Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:10:55 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đất lửa  (Đọc 31055 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #10 vào lúc: 09 Tháng Chín, 2024, 04:41:50 pm »

*
*       *


Sau đó, nhà ông lúc nào cũng tối om om. Giữa nhà, một bàn thờ, một ngọn đèn dầu leo lét, khói nghi ngút, tỏa lờ mờ. Chiến lại trương lên một cái trang thờ trần điều. Chiến để tóc dài đến tận mang tai. Trước sân nhà, Chiến dựng lên một cái bàn thông thiên. Ông biết là Chiến đã vào đạo Phật giáo Hòa Hảo, ông không hoàn toàn tán thành, nhưng cũng không phản đối. Người làng củng đã lần lượt vào đạo như nó rồi.
Có một hôm, ông thấy Chiến để lên trần điều một tấm ảnh nhỏ. Tấm ảnh của một người không phải là đàn bà, cũng không phải là đàn ông. Ảnh của một người khoảng độ hai mươi hai, hai mươi ba tuổi, gương mặt dài, mày đậm và uốn cong, mắt vừa mênh mông sáng vừa đượm một vẻ buồn, nước da trắng xanh, cổ như có ba ngấn và tóc thì xõa đến vai. Ông lật ngửa lật nghiêng, nhìn đi nhìn lại. Thật là một con người kỳ lạ. Khi Chiến về, ông hỏi:

- Chiến, mày để hình ai trong trang thờ, đàn bà không ra đàn bà, đàn ông không ra đàn ông vậy?

Chiến mở tròn cặp mắt nhìn ông. Ông giật mình và ngạc nhiên. Chưa bao giờ ông thấy Chiến nhìn ông với cặp mắt nảy lửa và dữ dội như vậy, một cái nhìn của kẻ thù chứ không phải là cái nhìn của đứa con nữa.

- Của tôi ông hỏi làm gì, hả? - Chiến hét lên với ông.

Thật lòng là ông không biết cái ảnh ấy là ai, nhưng Chiến thì lại tưởng ông mỉa mai. Lần đầu tiên, ông thấy sợ thằng con. Sau này, ông mới hiểu đó là ảnh Phật thầy, mà người ta cũng thường gọi là thầy Tư, tên là Huỳnh Phú Sổ, người ở làng Hòa Hảo, con của Hương cả Huỳnh Văn Bộ. Đấy là người sáng lập ra đạo Hòa Hảo. Ông có nghe nói đến tên “Thầy”, nhưng có được gặp bao giờ đâu mà biết. Từ đó, Chiến làm điều gì, ông cũng không hỏi. Chiến bỏ tất cả những công ăn việc làm, ngày đi đâu chẳng biết. Đêm đêm, Chiến thường hay nằm đọc kinh...

Những ngày đầu năm năm 1944, lão Ịnh trở về, Hiếu đã nghe lời cha đi học võ. Bên ngoài, thế giới chiến tranh lần thứ hai đã xảy ra. Trong làng, lúc nào cũng xôn xao về thảm họa của chiến tranh. Rồi Nhật vào Đông Dương không biết bao nhiêu là biến đổi. Năm ấy cũng là năm “kinh tế”, “củi quế gạo châu”, mọi thứ đều khan hiếm. Màu sắc tươi đẹp của xóm làng cũng phai mờ đi. Ngoài đường, ngoài chợ, áo trắng, áo hoa của các cô gái không còn thấy nữa. Người ta mặc quần áo màu già, rách rưới và bạc màu. Lác đác có một vài người mặc quần áo bằng bố tời. Những chiếc áo bố tời sùi lông như mang đến một điềm gở cho mọi người.

Sau những ngày khởi nghĩa bị thất bại, sau lần bị mất đất, những ngày chạy vạy nợ nần thuốc thang cho vợ, rồi một cái tang, bao nhiêu cái đau đớn dồn dập đến cho ông! Trong những ngày u sầu ấy, đêm đêm, cái giọng buồn thảm của Chiến cứ vẳng đên tai ông.

Đờn kêu vợ lại xa chồng
Đờn kêu mẹ lại quên bồng con thơ.
Đờn kêu sắp đến bây giờ
Đờn kêu đời tới ráng thờ chữ tu
…
Đờn kêu như nước bèo trôi
Đờn kêu thế sự đứng ngồi không an
Đờn kêu gió thổi mây tan
Đờn kêu dông bão, nước tràn non cao.
…
Đờn kêu cá nước chim trời
Đờn kêu bể cạn, cá thời ao khô
Đờn kêu chim ở lồng mô
Đờn kêu trần thế như mồ bỏ hoang.


Trước mắt, ngọn đèn leo lét trên bàn thờ vợ, trong tiếng gió thì thầm ở ngoài hiên, nghe cái giọng sầu thảm của Chiến, ông thấy buồn đến thối cả ruột gan. Không chịu được nỗi buồn, không chịu nổi những bực dọc vì cảnh nghèo, nhiều lúc ông muốn hét lên:

- Mày câm miệng lại đi, Chiến! Không lo làm ăn, cứ lo đờn với đờn, đòn cái ông cố tổ mày!

Nhưng ông không dám. Ông chỉ hầm hừ một mình, rồi bỏ nhà đi cho khuây khỏa. Ông đến nhà ai? Ông tìm đến những người bạn tá điền.
Ông đến nhà ông Năm Ngũ. Vừa bước tới sân nhà, ông đã nghe cái giọng khàn khàn của ông Năm Ngũ đang đọc kinh theo điệu nói thơ Lục Vân Tiên:

Đờn kêu huyết đỏ như son
Đờn kêu nhân vật chỉ còn một hai
Đờn kêu những nỗi đắng cay
Đờn kêu chanh khế ngậm hoài chát chua.


Cũng lại đờn! Ông bỏ đi. Đền nhà lão Ịnh, nhìn qua kẽ cửa, ông thấy lão Ịnh mặc quần áo màu già phủ phục đến gối, đầu để tóc, mái tóc chảy mướt, ngồi chỉnh tề trên bàn và cũng lại “đờn”!

Đờn kêu hối thúc nhơn dân
Đờn kêu khổ não tới gần một bên
Đờn kêu phải gắng chí bền
Đờn kêu nam nữ không êm bớ người
Đờn kêu chớ có dễ ngươi
Đờn kêu thế sự như rơi phiếm đàn... à...


Ông lại quay ra. Đó đây, nhà nào, trước sân cũng có một bàn thông thiên, khói hương đang nghi ngút. Khói hương có mang được lòng người không? Và gió sẽ đưa về đến tận nơi nào? Trên đường im lìm. Nhà nhà cửa đóng then gài. Đâu đâu, cũng vẳng những lời kinh não nùng. Trước mắt ông: cuộc đời như một đám sương mù.


*
*      *


Những người bạn cũ đã mất hết rồi. Những lúc đơn độc quá, đôi khi ông cũng muốn vào đạo cho có bạn có bè. Không thể thui thủi một mình được, ông đi tìm bạn mới. Ông đến tìm Phát, con của Sáu Sỏi. Phát lớn hơn Chiến mấy tuổi, đáng là tuổi con ông, nhưng ông thấy ở Phát đối với ông có một cái tình của người bạn. Mỗi lần gặp được Phát là ông thấy cuộc sống trở lại bình thường, Phát không như Chiến, Phát không như một số con trai làng. Đầu Phát không có búi tóc, tóc Phát vẫn hớt ngắn, nhất là đôi mắt của Phát, đôi mắt không đượm một cái gì u uất và thấy sợ, đôi mắt của Phát vẫn trong sáng, thân thích và dễ gần. Phát không nói những lời lẽ của một thế giới khác, giọng của Phát cũng không đượm buồn và trong cái dáng vẻ của Phát có một cái gì của Sáu Sỏi. Phát nói với ông về những chuyện làm ăn bình thường. Phát vừa làm ruộng, vừa học nghề mộc, Phát nói lại những câu chuyện của Sáu Sỏi mà trước đây ông đã từng nghe. Phát nói về những chuyện xảy ra ở bên ngoài, chuyện của những người yêu nước chân chính. Có đêm, ông cùng ngủ với Phát. Một ít lâu sau, Hiếu lại trở về. Hiếu đã vào đạo, đi dạy võ cho tín đồ. Nhưng Hiếu không giống như những người tín đồ trong làng. Hiếu không như Chiến, Hiếu vẫn làm bạn với Phát và Hiếu vẫn là thằng Hiếu của ông ngày xưa. Thế là ông bỏ hẳn cái ý nghĩ vào đạo.

Nhưng rồi, một đêm đầu năm 1945, ông nghe Chiến hỏi:

- Ngày mai, cha có đi không?

- Đi đâu?

- Đi phá nhà việc, đi đốt hình Pêtanh chớ đi đâu!

Ông ngẩn người nhìn thằng con một lúc. Sau đó, Chiến giải thích, đạo Hòa Hảo sẽ dựa vào lực lượng Nhật Bổn là “giống da vàng máu đỏ” để đánh Tây cứu nước. À! Hóa ra nó cũng là người yêu nước! Thế mà mình không biết! Ông thấy hối hận với cái tình nhạt nhẽo của ông đối với con. Ông nhìn Chiến với cặp mắt khác, yêu thương và kính trọng. Thế là đêm đó, ông không đến tìm Phát nữa. Ông ở nhà với con và nghe Chiến nói chuyện. Lần đầu ông nghe con nói về lý lẽ ở đời. Những chuyện viển vông về cuộc sống ở cõi hư vô, ông để ngoài tai, khi nào Chiến nói đến chuyện đánh Tây cứu nước thì ông lắng nghe và xen vào những lời bàn. Dù sao, ông thấy con mình cũng là một người yêu nước.

Khuya hôm ấy, ông cùng ra đi với con. Đến gốc cây vông đồng, là nơi tập trung ông gặp lại hầu hết những người bạn tá điền cũ, ông gặp cả Hai Đôn và Sáu Phẩm nữa hai người cộng sản cũ. Người ta nhìn ông với cặp mắt thân thiện, người ta tỏ ra kính trọng Chiến, phút chốc ông thấy kiêu hãnh vì thằng con.

Buổi sáng hôm ấy, ở giữa sân chợ, lão Ịnh và Chiến đã leo thang lên nóc nhà dài, giật tấm ảnh Pêtanh ném xuống đất. Bà con tín đồ ở dưới thì trương cờ Nhật, cờ Đạo đi biểu tình thị uy. Bọn lính làng chạy hoảng đi hết. Những người ở chợ thì hoan hô và nhìn bà con tín đồ với cặp mắt khâm phục và lạ lùng. Chưa bao giờ ông thấy hả hê đến như vậy. Và ngay hôm đó, vô tình, ông ngang nhiên trở thành một tín đồ.

Về đến xóm, gặp ai ông cũng khoe:

- Hình thằng Pêtanh bị liệng xuống đất rồi. Thằng Chiến nhà tôi với anh Tư lên nóc nhà dài, kéo nó xuống.

- Hình thằng Pêtanh bị liệng xuống đất rồi!...

Gặp ai ông cũng vồn vã, khoe đi nói lại cái tin vui ấy có gần trăm lần. Lần nào, vẻ mặt ông cũng hớn hở như lần đầu. Gặp Phát, ông cũng báo cái tin mừng ấy.

- Hình thằng Pêtanh bị liệng xuống đất rồi à? - Phát cũng lộ vẻ mừng hả hê như vậy. Nhưng sau đó thì Phát lại bảo:

- Nhưng mà...

- Nhưng mà làm sao?

- Không nên dựa vào thằng Nhật đâu bác Năm à. Nó là thằng phát xít.

Phát xít, ông chẳng hiểu được danh từ đó. Trong lúc đang mừng với chiến thắng, bác cũng không cần phải biết đến cái chuyện đó làm gì.

- Nó cũng là thằng cướp nước thôi. Nó ác hơn thằng Tây nữa đó bác Năm!

- Vậy à? - Ông hỏi lại, nhưng ông để ngoài tai. Chẳng biết nó sẽ như thế nào, chỉ biết là nó giúp dân mình đánh Tây là ông thấy thú rồi. Chẳng những đánh Tây, mà còn kéo nhau đi bắt hội tề, điền chủ để trả thù, trả oán nữa. Suốt mấy đêm liền, đêm nào ông cũng theo bà con tín đồ đi trả thù trả oán. Ban ngày ông lại đi khoe với Phát.

Phát hỏi:

- Người ta cho bác đi à?

- Cho chứ! Sao lại không cho!

- Thế là bác đã vào đạo rồi à?

- Ừ... mà chưa...

- Hay là bác cứ vào đạo đi bác Năm. Có chuyện gì, bác cho cháu biết với.

- Ừ. Được đấy. Có gì thì cháu cứ bảo ban cho bác!

Sau đó, ông chính thức quy y theo đạo. Tất nhiên là ông vào đạo theo ý nghĩ của ông. Và tất cả những người vào đạo, họ đều vào đạo với ý nghĩ khác nhau. Người vào đạo với lòng mê tín một cách chân thành. Người vào đạo vì bị mất niềm tin ở bản thân mình, muốn đi tìm niềm tin ở một thế giới khác. Người vào đạo để lánh nạn. Người vào đạo vì mưu đồ cho một sự nghiệp riêng. Bao nhiêu con người, bao nhiêu cuộc đời lận đận khác nhau, cùng quỳ dưới một tấm trần điều, mong mỏi và mưu đồ cho những ý nghĩ riêng của mình.

Cách mạng Tháng Tám thành công, rồi Sáu Sỏi trở về, ông càng hiểu rõ hơn: mình vào đạo để làm gì?

Ông và Chiến, hai cha con tuy cùng thờ một đạo, nhưng cách nghĩ chỉ gặp nhau trong những ngày ném ảnh Pêtanh, kéo nhau đi trả thù trả oán, rồi dần dần, cái nếp nghĩ của hai người lại tách xa và xa nhau.

Con thương cha, con muốn cha phải nghĩ theo ý nghĩ của mình, cha thương con, cha cũng muốn con phải nghĩ theo ý nghĩ của mình.
Hai cha con chưa bao giờ để xảy ra một cuộc xung đột lớn, nhưng ngấm ngầm, cứ giằng co với nhau trong cái tình thương ấy và cả hai đều bị giày vò.


*
*       *


Tiếng giã gạo đã im bặt rồi. Ông Năm Bầu vẫn ngồi dựa lưng vào bụi chuối, mắt lim dim, ông như còn muốn để cái dư âm của tiếng chày lắng vào lòng. Hình ảnh của những chuyện đã xảy ra, mờ dần trong trí óc ông.

Ông mở mắt, người bần thần như vừa qua một giấc ngủ chập chờn sau một cơn say.

Gió ngoài dòng sông mang theo hơi thối của xác người thổi lao xao. Trong ánh nắng chiều gay gắt, tàu chuối buông xuôi hai cành lá, ủ rũ và mệt mỏi quật quờ.

Cái không khí chết lặng lại tràn đến tâm hồn ông. Ông hắt hơi liền mấy cái, như muốn tống cái không khí ấy ra khỏi người.

Ngoài đường vang lại tiếng vó ngựa của đội tuần tra, và đâu đây vẳng lại giọng hát “Hòn vọng phu”. Tiếng hát mỗi lúc mỗi tách rời ra trên các con đường mòn vào xóm. Một giọng hát trầm rè như thùng thiếc bễ mà nghe buồn, mỗi lúc mỗi đến gần.

Ông Năm Bầu cầm chĩa ba trở về. Ông vừa đi được mấy bước thì có tiếng gọi:

- Cha! Cha!

- Cái gì! - Ông Năm Bầu trả lời nhưng không quay lại.

- Cha ơi! Cha đứng lại con nói cái này cho cha nghe! - Giọng nói của Chiến nghe hớn hở như sắp báo một tin mừng.

Ông Năm Bầu miễn cưỡng đứng lại. Chiến bước đến, chắc là vừa mới tắm xong, đầu còn ướt, nước còn chảy ròng ròng xuống người. Chiến vừa đi vừa cầm áo lau mình một cách qua quýt.

- Chuyện gì?

- Cha ơi! Cha ra ngoài cây gừa mà coi cái pháp trường, bà con mình đã dựng xong rồi, cái cây cột xăn bóng như ván ngựa gõ vậy, đẹp lắm!

Nói đến cái chỗ giết người mà giọng nó vui như một đứa trẻ con. Ông nhìn Chiến, thầm nghĩ một cách cay đắng. Vầng trán của con lão đã thấp lại bị tóc rủ xuống che mất, nó như là người không có trán vậy, trông nó vừa ngốc vừa lì. Cặp mắt nó vằn lên những tia máu đỏ. Nó cười, đuôi mắt nó rẽ ra nhiều đường nhăn chạy gần đến mép, trông như hai sợi cương ngựa! Mặt nó rạng rỡ một cách khó coi. Những lần sắp được giết người thì cái gương mặt của nó lại rạng rỡ lên như vậy, giết xong một người thì nó thắp hương, quỳ trước bàn thông thiên, lẩm nhẩm kể lại với một vẻ thành kính và hài lòng. Lúc ấy, nó như “tâu” lên Phật thầy về công cán của nó. Giết được một người - theo nó là kẻ thù của đạo - thì nó như leo lên được một nấc thang của cõi Niết bàn. Nếu nó không được giết người một cách trực tiếp, - người ta giết rồi, - nó cũng chém bồi thêm vài dao cho đỡ “ngứa tay”. Không khéo rồi đêm nay, nó lại cầm dao giết Sáu Sỏi cũng nên.

Nhìn thằng con, ông đau nhói cả ruột gan.

- Nhà sắp hết gạo rồi! - Ông cố nói dịu giọng.

Chiến nhăn mặt khó chịu:

- Tối ngày cha cứ lo chuyện gạo với nước, như là đàn bà.

- Thế là mày nhịn đói được à?

- Tôi ăn cơm trên ban trị sự!

- Được phần mày, mày không nghĩ đứa em với thằng cha mày à?

- Ở trong xóm người ta ăn cái gì? Làng này hết gạo rồi à?

- Tao không muốn đi vay. Đi vay rồi lấy đâu mà trả, hả?

- Làm việc cho đạo mà cha cứ nghĩ cái gì ở đâu không ấy!

Thấy giọng của thằng con có vẻ đuối lý, ông bỗng nảy ra một ý nghĩ: đêm nay sẽ đưa nó đi chỗ khác.

- Tao định xoay qua nghề chữa cối đấy! Tao thấy cối nhà người ta dạo này răng cỏ đểu long ra hết rồi. May ra đổi được một ít gạo cho con em của mày.

- Cha muốn làm gì đó thì cha làm.

- Tao làm gì tao làm thì tao cần hỏi mày làm gì? Mày không giúp được một tay cho việc nhà sao?

- Thì có gì cha cứ bảo con.

- Tao định đi qua làng Nhân Mỹ kiếm gỗ. Tao định đi tối nay, mày đi với tao một tay dầm.

- Sao lại đi chiều nay? - Chiến mở tròn mắt nhìn cha.

- Gạo ở nhà sắp hết rồi.

Chiến quay mặt, không nhìn cha và như đang nghe ngóng một cái gì ở phía xa:

- Chiều nay còn bận việc. Bảo con Lành nó đi. Chiều nay tôi có việc ở trên ban trị sự. Bây giờ thì tôi đi đây.

Chiến quay lưng, trở ra đường cái. Đi một vài bước, Chiến quay lại:

- Chiều nay con mang gạo về cho!

- Tao không cần! - Ông hét lên.

Chiến không giận ông, vẫn vui vẻ, như muốn trêu ông:

- Tôi mang về cho con Lành chớ mang về cho cha đâu mà cần với không! - Rồi, với một dáng điệu hí hửng, nó quay lại, vắt áo qua vai, nhảy cẫng lên một cái.

- Đồ chết tiệt! - Ông chửi thầm và đứng lặng nhìn theo Chiến. Nó đi trên con đường mòn. Ông thấy như nó đang đi trên mình một con rắn to nằm ngoằn ngoèo dưới khu vườn rậm. Nó vừa đi vừa nhảy. Nó hí hửng như một đứa trẻ sắp được quà. Nó đi vào con đường tội lỗi thật hồn nhiên. Một đứa trẻ thì đầu óc chưa biết nghĩ, còn nó, cái óc trong đầu nó như đã chết khô rồi.

Ông lắc đầu, quay trở về, mắt rơm rớm, mặt thẫn thờ.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #11 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2024, 09:38:44 am »

VIII


Về đến nhà, ông thấy Hiếu đang giúp Lành dọn sân. Hiếu lăn cối vào gốc cây vú sữa. Lành quét sân, vừa đuổi gà vừa quét gom tấm cám lại bằng cái chổi kết bằng gié lúa, đẹp như lông chồn. Lành ngừng chổi, nhìn cha:

- Cha đi đâu mà lâu vậy? Con đã giã hết ba cối gạo rồi.

- Tao đi đằng xóm, tao nghe. Thôi, chiều rồi, nấu cơm đi con.

- Để con quét cái sân đã.

Lành cắm cúi quét. Cái sân nhà sạch bóng, điểm một vài hoa trứng cá rơi li ti.

Lành lại ngừng chổi, hỏi:

- Cha nghe tin gì về bác Sáu không hở cha?

- Thôi, tao đang nát lòng đây này, đừng có hỏi nữa.

Lành thấy vẻ khổ sở của cha, Lành không dám hỏi nữa. Lành liếc nhìn Hiếu và quơ chổi lia lịa.

Hiếu cũng muốn hỏi về tin Sáu Sỏi, nhưng vì có Lành, anh không muốn hỏi. Anh cứ lúi húi với cái cối, anh xoay qua xoay lại, cái cối đã nằm được đúng chỗ rồi mà chẳng được yên. Anh nhìn Lành, ra hiệu: “Đừng hỏi”. Ông Năm Bầu vào nhà, dựng cây chĩa ba vào kẹt vách, ngẫm nghĩ thế nào ông lại cầm cây chĩa ba bước ra.

- Hiếu! Cháu ra ngoài vườn giúp cho bác một tay cái việc này một chút.

- Dạ! - Hiếu biết ý, buông cối, phủi tay, theo ông Năm Bầu, đi ra vườn.

Lành đoán biết là hai người đi bàn về chuyện bác Sáu Sỏi. Lành thấy lo lo. Lành hỏi với theo:

- Anh Hiếu! Anh có về ăn cơm không?

Hiếu vừa đi vừa gật đầu. Lành yên tâm, thế là anh ấy chẳng đi đâu xa.

Ông Năm Bầu và Hiếu đi theo con đường mòn qua vườn chuối. Hai người ngồi dưới hàng chuối cuối cùng giáp với cánh đồng. Ông Năm Bầu cắm cây chĩa ba xuống con mương trước mặt.

Cánh đồng bị bỏ hoang, cỏ mọc um tùm và chạy dài đến rặng cây mờ mờ ở bên kia làng. Mặt trời bị một đám mây che mất. Cánh đồng hoang lặng lẽ trong mênh mông. Xa xa, nổi lên một vài tàng vông, lác đác một vài con cò đang chập chờn đôi cánh. Có một đám mây đen tan mỏng ra và sà xuống chân trời.

Ông Năm Bầu nhìn cánh đồng, lòng bỗng thắt lại.

Ông bứt lấy một cọng cỏ, rồi bảo:

- Bác đã gặp cha của cháu rồi. Chắc là không xong, Họ đã dựng xong cái pháp trường.

- Cháu có thấy.

- Cháu không gặp được ai sao?

- Cháu đi từ cầu đến bến đò, đến những chỗ mà anh em thường về, cháu đều dừng lại mà không thấy ai hết. Cháu đi lên chợ, cháu đi lục hết các quán cà phê mà không gặp bác Hai thợ bạc ở đâu. Cháu đến nhà thì nhà đóng cửa, người ta nói là cả gia đình đã tản cư qua cù lao Giêng hết rồi.

- Cháu không tìm được người nào khác nữa hay sao?

- Cháu không tìm được, nhưng cháu đã tìm cách bắn tin qua bên ấy rồi.

- Vậy à? - Ông Năm Bầu nắm tay thành quả đấm, như đang chụp được một cái gì ở trong tay, ông mừng, giọng run run:

- Con bắn tin bằng cách nào? - Bất giác, ông gọi Hiếu bằng con - Anh em có hay kịp không cháu?

- Người ở cạnh nhà bác Hai, hỏi cháu kiếm bác Hai để làm gì. Cháu không biết người ấy như thế nào, nhưng cháu cứ nói: bác Sáu Sỏi là em của bác Hai thợ bạc đã bị Quản Dõng bắt rồi. Tối nay, người ta sẽ giết bác Sáu Sỏi ở dưới gốc cây gừa xóm Đình. Tôi lên tìm cho bác Hai thợ bạc biết, để bác đến xin xác về chôn.

- Người đó là người thế nào?

- Cũng là người ở chợ, nhưng cháu không biết.

Ông Năm Bầu thở dài thất vọng:

- Vậy thì làm sao anh em mình biết tin được?

- Cháu nghĩ là thế nào người đó cũng nói chuyện cho người khác. Thế nào người ta cũng đồn đi đồn lại. Anh em bên mình thế nào rồi cũng nghe được!

- Như vậy thì không chắc đâu!

Hai người ngồi im. Hai người cùng nhìn ra cánh đồng. Một mảng mây khác lại tan mỏng ra như một tấm màn đen buông xuống chân trời. Cánh đồng cỏ rào rào như những tiếng thì thầm. Bồ cào, châu chấu bay nhảy trước mặt hai người, kêu “lách bách”. Đâu đây có một con rắn ngoạm được một con nhái bầu, nhái kêu eo éo. Ông Năm Bầu ngẩng đầu nghe nhái kêu. Mắt ông sáng lên. Con mồi nó đến với ông rồi. Phút chốc ông như quên tất cả. Ông nhổ cây chĩa ba, đi qua bồ cỏ lưa thưa. Ông đi lom khom. Ông nhìn thấy con rắn hổ mây to bằng cườm tay, nằm dưới mương, miệng đang ngoạm một con nhái to bằng quả đấm. Ông thò cây chĩa xuống, rồi kéo lên, dồn tất cả sức lực vào cánh tay, ông phóng mạnh. Cây chĩa ba phập vào mình con rắn. Con rắn uốn cong lại. Nhìn con rắn vặn mình giãy chết và con nhái bầu phóng ra khỏi cái miệng độc của nó, bỗng ông chợt nghĩ:

- Thế là mình đã giết được con rắn độc để cứu con nhái! Còn bạn mình đang bị nằm trong tay của bọn phản bội, thì mình lại bó tay!

Ý nghĩ ấy khiến cho ông đau nhói đến ruột gan. Ông cầm cây chĩa ba, vít con rắn lên. Ông quên đó là con mồi, ông đập con rắn nát nhừ.

Ông vít con rắn ra đám cỏ, rồi lửng thửng trở lại chỗ Hiếu.

Ông ngồi lặng, chẳng nói một điều gì và thấy người như rã ra.

- Bác có đâm được con mồi không? - Hiếu hỏi.

Vẫn còn đuổi theo ý nghĩ riêng của mình, ông lắc đầu: “Không!”. Hiếu cũng chẳng còn đầu óc gì để nghĩ đến con rắn, anh cũng đang đuổi theo ý nghĩ riêng của mình:

- Cháu định về bên ấy đấy bác Năm!

- Sao? - Ông Năm Bầu giật mình.

- Cháu định về bên ấy, bác Năm à! Cháu không còn ở đây được nữa. Bọn tụi nó để ý cháu nhiều quá! Cháu sẽ đi tìm anh Phát!

- Cháu định đi thật à? - Ông Năm Bầu hỏi, giọng lịm xuống buồn rầu. Ông không nghĩ đến Hiếu sẽ ra đi như thế nào. Hiếu sẽ ra sao, mà ông nghĩ đến Lành, đứa con gái của ông. Nó là đứa con gái hiền lành. Nó giống mẹ. Mẹ nó chẳng biết chuyện gì ngoài việc nhà, mẹ nó chẳng nghĩ đến ai ngoài người chồng. Lâu nay, nó chẳng giống những đứa con gái ở làng. Nó không ăn mặc lố lăng như kiểu “Phàn Lê Huê, Lưu Kim Đính”, nó không đòi giết người, nó không đi ngồi lê đôi mách. Suốt ngày nó thui thủi ở nhà. Nó sống âm thầm trong cái cảnh tan tác của làng và gia đình. Nhiều lúc, nó như một cái bóng. Nhiều lúc, ông chẳng hiểu nó đang nghĩ gì. Nó chỉ vui cười, nói năng khi có Hiếu. Nó như chỉ có hiện lên thành người khi có Hiếu, như một đóa hoa chỉ rực lên khi có ánh mặt trời. Bây giờ thằng Hiếu cũng lại đi nữa rồi! Và ông nghĩ đến thân phận của ông. Rồi ông sẽ sống với ai? Ai là người hiểu được ông hơn Hiếu? Khi ông đau khổ ông sẽ tìm đến ai? Khi có chuyện gì, ông sẽ đến nói với ai? Ai là người chia sẻ những nỗi đau khố của ông? Cái ánh sáng cuối cùng trong gia đình ông cũng sắp mất rồi! Ông thấy cuộc đời của ông tối sầm lại, ông bàng hoàng cả người.

- Cháu sẽ đi tìm anh Phát, cháu sẽ kể cho anh ấy nghe chuyện làng. Cháu sẽ cho ảnh biết về con Hằng, bảo ảnh đừng có nghĩ đến nó nữa. Nó đã thành quỷ rồi. Bác Năm có thấy thằng Bảy Thẹo nó đeo theo con Hằng không?

Ông Năm Bầu, người đờ đẫn, ông khe khẽ lắc đầu, không đáp lại câu hỏi của Hiếu, mà nói theo ý nghĩ của mình:

- Bác Sáu cháu dại quá! - Giọng ông nói với giọng trách móc - Tại sao lại bơi xuồng về một mình? Về mà không cho ai hay biết.

- Bác Sáu có gửi thư cho cha cháu biết trước! Nhưng cha cháu... - Hiếu đau đớn, không nói nữa.

Cánh đồng không một bóng người, không một cánh chim, cỏ rạp đầu trong những cơn gió miên man, chạy dài đến tận chân trời. Nhìn cánh đồng, Hiếu thấy trong người mình mênh mông một nỗi buồn. “Thằng Phát thì giờ này sao lại chưa chịu về!”. Ông Năm Bầu nói với giọng trách móc, rồi ngẩng mặt thở dài.

Mặt trời đã ngả về phía rặng cây xa, bừng lên như một đám mây.

Chân trời như ứa máu.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #12 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2024, 09:44:42 am »

IX


Cùng trong lúc ấy, phía bên bờ sông, Phát đang nhìn về làng. Anh ngồi tựa lưng vào cây vú sữa của một sân nhà bị cháy trên vàm kinh chảy vào giữa cù lao.

Mặt trời chưa lặn, nhưng trời nhiều mây. Bóng tối của đám mây đen buông xuống dòng sông như một chiều u ám.

Dòng sông từ mạn trên đổ xuống đến đây thì rẽ ra làm đôi chia ra làm hai dòng ôm tròn lấy cù lao. Cù lao nổi lên giữa dòng sông như một con cá khổng lồ. Cù lao chia ra bốn làng. Cù lao có một nhà thờ lớn với ngọn tháp chuông cao màu xám tro. Cái chỗ của Phát ngồi là đầu cù lao.

Bờ sông vắng. Dưới bến, một chiếc vó rách te đang cất lên và thôi không bao giờ buông xuống để cất lên nữa. Nó cất lên và hướng ra khơi như một bàn tay gầy đang chìa ra chờ đợi một cái gì và không biết mỏi. Người chủ của nó không chịu nổi súng đạn đêm ngày của tàu địch, đã tản cư đi rồi.

Sóng vỗ vào bờ ọp ẹp nghe uể oải và đều đều.

Ở xa nhìn về, Phát không thấy được cảnh làng một cách rõ ràng, không thấy người, không thấy nhà, nhưng anh nhìn cái cảnh làng được đầy đủ hơn. Làng của anh đấy một hàng cây xanh sẫm ở phía trên kia bờ sông. Cái bóng cây xanh đậm của cây đa, chếch về phía tay phải tay anh là bến đò, nơi giáp ranh với làng Long Điền. - Làng Long Điền cũng một rặng cây chạy dài lên chợ huyện - Cái tháp chuông của ngôi nhà thờ nhỏ nhô lên khỏi hàng cây, chếch về phía tay phải anh là nơi giáp ranh với một làng thuộc tỉnh Sa Đéc. Thị trấn nằm ở giữa làng, lô nhô những mái ngói, lờ mờ những con tàu đang cặp bến, khói đang tan ra thành mây mỏng. Và trước mặt anh, cao vọt lên khỏi rặng cây là hàng dương trước sân đình. Đấy là xóm Đình của anh. Từ chợ đến tháp chuông nhà thờ nhỏ là xóm du kích. Từ chợ đến xóm Đình, xóm bến đò và thẳng lên chợ huyện là một vùng đã do tín đồ Hòa Hảo chiếm lấy. Sau xóm Đình, qua một cánh đồng, những cái làng ở bên bờ tả ngạn bờ Hậu Giang, và phía bên kia Hậu Giang - một vùng đất có núi Cấm, núi Dài, núi Ba Thê... là vùng của các đơn vị vũ trang của Hòa Hảo chiếm đóng. Từ cái xóm Đình của anh đến chợ huyện như là cái cửa ngõ của vùng Hòa Hảo thuộc tỉnh Long Xuyên. Cái cửa ngõ ấy dài mười hai cây số, nằm dọc theo bờ sông, đối mặt với bờ sông vùng căn cứ kháng chiến. Hai bên cái cửa ngõ ấy là hai cái đồn lớn của quân đội Pháp; đồn của Mỹ Long Hưng và đồn của huyện Chợ Mới. Cái cửa ngõ ấy là nơi thường có những cuộc gặp gỡ của các đơn vị vũ trang, thường xảy ra những cuộc chiến đấu dữ dội. Là nơi đã xảy ra những cảnh ngộ thật éo le, cha giết con, anh giết em, người thân giết người thân. Những người đã chết, họ không còn biết gì nữa, nhưng họ đã để lại những nỗi đau khổ cho những người còn sống, và những nỗi đau khổ ấy sẽ sống mãi mãi trong đời sau. Và đêm nay nữa, anh sẽ gặp lại người làng, anh sẽ gặp lại người yêu, anh sẽ gặp lại cha - có chắc gì gặp lại cha? - rồi sẽ xảy ra những điều gì nữa? Phát tự hỏi. Không tìm được câu trả lời, anh thấy băn khoăn. Anh không ngồi yên được nữa. Anh đi đi lại lại dưới tàng cây vú sữa. Người anh khỏe mạnh, thân hình cân đối, có vẻ oai vệ trong bộ quân phục màu đen và chiếc súng ngắn hơi xề xệ ở bên hông. Bước đi của anh hơi nhanh và bối rối.

Trưa nay, trinh sát đã báo cái tin đồn về Sáu Sỏi. Huyện ủy liền mở ngay một cuộc họp bất thường. Sau đó, đơn vị của Phát - một đơn vị ở gần nhất, đang đóng ở cù lao, có thể về kịp trong đêm - được điều đi cứu Sáu Sỏi. Đơn vị của anh phải dừng lại đây, chờ khi mặt trời sụp để vượt sông.

Đơn vị đang nghỉ trong xóm nhỏ cạnh bên cụm bần thưa. Những anh lính người làng Mỹ Long Hưng cũng đang ngồi rải rác dưới các gốc cây. Họ nói với nhau về chuyện làng, mỗi người mỗi câu chuyện khác nhau. Anh Hoàng, trinh sát của đơn vị, độ hơn ba mươi tuổi, vốn là người đánh xe ngựa, anh đang ngồi kể cho bạn đồng đội nghe những đoạn đường của anh.

- Một chiếc xe hình lá liễu, đánh “vẹt - ni” láng bóng, mui vải xanh, nệm lò so - anh nói - tôi bắt một con ngựa hồng từ mờ sáng.

Chiếc xe của anh đầy khách lắc lư, chạy bon bon trên con đường rải đá rợp mát những tàng cây. Xe chạy qua xóm mộc, thoảng mùi ét xăng và mùi gỗ, xe chạy qua xóm dệt, tiếng khung cửi nghe rộn ràng, xe lướt qua các khung cửi của những cô thợ dệt tóc xõa dài và nước da trắng mịn. Xe chạy qua đoạn đường gừa trồng ven hai bên đường.

Mỗi ngày, anh mỗi gặp gỡ những con người xa lạ, những kiểu người khác nhau: một cô gái đẹp, một ông già nho hay nói chữ, một người đàn bà đi thăm chồng, một người có cái vẻ bí mật thích ngồi ở phía trong... những người ấy, có khi anh chỉ gặp một lần, nhưng đều để lại cho anh những kỷ niệm hay hay. Ngày nào, xe anh cũng chạy qua làng. Anh yêu cái nghề đánh xe và yêu cái làng của mình. Mơ ước của anh thật giản đơn. Độc lập, anh sẽ không đánh xe thuê nữa, anh sẽ cưới một cô thợ dệt, sắm một cỗ xe riêng, và ngày ngày anh sẽ đưa anh em đồng chí đi qua làng. Lúc nào anh cũng có thể nói cái chuyện đánh xe của anh. Nhờ tiếp xúc với nhiều người, anh biết đủ thứ chuyện ở trên đời.

Nghe câu chuyện của anh, không ai có thể nghĩ đó là chuyện của những người lính đang chuẩn bị chiến đấu. Qua giọng nói và cử chỉ của anh, người chung quanh như nghe được tiếng vó ngựa của anh đang gõ vang trên mặt đường trong một chiều thanh bình.

Ở một nhóm khác, có những anh đang nhìn về làng với cặp mắt căm hờn. Họ điểm lại những tên phản động đầu sỏ ở làng. Anh tiểu đội trưởng Hồng là người yêu của Hiền cô gái đã bị giết trong đêm đầu nổi loạn của Hòa Hảo mặt lầm lì, anh đang lần ngón tay lẩm nhẩm những tên người:

- Thằng Quản Dõng, thằng Bảy Nghĩa, thằng Bảy Thẹo, thằng Chiến, thằng Ịnh, thằng Năm Ngũ, thằng Phi Hùng, còn thằng nào với con nào nữa? Đêm nay, nó mà giết chết bác Sáu Sỏi thì tao sẽ chém sạch, tao đốt không chừa một cái nhà!

Anh nói, giọng rít lên trong hai hàm răng và giọng nói của anh như mang theo cái hơi lửa đang bốc lên ngùn ngụt ở bên trong.

- Ông Phát, ông ấy không cho bọn mình ra tay đâu! - Một người lính nói.

Tiểu đội trưởng Hồng bĩu môi, cười gằn:

- Tụi mày đừng có lo! - Anh đưa tay vỗ vỗ vào ngực - Tao làm tiểu đội trưởng, tao hoàn toàn chịu trách nhiệm, tụi mày cứ việc thi hành theo mạng lịnh của tao mà thẳng tay. Lần này thì ông ấy cũng chẳng cản tụi mình đâu. Trước đây, gia đình của ông ta không có ai bị giết, ông ta còn nói chánh trị được, bây giờ, cha ông ta bị giết, ông ta không biết căm thù à? - Đôi mắt của tiểu đội trưởng Hồng vằn lên những tia máu đỏ.

Một không khí nặng nề trùm lên cái nhóm của anh.

Ở một chỗ khác, dưới gốc cây bần già, cành lá buông rủ dài như tóc, có một nhóm khác đông hơn. Đấy là cái nhóm có nhạc sĩ Hoài Nam và Bảy Thâm, người chỉ huy trưởng của đơn vị - Nhóm ấy có hơn mười người. Họ ngồi vây quanh anh nhạc sĩ. Hoài Nam ngồi tựa lưng vào gốc bần, tay cầm cây ghi ta một cách hững hờ, mặt hướng về chợ làng. Hoài Nam độ hai mươi lăm tuổi, người mảnh khảnh, gương mặt anh hơi xương xương, nước da trắng xanh, mái tóc mềm hay buông rủ xuống trán, cái mũi dọc dừa thanh tú, đôi môi son nhỏ hình quả tim, đôi mắt của anh có vẻ trong sáng nhưng thường hay phảng phất một nỗi buồn. Anh vẫn còn giữ được cái vẻ đẹp của một người thư sinh. Anh mặc bộ quân phục ka ki vàng may theo kiểu quân phục của quân đội viễn chinh Pháp, bộ quân phục ấy không được hợp với cái dáng mảnh khảnh của anh. Hoài Nam vừa nói chuyện vừa buông ra những tiếng đàn theo một thói quen. Anh em đều quý mến anh, không chỉ thích nghe anh hát, mà còn thích nghe anh kể chuyện nữa, đặc biệt là chuyện đời tư của anh, và nhất là những mối tình trắc trở của anh. Người thích anh nhất có lẽ là Bảy Thâm. Bảy Thâm nằm cạnh bên Hoài Nam. Bảy Thâm tuổi độ bốn mươi, người to lớn trong bộ quân phục màu đen hơi rộng, lưng anh hơi gù như lưng gấu. Gương mặt anh hơi vuông, tóc rễ tre, trán thấp, cặp chân mày rậm đen, mắt xếch sáng quắc và dữ dội, nước da của anh màu đồng điếu. Anh lại có thêm một bộ râu quai nón. Anh có một vẻ đẹp khỏe mạnh, dữ tợn và gan lì. Dáng vẻ của anh đúng là con nhà tướng! - Anh em thường nói như vậy - Anh cũng là người làng Mỹ Long Hưng, ở xóm nhà thờ. Anh là người đầu tiên gây dựng ra đơn vị này. Từ hai bàn tay không, anh ra chợ đánh Tây, giật súng, diệt tề, trừ gian, đánh những tên lính đi bắt heo, gà, đánh những đồn lẻ, từ một tổ ba người, đến một tiểu đội, và bây giờ, đơn vị của anh quân số có gần một trăm người, đầy đủ súng ống. Đơn vị của anh lưu động khắp tỉnh, đánh đâu thắng đó, nhân dân đâu đâu cũng quý mến, nhiều đơn vị phải ghen với anh. Đơn vị anh là đơn vị số sáu mươi tám, nhưng nhân dân cứ quen gọi là bộ đội ông Bảy Thâm. Nhân dân còn gọi anh là con hùm xám.

Trước khi ra trận, bao giờ anh cũng có một vẻ bình thản, như chẳng có xảy ra một chuyện gì. Khi thì anh ngồi uống một ấm trà, nói chuyện đùa, cười ha hả để chờ trinh sát, khi thì nằm lim dim nghe tiếng đàn của Hoài Nam.

Bảy Thâm nằm gối đầu trên rễ cây, mắt lim dim. Anh đặt tay lên vế Hoài Nam, nắm bóp một cách âu yếm:

- Này, Hoài Nam, chú kể lại cái ngày chú “ra đi” cho anh em nghe đi!

Câu chuyện ngày ra đi của Hoài Nam, anh nghe không biết bao nhiêu lần rồi, nhưng thỉnh thoảng anh vẫn muốn nghe lại. Vì câu chuyện ấy của Hoài Nam có dính đến cái tên tuổi của anh. Hoài Nam mỉm cười, một nụ cười mơ hồ thường có trên nét mặt của anh. Tay anh rời khỏi phiếm đàn. Anh vuốt lại mái tóc, mắt nhìn về những mái ngói lô nhô đang mờ dần ở phía bên kia bờ. Vẻ mặt anh trở nên xa xăm. Trước mắt anh như hiện lên cái căn nhà của anh, một cái phố hai tầng, tầng dưới là tiệm vàng, tầng trên nhà ở, cái phòng nhỏ xinh xinh dành riêng cho anh, gần bên cửa sổ nhìn xuống mặt đường.

- Hồi ấy, tôi đi học ở trường Collège Cần Thơ mới về. Về nhà, tôi định đi ra chiến khu. Nhưng tôi đã không ngờ. - Giọng của anh nhỏ và êm như nghe lời tâm sự lúc về khuya. - Tôi đã gặp một cô gái lạ kỳ. Cô ấy là đứa ở của người chủ tiệm cầm đồ, ở phía bên kia đường. Người chủ của cô ta là bạn của cha tôi. Tôi gọi ông ta là bác Hai. Cô ấy tên Nhung. Trước đó, những năm nghỉ hè, năm nào tôi cũng về, năm nào tôi cũng gặp cô ta nhưng cô ta hãy còn nhỏ, quần quật suốt ngày, quần áo rách rưới, tôi xem cô ta là một đứa bé, thỉnh thoảng cô ta cũng có sang nhà tôi và gọi tôi là cậu Năm. - Vì tôi là người con trai thứ năm của gia đình - Năm rồi, tôi trở về, gặp lại cô ta, tôi như không đoán ra được nữa. Cái tuổi dậy thì, cô ta như con gà trổ mã, sắc đẹp của cô ta bật lên như một vì sao. Cả chợ đều xôn xao. Tôi đi đây đi đó kể cũng nhiều, quen biết không biết bao nhiêu nữ sinh, nhưng tôi chưa hề gặp ai đẹp đến như vậy. Gương mặt của cô ta là gương mặt trái xoan, nước da trắng hồng và mịn màng như rửa mặt bằng sữa, mái tóc xõa dài đẹp như một dòng suối, đôi chân mày uốn cong hình lưỡi liềm, còn đôi mắt thì không thể nào tả nổi, đôi mắt sáng như sao, nhưng lại buồn buồn và mơ mộng, đôi mắt có một sức quyến rũ lạ lùng. Cái nhìn của cô ta, làm cho tôi bàng hoàng cả người. Một cô bé đi ở mà sao lại đẹp đến như vậy, tôi không thể nào hiểu được. Tôi yêu cô ta, tôi yêu một cách đắm đuối, nhưng cô ta là một người ở, sợ người ta nói ra nói vào, sợ cha mẹ anh em tôi không bằng lòng, nên tôi chỉ yêu thầm. Tôi chỉ yêu thầm. Tôi yêu với một mối tình câm. Tôi định đi ra chiến khu, đưa bộ đội trở vê đánh vào làng, tôi sẽ giải thoát cô ta ra khỏi vòng áp bức, rồi hai đứa sẽ cùng đi chiến đấu. Tôi còn lưu luyến chưa muốn đi, thì bỗng một hôm có súng nổ, rồi có tiếng loa kêu gọi. Sau đó, tôi nghe người ta đồn là bộ đội của ông Bảy Thâm. Sau cái đêm đó, nhiều đêm tôi không ngủ được. Tôi cứ nhớ mãi cái bài hát trong tiếng loa lúc im tiếng súng. Giọng hát nghe không hay, nhưng bài hát ấy đã thôi thúc lòng tôi:

“Mùa thu rồi, ngày hăm ba...

Trước mặt tôi cứ hiện lên một đoàn quân với một người chỉ huy oai dũng và anh hùng. Lòng yêu nước của tôi đã dâng lên như một cốc nước đầy. Và cái tiếng hát đêm ấy như những giọt nước rỏ vào. Cốc nước tràn ra. Thế là tôi bỏ nhà ra đi. Trước khi đi, tôi có gặp cô ta. Tôi nói:

- Nhung! Thôi, xin tạm biệt em. Anh đã đến lúc phải ra đi rồi. Một ngày nào đó, không xa lắm, anh sẽ trở về. - Hoài Nam dừng lại, tay lướt qua dây đàn, rải ra một âm điệu buồn. Tiếng nhạc tan ra và những âm thanh ấy gợi lại cho anh hình ảnh của cô gái. Mắt anh nhìn vào khoảng không một cách đắm đuối. Bảy Thâm cựa mình. Anh đang sốt ruột chờ nghe đoạn cuối.

- Rồi sao nữa? - Anh hỏi.

- Rồi, tôi ra đi. Tôi tìm gặp cơ quan huyện. Người ta định điều tôi về ban tuyên truyền huyện, nhưng tôi không chịu. Người ta lại điều tôi về bộ đội số ba mươi ba tôi cũng không chịu. Người ta hỏi tôi:

- Anh muốn đi bộ đội nào?

- Tôi muốn đi bộ đội ông Bảy Thâm.

- Bộ đội ông Bảy Thâm nhiều rồi, bộ đội khác đang cần người, bộ đội nào mà không phải bộ đội.

- Nhưng tôi thích bộ đội của ông Bảy Thâm hơn.

Sau đó, tôi bỏ cơ quan huyện, hỏi thăm nhân dân bộ đội ông Bảy Thâm. Thế là người ta bắt tôi và giao cho anh, anh có còn nhớ không anh Bảy?

Bảy Thâm mỉm cười, cố che giấu niềm kiêu hãnh đang hiện dần lên vẻ mặt.

Bảy Thâm vốn là người nông dân. Hơn nửa đời người quần quật vì miếng cơm, manh áo, anh chẳng bao giờ được ai vuốt ve và phỉnh nịnh. Bây giờ, là người chỉ huy trưởng của một đơn vị, tên tuổi anh nổi như “cồn”. Đi đâu anh cũng nghe những lời ca ngợi, những cử chỉ khâm phục, có cả lời phỉnh nịnh. Cuộc đời anh phơi phới lên như diều gặp gió. Lúc đầu, anh thấy ngượng nghịu vì những lời ca ngợi ấy, nhưng rồi dần dần, nó như đã thành cái lẽ sống của anh. Lời ca ngợi của Hoài Nam đối với anh, anh thấy có giá trị hơn những lời ca ngợi của anh em khác. Hoài Nam là con nhà giàu, có học, đã học đến “đíp lôm”, một con người như thế mà bây giờ đã thấy sung sướng khi được dưới quyền chỉ huy của anh! Chỉ nghĩ đến điều đó, ruột gan của anh cũng đủ nở to lên rồi. Có Hoài Nam trong đơn vị, anh lại càng được nổi danh hơn. Từ ngày có Hoài Nam, nhân dân càng khen ngợi đơn vị của anh nhiều hơn. Bộ đội ông Bảy Thâm đánh giặc cừ mà diễn kịch cũng hay! Đến đâu, sau một trận đánh là sân khấu được dựng lên. Bảy Thâm lại có dịp đứng lên trước sân khấu, trước mặt hàng nghìn người, nói một vài câu trước khi mở màn và được nghe tiếng vỗ tay vang trời. Và Bảy Thâm được ngồi ghế danh dự. Bảy Thâm được nghe người ta xì xào nhắc đến cái tên của mình.

Sung sướng, Bảy Thâm cầm lấy bàn tay của Hoài Nam. Hai bàn tay thật khác nhau: một bàn tay to lớn, xù xì đầy chai, một bàn tay nhỏ với những ngón thon dài và dịu mềm. Anh nhìn mãi cái bàn tay của nhạc sĩ. Mỗi lần ra trận, anh đều bảo Hoài Nam:

- Hãy coi chừng cái bàn tay của anh đấy!

Trong những cuộc chiến đấu gay go, anh thường ra lệnh cho Hoài Nam phải nằm sâu dưới hầm. Anh sợ Hoài Nam bị mất bàn tay, cái bàn tay dịu mềm khi lướt qua cung đàn thì xao xuyến cả lòng người. Hai bàn tay to lớn của anh ấp lấy bàn tay nho nhỏ của Hoài Nam.

- Hát cho anh em nghe một bài đi! - Anh bảo, mắt lim dim.

Hoài Nam ngồi thắng lại, dây buộc đàn móc qua vai, hai tay anh ôm lấy đàn một cách hững hờ. Bàn tay của anh buông ra từng tiếng nhạc. Một âm điệu buồn, từng tiếng, từ trầm đến thanh, nối theo nhau rơi ra và âm vang trong lòng người.

Ta chiến tranh vì công
Sa trường hăng hái đi không về…


Đấy là bài hát “Buồn tàn thu”. Những năm đầu kháng chiến, vì còn thiếu bài hát, người ta thường đặt thêm những lời mới cho những bài hát cũ - Bảy Thâm đang mơ màng nghe tiếng hát, bỗng thấy những bước đi băn khoăn và vẻ mặt bối rối của Phát, lòng anh bỗng nảy lên một niềm vui ác độc, anh mỉm một nụ cười. Bảy Thâm vốn là người nông dân, thất học. Anh nhìn những hiện tượng ở bên ngoài một cách giản đơn, nhưng cương trực và nhiệt tình. Đứng trước một việc gì, anh ít muốn suy xét, không thích một cái gì rắc rối và phức tạp, anh chỉ thích giản đơn - thấy sao nói vậy, như anh thường nói - và chỉ hành động theo bản năng. Người lính nào chiến đấu cam đảm thì anh khen ngợi vỗ về, người nào tỏ ra nhút nhát thì anh khinh bỉ ra mặt và đòi tống cổ ra khỏi đơn vị. Ai đánh được nhiều trận, thu được nhiều súng ống, “chiêu binh mãi mã” - danh từ mà anh thường hay nói - thì người đó làm lớn. Lính của ai người ấy giữ, súng của ai cướp được người ấy dùng. Tại sao lại bày ra cái việc biên chế, san sẻ chỗ này chỗ nọ và thuyên chuyển người này thế người kia? Anh thường càu nhàu như vậy và tìm đủ mọi cách để “giữ vững” cái đơn vị của anh. Anh không thích những người chính trị viên. Vì những anh chính trị viên thường hay thuyết phục anh thi hành những mệnh lệnh mà anh không thích, những mệnh lệnh không có lợi cho anh, như mệnh lệnh biên chế và chia xẻ đơn vị chẳng hạn. Và những anh chính trị viên lại thường hay có vẻ lãnh đạo anh. Trong đơn vị, anh là người chỉ huy, thế thì sao anh lại chịu dưới sự lãnh đạo của một anh khác? Tất cả những người trong đơn vị phải dưới quyền của anh, phải phục tùng tuyệt đối những mệnh lệnh của anh. Anh nghĩ vậy và bực tức hằn học đối với những anh chính trị viên. Những anh chính trị lúc ấy, phần lớn là những người không quen với tiếng súng, điều đó cũng làm cho anh có thêm lý do để đả kích. Anh có đủ lời lẽ để thóa mạ những người chính trị viên. “Những thằng đánh giặc bằng miệng - mặt gà mái! v.v...” vì cái tính không thích suy nghĩ những điều rắc rối, anh rất ghét học chính trị. Giặc vào thì đánh, tại sao lại phải học chính trị? Chính trị không cản được đầu xe tăng! Tại sao lại phải học những bài cách mạng dân tộc giải phóng? Nó cướp nước mình thì mình đánh nó! Anh lập luận như vậy. Có một lần, anh làm một chuyện thật buồn cười, nhưng cũng lại nổi danh. Một hôm, anh đem đốt tất cả sách chính trị và cho vào thùng nước uống. Anh em lấy làm lạ, hỏi anh, anh đáp lại một cách thản nhiên:

- Học làm gì cho nó mệt, cứ uống vô bụng cho thấm vào xương thịt, học như vậy mau và chắc hơn!

Những anh lính cùng một tính như anh, lấy đó làm thích thú và họ dựa vào uy tín của anh mà bỏ học chính trị. Người chính trị viên cũ bất lực, nên đã xin về một đơn vị khác. Bảy Thâm hơi hối hận, nhưng lại hài lòng và thấy nhẹ người. Sau đó, cấp trên điều Phát về. - “Lại một thằng gà mái!”. Nghe anh thư ký đọc công văn, anh lẩm bẩm, rồi giật lấy tờ công văn vò nát. Nghe nói đến chính trị viên là người anh mất hết bình tĩnh. Nhưng lần đầu gặp Phát, anh thấy có cảm tình. Đứng trước hàng quân, khi được giới thiệu, Phát có một cái vẻ oai vệ của nhà quân sự. Người Phát to khỏe, gương mặt hơi dài, cằm to, trán rộng và nước da bánh mật. Gương mặt anh vừa có vẻ gan dạ, vừa có vẻ thông minh. Cái dáng vẻ của anh không mảnh khảnh, không thư sinh, không có gì quá khác lạ với những anh lính. Nhất là cặp mắt của Phát, cặp mắt sáng và đôi chân mày đậm. Phát đội nón cối hơi nghiêng, vừa oai, vừa có vẻ ngang tàng. Người nhỏ tuổi, nhưng không có cái vẻ trẻ con. Bảy Thâm vốn thích cái kiểu người như vậy. Đứng trước hàng quân. Phát lướt nhìn anh em, cặp mắt sáng lấp lánh, không có chút rụt rè, mặt anh đanh lại, anh không nói với cái giọng diễn thuyết dài dòng. Nhìn lướt quân ngũ một lúc, Phát nói:

- Tôi được cấp trên điều về đây làm chính trị viên. - Giọng của anh nghiêm nghị - Tôi biết, đây là một đơn vị có một người chỉ huy dũng cảm, các đồng chí đã chiến đấu rất dũng cảm. Tôi cũng là con nhà quân sự, tôi không thích nói nhiều. Trong “trận mạc”, rồi chúng ta sẽ hiểu biết nhau nhiều hơn!... - Phát đưa tay chào theo kiểu quân sự, rồi ngước nhìn hàng quân với một vẻ thách thức.

Trong hàng quân, bỗng nổi lên một tràng vỗ tay. “Đây là một đơn vị có một người chỉ huy dũng cảm” - Bảy Thâm sung sướng quá, anh cũng vỗ tay. “Thằng cha này nói nghe được!”. Anh tự nghĩ và thấy có cảm tình ngay với người chính trị viên mới. Anh muốn chạy ra, ôm chầm lấy Phát, nhưng anh kịp kìm lại, anh còn muốn giữ gìn, còn muốn thử thách người chính trị viên trong “trận mạc”. Sau đó không bao lâu, anh đã có dịp hiểu được người chính trị viên mới. Lần ấy, đơn vị anh bị một trung đoàn của quân đội viễn chinh Pháp bao vây. Trên máy bay, dưới xe tăng và trên sông thì tàu chiến. Phải mở đường máu. Đơn vị vừa phá được vòng vây thì anh thiện xạ trung liên bị tử thương và anh thì bị một viên đạn xuyên qua bụng. Vốn anh là người can đảm, anh xé áo buộc vết thương, giữ lấy trung liên, nã vào quân địch. Lúc ấy, Phát vừa đến. Phát giằng lấy cây trung liên và bảo:

- Anh cho đơn vị rút lui đi anh Bảy!

- Tại sao tôi lại phải rút lui? - Anh thoáng nghĩ là Phát xem thường lòng quả cảm của anh. Anh quát lên.

- Anh bị thương rồi! Anh phải đưa đơn vị đi. Để lại đây cho tôi một tiểu đội. Nhanh lên. - Phát cũng quát vào mặt anh. Phát giằng lấy súng, gọi một anh lính, ra lệnh:

- Đồng chí có nhiệm vụ phải bảo vệ anh Bảy cho đến cùng! Nghe chưa?

Bảy Thâm nghe vết thương nhói lên, người muốn lả đi. Nghe Phát ra lệnh cho anh lính phải bảo vệ mình, anh xúc động, muốn ứa nước mắt.
Phát một mình một cây trung liên với một tiểu đội, đã chặn được bước tiến của kẻ địch và yểm hộ được an toàn cho đơn vị rút lui về đến vị trí. Bảy Thâm nằm bệnh viện mất một tháng. Anh vừa mến phục vừa ganh tị với Phát. Anh sợ Phát chiếm mất ảnh hưởng của anh. Anh luôn luôn dò xét và giữ gìn. Nhưng Phát không hề tỏ ra thái độ gì có vẻ tranh giành ảnh hưởng với anh. Đến một nơi nào, cần nói chuyện với nhân dân, Phát cũng nhường cho anh. Phát không như người chính trị viên cũ, ngoài mặt trận thì rúc đầu dưới hầm, về đến vị trí an toàn thì lúc nào cũng tổ chức mét tinh và đứng lên diễn thuyết. Phát luôn luôn tỏ ra nâng niu uy tín của anh. Những lần học chính trị, Phát không bắt anh phải ngồi nghe. Nếu anh em có hỏi thì Phát bảo: “Anh Bảy bận nhiều việc!” Thấy anh em dựa vào thế lực của anh mà bỏ học thì Phát đến tìm anh và bảo: “Anh em bữa nay bỏ học chính trị nhiều quá. - Phát nói với giọng như báo cáo với một cấp trên, anh rất hài lòng và sẵn sàng nghe - Anh em bảo là chỉ huy sao thì lính vậy, tôi nói là anh bận việc, nhưng anh em vẫn không chịu nghe. Nay mai nếu có rỗi, anh nên có mặt để động viên anh em”. - Có mặt để “động viên” anh em? Bảy Thâm thấy hài lòng cái tiếng “động viên” ấy. Ngồi để động viên anh em, đó cũng là nhiệm vụ của người chỉ huy. Anh tự nghĩ một cách sung sướng. Mấy lần ngồi để “động viên”, có dịp hiểu thêm những điều mới lạ. Nghe Phát đặt một số câu hỏi, tự anh, anh thấy không thể trả lời được. Anh em lính thì đáp lại một cách rõ ràng, anh giật mình, vừa xấu hổ vừa lo lo. Sau buổi học, Phát thường bảo anh em: “Có gì không hiểu, các đồng chí cứ đến hỏi ban chỉ huy hoặc hỏi tôi, hoặc hỏi anh Bảy, hoặc hỏi đồng chí Sanh”. Bảy Thâm vừa sung sướng vừa lo sợ. Nếu lỡ như anh em hỏi mình một câu gì đó thì sao? Vì cần giữ uy tín, anh bắt đầu muốn học. Lần học nào, anh cũng có mặt để “động viên”, rồi dần dần, anh thấy ham học. Thâm tâm anh, anh không coi Phát là chính trị viên, anh coi Phát như Sanh người trung đội phó trung thành của anh. Càng ngày, anh càng yêu mến Phát, có khi, anh coi Phát như một người anh, có khi, anh coi Phát như một người em và Phát là cánh tay phải của anh. Nhưng, từ ngày một số tín đồ Hòa Hảo nổi dậy, đi theo giặc, chống lại cách mạng, thì hai người luôn luôn xảy ra những cuộc tranh luận sôi nổi, xung đột đến đỏ mặt, đập bàn, đập ghế, và cuối cùng không ai chịu ai. Nhìn những hành động của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo, hai người có hai ý nghĩ khác nhau. Có một lần, Phát đã nói với anh:

- Đồng bào Hòa Hảo, đa số là bà con nông dân yêu nước, nhưng vì mê tín, nên họ bị lợi dụng, họ bị lầm lạc. Mình không nên thù hằn họ, họ theo giặc nhưng họ không giống như những tên Việt gian khác, mình phải kiên trì lôi kéo họ!

Trước mắt Bảy Thâm, những người tín đồ Phật giáo Hòa Hảo là những con người đáng căm hờn, đáng khinh bỉ và đáng ghét. Họ là đám người bán nước, họ là những con người lố bịch ăn mặc theo lối phường tuồng, họ là kẻ giết người một cách man rợ, họ giết người bằng gươm dao, giết người không gớm tay. Bao nhiêu cái xác hãy còn trôi nổi dưới sông. Bao nhiêu con người bồng bế nhau, dắt díu nhau, bỏ nhà bỏ cửa ra đi. Những cảnh tượng đau đớn ấy cứ ám ảnh anh như cái bóng đen. Cho nên, khi nghe Phát nói những lời đó, thì tay anh thấy ngứa. Anh đập bàn, anh đưa tay nắm chặt bá súng lắc run lên và lồng ngực anh như bốc cháy. Anh hét lên. Anh nói theo cái kiểu thấy sao nói vậy:

- Tụi nó đi theo giặc, giết không biết bao nhiêu đồng chí mà anh còn dám nói nó là yêu nước à? Anh bảo là không được quyền thù hằn nó à? Anh là thằng gì mà dám nói như vậy, hả? Thằng nào đi theo Tây, thằng đó là Việt gian, tôi thì bắn nát óc, tôi tru di tam tộc nó, tôi bắn không còn một con đỏ! Anh không muốn đánh họ, anh đừng có ở bộ đội của tôi nữa. Anh đi mà nói chánh trị với bọn nó. Anh không có ai bị nó giết, anh biết gì là căm thù?

Phát bối rối vì không tìm được lời để thuyết phục, Phát cũng nổi nóng, nhưng anh cố ghìm lại. Phát nhìn anh với cặp mắt sắc và lạnh lùng, hỏi lại:

- Thế còn anh? Anh cũng như tôi, gia đình anh có ai bị giết đâu?

Bảy Thâm giận tím cả mặt, đưa tay vỗ vào ngực:

- Nhưng tôi là người yêu nước! Tôi căm thù những thằng bán nước!

Phát biết mình hỏi sai, nhưng anh cũng cứ cãi lại:

- Thế còn tôi, tôi không phải là người yêu nước à?

- Điều đó tôi còn phải coi lại.

Phát mỉm cười. Thế là hai người tìm cách bỏ đi, không ai thuyết phục ai và cả hai đều khổ tâm.

Những sự xung đột như vậy, không chỉ xảy ra lúc nghỉ quân, mà xảy ra ngay cả lúc chiến đấu. Trong chiến đấu, Bảy Thâm khi thì ra lệnh, khi thì cho phép, khi thì làm ngơ cho anh em mặc tình hành động: đốt nhà, bắn bừa và đập đổ bàn thờ. Còn Phát, khi thì ra lệnh cấm, khi thì can ngăn, khi thì khuyên lơn anh em. Và trong chiến đấu, nếu gặp phải lực lượng quần chúng nhân dân thì anh đề nghị rút lui.
- Bộ đội của Bảy Thâm mà rút lui à? Anh nào nhát gan thì cứ bỏ súng lại đây, rút đi!

Không cưỡng được mệnh lệnh của anh, Phát ngầm bảo anh em bắn chỉ thiên và chỉ chiến đấu thực sự khi cần phải tự vệ. Dần dần, đơn vị của Bảy Thâm như chia ra làm hai: một bên theo Bảy Thâm, một bên theo Phát. Số người của Phát ít hơn, nhưng hầu hết là đảng viên. Bảy Thâm thấy rõ tình trạng đó. Bao nhiêu thiện cảm của anh đối với Phát đều tan biến đi. Nhiều lần, anh cũng muốn Phát xin chuyển về một đơn vị khác như người chính trị viên cũ. Nhưng Phát lại là một anh chàng gan lì và quần chúng của anh mỗi ngày mỗi thêm đông. Bảy Thâm thấy rõ cái tình trạng đổ vỡ đã sắp đến nơi rồi. Anh bực dọc, hằn học, nhưng không làm gì được. Có lần, anh đã nói thẳng với Phát:

- Bây giờ, chúng ta chia bộ đội ra làm hai đi! Cứ tập họp bộ đội lại, hỏi người nào theo anh thì đứng ra bên trái, người nào theo Bảy Thâm thì đứng qua bên phải. Rồi của ai người ấy chỉ huy.

Phát cười:

- Tại sao lại chia ra làm đôi. Bộ đội này là của anh, anh là người chỉ huy. Anh phải chỉ huy anh em chứ?

- Tôi là chỉ huy, nhưng tại sao anh em không tuân theo mạng lệnh của tôi, hả?

- Đó là nhiệm vụ của anh, anh phải thuyết phục anh em!

Bảy Thâm nổi nóng, hét to:

- Thuyết phục? Gặp giặc thì phải đánh, còn thuyết phục cái gì nữa?

- Những lần như vậy là anh em thấy những người ấy không phải là giặc, mà là đồng bào của mình.

- Không phải giặc thì cái gì hả?

Thế là hai người lại to tiếng với nhau. Và cuối cùng không ai thuyết phục được ai, hai người lại tìm cách bỏ đi. Tình trạng ấy cứ kéo dài. Nội bộ ban chỉ huy mất đoàn kết, anh em cũng mất đoàn kết. Cả hai đều muốn kết đơn vị lại thành một khối, nhưng cả hai đều hành động theo ý nghĩ riêng của mình. Cái kẽ hở của đơn vị mỗi ngày mỗi to ra.

Trong ngày hôm nay, khi nghe tin Sáu Sỏi bị bắt và sắp bị giết, Bảy Thâm vừa thấy tội nghiệp cho Phát, vừa thấy đó là một dịp để đánh gục cái tư tưởng của Phát. Thử xem, nó sẽ nghĩ về những thằng Hòa Hảo Việt gian ấy như thế nào? Có giỏi thì nói chính trị nữa đi?

Nhìn cái vẻ băn khoăn của Phát, Bảy Thâm không giấu được nụ cười.

Phát đang đi đi lại lại, nghe tiếng đàn, anh quay lại. Anh thấy rõ cái nụ cười ác độc của Bảy Thâm. Trong đơn vị, anh thuộc tâm tính từng người một. Anh hiểu Bảy Thâm đang nghĩ gì về mình. Anh thấy khổ tâm.

Mẹ mất sớm, cha đi hoạt động cách mạng, sớm lập thân, vì miếng cơm manh áo, trải qua nhiều nỗi lao đao và được dịp nghe những câu chuyện của những nhà cách mạng, anh sớm hiểu được đời sống của nhiều người. Anh nhớ mãi một cuộc chiến đấu. Một buổi sáng, đơn vị anh dừng lại một xóm nhà bên dòng sông nhỏ. Nhân dân Hòa Hảo nghe bộ đội đến, họ đã tản đi hết rồi. Phát đã qua những xóm nhà vừa xảy ra những cuộc chiến đấu hoặc những cuộc ruồng bố của địch, những ngôi nhà bị cháy, khói còn ngui ngút, một bãi tro đen, những cột kèo bị cháy đứng chơ vơ, tàng cây bị úa, thân cây nằm vắt qua đường, một cái xác chết, một vũng máu còn tanh, mùi thuốc súng còn khét, nhưng anh không bị xúc động bằng cái cảnh hoang của xóm này. Nhà của họ vẫn còn đấy, những ngôi nhà nhỏ nằm nấp dưới bóng cây. Cái sân nhà sạch bóng, điểm một vài chiếc lá vừa rơi. Con đường đất chạy xuyên qua xóm cũng sạch bóng, một đôi chỗ hãy còn dấu vết của đường chổi vừa mới quét và hoa lá vừa rơi rụng. Những tàng cây vô tư lự, xòe lá đón mặt trời. Trong ánh nắng rực rỡ của ban mai, cái cảnh hoang vắng của xóm nhà càng hiện rõ lên. Nhà vắng, đường vắng, dòng sông lạnh và đồng không. Không nghe một tiếng gà, không nghe một tiếng chó. Tất cả đều im lìm. Chỉ còn có khói hương trên những bàn thông thiên trước sân nhà là hãy còn nghi ngút, rồi cũng phảng phất và mất, những cái tàn uốn cong lại. Họ mới vừa đi đấy thôi. Và trước khi đi, họ hãy còn van vái.

Một cảm giác lạnh lẽo và kỳ lạ xâm chiếm lấy tâm hồn anh. Anh thấy mình như đi vào một cái bẫy, anh vừa thấy sợ vừa chua xót. Anh em lính cũng chẳng nói với nhau một điều gì, họ đi nhẹ bước nhưng gấp rút và lặng lẽ.

Dưới bến không một chiếc xuồng. Đơn vị dừng lại dưới bãi, đang tìm cách qua sông thì, bỗng có tiếng tù và rú dài lên, và một tiếng súng nổ, “bốc bùm”, và cũng chỉ một tiếng súng thôi, cảnh vật lại vắng lặng và nặng nề hơn. Anh em đều biết đó là tiếng súng của tín đồ Hòa Hảo. Một tiếng súng nổ rồi im, Phát thấy sợ hơn là những loạt súng điên cuồng của quân đội Pháp. Một tiếng nổ rồi im. Sự im lặng ấy sẽ xảy ra điều gì, và từ đâu đến? Xương sống anh rợn lên. Sau đó một lúc, thì bất thần, tiếng gào thét bỗng dậy lên từ cánh đồng. Đơn vị liền tản ra chiếm lấy những bờ mương. Ngoài cánh đồng, từ xa, một làn sóng người đang chen chúc nhau tràn đến. Gươm, giáo trên tay họ sáng lấp loáng. Họ mặc quần áo màu già và phất một lá cờ già. Đàn ông, đàn bà, nam, nữ, ông già và trẻ con đều có. Họ là nhân dân. Họ không có súng. - Chắc là họ chỉ có một cây súng và một viên đạn thôi.

- Bắn chỉ thiên. - Phát ra lệnh cho những tiểu đội ở gần anh.

- Bắn chỉ thiên. - Bảy Thâm cũng ra lệnh cho những tiểu đội ở gần anh.

Cùng một mệnh lệnh nhưng hai ý nghĩ khác nhau. Phát không muốn bắn vào họ. Còn Bảy Thâm, anh muốn để họ đến gần, cho vừa tầm súng, rồi quét họ ngã hàng loạt.

Nghe tiếng súng, cái lớp người ấy không tan ra, mà lại hùng hổ hơn. Họ gào thét to hơn và tràn đến như một cơn dông, mỗi lúc một gần. Không thể để cho đến gần. Tất cả họng súng đều hạ xuống ngay tầm ngực của họ. Một lớp bị ngã. Lớp sau xô nhau tràn đến. Cuối cùng, tất cả đều rút chạy hết chỉ còn một người thanh niên tay cầm ngọn kiếm cứ hăm hở lăn vào tiếng súng như lân mừng tiếng pháo.

- Đừng bắn! Bắt sống lóc thịt nó! - Có một anh hét lên.

Nhưng người con trai ấy vừa đến trước mắt Phát, nhỏm dậy, vung ngọn kiếm thì có một tiếng nổ. Người con trai đầu chít khăn xanh có thêu hai chữ H ấy lảo đảo, buông rơi ngọn kiếm, một tay bịt lấy vết thương trổ qua tim, một tay xòe ra đưa lên ngang ngực như lúc niệm Phật. Miệng anh lẩm bẩm, giọng run run “Nam mô a di đà Phật!” Anh nằm xuôi xuống, rồi bỗng như chợt nhớ một điều gì cần phải làm trước khi chết, anh cố vùng dậy, nhưng người chỉ uốn cong lên, một tay cất lên run lẩy bẩy, phều phào trong tiếng rên: “Việt Nam - độc lập - vạn tuế!” Anh nằm xuống, buông xuôi, bất động và mặt tái xanh. Ánh nắng rực lên cái xác của anh, những ngọn cỏ dài cúi rạp, lất phất qua gương mặt non trẻ của anh. Nhìn cái chết ấy, Phát đau nhói cả ruột gan và rủn cả người. Đôi mắt anh nóng ran và mờ đi. Anh muốn cúi xuống, ôm lấy cái xác người thanh niên Hòa Hảo ấy, muốn lay anh tỉnh dậy và muốn nói: “Anh đã lầm rồi!” Họ chết cho kẻ thù, mà họ cứ tưởng là họ chết vì đạo vì Tổ quốc!

Nhớ cái chết của người thanh niên ấy, anh cứ nghĩ đến những ngày đen tối của dân làng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #13 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2024, 10:12:16 am »

X


Những ngày đen tối ấy là những ngày cuối năm 1944 đến giữa năm 1945.

Hễ qua một tin đồn, qua một tai nạn xảy ra, thì người làng lại rủ nhau vào đạo. Ngày thường, ô tô Sài Gòn Nam Vang cặp bến một ngày một lần. Sau khi Sài Gòn bị máy bay Huê Kỳ bỏ bom, ô tô từ Sài Gòn chạy về mỗi ngày mươi chuyến, hai mươi chuyến. Tàu cặp bến một ngày hai ba chuyến. Tiếng còi tàu rúc lên nghe như tiếng thét báo động. Tàu cũng như xe, chuyến nào cũng chật ních những gia đình tản cư. Xe ngựa đưa các gia đình chạy loạn ấy về các xóm, xe trước xe sau cứ nườm nượp. Những người đánh xe không biết vì muốn tranh nhau đi nhiều chuyến hay vì bị sợ lây mà họ mất tất cả bình tĩnh. Họ không ngồi trên nệm mà giữ cương nữa. Người đánh xe nào cũng đứng lên, tay lúc nào cũng vung roi quất “rong róc”, rồi bóp kèn, thét ngựa phi nhanh đòi vượt qua xe trước. Tiếng vó ngựa không còn giữ được nhịp điệu giòn giã êm tai nữa. Vó ngựa nghe như loạn, mặt đường lúc nào cũng bốc bụi mịt mù. Thấy những chuyến xe ấy, người ta có cảm tưởng như chiến tranh đang đuổi theo họ và đã sắp đến nơi rồi. Những gia đình chạy loạn ấy, họ mang về cho người làng tất cả tai nạn của chiến tranh trong cách đi cách đứng, cách nói năng và những câu chuyện của họ. Lúc nào và gặp ai họ cũng kể lại cảnh bị bom của Sài Gòn. Họ kể: Ngày ấy, tiếng máy bay rền cả trời đất. Còi báo động nghe như xé tai, xé óc. Tiếng bom như tiếng sấm. Đất rung rinh. Nhà lắc qua lắc lại như đưa võng. Nhà nào không sập thì kiến cũng rạn nứt hết. Những cây me hai bên đường to bằng hai người ôm bị mảnh bom cắt ra làm đôi. Mảnh bom cắt thân cây không bị bựa một tí nào, mặt gỗ bị chém đứt láng trơn như bào vậy - Cây cối còn bị chém đứt như vậy, đầu của con người thì còn ra cái gì nữa? - Người đứng nghe chêm vào một câu, tắc lưỡi và thở dài - Còn người thì bị chết một cách kinh khủng: người bị nhà đè lòi cả ruột gan, người bị chia làm hai ba khúc, người bị tan ra, tay chân bị văng ra móc tòn teng trên các ngọn cây và rơi xuống từng giọt máu trên mặt đường. Mỗi lúc có còi báo động, người ta đạp lên nhau mà chạy, ô tô phóng trên mặt đường như tên, chẹt ai cũng chẳng biết. Sau mỗi lần báo động, người ta bảo nhau đi tìm trẻ con bị đạp chết...

- Bây giờ, ở Sài Gòn, tất cả các vườn hoa đều đào hầm núp. Người nào có bà con gốc gác ở lục tỉnh thì kêu bán nhà bán cửa, bán đồ đạc, bán đổ bán tháo - Cái tủ bằng gỗ giá bán hai trăm bấy giờ chỉ bán hai mươi đồng - để thu vén chạy về quê. Bọn lưu manh thừa nước đục thả câu. Vé tàu vé xe về lục tỉnh phải mua lậu, mỗi vé đắt gấp ba gấp bảy ngày thường. Bọn lưu manh thừa cơ ấy, giả làm nghề đi xách mướn, va li vừa trao tay cho chúng là chúng biến mất. Có người vừa khóc vừa trở lại cái nhà trống trải của mình chờ bom nổ để chết cho rồi! Cũng bọn lưu manh ấy, chúng kéo vào các tiệm ăn, cứ ngồi ăn mãi, ăn “giò chéo quảy xí mại”, xong rồi lại ăn bánh bao, ăn bánh bao xong lại uống cà phê sữa, uống cà phê sữa xong rồi lại uống chè tàu ăn bánh ngọt, chúng ngồi mãi, đợi có còi báo động là đá bàn, đá ghế chạy mất, chẳng phải trả tiền - Đúng là cảnh ly loạn thật! Người nghe lại chêm vào một câu và lại thở dài... Và không biết bao nhiêu chuyện đáng sợ khác nữa. Cũng trong lúc ấy, tin đói của miền Bắc lại tràn vào. Chỉ nghe chứ chẳng ai thấy, những người xầm xì kể cho nhau nghe như là người ở Bắc mới chạy đói về làng vậy. Người ta kể: một bà mẹ kiệt sức ngã ra chết một bên đường, miệng còn ngậm cỏ đã héo khô, quần áo rách như xơ mướp, người dẹp xuống như con khô mực, bao nhiêu khớp xương trong người đều nhô ra, hai gò má nhọn như hai cái bánh ú. Kiến khoét cả hai mắt. Đứa con không biết mẹ mình đã chết cứ bò quanh theo xác mẹ đòi bú. Đàn kiến ở trong hai hố mắt của người mẹ bị động, bò ra khắp người đứa bé. Đứa bé như mặc một chiếc áo màu vàng. Đứa bé bị kiến cắn, da thịt rúm lại, rồi ngã lăn ra bên xác mẹ... Người ta bảo bọn Nhật lấy lúa đem đốt thay cho than đá. Người ngoài Bắc chết như rạ, thây người nằm chật đường.

Trong những nhóm dụm ba dụm bảy, kể cho nhau nghe những chuyện ấy, thỉnh thoảng có một người thở dài và kêu lên những tiếng than:

- Quả là sắp đến ngày tận thế rồi!

Và những người có đạo lại lim dim mắt, đọc chen vào một vài đoạn kinh thơ:

Trong lục tỉnh nghe rền tiếng nổ
Khắp thị thiền không chỗ nào yên
Sài Gòn tiếng nổ đầu tiên
Làm cho các tỉnh ngả nghiêng tan tành...


Người chạy loạn từ Sài Gòn về mỗi ngày một đông, câu chuyện về những tai nạn của chiến tranh của nạn đói càng ngày càng nhiều. Giá gạo, giá củi cũng như thịt cá rau cải ở thị trường mỗi ngày mỗi tăng cao. Ruộng bị bỏ hoang, đời sống của tá điền càng ngày càng eo hẹp, cái gì còn lại trong nhà cũng đem ra bán. Nhiều tá điền mang một ít vàng của ông bà để lại đem ra chợ bán, lấy tiền, bơi xuồng qua những làng bên Tháp Mười mua về một ít lúa - Người làm ruộng bây giờ lại phải đi mua lúa!

Có một đêm Phát gặp Hằng dưới gốc cây vông, Hằng nắm lấy tay Phát bảo:

- Anh sờ vào tai em thử xem!

- Gì đấy em?

- Đôi bông 1 của em bán rồi!

Và Hằng khe khẽ lắc đầu rồi ngả đầu vào ngực anh, hình như muốn khóc. Phát vuốt mái tóc Hằng, an ủi:

- Thôi em đừng buồn. Đến đám cưới, anh sẽ bảo bác Hai làm cho em một đôi đẹp hơn.

Hằng lắc đầu:

- Không phải em muốn nói với anh như vậy đâu. Nhà không còn gì nữa. Em sợ nhà em rồi sẽ đói!

- Không đói đâu.

- Sao anh biết?

Phát chẳng biết nói sao, chỉ biết lo buồn và đứng im.

- Nếu nhà em bị đói, em sẽ ốm 2, tóc của em sẽ bị rụng, tóc của em không dài nữa, em sẽ... anh có còn thương em nữa không, hở anh?

Hằng không nói được những tiếng bị nghẹn, nhưng Phát hiểu Hằng muốn nói rằng mình sẽ xấu đi, lòng anh nao nao, anh thấy thương Hằng quá. Anh cúi hôn nhẹ lên mái tóc Hằng:

- Anh lại càng thương em nhiều hơn chứ!

- Có thật không anh? Nếu mà như thế thì em không cho anh thấy mặt nữa đâu!

- Em đừng sợ! Không đói đâu.

- Vì sao anh biết?

- Rồi em sẽ thấy.

- Thật hở anh?

- Thật!

Hằng liền ngửa mặt, nhìn vào đôi mắt của Phát. Phát thấy rõ ánh sáng từ đôi mắt u buồn của Hằng lóe ra lấp lánh. Anh không thể quên được cái nhìn hy vọng ấy của Hằng...

Những ngày ấy, đời sống của dân làng mỗi lúc mỗi nghèo. Trước đấy, đêm đêm, những nhà giàu thắp đèn “măng sông”, nhà kém hơn thì thắp đèn khí đá, còn tất cả thì thắp bằng đèn dầu lửa: đèn hoa kỳ, đèn trứng vịt. Lúc ấy, dầu lửa, khí đá không còn. Đêm, người ta thắp đèn bằng mỡ heo. Đèn là một cái chén hoặc một đĩa bể, đựng một ít mỡ và tim đèn là một sợi giẻ rách được xe lại. Ngọn đèn nhỏ như hạt đậu leo lét mập mờ. Ánh sáng của ngọn đèn như ánh sáng của cuộc đời vậy(!) chẳng biết tắt vào lúc nào!

Số phận của con người bị thay đổi như lật bàn tay. Kẻ giàu người nghèo, kẻ được trọng người bị khinh hầu như bị lật ngược lại. Ở chợ có ông Hai Song, một mình mà làm không biết bao nhiêu thứ chủ: chủ xưởng sửa chữa ô tô xe đạp, chủ tiệm cầm đồ, chủ tiệm may, chủ chợ... Ông là một trong những người nổi bật nhất trong làng. Người ông to lớn, đầu hớt trọc, bụng to. Có lẽ vì bụng ông to quá, nên ông ít khi mặc quần, ông thường vận chiếc xà rông tơ và có lẽ vì béo quá, mỡ nhiều, ông cũng ít khi mặc áo, ông chỉ mặc một thứ áo lót ba lỗ thôi. Ngang hông ông thắt sợi thắt lưng da mỏng và đeo một xâu chìa khóa, ông đi đến đâu, chùm chìa khóa kêu xủng xẻng đến đấy. Người lôi thôi như vậy, nhưng ông đi đến đâu người ta chào đến đấy: “Ông Hai, chú Hai, cậu Hai, bác Hai”. Trong làng có đình đám gì, các vị trong hội tề cũng đều nài nỉ ông đến dự. Ông ngồi đâu, nổi bật lên đến đó, to béo và thù lù như ông địa. Người xuềnh xoàng vậy, chẳng những giàu mà lại học cao nữa. Người làng bảo ông ta nói tiếng Tây nghe như chim chìa vôi. “Cò mi” ở làng và quan quận Ghiđi người Tây mà nói tiếng Tây không đúng “luật lệ” bằng ông ta. Thật ra thì ông ta chỉ nói tiếng bồi thôi. Đồng tiền đã làm sáng thêm cái tài học của ông! Ông ta có hai vợ, hai dòng con. Mỗi vợ ở một nơi. Vợ lớn ở phố, vợ nhỏ ở ngoại ô. Hai bà vợ và hai dòng con của ông ta sống với nhau rất êm ấm. Hai dòng con của ông ta, trên dưới mười hai người, năm trai bảy gái. Các cô gái cô nào cũng diêm dúa, vòng vàng nữ trang lúc nào cũng đỏ cổ đỏ tay, nay kiểu này, mai kiểu khác, Sài Gòn có kiểu nào, các cô có kiểu ấy. Đi đâu, người ta cũng thấy các cô, không cô này thì cô nọ. Con của ông ta cô nào cũng xảnh xẹ. Còn các cậu con, đứa đi học ở tỉnh, đứa đi học ở Sài Gòn. Mùa hè, ông cho xe đến tận các trường đón con về. Các cậu về làng thôi thì phải biết. Cách sống của các cậu thật khác thường. Các cậu đi câu cá bằng ô tô mui vải. Các cậu hát nhạc Tây. Ban đêm quay đĩa hát Tây, các cậu ôm lấy các em gái mà nhảy đến giữa khuya. Người ta hơi ngờ con trai con bà lớn “tò tí” với con gái con bà nhỏ. Và các cậu đi phá gái làng.

Người ta chẳng hiểu ông ta bị phá sản vào lúc nào.

Đến những ngày ấy người ta chỉ thấy các cửa tiệm, cửa xưởng của ông đều đóng cửa. Xưởng sửa chữa của ông chỉ còn là căn phố trống. Ông kêu bán từng thanh sắt. Ngôi nhà sàn của bà vợ nhỏ ở ngoại ô, ông cũng kêu bán, cả hai bà vợ về ở chung. Chủ chợ ông nhường cho anh Bảy Chà và đen. Bảy cô con gái ông ta bán vòng bán vàng đi lúc nào chẳng ai biết, cả bảy cô đều xoay ra nghề bán bánh kiếm ăn. Cô bán bánh kẹp, cô bán bánh tầm, cô bán cháo, cô bán trái cây, cô nhỏ nhất thì bán thuốc lá. Mỗi cô ngồi một góc chợ, vừa đứng bán, vừa xấu hổ không dám mời mọc, không dám nhìn mặt người mua, khăn trùm kín cả mặt. Còn hai cô đẹp nhất, diêm dúa nhất, nghe nói đã đi làm tiền ở đất Sài Gòn. Các cậu con trai không hiểu đi đâu, chẳng thấy về. Có người bảo anh đi làm thư ký, anh đi đánh đàn cho người ta nhảy, anh đi dạy học ở trường tư, một anh không nghe tông tích, còn một anh thì lang thang chẳng biết làm gì. Hai bà vợ của ông ta cũng chẳng êm ấm với nhau nữa. Hai bà đã đánh nhau, xé tan cả áo của nhau, bà lớn xách guốc đuổi bà nhỏ chạy cùng các phố. Người ta cũng chẳng nghe thấy tiếng xủng xẻng của xâu chìa khóa ông ta nữa.

Suốt ngày ông ta ngồi ru rú trong nhà.

Một anh thợ, trước làm công cho ông ta, bây giờ lại phất lên. Anh thợ ấy đã mua lại chiếc ô tô mui vải của ông. Chiều chiều, anh thợ ấy, chở cả con cái chạy khắp cả làng, chạy đến đâu kèn bí bo tò te đến đấy. Cô gái ở trong nhà ông, người ta chẳng để ý cô bé ấy lớn lên vào lúc nào, trong những lúc ấy, người ta thấy cô bé Nhung ấy bỗng trở nên đẹp nhất làng. Những trai làng, trước đã mê các cô con của ông, bây giờ lại đâm mê người con gái ở của ông. Chuyện gia đình ông Hai Song làm xôn xao cả chợ cả làng. Trong làng, có một số nghèo đã bỏ đi, lúc ấy, khi trở về, mỗi người có mỗi kiểu phất khác nhau, ở chợ có một “lăng-ton” của nhà việc. Anh tên Dẫm, người không cao lắm nhưng gầy nên thấy cao lêu nghêu như sậy, lúc nào cũng mặc cái quần “soóc” ka ki vàng lốm đốm những miếng vá. Làm lăng ton, anh luôn luôn bị hội tề sai vặt, bị chửi bới và đánh đập. Làm nghề lăng ton không khá, không đủ nuôi vợ con, anh xin ra làm bồi cho nhà ngủ. Làm bồi cũng không khá, anh đâm ra ăn cắp, rồi bị bắt, bị đóng trăng. Mãn tù, anh bỏ đi đâu chẳng biết, khi trở về, anh mặc quần áo nhà binh Nhật, đội mũ Nhật, gươm đeo bên hông, kéo rà rà dưới mặt đường. Hội tề gặp anh cứ lấm lét. Có người thấy gươm anh, sợ quá, chắp tay chào. Như thế anh thấy chưa đủ, anh còn rút gươm ra rồi lắp gươm vào, hếch mặt, cười cười rồi lại lê gươm đi nơi khác. Anh trả thù lại họ bằng cách đi vay tiền. Anh vay bao nhiêu, họ đưa bấy nhiêu, chẳng dám nói một lời.

Lúc nào người ta cũng thấy anh mang gươm đi nghênh đi ngang ở giữa các đường.

Những chuyện ấy làm xôn xao cả chợ cả làng. Những người tín đồ Hòa Hảo lấy những chuyện đó để nói rằng: Đã sắp đến ngày đổi đời rồi, y như lời dạy của kinh sấm. Họ đọc ra những câu kinh sấm, dẫn chứng bằng những chuyện ấy.

Cuộc trần thế khuyên ai sớm ngắm,
Danh mà chi lợi lắm mà chi,
Bả công danh bọt nước có ra gì,
Mùi phú quý vừng mây tan hiệp...


Cùng trong lúc ấy, tín đồ Hòa Hảo lại đồn ra một tin: Ngày tận thế sắp đến rồi. Ngày ấy sẽ đến trong những ngày đầu năm 1945 này. Ngày ấy trời đất sẽ tối mịt mù, trời đất sẽ tối sầm lại trong ba ngày đêm liền. Trong cái đêm dài ấy, bọn quỷ sẽ đi bắt hồn những người ngoại đạo. Tin ấy, người ta nói đi nói lại mỗi ngày mỗi nhiều. Chuyện về những tai nạn của chiến tranh, của nạn đói mỗi ngày mỗi ít đi, người ta có nhắc đến là để lấy đó làm bằng chứng để chứng minh cho ngày tận thế. Ngoài chợ, ngoài đường, trong nhà, các tiệm ăn, bóng cây, bến xe, bến tàu, đâu đâu hễ chỗ nào có nhóm ba nhóm bảy là người ta nói với nhau về cái tin đồn ấy. Người ta nói với vẻ mặt lo lắng và sợ sệt. Tin ấy như một đám mây đen kéo đến, xâm chiếm tất cả tâm trí mọi người. Đôi mắt của dân làng trở nên tăm tối và u buồn. Và người ta lo chuẩn bị cho cái đêm dài ấy. Lão Ịnh, Quản Dõng và người trong đạo bảo nhau: “Đêm ấy, nhà không được có khói. Hễ có khói thì quỷ sẽ vào”. Thế là người ta bảo nhau làm lương khô. Người ta xay bột làm bánh tổ, phơi cơm và chen nhau mua cá làm khô. Người ta tranh nhau đi mượn cối xay, nếu không mượn được thì mướn. Những chiếc cối xay của những gia đình sống bằng nghề bánh tầm, bánh xèo, bánh khọt... không bao giờ được nghỉ, lúc nào cũng có người ra người vào, bột vây trắng cả áo quần. Trên các sân nhà, nhà nào cũng để phơi ngoài nắng một nia cơm, hoặc một nia cá, một quày bánh tô - Những con người ác nhất, sống không lương thiện thì bấy giờ lại rối rít nhất. Hình như ho biết tội lỗi của ho, nên họ sợ. Nhà Quản Dõng lúc nào cũng có người thay phiên nhau đến xay bột, làm bánh. Quản Dõng đưa bánh tổ lên xe ngựa, đem bố thí cho các gia đình nghèo.

Những người trước đây tỏ ra không mê tín, trong cái cảnh nhốn nháo xung quanh ấy, bây giờ cũng đâm ra lo lo. Họ không hẳn tin, nhưng rồi cũng phơi cơm và làm luôn bánh tổ như tất cả mọi người. Họ bảo khẽ với nhau: “Nếu không có gì thì cũng của mình, có mất đi đâu, nếu có thật thì cũng có mà ăn với người ta!

Những ngày ấy, Phát thấy đàn ông trong làng để tóc mỗi ngày mỗi nhiều, người mặc quần áo màu già mỗi ngày mỗi thêm đông. Người mặc áo trắng, áo hoa bỗng trở thành lạc lõng và xa lạ. Những ngày ấy, gia đình của Hằng đến Quản Dõng và lão Ịnh xin vào đạo, Hằng cũng vào đạo. Trước sự lo lắng của một tình thương mù quáng, anh không nỡ từ chối, nhưng anh cũng không muốn vào đạo. Do đó, anh đã bỏ nhà, bỏ xóm Đình, trở về chợ ở với người khác.

Tất cả sinh hoạt của cuộc sống bình thường đều bị ngưng lại.

Thợ cắt tóc bị thất nghiệp, có người xoay qua nghề làm tóc giả cho những người mới xin vào đạo mà muốn có ngay một mái tóc dài. Thợ mộc dẹp tất cả bàn ghế, lo đóng bàn thông thiên và trang thờ cho những người mới vừa quy y theo Phật. Những người trai tráng trong đạo tập hợp ở các sân học võ, dạy võ và dượt võ để chuẩn bị thành lập một đội quân của nhà Phật. Người ta cầm kiếm, đi ngựa, vác gậy, rủ nhau, kêu nhau nghễu nghến các ngả đường. Có những người thuộc đạo khác bấy giờ cũng đã bỏ đạo của mình mà theo đạo Hòa Hảo. Ông Tám Thế, thầy thuốc Nam, người bé nhỏ, mặt rỗ, trẻ con nghịch ngợm thường hay gọi trêu ông ta là ông Tám té thùng đinh. Ông vốn là tín đồ đạo Cao Đài, thờ một con mắt, lúc nào cũng mặc quần áo trắng, mũ trắng, cổ quấn khăn trắng và giầy cũng trắng - đấy là trang phục của đạo Cao Đài - Gặp ai, trong câu chuyện, bao giờ ông cũng nhắc đến Cường Để. Cường Để đang ẩn náu ở đất “Nhật Phù Tang”. Cường Để là bạn của Thiên hoàng. Quân Nhật sang Đông Dương là quân Cường Để đã mua của Thiên hoàng - Quân Nhật đánh đâu thắng đó, đánh như chẻ tre. Người Nhật là giống da vàng máu đỏ. Người Nhật là người khí khái, dám mổ bụng móc lấy ruột cho mọi người xem. Người Nhật là người có chí lớn. Người Nhật đi học ở các nước Tây, lấy được “âm mưu” làm máy móc của các nước ấy, vì không mang về nước nhà được, có người đã nuốt vào bụng rồi tự vận chết để cho Thiên hoàng mổ bụng lấy ra. Và còn bao nhiêu chuyện khác nữa của người Nhật, gặp ai ông cũng tuyên truyền cái thế lực của Nhật và kết luận: “Nhật sẽ đưa Cường Để về làm vua”. Ấy thế mà lúc bấy giờ ông lại bỏ đạo Cao Đài, xin theo đạo Hòa Hảo. Tấm trần một mắt ở giữa nhà, ông kéo xuống và thay lên đó một tấm trần điều. Hương trầm ông đốt nhiều hơn. Bao nhiêu quần áo trắng ông nhuộm lại màu già, ông nhuộm cả mũ và cả giày nữa. Đi đâu gặp ai, ông cũng bảo: “Có lẽ tôi lầm. Tôi theo đạo Cao Đài gần hết một đời người rồi, mà chẳng thấy gì, bây giờ tôi xin quy y theo đạo Hòa Hảo”. Chuyện ấy cũng làm xôn xao cả làng. Người ta thấy đạo Hòa Hảo như thiêng liêng hơn.

Cuộc sống mỗi ngày mỗi rối lên. Mỗi chuyến ô tô về, mỗi một chuyến tàu cặp bến, bao nhiêu người về chợ, về làng là bao nhiêu thứ tin tức, bao nhiêu chuyện tai nạn của chiến tranh, của nạn đói và đủ thứ lời bàn khác nhau. Người thì ca ngợi chiến thắng của Nga, của Đồng minh, người thì tung hô chiến thắng của Nhật Bổn, người lại bảo rồi đây sẽ xuất hiện một ngọn cờ mới, ngọn cờ của cách mạng, cụ Nguyễn Ái Quốc sẽ trở về, người lại bảo Nhật sẽ đưa Cường Để về làm vua, người lại nói: đền vua sau này sẽ mở ra ở núi Cấm.

Người làng chẳng biết nghe ai và tin ai. Những thứ tin tức, tin đồn và lời bàn ấy từ các nơi thổi về như một con trốt xoáy tròn lấy ý nghĩ và tình cảm của con người. Bảy Hĩ, một ông chủ tiệm buôn hàng tạp hóa, chẳng biết theo ai, bèn cho ba đứa con, mỗi đứa vào mỗi đảng, mỗi phái khác nhau. Đứa con lớn ông cho đi học tiếng Nhật, đứa kế ông cho theo đạo Hòa Hảo, đứa con thứ ba thì ông cho đi tìm đoàn thể bí mật. Còn bản thân ông, ông đứng giữa để mà nhìn “cuộc sống thế” như lời ông nói. Bên nào thắng ông cũng được phần.

Người ta đang xôn xao, rồi bỗng có một hôm cả làng đều nhốn nháo lên một tin đồn: ông đạo Cậy vừa đến làng. Ông đạo Cậy chính là người sẽ thành một con sấu khống lồ trong những ngày tối trời. Người ta bảo: sau ót ông đạo Cậy đã nổi thành vẩy rồi, giống y như vẩy sấu vậy. Ông đạo Cậy đang đứng ở bến xe. Thế là người làng rủ nhau, kéo nhau, kêu nhau, chạy ra bến xe tìm ông đạo Cậy. Người ta chạy bộ, người ta đi xe đạp, người ta đi xe ngựa, chen lấn nhau đổ ra bến xe.

Bến xe đông nghịt hàng mấy nghìn con người. Ra đến nơi, người ta không thấy ông đạo Cậy, người ta không thấy được con người sau ót có vẩy sấu. Người ta bảo: ông đạo Cậy mới vừa lên xe đi đấy thôi. Người ta bảo ông đạo Cậy đi xem lại các dòng sông. Trong số người nhốn nháo ấy như là có người mới vừa thấy ông ấy vậy. Người ta đồn, rồi người ta bàn và người ta tin theo những lời bàn của mình.

Sau đó người ta lại làm lương khô nhiều hơn.

Có những gia đình sợ quá, dỡ cả nhà cửa, bỏ làng, gồng gánh dắt díu nhau về đất Láng Linh, đất Hòa Hảo - đó là những làng được gọi là đất Phật - để được gần với Phật hơn. Người trong nhà thấy vậy, chạy theo họ, hỏi thăm đường đi đến đất Phật, rồi người ta tìm nhau bàn bạc xầm xì, người ta hỏi nhau về con đường sống, sống thế nào, đi đâu và làm gì?

Người ta không muốn sống trên mảnh đất này nữa. Người ta không thể nào ngồi yên đứng yên một chỗ. Đứng chỗ này một lúc, nói một vài câu về ngày tận thế, rồi bỏ đi đến một nhà khác hỏi một vài câu, rồi lại bỏ đi, đi lang thang, đi hấp tấp, tìm một nhóm ở đầu xóm, cuối xóm, bến xe, bến tàu, các tiệm nước, tiệm rượu... Người ta lúc nào cũng chộn rộn như là đứng trên mảnh đất lửa vậy.

Rồi cái ngày tận thế ấy đến.

Ngày hôm ấy, ngoài đường không một người, thỉnh thoảng mới có một chiếc xe chạy vụt qua đường. Đêm đến, trời chưa tối mà cả bàn thông thiên đều nghi ngút khói hương. Nhà im thin thít. Người ta không dám qua lại, không nói to, không dám gây ra tiếng động và cố dỗ cho trẻ con nằm im. Tiếng động chỉ còn tiếng sóng, tiếng gió và tiếng chó thỉnh thoảng tru lên ông ổng. Tất cả đều ngồi trong nhà và thu người lại. Nhà cửa cây lá như cũng muốn thu lại cho nhỏ hơn và gần nhau hơn.

Đêm ấy, Phát không tin, nhưng anh cứ thấy lo lo. Anh không dám ngủ, thỉnh thoảng lại hé cửa ra nhìn trời, trời vẫn cao, vẫn trong xanh và đầy sao nhưng mênh mông và vắng lạnh. Cứ trằn trọc mãi rồi anh cũng thiếp đi. Vì thức nhiều, nên anh ngủ quên. Khi tỉnh dậy, nhớ đấy là một đêm dài để đổi đời anh không dám choàng dậy. Trời đã trưa rồi mà anh chẳng biết. He hé mắt, anh thấy vệt nắng xuyên qua màn. Có nắng! Anh choàng dậy. Bao nhiêu nỗi lo lắng, liền tan đi. Và anh nhìn cái ánh nắng với một cảm giác ngỡ ngàng. Có nắng rồi! Anh kêu lên, báo cho mọi người biết cái tin mừng ấy. Anh vùng dậy, chạy ra ngoài. Nắng như ngập đầy cả mọi nơi. Nắng lấp lánh trên các chòm cây. Nắng lấp lánh trên dòng sông. Nắng vàng như mật. Chưa bao giờ, Phát và người làng yêu ánh sáng mặt trời đến như thế.

Hầu như tất cả người làng đều đứng ra sân phơi nắng, họ vừa mừng vừa ngơ ngác lạ lùng.

Tưởng rằng đấy là một cơ hội tốt để đánh thức những người mê tín. Nhưng không, liền trong buổi sáng hôm đó, người trong đạo lại đi khắp các nhà, các nơi, bàn luận lại cái tin đồn ấy. Họ bảo kinh sấm có dạy năm dậu là năm đổi đời, dậu này chưa đổi đời thì tức là năm dậu của con giáp sau. Tức là còn mười hai năm nữa. Họ bảo nhau như thế vừa để tự an ủi, để khỏi phải xấu hổ, vừa để củng cố niềm tin cho họ và mọi người. Còn mười hai năm nữa, mọi người còn có đủ thì giờ để ăn năn hối lỗi, còn thì giờ để rũ sạch bụi trần, còn thì giờ để hương khói, còn thì giờ đi tìm những dấu chân của Phật thầy... Ánh sáng của mặt trời không chiếu tan nổi đám mây đen trong tâm hồn họ...

Những ngày ấy, ôi! nếu anh không được gặp những người bạn của cha anh, thì cái năm tan tác đã qua - cái năm đã xảy ra nhiều tai họa, tai họa của ngày khởi nghĩa bị thất bại, tai họa của chiến tranh đang tràn đến, tai họa của cảnh đói đang hăm dọa, tai họa của cảnh chết vì nạn dịch, tai họa của những cảnh chia ly - thì biết đâu, trong cái đêm tối của đời sống, anh cũng đã bị những câu kinh buồn thảm ru ngủ anh, mê hoặc anh, đưa anh đi tìm một con đường sống ở cõi hư vô và số phận của anh cũng sẽ đáng thương như người thanh niên ấy. Những người bạn của cha anh, đều mang đến cho anh một ánh sáng, một ánh sáng nhỏ, nhưng không bao giờ bị tắt và ánh sáng ấy đã đưa anh đi. Anh là người may mắn hơn họ. Rồi anh chợt nhớ đến Hằng và những người cùng làng. Anh hiểu vì sao họ vào đạo, anh hiểu rõ từng cuộc đời, từng hoàn cảnh riêng của họ. Cái chết của người thanh niên ấy cứ ám ảnh anh. Biết đâu, rồi anh sẽ lại gặp Hằng, hình ảnh của Hằng và hình ảnh của người thanh niên ấy cứ cùng hiện trong một lúc, rồi lẫn lộn vào nhau, gây cho anh một mối lo sợ và nỗi đau đớn cứ giày vò anh. Hãy thương lấy họ. Hãy tha thứ cho những hành động mù quáng của họ. Hãy quay mũi súng về kẻ thù. Anh muốn nói những lời tha thiết ấy với mọi người, anh muốn van xin với tất cả mọi người. Hãy đến những người lầm lỗi ấy với một lòng yêu!

Có một số đảng viên đã nghe theo anh.

Nhưng, trong những cuộc xung đột đã xảy ra, anh em đồng chí chung quanh, ai ai cũng đều bị một vết đau. Có người, cả gia đình cha mẹ, vợ con và anh em đều bị giết, ít nhất là một trong những người thân thuộc bạn bè. Những cái xác chết vẫn còn trôi nổi trên dòng sông. Những đứa bé đầu chít khăn tang hãy còn thất thểu trên đường. Những người vợ góa chồng hãy còn vừa lau nước mắt vừa ôm con đi tản cư, những ngôi nhà hãy còn đang bốc cháy. Tất cả những hình ảnh ấy như đang kêu gọi những người còn sống hãy trả thù. Thế là càng ngày càng xảy ra những cuộc xung đột lớn. Những hành động trả thù mù quáng, những hành động không cộng sản đều được đổ dồn lên đầu những người cộng sản, và những người cộng sản phải mang lấy tất cả! Dòng máu căm thù của người chung quanh cứ cuồn cuộn như một dòng suối lũ. Anh và những người như anh đã cố hết sức dang tay cản lại, nhưng bất lực và yếu sức, nhiều lúc anh đã bị dòng suối lũ ấy cuốn đi.

Sáng nay, nghe tin cha anh bị bắt và sắp bị giết, anh bàng hoàng cả người. Trong anh em đã có tiếng xì xào: “Thử xem ông ấy có thù cái bọn Hòa Hảo không, cho biết!”. Cuộc đời của anh chỉ còn có cha, anh yêu cha, anh muốn cứu cha anh ra khỏi cái chết, nhưng anh vẫn giữ vững được tình cảm và ý nghĩ của anh đối với người Hòa Hảo. Anh thấy đau đớn và cay đắng hơn thù hằn họ. Đôi lúc anh không muốn tự mình đưa đơn vị về làng. Nếu cha anh có bề gì, anh sợ không kìm được lòng mình, anh không muốn người làng phải chết khi anh trở về. Huyện ủy, từ lâu vốn rất tin anh, nhưng lần này, các đồng chí cũng thấy ngại như anh. Nhưng không cách nào khác hơn. Các đơn vị khác đang ở xa, không thể nào về làng anh kịp trong đêm nay. Trước khi đơn vị rời khỏi chỗ đóng quân, đồng chí phó bí thư huyện ủy - bạn già của cha anh - đứng dưới bến, cầm tay anh rất lâu, với giọng ân cần, đồng chí đã dặn dò:

- Huyện ủy từ lâu rất tín nhiệm cháu, đây là một hoàn cảnh khó khăn, cũng là một lần thử thách, cháu nên cẩn thận.

Trong cái bàn tay siết chặt và giọng nói buồn buồn của đồng chí phó bí thư, tự dưng Phát bị xúc động mạnh và chẳng hiểu sao anh muốn khóc.

Trên đường hành quân, anh chỉ nghĩ đến người cha. Mọi lần, mỗi khi hành quân, được ngồi trên xuồng, đi đến đâu, anh cũng nhìn cảnh vật. Anh hay chú ý đến những mùa hoa, thường hay hỏi anh em những cây cỏ lạ mọc theo ven sông. Lần này, anh chẳng thấy gì hết. Hai bên ven sông, chỉ là một màu xanh. Anh chỉ ngồi im, mắt đăm đăm và thẫn thờ.

Phát vốn có cái tính bình tĩnh, đứng trước một việc gì, anh cũng đều suy xét thận trọng, kỹ lưỡng, anh đào sâu sự việc đến tận gốc, nhận định một việc gì, rất ít khi bị nhầm lẫn. Nhưng lần này, nhận định về số phận của cha anh, anh chẳng căn cứ vào một điều gì cả. Trong những ngày này, cái việc bắt giết những người kháng chiến đối với người Hòa Hảo là một việc thông thường, đã thành là một việc tất nhiên. Họ đã nêu khẩu hiệu: “Thà giết oan chứ không thả oan”. Phát như quên tất cả những điều đó. Anh vẫn tin là cha anh sẽ không thể chết được, hai cha con sẽ gặp lại nhau. Niềm tin của anh không căn cứ nhưng chắc chắn, không gì lay chuyển nổi. Không phải là anh không nghĩ. Nhưng mỗi khi chợt nghĩ đến điều không may sẽ xảy ra, anh liền dập tắt ngay, cố bảo vệ cho trọn vẹn cái niềm tin của mình.

Cha anh không thể nào chết được! Anh cứ nghĩ như thế và cố nghĩ như thế.

Phát mồ côi mẹ từ năm lên bốn. Mẹ anh chết sau một cơn đau bụng quằn quại - Bà nội anh kể lại như vậy. - Anh không thể nào nhớ được tình yêu của người mẹ. Mẹ anh mất đi, chẳng để lại cho anh một dấu vết gì, để từ đó, anh lần mò ra hình ảnh và tình yêu của mẹ. Tình yêu đối với mẹ, anh dồn tất cả cho người cha. Cha anh sớm giác ngộ cách mạng, ít khi ở nhà, lúc thì xách cái hòm cắt tóc, đi lang thang từ làng này sang làng khác, khi thì lẩn tránh hằng năm, khi thì bị tù đày. Lúc còn nhỏ, Phát thường ở với nhà người bà, được sự chăm sóc của bà. Người bác cho anh ăn học. Tuy xa cha, nhưng Phát biết rất rõ về cuộc đời của cha, Phát biết cả những câu chuyện của cha mình lúc hãy còn bé nữa kia! Năm lên chín, lên mười, đến lúc biết nghĩ, đêm đêm, bà thường kể cho anh nghe về cuộc đời của cha anh. Bà anh có sáu người con, nhưng chỉ nuôi được hai người. Giọng của bà nghe như kể chuyện thần thoại, Phát ngồi trọn trong lòng bà, lắng nghe từng tiếng một và hình ảnh của người cha cứ hiện ra trước mắt anh. Bà anh kể “- Hai anh em thật khác nhau. Người anh vui vẻ, hoạt bát và lanh lợi. Người em - cha anh - trầm lặng, ít nói, đôi mắt lúc nào cũng phảng phất một nỗi buồn. Lớn lên, người anh chọn nghề thợ bạc, một cái nghề dễ làm giàu. Người em không thích chọn nghề gì, tối ngày cắm cúi trên trang sách, những quyển sách cấm và đọc cho đến khi đèn cạn hết dầu. Đến năm phải đi kiếm ăn, chưa có nghề gì, người em đi thu thuế chợ cho một người bà con xa. Người em đã trở thành là người góp chợ thuê. Những buổi đi thu tiền, người góp chợ có để ý đến một cô gái bán bánh cam. Đó là cô gái người mảnh khảnh và hiền từ. Người góp chợ đòi bao nhiêu, cô trả bấy nhiêu, cô không hề giật nài, không cười cợt, không có lời đanh đá như những cô bán hàng khác. Cô gái ấy mồ côi từ bé, ở với người dì trong xóm ruộng. Người góp chợ đem thương cô gái mồ côi. Nhân lúc thu tiền, người góp chợ đã để rơi lại một lá thư. Lá thư là một tờ giấy trắng, không thấy một dòng chữ. Lá thư ấy viết bằng nước chanh. Đêm khuya, một mình ngồi chiên bánh, người con gái đem lá thơ giấy trắng ấy hơ lửa. Những dòng chữ từ từ nổi lên. Và hai người yêu nhau. Nhưng người dì của cô gái ấy không chịu gả, vì hai người cùng một họ Nguyễn, cùng một họ là người cùng một dòng máu, không lấy nhau được. Người góp chợ buồn quá, bỏ làng đi, rồi học lấy cái nghề cắt tóc. Người con gái mồ côi ấy không chịu lấy ai, cứ chờ mãi người góp chợ, nhưng không thấy người góp chợ trở về. Người con gái mồ côi ấy mỗi ngày mỗi héo hon, rồi định bỏ nhà đi tu. Người dì thấy vậy, liền cho người lên đánh tiếng với đàng trai. Người góp chợ thuê trở về với một cái hòm cắt tóc. Hai người thành vợ chồng. Hai người dựng lên một mái nhà nhỏ ở mé sông. Chồng đi cắt tóc, vợ bán bánh cam. Hai năm sau, hai vợ chồng ấy sanh được một đứa con trai, đặt tên là Phát. Đến năm đứa con lên bốn thì mẹ của đứa nhỏ qua đời. Người cha cứ ở vậy nuôi con. Nhưng người cha là người lo việc nước, lận đận lao đao, vào tù ra khám. Hai cha con không mấy lúc được gần nhau. Đứa bé phải ở lại với bà và làm khổ cho cái thân già!”.

Bà kể đến đây thì dừng lại, suỵt bảo im, rồi nghiêng tai nghe ngóng. Bà bỗng chồm dậy:

- Ai như là cha con về!

Phát chạy theo bà ra mở cửa. Nhưng bên ngoài trời vẫn tối. Tiếng động mà bà nghe là tiếng lá rơi trước sân nhà.

Bà anh đã chết rồi, nhưng anh vẫn nghe mãi cái giọng buồn buồn của bà.

Phát chịu đựng tất cả cái thiếu thốn của một đứa bé mồ côi. Rồi cha sẽ lại về thôi! Phát đã biết tự an ủi mình. Phát nhẫn nhục và chờ đợi. Rồi, bất thình lình, nửa đêm, cha anh trở về thật. Có một lần, đang ngủ, nghe cái cảm giác có người cúi hôn mình, Phát liền choàng dậy, dang tay và ôm chặt.

- Con biết ai mà ôm chặt dữ vậy? - Bà vừa cười vừa khóc, hỏi anh.

- Cha! Con nghe hơi là con biết mà.

Có cha về, những ngày tủi nhục được bù lại. Phát hãnh diện với bạn bè về những món quà của cha. Những món quà rẻ tiền: một hộp bút chì màu, một quyển sách con gà... nhưng đó là quà của cha. Đến ngày khôn lớn, bà mất, hai cha con về dựng nhà ở xóm Đình, anh đi học nghề thợ mộc, cha đi cắt tóc, lần đầu tiên hai cha con được sống với nhau trong ba năm. Rồi Nam Kỳ khởi nghĩa. Cha anh lại bị bắt. trở về ở với người bác độ nửa năm, tự thấy mình cần phải có một nghề và nhớ cô con gái ở cạnh nhà, anh lại trở về với cái ngôi nhà nhỏ của mình. Nghe nhiều người bị giết, anh không tin là cha mình trở về nữa. Nhưng anh vẫn chờ đợi và hy vọng. Đến Cách mạng Tháng Tám thành công, tù Côn Đảo về làng, anh gặp lại cha. Cuộc đời của anh ấm hẳn lên. Anh đã khôn lớn rồi - đã trở thành một đảng viên cộng sản như cha - nhưng lớn khôn đến mấy, khi được gặp cha, anh vẫn là một đứa trẻ con. Anh muốn mách với cha những điều đã xảy ra, muốn khoe với cha những việc làm, và thấy tiếc tại sao mình lại quá lớn, để bị mất những cái hôn. Từ đó đến nay, hai cha con, mỗi người mỗi việc và lại xa nhau. Hai cha con sống với nhau ít quá! Cha anh không thể nào chết được!

Đi đi lại lại dưới tàng cây vú sữa, anh cứ nghĩ như thế. Anh tìm đủ lý do để gây dựng cho mình một niềm tin. Cha anh trở về với giấy tờ của người lãnh tụ của họ. Họ mê tín, họ tin “Phật thầy”, họ không dám giết người có mang đầy đủ giấy tờ của “Phật thầy”. Cha anh về một mình với một chiếc xuồng, không có gì khiêu khích họ. Cha anh là người làng. Và ở xóm còn có những người không mù quáng. Hằng, Phú, lão Ịnh, ông Năm Bầu. Có việc gì, những người ấy sẽ cứu nguy cho cha mình.

Niềm tin của anh mỗi lúc mỗi vững thêm. Nhưng khi chợt nhìn cái nụ cười ác độc của Bảy Thâm, thì niềm tin trong người anh như bị lung lay. Nụ cười ấy như kéo anh trở về với một sự thật. Anh tránh cái nhìn và cái nụ cười của Bảy Thâm.

Anh quay mặt, nhìn vê làng. Hàng cây bên kia bờ sông xanh sẫm, phẳng lặng.

Mặt trời đã ngả xuống khỏi rặng cây, lẫn trong một đám mây đen và hừng lên. Chân trời trước mặt anh như ứa máu.




----------------------------------------------------------------
1. Đôi bông: đôi hoa tai
2. ốm: gầy.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #14 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2024, 10:33:26 am »

XI


3 giờ chiều ngày 29 tháng 6 năm 1947 tại dinh quận quận Chợ Mới.

Dinh quận nằm ngoài ngoại ô cách trung tâm thị trấn gần nửa cây số. Phía sau dinh là dòng sông, trước cửa dinh là con đường nhựa phẳng lì.

Quận trưởng Ghiđi người Pháp - vốn có bệnh thần kinh. - Chẳng biết có phải như vậy hay không - Mỗi một tiếng động đều có thể làm cho hắn giật mình. Hắn cấm người ta gây ra tiếng động. Nửa đêm, nhà ai có chó sủa, hoặc gà gáy thì sáng hôm sau nhà ấy bị lính đến bắt phạt. Khoảng đường trước cửa dinh của hắn là con đường từ Mỹ Long Hưng chạy lên chợ quận. Nhưng hắn cấm tất cả các tiếng động của những tiếng kèn, tiếng chuông, tiếng vó ngựa và tiếng máy. Người ta gọi đó là con đường cấm. Do đó, tất cả các loại xe từ Mỹ Long Hưng lên bến chợ, qua khỏi cầu - cách dinh hắn độ hơn nửa cây số - phải rẽ vào con đường vòng chạy qua xóm nhà lá. Xe cộ từ chợ quận đi Mỹ Long Hưng cũng phải chạy theo con đường vòng ấy.

Trên khoảng đường cấm, hai bên đường có hai hàng cây dái ngựa thân to, cao ngất và tàng lá um tùm. Khoảng đường ấy vừa âm u vừa trang nghiêm và phẳng lặng. Người có việc cần đến quan đều đi nép hai bên đường, đi với những bước rụt rè và người như thu lại. Tiếng động chỉ có tiếng gió rào rào qua tàng cây và thỉnh thoảng một trái dái ngựa già rơi xuống nổ tách lên một tiếng.

Chẳng có một chiếc xe nào dám chạy qua con đường ấy trừ những chiếc xe nhà binh và những ngày sau này thì có thêm một chiếc xe ngựa kết bằng mây trắng của Ngô Quang Vĩ.

Chiếc xe ngựa mây của Ngô Quang Vĩ đang đỗ nép một bên đường đối diện với người lính gác. Con ngựa lông hồng nghiêng tai nghe tiếng chân người từ cửa dinh bước ra, nó rung đầu, gõ vó và cất lên một tiếng hí.

Cuộc hội nghị giữa quận trưởng Ghiđi và Ngô Quang Vĩ với các ngài trong ban trị sự Hòa Hảo của quận vừa giải tán. Nói cho đúng hơn, đó là cuộc họp giữa tên quận Ghiđi và Ngô Quang Vĩ với các người trong hội tề cũ đã len vào ban trị sự của đạo Hòa Hảo.

Quận Ghiđi khoảng hơn bốn mươi tuổi, người tầm thước trong bộ âu phục trắng và thẳng nếp. Gương mặt của hắn hơi xương, hai gò má nhô cao, mắt sâu, đầu sói với mái tóc mềm hoe hoe vàng, nước da trắng bệt như bột và hầu như không có râu. Hắn ra tận thềm bắt tay từng người hội tề. Các người hội tề cũ, nay đã mặc quần áo màu già, đầu để tóc đứng dưới hắn hai bậc thềm - đã thấp hơn hắn lại càng thấy thấp hơn - vừa đưa tay lên vừa mọp đầu chào.

Ngô Quang Vĩ đứng cạnh bên Ghiđi cười và bảo:

- Các ngài không nên cứ cái thói quen mà mọp đầu như vậy. Bà con tín đồ có ai đi ngang qua đây, người ta thấy. Phải đứng thẳng lưng lên!
Bảy người hội tề vừa gật gật vừa dạ dạ vừa cười chữa thẹn và lần lượt ra về. Quản Dõng thẳng lưng một cách rụt rè:

- Lần nào đứng trước mặt quan quận, anh em chúng tôi cũng cứ hay quên như vậy.

Quận Ghiđi giữ lấy tay Quản Dõng, nghiêng đầu nhìn, cười một bên mép, gật gù rồi nói:

- Như vậy cũng là tốt thôi. - Hắn nói tiếng Việt, hắn xòe tay chém chém vào cổ mình và tiếp - Nhớ coi chừng cái đầu, dân xóm Đình Mỹ Long Hưng của “toi” cứng đầu lắm. Phải khéo hơn nữa. Phải khéo như ngài Ngô Quang Vĩ đây mới được, từ cái lớn cho đến cái nhỏ. À! À mà hôm may, ai đánh xe cho “toi” đi, hả?

- Dạ, thằng Phi Hùng!

Quận Ghiđi trố mắt:

- Ồ! Một thằng mới à? Còn Bảy Thẹo đâu? Sao mà tin người quá vậy?

- Dạ dạ. Thằng Bảy Thẹo tôi bắt nó ở nhà canh giữ thằng Việt Minh Sáu Sỏi, thưa quan!

- À như vậy cũng được.

Ngô Quang Vĩ nói chen vào:

- Như vậy là anh không còn trách móc gì chúng tôi nữa chứ?

- Dạ, dạ. Trong lúc đi lên đây, tôi cứ sợ quan quận với ngài lại chính trị với nó một lần nữa.

Ngô Quang Vĩ nói:

- Nói như vậy tức là anh chưa thấu đáo hai cái tiếng chính trị rồi. Cái gì cũng phải đúng lúc mới được. - Ngô Quang Vĩ nhìn lên tàng cây bên đường, nói tiếp - Một con chim bay qua, muốn bắn thì phải tính toán, phải bắn mũi tên bay lên khi nó vừa bay tới và mũi tên phải cắm ngay yết hầu của nó. Nếu mũi tên bay lên trước, nó sẽ dội lại hoặc bay vòng đi chỗ khác. Như vậy có nghĩa là không đúng thời cơ. Hoặc, nếu nó bay qua rồi mà mũi bên mới bay lên thì tức là mất thời cơ. Mất thời cơ, nó chẳng những bay mất mà thôi, có khi nó còn ỉa xuống mặt mình một bãi nữa là khác. Có phải như vậy không ngài Quận trưởng?

Quận trưởng Ghiđi liếc Ngô Quang Vĩ, nhún vai, cười rung cả người rồi nói với Quản Dõng:

- Chính trị là vậy đó, “toi”! “Toi” thì chỉ biết có thằng Sáu Sỏi thôi. Chẳng phải chỉ có một mình nó mà thôi đâu. Còn nữa, nhiều lắm. Những đứa đáng sợ nhất là những tá điền mặc đồ già của “toi”.

Ngô Quang Vĩ nói chen vào:

- Dòi trong xương dòi ra!

- Ngài Ngô Quang Vĩ thông minh lắm!

Được khen, đang thích chí, Ngô Quang Vĩ chẳng biết làm gì, hắn đưa tay nắm lấy chiếc cà vạt trắng sọc xanh, cầm quơ qua quơ lại và gật gật cười cười. Trong lúc ấy, tên Ghiđi nói:

- “Moi” đã nói với “toi”, thế nào rồi nó cũng trở về thôi. Bọn cộng sản đó nó không bỏ dân đâu. Nó mà bỏ dân thì như “Ăng tê” rời khỏi mặt đất vậy. “Toi” có biết “Ăng tê” không?

Quản Dõng không hiểu, nhưng cũng giả vờ như đã biết, vừa gật vừa cười hì hì.

- Ngài Ngô Quang Vĩ lúc nào rảnh nói cho “lui” biết. - Hắn siết chặt tay Quản Dõng - Thôi, “toi “về!

- Dạ, chào quan! Dạ, chào ngài. Tối nay ngài có về làng không?

- Anh Quản về trước, tôi sẽ đi sau.


*
*      *


Trong cuộc họp, Ghiđi đoán biết Ngô Quang Vĩ không muốn nói hết những ý nghĩ của mình. Vì cuộc họp toàn những hội tề cũ, những người mà Ngô Quang Vĩ thường hay chế giễu là những tay chính trị nhà quê. Quận Ghiđi vốn quý mến Ngô Quang Vĩ và có phần hơi ghen với tài học của ông ta nữa. Bà vợ của hắn, một cô đầm rất yêu văn chương, cô ta đang đeo đuổi theo cái bằng cử nhân văn chương, nhưng vì yêu hắn nên đã bỏ học mà sang Đông Dương. Bà vợ hắn thường hay khen Ngô Quang Vĩ là người Pháp hơn cả người Pháp. Hơn mười năm du học ở Pháp, Ngô Quang Vĩ đã đỗ bằng cử nhân văn chương. Bà vợ của hắn rất thích đàm đạo văn chương với Ngô Quang Vĩ. Nghe Ngô Quang Vĩ nói suốt cả buổi mà bà ta chẳng biết chán, có khi vì quá mê mà trễ cả buổi ăn. Bà ta thường gợi cho Ngô Quang Vĩ kể đi kể lại những mẩu chuyện nhỏ về đời tư của các nhà văn, nhà thơ Pháp, nhất là những mẩu chuyện tình. Ngồi nghe, thỉnh thoảng, bà ta đọc chêm vào một đoạn văn hoặc một đoạn thơ của những tác giả ấy. Và trong câu chuyện, Ngô Quang Vĩ như gợi lại cho bà ta tất cả cái cảnh sống từ tiếng động đến hương vị và không khí của Paris. Còn Ghiđi thì thích Ngô Quang Vĩ ở điểm khác.

Theo hắn, Ngô Quang Vĩ là người có nhiều âm mưu, khá sâu sắc, khá nhạy bén với thời cuộc, người đã phát hiện cho hắn nhiều điều đáng chú ý, người đã giúp cho hắn sử dụng được lực lượng quần chúng đạo Phật giáo Hòa Hảo. Nhưng hắn chưa thật tin Ngô Quang Vĩ. Trong con mắt của hắn, Ngô Quang Vĩ là tên Trốtkít khó hiểu, Ngô Quang Vĩ chưa hết lòng làm tôi cho nước Pháp. Hắn còn lo ngại cho cả cái quan hệ giữa Ngô Quang Vĩ và vợ của hắn nữa. Theo hắn, văn chương là một thứ nhựa độc, có thể gắn chặt giữa hai người. Hắn lo ngại nhưng hắn không hề để lộ ý nghĩ ấy cho hai người được biết. Hắn tự nhủ không vì việc nhỏ mà bỏ việc lớn.

Khi Quản Dõng đi đã khuất, hắn xoay qua Ngô Quang Vĩ và hai người nói bằng tiếng Pháp.

- Cuộc họp hôm nay ngài thấy thế nào? - Hắn hỏi.

- Tốt, nhưng theo tôi thì các ông không nên để tình hình này kéo dài nữa.

- Ngài cứ nói, tôi đang mong ý kiến của ngài.

Ngô Quang Vĩ nói sôi nổi:

- Tình hình gần đây đã không như dự kiến của chúng ta. Bọn Việt Minh đang tấn công lại chúng ta rất dữ dội như các ngài đã biết. Bọn chúng đã tập trung lực lượng. Bọn chúng đã điều một đại đội từ Sóc Trăng lên đây, đó là một đại đội thiện chiến mà chúng gọi là đại đội Hồ Chí Minh, chúng điều một đại đội Bến Tre lên đó là một đại đội thiện chiến của Đồng Văn Cống. Tất cả các đơn vị của hai tỉnh Châu Đốc, Long Xuyên đều được tập trung và tổ chức lại. Vùng căn cứ của Hòa Hảo là các vùng cù lao và ở phía bên này sông. Những cuộc chiến đấu vừa qua, theo tôi chẳng cần phải nhiều lắm, chỉ cần một vài đơn vị với tàu chiến chạy trên các ngả sông là đủ cho chúng bị tiêu diệt. Đơn vị của các ngài chẳng cần phải tham chiến, chỉ chờ bọn nó đâm xuồng rút về căn cứ là có thể tiêu diệt được bọn nó rồi. Tàu chiến chiến đấu với những chiếc xuồng như thế mà không chiến thắng được bọn chúng nó hay sao? Nếu bọn nó không dám đâm xuồng rút về căn cứ mà nấn ná ở lại trên các khu đất Hòa Hảo thì nó cũng chết. Bọn chúng sẽ bị chết thiêu vì ngọn lửa thù hằn của bọn tín đồ. Ngài không nghe người ta nói đất của Hòa Hảo là đất lửa hay sao? Thế nhưng, từ khi lực lượng Hòa Hảo ngả về phía chúng ta thì các ngài mang quân đi hết, phó mặc cho tất cả những thằng chính trị nhà quê.

Ghiđi gật gù, nói:

- Ngài nói tôi nghe có lý, nhưng ngài hãy nhớ cho một điều là nước Pháp và chúng tôi không phải không hiểu được điều này. Con cháu của Napôlêông mà không hiểu thế nào là quân sự hay sao? Chúng tôi chưa muốn làm vội. Cứ để cho chúng nó - Ghiđi nắm hai quả đấm đụng vào nhau - tự nó tiêu diệt nó cái đã. Hãy để cho chúng nó khơi lên ngọn lửa ấy!

Ngô Quang Vĩ cắt lời Ghiđi:

- Điều đó chẳng lẽ tôi cũng không hiểu hay sao? Nhưng các ngài nên nhớ rằng: bọn Việt Minh nó không phải là những thằng mù, nếu nó có mù thì nó cũng chỉ mù trong một lúc nào đó thôi. Các ngài cứ hãy tin là chúng nó hơn các ngài nhiều. Hơn một tháng nay, nó không chỉ tấn công bằng súng, bằng lửa. Nó chỉ dùng lửa với một số nào đó thôi, còn đối với tín đồ, đối với nông dân thì nó dùng nước, nó đã giội tắt dần những ngọn lửa thù hằn của tín đồ rồi. Đối với tín đồ, nó mua chuộc, nó dụ dỗ, chính vì như thế mà đã có một số đã len lỏi trở về, chính vì thế mà thằng Sáu Sỏi mới dám về Mỹ Long Hưng. Nếu chúng ta còn có lực lượng ở đấy thì bọn chúng làm gì dám hoành hoành trong tất cả các vùng như những ngày gần đây?

Ghiđi nói:

- Ngài nói tôi nghe cũng phải. Nhưng ngài nên hiểu cho là nước Pháp không chỉ có một vùng này. Còn nhiều nơi khác nữa. Lực lượng chính cần phải được, tập trung ở những chiến trường chính nhất là chiến trường Việt Bắc, chiến trường miền Đông.

- Nói như thế tức là vì thiếu lực lượng là chính hay là vì chiến lược mà rút lực lượng ra khỏi vùng này là chính?

Ghiđi gật ngù, ngẫm nghĩ, không nói.

Ngô Quang Vĩ cười mỉa:

- Có lẽ là vì cả hai? Các ngài tham quá. Theo tôi thì không nên rải quân ra như vậy. Một nắm trong tay hơn là hai sẽ có.

Ghiđi cũng nghĩ như Ngô Quang Vĩ. Thật lòng hắn thì hắn không muốn rút quân như vậy, nhưng bên ngoài hắn muốn bảo vệ cho nước Pháp, hắn nói:

- Chúng ta hãy tin tưởng Đátgiăng Liơ. Chính Đátgiăng Liơ là người châm ngòi đốt lên ngọn lửa này, một ngọn lửa huy hoàng, ngọn lửa làm sáng lại bộ mặt của nước Pháp ở Đông Dương, dưới bàn tay của Đátgiăng Liơ, ngọn lửa này sẽ không bao giờ tắt.

Ngô Quang Vĩ liếc nhìn Ghiđi, cười vì những lời trống rỗng của Ghiđi và nói:

- Cái đất này, lửa sẽ không bao giờ tắt, nhưng nếu như thế mãi thì cái đất lửa này sẽ đốt cháy các ngài thôi.

Ghiđi nhún vai chống chế lại, rồi cũng thú nhận:

- Chẳng phải tôi là người không hiểu điều ấy. Gia đình tôi sống ở đây, chẳng phải mới đây, cái quận Chợ Mới này, tôi biết; những người khác sướng hơn tôi nhiều, họ yên ổn hơn tôi. Tôi đã làm báo cáo lên trên rồi. Còn ngài, theo hệ thống của ngài, ngài cũng nên làm một báo cáo chính thức, nước Pháp vốn là nước dân chủ, nghe nhiều tiếng nói, cấp trên sẽ quan tâm nhiều hơn.

Nói xong câu đó, Ghiđi thấy mình quá thật thà, hắn sợ lại bị lộ thêm nhiều điều khác, hắn không nói gì nữa, đưa mắt nhìn trời và lắc đầu:

- Trời sắp mưa. Cảnh vật lúc này buồn quá. Cảnh vật nước Pháp không âm u như ở đây.

Ngô Quang Vĩ biết mình đã đắc thắng và đoán hiểu được tâm trạng của Ghiđi, ông ta nói với giọng an ủi:

- Ngài đừng ngại. Tôi là người ở đây, tôi hiểu họ. Họ như con ngựa chứng, thỉnh thoảng lại lồng lên, nhưng nếu biết được tính nó và nắm vững dây cương thì nó sẽ chạy theo tất cả các con đường mà mình muốn. Thôi, tạm biệt! - Tự dưng Ghiđi thấy xúc động, thấy thân với Ngô Quang Vĩ hơn, hắn muốn ôm hôn Ngô Quang Vĩ nhưng vẫn thấy ngại ngùng, hắn siết chặt tay Ngô Quang Vĩ và giữ lại rất lâu.


*
*      *


Ngô Quang Vĩ lên xe. Chiếc xe mây nhỏ chỉ có hai chỗ ngồi. Nhìn chiếc xe của hắn, người ta có thể tưởng đó là chiếc xe của một quý tộc Pháp thời Trung cổ. Bà vợ của Ghiđi thường hay bảo như vậy.

Ngô Quang Vĩ nhịp lưng ngựa bằng dây cương. Ngựa biết ý chủ, nhẹ vó chạy chầm chậm trên khoảng đường cấm, vó ngựa gõ giòn. Ngô Quang Vĩ quay nhìn lại cửa dinh, vẫy chào hai vợ chồng Ghiđi, rồi giật cương cho ngựa phi nhanh.

Hắn tự đánh xe lấy. Vốn hắn thường hay nghĩ: mọi vật và cuộc đời luôn luôn có mâu thuẫn, người với người luôn luôn xâu xé nhau tranh nhau về mọi thứ quyền lợi. Cho nên, không thể tin ai một cách tuyệt đối. Con người, có nhiều khi chẳng phải chết vì một sự nghiệp gì lớn lao, mà thường hay chết vì những chuyện rất nhỏ nhen và thường hay do người thân cận của mình gây ra. Hắn luôn luôn nghĩ như thế, nên hắn không muốn thuê hoặc mượn người đánh xe, mặc dù các ủy viên trong ban trị sự Hòa Hảo cứ nài nỉ muốn dâng người phục dịch cho hắn. Ngoài lý do ấy, hắn còn có những việc quan trọng khác nữa. Hắn không muốn cho người ta biết mình đi đâu, đến đâu, gặp ai và làm gì. Vả lại, vốn tính của hắn, về đời tư, hắn có những hành động rất bất ngờ và lạ lùng. Những chuyện ấy, hắn không thể nào để cho người khác biết được. Hắn thường tự bảo đó là những chuyện sống để bụng, chết đem theo.

Tự đánh xe, được đi một mình, hắn thấy dễ chịu hơn.

Hắn cho xe chạy về Mỹ Long Hưng, định dự tiệc chiều nhà Quản Dõng và xem cái chết của Sáu Sỏi, nhưng khi xe vừa đến đầu cầu thì hắn cho ngựa dừng lại.

Mây khói đèn kéo đi đầy cả trời. Trời âm u và ảm đạm. Gió mỗi lúc mỗi to. Tiếng sóng từ dòng sông dội lại, hắn nghe như có gì rất khác thường, tiếng sóng không lao xao mà nghe như nặng nề. Nhìn con đường trống với những ngôi nhà bị cháy, những bãi tro xám nằm dọc hai bên, tự dưng hắn thấy sợ. Một cơn gió to rít qua, một trái dái ngựa già rơi cạnh bên xe nổ tách một tiếng và một tiếng sấm xa bỗng nổ rền. Hắn rùng mình thấy lạnh. Hắn thấy như có linh tính báo trước cho mình điều gì. Hắn tự hỏi: sao mình lại đi xem cái chết? Đó không phải là cái chết của một người bình thường, cái chết của Sáu Sỏi!

Hắn nhìn trời, ngẫm nghĩ một lúc rồi quay ngựa trở về.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #15 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2024, 02:07:56 pm »

XII


Cũng chiều hôm ấy, bóng tối ảm đạm của mây đen vẫn đè nặng xuống xóm làng, đem tới cho lòng người những nỗi buồn u ẩn và những mối lo sợ rợn người.

Trong nhà của Quản Dõng, một ngôi nhà sàn to mà sàn nhà là những miếng gỗ gõ ghép khít lại đen mun và bóng mượt như thoa mỡ, nhìn xuống có thể soi được mặt mình. Những vẻ mặt vừa tối tăm vừa giận dữ, với những cặp mắt đỏ hoe như mắt cá chài, họ đứng nhốn nháo, hút thuốc, tán gẫu để chờ hội nghị.

Họ là tá điền của Quản Dõng, trước đây họ không mấy khi được bước chân lên ngôi nhà này, nay là người cùng đạo, nên họ như không còn sợ sệt gì và cứ đi luôn tuồng. Người thì xem các bộ tranh Tam quốc Tây du diễn nghĩa treo trên vách, người thì nhún thử cái giường lò xo, người thì mân mê cái bộ trà kiểu xưa, anh lại rờ rẫm và không ngớt lời khen cái tủ kính. Chỗ bàn về đạo lý, chỗ nói tin tức các nơi, chỗ nói về cái tương lai khi trời mở hội Long hoa.

Còn Chiến, anh chàng to lớn, đầu chít khăn đen bít qua trán có thêu hai chữ H màu đỏ, hông đeo một cây gươm dài, anh ta đang ngồi xâm xoi chiếc xe đạp con ba bánh của con nhà Quản Dõng. Anh ta lật qua lật lại một lúc, rồi dựng nó dậy và ngồi lên. Anh ta dạng chân chỏi xuống sàn nhà, đạp cho xe chạy vòng quanh nhà, thỉnh thoảng cất tiếng đánh chuông miệng “kính keng! kính keng!” rồi ngửa mặt ra cười.
Ai nấy, xem chừng cũng có vẻ hăm hở và vui tươi lắm. Duy có riêng lão Ịnh là khác thường. Lão ngồi trên chiếc ghế xa lông giữa nhà, im lặng như một pho tượng, chỉ có bộ râu đen dài tận ngực là động đậy rung rinh, lất phất vì những ngọn gió bên ngoài tạt vào.

Thường thường, trong những dịp hội hè như thế này, người lớn tiếng nhất và hăng hái nhất thường là lão. Lão luôn mồm giảng cho mọi người nghe những điều sâu xa trong kinh sấm.

Từ ngày vào đạo, được ngồi ngang với Quản Dõng, lão lấy làm kiêu hãnh lắm. Cái tình nghĩa bổn đạo tuy đã xóa hết mối thù xưa nhưng khi đứng trước mặt Quản Dõng, lão vẫn thấy cần phải tỏ ra là người ngang hàng, là người hiểu biết những lẽ màu nhiệm của Phật trời. Cái kiêu hãnh đó cũng an ủi được ít nhiều cho nỗi nhục nhã và cay đắng của đời lão.

Nhưng giờ đây thì lão chỉ ngồi trơ ra như đá. Ngọn lửa rừng rực trong đôi mắt cũng đã tắt đi rồi. Lão nhìn con nhện hùm đang giăng lưới bắt mồi trên trần nhà với con mắt tối đờ như cặp mắt của người chết còn mở ra nuối lại để chờ ai.

Bên ngoài, mưa rơi từng hạt như những giọt nước mắt nghẹn ngào.

Tiếng hát của đoàn người đi dự pháp trường ở bờ sông bị tiếng sóng ì ầm đập tan đi và vẳng vào.

Lệnh vua hành quân trống kêu dồn
Quan với quân lên đường
Đoàn ngựa xe cuối cùng, vừa khuất theo thôn
Phất phơ ngậm ngùi bay...


Tiếng hát ấy không có gì giận dữ hằn học của kẻ sắp giết người mà mang theo một âm điệu vừa não nùng vừa u uất như tiếng rên của những người đang quằn quại trong cõi chết.

Tiếng hát ấy mang đến cho tâm hồn lão một nỗi buồn nản ê chề. Lão khẽ thở dài và kêu thầm:

- Trời! Anh Sáu! - Lão đưa bàn tay to lớn và đầy lông chụp lấy chùm râu, run run.

Lão chớp mắt nhìn Quản Dõng đang ngồi ngang mặt mình, đầu đang cúi xuống đống công văn, chỉ thị của đạo. Tự dưng, lão thấy con người cũ của hắn cứ hiện lên: đầu đội nón cối, mặt để râu trê, tay cầm cù quéo, đi theo sau là một đám lính mã kỵ mặt mũi đen sì, cù quéo hắn chỉ nhà nào thì nhà nấy liền bốc lửa. Trong cái ngày đất nhà lão bị mất vì cha hắn, hắn cưỡi con ngựa ô, đầu cũng đội nón cối, tay cầm cù quéo, dừng ngựa trước nhà lão, nghiêng mắt nhìn vào, một cái nhìn nham hiểm và đe dọa... Tất cả hình ảnh đó quay cuồng trong đầu lão, và cái tiếng “Quản Dõng đúng là Dư Hồng” của Sáu Sỏi lại dồi dội vào tai lão.

Quản Dõng ngồi đối diện với lão Ịnh, miệng ngậm ống vố, khói tỏa lù mù. Hắn đã thay đổi nhiều. Bộ râu ngạnh trê của hắn đã cạo nhẵn và sau ót có thêm cái búi tóc to bằng cái kèn bí bo. Hắn mặc trang phục màu già và dài, trông có vẻ là một nhà tu lắm. Duy có cặp mắt của hắn ta là vẫn như xưa, vẫn nấp dưới hàng lông mày rậm và ẩn sâu vào bên trong như ẩn giấu những điều gì khó hiểu, vẫn nham hiểm với cái nhìn như chích vào tim người và chiếc mũi vẫn gầy đét khô khan trên gương mặt vừa nhọn vừa vuông của con người vừa gian giảo vừa ba đá. Hắn là một tay chúa đất trong làng. Hồi Pháp thuộc, hắn giữ chức Hương quản trong ban hội tề. Hắn khét tiếng là một tên tàn ác, đã từng dẫn lính Tây về đàn áp phong trào cách mạng và lùng bắt những người yêu nước.

Sau năm Nam Kỳ 40 khởi dậy, cũng vì tay hắn mà làng xã trở nên tiêu điều. Rồi, đời lại biến đổi: Nhật vào và Tây xuống thế. Chỗ dựa của hắn bị lung lay. Hắn bắt đầu lo cho số phận và muốn thay đổi hướng đi. Trong làng bỗng xuất hiện ra một ngọn cờ mới với những con người khác lạ: đàn ông đầu để tóc, mình mặc áo già múa kiếm, phi ngựa lúc ban chiều và những cô con gái ăn mặc theo lối Phàn Lê Huê, Lưu Kim Đính dượt võ dưới ánh trăng. Tất cả những người đó là tá điền của hắn. Người nào hắn cũng đều có mang nợ máu cả. Họ đã vào đạo Phật giáo Hòa Hảo. Họ như những con người của những thời trong các bộ truyện Tàu vừa sống lại; nhìn vào họ, hắn thấy có một cái gì ghê gớm sắp xảy ra. Trong cái cảnh tiêu điều của làng, đêm ngày cứ khói hương ngui ngút và rền rĩ những câu kinh sấm não nề, một không khí vừa huyền ảo vừa ghê rợn bao vây hắn, hắn bắt đầu lo sợ, rồi cũng như bao nhiêu người khác, hắn mượn kinh sấm về xem. Những cái câu: “Ác lai ác báo” cứ ám ảnh hắn như những giấc mộng nặng nề.

Rồi những tín đồ ấy, ở một số nơi khác, kéo nhau ra nhà việc xé cờ “Đại Pháp”, đạp chân lên hình Pêtanh và vác dao mác đi trả thù, đòi những điền chủ phải trả nợ máu.

Trong những ngày ấy, nhờ quận Ghiđi đánh mật tin cho biết trước, nên hắn kịp lánh mặt ra xe đi thẳng lên Sài Gòn và ẩn náu trong nhà đứa em út trên con đường “Sátsơluha”. Sau đó hắn gặp quận Ghiđi lúc quận Ghiđi sắp sửa xuống tàu về Pháp. Trong giờ phút gặp gỡ ấy, tên quận Ghiđi chỉ kịp dặn dò hắn là phải vào đạo Hòa Hảo. Hắn không hiểu được cái ý nghĩa sâu xa trong lời dặn ấy mà tương rằng: đó là những lời khuyên bảo thật thà. Hắn nghĩ: quận Ghiđi là một người Tây mà còn tỏ ra tôn sùng đạo như vậy thì huống chi là hắn. Trong giây phút ấy, hắn có một ý nghĩ chân thành là muốn cải tà quy chánh để chuộc lại tội lỗi của mình. Hắn liền cạo nhẵn bộ râu ngạnh trê, vứt bỏ cù quéo và tìm đến một gánh hát cải lương nài nỉ cho kỳ được một bộ tóc giả để trùm lên đầu. Rồi, hắn lên xe, đi thẳng một mạch lên tận làng Hòa Hảo.

Đến nơi, trước mặt hắn là cả một việc lạ lùng, những người nắm quyền tối cao trong đạo toàn là những người bạn cũ của hắn; nào Cai tổng, nào Hương cả và một số tay anh chị trong làng dao búa. Đối với hắn, quả là việc không ngờ. Trong số người cầm đầu đó, hắn đặc biệt chú ý đến một người tên là Ngô Quang Vĩ, con người có một gương mặt nhọn, miệng hô, nhòn nhọn như mỏ chuột và cả bộ râu mũi cũng xệ dài như râu chuột. Người ta gọi ông ta là ông Vĩ mặt chuột. Đối với hắn, con người ấy quả là con người kỳ lạ, khó hiểu và đáng tôn là quân sư. Năm phong trào bình dân, ông ta luôn luôn đi sát cánh với Tạ Thu Thâu, khi thì viết báo, khi thì tranh cử hội đồng, khi thì mở diễn đàn. Con người ăn nói thật lưu loát và hùng hồn. Theo hắn ta biết thì đó là người cộng sản. Lúc ấy, hắn ta thấy sợ hơn là thấy thù. Năm phong trào bình dân xẹp xuống, có một hôm, con người Ngô Quang Vĩ bất thình lình xuất hiện ra trong làng hắn. Hắn sợ ông ta về “gây cộng sản”, liền đem lính đến bắt ngay và lập tức báo lên cho quận Ghiđi. Quận Ghiđi liền gọi hắn lên, bảo phải thả ra và trách hắn là người không biết luật pháp.

Hắn không hiểu vì sao quan quận Ghiđi lại có vẻ nể nang người cộng sản như vậy, quan quận Ghiđi lầm chăng? Hắn liền thưa lại. Quan quận Ghiđi cho hắn biết bằng một giọng quát tháo ầm ĩ:

- Nó là thằng Trốtkýt!

Lần đó là lần đầu tiên hắn biết thêm một danh từ “Trốtkýt”. Hắn không hiểu rõ lắm, nhưng hắn cũng hiểu đại khái cái ý của quan quận Ghiđi là: cộng sản Trốtkýt thì không nên bắt.

Bây giờ, gặp lại Ngô Quang Vĩ trong số người cầm đầu đạo, hắn càng khâm phục tên quận Ghiđi, quả thật là người Tây thấy xa hiểu rộng. Và bấy giờ, hắn mới hiểu được lời dặn của tên quận Ghiđi vào đạo không phải để tu hành mà để mưu lại cơ đồ(!), dùng đạo Phật để lôi kéo tín đồ. Hiểu được điều đó hắn cảm thấy như vừa phá được cái bí mật của trời đất. Có lúc ngẫm nghĩ lại, hắn tự cười và tự nhạo mình là có lúc đã định đi theo Phật. Và cũng vì đó mà con đường “sự nghiệp” của hắn bị sa sút.

Trong những ngày ở đó, hắn được gặp lão Ịnh. Ngô Quang Vĩ liền bày mưu cho hắn là nên mời lão Ịnh trở về làng. Trong cuộc họp lần cuối trước khi hắn trở về làng, Ngô Quang Vĩ bảo là nên để lão Ịnh làm trưởng ban trị sự, còn hắn thì giữ chức phó, vì lão Ịnh là người cùng một cảnh ngộ với tá điền, như vậy họ dễ tin hơn. Rồi, không biết ông ta suy nghĩ như thế nào, ông ta lại bảo lại: “Không được! Tôi thấy là nên đổi lại”. Quản Dõng còn nhớ rõ câu ông ta nói: “Tôi xin lỗi anh Quản! Tiền bạc đất đai thì anh còn không kém, nhưng về nước cờ chánh trị thì anh kém lắm! Để anh làm phó ban, anh khó lòng mà giữ được giềng mối lắm. Rồi sau này, muốn nhấc cho anh leo lên thì cũng mệt lắm!”
Thế rồi hắn về làng và làm theo lời chỉ bảo của quan thầy Ngô Quang Vĩ. Hắn mở kho bố thí cho kẻ nghèo, hắn bỏ tiền vào quỹ để mua ngựa cho tín đồ tập dượt.

Hắn thấy rằng: Tá điền chẳng những không đòi hắn phải trả nợ máu, mà còn tôn kính và yêu mến hắn nữa. Và cũng chính vì nước cờ ấy mà hắn đã bắt họ phải quay đầu lại và quét sạch bọn “Việt Minh cộng sản”.

Những lần hội nghị chuẩn bị có cuộc nổi loạn, ý của hắn là muốn có sự giúp đỡ của quân đội Pháp - Những lần hội nghị ấy đều do Ngô Quang Vĩ làm chủ tọa - Một số hội tề cũ cũng đều đồng ý với hắn. Nhưng Ngô Quang Vĩ đã bác hết. Hắn còn nhớ cái lý lẽ của Vĩ. Trước khi nói, Vĩ điểm một nụ cười, nụ cười của người hiểu biết, Vĩ nói:

- Tất nhiên là chúng ta dựa vào lực lượng của quân đội Pháp. Nhưng ngay trong lúc đầu thì chưa nên công khai, mà phải hết sức kín đáo, kín đáo một cách tuyệt đối, kín đáo như là đàn bà đi lấy trai vậy. - Vĩ cười hóm hỉnh, chuyện lớn mà vẫn bình tĩnh, coi như chuyện đùa - Nếu không, bọn Việt Minh cộng sản sẽ dựa vào đó mà phản tuyên truyền chúng ta, đồng bào tín đồ vốn là người đã bị nó mê hoặc, họ rất dễ tin theo nó. Chúng ta không phải là không có lực lượng. Bộ đội Ba Cụt, bộ đội Năm Lửa, Hai Ngoán, Nguyễn Giác Ngộ, không phải là ít. Nếu đem so với lực lượng vũ trang của bọn cộng sản thì chúng ta có phần kém hơn, nhưng cái chính là lực lượng của bà con tín đồ. Nói như vậy, không có nghĩa là quân đội Pháp không giúp gì cho chúng ta. Xin thưa để cho các ngài được yên tâm là có. Chánh phủ Pháp sẽ giúp cho ta những cái lớn. Vả lại trong lúc này, quân đội Pháp cần phải dồn sức ra Bắc Kỳ. Những ngày đầu, chúng ta sẽ gặp nhiều gay go, nhưng không đáng ngại, mà ngược lại, rất là đáng mừng. Tạm thời, chúng ta sẽ chịu nhiều thất bại. Những khi bị nhiều thất bại, thế nào mà không có người chết. Bà con tín đồ sẽ căm thù bọn chúng hơn. Đến lúc đó, không cần phải nói, bà con sẽ tự hiểu là mình “thế cô sức yếu”, thấy cần phải có một chỗ để dựa lưng. Chừng đó, ta sẽ nêu khẩu hiệu “Tạm hàng Tây để diệt trừ quỷ dương cộng sản” như Quan Công tạm hàng Tào. Chừng đó, cái chủ trương ấy sẽ thành là nguyện vọng của tín đồ. Bọn cộng sản sẽ không nói vào đâu được. Nó càng chửi đồng bào là Việt gian, đồng bào sẽ càng nổi điên, nổi khùng với bọn chúng nó. Sao? Các ngài và các vị thấy thế nào? - Vĩ hỏi mọi người với một vẻ hài lòng. - Thật là chí lý! Đúng là một nhà chính trị! Quản Dõng tấm tắc như vậy. Nhưng đến cái đêm nổi loạn, xuồng của Sáu Sỏi vượt được sông thoát khỏi, thì hắn chửi rủa Ngô Quang Vĩ không tiếc lời. Nếu có một chiếc tàu tuần của quân đội Pháp thì Sáu Sỏi có chạy đàng trời!

Sáu Sỏi còn, là tai họa của hắn sẽ còn. Hắn cứ phập phồng.

Trong những ngày gần đây, hắn lại được một cái công văn của Ngô Quang Vĩ. Công văn có đoạn viết: “...Gần đây, bọn Việt Minh cộng sản đã bí mật trở về, bọn chúng nó mang theo cả giấy tờ của Phật thầy. Một số nơi, có một vài cá nhân tín đồ tỏ ra hèn nhát, đã bắt liên lạc với bọn chúng. Đồng bào đâu đâu cũng xôn xao về những chuyện “mọi rợ” đó. Cần phải trừ khử tất cả bọn cộng sản trở về. Nếu đồng bào có hỏi thì phải giải thích - “hoàn cảnh khó khăn này, thầy phải nói ngược lại. Thầy bảo đoàn kết thì tức là phải đánh, thầy bảo đánh tức là đoàn kết”.
Quản Dõng có phong phanh nghe những chuyện “cộng sản mang giấy Phật thầy đi các nơi, kêu gọi đoàn kết”. Tình thế thay đổi bất ngờ, hắn không yên. Được cái công văn ấy, hắn thở phào, nhẹ nhõm.

Khi lão Ịnh mang thư của Sáu Sỏi báo tin về, hắn có một cảm giác sung sướng và phập phồng như được thấy một con cọp đang đi vào bẫy.

- Phải giết ngay tức khắc! - Hắn lẩm bẩm và nói với lão Ịnh: - “Phải giết tức khắc!” - Hắn coi Sáu Sỏi là kẻ thù riêng của hắn.

Giết được Sáu Sỏi, người hắn sẽ nhẹ nhàng như rút được cây đinh ra khỏi mắt. Trước đây, Sáu Sỏi đã cầm lèo lái cho tá điền nổi dậy bắt hắn phải giảm tô, giảm thuế. Năm 40, bắt được Sáu Sỏi đày ra Côn Đảo, hắn tưởng là trừ được cái mũi nhọn ấy rồi. Không ngờ, năm 45, Sáu Sỏi lại trở về và giữ chức chủ nhiệm Việt Minh. - Nhờ giữ chức trưởng ban trị sự nên Sáu Sỏi không dám làm gì hắn. Hắn nghĩ như vậy, nhưng hắn vẫn lo sợ. Hắn biết: Sáu Sỏi còn, là hắn còn nhiều kẻ thù. Sáu Sỏi luôn luôn nhắc lại chuyện cũ của hắn để vạch mặt hắn với tín đồ. Hắn muốn tự tay mình giết Sáu Sỏi thì mới hả cái nư giận, nhưng hắn không muốn. Hắn nghĩ: phải giết một mà thành hai thì mới thượng sách. Ở đời phải khôn như Tào Tháo mới được. Hắn nghĩ đến lão Ịnh. Lão Ịnh là bạn của Sáu Sỏi, trước đây lão luôn luôn theo chân Sáu Sỏi mà chống lại hắn. Bây giờ, lão Ịnh tuy là người dưới tay hắn, nhưng hắn vẫn ghét và khinh bỉ. Hắn ghét nhất là lão luôn luôn muốn tỏ ra người ngang hàng với hắn. Và hắn biết rằng: lão Ịnh là một tay nguy hiểm. Nếu lão Ịnh giết Sáu Sỏi rồi, sau này dù có gì đi nữa lão cũng không thể nào chạy về với kháng chiến.

Nghĩ đến đây hắn chớp mắt nhìn lão Ịnh, rồi quay sang mọi người, cất tiếng hỏi:

- Ngài đội trưởng Hiếu tới chưa các vị?

Hiếu không có chân trong ban trị sự, cũng không có chân trong ban ám sát, nhưng hội nghị hôm nay anh vẫn được mời đến dự. Vì anh là thầy dạy võ. Quản Dõng vừa hỏi thì Hiếu cũng vừa đến. Hiếu bước vào, mặt ngó thẳng không nhìn mặt ai, tấm vải hồng bên vai tung lên chập chờn theo bước đi, cây gươm dài bên hông kéo rà rà dưới mặt sàn, anh đi thẳng lại một góc kẹt, rồi ngồi xuống, mặt lầm lì, chẳng nói chẳng rằng.

Quản Dõng đứng dậy, vỗ tay bôm bốp:

- Xin các vị vào họp!

Tất cả đều quây quần, kẻ đứng người ngồi quanh bộ ghế giữa.

Quản Dõng lấy ống vố ra khỏi miệng, và bắt đầu nói, khói từ trong lồng ngực hắn bay theo từng lời nói của hắn, tỏa lù mù:

- Hôm nay là ngày lấy đầu thằng quỷ dương Sáu Sỏi để tế sống cho vong linh tín đồ, ban trị sự mời các vị đến đây để bàn xem ai là người xứng đáng đứng ra hạ thủ.

Chiến liền nghiêng vai chen vào, chồm mặt ra giữa bàn, vung quả đấm thẳng ra trước mặt và nói:

- Bổn phận của ban ám sát thì để cho ban ám sát chớ còn ai nữa?

- Ban ám sát thì còn nói gì. Chú bình tĩnh, chú không mất phần đâu! - Quản Dõng đưa tay đè quả đấm của Chiến xuống và nói tiếp - Thằng Sáu Sỏi thì các vị cũng không lạ gì. Hồi trước, anh Phó của mình đây - Hắn liếc nhìn lão Ịnh và tiếp - là bạn bè chí thiết với nó.

Hiếu từ góc kẹt liền đứng dậy phản đối lại:

- Cha tôi không phải là ban ám sát!

Mọi người đều kinh ngạc trước cái giọng hét phát ra từ cái lồng ngực to lớn và mạnh mẽ của anh. Cặp mắt mở tròn của anh nhìn mọi người sáng quắc lên như thu hết tất cả ánh sáng của những cặp mắt chung quanh. Mọi người đều không dám nhìn lâu đôi mắt ấy, họ nhìn nhau lẳng lặng như thầm hỏi và dồn tất cả sự bất bình vào lão Ịnh. Mái đầu màu muối tiêu của lão Ịnh như bị cái nhìn của họ đè xuống nên cứ cúi gầm gầm.

Riêng Quản Dõng vẫn giữ được thái độ bình tĩnh, hắn đưa tay hướng về Hiếu và vẫy xuống, ra lệnh cho Hiếu ngồi:

- Có gì mà chú Hiếu phải nóng! Nếu đưa cho ban ám sát xử thì hội họp mà làm gì? Đây là mình muốn người đứng ra xử là người thuộc trong họ hàng hoặc thân thích để khỏi mang tiếng giết người là vì thù nhơ oán chạ, mà vì đạo, vì nước, mà mình làm. Cao quý hay không, vì đạo hay không là ở chỗ đó. Chú đừng vội nóng, ngồi xuống bình tĩnh mà suy xét.

Một người nói tiếp:

- Thôi! Mình cũng không nên ép.

Câu nói có vẻ dịu dàng và an ủi ấy không làm dịu được cặp mắt rừng rực và giận dữ của Hiếu, anh vẫn tiếp:

- Tôi không muốn mấy người bắt ép cha tôi phải giết người.

Nói xong, tay sẵn giữ đốc gươm, anh rút gươm ra rồi đập vào đánh rốp một cái. Không nói gì nữa, anh vuốt mái tóc cho ngược lên đầu, để lộ một vết sẹo vắt dài theo bên chân mày phải, nện mạnh cái bàn chân to lớn xuống sàn nhà, bước ra.

Mọi người nhìn theo anh với vẻ bất bình và sờ sợ. Họ không lạ gì cái tính của anh, như lão Ịnh hồi trẻ, hễ nổi nóng lên thì không biết sợ ai bao giờ. Khi anh đi khuất, mọi người xì xào: “Nó ỷ quá!” Không làm gì được anh, họ lại dồn mắt nhìn vào lão Ịnh.

Lão Ịnh ngồi trơ ra đó, lão đã hiểu rõ thêm về sự thay đổi của con mình, nhưng lão không thấy đau đớn gì thêm như lão tưởng.

Không dám nhìn mọi người, lão lơ đãng nhìn ra ngoài.

Những cơn gió bên ngoài rú lên như tiếng hú. Ngọn cờ màu già trước ngõ phành phạch vỗ tung lên. Tự dưng lão phát rùng mình. Lão cảm thấy mình như có những phút xa đạo. Lão liền đưa tay chụp lấy chòm râu và ngẩng mặt lên:

- Xin anh em miễn thứ cho nó. Mời anh em bàn tiếp xem ai là người giết Sáu Sỏi - Lão cố ý nói lớn những tiếng “giết Sáu Sỏi” để lấy nghị lực cho mình và để xoa dịu cái tức giận của chung quanh đối với Hiếu.

Quản Dõng liền tiếp lời:

- Thôi! Xin mời bổn đạo mình bàn tiếp, về phần chú Hiếu mình sẽ dạy dỗ thêm sau, trai tráng thì nóng nảy vậy thôi, xin các vị bỏ qua cho. Các vị xem ai là người giết Sáu Sỏi? - Và hắn nói luôn - Theo ý tôi, nếu không chú Hiếu thì nên anh Phó, có phải không các vị?

Nhiều người cùng nhao nhao lên:

- Đúng. Đúng lắm!

Ông Năm Ngũ vừa nói vừa đưa chân trèo lên ghế cho cao lên và nói tiếp với một giọng rõ to:

- Anh Tư mà hạ Sáu sỏi thì phải lắm, không miệng nào dám nói là mình vì thù nhơ oán chạ, có phải vậy không anh em?

- Phải! Phải!

Thấy lão Ịnh còn trù trừ, Quản Dõng đưa mắt ra hiệu cho Năm Ngũ ngồi xuống và sau khi phà ra một hơi khói dài, hắn liếc nhìn chung quanh, hắn nói tiếp với một giọng trang trọng:

- Các vị không nên ép anh Phó! Anh Phó nên nghĩ kỹ lại và tùy ở anh, nhưng tôi muốn nhắc lại với các vị một câu chuyện này. - Giọng hắn sôi nổi lên - Chắc các vị còn nhớ hai anh em Sùng Hầu Hổ với Sùng Hắc Hổ thời Trụ Vương chứ? Thời ấy, hai anh em họ Sùng cùng thờ vua Trụ. Nhưng khi Châu Võ Vương đứng lên phạt Trụ thì em là Sùng Hắc Hổ mới sang đầu Châu mà trở lại phạt Trụ. Trước khi sang Châu, Sùng Hắc Hổ đã bắt anh mình là Sùng Hầu Hổ mà nạp Châu Võ Vương. Sùng Hắc Hổ thời đó vì theo chân chúa mà cắt đứt tình em. Đó là gương xưa, còn mình bây giờ, vì đạo vì nước mà sao anh Phó lại ngại? Hơn nữa, Sáu Sỏi với anh Phó có phải là ruột thịt gì cho cam, anh Phó nên nghĩ lại đi anh Phó!

Nói xong, hắn đưa mắt nhìn quanh để dò hỏi. Mọi người rầm rộ khen ý kiến của hắn.

Ông Năm Ngũ lại trèo lên ghế, nói dồn tới:

- Anh Trưởng nói đúng đó anh Tư! Người xưa mà còn vậy thì huống chi là mình? Anh Tư à! Anh là người cầm đầu, anh phải làm gương cho bổn đạo chớ, phải không anh em trị sự?

- Phải! Phải rồi! - Mọi người đều la rân lên và đưa tay đồng tình.

Chiến thì mặt đỏ bừng bừng, anh chồm tới và nói như hét:

- Ông Phó không nhận thì cho ban ám sát chúng tôi. - Rồi anh trở giọng cằn nhằn - Chuyện có như vậy mà cứ bàn qua bàn lại! Hừ!

Trong lúc đó, lão Ịnh thò bàn tay vào làn áo, nắm lấy một chòm lông ngực giữ chặt và run run như sắp dứt ra một cái gì thật đau đớn và khó khăn, rồi gật đầu xuống một cái:

- Được! Để cho tôi!

Tiếng vỗ tay liền nổ vang lên giòn giã như ốc đổ. Chiến thì nhìn lão Ịnh, nói mát:

- Dữ không!

Ngoài Quản Dõng ra thì Năm Ngũ là người hài lòng nhất. Vì con của ông ta - là Hằng - trước là người yêu của Phát. Hai người đã sắp sửa kết nghĩa xuôi gia. Nếu lão Ịnh mà không nhận, người ta rất có thể đùn cho ông. Giết ai, ông cũng có thể xuống tay được, nhưng nói đến giết Sáu Sỏi thì ông cứ thấy sờ sợ.

Lúc mọi người tản ra về, ông ta còn đi kề bên lão Ịnh, nói:

- Không có gì khó đâu anh Tư, anh thấy tôi thì biết, tôi lúc đầu cũng như anh vậy thôi! Một vài lần rồi thì nó quen tay đi!

Lão Ịnh không nói không rằng, lững thững như cái xác không hồn, đầu cúi gầm xuống đất, từng bước, từng bước đi về cái hướng con ngựa hồng đang sẵn yên cương và đang gõ vó đồm độp ở bên đường...

Vừa lúc ấy, tháp chuông bên Cù lao Giêng đổ lên một hồi dài. Đấy là tiếng chuông thường lệ của nhà thờ công giáo. Thường thường, dân làng mỗi khi nghe hồi chuông ấy là biết: đã sáu giờ. Nhưng hôm nay, hồi chuông ấy, người ta nghe như tiếng chuông của tử thần đang kéo đến. Tiếng chuông ngân rền theo bóng tối đang tràn về.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #16 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2024, 02:59:05 pm »

XIII


Ngoài pháp trường cây gừa, giờ giết Sáu Sỏi chưa đến, nhưng đã có một số người đến trước để giành chỗ rồi. Họ ngồi đứng bao quanh lấy cây gừa. Trong lúc chờ đợi, người ra mí nước đưa tay hứng lấy bọt sóng, người đốt đuốc quơ qua quơ lại cho thấy mặt nhau và bắt đầu cất tiếng hát:

Lệnh vua hành quân trống kêu dồn...

Họ cũng lại hát bài “Hòn vọng phu”...

Trong lúc đó, lão Ịnh cũng đã về đến nhà. Ngọn đèn dầu trên bàn thờ ông bà ở giữa nhà nhỏ như một giọt máu và lay lắt tỏa ra một thứ ánh sáng mơ hồ. Người lão in trên vách. Cái đầu to tướng, tóc xõa dài, cùng với cây gươm trường đeo bên hông biến hóa thành một hình thù dị kỳ.

Cái bóng đêm u ẩn dưới mây đen, những tiếng chó đầu trên xóm dưới tru rú lên và tiếng sóng vỗ ì ầm, tất cả cái ấy như mang nặng những nỗi đau đớn đến vò xé tâm can lão. Cái thân người quằn quại của Sáu Sỏi dưới ngọn gươm của lão sắp xảy ra, cái gương mặt giận dữ của Phát, tất cả hình ảnh ấy cùng hiện lên trước mặt lão như một cái bóng đen.

Lão ngước mắt lên hướng tay phải nhìn tấm trần điều trên trang, lão ngước mắt về giữa nhìn bàn thờ ông bà, lão ngước mắt qua trái nhìn chân dung của Quan Công và lão cúi nhìn Hiếu đang nằm quay mặt vào vách.

Nhìn quanh nhà, thấy ghế bị ngã, thấy cột nhà bị nhiều lằn gươm mới chém, thấy cây gươm dài của Hiếu còn dính sâu trong cạnh phản, thì lão hiểu: Hiếu vừa qua một cơn điên loạn.

Nhìn con, lão thấy tội nghiệp làm sao! Trước đây, khi Hiếu là một tay học trò giỏi trong nghề võ, lão hằng mơ tưởng: Hiếu sẽ đi khắp nơi để truyền nghề cho bổn đạo, Hiếu sẽ trở nên một vị anh hùng. Mỗi lần mơ tưởng đến, lòng lão tuy có se thắt lại vì nghĩ đến cái cảnh phải xa con, nhưng lão vẫn cứ hằng ao ước như thế. Lão nghĩ: con đi vì đạo, lão cũng được phúc lây. Nhưng sau khi Phát, Sáu Sỏi từ U Minh trở về làng không bao lâu thì lão đã thấy Hiếu không còn hăng hái nữa, đã sanh ra buồn rầu và ủ dột rồi. Và sau nầy, hễ có dịp là nó hỏi lão:

- Tại sao lại đi theo giặc?

- Đồ ngu! Đây là diệu kế của đạo, đạo gì mà đạo theo giặc hả! Đồ ngu! - Lão trả lời lại với con bằng một giọng quát tháo và đàn áp như vậy.

Nhưng đêm nay, đứng nhìn con thì lão tự hỏi:

- Trời! Ai ngu? Nó ngu hay là mình ngu?

Trong lúc cần có người an ủi, lão càng thấy thương con hơn.

Lão đến bàn thờ giữa nhà cầm lấy chai rượu cặp vào nách, đến lay chân Hiếu dậy, khẽ bảo:

- Hiếu! Ngồi dậy uống một miếng rượu cho ấm bụng, con!

Rồi lão đưa chai lên miệng, uống ừng ực một hơi dài. Như bất thình lình, Hiếu ngồi bật dậy, quát vào mặt lão:

- Có phải cha giết bác Sáu không?

Hiếu nhìn thẳng vào lão với con mắt tròn xoe sáng quắc và đầy vẻ căm hờn. Lão phát sợ đôi mắt ấy, lão buông chai rượu xuống phản, lùi ra, người hơi khom xuống và môi run run:

- Có phải tại tao đâu!

- Bác Sáu là cái gì của cha mà cha giết, hả?

Hiếu vừa quát vừa bỏ chân xuống bộ phản, bước tới, ngực anh như trùm lên đầu lão.

“Hừm!” Cái hung hãn và hơi men trong người lão bốc lên, lão đứng phắt dậy, nghiêng vai, mặt kề sát vào con và rít lên trong hai hàm răng:

- Hừ! Tao giết! - Và toàn thân lão run lên vì giận. Bốn con mắt nảy lửa chòng chọc nhìn nhau. Hồi lâu, thấy không thể xúc phạm nhau được, đôi bên cùng lùi dần ra.

Hiếu lại nằm ngả xuống bộ phản. Còn lão, lão ngồi xuống ghế, nhìn ra, đánh một hơi thở dài.

Lão ngồi im như một pho tượng. Phút chốc, những chuyện đau khổ đâu đâu và xa xôi đã xếp thành dĩ vãng từ dưới đáy đời bỗng sống dậy lên trong lòng lão. Lão thấy người như đang rụng dần từng khớp xương thớ thịt. Nước mắt của lão trào tuôn ra, lăn dài theo chòm râu. Lão thấy cần có một bàn tay an ủi, lão nhớ đến vợ, lão muốn làm lành lại với con.

- Mày là con, dầu gì thì mày cũng phải nhớ chớ! Con người ta thương mẹ thương cha không hết, có đâu như mày.

Lão bước đến bộ phản, tay nắm giữ lấy chòm râu, tay cầm chai rượu đưa lên miệng, uống ừng ực. Rượu theo hai bên mép lão chảy dài xuống râu. Đặt chai rượu xuống, khà một cái, lão nhìn con, nói với một giọng phân trần, nho nhỏ và tha thiết:

- Con có biết đâu, cha đã gặp bác Sáu con, khuyên giảng không biết là bao nhiêu lần rồi. Con cũng biết, có người nào bị bắt mà được đối đãi như bác Sáu con đâu! Hồi trưa này, cha đã tới xin cho bác Sáu con được lên khỏi hầm bí mật để mà giảng cho bác Sáu con nghe cái điều phải trái. Cha đã nói, nếu bác chịu quy y theo đạo thì cha sẽ xin tha cho. Nhưng bác thì cứ một mực, bác còn chửi cha là đầu hàng, là mắc mưu giặc. Cha đã hết lời hết tiếng, nhưng tại cái phần số của bác, cha còn biết ăn nói làm sao!

Hiếu lồm cồm ngồi dậy, cơn nóng vẫn còn sôi sục trong lòng anh, anh vẫn hỏi gằn lại từng tiếng:

- Bác Sáu về đây có phải để trả thù trả oán gì đâu. Bác về để giải hòa đôi bên, hợp tác lại để đánh Tây, tại sao không chịu?

Vẫn cái đôi mắt sáng và nảy lửa của Hiếu khiến cho lồng ngực lão nóng ran lên, nhưng lão cố đè giọng nói cho dịu bớt xuống:

- Ảnh nói điều gì tao nghe, tao biết hơn mày, mày tưởng muốn đánh Tây là được liền sao? Hả? Tao đẻ ra mày! Hồi trước, cuộc khởi nghĩa nào ở trong làng mà tao không đi theo bác Sáu mày? Năm ba mươi, bốn mươi, bao nhiêu người chết, hỏi vậy đã làm gì được nó? Hả?
Nói đến đây, lão bỗng vụt nhớ đến những hình ảnh thất bại đau đớn trong ngày Nam Kỳ 40 trỗi dậy: người chết, nhà cháy, kẻ bỏ nhà “vong gia thất thổ”, kẻ bị đày đi lưu xứ, những bàn tay bị xỏ xâu... mất đất, mất vợ, mất chồng, xa con lạc mẹ, tiêu điều và nước mắt...

Nghĩ đến đây, lão quay nhìn qua con, rồi buông xuống một tiếng thở dài:

- Con ơi! Muôn sự là tại trời!

Những lời phân trần của lão không đủ để xoa dịu cơn tức tối của Hiếu, đôi mắt anh vẫn nảy lửa và giọng nói vẫn giận dữ:

- Nếu không chịu hợp tác với người ta thì thôi, tại sao thừa lúc người ta đi tay không mà bắt giết hả?

Lão không ngờ Hiếu cứ vẫn hung hãn như vậy, vẫn cứ xoáy vào cái đau đớn của lão, lão không êm dịu được nữa rồi, lão đưa bàn tay run run chụp lấy chòm râu, nhìn thẳng vào Hiếu, tia mắt của lão như hai luồng lửa, lão rít lên:

- Hiếu! Ai đã mê muội mày hả?

- Không ai mê muội được tôi hết. Tôi thấy bác Sáu không phải là là... - Anh không tìm được tiếng, cứ là là... như người cà lăm.

- Là cái gì hả?

- Không phải là người bán nước.

- A!... Mày muốn theo bọn đó rồi hả?

- Tôi không biết! Ai đánh Tây thì tôi theo.

- Trời! - Lão rít lên với giọng đầy kinh hãi; đôi mắt của lão như to hơn và như lấn ra khỏi mí mắt. Mặt lão xám lại, lão buông chòm râu ra, hai tay khuỳnh lên, tràn tới, hung hãn như con gà trống phùng mang, phùng cánh trước một kẻ thù.

- Hiếu! Mày giỏi thì mày đi thử tao coi! Hiếu!

Tiếng hầm hừ trong cổ họng lão như tiếng gầm gừ của một con thú dữ.

Hiếu không chịu nhịn lão, anh nhổ cây gươm trường chém dính ở cạnh phản ném xuống đất:

- Cha có giỏi thì cha giết tôi nữa đi! - Anh ngước nhìn lão với một vẻ thách thức.

Cái tiếng gươm khua khiến cho lão rợn người. Đôi mắt của lão hoa lên dưới ánh thép và thằng con của lão đứng dạng hai chân bên ngọn gươm, cái thân người nghiêng tràn tới với gương mặt bừng lửa, nó như vụt lớn lên.

- A! Mầy muốn đấu gươm với tao đó à?

Lão lùi lại, một tay chụp lấy chòm râu, một tay xua ra lia lịa và giọng run lên:

- Đi! Mầy đi ra khỏi mắt tao, đi, đi ngay lập tức!

- Cha khỏi đuổi. - Giọng Hiếu cộc lốc. Anh vừa nói vừa quay mình bước ra sân.

Khi bóng của Hiếu hòa tan trong bóng tối thì lão buông mình ngồi phệt xuống phản.

- Thôi! Thế là hết!

Lão khẽ lắc đầu, rãi rơi những giọt nước mắt.

Trời bên ngoài, gió vẫn xao xuyến qua hàng dương bên đình.

Vừa lúc ấy, tiếng tù và từ cây gừa túc lên “bun bun” từng chập một, như giội vào đêm tối từng luồng khói đục.

Giờ giết Sáu Sỏi đã đến rồi. Lão Ịnh ngồi nghe tiếng tù và như tiếng gió độc thổi vào lồng ngực mình. Lần đầu tiên lão nghe một cảm giác buồn nặng khác thường và có cái gì nhoi nhói qua tim mình. Lão đưa năm ngón tay sờ lên đốc gươm và lẩm bẩm:

- Giết hay là không giết?

Lão bỗng vùng đứng dậy chạy ra sân, nắm lấy bờm ngựa và nhảy thốc lên yên. Trời, không khí nhuộm đen màu mực tàu, như bị mây đè ép xuống dày đặc, khó thở và nặng nề. Và mưa bắt đầu rúc rích.

Lão ngồi trên yên ngựa trơ như bức tượng đồng đen. Lão đưa mắt nhìn những ngọn đuốc cháy chấp chới ở pháp trường cây gừa. Lão đưa tay lên ngực, mắt ngẩng nhìn lên trời và lẩm bẩm:

- Dám xin thưa các vị thiên thần hai bên vai vế, các vị có linh thiêng hãy về đây xua đẩy giùm tà ma, quỷ quái ra khỏi người tôi, giúp cho tôi quên đi tất cả tình nghĩa bạn bè chí thiết. Hãy giúp cho lòng dạ tôi được cứng như sắt, vững như đồng. Hãy giúp cho tôi được trung thành với đạo. Nam mô a di đà phật!

Vái xong lão khẽ chợt rùng mình, rồi dang rộng hai chân đạp mạnh vào hông ngựa, tay phải giật cương, cúi rạp mình xuống, nhựa cất vó phóng lên và sải tới. Cái búi tóc sau ót lão bị sút ra, xõa dài sau lưng, bay tung lên và chập chờn trong những bóng đêm tràn xuống.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #17 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2024, 02:58:37 pm »

XIV


Họ đã giết xong Sáu Sỏi. Họ quơ cao ngọn đuốc ra về và trổ giọng hát. Họ cũng hát bài hát Hòn vọng phu. Lão Ịnh ngồi lắc lư trên mình ngựa. Hai bàn tay của lão như dính phải chất nhờn, run buốt lên vì cái chết của Sáu Sỏi, như hãy còn giãy giụa trong lòng lão. Đầu lão choáng váng. Lão xuống ngựa, nhờ Năm Ngũ dắt ngựa về giùm, rồi tách ra khỏi đám đông. Bỗng lão sờ soạng.

        Ngựa đi ngoài xa hí vang trời
        Chiêng trống khua trăm hồi
   Ngần ngại trên núi đồi
   Rồi vọng ra khắp nơi
   Thắng bao niềm chia phôi…


   Giọng hát hòa tan trong tiếng sóng tràn theo sau lưng lão. Họ gào thét bài hát ấy, nhưng giọng hát cũng chỉ não nề, ai oán một tâm hồm u uất. Giọng hát cùng ánh đuốc vờn lên đêm tối. Ánh đuốc của họ không làm sáng được bầu trời, mà ngược lại, ánh đuốc vừa đi qua thì bóng tối tràn ụp vào, tối tăm hơn.

   Tiếng hát ấy hiện lên trước mắt lão rõ ràng hình ảnh một người đàn bà bế con, đứng trên đỉnh núi cao trông ngóng chồng về. Trông mãi, trông mãi, người thành ra tượng đá thành Hòn vọng phu. Âm điệu của bài hát Hòn vọng phu mang theo tâm trạng tuyệt vọng của người đàn bà trông chồng đi chinh chiến. Độc nhất bài hát đó. Họ hát bài hát đó khi họ chào cờ, khi động viên nhau ra mặt trận, hát trong lúc mặc niệm và hát cả trong lúc vui mừng chiến thắng nữa.

- Vì sao thế?

Họ đang vui mừng chiến thắng mà sao từ dưới đáy lòng họ lại thốt lên lời ca tuyệt vọng? Vì sao thế?

Đêm nay, tự dựng lão Ịnh đặt ra câu hỏi ấy. Có lẽ linh tính báo cho họ và ta biết, ta và họ đang đi trên con đường tuyệt vọng chăng? Lão nghĩ như thế, rồi bước đi những bước chậm và nặng nề.

Quản Dõng ngồi trên lưng con ngựa ô, tay cầm đuốc, thấy một người to lớn mập mờ ở phía xa, hắn biết đó là lão Ịnh. Hắn muốn cất tiếng kêu, nhưng không hiểu nghĩ thế nào rồi hắn lại thôi. Hắn thúc ngựa chạy lên phía trước, thẳng tay quay tròn ngọn đuốc và hô to:

- Hòa Hảo vạn tuế!

- Vạn tuế!

Mọi người dừng lại, quơ kiếm, quơ đuốc và gào lên.

- Hòa Hảo vạn tuế!

- Vạn tuế!

- Vạn tuế!

- Vạn, vạn tuế!

Rồi họ lại hát, tiếng hát lan dần ra khắp nẻo. Khi mọi người tan về, Quản Dõng mới quày ngựa về hướng lão Ịnh.

Hắn sợ và cứ rùng mình vì những lời cuối cùng của Sáu Sỏi. Trước khi bị chém, Sáu Sỏi còn kêu lão Ịnh và ngẩng mặt về hắn mà nói: “Anh Tư! Thằng mà anh giết là thằng Quản Dõng kia kìa!” Chính vì cái câu ấy mà lão Ịnh trù trừ. Trong khi lão Ịnh trù trừ, Sáu Sỏi đã có đủ thời giờ ngước nhìn mọi người, có đủ thì giờ để nói với tất cả mọi người xung quanh: “Bà con! Nếu bà con có gặp thằng con của tôi, bà con hãy nói lại giùm tôi, bảo với nó, bảo nó phải bắn vào đầu kẻ giặc, phải bắn vào đầu tên Quản Dõng kia, còn đối với bà con, thì bảo nó đừng có trả thù!” “A! Cái thằng...!” Lúc ấy, hắn điếng lên. Không thể chần chờ được nữa. Hắn liền thúc ngựa tới, hét to. Hắn chẳng nhớ rõ là hắn hét cái gì nữa. Hình như là hắn hét lão Ịnh. Đến lúc đó, lão Ịnh mới dám bước tới trước mặt Sáu Sỏi. Trong ánh đuốc chập chờn, hắn thấy lão Ịnh vừa chém vừa nhắm mắt. Hắn hối hận: tại sao mình lại giết “nó” trước mặt mọi người. Tại sao không cho “nó” mò tôm? Cái đau đớn, cái trầm lặng có vẻ suy nghĩ của lão Ịnh khiến cho hắn lo sợ. Hắn thúc ngựa chạy nhanh hơn.

Gặp lão Ịnh, hắn liền xuống ngựa, tay cầm cây đuốc, tay chụp vai lão Ịnh lắc rung lên:

- Anh Phó! Anh làm tôi coi cũng được đấy! - Rồi hắn ngả người ra sau nhìn lão và tiếp - Nhưng tiếc cái anh Phó còn hơi trù trừ, để nó còn kêu đạo mình ra mà chửi.

Đoạn, hắn đưa tay lên ống vố đỏ rực lửa, hít một hơi dài, rồi vừa nhả khói vừa nói:

- Anh Phó chắc còn nhớ lúc đức Phật Thích Ca Mô Ni hồi còn là một vị bồ tát? Hồi đó, đức Phật đi che chở một đàn năm trăm người xuống biển mò ngọc trai, khi về thì có một tên cướp định giết năm trăm người đó mà đoạt của quý. Đức Phật là người nhân đạo, không giết tới con kiến chớ đừng nói đến chuyện giết người. Lúc đó đức Phật mới nghĩ, nếu không trừ tên tướng cướp đi thì năm trăm người kia sẽ bị giết, vì thương năm trăm người đó mà Đức Thích Ca đâm cái thằng tướng cướp đó. Đức Phật giết nó, không những để cứu năm trăm mạng người mà còn cứu cả cái thằng cướp đó nữa. Nếu để cho nó giết năm trăm người kia, nó sẽ bị tội, linh hồn nó sẽ bị sa xuống địa ngục, cũng vì thương nó mà đức Phật chịu nhận cái tội giết người cho nó. Cũng như anh giết Sáu Sỏi hôm nay, chẳng qua là anh cứu cho Sáu Sỏi khỏi cái tội quấy nhiễu con đường mưu sự cơ đồ cho đất nước mình đó thôi.

Hắn đưa tay vỗ nhẹ vào vai lão Ịnh:

- Chuyện làm của mình như vậy, có gì mà anh Phó phải buồn. Anh làm như vậy, bổn đạo biết được họ cười chết, anh Phó!

Cái gương cao cả và xa xôi không căn cội ấy của Quản Dõng đưa ra không an ủi được nỗi đau đớn của lão. Giờ đây, bao nhiêu kỷ niệm tình chí thiết với Sáu Sỏi đều sống dậy trong lòng lão, nhưng lão vẫn đưa tay nắm lấy chòm râu kéo đầu gật xuống, gật lên. Lão cố tạo ra một thái độ hài lòng và vừa đi vừa nói:

- Không! Tôi không buồn về việc Sáu Sỏi đâu anh Trưởng. Tôi biết, mình làm đây chẳng qua là vì đạo. Tôi buồn đây là buồn cái thằng Hiếu của tôi nó dám lớn tiếng với anh em... - Nói đến đây, lão ngừng lại và chớp mắt nhìn Quản Dõng. Lão thấy mình đã lỡ lời để lộ cái không hay của con cho người khác biết. Nó có bề gì, lão không thể sống được, lão đã thấy mọi người không được vừa ý nó rồi. Lão im lặng và đi những bước chậm. Cái im lặng của lão khiến cho Quản Dõng suy nghĩ. Hắn vừa đi vừa liếc nhìn cái vẻ ủ rũ của lão. Hắn thấy rõ cái nỗi đau đớn của lão hiện rõ lên trong cái vẻ ủ rũ ấy. Lão khổ khi lão giết một kẻ thù của hắn. Hắn thấy cần phải đề phòng cái nỗi khổ này của lão. Cái ý nghĩ phải đánh rơi cái chức phó ban của lão Ịnh liền trở lại với hắn. Có như thế, sau này, nếu lão Ịnh có trở tay chống hắn, lão Ịnh cũng không còn quyền hành gì, lão sẽ không lôi kéo được ai. Nghĩ đến đây, bỗng nhiên hắn thấy sợ con người to lớn với chòm râu đen dài đang lầm lì đi bên cạnh hắn. Hắn nhảy phóc lên lưng ngựa, định chạy đi; nhưng hắn cố giữ lại trầm tĩnh và nghiêng mình đưa tay níu lấy vai lão Ịnh:

- Anh Phó ghé qua nhà tôi uống rượu một chút cho ấm bụng!

- Thôi được anh Trưởng, tôi cần đi đốc thúc anh em canh gác cho cẩn mật.

- Anh Phó nghĩ tới đó là phải. Mình giết nó mình phải đề phòng cho cẩn thận mới được. Hay là như thế này, anh bảo thằng Chiến phi ngựa qua Nhân Mỹ. Nghe nói là bộ đội của Ba Kềnh Càng đang đóng ở đó. Bảo thằng Chiến phải khéo lời, mời bộ đội Ba Kềnh Càng, tốn bao nhiêu “sở hụi” ban trị sự mình sẽ chịu. Còn tôi, tôi báo với quan hai Tây được biết, có gì thì ủng hộ cