng nữ bỗng chen vào và vút lên:

Vui ra đi mà không ước hẹn ngày về
Bao nhiêu năm thời gian xóa bao thề
Người không rời khỏi kiếp gian nan
Người biến thành tượng đá ôm con...


Càng về cuối của câu sau cùng, giọng nữ càng nhỏ, vút cao lên, ngân run và vang xa như tiếng chuông đồng. Tiếng hát ấy len vào tâm hồn lão nhoi nhói như một lưỡi khoan. Tự dưng, lão nghe trong lòng mình xon xót nỗi biệt ly, cô đơn và tuyệt vọng.

Bên đình, tiếng ngựa hí vang lên và “độp” một tiếng vó.

Lão giật mình, giương mắt, buông thòng hai chân xuống bộ phản, vừa đưa tay gài cúc cổ vừa lồm cồm ngồi dậy. Lão thấy bàng hoàng. Tóc xõa xuống phủ cả đôi vai, lão ngồi thẫn thờ, và nhìn ra xa. Ngoài xa mênh mông: trắng xóa những ngọn sóng bạc đầu lấp lánh dưới ánh nắng. Từng bầy quạ như những đám tàn đen sau một đám cháy to, bay chấp chới theo ven sông, kêu lên những tiếng lạnh người. Mây khói đèn đọng dưới chân trời dài như một dải núi nằm dọc theo phía bên kia sông.

Cây gừa bên bến nước trước cửa nhà lão, lá chen nhau bum xùm như một cái đầu tóc rối. Dưới gốc, năm ba người đang lom khom dựng pháp trường, kẻ đào hố, người đóng cọc, họ vừa làm vừa cất tiếng hát. Thấy họ dựng pháp trường, ngực lão nhoi nhói đau. Lão kêu thầm: “Anh Sáu! Trời! Anh về mà làm gì?” Lão nghĩ đến cái chết của Sáu Sỏi, rồi cũng mang máng biết ai sẽ là người cầm đao giết Sáu Sỏi trong đêm nay. Lão chợt nhìn xuống hai bàn tay to lớn sần sùi và đầy lông của mình, lão khẽ rùng mình. Tự dưng lão đâm hoảng. Lão nhìn quanh quẩn, mắt lấm lét và sợ chạm phải mặt thằng con.

Lão đã hứa với Hiếu: lão sẽ xin ban trị sự tha chết cho Sáu Sỏi. Nhưng, làm gì...! Nếu Sáu Sỏi chịu đầu hàng, thì mới may ra mà thôi. Nhưng lão biết rằng: Sáu Sỏi vốn người cương trực. Trước đây, lão không đến khuyên nhủ Sáu Sỏi thì là gì? Lão đã nói với Sáu Sỏi biết bao nhiêu lần rồi. Nhưng Sáu Sỏi có chịu nghe đâu. Và mỗi lần gặp Sáu Sỏi là mỗi lần niềm tin của lão bị lung lay. Mỗi lời nói của Sáu Sỏi đều bắt lão phải suy nghĩ lại con đường đi của mình. Tiếng nói của Sáu Sỏi cứ lay thức sự suy nghĩ của lão. Mà lão thì lão không muốn suy nghĩ nữa. Lão chỉ muốn hướng trọn vẹn đời mình cho đạo. Lão nói rằng: hoài nghi là có tội lỗi với Phật Trời và, khi chết thì linh hồn sẽ sa xuống âm phủ. Thế nên, từ sáng đến giờ, mấy lần định đến Sáu Sỏi, lão đều lần lữa rồi lại thôi.

Lão nắm chặt lấy chòm râu theo thói quen, ngồi lặng và nghe xon xót trong đôi mắt.

Ngoài đường, tiếng vó ngựa đồm độp dồn dập phi nước đại trở về. Lão biết là vó ngựa của Hiếu. Lão lật đật đứng dậy định đi lánh mặt thì Hiếu đã thắng ngựa lại giữa sân. Không biết nó chạy đi đâu mà mình ngựa ướt đầm như tắm, mũi ngựa phập phồng, phì phò như hơi lò rèn. Mặt Hiếu đầm đầm và u uất. Hiếu vẫn ngồi trên mình ngựa, lườm mắt nhìn lão như muốn hỏi:

- Còn ở đây à?

Đôi mắt của lão bối rối, chớp lia lịa. Chợt thấy con gà trống ở góc sân đang vướng phải tóc, hai chân lấp vấp, lão vội cúi xuống để tránh luồng mắt của Hiếu, đưa tay vớ lấy cái tàn thuốc, khom mình chạy ra, suỵt một cái đuổi con gà, rồi thuận chân bước rẽ ra sau đường.




------------------------------------------------------------------
1. Bài Hòn vọng phu của Lê Thương.
2. Vive monsieur l’administrateur.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #2 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2024, 11:12:16 am »

II


Hiếu xuống ngựa, anh chưa kịp dẫn ngựa đi quần chân thì Hằng đến. Đấy là cô gái mặc quần xanh áo trắng, lưng thắt vải hồng, đầu chít chiếc nhiễu xanh da trời. Hằng hai mươi hai tuổi, mặt tròn, đôi gò má hơi cao, đôi lông mày uốn cong hình lưỡi liềm, mắt sáng lấp lánh và đôi môi son lúc nào cũng ướt mọng. Trong con mắt của trai làng và Hiếu thì Hằng là một cô gái lẳng lơ. Người ta thấy Hằng như muốn ve vãn tất cả bọn con trai. Trong những buổi họp, hoặc trên sân võ, hễ có mặt bọn con trai là Hằng cố làm duyên làm dáng. Khi đi thì lúc lắc cái đôi vai, đũng đĩnh cái đôi mông và mắt thì đảo nhìn tất cả mọi người. Mà nhất là đối với Hiếu, hễ gặp Hiếu là cô cứ lượn quanh qua Hiếu, tìm đủ cách để gây chuyện: “...Này, anh Hiếu! Đêm nào em cũng nghe anh, dậy thật sớm, phơi sương và tập dượt. Da em đã săn cón lại rồi đây này!...”. Càng nói, mắt cô càng sáng, nhất là đôi mi, mỗi lúc mỗi phơi phới lên. Vừa nói, cô vừa vén tay áo, cô vén khỏi cái làn da ram rám nắng, để he hé cái làn da trắng mịn như sữa ở gần nách, nói với một giọng nũng nịu lả lơi: “Anh cầm thử cái tay của em xem, nó cứng ngắt lại rồi đây này...!”. Cô vừa bảo vừa nâng tay đưa cho Hiếu. Nhưng Hiếu chẳng bao giờ sờ mó đến tay cô, mà chỉ lườm mắt, hoặc bậm môi, hăm dọa. “Mới đây mà nó đã quên thằng Phát rồi, đồ quỷ cái!”. Hiếu rủa thầm. Để chống chế lại sự ngượng ngùng, cô bĩu môi, hất mặt nhìn lại Hiếu, bướng bỉnh và thách thức. Rồi, bất chợt, cô ngửa mặt ra cười, cười một cách vô cớ, giọng cười ngân ngất nghe như điên dại.

Có thế mà người yêu của Hiếu lại đâm ghen. Hiếu cứ bị giày vò. Cho nên, mỗi lần gặp Hằng là Hiếu tìm đủ mọi cách để xa lánh.

Hôm nay thấy Hằng, anh lại càng bực bội và khó chịu hơn. Anh giương roi đánh “tróc” một cái, rồi phóng roi theo con ngựa đang chạy ra sân, như phóng lao. Anh không quay lại nhìn Hằng cũng không chào hỏi, anh vừa bước vào nhà vừa nâng vạt áo màu già bằng vải thô lên lau mồ hôi đang đầm đìa trên mặt.

- Anh đi đâu về đó? - Hằng đứng nép bên cửa, hỏi.

- Tôi đi gác! - Anh vừa trả lời nhát gừng vừa ngồi xuống phản.

Hằng chớp mắt nhìn Hiếu, len lẻn ngồi vào góc phản, nhưng cũng chỉ ngồi một bên mông phải, còn mông trái thì để ra ngoài.

Hằng có vẻ rụt rè. Hôm nay, Hằng đến, không phải là để ve vãn “bọn con trai” nữa. Hằng không đảo mắt nhìn Hiếu, cũng không vén tay áo đưa tay cho Hiếu sờ nắn. Hằng ngồi im, cắm mắt nhìn xuống nền nhà lồi lõm rác rưởi và đầy tàn thuốc.
Hằng muốn hỏi về tin tức của Sáu Sỏi.


*
*      *


Trước đây, Hằng yêu con trai của Sáu Sỏi là Phát. Ấy là một người con trai khỏe mạnh, đẹp trai và có một cuộc đời lận đận. Nhà của hai người sát vách nhau, cùng chung một bóng mát của cây xoài. Từ bé, hai người đã cùng tắm một bến sông, cùng tranh nhau một trái xoài rụng, cùng chung một con đường ra cánh đồng đi làm mùa.

Phát không vào đạo, nhưng hai người vẫn yêu nhau. Trong những ngày sôi nổi chuẩn bị cướp chính quyền, đêm đêm Phát thường đi tập dượt với anh em thanh niên Tiền phong, còn Hằng thì tập dượt với bà con tín đồ. Hai người ở hai đoàn thể, hai bãi tập khác nhau, nhưng hai người lúc nào cũng thấy mình cùng chung một ý chí: yêu nước. Nhiều lúc, Hằng cũng muốn Phát cùng vào đạo, nhưng mỗi lần nghĩ đến Phát phải để tóc dài như mình, Hằng lại ngại, nếu có bảo thì cũng bảo qua loa cho có chuyện vậy thôi. Hằng yêu mến tất cả anh em cùng đạo, nhưng khi nhìn thấy họ cũng có cái đầu tóc như mình, Hằng thấy họ như thế nào ấy: chẳng phải đàn ông, chẳng phải đàn bà, trông họ vừa ảm đạm, vừa bẩn như thế nào ấy, chẳng đẹp trai một tí nào. Những cô bạn mỗi lần hỏi Hằng sao không bảo Phát vào đạo thì Hằng múm mím cười: “Chừng nào đạo cho các anh ấy cắt tóc thì mình mới chịu cho anh ấy vào!”. Nói thế, nhưng Hằng cũng thấy sợ cho Phát, đôi lúc thấy như hai người có cái gì thật khác nhau. Hằng vẫn yêu mà lòng không yên ổn.

Sau Cách mạng tháng Tám, Sáu Sỏi từ nơi xa trở về, hai gia đình định cho hai người lấy nhau. Nhưng hai người vẫn còn muốn bay nhảy, muốn lo việc nước, nên cả hai đều trù trừ chỉ cứ muốn yêu nhau như thế thôi. Thế rồi, không bao lâu có một biến cố xảy đến thật bất ngờ. Một số bà con tín đồ Hòa Hảo ở Cần Thơ dưới sự cầm đầu của Năm Lửa đã kéo ra thị xã đòi cướp chính quyền và đã xảy ra một cuộc xung đột. Tin ấy tràn đến làng như một cơn dông. Tất cả đều xôn xao. Người trong đạo xầm xì với nhau: “Việt Minh là quỷ dương, Việt Minh là kẻ thù của đạo!” Người làng đều nhìn nhau bằng cặp mắt nghi ngờ. Lệnh trên lại truyền xuống cho tất cả tín đồ: “Nam tín đồ được quyền cắt tóc ngắn để chuẩn bị ra chiến trận. Gươm đao phải sắc bén, đâu đó phải sẵn sàng!”. Đêm đêm, một số tín đồ bắt đầu có những cuộc họp kín. Những người ngoài đạo cũng bắt đầu lên chợ ngũ tập trung. Những cô nữ tín đồ có người yêu ngoài đạo, họ lần lượt, kẻ trước người sau, họ khuyên nhau, bảo nhau hãy cắt đứt tình cảm với người yêu của mình. Có cô sau khi gặp lại người yêu lần cuối cùng, khi trở về, chạy vào buồng, ôm mặt khóc. Có cô tỏ ra dưng dưng, có cô tỏ ra hãnh diện, coi như đó là một chiến công của mình đối với đạo, mong được Phật thầy hiểu cho. Những cặp mắt của các cô bạn ấy bỗng trở nên ác độc đối với Hằng. Họ luôn luôn dòm ngó Hằng, khiến cho Hằng sợ. Hằng không dám gặp lại Phát, hễ thấy Phát và nhìn thấy bà con tín đồ là Hằng lẩn đi và cố gắng tránh những cuộc hẹn hò. Có một đêm, Hằng đang đi từ sân võ về, nghe tiếng gọi của Phát, Hằng dừng lại, ngập ngừng, bỗng thấy tên Bảy Thẹo mang gươm dài thoáng qua, tim Hằng liền đập rộn lên, rồi Hằng vụt chạy về. Như một đứa bé sợ ma, Hằng trùm chăn kín cả người. Nửa đêm thức giấc và nghe tiếng sóng, Hằng tự hỏi: “Sao mình lại sợ, sao mình lại bỏ chạy. Chắc là anh ấy giận mình lắm. Hay là mình bảo anh ấy vào đạo, đạo bây giờ đã cho đàn ông cắt tóc ngắn lại rồi, nhưng chắc gì anh ấy chịu, anh ấy đã nhìn những người có đạo với cặp mắt đã khác rồi!”. Đêm ấy, Hằng trằn trọc cho đến sáng.

Chuyện đêm ấy có thế mà tên Bảy Thẹo đã tung tin ra hai người hãy còn dan díu với nhau, còn hẹn hò, còn gặp nhau dưới gốc cây vông đồng. Tin đồn với những chi tiết bịa đặt nghe y như là thật vậy. Và người ta xầm xì buộc tội cho Hằng là một cô phản đạo. Hằng chẳng biết phân trần với ai. Đêm đêm, Hằng chỉ biết thắp hương, quỳ dưới trần điều mà minh oan với Phật thầy. Cha và anh của Hằng trước đây đã bằng lòng cho Hằng lấy Phát, bây giờ cũng đã bảo: “Thôi, mày đừng có gặp nó nữa!”. Hằng không gặp Phát, nhưng Hằng vẫn yêu Phát. Nhiều lúc, Hằng cũng muốn quên Phát đi, nhưng chẳng hiểu sao hình ảnh của Phát cứ hiện lên trước mắt Hằng. Không quên được Phát, không tự mình xua đuổi nổi hình ảnh của Phát, đêm đêm Hằng van vái Phật thầy, cầu mong Phật thầy xua đuổi hộ cho mình. Nhưng, đứng trước tình yêu của Hằng, Phật thầy như bất lực. Hằng không quên Phát, mà càng ngày càng yêu Phát nhiều hơn. Hằng không hiểu được tại vì sao? Hằng tự an ủi: “Có lẽ Phật thầy không muốn cho mình quên anh ấy đây thôi!”. Hằng muốn nói với Phát tất cả ý nghĩ đó. Nhưng làm gì được gặp Phát mà nói. Trước đây, những đêm gặp nhau dưới gốc cây vông, Phát thường hay bắt Hằng đứng tựa lưng vào cây vông, buông dài cả mái tóc về phía trước. Hằng biết Phát yêu thích cái hình ảnh ấy của mình.

Thế nên, chiều chiều, Hằng thường hay đứng tựa vào cây xoài trước cửa nhà hai người, đợi Phát từ xóm Đình về chợ. Thấy Phát đi qua, Hằng liền đưa tay xõa tóc, kéo cả cái mái tóc đen dài vắt ra trước ngực và đưa tay vuốt ve, mắt vừa lim dim vừa chớp nhìn theo Phát. Chiều nào nàng cũng làm như vậy cho đến khi Phát đi khuất rồi nàng mối bới lại tóc và tự hỏi: “Chẳng biết anh ấy có hiểu cho lòng mình không?”. Hằng băn khoăn, xốn xang, và chẳng biết sẽ ra sao? Hai người chưa gặp lại nhau lần nào nữa thì Tây trở lại làng. Khi tàu chiến của giặc Pháp từ Nam Vang đổ xuống, neo lại ở đầu Cù lao bắn vào làng, và đại đội lính lê dương cặp tàu sắt lại bến, chiếm lấy thị xã thì Quản Dõng, Bảy Thẹo, lão Ịnh, Chiến, và một tín đồ trong làng liền nổi đuốc, túc tù và kéo nhau đi bắt giết những người ngoại đạo, họ bảo là phải trả thù cho những tín đồ đã bị hy sinh ở Cần Thơ.

Một số người chết. Thây trôi trên dòng sông. Ban ngày, tiếng quạ đen kêu át tất cả tiếng chim.

Từ đó, Phát và Sáu Sỏi và một số người ngoại đạo đã bỏ làng đi nhưng nàng chẳng biết họ đi đâu.

Khi giữa Pháp và một số tín đồ Hòa Hảo đã bắt giết và đánh bật các cơ sở cách mạng ra khỏi làng thì một số tín đồ nhao nhao đòi ban trị sự đạo phải bàn mưu đánh Pháp. Một số tín đồ như lão Ịnh và cha anh của nàng cùng một số nữa đã tự động chặn đánh những chiếc xe ngựa của giặc Pháp đi từ chợ huyện về. Giặc Pháp, lính Việt gian coi những người Hòa Hảo là những kẻ sớm đầu tối đánh. Bọn chúng liền quay súng đánh lại nhân dân Hòa Hảo, càn quét xóm Đình, đốt nhà và giết người. Cơ sở chống Pháp của một số tín đồ bị đánh tan tác. Trong lúc ấy, phía bên kia sông Cửu Long của những làng nằm dọc theo những con kinh xuyên vào Tháp Mười bắt đầu có tiếng súng của các lực lượng kháng chiến. Cũng trong những ngày ấy, Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ ra thông cáo kêu gọi tất cả bà con tín đồ và nhân dân hãy đoàn kết, đánh Tây cứu nước.

Không khí trong làng dần dần được thay đổi. Sáu Sỏi từ U Minh trở về, giữ chức chủ nhiệm Việt Minh huyện và chính quyền địa phương được thành lập. Phát cũng cùng về với một tiểu đội du kích. Xóm Đình bỗng trở thành khu căn cứ của xã.

Hằng không thể hiểu được rõ ràng vì sao cách đây có mấy tháng, hai bên bỗng dưng lại đánh nhau, rồi bây giờ lại đoàn kết với nhau? Hằng không hiểu, không đủ sức để hiểu và Hằng cũng không cần phải hiểu để làm gì. Hằng chỉ thấy tất cả tín đồ ai ai cũng hởi dạ, ai ai cũng vui mừng. Hằng chỉ biết rằng mình và Phát sẽ gặp lại nhau. Có lúc Hằng tự thấy mình ngây thơ quá, nhưng rồi nàng cũng tự an ủi: ngây thơ thì có tội gì? Một đêm nghe tin Phát về, Hằng liền nhờ cô bạn đồng cảnh ngộ là Hiền bảo Phát ra gốc cây vông cho nàng được gặp.

Đêm ấy là một đêm cuối năm năm 1945, gió bấc đã tràn về, nàng đứng đợi mà không thấy rét. Khi Phát đến, nàng thấy mình như đứng trước một người tướng. Phát oai vệ quá và khác xưa quá! Phát mặc chiếc áo mưa dài mở cả khuy. Phát đi ngược lại chiều gió, hai vạt áo bay như hai cánh chim, và bên hông xề xệ cây súng ngắn. Hằng vừa thấy yêu, vừa thấy kính. Hằng không dám chạy thẳng đến Phát củng không dám lẩn trốn như ngày xưa nữa. Người Hằng bỗng mềm nhũn và muốn lả đi. Gặp lại nhau, mới có hơn hai tháng mà nàng tưởng như xa nhau từ lâu lắm. Hằng định bụng khi gặp Phát, Hằng sẽ nói tất cả. Nhưng khi Phát đứng trước mặt thì cổ nàng bị tắt nghẹn. Nàng chỉ biết nhìn Phát, rồi khe khẽ lắc đầu:

- Anh! Không phải lỗi tại em! - Rồi nàng quay mặt vào cây vông và khóc. Nàng nghe bên tai mình có một giọng nói ấm áp quen thuộc và rụt rè. (Tiếng gió làm rung tiếng nói của anh ấy hay là tiếng anh ấy run thật? Sau này nhớ lại, nàng hay hỏi như vậy).

- Em! Đừng khóc! Anh hiểu! Chúng ta sẽ không xa nhau nữa đâu. Lần này, nếu có gì thì anh sẽ đưa em đi. Anh muốn em làm cứu thương cho bộ đội. Em có đi theo anh không?

Hằng nghe Phát hỏi, nàng muốn quay lại, áp mặt mình vào lồng ngực Phát và đáp lại, nhưng nàng không nói được, mà chỉ trả lời bằng tiếng khóc thôi.

Từ đó, đêm đêm hai người thường hay đi gác chung, cùng viết khẩu hiệu trên mặt đường; có khi, Hằng cùng theo Phát bắn bót, làm nhiệm vụ cứu thương. Có Phát, Hằng chẳng biết sợ là gì. Có Phát, mọi việc đối với Hằng đều trở nên yên ổn và tốt đẹp. Yêu Phát, nàng đã tự thêu dệt cho mình không biết bao nhiêu là ước mộng. Đêm nằm thao thức, Hằng thường mơ thấy: trong một cuộc chiến đấu, Phát bị trúng thương - nhưng bị trúng thương nhẹ thôi - Phát sẽ ngã trên cánh tay mình. Nàng sẽ nâng lấy Phát, băng bó cho Phát, vuốt ve lấy mái tóc của Phát, và nàng sẽ cúi hôn Phát như trong vở kịch “Nàng tiên với chiến sĩ” mà nàng đã được xem. Hoặc nàng sẽ ngã trên cánh tay của Phát, và trong những cơn mê, màng sẽ được Phát vuốt ve. Những hình ảnh ấy thường gây cho nàng một xúc cảm rờn rợn cả người. Hằng hãnh diện với mối tình của mình, Hằng không còn biết thẹn như lúc mối chớm yêu nhau nữa, Hằng muốn cùng đi với Phát trước mặt mọi người. Hằng không bao giờ nghĩ: hai người sẽ xa nhau, hai người sẽ sống có nhau, chết cũng có nhau.

Thế rồi, bỗng một hôm, tên Quản Dõng nhân danh là trưởng ban trị sự đạo, đã cho tên Bảy Thẹo gọi nàng đến nhà.

Quản Dõng hỏi:

- Bác nghe cháu với cháu Phát, hai người đã “thầm lén” với nhau có phải không? - Quản Dõng hỏi nửa đùa nửa thật như vậy.

“Không! Hai cháu yêu nhau thật sự chứ không phải thầm lén!”. Hằng muốn đáp lại nhưng Hằng không nói mà im lặng, e thẹn mà sung sướng.

- Hai cháu định chừng nào thì làm đám cưới?

- Dạ, đến độc lập!

- Cháu có khuyên bảo cháu Phát “quy y theo đạo” không?

Qua câu hỏi, Hằng biết có điều gì sắp xảy ra, Hằng hơi sợ và ấp úng.

Quản Dõng hỏi dồn:

- Cháu không khuyên bảo gì với cháu Phát à?

- Dạ... có!

- Sao ban trị sự không thấy cháu Phát xin vào đạo!

Hằng không dám nhìn hắn. Nàng cúi gầm xuống.

- Như vậy thì không nên đâu cháu ạ! Cháu không thấy cái đạo Thiên chúa hay sao? Người ngoại đạo nào mà muốn lấy con gái của họ, người ấy phải xin vào đạo thì Đức cha của họ mới chịu làm phép cưới. Nếu không thì chẳng được lấy nhau đâu. Còn cô con gái, một là bỏ chồng, hai là bỏ đạo, hai điều phải chọn lấy một điều. Nhưng thuở đời, bác chưa hề thấy ai mê trai mà bỏ đạo bao giờ - (Hằng ngượng đến chín người vì cái tiếng “mê trai” của hắn). Đó là cái chuyện của đạo Thiên chúa. Còn đạo của mình, nó “mầu nhiệm” hơn nhiều, thì lại càng không nên đâu cháu ạ! Một người thì ở cõi Niết bàn, còn một người thì bị sa xuống âm phủ, thì lấy nhau làm sao được? Bác nói như vậy, cháu nghe có phải không?

Hằng biết là Quản Dõng muốn nói thẳng với mình: nếu không kéo được Phát vào đạo thì một là bỏ đạo, hai là bỏ Phát. Không! Hằng không thể nào bỏ đạo được! Nghĩ đến những hình phạt về linh hồn, Hằng thấy ớn lạnh đến xương sống. Hằng rùng mình! Bỏ Phát? Không! Hằng cũng không thể bỏ Phát được! Nếu mất Phát, Hằng sẽ sống với ai? Mình không yêu ai nữa đâu! Cả hai, Hằng không muốn bỏ điều nào cả. Một trong hai lẽ sống ấy mà mất đi, thì cuộc sống của Hằng sẽ trở nên tàn tật. Những ý nghĩ ấy như đốt cháy người Hằng. Nàng ngồi im, nghẹn cổ, tự dưng nước mắt muốn trào ra.

- Cháu là người của đạo, ban trị sự có bổn phận phải lo cho cháu, cháu về mà nghĩ lại xem!...

Đêm hôm ấy, Hằng không ngủ được. Yêu Phát, Hằng như không thấy Phát là người ngoại đạo. Phát không có làm gì tội lỗi, Phát không có gì xấu xa, Phát không có gì đáng sợ, Phát chỉ đáng yêu mà thôi. Qua lời nói của Quản Dõng, Hằng như sực nhớ lại: hai người như có một cái gì thật khác nhau. Nhưng Hằng không sao tìm được cái khác nhau ấy cho rõ ràng. Hay là mình u mê quá? Hằng tự hỏi, tự dằn vặt mình. Hằng không sợ những lời đe dọa của Quản Dõng. Hằng sợ những lời đe dọa trong kinh sấm và những lời đồn đại nhiều hơn. Trong những năm tiêu điều vì cảnh nghèo, cảnh chết chóc của nạn dịch và cảnh khủng khiếp của chiến tranh giữa Nhật với Đồng minh, người trong đạo đã thì thầm với nhau: cuộc đời đã sắp đến ngày tận thế rồi. Một ngày gần đây, - nhưng chưa biết là ngày nào - ngày ấy sẽ tối trời tối đất trong ba ngày liền. Trong cái đêm tối dài dặc ấy, bọn quỷ dương sẽ đi rểu khắp các ngả đường. Bọn quỷ sẽ gõ cửa từng nhà, gọi tên từng người đàn ông và bắt hồn họ đi. Dưới sông thì sấu nổi, trên rừng thì hùm beo, ai không phải là người trong đạo thì hùm tha sấu bắt. Còn những người đã thật lòng quy y theo đạo thì được Phật thầy che chở. Sau đó, sẽ có ba tiếng sấm nổ long trời. Núi Cấm - Hằng vẫn chưa biết núi ấy ở đâu - sẽ nổ ra nhiều cửa. Núi Cấm sẽ biến thành cung đình và Phật thầy sẽ xuất thế trị vì. Những người có đạo, được quy tụ dưới chân Thầy, được dự hội Long hoa. Mấy tháng nay, vì vui say với kháng chiến, vì yêu Phát, Hằng như quên những điều đó. Nếu có nhớ thì niềm vui của kháng chiến và tình yêu đối với Phát cũng át đi. Giờ đây, lời nói của Quản Dõng như mang bóng đen đến cho Hằng. Trước mắt Hằng, cứ hiện lên một đêm tối. Đêm đen như mực và dày đặc. Nhà cửa im lìm. Nhà cửa như xếp vào nhau vì sợ sệt. Trên khắp các ngả đường, nghễu nghện những con quỷ với hình thù dị kỳ, con có sừng, con có nanh, chúng vừa đi vừa kêu vừa hú và gõ cửa từng nhà. - Người trong đạo đã dặn truyền cho nhau: trong nhà phải có sẵn vải rách. Nếu nghe chúng gọi đến, thì đàn bà cầm những cái giẻ rách, mở cửa he hé, đưa ra và nói “chồng tôi đã đi trước rồi, cho tôi gửi theo quần áo”. Bọn quỷ ấy tưởng thật, chúng sẽ cầm lấy giẻ rách và đi. - Dưới sông, sóng nổi ầm ầm, một đàn sấu khổng lồ, to bằng những chiếc ghe chài, mình gồ ghề, nước da đen sạm đầy rong rêu từ đáy nước trồi lên. Hùm beo từng đàn, nhe nanh, vờn quanh qua nhà và gầm gừ. Những người không theo đạo, người bị bắt, kẻ bị hùm sấu xâu xé. Đây đó, kẻ kêu người khóc. Trong tiếng sóng nổi, tiếng hùm beo, tiếng quỷ dương gõ cửa, tiếng kêu của người bị bắt. Hằng thấy một đàn quỷ ăn mặc rách rưới đến ghê sợ, sòng sọc vào nhà Phát. Bọn quỷ lôi Phát, tung bổng Phát lên. Người Phát chới với giữa khoảng không. Một đàn hùm beo, nhe nanh, múa vuốt, gầm hét chờ Phát. Phát rơi xuống, hùm beo vồ tới, xâu xé Phát ra làm đôi, xâu xé Phát ra từng mảnh nhỏ.

Nghĩ đến những hình ảnh ấy, nỗi khiếp sợ xâm chiếm lấy tâm hồn Hằng. Tim Hằng như có bàn tay của ai bóp chặt. Hằng sợ đến mất thở. Hằng vùng dậy. Bà mẹ không hiểu gì, cất tiếng hỏi, nhưng Hằng không nghe thấy. Hằng mở tung cửa, ù chạy.

Bên ngoài, đêm trăng yên tĩnh. Hằng chạy lẫn trong vườn xoài lốm đốm ánh trăng. Tóc Hằng bị vướng vào một cành cây thấp, giật Hằng lại. Hằng không biết gì hết. Hằng cứ cắm đầu chạy. Một lọn tóc bị đứt, Hằng cũng không đau. Hằng chạy băng qua đường, gõ cửa nhà Hiếu.

- Anh Hiếu, anh chạy lại đằng trạm gác, gọi anh Phát giùm tôi cái.

- Có chuyện gì vậy?

- Chạy giùm tôi cái, mau đi!

- Chuyện gì mới được chứ?

- Tôi đợi ảnh ở sau đình, mau lên đi!

Hiếu không biết gì, thấy cái vẻ hốt hoảng của Hằng, anh chạy ngay.

Hằng đợi Phát ở sau đình. Trong tiếng sóng vỗ về khuya, tiếng gió rào rào qua hàng dương - cho đến bây giờ nàng cũng không hiểu tại sao, khi thấy Phát thì nàng liền quỳ xuống, ôm lấy đôi chân của Phát, nói với một giọng vừa van xin vừa quyết liệt:

- Anh! Anh hãy xin vào đạo đi! Anh hãy xin vào đạo đi! Em sợ lắm! Em sợ lắm!

- Em làm sao vậy, đứng dậy đi em.

Hằng càng ôm chặt hai chân Phát:

- Không! Anh nói đi! Anh có xin vào đạo không? Hay là anh muốn em bỏ đạo? Anh có muốn em bỏ đạo không? Anh nói đi.

- Không! Anh không bao giờ muốn em bỏ đạo đâu! Đứng dậy đi em! Bình tĩnh lại đi em!... Đầu em nóng quá!

(Ôi! Nếu lúc ấy, anh ấy mà bảo mình bỏ đạo thì mình sẽ cắt đứt với anh ấy ngay, mình sẽ chạy trở về nhà thôi. Đằng này, anh ấy lại không bảo mình bỏ đạo. Những lần nhớ lại, nàng thường nói thầm như vậy). Lúc ấy, Phát cúi xuống, gỡ tay Hằng ra, và ngồi cạnh Hằng. Tự dưng, nàng thấy mệt mỏi đến rã rời. Phát vuốt qua mái tóc nàng. Trán nàng đầm đìa mồ hôi. Phát bảo:

- Anh không vào đạo, nhưng anh vẫn làm đúng lời răn của đạo. Đạo dạy mỗi người dân phải biết yêu nước, phải thù Tây. Anh là chính trị viên xã đội, lần nào giặc đi bố anh cũng đánh, anh không phải là người yêu nước hay sao? Anh không vào đạo, nhưng anh có làm điều gì sai đâu! Em có thấy như thế không?

Nghe Phát hỏi, Hằng không biết phải trả lời như thế nào. Anh ấy không vào đạo, nhưng anh ấy chẳng làm điều gì sai cả. Anh ấy yêu nước, anh ấy đánh giặc rất can đảm, chính mắt mình đã thấy, vả lại, anh ấy cũng không như những người ngoại đạo khác. Những bọn con trai ngoại đạo ở làng, họ thường hay chê giễu và tỏ ra khinh rẻ bà con tín đồ. Còn anh ấy, anh ấy chẳng bao giờ như thế, anh ấy bảo là anh ấy làm đúng theo lời dạy của đạo. Đúng như vậy!

- Nhưng mà em muốn anh vào đạo! - Được gần Phát, Hằng không thấy khiếp sợ như lúc nằm một mình nữa, cơn sốt của những ý nghĩ đen tối cũng dịu dần. Trước mắt nàng không phải đêm tối khủng khiếp. Trước mắt nàng: vườn xoài nằm im dưới ánh trăng. Ánh trăng xanh mờ. Đêm yên tĩnh và dịu dàng. Nép vào vai Phát, nàng nói với một giọng bình tĩnh hơn.

- Anh hiểu vì sao em lại vào đạo - (Anh ấy chẳng chịu trả lời ngay câu hỏi của mình mà lại nói như thế đấy).

- Anh hiểu như thế nào, nói đi!

- Anh hiểu, nhưng bây giờ anh chưa nói được...

- Sao vậy, anh?

- Vì bây giờ, anh chưa biết cách nói cho thật rõ ý nghĩ của anh. Nếu anh nói không được rõ, thì em rất có thể giận anh. Mà anh thì anh chẳng muốn cho em giận anh đâu!

Anh ấy hiểu mình. Nhưng anh ấy chưa muốn nói là vì sợ mình giận. Anh ấy thì bao giờ cũng như thế đấy: bình tĩnh, sáng suốt và giọng nói bao giờ cũng ấm áp dịu dàng - Hằng không nói sao được nữa. Nàng cũng thấy bình tĩnh và sáng suốt trở lại. - Anh ấy không có điều gì sai. Bọn ma quỷ cũng không bắt anh ấy đâu, không làm gì nổi anh ấy đâu! - Được ngồi gần Phát, nàng thấy mọi việc đều trở nên yên ổn. Hằng thấy ấm áp trong hơi thở và cái mùi quen thuộc của Phát. Hằng như thấy mình vừa qua một cơn vật vã điên dại, Hằng thấy mệt lả cả người.

- Anh ơi! Em mệt quá!

Nàng ngả lưng vào vai Phát, đưa tay vuốt ve mái tóc của Phát, nói như mơ.

Nghe tiếng sóng từ dòng sông dội lên và tiếng gió rào rào qua hàng dương, nàng lim dim mắt, muốn ngủ...

Sau đó một tháng, Phát được cấp trên điều về làm chính trị viên cho một đơn vị Vệ quốc đoàn. Đêm ấy, Hằng đưa Phát ra đi. Hằng đã tự tay đan cho Phát một chiếc nóp, khâu vá ba lô, quần áo. Hằng hãy còn nhớ rõ, đêm ấy là đêm tối trời. Hai người cùng đi một chiếc xuồng cui nhỏ, vượt sông. Phát ngồi lái, nàng ngồi mũi. Dòng sông, tàu địch thường hay tắt máy thả trôi. Hai người không nói với nhau một lời, hai người cứ cắm cổ mà bơi, chốc chốc, nàng lại quay ra sau lái. Hằng cứ sợ Phát bị sóng chồm lên cuốn mất. Nàng biết là mình sợ vô lý, nhưng nàng vẫn cứ sợ.

Qua đến bên kia sông, hai người cho xuồng cặp lại dưới bụi gừa khuất trong vàm kinh nhỏ. Thế là đã đến lúc phải xa nhau rồi. Từ lâu, yêu Phát, nhưng Hằng muốn giữ trinh tiết cho đến ngày cưới.

Nhìn cái bờ sông xa lạ - cây cối bị bom đạn, nằm gục đầu bên bờ, thoang thoảng mùi thuốc súng, nhìn những con đom đóm nhấp nháy lập lòe trên tàn gừa, nhìn những đợt sóng bủa ầm ì, tự dưng Hằng thấy lo sợ. Linh tính như báo trước cho nàng: hai người rồi sẽ không gặp lại nhau nữa. Anh ấy sẽ hy sinh, hoặc mình sẽ chết, hoặc có điều gì sẽ xảy ra, nàng không đoán trước được. Ôi! Nếu yêu nhau mà không yêu đến nơi đến chốn, thì sau này nàng sẽ hối hận vô cùng... Ngay trong đêm đó, Hằng hiến tất cả đời mình cho Phát... Nhớ lại lúc âu yếm, nghe tiếng sóng vỗ mạnh vào xuồng, xuồng tròng trành lắc lư, nàng bỗng chợt một ý nghĩ: cuộc đời của hai người rồi cũng lênh đênh như thế. Ý nghĩ ấy ám ảnh nàng, nàng thấy đau xót. Nàng bỗng òa lên khóc (Tội nghiệp anh ấy, anh ấy chẳng hiểu vì sao mình khóc, khi thì xin lỗi, khi thì tưởng mình không muốn cho đi, mình muốn nói, nhưng ngượng quá!)

Về làng, Hằng sống với một tâm trạng vừa băn khoăn vừa hãnh diện với mối tình của mình. Hằng thường mơ thấy Phát kéo quân về. Một đoàn quân gươm súng lấp lánh, đi giữa hai hàng dân xóm đứng dọc theo đường. Phát là người đi đầu. Phát oai vệ với bộ quân phục ka ki vàng, súng ngắn xề xệ bên hông, đầu đội nón cối hơi nghiêng. Hằng sẽ đứng đâu đó, ngắm nhìn theo Phát. Nàng sẽ được sung sướng nghe người làng vừa chỉ Phát vừa thì thầm “Chồng của con Hằng đấy!...”. Nhưng Phát chẳng kéo quân về. Rồi, độ ba tháng sau, một tai biến lại xảy ra, khiến cho hai người như mãi mãi xa nhau. Ấy là đêm tháng hai năm 1947, đêm nổi loạn của tín đồ Hòa Hảo. Hằng chẳng biết gì cả. Vì từ ngày Phát ra đi, nàng không mấy khi lui tới với bạn bè. Hằng cũng không đi gác đêm nữa - vì sợ người ta dị nghị, vả lại, anh em cũng chẳng kêu réo nàng như trước. Suốt ngày, Hằng chỉ thui thủi ở nhà. Cái chính là vì gia đình của nàng đang độ túng bấn quá. Cha của nàng - ông Năm Ngũ - anh của nàng - Phi Hùng - không màng gì đến việc đồng áng nữa. Mẹ của nàng ốm yếu, em của nàng thì nhỏ dại.

Trước đây, đến ngày mùa, cả nhà đều ra đồng. Sau ngày mùa, cha nàng, anh nàng, xoay qua nghề cá, còn nàng thì dệt mướn. Năm nay, cả làng đều bỏ ruộng, tất cả đều dồn vào việc đạo, đất bỏ hoang, một thân một mình, nàng không ra đồng được. Tằm không nuôi, dâu không trồng, tơ cũng không có mà dệt. Cày bừa vất bỏ bên hè. Nhện giăng đầy trên khung cửi. Ai cũng đinh ninh là sẽ đổi đời. Đời mới, mọi người sẽ ấm no. Lúa trong bồ mỗi ngày mỗi vơi, rồi dỡ cả bồ, quét sạch. Mấy giạ lúa giống cũng đem ra xay hết. Hết gạo, hỏi cha thì cha bảo:

- Đến nhà cậu Quản mà vay!

Hằng phải đi vay từng giạ lúa. Tín đồ tá điền cũng đi vay từng giạ lúa. Họ như không còn cần biết đến ngày phải trả. Công việc của đạo làm cho họ quên tất cả.

Hằng thấy mình có bổn phận phải lo cho gia đình. Nàng xoay ra làm lặt vặt, đan rổ, nuôi gà, nuôi heo. Vài hôm hái một vài buồng cau, một vài om trầu đem ra chợ bán. Công việc chẳng có gì nặng nhọc mà cứ túi bụi suốt ngày. Thỉnh thoảng, Hằng mới đi qua trụ sở ủy ban, mong gặp lại Sáu Sỏi hỏi thăm tin tức của Phát, rồi tất tả chạy về. Hằng chẳng còn thì giờ bè bạn với ai, Hằng chẳng hiểu gì hết.

Những lúc nhớ Phát, nàng thường len lén mở cánh cửa sau nhà Phát, vào ngồi bó gối trên bộ phản mà trước đây là chỗ ngủ của Phát. Bác Sáu Sỏi lâu lâu mới về một lần, đêm thì ngủ đâu chẳng ai biết. Nhà không ai dọn, nhà không có hơi người. Cột kèo, bàn ghế nổi mốc, đồ đạc bừa bãi - Nhiều lần, nàng muốn dọn dẹp, nhưng sợ người ta cười. Nhìn cảnh hoang vắng của nhà Phát, nàng thấy hoang vắng cả trong tâm hồn mình - Nhiều lúc, nàng muốn ngồi mãi, mong mỏi đừng có tiếng động gì, hãy để cho nàng được yên. Hằng muốn tìm lại hình ảnh của Phát còn để những dấu vết trong cảnh nhà, và nàng muốn sống với những hình ảnh ấy cho đến khi Phát trở về. Thế thôi! Hằng chẳng còn thì giờ bạn bè với ai, nàng chẳng hiểu gì hết. Đêm ấy, cũng như bao nhiêu đêm khác, sau khi đan xong chiếc rổ và lạy Phật, nàng lên giường ngủ với mẹ và em. Nàng chẳng để ý gì đến cặp mắt khác lạ của cha và anh. Nửa đêm, bỗng có tiếng tù và. Tiếng tù và đầu trên xóm dưới, cùng một lúc túc rộ lên nghe như những tiếng hú dài, tiếp theo là tiếng chó tru ông ổng. Nàng giật mình choàng dậy, mở cửa chạy ra sân, thấy chỗ nhà Ủy ban có một đám cháy, tiếng chân huỳnh huỵch, tiếng kêu réo. Hằng còn ngây ngủ, nàng tưởng người ta chữa cháy. Nàng vừa định chạy vào lấy cặp thùng thì có một đoàn người, tay đuốc, tay đao, tay kiếm, chạy tới. Hằng thấy Quản Dõng, lão Ịnh, cha nàng, anh nàng và tất cả tín đồ trong xóm. Tất cả các ngả trong làng, đâu đâu cũng có tiếng gào la. Quản Dõng tay phất đuốc, tay phất cờ, gào lên:

- Hỡi thiện nam tín nữ! Tiến lên!

- Tiến lên!

- Tử vì đạo!

- Tử vì đạo!

Trong ánh đuốc ngùn ngụt, Hằng thấy gương mặt của họ vừa hăm hở vừa hung bạo. Họ la hét, quơ kiếm, quơ đuốc, chen lấn nhau tràn về phía trước.

Tử vì đạo! Hằng như nghe tiếng gọi của thiêng liêng. Nàng hỏi:

- Cái gì vậy? Bà con?

Người ta vừa tràn về phía trước, vừa đáp lại:

- Ai hỏi đó?

- Con Hằng đó hả?

- Thời cơ đã đến rồi, không biết hay sao mà còn hỏi?

- Nó bị thằng Phát bỏ bùa mê thuốc lú, nó có còn biết đạo là gì đâu!

- Có phải là bổn đạo hay không mà còn đứng đó, hả?

Nhiều người cùng đáp trong một lúc, tiếng đáp của họ bị át đi trong tiếng gào la, tiếng gươm kiếm va vào nhau và tiếng chân. Hằng nghe không được đầy đủ, nhưng nàng hiểu. Hằng biết bà con đang trách mình. Thời cơ đã đến rồi! Ngày mà mọi người phải nhẫn nhục cầu mong và van vái thì nay đã đến rồi đấy ư? Thời cơ! Mọi người đang ào ào lao tới, còn mình thì chẳng biết được gì. Khoảnh khắc ấy, Hằng vừa tự trách vừa hối hận. Hằng thấy mình là người đi muộn. Nàng vội vàng chạy vào nhà, rút lấy ngọn kiếm dưới gầm tủ - ngọn kiếm đã sét rồi - lao ra đường, nhập vào bọn họ. Đi trong ánh đuốc, đi trong tiếng gào la, tiếng đao kiếm va vào nhau, những hình ảnh về ngày hội Long hoa lại đến với nàng. Hàng thấy mình như không phải là mình nữa, không phải là cái con Hằng tầm thường nữa. Mình là một nữ tín đồ, mình đang sống trong giờ phút thiêng liêng. Hằng thấy sung sướng và say sưa. Thấy người ta làm gì, Hằng làm theo cái ấy. Người ta la “Tử vì đạo!” nàng cũng hét lên: “Tử vì đạo!” Người ta vung kiếm choảng vào kiếm người khác, nàng cũng đưa kiếm đập vào kiếm người khác, góp vào một tiếng khua. Đi một đoạn, họ phóng đuốc đốt một cái nhà, họ phóng đuốc thì nàng cũng phóng đuốc. Hằng chẳng để ý nhà ấy là của ai. Hai bên đường, nhà bốc cháy rừng rực. Họ như những người đi trong lửa.

- Giết hết bọn quỷ dương!

- Giết hết!

Hóa ra là đêm nay bổn đạo mình đi trừ khử bọn quỷ! Hằng nghĩ, thế là không ai xé xác được Phát nữa đâu! Nhưng quỷ dương là ai, Hằng cũng chẳng hiểu. Hằng hiểu cái tiếng “quỷ dương” theo cái lối mê tín. Đạo quân của Phật mà đi trừ quỷ, thì bọn quỷ ấy làm gì mà chẳng tan hồn! Nàng thấy hăm hở, hào hứng và vui như đi biểu tình.

Đến lúc có súng nổ, Hằng mới rõ. Khi đoàn người vừa đến sân đình thì Chiến ở đầu cầu chạy ngược lại.

- Ông trưởng ơi! Bọn thằng Sáu Sỏi nó trốn hết rồi.

Quản Dõng liền chen đến trước, đưa cao ngọn kiếm như muốn chém xả vào người Chiến, hỏi với một giọng tức giận:

- Tại sao lại để cho nó chạy thoát hả?

- Tại con Hiền cho bọn nó hay. Nó phản đạo rồi!

Quản Dõng dậm chân, kêu trời một tiếng.

Chiến vẫn tiếp:

- Nó làm tình báo cho thằng Sáu Sỏi. Hồi nãy, đang lúc họp, nửa chừng, tôi không thấy nó.

- Còn thằng Bảy Thẹo đâu? - Quản Dõng quát lên.

- Anh Bảy Thẹo đang đuổi theo tụi nó. Ảnh kêu tôi về cho ông biết.

- Phải bắt cho được con quỷ cái đó! - Quản Dõng đưa kiếm chỉ về phía tiếng súng, quơ đuốc gào lên:

- Tiến lên! Bà con!

Người ta chen lấn nhau như một lượn sóng chồm về phía trước. Người ta gào la, tiến về phía súng nổ một cách hăm hở như lân mừng nghe tiếng pháo.

Tiếng súng mỗi lúc mỗi lui dần về phía bến đò. Khi đoàn xuồng của Sáu Sỏi vừa tách bến, thì họ cũng vừa tràn đến. Họ quên đem xuồng đuổi theo - mà có nhớ thì cũng không kịp nữa - họ lao xuống sông, bơi theo. Họ đuổi kịp chiếc xuồng cuối cùng. Trong xuồng ấy có hai anh du kích và Hiền. Họ nhận xuồng, họ dùng kiếm đâm chết hai anh du kích ở giữa dòng. Còn Hiền, họ nắm lấy tóc lôi vào bờ. Một số người còn muốn đuổi theo xuồng của Sáu Sỏi, nhưng vì đuối sức, bị súng bắn rát, nên phải quay về. Tiếng súng không làm cho họ bị thương, mà họ bị thương vì gươm kiếm của họ.

Họ kéo Hiền lên bờ. Họ buộc tóc Hiền vào cây mù u. Họ đốt đuốc vây quanh lấy Hiền, họ xô lấn, họ kêu la, họ tranh giành nhau hành hạ Hiền và mỗi người có mỗi lối hành hạ tàn nhẫn khác nhau. Người lấy đuốc châm vào mặt, vào vú, vào bụng Hiền, người thì lấy kiếm đâm chích Hiền.

Hiền chết, vẫn đứng bên thân cây mù u, đầu ngoẽo sang bên, hình dáng như chẳng còn ra con người nữa.

Thấy cái chết của Hiền, Hằng bỗng chợt nghĩ đến số phận của mình. Nếu Hằng mà biết được tin như Hiền chắc Hằng cũng cho Sáu Sỏi biết thôi và Hằng cũng sẽ chết như thế. Nàng bỗng thấy sợ tất cả mọi người. Nàng dụi đuốc, không dám cho mọi người thấy mặt. Nàng đi tìm cha và anh. Hằng nắm lấy vạt áo của cha như một đứa trẻ sự lạc. Nhưng cha nàng và anh nàng như chẳng chú ý gì đến nàng, thật xa lạ! Hằng thấy bơ vơ quá! Hằng muốn chạy về nhà với mẹ. Nhưng Hằng sợ. Nàng không dám đi một mình qua những đám cháy.

Sau khi giết Hiền, họ quơ đuốc, kéo về, bắt heo, bắt gà và mổ cả bò mở tiệc mừng chiến thắng. Họ mang tất cả ra sân đình. Quản Dõng cho hai chiếc đèn “măng sông”. Họ ăn uống, họ cười nói và chửi bới. Họ nhắc lại những chuyện thù xưa. Họ bàn về hội Long hoa. Họ mời ép nhau uống rượu. Rượu hũ, rượu chai, rượu thuốc, rượu tây, nhà nào có rượu gì, họ mang ra tất. Họ uống bằng bát, bằng tô, họ uống bằng chai. Hằng thấy họ khác xưa quá: toàn những gương mặt hằn học với những cặp mắt đỏ hoe. Đèn “măng sông” xì hơi như rắn khè. Họ hung dữ mà thân mật. Bảy Thẹo tuy là người cùng tín đồ, nhưng Hằng vốn không ưa hắn. Con người trông cứ sờ sợ, thấy gớm ghiếc làm sao. Ấy thế mà hắn cũng nâng chén mời Hằng. Hằng không muốn uống, nhưng Hằng sợ và cũng chính vì sợ nên Hằng cũng muốn uống. Nàng uống một hơi cạn một chén đầy, rồi uống cho đến lúc không còn biết gì nữa...

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #3 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2024, 11:13:18 am »

Qua cái đêm đó và qua nhiều cái đêm khác như thế nữa, dần dần, Hằng đã trở thành một con người khác. - Mình không phải là mình nữa rồi. Nhiều lúc, nàng cũng tự thấy rõ như vậy. Ai là người xấu? Hằng không biết được! Phát là người xấu? Không! Phát không phải là người xấu. Phát là một người tốt. Nếu thế thì cha nàng, anh nàng và tất cả tín đồ đều là người xấu hay sao?

Không! Cha nàng, anh nàng cũng không phải là người xấu! Thế thì ai là người xấu? Nàng không đáp được câu hỏi của mình. Còn quỷ dương? Quỷ dương là người như Phát hay sao? Nàng nghe nhiều người nói về quỷ dương, chẳng người nào nói giống người nào hết. Quỷ dương, những ông già bà cả thì cho đó là quỷ ma, là những âm hồn oan ức. Còn Quản Dõng và những người trẻ, thì bảo quỷ dương tức là Hủy vương, Hủy vương tức là bỏ vua - (Hủy vương hay quỷ dương, người Nam Bộ cũng đều đọc như nhau thôi). Bọn bỏ vua tức là bọn cộng sản, bọn ủy ban. Người trong đạo đánh Tây là để lập nên một triều vua mới, vua ấy tức là Phật thầy. Hằng chẳng hiểu thế nào nữa. Hằng chẳng biết phải theo ai. Hằng chỉ biết rõ có một điều: Phát và nàng sẽ chẳng bao giờ gặp lại nhau nữa. Nàng vẫn yêu Phát, vẫn nhớ Phát, nhưng không dám nghĩ đến chuyện theo Phát nữa. Phát nghĩ đến nàng như thế nào, nàng cũng không hiểu.

Hằng cùng sống với cha, anh và tất cả tín đồ, nhưng nàng không hành động như họ, không có một mối thù như họ, nàng bị mất tất cả. Hằng chỉ còn mẹ với em. Nhưng mẹ và em cũng không sao an ủi được nỗi trống trải của nàng. Trống trải quá, có lúc nàng thấy hoảng sợ. Nàng muốn bấu víu vào một cái gì. Những lúc thấy hoảng sợ, nàng vội vàng đi lạy Phật, bất cứ lúc nào, có khi là buổi trưa, có khi là giữa đêm khuya. Nhất là giữa đêm khuya, tay cầm bó hương, mắt ngẩng nhìn lên những vì sao xa, tưởng đến Phật, nỗi đau khổ trong lòng nàng như tan đi theo hương khói. Nàng thấy nhẹ nhàng được đôi chút.

Còn sống ở làng, Hằng không thể xa lánh mọi người được. Hằng phải tham gia một việc gì đó với bổn phận của một người tín đồ. Hằng cũng không màng đến việc làm ăn nữa. Việc nhà đều dồn cho mẹ và đứa em trai. Gạo hết thì cứ vay nhà Quản Dõng. Hằng đi tập võ, đi canh gác. Thấy mặt người chung quanh, những người đã giết Hiền - cái chết của Hiền cứ hiện lên - Hằng sợ họ nhắc đến Phát. Hằng sợ, nhưng họ vẫn cứ nhắc đến Phát. Mỗi lần nghe họ nhắc đến Phát, là nàng tìm đủ lời lẽ để vừa chối, vừa tỏ ra khinh rẻ và thù hằn Phát.

- Nếu bây giờ mà bắt được thằng Phát thì cô làm sao? - Người ta hay hỏi như thế.

- Tôi sẽ giết nó chớ làm sao nữa. - Nàng đáp lại một cách sốt sắng. Nàng vừa nói vừa vung kiếm, bĩu môi: “Cái thằng đó à?”. Rồi nàng ngửa mặt ra cười, cười khanh khách. Nàng cười, nhưng nếu ai chú ý thì sẽ thấy ở khóe mắt nàng có một giọt lệ long lanh. Nhưng giọt lệ ấy như cũng biết sợ như nàng, nó không dám trào ra, nó chan đầy qua đôi mắt của nàng. Đôi mắt của nàng ướt lấp lánh. Hằng nói những lời đó, không chỉ để che giấu với mọi người, mà còn có ý muốn thanh minh, che giấu với Phật thầy nữa. Hằng sợ nhất là sự trừng phạt về linh hồn. Như thế, Hằng vẫn sợ là chưa đủ. Hằng lại tỏ ra như đang yêu một người nào đó trong bọn tín đồ. Nàng lượn quanh theo bọn con trai, cười đùa với họ... Dần dần, những cử chỉ ấy thành như một thói quen.

Nhớ Phát, những lúc không cưỡng nổi lòng mình, nàng thường chạy ra bờ sông, ngồi lẫn trong một lùm cây, nhìn về vết xanh đậm ở phía bên kia sông. Đó là tàn cây gừa, nơi mà hai người đã chia tay, nơi mà nàng đã... Rồi tưởng như gặp Phát, như một thói quen, nàng đưa tay xõa tóc, kéo mái tóc về phía trước và đưa tay vuốt tóc cho Phát ngắm nhìn. Mắt lim dim, và cứ thế, nàng ngồi đắm trong mơ tưởng. Khi có một tiếng động, chợt giấc mình, biết mình đang ngồi trong lùm cây, nàng bỗng thấy lạnh, nàng bỗng thấy sợ sóng bạc đầu: những ngọn sóng từ xa khơi bủa dậy, tràn lên nhau gầm thét, ào ào chạy vào. Nàng tưởng như những ngọn sóng ấy đang muốn vồ lấy mình để cuốn mình đi. Nàng vội vã chạy về. Nàng vừa chạy vừa lấy mái tóc lau nước mắt.

Hằng không dám nhắc đến Phát. Cả trong ý nghĩ, Hằng cũng không dám nhớ đến Phát nữa...

Nhưng, mấy ngày nay, từ khi Sáu Sỏi bị bắt, hình ảnh của Phát lại hiện lên. Đêm, Hằng không sao ngủ được. Linh tính như báo trước: Hằng sẽ gặp lại Phát. Khi thì Hằng mơ thấy Phát về đón mình đi, khi thì thấy Phát chĩa súng vào ngực mình. Hằng muốn gặp mặt Sáu Sỏi để tìm lại hình ảnh của Phát, để được nói với Sáu Sỏi về nỗi đau khổ của mình, may ra có một người hiểu được mình và nàng sẽ được khóc. Hằng muốn khóc. Hằng muốn khóc với một người hiểu mình. Rồi người ta có đem giết Hằng, Hằng cũng bằng lòng. Nhưng ai là người giúp cho Hằng được gặp mặt Sáu Sỏi? Hằng chẳng dám nhờ ai. Nhờ Hiếu là bạn thân của Phát, nên nàng mới đến tìm. Hằng muối hỏi, nhưng thấy cái vẻ mặt hầm hừ của Hiếu, Hằng sợ.

Còn Hiếu, anh như không thấy Hằng ngồi đó. Đầu anh đang căng lên vì một ý ghê gớm: phải giải thoát cho Sáu Sỏi. Từ sáng đến giờ, anh xải ngựa dọc theo sông, mong tìm một người để nhắn tin về cho Phát. Nhưng chẳng gặp được ai. Anh hối hận vì đã hy vọng một cách quá khờ dại: Ban trị sự sẽ thả Sáu Sỏi, sẽ cùng bàn bạc với Sáu Sỏi. Sáng nay, khi anh biết được tin thì đã muộn rồi. Lời hứa của cha anh chỉ là lời an ủi. Người quyết định chuyện này không phải là cha anh. Người quyết định là Quản Dõng. Nếu Sáu Sỏi có bề gì, anh còn mặt mũi nào mà nhìn lại Phát nữa? Phải giải thoát cho Sáu Sỏi! Chính vì ý nghĩ ấy mà anh thấy sợ bà con tín đồ. Nên khi trở về, anh không dám ghé qua đình dạy võ.

- Anh Phát! Giờ này anh ở nơi đâu? - Đầu Hiếu như bốc cháy. Anh ngồi thần thừ, lưng hơi còng, đưa cặp mắt vừa giận dữ vừa buồn rầu nhìn một đám mây đen vừa tách ra khỏi chân trời đang bay lang thang trong bầu trời vắng ngắt và chói chang.

Bên sân đình, tiếng đao kiếm của tín đồ học võ vẫn khua rổn rảng và chém vù vù.

- Sao hôm nay anh không dạy võ? - Hằng liếc nhìn Hiếu, hỏi, dò xét, môi hơi run run. Hằng hỏi câu đó để mở đầu cho câu chuyện. Nhưng Hiếu nào có hiểu được. Từ lâu, anh chỉ thấy cái vẻ bên ngoài của Hằng. Anh không biết Hằng muốn giở cái trò gì. Nghe Hằng hỏi, anh càng khó chịu.

- Tối hôm nay đang bận việc. Còn chị, sao chị không lo tập, mà sang ngồi đây? - Hiếu vừa đáp vừa lườm mắt nhìn Hằng. Sợ Hằng bắt chuyện, Hiếu liền bước xuống phản, tay kéo lấy cánh cửa. Cánh cửa rít lên như nghiến.

- Thôi, tôi phải đi đây!

Hằng biết Hiếu muốn đuổi mình. Hy vọng có một người hiểu mình bị sụp đổ, ngực Hằng như thóp lại.

Hằng cúi lặng, bước ra cửa. Hằng vừa tủi vừa ngượng. Hằng sợ mọi người biết mình bị Hiếu đuổi đi. Hằng chưa dám đi qua sân đình. Hằng đứng yên trước cửa, thẫn thờ nhìn ra xa. Trước mắt Hằng: đám mây đọng dưới chân trời dài như một dải núi nằm dọc theo phía bên kia bờ sông đã bốc bay lên. Đám mây ấy tan ra từng mảnh to mảnh nhỏ đủ thứ hình dạng, dính liền nhau như một miếng vải bẩn rách te tua, loang lổ, kéo trùm qua làng. Bầu trời liền nhỏ lại, tùm hum và tối sầm. Mặt sông Cửu Long lấp loáng như gương cũng liền sẫm lại mầu thâm thẫm với một dáng vẻ lầm lì. Và từ xa khơi, sóng bạc đầu chồm lên nhau, đuổi nhau, xô nhau, ào ào chạy vào và khi gần đến bờ thì ngọn sóng uốn cong lên như hót bụng, cất cao lên để đập vào bờ đánh ầm một cái, bắn bọt trắng xóa tung lên. Rồi như tức tối vì không phá vỡ được bờ, những ngọn sóng ấy lại rút ra, rồi cất lên, ụp vào mạnh hơn, bọt nước tung trắng cả thân cây gừa, và cứ như thế, gầm thét lên mãi mãi.

Đàn quạ đang rão theo mặt sông, như hoảng hốt, hay túa vào bờ, quang quác réo nhau chui vào tàn gừa, rồi lại réo nhau bay túa ra.

Gió từng cơn, từng cơn mang theo hơi nước lành lạnh và mùi tanh thối của xác người, thổi rạp bãi cỏ trước nhà, lốc rào rào qua hàng dương, và xa dần trên những đám vườn sau đình.

Thấy tốp người đang lúi húi dựng pháp trường dưới gốc cây gừa, nghĩ đến cái chết của Sáu Sỏi, Hằng chợt rùng mình.

Hằng đứng yên, muốn hỏi Hiếu thêm một câu nữa, may ra Hiếu có thể hiểu, nhưng Hằng vừa muốn nói thì Hiếu đóng sầm cửa, bỏ đi.

Ngượng quá! Hằng không còn đủ sức tạo ra những cử chỉ giả tạo để chống chế lại nữa. Sợ không cầm được nước mắt, Hằng ù chạy về nhà.
Nàng gục đầu lên gối, khóc ngon lành.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #4 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2024, 03:33:46 pm »

III


Lão Ịnh muốn tránh cặp mắt dòm ngó của tín đồ, nên lão không dám đi thẳng theo con đường xuyên qua xóm. Lão đi lẫn trong vườn chuối rậm. Lão cũng không ưỡn bộ ngực về trước với vẻ ngang tàng như thường ngày nữa. Lão đi lom khom, lùi lũi như con cuốc. Và lão dừng lại bên con mương nước sền sệt bùn, ngó qua cụm xoài.

Cụm xoài của nhà Quản Dõng chiếm một mảnh đất rộng hơn năm mẫu tây. Tàng xoài um tùm, lá chen nhau che kín cả ánh mặt trời, khu vườn lúc nào cũng tối om om và vắng lạnh. Lá khô từ mùa này qua mùa khác rụng xuống, ấp ủ thành một lớp phân dày, xông lên một mùi ẩm mốc.

Lứa xoài muộn hãy còn đang độ trổ hoa. Một cơn gió thổi qua, hoa xoài rơi trắng cả khu vườn như một trận mưa hoa.

Trong bóng tối nhờ nhờ ở gần mí vườn, có một người thoáng qua, thoáng lại, âm thầm như cái bóng ma. Người ấy là Bảy Thẹo. Người hắn vai rộng bè bè, nên người trở nên thấp xùng xình trong bộ quần áo kiểu nhà binh Nhật màu cứt ngựa, hông đeo cây gươm dài lếch thếch và tay cầm ngọn súng lăm lăm. Mặt hắn hình vuông, cằm to, nước da màu đồng điếu và cặp mắt lươn ti hí lúc nào cũng lầm lì. Hắn độ ba mươi tuổi. Hắn là người nhà của Quản Dõng. Hắn về ở với Quản Dõng hồi đầu năm bốn mươi. Theo Quản Dõng thuật lại thì hắn là người không cha không mẹ. Hắn đi theo xe từ nhỏ và lớn lên, hắn là một tên du côn, đứng bến cho hãng xe Long Thành ở Cần Thơ. Cuối năm 1939, hãng Phú Hòa cho ra một loạt năm chiếc xe mới hiệu “Citroen” để tranh khách Cần Thơ Sài Gòn với hãng Long Thành. Sáng sáng, năm chiếc xe của hãng Phú Hòa sắp một hàng dài tại bến, bóp kèn, rồ máy, xịch tới xịch lui để rước khách. Hãng Phú Hòa định giết chết hãng Long Thành nên hạ xuống phân nửa tiền cho hành khách. Và đứng bến là Hai Đẩu, nguyên là dân “anh chị bự” ở Cầu Muối đất Sài Gòn. Hai Đẩu khét tiếng là một tay võ nghệ cao cường. Chỉ nhìn con rồng xanh xâm ở lồng ngực của anh ta, thì cũng đủ biết anh ta là tay như thế nào rồi. Ngày nào Hai Đẩu cũng đến đứng trước đầu xe, tay vẹt một bên áo với tư thế sẵn sàng: đâm chém. Và sau lưng Hai Đẩu là một bầy em út. Thế là hãng Long Thành hoàn toàn bị mất khách.

Chủ hãng Long Thành bèn đưa Bảy Thẹo ra kình địch với Hai Đẩu. Bảy Thẹo lúc ấy độ mười chín hai mươi tuổi, nhỏ hơn Hai Đẩu mười tuổi và đứng thấp hơn Hai Đẩu một cái đầu. Chủ hãng Long Thành bảo với Bảy Thẹo:

- Nếu mày hạ được Hai Đẩu, hạ được hãng Long Thành thì tao sẽ chia cho mầy nửa cái gia tài.

Thế là một buổi trưa trong quán nước, Hai Đẩu đang ngồi chồm hổm uống cà phê thì, sau lưng bỗng có một tiếng kêu:

- Hai Đẩu! Đỡ!

Hai Đẩu vừa đưa tay xoay mình qua đỡ thì đã bị ngọn kiếm - rèn bằng nhíp xe - của Bảy Thẹo phạt rơi cánh tay trái rồi. Thừa thế thắng, Bảy Thẹo tấn Hai Đẩu vào tường, gí gí cái mũi kiếm vào bụng Hai Đẩu mà bảo:

- Anh Hai! (Hắn vẫn gọi Hai Đẩu bằng anh Hai theo lối xưng hô trong làng dao búa). Anh còn muốn thấy mặt vợ con, thì anh phải la lên cho làng phố biết.

Hai Đẩu vì mất một cánh tay, vì bị thất thế, đành phải nghe theo. Hai Đẩu chịu la lên, tức là đã chịu hàng. Đó là cái dấu hiệu của hãng xe đã chịu nhường khách cho kẻ thắng.

Sau đó hai hôm, Bảy Thẹo bị trả thù. Bọn em út của Hai Đẩu đón chém anh ta tại cầu Cái Đôi. Bảy Thẹo một mình đỡ gạt được một lúc, rồi phóng xuống sông lặn mất. Trở về, xem xét lại thân mình, anh thấy mình chỉ bị bảy vết thẹo xoàng trên tay, lưng và vai. Anh ta thành danh Bảy Thẹo là từ đó.

Hãng Phú Hòa vẫn chưa chịu thua. Tên chủ hãng kiện hãng Long Thành đến tòa vì tội cho người chém lén Hai Đẩu. Chủ hãng Thành Long đút tiền cho quan trên và đổ tội cho Bảy Thẹo. Thế là Bảy Thẹo phải đi tù.

Trong những ngày ấy, Quản Dõng đến Cần Thơ để lo cho đứa em út khỏi bị đuổi ra khỏi trường vì tội đánh ông giám thị. Nghe chuyện đó, Quản Dõng cho Bảy Thẹo người nhỏ mà gan, đáng là dân anh chị. Hắn nghĩ: cần phải đón Bảy Thẹo về làng để trị đám tá điền cứng cổ. Và nếu được Bảy Thẹo cầm cương xe cho hắn đi thì đố có một tên dân tá điền nào dám làm hỗn với hắn. Nhân có sự qua lại với quan chủ tỉnh, hắn bèn đến xin tha cho Bảy Thẹo và đích thân đưa Bảy Thẹo vào nhà thương để an trị.

Ra khỏi nhà thương, Bảy Thẹo liền quỳ dưới chân hắn để tạ ơn.

Từ đó, Bảy Thẹo về ở với hắn, tới mùa đi góp lúa, và ngày ngày thì giữ cương ngựa cho Quản Dõng đi việc quan. Hắn đã trở thành một tên tay sai trung thành cho Quản Dõng. Hắn được Quản Dõng hoàn toàn tin cậy. Hôm nay, Quản Dõng phân công cho hắn đứng gác thường trực hầm giam Sáu Sỏi.

Lão Ịnh đứng nhìn Bảy Thẹo, nghĩ đến cuộc đời của hắn, lão thấy ngài ngại.

Tình thương bạn bốc dậy trong người lão, lão “hừm” lên một tiếng và tự hỏi: “Nó cũng tín đồ thì sao lại sợ nó?”

Rồi, lão xòe bàn tay phải đưa lên ngực, ngẩng đôi mắt sầu não nhìn áng mây vẩn đục đang che kín mặt trời, miệng lẩm bẩm van vái với các vị chư tiên chư phật, mong cho Sáu Sỏi biết cải tà quy chánh.

Vái xong, lão thấy người trở nên cứng cỏi và tự dưng lão tin rằng: mình sẽ thuyết phục được bạn.

Lão nắm chòm râu kéo chằn qua một bên, nhảy phóc qua mương, đi thẳng lại Bảy Thẹo.

Bảy Thẹo rụp chân, đưa tay trái lên ngực, cúi đầu chào theo kiểu người có đạo.

- Cho tôi nói chuyện với thằng tù binh một chút. - Lão bảo với tư thế của ông phó ban trị sự ra lệnh cho một tín đồ.

Bảy Thẹo cúi đầu nhận lệnh, dựng súng bên một gốc xoài, rồi đi thẳng lại hầm.

Hắn đến gần một gốc xoài rễ bò ngoằn ngoèo trên mặt đất như một đàn rắn nằm khoanh. Hắn dùng chân hất mấy nhánh xoài khô chất đống trên cửa hầm, rồi cúi mình đưa tay cào lá phân sang một bên. Hắn hắt hơi mấy lần vì mùi ẩm ướt xông lên mũi. Dưới lớp phân là một miếng gỗ đậy cửa hầm. Hắn dỡ nắp, cửa hầm tròn như miệng lu, đen ngòm và hun hút như đường xuống âm phủ. Hắn thò đầu xuống cửa hầm, giọng hắn rền rền dưới lòng đất:

- Lên! Lên!

Hắn móc bật lửa, bật lên mấy lần đều bị hơi ẩm thổi tắt. Hắn rút gươm thọc xuống hầm, quậy quậy và kêu tiếp, vẫn không nghe tiếng tăm gì, hắn vứt gươm sang bên, ngại ngùng thò xuống một chân, rồi tụt dần vào hầm.

Lão Ịnh vẫn đứng như chân bị trồng xuống đất, tay vuốt cong chòm râu. Lồng ngực lão phập phồng, mắt lão lơ đãng nhìn những hoa xoài đang rơi rụng. Và lão khẽ rùng mình khi thấy Sáu Sỏi.

Sáu Sỏi từ hầm ngoi lên. Sau hai ngày chịu đói, khát và ngột ngạt, người bác gầy hẳn. Bộ quần áo đen của bác đã nhuộm màu bùn và nhớp nháp. Bùn nhầy nhụa bê bết trên mái tóc, chòm râu và gương mặt hốc hác của bác. Chỉ có đôi mắt chân thành của bác là còn trong sáng. Tay bác bị trói ra sau bằng một sợi lòi tói dài.

Thế là hơn bốn tháng, bác mới trở lại làng, từ cái đêm Hiền bị hy sinh.

Bác là người ít khi ở làng. Năm ba mươi tuổi, năm 1932, từ khi gặp Đảng và biết cách mạng, cuộc đời của bác cứ rày đây mai đó, khi thì phải trốn tránh, khi thì bị tù đày. Một hai năm, bác mới có dịp trở về làng một lần. Cũng như bao nhiêu người đã từng đi xa, mỗi lần trở lại làng là bác thấy bao nhiêu điều biến đổi, có những cái bị mất đi, có những cái vừa sinh sôi nảy nở và lớn lên, có điều khiến cho bác đau xót, có điều khiến cho bác vui mừng, lần nào cũng thế. Nhưng chưa bao giờ bác thấy làng mình có những biến đổi ghê gớm và lạ kỳ đến nỗi bác phải lạ lùng và khó hiểu như những năm gần đây. Sau đêm khởi nghĩa năm 1940, năm năm bị ngồi tù nơi Côn Đảo, khi trở về, nước nhà đã độc lập rồi, bác nghĩ làng mình chắc vui lắm, vui hơn và sôi nổi hơn những làng mà bác đã ghé qua. Làng của bác, một cái làng của những con người bất khuất, một cái làng mà anh em đồng chí trong tù thường hay nhắc đến - làng Mỹ Long Hưng, quận Chợ Mới, tỉnh Long Xuyên - mỗi lần nghe nhắc đến tên làng là mỗi lần bác thấy tự hào. Nhưng khi về đến làng thì cảnh làng và người làng đều khác hẳn với ý nghĩ của bác. Bác đã cảm thấy lạ từ khi tàu rúc còi quăng dây cập bến. Những người mà bác tưởng sẽ ra tận bến đón chào bác, đón chào anh em tù Côn Đảo trở về thì bác chẳng thấy ai ngoài đứa con, người trong gia đình, một vài đồng chí cũ và những người ở chợ. Xóm Đình, nơi mà trước đây thường hay nổi đuốc ngùn ngụt trong những đêm đi biểu tình thì bây giờ mỗi một sân nhà đều mọc lên một bàn thông thiên với khói hương buồn ngui ngút. Người như lão Ịnh, bác tưởng là đã vào Đảng rồi. Nhưng không, lão Ịnh đầu đã để tóc, râu dài chấm đến ngực. Và bà con tá điền của xóm Đình, những người đã cùng bác tham gia các cuộc biểu tình chống sưu, chống thuế, những người đã cầm dao, cầm đuốc nổi dậy trong đêm khởi nghĩa 40, những người đã giúp bác treo lá cờ đỏ búa liềm trên cột dây thép, bây giờ, cũng như lão Ịnh, đầu để tóc và ăn mặc quần áo màu già. Còn những thằng như Quản Dõng, bác tưởng là hắn đã bị đền tội rồi. Nhưng không, hắn vẫn còn. Hắn cũng thay đổi, đầu không đội nón cối, tay không xách cù ngoéo, người không mặc đồ tây, cũng như bà con tá điền, hắn mặc quần áo màu già và đầu để tóc. Mới nhìn thoáng qua, bác cũng tưởng hắn là dân tá điền. Bà con tá điền như quên hắn là Quản Dõng, quên hắn là người đã gây ra nợ máu, không thù ghét hắn, mà lại kính phục hắn và tôn hắn là người cầm đầu. Hắn đi đến đâu, người ta niệm Phật và cúi chào đến đấy. Và cũng như hắn, bà con tín đồ - những người dân tá điền ấy - họ nhìn bác, nhìn anh em đồng chí trong chính quyền với cặp mắt thù địch, ganh tỵ và nghi ngờ. Vì sao thế? Vì sao bà con tín đồ ở làng lại họp kín, tập đêm, rậm rịch muốn nổi dậy như một số tín đồ đã nổi loạn đòi cướp chính quyền ở Cần Thơ? Họ là những con người phản bội như một số người đã nói? Vì sao chính quyền ở làng lại quá nhiều những người ở chợ, những người mới lớn vừa nông nổi, vừa kiêu ngạo và lố lăng? Cuộc sống bị rối như tơ vò. Tơ vò người ta còn tìm ra mối, còn cuộc sống của làng, của con người thì bác chưa hiểu. Trong làng, đâu đâu cũng có cờ đỏ sao vàng, nhưng tâm hồn của con người thì như bị nhuộm màu nâu, màu xám.

Về làng, bác vẫn ở xóm Đình, vẫn lân la vẫn cùng sống với bà con. Trước đây, bác đến với họ thân thuộc như người nhà, nhưng bây giờ, đến họ, bác thấy như đến với một thế giới nào khác, bác vừa bỡ ngỡ vừa lạ lùng, cả những lời nói của họ cũng khác đi, họ không nói những lời nói của người bình thường, tiếng nói của họ là tiếng nói của kinh sấm, nào: cuộc thế, trần gian, trầm luân, bể khổ, chúng sanh, bá tánh...
Về làng chưa đầy một tháng, bác chưa kịp hiểu thật lòng của họ thì giặc đến. Khi giặc đến thì họ nổi dậy, bắt được một số người trong chính quyền. Bác cùng với một số anh em bị bắt giam trong hầm tối. Đêm nào cũng có một số đồng chí bị đưa đi thủ tiêu. Nằm trong hầm giam - một cái hầm dưới mặt đất, bùn đất nhòe nhoẹt - bác thấy đau đớn hơn lúc bị giam ngoài Côn Đảo. Nhà tù của giặc không giết được cuộc đời cách mạng của bác. Năm năm ngồi tù, khi trở về thì lại chết vì bàn tay của người làng và người thân! Nằm đợi cái chết của mình, bác chỉ mong gặp lại họ, người ấy là ai. Bác muốn nói với họ và muốn hỏi họ vì sao? Bác bị giam ba ngày. Rồi, bỗng một đêm, có một bóng người mò xuống, vừa quờ quạng vừa gọi tên bác, nắm lấy tay bác kéo lên.

Ra khỏi cửa hầm, trời tối đen như mực, không thấy đâu là xóm làng, chỉ nghe tiếng sóng từ xa dội lại, tuy thế, bác vẫn nhận ra người đang giữ lấy tay bác chính là lão Ịnh. Mình sẽ bị giết vì bàn tay của lão Ịnh chăng? Bác hãy còn đang nhìn lại lão Ịnh thì lão Ịnh đã nắm chặt lấy hai tay bác, tay run run và kêu tên bác với giọng nghẹn ngào trong nước mắt:

- Anh Sáu! Anh không còn nhận ra tôi nữa sao, anh Sáu? Anh phải đi ngay thôi. Hai ba đêm nay, anh em người ta đi lục hết các hầm để giết anh mà không thấy. Tôi cũng tìm anh với thằng cháu. Thằng cháu nó đi rồi. Tôi tưởng là anh đã chết rồi. Không ngờ, nhờ Phật thầy phù hộ, tôi còn gặp lại anh. Thôi, đi đi anh Sáu!

Nghe lão nói, bác vừa bàng hoàng vừa cảm động.

- Anh Sáu, anh đi không nổi sao? Anh đói lắm phải không? Tôi có mang cơm cho anh đây. Tôi sẽ đưa anh ra cây vông đồng.

Hai người đứng lại dưới gốc vông. Cũng dưới gốc cây vông ấy, những lần giao nhiệm vụ cho lão Ịnh, hai người cũng thường gặp nhau trong những đêm khuya như thế. Tàng vông lào xào như gợi nhắc lại những tiếng thì thầm trong những đêm xưa.

Sau khi trấn tĩnh lại, bác hỏi:

- Anh Tư! Sao anh không thả những anh em khác?

Nghe hỏi, lão Ịnh từ từ quay mặt nhìn mặt nước đầm sen đang gợn loang loáng trong bóng đêm, rồi lắc đầu, nhỏ giọng:

- Những người đó không phải như anh, mà tôi cũng không có quyền. Còn anh, anh là người... - lão không tìm ra tiếng nói - cho nên trời Phật đã xui khiến cho tôi đi tìm anh. Thôi, anh đi đi anh Sáu, đừng nấn ná ở đây mà sa vào tay của anh em.

Lão quay nhìn lại Sáu Sỏi, vừa cởi vừa mở bộ quần áo buộc qua hông vừa nói:

- Tôi có mang ra cho anh một bộ quần áo màu già với một cái giấy đi đường của tín đồ.

Lão dúi vào tay Sáu Sỏi:

- Anh mặc vào mà đi. - Lão ngẩng nhìn lên nền trời đen xám - Tôi cầu mong những vì sao của định mệnh soi dẫn con đường cho anh.

- Anh Sáu! - Lão kêu bác, mở tròn mắt nhìn bác như nhìn một lần cuối cùng, rồi quày quả đi...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #5 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2024, 03:36:42 pm »

IV


Trong những ngày ấy, giặc Pháp đánh lan ra khắp các tỉnh của Nam Bộ. Bọn chúng đánh lại Nam Bộ với một lực lượng thiện chiến của hai sư đoàn số 3 và số 9 mà chúng gọi là hai sư đoàn 3è và 9è DIC 1.

Tháng 5-1945, phát xít Đức đầu hàng. Nước Pháp được giải phóng. Chánh phủ lâm thời của nước Pháp người đứng đầu là “Đờ Gôn”. Trong lúc ấy, Đông Dương vẫn còn nằm trong tay của phát xít Nhật và Nhật đang suy yếu vì bị Hồng quân Liên Xô đánh bại. Thừa nước đục thả câu và vấy máu ăn phần, “Đờ Gôn” cho hai sư đoàn ấy sang tham chiến ở Thái Bình Dương. Hai sư đoàn ấy sang Thái Bình Dương để đánh với một quân đội (Nhật) đang bại trận để mở đường chiếm lại Đông Dương. Nhưng khi hai sư đoàn ấy cùng với chiếm hạm “Ritsơliơ” nặng ba nhăm ngàn tấn vừa đến Sâylăng thì quân Nhật đã đầu hàng. Thế là hai sư đoàn ấy đành phải nằm lại Sâylăng chờ cơ hội mới.

Nhật đầu hàng, Cách mạng Tháng Tám thành công. Quân đội Anh - Ấn với danh nghĩa là quân đội Đồng minh đặt chân lên đất Nam Bộ với nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật. Trong lúc ấy, quân lính Pháp ở Nam Bộ đang bị giam giữ ở thành Ô Me Sài Gòn.

Trong tình thế ấy, chánh phủ “Đờ Gôn” liền xoay qua một nước bài khác: vận động Bộ Tư lệnh Đồng minh ở Đông Nam Á võ trang lại cho quân Pháp ở Đông Dương.

Quân Anh - Ấn vừa giải giáp quân đội Nhật vừa võ trang cho quân Pháp ở thành Ô Me. Sau khi được võ trang, tên đại tá “Xêđinnơ” liền đề nghị với “Đờ Gôn” cho đánh chiếm lại Sài Gòn. Thế là đêm 22 rạng ngày 23-9-1945, bọn chúng bắt đầu nổ súng. Nhân dân Sài Gòn nổ súng kháng chiến. Quân Pháp không phá được thành Ô Me, không chiếm được Sài Gòn, mà bị nhân dân Sài Gòn dồn hãm vào các vòng vây, rồi xin đàm phán với Ủy ban hành chánh Nam Bộ.

Trong mười ngày đàm phán, bên ngoài bọn chính phủ “Đờ Gôn” và lực lượng Đồng minh đã thỏa thuận cho quân đội Pháp thay thế cho quân đội Anh - Ấn. Thế là, đầu tháng 10-1945, chiến hạm “Ritsơliơ” nhổ neo rời Sâylăng, đưa hai sư đoàn số 3 và số 9 sang Đông Dương. Tàu “Ritsơliơ” bắn tiếng súng đầu tiên vào Nhà Bè, mở màn cho một cuộc xâm lăng mới.

Sư đoàn số 3 và số 9 là hai sư đoàn gồm những người lính trẻ, những người lính đã từng tham gia những trận đánh giải phóng nước Pháp. Họ là những người lính vừa chiến thắng. Hai sư đoàn ấy cùng với sáu ngàn quân Pháp ở thành Ô Me đánh lan ra khắp Nam Bộ.

Trong những ngày ấy, Sáu Sỏi cùng với các lực lượng vũ trang của ta ở miền Tây vừa đánh vừa rút về U Minh. Về U Minh, bác gặp lại Phát và hầu hết anh em đồng chí trong tỉnh.

U Minh, một cánh rừng tràm bát ngát với những dòng nước đỏ đã trở thành khu căn cứ. Từ rừng sâu mọc lên những binh công xưởng đầu tiên với những dụng cụ thô sơ và dưới bóng tràm là trại lính.

Ngày 6-2-1946, Bà Rịa là tỉnh cuối cùng của Nam Bộ bị mất vào tay quân Pháp. Quân Pháp đã tưởng chúng chỉ đánh nhau với bốn sư đoàn có võ trang. Đó là sư đoàn một, sư đoàn hai, sư đoàn ba và sư đoàn bốn. Trong những ngày đầu bối rối, bốn sư đoàn ấy được thành lập một cách ô hợp. Những sư đoàn ấy gồm có những sĩ quan cũ của Pháp, những lính lệ, lính làng, những người lính đã theo Nhật mà người ta quen gọi là lính “hay hô” hoặc là lính Nhật “local”. Sau khi đánh đuổi bốn sư đoàn ấy ra khỏi hai mươi mốt tỉnh lỵ của Nam Bộ, quân Pháp tưởng rằng chúng đã bình định xong đất Nam Bộ. Những người lính Pháp của hai sư đoàn số 3 và số 9, họ tưởng rằng họ đã chiến thắng. Chúng nghênh ngang trên khắp nơi mà chúng vừa chiếm được. Chúng hãnh diện với chiến công của chúng, và hãnh diện với cả bộ quân phục của chúng nữa. Quân phục của chúng, phía bên vai trái có một “vòng tua” đỏ, đó là “vòng tua” danh dự của một đội quân chiến, thắng. Nhưng bọn chúng đã nhầm, bọn chúng không phải chỉ đánh nhau với bốn sư đoàn ấy, bọn chúng còn phải đánh nhau với một lực lượng nữa, đó là lực lượng của nhân dân. Trong đời sống bình thường, khi có sự tranh chấp giữa người này với người nọ, người Nam Bộ thường hay nói: “lấy ngực ở đời” - Bây giờ, người Nam Bộ đã “lấy ngực ở đời” với giặc Pháp. Quân lính Pháp không tìm thấy quân đội của đối phương, nhưng lúc nào cũng bị tấn công. Bọn lính “vòng tua đỏ” ấy lại đi học những tội ác của bọn Đức mà đánh lại nhân dân và thầy sao thì trò vậy, bọn chúng càng ngày càng bị rơi rụng đi. Trên khắp mọi nơi, người ta thấy, lác đác và rải rác mọc lên những nấm mồ có dựng thánh giá và bia mộ khắc bằng chữ Pháp.

Rồi, từ các chiến khu: Rừng Sác, Tháp Mười, U Minh, lực lượng của cách mạng lần lượt được dội trở về các tỉnh.

Sáu Sỏi lại được trở về làng. Trong những ngày chuẩn bị trở về, có một số anh em đồng chí nhớ đến những ngày nổi dậy của một số bà con tín đồ Hòa Hảo, nhớ những cái xác chết bập bềnh trên dòng sông, họ không thật tin lòng người Hòa Hảo, họ lo ngại và rụt rè. Còn bác, bác nhớ đến cái đêm mà lão Ịnh đã đưa bác ra khỏi hầm, đêm ấy là đêm tối, nhưng đêm tối ấy như lóe ra một tia sáng giúp cho bác thấy được lòng người tín đồ Hòa Hảo rõ hơn và sâu hơn. Bác và Phát, hai cha con của bác là hai người đầu tiên mạnh bước trở về. Người đứng đợi bác dưới gốc cây vông đồng trong một đêm đầy sao cũng chính là lão Ịnh.

Vừa thấy bác, lão Ịnh đã kêu lên:

- Anh Sáu đó phải không?

- Anh Tư đó hả?

- Tôi đây.

Lão Ịnh vừa kêu vừa chạy lại bác và ôm chầm lấy bác. Hai người ôm ghì lấy nhau một lúc. Trong khoảnh khắc im lặng, bác nghe tiếng thổn thức của lão Ịnh:

- Anh Sáu! Nghe tin anh về. Bà con ai cũng mừng, nhưng người nào cũng lo sợ. Bà con đã bảo nhau chỉ có tôi mới ra đón anh được thôi.

- Vì sao bà con bây giờ lại sợ tôi, anh Tư? Tôi về đây là muốn ở lại làng với bà con...

- Anh Sáu! Nếu như trước đây, tất cả những người trong chính quyền đều như anh thì làng mình đâu có ra nông nỗi đến như thế. Chỉ mới có gần một năm thôi mà làng mình bị vắng vẻ đi nhiều quá.

- Thôi, đừng khóc nữa anh Tư! - Bác quay nhìn cái đầm sen và tiếp - Anh thử cầm lấy một cục đất mà ném vào cái đám bèo dưới đầm mà xem, anh hãy nói với bà con, bèo bị tan đi còn biết họp lại, huống chi là người của chúng ta, anh Tư!...

Sáu Sỏi về làm bí thư huyện ủy huyện Chợ Mới, và giữ chức chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh huyện.

Những ngày ấy là những ngày sau hiệp định 6-3 năm 1946. Khắp mọi nơi - và hầu như ngày nào cũng có tiếng súng kháng chiến. Không khí kháng chiến như một ngọn lửa bắt nguồn từ tim người bùng lên, lan rộng ra và không thể nào dập tắt được. Tất cả các nơi, hầu như mỗi xã cũng đều có một khu căn cứ. Xóm Đình là khu căn cứ của làng.

Qua cuộc chiến đấu dằng dai ấy, càng ngày người ta càng thấy rõ lời tuyên bố của tướng Lơcờle: “Bình định Nam Bộ trong ba tuần” là những lời huênh hoang và ngu xuẩn một cách bất hủ.

Trong các thành phố và các đồn bốt, bọn lính có “vòng tua đỏ” mỗi ngày mỗi vắng và được thay vào những người lính lê dương đầu đội kê bi trắng.

Đầu năm 1947, trong một cuộc họp cao cấp ở Pháp, Đạtgiăngliơ và Bôla Et có thống nhất một nhận định: “Nếu hiểu biết được một cách sâu sắc về tôn giáo về tâm lý và phong tục, về mâu thuẫn nội bộ của đối phương thì sự hiểu biết đó có một sức mạnh bằng hai sư đoàn số 3 và số 4 và nếu biết sử dụng được sự hiểu biết đó thì sức mạnh sẽ vô cùng...”.

Sau đó các báo chí Sài Gòn càng bị kiểm soát một cách gắt gao hơn. Bọn bồi bút lần lượt trườn mặt lên các trang báo, vu cáo Cộng sản, cổ động và tuyên truyền cho thứ độc lập bánh vẽ.

Ở những vùng có tín đồ Hòa Hảo, người ta lại bắt đầu nghe lại những tin đồn nhảm, lại có những lời bàn xầm xì về hai tiếng quỷ dương.
Tên “Pettanh” Liễu - người Việt mà lấy tên Tây, tên phòng nhì đội lốt đạo, làm tham mưu trưởng của quân đội Hòa Hảo - ra mật lệnh thủ tiêu những người nghi ngờ là cộng sản hoặc ngoại đạo.

Tín đồ Hòa Hảo các nơi lại bắt đầu họp kín, tập kín, quyên tiền mua súng, cho nữ tín đồ đi dụ dỗ anh em du kích mang súng sang quân đội Hòa Hảo. Các ban trị sự đòi tham gia vào chánh quyền một cách gay gắt. Các nơi, đã bắt đầu có những cuộc xung đột lẻ tẻ. Trong huyện Chợ Mới, tình hình có vẻ gay gắt nhất là làng Mỹ Long Hưng. Ban trị sự đạo đề nghị mở hội nghị bàn về việc chánh quyền, hội nghị đang sôi nổi thì các đại biểu trong ban trị sự đạo lại đứng dậy, xua tay, lớn tiếng, bỏ ra về. Trong tình hình ấy, Sáu Sỏi và các cấp ủy đều đoán biết việc sẽ xảy ra. Sáu Sỏi liền trở về làng. Bác trở về làng, đang họp với cấp ủy xã thì đêm ấy đã nổ ra. Nếu đêm ấy mà không có Hiền, thì bác và một số đồng chí chắc đã hy sinh rồi.

Sau cái đêm ấy, các đơn vị vũ trang của Năm Lửa, Ba Cụt, Hai Ngoán, Nguyễn Giác Ngộ cũng đã phản lại nhân dân tín đồ, các đơn vị ấy đã nổ súng bắn giết cán bộ cách mạng, chiếm lấy tất cả các vùng có tín đồ trong các tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc, Sa Đéc và Cần Thơ. Sau khi các đơn vị vũ trang của Hòa Hảo chiếm được những vùng ấy thì các đơn vị chính quy của Pháp lần lượt giao quyền kiểm soát cho Hòa Hảo và rút dần đi đến các chiến trường khác. Những tên quan lại Pháp ngày cũ lại bắt đầu trở lại. Quận trưởng Ghiđi lại trở về làm Quận trưởng quận Chợ Mới.

Sau khi chiếm được một số vùng có tín đồ, các lực lượng vũ trang của bọn phản động mượn danh Hòa Hảo lại cùng với các lực lượng quân sự địa phương của Pháp tấn công vào các khu căn cứ của Cách mạng. Nhưng bọn chúng đã vấp phải sức chống trả mãnh liệt của các lực lượng Cách mạng. Các đơn vị vũ trang của Cách mạng cũng không ngừng tấn công vào các lực lượng phản động ấy.

Hơn bốn tháng, những cuộc chiến đấu hỗn độn ấy đã thức tỉnh được một số tín đồ. Số tín đồ ấy đã tự mình tách ra khỏi hàng ngũ phản động, tìm vào khu căn cứ, kêu gọi cán bộ trở về.

Sáu Sỏi và các đồng chí trong huyện ủy đã chia nhau trở về một số làng và đã gây được cơ sở.

Vị trí của làng Mỹ Long Hưng như cái cổng đi vào vùng đất rộng lớn của Hòa Hảo, huyện ủy huyện Chợ Mới xét thấy cần phải có người trở về.

Qua nhiều cuộc hội nghị, bác thấy anh em đồng chí vẫn hãy còn ngại, thấy anh em ai ai cũng ít nhiều có sai lầm với bà con, bác tự thấy mình là người hiếu được người làng, mình là người hầu như không có điều gì sai trái với dân làng, cho nên bác đã xin về. Trước khi về, bác có gửi một lá thư cho lão Ịnh. Nhưng bác đã không ngờ.




-------------------------------------------------------------------
1. Division infanterie colonial.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #6 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2024, 03:41:02 pm »

V


Một buổi sáng, cách đấy ba hôm, để tránh sự hiểu lầm, để tỏ ra thiện ý của mình, bác tự mình bơi một con xuồng vượt qua sông. Xuồng của bác cặp lại bến Đình vào lúc trời vừa ngả xế. Bác vừa bước lên bến thì bị Hùng, Chiến và Bảy Thẹo nấp sẵn dưới gốc cây gừa, xông ra bắt. Chúng túc tù và từng hồi một, báo động và tri hô. “Bắt được một tên do thám”. Tức thì cả làng bị náo động. Khắp các ngả đường, đồng bào tín đồ kẻ đao, người kiếm, nghìn nghịt kéo đến vây chặt lấy cây gừa. Đội canh phòng của Quản Dõng quất ngựa sải dài theo ven sông.
Họ chen lấn nhau nhìn mặt người bị bắt.

Bác bị trói, nhìn quanh, thấy tất cả đều là người làng của mình. Với những vẻ mặt thù hằn và tăm tối, họ quơ đao, quơ kiếm, gầm thét, đòi trả thù. Hình như họ đã quên rằng: bác chính là Sáu Sỏi, bác chính là anh thợ cắt tóc quen thuộc ở xóm Đình, bác chính là chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chánh của làng.

Đứng trước cảnh đó, bác không thấy run sợ, cũng không thấy thù hằn họ, mà chỉ thấy mình nhoi nhói đau. Họ đã đi sâu vào con đường lầm lạc quá rồi. Bác nghiến chặt răng để cầm nước mắt. Bác ngước nhìn quanh và cất tiếng:

- Bà con! Tôi là Sáu Sỏi đây này! Tôi không phải là do thám. Tôi về đây để cùng với đồng bào đoàn kết đánh Tây, cứu nước!

Sau câu nói ấy, bác thấy ông Năm Bầu, người bạn già của mình, từ trong đám đông lách ra, quay mặt về đám người, dang rộng cánh tay ra, thụp đầu xuống, và nói với một giọng như van lơn:

- Thưa tất cả bà con bổn đạo! Bà con cho tôi xin. Chuyện đâu còn có đó. Mình có ban trị sự, mình nên để cho ban trị sự xử. Anh Sáu đi về đây như là người đi sứ. Mình không nên đánh đập, giết chóc người đi sứ. Vậy, tôi xin bà con ai về nhà nấy đi.

Làn sóng người dừng lại, có nhiều ngọn đao, ngọn kiếm bắt đầu rụt xuống. Và trong đám người chen chúc ấy, liền như chia ra thành hai khối. Kẻ lấn tới trước, người nắm áo kéo lại. Rồi, họ bắt đầu la ó, cãi nhau.

Trong lúc đó, Sáu Sỏi bước tới một bước, vừa định nói thêm thì đã bị Bảy Thẹo bóp lấy cổ và bị đút vải vào miệng. Trong khi mọi người lảng dần ra về, bác thấy ông Năm Bầu ngoái nhìn mình với cặp mắt đau xót và bạn bè.

Sau đó, chúng đưa bác thẳng về hầm giam. Nghe họ gọi lên, bác nghĩ chắc là họ đã chịu bàn bạc với mình.

Tuy bị bắt, nhưng bác vẫn giữ tư thế của người chiến thắng, vẻ mặt hốc hác, xương xương của bác vẫn trầm tĩnh. Thấy lão Ịnh, bác bỗng chợt nhớ những lần dưới gốc cây vông. Bác nhìn lão Ịnh với đôi mắt vừa vui mừng, vừa rộng rãi, vừa xót thương.

Còn lão Ịnh, lão vẫn đứng dưới bóng tối của tàng xoài. Nhìn Sáu Sỏi, lão thấy hơi nao núng và phập phồng lo sợ hơn lúc cầm ngọn đao ra trận. Lão chớp mắt ra hiệu cho Bảy Thẹo. Bảy Thẹo hiểu ý, liền cho gươm vào vỏ, vác súng lên và đi lảng ra chỗ khác. Hắn vừa đi vừa ngoái cổ nhìn lại.

Lão Ịnh vẫn đứng nguyên chỗ cũ, người hơi run, lưng hơi còng và sắc mặt biến dần xuống. Rồi tự dưng, lão nảy ngực lên, cố trấn tĩnh và tập trung tất cả nghị lực vào mắt để nhìn thẳng vào Sáu Sỏi. Lão thấy tức giận vì cái vẻ đường hoàng, hiên ngang của Sáu Sỏi mỗi lúc mỗi tiến gần về mình.

- Anh Sáu! Anh nên cải tà quy chánh đi!

Lão định mở đầu câu chuyện bằng lời khuyên ấy. Nhưng lão chưa kịp nói, trong lúc đôi môi tái xám của lão đang mấp máy thì, Sáu Sỏi đã đứng trước mặt lão, và đã nói trước lão rồi:

- Anh Tư! Tôi hôm nay về đây là để cùng anh với bà con trong làng mình đoàn kết lại đánh Tây cứu nước!

Lão Ịnh thấy như mình bị tấn công trước, lão đâm bối rối vì thấy câu chuyện vừa mở đầu đã khác với ý định của mình. Lão chớp nhìn Sáu Sỏi, rồi vừa ngồi xuống vừa hỏi vặn:

- Tại sao lúc trước các anh không đoàn kết với chúng tôi?

- Lúc nào là lúc tôi không đoàn kết với các anh?

Sáu Sỏi vừa nghe cái giọng gay gắt vừa thấy sắc mặt giận dữ của lão Ịnh và thấy hai tay mình vẫn chưa được mở trói, bác chợt hiểu được số phận của mình. Nhưng bác vẫn trầm tĩnh, bác ngồi dựa lưng vào gốc xoài và ngẩng mặt nhìn lão Ịnh. Lão Ịnh ngảnh mặt nhìn chỗ khác và hỏi tiếp:

- Các anh nói đoàn kết, tại sao hồi năm ngoái, các anh không đồng ý cho ông trưởng ban chúng tôi ngồi ghế chủ tịch?

Cái gì là bạn bè là thân thiết trong đôi mắt của Sáu Sỏi liền sụp tắt. Bác mở tròn mắt nhìn lão Ịnh như nhìn một người xa lạ nào. Vẻ mặt sắt lại, nghiêm nghị, bác nói chắc từng tiếng một:

- Chúng tôi không đồng ý để Quản Dõng làm chủ tịch là vì Quản Dõng không phải là người đại diện của các anh.

Lão Ịnh quay nhìn Sáu Sỏi với một vẻ lạ lùng và hỏi lại:

- Quản Dõng là trưởng ban trị sự của chúng tôi, tại sao anh nói là không phải đại diện của chúng tôi?

Giọng của Sáu Sỏi trầm lại:

- Anh Tư! Anh đừng thấy Quản Dõng mặc đồ già, đầu để tóc mà anh cho nó là người theo đạo. Đó chỉ là cái vỏ. Anh lật áo nó lên mà xem, nó vẫn là thằng chủ điền. Còn anh và tín đồ trong làng vẫn là tá điền của nó. Anh quên nó rồi sao anh Tư?

Câu hỏi cuối cùng ấy gợi lại dĩ vãng của cuộc đời lão và như đánh thức lão. Lão đưa cặp mắt tối tăm và buồn rầu nhìn một đường ánh sáng từ kẽ lá của tàng xoài rọi thẳng về mình, đọng dưới mặt đất một đốm vàng.

Lão vội vàng chống chế lại:

- Quản Dõng là như vậy thì đã đành, nhưng còn tôi? - Lão cong năm ngón tay gõ vào lồng ngực mình và tiếp -Tôi là Tư Ịnh! - Lão xưng tên với một vẻ tự hào - Tại sao lúc đó các anh không đồng ý cho tôi giữ chức ủy viên công an?

Rồi, lão có vẻ chủ động hơn, lão nắm chòm râu, hất mặt hướng về Sáu Sỏi, hai lông mày rậm giương cong lên.

Sáu Sỏi vẫn bình tĩnh:

- Anh Tư! Vì lúc đó, anh không phải là anh nữa!

- Tại sao tôi không phải là tôi? Hả?

- Anh Tư! Anh bình tĩnh để tôi nói. Tôi nói, anh đừng giận! Đêm, anh nằm gác tay lên trán mà nghĩ lại. Trong lúc đó và cũng có thể là hiện bây giờ, anh quả thật không phải là anh nữa. Tại sao tôi dám nói như vậy. Vì, anh không phải làm việc cho tín đồ, anh cũng không phải làm việc cho anh nữa; mà, anh làm theo mệnh lệnh của người khác. Người khác là ai? Là thằng Quản Dõng, là những thằng như Quản Dõng. Anh Tư, chắc là anh còn nhớ đến Cao Hoài Đức là tôi trung thần của thời nhà Tống chứ? Cao Hoài Đức không phải là tên nịnh thần có lòng phản tặc. Thằng Dư Hồng, Dư Triệu đã dùng mưu gian kế quỷ, dán bùa mê lên lưng Cao Hoài Đức, nên Cao Hoài Đức đã trở ngựa lại mà đánh vua mình. Anh Tư, tôi thấy anh...

Lão Ịnh xua tay ra và cắt lời của Sáu Sỏi:

- Anh, anh Sáu! Tôi nghe đã đủ rồi!

Sáu Sỏi tiếp:

- Cái việc Quản Dõng và anh có được vào chánh quyền hay không, không phải là do tôi, hay là do một nhóm người nào, mà do tất cả nhân dân trong làng. Tại sao lúc đó các anh không chịu đưa ra cho nhân dân bầu cử? Anh còn nhớ...

Lão Ịnh không đủ can đảm để nghe nữa rồi, lão đưa tay phạt ngang, cắt lời của Sáu Sỏi, phẫn nộ và to tiếng:

- Chính vì chỗ đó mà chúng tôi không đoàn kết với các anh.

Sáu Sỏi vẫn bình tĩnh, nhấc lưng ra khỏi thân xoài, khe khẽ lắc đầu:

- Không phải vì chỗ đó đâu anh Tư! Mà vì một chỗ khác! Anh là người trong đạo, tôi xin lỗi anh, chắc anh cũng chưa biết rõ được chuyện này. Những người như Quản Dõng nằm trong đạo anh rất nhiều. Hỏi ai là người nắm giềng mối trong đạo. Từ trên cho tới dưới, có phải là những thằng chủ điền như Quản Dõng không? Làng Mỹ Long Hưng này là Quản Dõng, làng Mỹ Nhân là Tổng Định, làng Mỹ Nghĩa là Cả Kẹo, còn huyện thì ai? Là thằng Tổng Nghệ. Hồi thời Pháp thuộc, hỏi vậy những thằng đó đã làm cái gì? Nó làm hội tề của giặc, là những thằng tay sai, là những thằng bán nước. Nó bán nước, bán dân cho giặc từ lâu rồi. Bây giờ, nó chui vào đạo để lường gạt tín đồ, để bán rẻ tín đồ cho giặc. Bọn nó muốn nắm chánh quyền cách mạng, để nhân đó dễ dàng tiêu diệt cách mạng. Nhưng cặp mắt của nhân dân là ánh sáng, nhân dân biết, nên nhân dân không đồng ý cho nó chui vào. Âm mưu đó bị thất bại, bọn nó mới lấy cớ đó mà đưa tín đồ vào con đường chống lại cách mạng, chống lại nhân dân. Đó, chỗ đó mới là lý do chính. Hỏi anh, trong làng này có biết bao nhiêu người không được làm chủ tịch, tại sao họ không đi theo giặc mà phản lại cách mạng?

Nghe đến đây, lão Ịnh thấy như bị sỉ nhục, lời nói cuối cùng của Sáu Sỏi, lão nghe đau như ai đánh trúng vào tim. Phút chốc lão không thấy Sáu Sỏi là bạn của mình nữa, lão mất tất cả bình tĩnh. Người lão trở nên hung hãn. Gân trên thái dương lão nổi gồng như con rắn trung. Lão đưa bàn tay to lớn đầy lông lên, năm ngón tay cong lại như cái vấu, run run, chụp xuống đốm nắng trước mặt, năm ngón tay lún sâu xuống mảnh đất phân. Lão hất chòm râu, vênh mặt nhìn Sáu Sỏi, rít lên từng tiếng:

- Đạo của tôi không phải theo giặc. Đạo tôi theo giặc là theo diệu kế của chúng tôi. Chúng tôi đầu nó là đầu đỡ, dựa vào thế của nó để tiêu diệt Việt Minh quỷ dương trước, rồi sau này chúng tôi sẽ lấy súng nó mà đánh lại nó.

Lão quay mặt và định đứng dậy đi.

Sáu Sỏi ôn tồn:

- Anh Tư, đừng nóng. Anh ngồi xuống đây, tôi với anh không còn có dịp gặp nhau nữa đâu.

Đôi mắt của Sáu Sỏi thoáng một vẻ xao xuyến, giọng của bác lại trầm xuống, chậm rãi và tha thiết như lòi trăn trối:

- Tôi cũng như anh, đều là những người biết thương nước thương nòi. Tôi là Sáu Sỏi, anh còn nhớ chứ?

Mỗi lần nghe đến tiếng Sáu Sỏi là mỗi lần lão Ịnh như sực nhớ lại một cái gì rất thân thiết gắn bó với cuộc đời đau khổ của mình, vẻ mặt hừng hực của lão dịu dần. Lão khẽ ngồi lại chỗ cũ và lơ đãng nhìn những hoa xoài giăng giăng rơi trắng cả khu vườn. Trong lúc đó, giọng của Sáu Sỏi to dần lên:

- Tôi cũng như anh, đều là những người thương nước, thương nòi. - Sáu Sỏi lặp lại câu đó và tiếp - Tôi muốn anh nói cho tôi được rõ vì sao anh lại thù hằn tôi? Vì sao các anh lại đi thù những người kháng chiến, những người cách mạng, những người cộng sản? Tôi biết, tôi gặp anh lần này là lần cuối cùng, tôi muốn anh cho tôi biết rõ điều đó!

Sáu Sỏi nhìn cái mái tóc buông xòa của lão Ịnh và tiếp:

- Chắc anh còn nhớ! Năm bốn mươi lăm, sau khi mình cướp chánh quyền, thì từ cửa miệng của những người như Quản Dõng đã nói với tín đồ là: những người yêu nước không thờ đạo như chúng tôi là quỷ dương, là những con quỷ đi hốt hồn người trong những đêm tối đổi đời, là những con quỷ đi phá phách Phật trời, cần phải tiêu diệt. Khi bà con tín đồ thấy tôi và anh em vẫn là người thì chúng nó nói lại, chúng tôi là bọn không vua không chúa, là quân làm loạn. Rồi đây, khi đồng bào tín đồ hiểu được chúng tôi là những người muốn xây dựng một cuộc đời như thiên đàng, là tự mình làm chủ cho mình thì họ còn sẽ nói chúng tôi như thế nào?

Dòng sông Cửu Long tự nãy giờ như im lặng, bỗng nổi lên những tiếng sóng hầm hì và mỗi lúc mỗi to.

Sáu Sỏi ngồi thẳng lưng lên. Hai cánh tay bị trói ngoặt ra sau, bác đưa bộ ngực ưỡn về phía trước, đường khuy áo nứt ra, giọng bác vẫn ôn tồn nhưng sôi nổi và hòa theo tiếng sóng:

- Âm mưu của bọn giặc với chúng nó đã sắp sẵn từ lâu rồi, anh Tư! Lúc đầu, chúng nó bảo với tín đồ là: phải tiêu diệt Việt Minh, Việt Minh là quỷ dương, là dân làm loạn và bán nước. Nhưng, chúng nó không thể nào tiêu diệt được cách mạng, mà ngược lại, cách mạng mỗi ngày cứ mỗi lớn lên. Chúng đã đưa đồng bào tín đồ đến một chỗ cùng đường, không có cách nào khác hơn là dựa vào giặc. Nhưng chúng nó biết rằng: đồng bào tín đồ là những người yêu nước. Để che giấu cái bộ mặt bán nước, chúng đưa ra luận điệu là: đầu đỡ Tây, rồi sau sẽ đánh lại Tây. Chính cái bọn đó mới là quỷ. Nó dám cả gan mệnh danh là Phật trời để bán rẻ tín đồ cho giặc. Anh Tư! Chính bọn đó mới là kẻ thù. Chúng đã đốt lên một ngọn lửa thù hằn giữa nhân dân mình, mình còn tiếp tục xô xát lẫn nhau thì mình cũng như con thiêu thân tự mình lao vô lửa để tự giết mình mà thôi. Tôi nhớ một lần, anh có nói với tôi: “Ai thắng ai thua rồi sẽ biết!” Nếu chúng ta vẫn cứ xô xát với nhau thì cuối cùng anh và tôi không ai thắng ai cả! Mà, kẻ thắng chính là giặc! Chuyện đó rõ ràng lắm rồi! Anh còn nhớ làng Mỹ Long Hưng này chứ? Lúc nhân dân đoàn kết cùng một dạ một lòng, hỏi vậy có thằng Tây nào dám bén mảng tới xóm Đình này không? Rồi bây giờ, khi các anh chống lại chúng tôi, thì ai đã đi đón thằng Ghiđi thằng Cò về đây? Có phải là bọn thằng Quản Dõng không?

Cả hai đều nín lặng.

Tiếng sóng của dòng sông Cửu Long lại nổi lên và nghe như những ngọn sóng to ấy mỗi lần ập vào bờ là mỗi lần hắt lên những cơn gió ào ào.

Lão Ịnh ngồi im, chừng như hãy muốn nghe những lời nói lạ lùng ấy nữa thì tiếng vó ngựa của đội canh tuần đồm độp chạy qua đường làm lão giật mình. Lão ngẩng đầu dậy, mắt chơm chớp. Lão đưa tay phẩy qua mặt, chớp nhìn Sáu Sỏi, nói với một giọng van xin:

- Thôi anh Sáu! - Và lão cố tạo một vẻ chống chế lại - Tôi nghe đủ rồi!

Chợt lão rút nhanh bàn tay dúi vào kẽ áo ngực như sợ Sáu Sỏi thấy được cái gì trong bàn tay của mình. Đoạn lão vội vàng đứng dậy, chần chờ một lúc, rồi nhấc lên từng bước một.

Sáu Sỏi cũng đứng dậy, kéo xích, nặng gót bước theo.

Gió mang theo tiếng sóng của dòng sông Cửu Long, từng cơn, từng cơn thổi thốc vào khu vườn. Những chiếc lá khô rải rác khu vườn, im lìm, bỗng động đậy như một bầy chim bị trúng tên nằm gục xuống mặt đất, vừa tỉnh dậy, chấp chới đôi cánh nhỏ muốn bay lên khỏi lớp hoa xoài.

Hai người trước sau đi trong những giọt mưa hoa rơi chéo rơi xiên trắng dã cả khu vườn.

Sáu Sỏi nhìn theo mái tóc màu nuối tiêu của lão Ịnh bị gió thổi tung lên khỏi ót, mà nói:

- Anh Tư! Tôi về đây, tôi biết là tôi có thể... - Sáu Sỏi không nói được tiếng cuối cùng, bác bị nghẽn lại. Nhưng lão Ịnh hiểu được tiếng cuối cùng ấy. Một cái gì buốt lạnh rợn qua xương sống lão và da mặt nổi đầy gai ốc. Trong tiếng gió, tiếng hoa rơi, tiếng lá chạy rào rào, lão vẫn nghe tiếng của Sáu Sỏi từ phía sau vọng tới - Nhưng tôi không hề sợ! Nếu tôi sợ thì tôi không về kiếm anh mà làm gì. Tôi không sợ, nhưng tôi rất đau đớn. Nếu tôi lỡ cơ sa vào tay giặc mà tôi chết, thì tôi rất hài lòng, vì đó là lẽ tất nhiên, vì nó là kẻ thù. Còn anh? Còn các anh? Nhưng... thôi... Anh về xóm, anh cho tôi gởi lời thăm bà con, tôi muốn nhắn với bà con một điều. Tôi có chết, anh và bà con có thể quên tôi, quên thằng Sáu Sỏi này, nhưng tôi xin anh, xin bà con hãy nhớ cho tôi điều này.

Lão Ịnh vẫn bước với những bước nặng nề trên những cánh hoa vừa rụng và đầu cúi nhìn xuống đất. Lão vẫn nghe giọng nói trầm trầm vừa như tha thiết, khuyên nhủ, vừa như gay gắt như răn dạy thốt ra từ đáy lòng của Sáu Sỏi, mỗi lúc mỗi vang to bên tai lão.

- Anh Tư, anh cũng như bà con tín đồ trong làng, đều là dân tá điền, cũng như tôi, là những người bị mất nước! Nếu muốn cho đất nước mình được độc lập tự do, nếu muốn có đất cày thì phải đi theo cách mạng, phải làm cách mạng! Chỉ có một con đường đó thôi! Anh Tư! Anh Tư!

Tên Bảy Thẹo thấy lão Ịnh đã bỏ đi, thì từ xa, hắn đã chong mũi súng hướng về phía Sáu Sỏi, trợn tròn mắt, xông tới và quát lên:

- Đứng lại! Đứng lại!

Sáu Sỏi dừng lại trước mũi súng của Bảy Thẹo, nhưng mặt vẫn ngẩng lên, nghiêng người, nhìn theo lão Ịnh, cái bóng người to lớn nhưng ủ rũ mỗi lúc mỗi xa, Bác kêu theo:

- Anh Tư! Hãy nhớ!...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #7 vào lúc: 09 Tháng Chín, 2024, 04:14:25 pm »

VI


Khi Sáu Sỏi gọi với theo lúc bị tên Bảy Thẹo bắt phải dừng lại, lão Ịnh vẫn không quay lưng lại, chân cứ bước thẳng, nhưng hai tai lão cứ nhanh nhách như muốn xoay hai cái loa tai ngược ra sau để hứng những lời gọi ấy: - Anh Tư! Hãy nhớ!...

Những lời nói của Sáu Sỏi vừa rồi như những hạt giống của chân lý gieo xuống mảnh đất lòng của lão, một mảnh đất tuy đang khô khan nhưng là một mảnh đất màu mỡ, tuy khó khăn, nhưng những hạt giống ấy cũng đã bắt đầu nảy mầm. Những lời nói của Sáu Sỏi khiến cho lão nhớ lại tất cả cuộc đời của mình, nhớ lại cuộc đời của Quản Dõng trước đây và nhớ lại những kỷ niệm bè bạn với Sáu Sỏi. Tất cả hình ảnh đó cùng hiện lên trong óc lão, khiến cho lão bắt đầu hoài nghi con đường đi của mình. Lão lẩm bẩm:

- Cao Hoài Đức! Cao Hoài Đức! Mình là Cao Hoài Đức chăng? Quản Dõng! Quản Dõng là Dư Hồng, Dư Triệu chăng ...

Lão vừa hoài nghi nhưng cũng vừa cố bấu víu vào.

Dòng sông Cửu Long như tức tối một điều gì, mỗi lúc mỗi gầm thét to hơn. Gió ào ào trên tàng xoài, xua những đám mây đen tan đi; rồi những ngọn gió khác lại mang những mây đen khác ùn ùn trùm qua làng. Hoa xoài vẫn rơi trắng xuống. Lão Ịnh, tóc vẫn rủ, đầu vẫn cúi và vẫn đi chậm trong bóng tối của khu vườn.

Con đường theo kháng chiến, con đường theo đạo, hai con đường ấy đối với lão bây giờ như hai dòng sông trong đục đang chảy lẫn vào nhau, mà con mắt (theo lão là con mắt của người trần tục) không thể nào phân biệt được đâu là đen trắng.

- Ôi! Giá mà đầu óc của ta chỉ cứ biết tin tưởng vào đấng thiêng liêng, không còn biết suy nghĩ gì nữa như những tín đồ khác! Giá mà ta được như các vị thiên lôi chỉ có biết đánh theo lời truyền của trời Phật! Giá mà lòng dạ ta được lạnh như đồng với tất cả người thân, để ta được sung sướng khi giết được một người ngoại đạo như sung sướng được bước lên một nấc thang của cõi Niết bàn... - Lão lẩm bẩm và hoài nghi con đường đi của mình. Cái tình nghĩa người thân làm cho lương tâm lão giãy giụa lên những cơn đau đớn.

Tự dưng lão dừng lại, mắt vụt sáng lên và ngẩng nhìn những tàng xoài đang quằn lên quằn xuống trong cơn gió. Trong đầu lão vừa nảy ra một ý nghĩ lạ: lão sẽ về núi Cấm! Núi Cấm là một cái núi lớn nằm bên kia vùng hậu giang thuộc tỉnh Châu Đốc. Vì nghe theo tin đồn huyễn hoặc khi mới bước vào đạo, nên lão nghĩ núi Cấm là cái nơi của đất Phật. Nơi ấy, sau này sẽ nổ ra ba tiếng long trời lở đất, núi nổ ra nhiều cửa, từ trong lòng núi sẽ hiện lên một ngôi đài, rồi mở hội Long hoa, rồi các chư phật xuất thế trị vì.

Hiện giờ, ở núi Cấm đã có cái hang ăn vào cái ngôi đài ấy. Nếu ai được phước vào đó, khi trở ra nếu định mở miệng muốn nói với ai điều ấy thì sẽ bị câm ngay. Đó là hình phạt của nhà Phật. Do đó mà núi đặt tên là núi Cấm. Bây giờ, nếu ai được đến đó với lòng thành thì tâm hồn sẽ tan đi hết những nỗi ưu phiền. Nơi ấy có áng mây ngũ sắc, có dòng suối cam lồ, có đủ thứ chim muông biết ca hát, có những nàng tiên thỉnh thoảng chắp cánh về trần đi tắm suối. Trên những áng mây ngũ sắc đó có các chư tiên chư phật tọa trên đài sen phất trần nhìn cuộc thế. Nơi ấy có các nhà sắp đắc đạo, những vị ấy là những người truyền đi lời dạy của Đức Phật cho người đời. Chỉ có cái đất thần thánh thiêng liêng ấy mới chỉ cho người đời biết được đâu là tà chánh.

Nghĩ đến đây, lòng lão vừa nhẹ, nhưng cũng vừa se thắt lại. Lão thấy mình như sắp phải xa làng, xa nhà và xa con. Hơn nữa, núi Cấm đối với lão xa vời quá! Trong cái lúc hỗn độn này, làm sao đến được! Ý nghĩ ấy lại tắt dần trong trí lão.

Trong cái lúc tối tăm này, lão thấy cần có một người thân sáng suốt hơn mình, để chỉ cho mình những điều sai trái. Lão lần lượt nhớ đến bạn bè trong làng.

- À! Thằng Năm Bầu! - Lão thầm reo lên.

Ông Năm Bầu trước đây vốn là người ngang ngạnh. Cách đây hơn mười năm, có những ông thầy chùa đến xin xây chùa trong mảnh đất của ông, những người ấy nói với ông rằng:

- Chúng tôi thấy mảnh đất đó là mảnh đất lành dám xin ngài cho chúng tôi dựng lên ngôi chùa. Hàng năm, chúng tôi sẽ quyên tiền bá tánh đóng thuế cho ngài. Vậy, dám xin ngài vui lòng.

Miếng đất ấy là miếng đất sống của ông và vốn không thích họ, nên ông không bằng lòng. Những ông thầy chùa ấy lại cứ nằn nì và sau cùng thì nịnh bợ và ve vuốt ông:

- Trong mảnh đất đó, chúng tôi thấy có mồ mả tổ tiên của ngài. Nếu ngài nghĩ đến đấng Thích Ca Mô Ni mà cho chúng tôi xây lên ngôi chùa, thì đêm đêm chúng tôi sẽ cầu nguyện cho vong hồn ông bà tổ tiên của ngài được siêu thăng. Rồi, chúng tôi sẽ mở một con đường chạy thẳng tới gia thất của ngài, để chiều chiều ngài ra thăm tổ tiên ông bà!

Ông Năm Bầu ngồi lặng một lúc, rồi gật đầu ừ một tiếng và bảo:

- Được, nhưng các ông phải đắp con đường trước cho tôi ra thăm mồ mả ông bà rồi hãy xây chùa, có được không?

Những ông thầy chùa ấy chịu lời và chắp tay xá ông ta. Sau đó, họ đắp một con đường - vì có ba cây dừa mọc ở gần bờ đất nên con đường chạy thẳng đến đó phải cong hình cánh cung rồi mới chạy thẳng tiếp vào nhà ông. Sau khi họ đắp xong, ông kêu những ông thầy chùa ấy lại, ông chỉ cái khúc quẹo của con đường ấy, bảo họ với giọng lè nhè trong men rượu:

- Các ông! Người ta nói: đạo là đường, đường là đạo, mà đường không ngay thì đạo cái con cặc gì, hả? Thôi, các ông đi đi, đường mà đắp cũng không ngay thì tu với niệm cái gì?

Con người ngang ngược như thế mà sao cũng theo đạo Phật giáo Hòa Hảo? Chắc là ông ta cũng có thấy cái gì đó chứ! Rồi trong năm 40, Năm Bầu cũng xách gậy chạy theo anh em. Và sau đó, khi trong làng bị tan tác, người bị giết, người bị cầm tù, thì Quản Dõng đã cho người nhà đến nói thẳng với ông ta rằng: “Ông đã vô sổ bìa đen rồi. Vậy, ông định liệu cho ông như thế nào? Một trong hai lẽ: hoặc là làm giấy chịu giao đất cho cậu Hương quản, hai là bỏ vợ bỏ con để ra đi chết rục xương ngoài Côn Đảo?”. Ông Năm Bầu đành “kêu trời” giao đất cho hắn và cam chịu số phận làm tá điền cho hắn. Sau khi giao đất, ông lấy len đào sâu xuống mảnh đất mình một lỗ nhỏ, rồi thò tay xuống, móc lên một ít đất ướt cho đầy vào một cái nồi con. Ông cắm cây “Hoa nha” xuống nồi đất ấy và để nó bên đầu nằm để đêm ngày ghi nhớ lấy mối thù. Năm Bầu cũng có một mối thù với Quản Dõng như vậy, ấy thế mà sao bây giờ ông không chạy theo Sáu Sỏi mà lại chịu dưới quyền của Quản Dõng? Chắc là ông đã có thấy được cái gì rồi đấy chứ? Biết rằng, ông vẫn không thích cái tính hung hăng của thằng Chiến là con mình, nhưng tại vì sao trong lúc này ông không chạy theo kháng chiến mà vẫn còn ở lại đây? Vì sao?

Càng nghĩ đến ông Năm Bầu, lão Ịnh càng thấy người bạn thân của mình là người sáng suốt. Và lão càng hy vọng được ông Năm Bầu gỡ rối cho.

Lão vừa bới lại tóc vừa vội vã đi.

Cũng cùng trong lúc đó, ông Năm Bầu đang đi tìm lão và hai người sắp gặp nhau. Ông Năm Bầu lúc còn nhỏ, thân hình ông no tròn như trái bầu và cả con mắt cũng giống hình hạt bầu, (ông là người con thứ năm) nên hàng xóm gọi là thằng Bầu, thằng Năm Bầu. Vì thân hình ông cứ như thế mà phát triển từ ngực đến bụng - từ bụng đến mông cứ no tròn và thẳng đuồn đuột như trái bầu dài, nên cái tên Năm Bầu ấy vẫn còn lưu mãi cho đến ngày nay. Ông mặc chiếc áo bà ba màu già không gài khuy và chiếc quần tiều màu đen trước rốn có cái thắt to như quả cà. Ông cầm cây chĩa ba từ sau sân đình ra vườn xoài. Bất cứ đi đâu ông cũng cầm cây chĩa ba ấy, hễ gặp chuột thì ông đâm chuột, gặp rắn thì ông đâm rắn, gặp cá thì ông đâm cá để đem về làm món nhậu, vốn tính ông ngày nào cũng phải nhậu, thường thường là phải một xị thì mới ăn cơm được. Nhậu xong, nếu có bạn, ông đem chuyện đời ra bàn bạc. Ông thường hay dẫn tích các bộ truyện Tàu để ví chuyện đời nay và chửi xiên xéo bọn hống hách trong làng. Cũng vì cái tính đó mà ông thường gọi Chiến, con ông là thằng Lữ Bố, hữu dũng vô mưu, chẳng ra cái tích sự gì! Nếu không có bạn thì ông gật gù bên cây đàn cò 1 kéo lên những điệu nhạc buồn.

Ông cũng như bao nhiêu tín đồ khác, ông theo đạo với tất cả tấm lòng thành của mình. Nhưng theo đạo để đầu giặc giết lại người kháng chiến, thì ông thấy không phải. Ông nghĩ về cuộc đời theo sự hiểu biết của ông, chứ ông không nghe theo lời của Quản Dõng, mặc dù Quản Dõng là người hiện đang giữ chức trưởng ban trị sự. Vì theo ông, Phật không ở trong cửa miệng của Quản Dõng, mà ở trong tâm mình. Ông là người còn đủ lý trí để nhìn thấy bộ mặt của Quản Dõng. Trước đây, ông hiểu cái nghĩa “quỷ dương” là Tây, bây giờ ông lại hiểu rộng thêm ra nữa, quỷ dương cũng là bọn Việt gian đang đội lốt đạo, chui vào để đưa tín đồ theo con đường “tà đạo”. Quản Dõng là hạng người ấy. Ông còn ở lại làng là vì muốn gần gũi với thằng con, để lựa lời nhỏ to khuyên dạy nó.

Mấy đêm nay, ông không ngủ được, cứ lăn trở và trằn trọc vì cái âm mưu giết Sáu Sỏi của thằng Quản Dõng. Ông muốn giải thoát cho Sáu Sỏi, nhưng không tìm được cách nào. Có đêm ông muốn vượt qua bên kia sông để báo tin, nhưng chân vừa chấm đến bờ nước thì ông quay lại. Dòng sông to quá, ông không thể nào vượt nổi. Đi bằng xuồng bằng ghe thì tàu tuần của chúng sẽ thấy. Và nếu vắng mặt mà không có phép của ban trị sự thì lưỡi kiếm của họ không thể nào bỏ qua ông. Ông biết rằng: họ dòm ngó ông lâu rồi.

Nhưng không thể đành chịu bó tay ngồi nhìn cái chết của Sáu Sỏi. Nghĩ đi nghĩ lại, cuối cùng ông nghĩ đến lão Ịnh. Nghĩ rằng: lão Ịnh là bạn chí thân của Sáu Sỏi, là phó ban trị sự và lão Ịnh tuy là hăng hái với đạo nhưng lão chưa hề xuống tay giết một người nào, chắc là lão hãy còn lương tri? Nghĩ thế nên ông đánh bạo đi đến nhà lão Ịnh. Nghe Hiếu nói: lão Ịnh đang gặp Sáu Sỏi ở cụm xoài, ông khấp khởi mừng và vội cầm chĩa ba đi ngay.

Hai người gặp nhau ở giữa cụm xoài. Sau khi biết ý định của nhau thì hai người đứng đối diện với nhau và to tiếng cãi nhau.

Ông Năm Bầu không nén được cơn giận, ông cắm cây chĩa ba phập xuống đất, cán chĩa rung rung. Ông đưa tay kéo một mảnh áo vẹt lồng ngực ra, ngẩng mặt nhìn thẳng vào lão Ịnh và hỏi gằn từng tiếng:

- Sáu Sỏi qua bên này như là người đi sứ, mình là người quang minh chính đại thì tại sao lại giết người đi sứ hả?

Lão Ịnh đưa tay nắm lấy cây chĩa ba và nói:

- Anh Năm đừng nóng! Có phải tại nơi tôi đâu!

Lão Ịnh biết không thể nào khác được, nên cố giữ lấy ý kiến của ban trị sự, nhưng không nóng nảy, mà nhỏ nhẹ như van xin Năm Bầu hãy bằng lòng cho mình. Cách đấy năm hôm, trong một cuộc họp của ban trị sự, lão đã đưa lá thư của Sáu Sỏi ra hội nghị để bàn bạc. Sau khi xem xong, Quản Dõng liền vẫy tay xuống một cái và nói:

- Đúng là nó về do thám chứ không ai! Phải lấy đầu nó mà tế sống cho vong linh bổn đạo tín đồ! Cứ để cho nó về!

Rồi hắn nhìn quanh và hỏi:

- Ý của các vị như thế nào?

Ông Bảy Đẩu liền vỗ đùi một cái và kêu lên:

- Ý của anh Trưởng thật là thượng sách!

Chiến vung quả đấm lên và tiếp theo:

- Chuyện đó để cho tôi!

Lúc ấy, lão Ịnh không thể nào trái với ý họ được, nên cũng đành phải vuốt râu mà gật đầu.

Quản Dõng liền phân cho Chiến và Bảy Thẹo bố trí việc đón bắt Sáu Sỏi. Rồi hắn lần tay lẩm bẩm một lúc nói:

- Hai hôm nữa nó về, sau đó ba hôm thì nhằm ngày lành tháng tốt! Tôi đã tính rồi đó các vị ạ!

Nhớ đến đây, lão Ịnh nhìn Năm Bầu với đôi mắt u buồn và khe khẽ lắc đầu.

Ông Năm Bầu vẫn nhìn thẳng vào lão Ịnh, nói tiếp với một giọng to và sôi nổi:

- Từ cổ cho chí kim, anh có thấy vua nào, nước nào giết người đi sứ không? Anh Tư! Chắc là anh không quên cái thời Phiên Hán tranh nhau chứ? Khi Tô Vũ từ Hán sang Phiên để chịu hàng, nhà Phiên còn không giết Tô Vũ thay! Anh còn nhớ vua Phiên bắt Tô Vũ đi chăn một trăm con dê đực và nói: Chừng nào dê đẻ thì mới cho về chứ? Người ta có thù lắm thì cũng đày đọa người đi sứ đến như vậy là cùng! Huống chi là Sáu Sỏi! Là người cùng đồng bào với mình!

Ông dừng lại một chút, đưa mắt nhìn những hoa xoài rơi rụng rồi cắt nghĩa cái danh từ “đồng bào” theo sự hiểu biết của mình, ông tiếp:

- Sáu Sỏi với mình là người cùng đồng bào, anh Tư ạ! Đồng bào là gì? Đồng bào là đồng chung một bào thai, đồng chung dòng giống Lạc Long Quân, mà hễ là đồng bào thì phải đồng bạo, đồng bao và đồng bảo.

Ông Năm Bầu cắt nghĩa tiếp về những danh từ “đồng bạo, đồng bao, đồng bảo” ấy, ông nói:

- Đồng bạo, là người cùng nhau bạo động. Tôi với anh, với anh Sáu Sỏi, hồi ba mươi, bốn mươi đã cùng nhau đứng lên để bạo động đi đòi nước rồi. Mà hễ đồng bạc rồi thì phải đồng bao, đồng bảo chứ! Đồng bao đồng bảo là đồng bao che cho nhau, đồng bảo vệ cho nhau. - Ông vừa nói vừa đưa hai cánh tay vòng ra như ôm lấy một người nào trước mặt mình và hỏi tiếp - Sao bây giờ anh đành để cho anh Sáu bị nó giết, hả anh Tư? Cái lòng trung nghĩa khí của anh, anh bỏ nó đi đâu rồi anh Tư?

Nói xong, ông hếch mặt nhìn lão Ịnh với một vẻ thách thức. Lão Ịnh như bị dồn vào thế bí, tự dưng ông hơi lùi lại trước cặp mắt rực sáng của Năm Bầu, rồi đưa tay nắm lấy chòm rầu, ưỡn ngực ra và ngẩng đầu chống chế lại:

- Thôi anh Năm, đừng nói nữa, tôi nghe đủ rồi. Tôi với anh Sáu là bạn chí thân. Nhưng bây giờ... có phải là tại nơi tôi đâu mà đây là lệnh truyền của đạo.

- Đạo! Đạo mà ra lệnh tầm bậy như vậy à? - Ông Năm Bầu không chịu được nữa, ông rướn người tới và quát to lên.

Lão Ịnh nghe câu đó, trong người liền như có một ngọn lửa bất thần bùng cháy lên, rừng rực. Với dáng vẻ hung hãn, ông đưa ngực tràn tới trước, tay nắm chòm râu kéo qua vai, nghếch mặt và mở tròn mắt nhìn Năm Bầu, nói như hét:

- Anh nói đạo nào tầm bậy, hả?

Lão Ịnh nóng thì ông Năm Bầu thụt lại sau, nén giận và cố nhỏ giọng để làm lành:

- Anh Tư đừng nóng, để cho tôi nói. Tôi, - ông đưa tay chỉ cái búi tóc to sau ót mình và tiếp - đầu tôi còn đầu tóc, nhà tôi còn thờ trần điều, tôi không nói đạo mình tầm bậy đâu anh Tư. Nhưng tôi muốn nói cái người ra lệnh ấy là tầm bậy. Đạo mình thì không ai ra lệnh giết người đi sứ đâu! Chính cái người ra lệnh đó làm hư đạo mình. Nhưng, nhân hư chứ đạo bất hư anh Tư à! Người hư chứ đạo không thể nào hư được! Đạo mình bây giờ, người thì đông nhưng gạn lọc lại thì tín đồ không được là mấy đâu! Chắc là anh còn nhớ câu kinh câu sấm này: “Bây giờ bổn đạo thì đông - Nửa sau chở một xuồng vông không đầy!” Đấy, đấy! Đấy mới thật là kinh sấm của nhà Phật đó anh Tư! Tôi với anh đây mới thật là tín đồ. Còn thằng Chiến, con tôi, thằng Quản Dõng, tôi nghiệm ra rồi, nó không phải là tín đồ của mình đâu! Thằng Chiến! Anh Tư ơi! Tôi sanh ra nó mà không sanh được lòng dạ nó, tôi thật là có lỗi với anh em làng nước quá!

Qua những lời lẽ chí lý và dịu dàng của Năm Bầu, lão Ịnh nghe ai như rỏ nước xuống lồng ngực nóng rừng rực của mình. Lão lại đứng ủ rũ, đưa cặp mắt sầu não nhìn những chiếc lá xoài khô từ tàng rụng xuống như những cánh chim sa.

Dòng sông Cửu Long lại nổi lên những tiếng sóng trầm trầm.

Tự dưng, lão nghe trong lòng mình dâng lên một nỗi buồn. Lão càng hoài nghi con đường đi của mình hơn và ý nghĩ về núi Cấm liền trở lại với lão. Lão khe khẽ lắc đầu:

- Thôi! Anh Năm! Rồi đây, tôi sẽ về núi Cấm!

- Anh về núi Cấm à? - Ông Năm Bầu ngạc nhiên và kêu như vậy. Lão Ịnh xua tay, không nói rõ là về núi Cấm để làm gì, nhưng nghe qua ông Năm Bầu vẫn hiểu được. Ông liền đưa tay xua xua và can ngăn lại:

- Đừng đi, anh Tư, không được đâu. Anh chưa đến núi Cấm thì anh đã bỏ thây ở dọc đường rồi. Anh không biết thời này đang “loạn lạc” như thế nào à? Anh không biết đạo mình bây giờ đang bắt đầu chia ra nhiều phe phái sao anh Tư? Mà anh lên đó để làm gì mới được chứ? Đừng có nghe lời đồn huyễn hoặc mà bỏ mạng. Người ta đi lên đó nhiều rồi. Ở trên đó, ngoài những thằng thầy chùa ngậm xôi của chúng sanh thì không có ai nữa đâu. Nếu nói ở trên đó là có người truyền lời dạy của Phật thầy cho bá tánh, thì đây với đó có xa gì, những ngài đó sẽ biết mình đang lận đận, những ngài đó sẽ không nệ công mà đến mình đâu, cần gì mình phải đến! Đừng, anh Tư!

Ông Năm Bầu ngưng lại, nhìn cái vẻ mặt tối tăm và buồn thảm của lão Ịnh một lúc rồi tiếp:

- Anh Tư! Tôi vẫn biết anh là người trong ban trị sự, nhưng anh cho tôi mạn phép mà nói về cái ý nghĩa cao xa của đạo mình một chút. Mình là người tín đồ, mình phải biết cái nguồn gốc của đạo mình. Đạo mình đây chung quy lại cũng là đạo Phật mà thôi. Nhưng tại sao đạo mình không giống như các ông thầy chùa ngậm xôi? Đạo mình là cái đạo hiểu biết cái sâu xa của đức Phật. Hồi năm ba mươi chín, người đi truyền đạo mình vì giả khùng giả dại nên mới gọi là đạo khùng. Cho đến cái năm bốn mươi, sau những ngày “nước non ly loạn” tín đồ các nơi mới quy về cái làng Hòa Hảo mà dựng lên cái đạo của mình. Vì đạo lập lên ở làng Hòa Hảo nên gọi là đạo Phật giáo Hòa Hảo vậy thôi! Thật ra thì nguồn gốc của đạo mình cũng là nguồn gốc của đạo Phật, chứ có gì lạ đâu! Mà đấng thiêng liêng cao cả nhất trong trời đất này là ai? Có phải là đức phật Thích Ca Mô Ni không anh Tư? Mà Phật Thích Ca Mô Ni thì dạy cho bá tánh chúng sanh mình điều gì? Đức Thích Ca Mô Ni dạy cho mình là: “Phải xét đoán điều gì mình đã làm. Hễ thấy sai thì phải từ bỏ, hễ thấy đúng thì cứ như thế mà làm!” Đấy, lời dạy đó mới chính là lời dạy của Phật.

Ông Năm Bầu một tay rút cây chĩa ba lên, một tay vỗ vỗ vào trán mình và nói một lời cuối cùng:

- Con đường đi nó nằm ở trong cái đầu, cái óc của mình, anh Tư à!




---------------------------------------------------------------
1. Đàn cò: đàn nhị.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #8 vào lúc: 09 Tháng Chín, 2024, 04:22:48 pm »

VII


Sau khi tìm cách đuổi Hằng ra khỏi nhà, Hiếu đi lại nhà ông Năm Bầu. Anh thấy tội nghiệp cho Hằng. Nhưng biết làm thế nào được! “Con quỷ cái!” Anh lại rủa thầm. Mới đây mà nó đã quên anh Phát rồi! Hiếu đi qua sân đình.

Những người dượt võ đã ra về.

Ngôi đình trở nên vắng lạnh. Gió từ dòng sông thổi qua hàng dương, kéo lên một âm điệu trầm trầm, dai dẳng. Gió bứt những lá dương rơi rải xuống mặt đường.

Hiếu đi qua một đoạn đường vắng dài hơn năm trăm thước. Hai bên đường chỉ còn những cái nền tro xám, kèo cột bị cháy sém, vất vưởng, chơ vơ. Trước đây là xóm mộc, một cái xóm đóng bàn tủ nổi tiếng, chỗ cưa, chỗ bào, chỗ đóng, chỗ sơn, lúc nào cũng nhộn nhịp thầy thợ và khách hàng. Xóm mộc, họ cất những ngôi nhà rất đẹp, nhà họ sàn cao và vách ván, cửa màu xanh, vừa xinh vừa mát mắt. Hầu hết, họ là những người ngoại đạo. Chính vì thế, mà nhà của họ bị đốt. Mỗi lần đi ngang qua xóm, Hiếu đều thấy nhớ cái mùi gỗ mùi xăng, nhớ những bác thợ già, những người thợ đã cho anh nào củi vụn, dăm bào và hay nói với anh về lý lẽ ở đời. Những người thợ mộc ấy, rất yêu quý bác Sáu Sỏi. Nếu họ biết cha anh là người giết Sáu Sỏi, họ sẽ nghĩ về anh thế nào?

Hiếu nghĩ miên man, càng nghĩ, anh càng thấy mình mỗi lúc mỗi bị mất thêm những người thân, càng đơn độc. Khi Phát được lệnh chuyển về làm chính trị viên cho một đơn vị Vệ quốc đoàn, anh muốn bỏ làng đi theo Phát. Nhưng Phát đã bảo anh ở lại, giúp đỡ và giác ngộ bà con tín đồ, anh đã nghe Phát. Nhưng những ngày nay, anh đã thấy mình bất lực.

- Lần này thì tôi đi theo anh thôi, anh Phát ạ!

Hiếu nói thầm rồi rẽ vào con đường mòn xuyên qua vườn chuối um tùm.

Nhà của ông Năm Bầu nằm gọn trong vườn chuối, cạnh bên con kinh nhỏ chạy qua cánh đồng. Từ ngày mất đất, nhà của ông mỗi ngày mỗi thu nhỏ lại, lụp xụp, tùm hum như cái tum đâm cá. Nhà chỉ đủ chỗ để một bộ phản - vừa là chỗ ngủ cho hai người đàn ông, vừa là chỗ ăn, vừa là chỗ tiếp khách - cái buồng nhỏ cho đứa con gái và chỗ để bàn thờ ông bà ông vải.

Hiếu đi lại nhà ông Năm Bầu như người nhà. Nhưng hôm nay, vừa nghe tiếng chày giã gạo của Lành thì anh thấy hồi hộp như đã đi đâu từ lâu lắm. Có nên nói thật với Lành không? Anh đắn đo và lòng se thắt lại. Anh ngập ngừng, đi chầm chậm. Tiếng lá rụng xạc xào.

Lành đang giã gạo ở giữa sân dưới bóng cây vú sữa và cây trứng cá. Lành độ hai mươi mốt tuổi. Lành không có một vẻ đẹp gì đặc sắc, nhưng dễ thương. Gương mặt của Lành hơi tròn đầy đặn và cặp chân mày thưa với một vẻ đôn hậu, đôi mắt hơi to mà âm thần và phảng phất một tâm hồn dịu dàng. Lành có một vẻ đẹp giản dị và khỏe mạnh. Lành mặc bộ quần áo đen bạc màu, áo có những đốm vá ở vai và cùi chỏ. Nghe tiếng động, Lành gác chày lên cối, kéo khăn lau mồ hôi, nghiêng tai nghe ngóng.

- Anh Hiếu! Anh mà em tưởng là ai? - Giọng của Lành nhỏ nhẹ, dễ thương.

- Có ai ở nhà không em?

- Ba đi tìm ba anh từ nãy giờ rồi. Anh không gặp à?

- Còn anh Chiến?

- Anh Chiến ảnh đi đâu, em làm gì mà biết được.

Mỗi lần nhắc đến tên Chiến thì giọng của Lành đượm một nỗi buồn trách.

Hiếu bước đến cối gạo, đưa tay nắm lấy một nắm, nhìn, rồi để gạo rơi lọt xuống kẽ tay.

- Anh đi đâu mà mồ hôi đầm đìa vậy?

Lành kéo chiếc khăn bàn trắng đang đội trên đầu, đưa cho Hiếu. Hiếu cầm lấy, lau mặt. Lành đứng dáng nghiêng nghiêng, nhìn Hiếu, miệng tủm tỉm cười. Đôi mắt âm thầm của Lành phảng phất một nỗi buồn. Mấy ngày hôm nay, Lành thấy Hiếu thay đổi nhiều. Mặt Hiếu hốc hác, mắt thâm quầng. Đôi mắt của Hiếu lúc nào cũng u uất và giận dữ. Người Hiếu lúc nào cũng băn khoăn và bối rối. Hiếu đi đâu, Lành cũng lo sợ. Lúc nào, Lành cũng mong Hiếu trở về. Lành muốn hỏi Hiếu một câu, nhưng nghĩ mình là phận gái, nên lại thôi. Chỉ nhìn qua anh ấy cũng đủ hiểu rồi, cần gì phải hỏi. Anh ấy và cha mình muốn giải thoát cho bác Sáu Sỏi. Rồi, việc gì sẽ xảy ra? Lành nhìn khắp người Hiếu với vẻ âu yếm và tò mò. Hiếu lấy khăn lau mặt. Chiếc khăn ủ lấy mùi mồ hôi, mùi tóc quen thuộc của Lành, gây cho anh một cảm giác ngây ngây, anh hít một hơi dài và muốn áp mãi chiếc khăn vào mặt mình. Những ý nghĩ đã bốc lửa trong người anh như nguôi dần. Thế là anh như quên tất cả những lời định nói. Anh không còn đủ can đảm nhìn thấy vẻ đau khổ của Lành, anh không muốn cho Lành phải nghe những việc sẽ xảy ra: anh sẽ bỏ làng ra đi, anh sẽ lao vào cái chết. Anh muốn sống một cuộc sống bình thường. Anh muốn quên đi tất cả những điều đang xảy ra: chém giết, máu đổ, lửa cháy và tiếng kêu khóc. Anh muốn gần gũi bên người yêu, cùng nhau lo làm ăn, anh muốn được vuốt ve, muốn được nhìn một cách âu yếm, muốn nghe những tiếng nói dịu dàng.

Nghe hơi thở của Hiếu trong chiếc khăn, Lành có cảm giác như Hiếu đang hôn mình. Lành đỏ mặt, thẹn, quay mặt đi.

- Làm gì mà lau mãi vậy? Trả khăn lại cho em đi anh - Giọng của Lành nũng nịu, dễ yêu.

Hiếu trao khăn lại cho Lành, anh cũng thấy thẹn, anh cười:

- Em đi lấy chày cho anh giã với!

- Thôi, anh nghỉ đi. Ừ! Anh với em giã chày đôi nhé!

Được cùng làm với nhau, Lành vui lên như một đứa trẻ. Lành ném chiếc khăn lên vai Hiếu.

- Cho anh đấy! Em không thèm đâu! - Lành ù chạy vào nhà, suýt va đầu vào góc bàn thờ.

Lành mang ra thêm hai cái chày, một cái to, một cái nhỏ để cạnh bên cối:

- Đó! Anh muốn giã chày nào? - Lành ngẩng nhìn Hiếu, mắt lấp lánh một niềm vui. Đã lâu lắm rồi, Lành mới được trở lại một cuộc sống bình thường cùng nhau giã gạo chày đôi. Lâu nay, làm gì, Lành cũng thui thủi một mình như con cuốc.

Hiếu chọn lấy cái chày to nhất, lâu ngày không ai giã đến chày ấy, nó đã lên mốc ở hai đầu.

Lành nhón chân, với tay, bẻ lấy một cành lá vú sữa, rồi hai người, cùng lau lại đầu chày, mỗi người lau lấy một đầu.

Cối gạo ở giữa, hai người đứng hai bên, đối mặt nhau, chân trái đứng trước, chân phải đứng sau, tay trái nắm gần đuôi cán, tay phải đưa thẳng nắm ở gần đầu chày. Lành cất chày lên khỏi đầu:

- Em xuống trước, đừng có giã vào đầu em đấy nhé! - Lành liếc nhìn Hiếu với đôi mắt tinh nghịch.

Hiếu vừa gõ nhịp “cum”, rút chày ra khỏi thì đầu chày của Lành nện xuống “phụp”. Đầu chày của Lành lách sang bên, gõ nhịp, vừa rút ra thì đầu chày của Hiếu nện xuống “phụp”. Đầu chày của hai người cái lên, cái xuống thật đều tay.

... Phụp, cùm, phụp, cum, phụp, cùm, phụp, cum...

Tiếng giã, tiếng nhịp, đều đều vang đi trong nắng xế, dội xuống lòng kinh và vang xa. Đàn gà nằm rúc dưới bóng cây, nghe tiếng giã gạo, kéo nhau chạy túa ra, rối rít quanh cối gạo, giành nhau những hạt gạo rơi. Một bầy gà to nhỏ có hơn ba mươi con. Một bầy gà con, lông tơ màu trắng vàng phơn phớt. Một bầy gà giò, năm ba con gà trống mái. Đám gà giò đứng xa, giương cổ, đầu nghiêng nghiêng, mắt lấp lánh, nhìn đầu này đầu nọ, hễ có một hạt bắn ra, là năm ba con chạy đến, giành nhau, mổ vào đầu vào lưng nhau, mổ chộp lấy hạt gạo rơi, rồi chạy bắn ra ngoài. Còn đám gà con, như những đứa trẻ tinh nghịch không biết sợ đòn, chúng chạy rốỉ lên, chạy thẳng đến cái nia để quanh cối, mổ lia mổ lịa, khi nghe một tiếng suỵt thì túa chạy ra, thập thò một lúc, rồi lại chạy vào, mổ lia mổ lịa trên cái nia.

Con gà mái bông xám, hễ mỗi lần giành được một hạt gạo là túc lên, vừa túc vừa mổ lia mổ lịa chung quanh miếng mồi. Con gà trống được mồi, cũng túc. Khi gà mái chạy đến, mổ lấy mồi thì nó dè một bên cánh, nghiêng mình, chạy rè rè theo con mái.

Thấy cái cảnh rối rít của đàn gà, được sống lại một cuộc sống bình thường, Hiếu thấy vui vui. Vui tay, anh giã chệch qua một bên cho một ít gạo bắn xa ra cho đàn gà.

- Kìa! Văng gạo hết anh! Anh mệt rồi à?

Hiếu cười. Đã lâu lắm rồi, chẳng biết từ lúc nào, hình như hơn một hai tháng nay, Lành không thấy được cái nụ cười ấy của Hiếu. Chẳng biết, có lúc nào anh ấy vui không, Lành chẳng hiểu. Mỗi lần thấy anh đến nhà, Lành đều thấy vẻ mặt của anh khi thì héo hắt, khi thì thờ thẫn. Anh ngồi bên bộ phản được một lúc, như muốn nói gì, khi nghe tiếng chân của Chiến thì vội vã ra về. Cái bóng ảm đạm trên vẻ mặt của anh như tan đi trong nụ cười của anh. Đôi mắt của anh trở nên trong trẻo, lấp lánh, tỏa sáng cả gương mặt của anh. Lành thấy vui lây, Lành nghĩ mọi việc của Hiếu chắc là đã được yên ổn. Lành thấy yên tâm hơn, Lành càng giã mạnh và đều tay.

- Nghỉ một chút đi anh.

Họ ngừng chày, Lành vốc lên một nắm gạo, thổi. Cám bay lờ mờ trước mặt Lành.

- Trắng rồi anh ạ!

- Nhà có còn gạo không em?

- Còn chừng hai cối.

- Đem ra giã hết đi em!

- Giã nữa, anh nhé!

Hiếu giúp Lành nghiêng cối, đùa gạo vào thúng. Xong, họ bắt đầu giã thêm cối thứ hai.

... Phụp, cùm, phụp, cum, phụp, cùm, phụp, cum... Tiếng giã, tiếng nhịp, lại đều đều vang đi, dội xuống lòng kinh và vang xa.

Những con chim đứng rúc cổ trong các chòm cây, nghe tiếng động, cũng bay đi, xập xòe trên tàng cây trứng cá, như ganh với đàn gà quanh cối gạo, nó kêu chiu chít.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #9 vào lúc: 09 Tháng Chín, 2024, 04:37:01 pm »

*
*      *


Ông Năm Bầu từ vườn xoài nhà Quản Dõng trở về, cây chĩa ba gác lên vai, tiếng lá xào xạc dưới bước chân. Trước mắt ông cứ hiện lên những hình ảnh của Sáu Sỏi. Sáu Sỏi đang xách bộ đồ hớt tóc, lê la qua các xóm nhà. Sáu Sỏi vừa cắt tóc vừa nói chuyện “quốc sự”. Trong những cuộc họp kín, Sáu Sỏi đầu bịt khăn khất, ngồi giữa, nói với mọi người với một giọng sôi nổi và chân thành. Sáu Sỏi, hai tay bị trói ngoặc ra sau, ngực bầm tím, áo tả tơi, đi giữa hai hàng súng cắm lưỡi lê của bọn lính khố đỏ. Sáu Sỏi trở về, đầu đội bê rê, tóc lún phún và đã ngả màu muối tiêu. Rồi cái chết của Sáu Sỏi lại hiện lên: tay bị trói vào cây, đầu rơi xuống, còn dính lại một ít da, nhùng nhằng một bên người, máu từ cổ phọt lên... Ông nhớ đến cái chết của người khác mà nghĩ đến cái chết của Sáu Sỏi. Ông khẽ rùng mình. Tội nghiệp thằng Phát, thằng nhỏ mồ côi! Chỉ còn có hai cha con. Ông thấy mình bất lực, tự giận lấy mình và bực bội trong người. Những lúc như thế này, ông lại thấy thèm rượu. Uống! Ông muốn uống cho say mèm, để có cớ mà không đi ra pháp trường nhìn cái chết của Sáu Sỏi. Thật là ngao ngán!

Ông đến cái đường mương to nước đã lên đầy - hết cái ranh giới vườn xoài nhà Quản Dõng - phía bên kia là vườn chuối của nhà ông. Ông phóng cây chĩa phập sâu vào bờ mương bên kia, rồi nhảy qua.

Mặt trời đã ngả xế rồi. Ánh nắng xiên qua vườn chuối từng vệt dài.

Ông ngồi xuống bờ ruộng, lướt mắt nhìn dòng nước tìm cá. Ông định quay về. Bỗng chợt, ông nghe tiếng chày giã gạo ở phía nhà vang lại. Tiếng giã chày đôi.

Phụp, cùm, phụp, cum, phụp, cùm, phụp, cum... Tiếng chày nghe thật bình tĩnh và đều tay. Ông biết là tiếng chày của “hai đứa”.

Như một người đang lao mình trong cuộc chiến đấu dữ dội, chung quanh là cảnh chết chóc, tiếng đạn réo qua tai, mùi thuốc súng khét, mịt mù, cái chết đang sầm sập tràn đến như một bóng đen, đầu óc căng thẳng; trong một khoảnh khắc im lặng của chiến trường, người lính bỗng chợt nghe tiếng gà gáy ở phía xa.

Tiếng giã gạo chày đôi như gợi lại cho ông một cuộc sống thanh bình - ông không muốn quay về, sợ mất đi tiếng chày giã gạo.

Tiếng chày giã gạo vang đi, như phá vỡ từng mảng cái không khí chết lặng đang đè nặng xuống xóm làng. Đã lâu lắm rồi, người ta bỏ tất cả công ăn việc làm, như quên cả việc giã gạo, rủ nhau giã vần công, họ mải lao vào cuộc chém giết như những con thiêu thân lao vào lửa. Tiếng chày đôi giã gạo vang đi, như gọi những người đang lao vào cuộc chém giết vô lý hãy trở về với cuộc sống thanh bình.

Ông Năm Bầu ngả lưng vào bụi chuối, mắt lim dim.

Phụp, cùm, phụp, cum... tiếng chày nghe bình tĩnh và đều đều. Tiếng chày giã gạo gợi cho ông nhớ lại cuộc sống bình thường của mọi người. Những đêm trăng. Trên những sân nhà rộng, trai gái rủ nhau giã gạo chày đôi, giã gạo chày ba, giã gạo chày tư.

Ở đầu xóm gần chợ, có một cái nhà máy xát gạo nằm cạnh bờ sông. Đêm nào, đèn cũng sáng rực như một chòm sao. Máy chạy rì rầm suốt đêm. Dưới bến, xuồng ghe tấp nập. Thỉnh thoảng, chợt lên một hồi còi đổi ca. Nhà máy xát gạo nằm ngay đầu xóm, nhưng dân xóm ở đây vẫn giã gạo bằng tay. Cái cảnh giã gạo đêm đã thành là một cuộc họp, một cuộc vui của trai gái trong làng. Những cô thợ dệt nước da trắng mịn, tóc xõa dài, tay dịu dàng, những cô gái có dáng điệu tha thướt ấy, hễ nghe tiếng chày là rời ngay khỏi khung cửi, rủ nhau, tìm nhau, chia nhau, ngồi quanh một cối gạo trước sân nhà. Những anh thợ mộc trẻ, những chàng trai con ông con chú, cũng rủ nhau đi giã gạo chày ba.

Trong xóm, không có chỗ chơi, không có phòng họp, không có rạp hát, không có sàn múa, trai gái họ tìm nhau quanh cối gạo. Họ bắt cặp và giã thi với nhau. Và từ đấy, nảy nở ra những cuộc tình duyên. Ngày xưa, lúc còn trẻ, đêm đêm, hễ nghe tiếng chày giã gạo là lòng ông rộn lên. Ông bỏ tất cả việc nhà, chạy đi tất cả các cối gạo trong xóm, để tìm một cô gái. Cô gái ấy, tính thật trớ trêu. Chẳng bao giờ cô ấy giã gạo trong một cái cối nhất định ở sân nhà nào. Mỗi đêm, cô mang gạo đến mỗi cối khác, ở mỗi sân nhà khác nhau. Nhưng tính ông cũng chẳng vừa. Hễ nghe tiếng chày của cô ấy thì ông biết rồi, chẳng bao giờ nhầm lẫn. Tiếng chày của cô ấy nghe rất khác thường, rất lạ và rất hay. Hình như cô gái ấy cũng muốn giã một cách khác thường để gọi đến tên ông. Cô nhịp một lần ba tiếng: cụp, cắc, cụp... rồi mới nện xuống “phùm”. Cho đến khi thành vợ thành chồng, hai người vẫn còn thích giã gạo chày đôi...

Giờ đây, nghe tiếng giã gạo chày đôi, ông lại nghĩ đến cuộc tình duyên của hai đứa. Thật ra thì Hiếu và Lành không phải yêu nhau vì “cái cối gạo”. Họ yêu nhau với một hoàn cảnh khác. Lúc lão Ịnh bỏ làng ra đi, Hiếu về ở với nhà ông. Năm ấy, Hiếu mười bảy tuổi, Lành mười lăm tuổi. Ba năm sau, hai đứa chớm yêu nhau trong một mùa nước lũ.

Ở đây, những làng nằm dọc theo bờ sông Cửu Long, người ta có câu: “Tháng bảy nước nhảy lên bờ”. Mỗi năm, sau những ngày mưa ròng rã, mưa sướt mướt, dòng sông Cửu Long mỗi lúc mỗi dâng lên. Nước từ nguồn đổ xuống, mang theo chất phù sa, ngầu đục, mang theo củi riều, cuồn cuộn chảy qua làng. Khi tháng bảy đến thì nước dàng lên tràn về. Nước không dâng lên một cách bất ngờ, hay hung hãn dữ dội như bão lụt, mà dâng lên một cách hiền từ, năm nào cũng vậy, đã thành như một thói quen của dòng sông. Nước tràn lên bờ, tràn qua những con đường xe, chảy qua các sàn nhà, tràn ngập cả cánh đồng. Tất cả các con đường làng đều biến thành kinh rạch. Ô tô, xe ngựa ngưng chạy. Người ta đi lại bằng xuồng. Nhà cửa trong xóm, những ngôi nhà to nhỏ cao thấp ẩn hiện trong vườn cây xanh, trông như những ngôi nhà xây trên bè và lúc nào cũng như đang bập bềnh trên mặt nước. Những giống lúa chịu nước như nàng tây, nàng rừng, nha sáp, thâm đưng, bông bói... những giống lúa không đòi hỏi con người phải nhọc nhằn nhiều về việc cấy dày, cấy thưa, mà chỉ cần gieo xuống đó, rồi những ngày nước lũ này, lúa sẽ cao lên cùng với mặt nước. Nước mang phù sa về bồi đắp cho đồng ruộng, bờ bãi và tắm mát cho lúa. Và nước mang cá về. Cá he, cá chày, cá lòng tong, cá sặc, cá lóc... hàng đàn, hàng bầy, kéo nhau về đồng. Mùa nước, dân cư ở đây xoay qua mùa cá, đặt nò, đặt lọp, kéo xịp... (đất nhà ai nấy làm. Đất thuộc của ai thì phải đóng thuế). Cá ăn không hết, người ta đem muối làm khô làm mắm dành cho mùa khô. Những người có ăn thì lấy việc đi câu làm thú vui. Họ ngồi trên sàn nhà, buông câu xuống sân nhà, họ chòng những chiếc xuồng con cặp vào các bóng cây.

Ông Năm Bầu thì đặt lọp và xây tum đâm cá bông.

Mỗi năm, Chiến và Lành, hai anh em thường đi đổ lọp. Năm ấy có Hiếu, nhà có thêm người, ông che thêm một cái tum cho Chiến, còn việc đổ lọp thì để cho “hai đứa nhỏ”. Một đêm, thấy trời sắp đổ mưa, ông gọi Hiếu và Lành, bảo hai đứa ra đồng đổ lọp. Năm ấy, hai đứa đã thấy thích khi được đi làm chung với nhau. Hai đứa cùng vâng lời một cách sốt sắng.

Hai đứa xô xuồng ra đi. Hiếu đứng sau lái, chống xuồng bằng cây sào. Lành ngồi trước mũi, cầm dầm vừa bơi vừa rà đường. Một đám mây che mất tất cả các vì sao. Nước ngập đầy đồng, mênh mông như biển cả. Xuồng lướt rào rào qua ngọn lúa. Gió thổi rạp đầu ngọn lúa, lào xào lào xào như tiếng tằm ăn dâu trong một cái nia khổng lồ.

Xuồng ra xa. Gió mỗi lúc mỗi to. Gió thổi đám mây dạt về một chân trời, để hé ra một vài vì sao. Gió lại đưa một đám mây khác kéo đến. Mặt nước bắt đầu gợn sóng, đánh róc rách vào mạn xuồng. Lúa lào xào mỗi lúc mỗi to, nghe như một cơn dông ở từ xa.

Mây khói đèn mỗi lúc mỗi đùn đến, đen đặc.

- Trời sắp mưa rồi! Em quên mang theo áo lá! Anh có thấy lạnh không, anh Hiếu? Lấy khăn em đây mà quấn cổ. - Giọng của Lành đượm vẻ lo lắng.

Lành quay lại, tháo chiếc khăn bàn lông, đưa cho Hiếu.

- Anh không lạnh đâu. Cây vông đồng kia, sắp đến nơi rồi. Thế nào về cũng kịp. Đêm nay, cá chắc là đầy khoang! - Hiếu ho một tiếng.

- Đêm nay, anh làm gì mà ho dữ vậy. Khăn đây nè!

- Em quấn cổ đi, anh không lạnh đâu!

- Không lạnh mà cứ ho suốt cả đêm - Giọng của Lành đượm vẻ trách móc - Sao không gài nút cổ lại!

Hiếu thấy hơi lạnh, anh đưa tay gài lấy nút cổ.

Gió đã thổi mạnh. Gió thổi xuồng dạt ngang. Lành phải lấy dầm chống qua bên trái tiếp Hiếu, giữ cho xuồng đi thẳng. Ngọn lúa ngã rạp. Mặt nước gợn lên những đợt sóng dài. Gió mỗi lúc mỗi to. Gió nổi ù ù. Mây trời vần vũ.

- Dông rồi! - Lành kêu lên. Mũi xuồng bị gió thổi dạt đi. Lành ngồi nghiêng qua một bên, đem hết sức, chống dầm, đẩy mũi xuồng trở lại.

- Sắp đến nơi rồi! - Hiếu kêu to.

Hiếu vừa khom người, chống sào, vừa giương to mắt tìm đám ruộng của mình - Hàng trâm bầu lờ mờ kia!

- Đến nơi rồi!

- Hả?

Gió cuốn cả tiếng nói của Hiếu bay đi, Lành không nghe.

- Ruộng mình đây này! - Hiếu nói thét lên.

Lành cho dầm lại trước mũi, chống dầm lại trước mũi, giữ xuồng lại, đưa tay sờ lúa, biết là cộng lúa nàng tây của ruộng mình.

Gió mỗi lúc mỗi to, chạy rào rào qua hàng trâm bầu, ào ào trên tàng vông. Gió cuốn những chiếc lá khô rãi vào khoang xuồng, đánh lên .những tiếng “lạch khạch”.

- Em giữ xuồng nhé! - Hiếu vừa bảo vừa cởi áo, cởi quần dài bước xuống nước. Nước ngập đến thắt lưng anh. Lành ngồi trên xuồng. Hiếu nắm mũi xuồng, kéo xuồng đi tìm lọp.

Anh giở lên một chiếc lọp đầu tiên. Chiếc lọp đầy cá. Hai cái bóng đen lờ mờ, họ chỉ nhìn rõ ánh mắt của nhau. Lành giúp Hiếu một tay đưa lọp lên xuồng. Lành giở miệng lọp, trút cá vào khoang. Cá sặc chạy rộ trong khoang xuồng. Hiếu kéo xuồng tìm cái thứ hai, thứ ba, thứ tư..., khoang xuồng đã đầy cá.

- Về đi anh! Lên xuồng đi, mặc áo vào, trời sắp mưa rồi.

Trời bắt đầu đổ mưa.

Xuồng về, vừa ra khỏi mảnh ruộng nhà thì gặp một con trốt. Con trốt xoáy theo một cột nước, quây tròn trên mặt lúa, từ xa xoáy đến, ù ù.

- Ông trốt! Ông trốt, anh Hiếu ơi! - Lành sợ quá, thét lên.

- Mạnh tay lên em! - Hiếu lấy hết sức chống sào, cố đưa chiếc xuồng ra khỏi đường đi của cơn lốc. Nhưng không kịp, con trốt đã xoáy tới.

Con trốt xoáy chiếc xuồng quay tròn trên mặt nước.

- Anh ơi! - Lành kêu lên.

Lành bị sút tay dầm, ngã xuống nước. Hiếu đứng loạng choạng, thấy đứng không yên, anh nhảy nhanh xuống giữ lấy xuồng.

- Lành ơi!

- Em đây!

- Có sao không em?

- Em ướt hết rồi!

Con trốt đã xoáy đi, họ nhìn nhau thấy vui vui.

Nước đã tràn vào, xâm xấp trong khoang xuồng. Ván đậy khoang nổi lềnh bềnh. Cá chạy trong khoang, tìm đường và nhảy vọt ra.

- May quá! Xuồng chưa chìm!

- Đỡ lấy xuồng đi em!

Hai người hai đầu, lấy tay đỡ lấy xuồng.

- Làm sao bây giờ, anh? Trời sắp đổ mưa nữa rồi!

- Cho xuồng vào gò, tát cho khô hẳn rồi về.

- Vào gò nào bây giờ anh?

- Đem lại cây vông.

- Trời tối quá! - Giọng của Lành bỗng lịm xuống.

Họ vừa đưa xuồng đến gò dưới gốc cây vông thì trời đổ mưa. Họ đẩy xuồng lên gò, tát đi một ít nước rồi ngồi dựa vào gốc vông trú mưa. Hai người ngồi gần bên nhau. Mưa như trút nước. Nền trời mây khói đen dày đặc. Cánh đồng như một cái biển sẫm sì. Giọt mưa rơi xuống mặt nước, bắn lên những tia nước mùa mù. Tiếng sấm nổ rền rền.

Gió ào ào trong vườn cây, gió uốn quằn tàng vông trên đầu Lành. Lành không thấy, nhưng Lành nghe tiếng lá bị cuốn, tơi tả bay đi. Gió cuốn mưa quất rát mặt Lành. Lành không nhìn thấy mặt nước mênh mông của cánh đồng, nhưng Lành nghe cánh đồng đang nổi sóng, tiếng sóng đập tràn lên gò. Có những năm nước lớn, nước ngập cả cái gò cây vông sau một vài cơn mưa. Nghe tiếng sóng, Lành như thấy mặt nước mỗi lúc mỗi dâng cao, đang tràn lên gò. Lành thấy lạnh. Một cơn gió bỗng rít qua. Lành rùng mình. Lành như vô ý nép lưng vào ngực Hiếu, run run:

- Anh ơi! Em sợ quá!

- Đừng sợ! Có anh!

Lành nghe bàn tay ấm áp của Hiếu đặt lên vai mình. Tự dưng Lành như giật mình, hốt hoảng. Nhưng Lành thấy sợ đêm tối hơn. Lành sợ tiếng sấm, Lành sợ những ánh chớp lằng nhằng trên nền trời, Lành sợ những đợt sóng hung dữ của cánh đồng. Lành sợ tiếng gió, Lành không muốn rời khỏi người Hiếu.

- Anh ơi! Em sợ lắm!

- Đừng sợ, có anh!

Lại một cơn gió rít qua, Lành ép lưng sát vào ngực Hiếu. Hiếu kéo Lành sát vào người. Lành đã nằm vào lòng Hiếu. Một luồng mưa to ào đến; Hiếu khom người áp lên ngực Lành, như muốn che mưa che gió cho Lành. Lành thấy mình như bị lả đi. Lành nằm im, nhắm nghiền mắt. Lành không thấy mưa, không thấy ánh chớp chạy lằng nhằng, không nghe tiếng sóng, cũng không tiếng gió... Lành không biết sợ cái gì nữa. Lành như đang sống trong một thế giới khác...

Sau đó ít lâu, lão Ịnh từ làng Hòa Hảo trở về. Hiếu phải theo lệnh cha, đi lên làng Hòa Hảo học võ.

Khi Hiếu trở về, lão Ịnh đã tự mình đến nhà ông Năm Bầu hỏi Lành cho Hiếu. Ông Năm Bầu không thể hiểu được rõ ràng những chuyện đó, nhưng ông biết là “hai đứa” nó yêu nhau. Năm nay, Lành đã hai mươi mốt, Hiếu đã hai mươi ba. Tội nghiệp hai đứa! Ông Năm Bầu nghĩ thầm. Đáng lý ra thì năm nay, ông cho hai đứa nó làm đám cưới. Mỗi năm, mùa mưa đến là mùa đi ăn đám nói. Người ta dạm hỏi cho con cái của nhau. Rồi mỗi năm khi đến mùa nước xuống, khi có gió bấc thổi về thì đến mùa cưới. Năm nay, trong làng, ông không nghe ai bàn đến việc cưới hỏi bao giờ. Con người, như không cần phải yêu nhau nữa.

Ông thấy ngao ngán và thở một hơi dài.

Tàu lá quật quờ như phẩy gió cho ông.

Phụp cùm, phụp cum, phụp cùm, phụp cum... Tiếng chày giã gạo của hai đứa vẫn vang đến, bĩnh tĩnh, đều đặn và nhịp nhàng. Bây giờ, ông lại muốn nghe tiếng giã gạo chày ba, cái tiếng chày giã gạo quen thuộc của nhà ông. Tiếng chày của Lành, tiếng chày của Hiếu, và tiếng chày của Chiến, thằng con lớn của ông. Nghe mất một tiếng chày, ông thấy như nhà ông đã bị mất đi một người. Lâu nay, Chiến không phải là thằng Chiến của ông ngày xưa nữa. Nó đã thành là người của kẻ khác rồi. Mỗi lần nghĩ đến Chiến là nỗi đau khổ lại quặn lên trong người ông. Mẹ nó hiền từ, cha nó như thế này, mà sao nó lại như thế? Mỗi lần nghĩ đến con, ông đều tự hỏi mình như vậy. Năm nay, nó cùng một tuổi với Hiếu. Hồi còn nhỏ, nó là một đứa con ngoan, hiền từ, ít nói, suốt ngày cứ quần quật với công việc làm ăn, biết yêu mẹ và kính cha. Bây giờ thì... Mỗi lần nghĩ đến Chiến là ông thường hay chợt nhớ những hình ảnh của vợ. Vợ ông, lúc còn con gái thì tinh nghịch, làm nghiêng ngả không biết bao nhiêu người con ông cháu cha, đối với ông thì cô ta như một con ngựa chứng - thời ấy, những lúc giận nhau thì ông hay chửi thầm như vậy - nhưng khi về nhà chồng, thì một lòng phụng sự cho chồng.

Cuộc đời của ông nghèo, nhưng ấm áp. Nhưng người đàn bà hiền từ ấy không cùng với ông đi đến trọn đời. Vợ ông bị mắc bệnh lao hạch ở cuối cổ bên trái gần yết hầu. Lúc đầu nó như cái mụn nhọt, nó vỡ ra, mủ cứ chảy ra và mỗi ngày mỗi khuyết sâu vào. Năm ấy, lại nhằm cái năm ông bị cướp đất. Nhà có gì, ông bán hết. Ông đưa vợ đi khắp các thầy thuốc ở làng, thầy thuốc ta, thầy thuốc Tây, thầy thuốc Tàu. Bệnh tình của vợ ông cũng không giảm, bao nhiêu xương xóc đều lòi ra, không nằm giường được, suốt ngày suốt đêm nằm trên võng, trong căn buồng tối. Ông lại đưa đi lên huyện, lên tỉnh. Khốn nỗi cho người đàn bà yêu con, đi vắng nhà mới có mấy ngày là cứ nằng nặc đòi về nhìn mặt con. Chiến và Lành phải bỏ công ăn việc làm, thay phiên nhau đi thăm mẹ, để mẹ được yên lòng. Vợ ông mỗi ngày mỗi xanh xao, người lép xuống như một con khô mực, mắt lờ đờ như mắt cá chết. Hết tiền, hết gạo, ông lại đưa vợ về. Vợ ông, từ lâu đã chịu lây cái tính “ngỗ nghịch” của chồng, chẳng hề biết tin dị đoan như những người đàn bà khác. Nhưng đến cái lúc ấy, vợ ông lại muốn đi cúng chùa, muốn xem bói. Vì thương vợ, ông cũng chiều theo. Lúc ấy, ở làng có một ông thầy bói già, thường mặc quần áo đen và mang kính trắng. Sau này, người ta được biết, người thầy bói ấy là người của đạo Hòa Hảo. Ông Năm Bầu cho mời ông ta về. Sau khi hỏi tên hỏi tuổi của hai vợ chồng ông, ông ta lần chỉ tay lẩm nhẩm “tý, mẹo, thìn, tỵ, mùi...”, rồi ông ta ngẩng lên bảo: “Vợ nhà ông mắc nạn trời”. - Chỉ nghe đến thế, ông Năm Bầu đã thấy nóng đầu. Nhưng vì muốn chiều vợ, ông đành phải ậm à, ậm ừ. Người thầy bói nói một thôi một hồi về đạo lý của nhà Phật. Người thầy bói nói toàn những tiếng khác lạ và nghe thật buồn tai. Nào là “bá tánh, chúng sanh” nào “thiện nam tín nữ”. Ông ta nói về đời sống khổ cực của nhân dân, nào cuộc đời là “trầm luân bể khổ”, nào là “cảnh đọa đày của chúng sanh”. Rồi ông ta khuyên gia đình bệnh nhân phải “biết nghe lời thầy, phải cải tà quy chánh”, phải “quy y theo đạo”... Rồi ông bảo có như thế thì mới “tai qua nạn khỏi”. Ông không tin, nhưng vì thương vợ, thâm tâm ông cũng cầu mong được như thế.

Nhưng tai không qua mà nạn cũng không khỏi. Vợ ông mỗi ngày lại mỗi gầy mòn nhiều hơn, không thể rời khỏi chiếc võng nữa. Trong nhà, như có một người chết chưa chôn. Dạo ấy, trong làng, lại có tiếng đồn: ở làng Hòa Hảo có thầy Tư ở núi Cấm mới về. Thầy đem theo thuốc tiên về cứu chữa cho “chúng sanh bá tánh”. Chiến đã nghe được những lời đồn đại ấy, về nói với mẹ. Vợ ông đòi đi. Ông không tin nhưng ông cũng muốn chiều vợ và nghĩ thầm: “Thôi thì cứ đi chữa cầu may vậy”. Trong nhà đang độ túng bấn, ông không đi được, Lành thì còn nhỏ, lại là con gái, không thể chèo chống được, - vợ ông không thể đi xe được - Chiến phải một mình chèo chống đưa mẹ đi. Chiến đưa mẹ đi với chiếc xuồng con che rèm, mang theo nào gạo củi, nồi niêu.

Ông Năm Bầu xuống bến tiễn vợ con ra đi, trở về nhà ngồi một mình, lấm nhẩm tính nợ nần, ông chợt nhớ đến số tiền cúng cho tên thầy bói.

- Cái thằng này thì phải chơi cho nó một trận mới hả!

Ông bảo Lành gọi ông thầy bói đến, bảo Hiếu đến hàng xóm bắt về một con chó mực. Ông cho chó mang kính trắng. Ông bắt con chó nằm trên bộ phản và chăng màn che nó.

Người thầy bói mặc đồ đen đeo kính trắng đến, ông mời ngồi, bảo:

- Hôm nay tôi mời ông đến, để nhờ bói cho một người. Tôi thật là có lòng ngưỡng mộ ông. Ông nói đâu thì có đó. Nhà tôi cũng đã sắp tai qua nạn khỏi rồi. Nhờ lời khuyên dạy của ông, nhà tôi nay đã đi về thăm đất Phật.

Người thày bói nhún nhường:

- Tôi chẳng qua là người phàm, mắt tục, làm gì mà biết được cái số mệnh của con người. Chẳng qua là tôi mượn con mắt của thầy mà nhìn “chúng sanh bá tánh”. Nói vậy, té ra là bà nhà ta đây đã về thăm đất Phật. Thật là phúc đức quá! Nếu nhà bà mà tốt phước, biết đâu lại được gặp thầy...

Ông Năm Bầu không muốn cho người thầy bói cà kê dài dòng, ông cắt lời:

- Thôi thì muôn sự là nhờ ông. Nay nhà tôi lại có một người muốn xem bói, vậy nhờ thầy chỉ bảo cho.

- Người ấy là ai đâu vậy?

- Người ấy đang nằm đây. - Ông Năm Bầu liền vén màn. Con chó mực đeo kính trắng chồm dậy, sủa lên. Người thầy bói kêu lên một tiếng hoảng hốt, mặt tái xanh và cắm đầu chạy.

Hiếu đứng trước sân, cười lăn ra. Lành đứng thập thò trong buồng, vừa cười vừa sợ đến run lên.

Ông Năm Bầu xích chó đuổi theo, vừa hả dạ, vừa căm giận, ông cười gằn trong cuống họng.

Chuyện ấy truyền đi khắp làng. Từ đó người ta không thấy người thầy bói ấy đâu nữa. Người thầy bói ấy trở về làng Hòa Hảo. Chuyện ấy xảy ra vào một ngày cuối năm năm 1941. Độ nửa tháng sau, Chiến đưa mẹ trở về. Cái chết của vợ ông đã sắp đến nơi rồi, bà đòi về, vì không muốn chết ở quê người. Mới đi có nửa tháng, trở về, Chiến bỗng trở thành một con người khác. Chiến vừa lầm lì vừa thẫn thờ. Nhất là đôi mắt, đôi mắt đượm một nỗi u sầu và mỗi lần nhìn cha thì mắt lóe lên như giận dữ. Mới có mười bảy tuổi mà Chiến đã có cái vẻ ưu tư trầm lặng của một người già. Chiến cũng bắt đầu nói những tiếng lạ với một giọng chậm rãi và buồn rầu. Vợ ông cũng thế, vợ ông nhìn chồng với cặp mắt trách móc, hờn giận và xót thương. Chiến kể lại câu chuyện lên làng Hòa Hảo cho cả nhà nghe. Cái bến ấy, xuồng ghe của “bá tánh” tấp nập như bến chợ. “Bá tánh chúng sanh ở tứ phương” đều về xin thuốc của thầy. Mẹ Chiến không được gặp thầy mà chỉ gặp được đệ tử của thầy thôi. Người “đệ tử” ấy to lớn, nước da nâu, cằm có bộ râu đỏ hoe hoe, trang phục màu già và đầu có búi tó. Ấy là người “đệ tử” thay mặt thầy để xem bệnh cho tín đồ. “Bá tánh chúng sanh” đông quá, mẹ Chiến phải nằm chờ đến bảy ngày. Người “đệ tử” ấy coi bệnh cho “bá tánh” và mẹ Chiến bằng một nhánh sầu đâu. Người “đệ tử” đưa nhánh lá sầu đâu lên trước mặt mẹ Chiến, quơ qua quơ lại, mắt nhìn lom lom vào mắt người bệnh một lúc rồi khẽ lắc đầu nói với một giọng trầm, kéo dài, nghe thật buồn thảm:

- Bà đây là vợ của ông Nguyễn Văn Bầu ở làng Mỹ Long Hưng có phải không?

- Dạ phải.

- Trước mặt bà có một con quỷ nó ám ảnh. Mắt tôi không nhìn được rõ mặt của bà.

Người “đệ tử” để nhánh sầu đâu lên bàn, móc túi lấy ra một cái hộp màu đỏ như son. Người “đệ tử” mở hộp một cách thận trọng, cầm lên một chiếc cà rá (nhẫn) có đính hạt cườm - hạt kim cương mà Chiến không biết - chói lấp lánh.

- Chiếc cà rá này là bửu bối của thầy để lại cho tôi đây.

Người “đệ tử” đưa chiếc nhẫn gần tận mắt mẹ Chiến, lắc lắc chiếc nhẫn, ánh kim cương chói qua chói lại trên gương mặt xanh xao của mẹ Chiến, người “đệ tử” nói:

- Số kiếp của bà đây là mắc tội thay chồng. Ông của nhà bà chắc là ngỗ ngược lắm!

Người “đệ tử” lại đưa chiếc nhẫn lại gần cái hạch lao trên yết hầu của mẹ Chiến, thở dài lắc đầu:

- Số kiếp của bà không qua khỏi được rồi. Bà hãy sớm tu tâm dưỡng tánh, hồn mới khỏi sa xuống âm phủ. Tôi không thể nào xin được rồi!
Nước mắt của mẹ Chiến chảy ròng ròng xuống đôi má xanh xao.

Chiến bế mẹ đưa xuống xuồng, nước mắt chảy ướt cả áo ngực của mẹ. Chiến nghĩ thương cho số phận của mẹ và đâm ra giận cha. Về đến nhà, nghe Lành kể lại chuyện cha cho chó đuổi người thầy bói, Chiến càng căm giận cha nhiều hơn. Chính vì cái tính ngang bướng của cha, mà mẹ phải chịu tội thay. Chiến nghĩ như thế!

Về đến nhà, mẹ Chiến không còn nói được nữa. Trong cái đêm cuối cùng, nằm trên chiếc võng trong ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn con trong căn buồng tối, tóc bà xõa ra, bà cho gọi các con đến. Cái chết đã đến rồi. Bà ráng hết sức đưa tay để lên vai chồng. Cái bàn tay đã suốt một cuộc đời vất vả vì chồng con, nay chỉ còn là một mảnh xương gầy. Cái bàn tay xanh gầy ấy như muốn nắn bóp lấy cái bả vai của chồng, nhưng không còn đủ sức nữa. Gương mặt của bà, hai gò má nhô cao, đôi má bầu đã hóp xuống, hố mắt sâu, nước da xanh xao phảng phất một nỗi buồn ảm đạm. Đôi mắt mở to, bà nhìn chồng vừa trìu mến, lưu luyến, thương hại vừa hờn dỗi và thẫn thờ. Những ý nghĩ của cả một cuộc đời muốn nói lại với chồng đều tràn đầy cả đôi mắt bà. Bà thều thào:

- Thôi, mình... ở lại... tu... tâm... còn có hai đứa con... mình... ráng... Hai con đâu...

Đôi mắt của bà trợn lên, bà đưa tay quờ lấy hai con, rồi hắt hơi, nhắm mắt.

Lành ôm lấy mẹ, rồi ngã lăn xuống đất khóc ngất. Khi mẹ nhắm mắt, trong ánh đèn lờ mờ, Chiến như thấy có một cái bóng rời khỏi thân thể của người mẹ. “Cầu cho hồn mẹ được siêu thăng!” Chiến thụp đầu xuống như lạy và oán thầm.

Ông Năm Bầu nhìn cái chết của vợ, lòng ông tan nát rã rồi. Vốn ông là người không mê tín dị đoan, nhưng khi nhớ đến cuộc đời vất vả của vợ, phút chốc ấy, ông bỗng ao ước có hai cuộc sống cho con người: một cuộc sống ở đời và một cuộc sống ở cõi hư vô. Và trong cuộc sống hư vô ấy, vợ ông được sống một cuộc đời thanh thản. Ý nghĩ ấy thoáng qua óc ông lúc ông ôm lấy hai vai của vợ, lắc mạnh và kêu thất thanh.

- Mình ơi! Mình...

Bà vợ ông vẫn nằm im. Nhìn vợ, lòng ông bỗng thêm một nỗi đau đớn vì hối hận. Như một trẻ đứng trước một hình phạt ghê gớm, đã hoảng hốt nhận lấy tất cả tội lỗi, kế cả những tội lỗi mà mình không có. Ông hối hận vì từ trước đến nay mình không biết tin trời Phật.
Logged
Trang: 1 2 3 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM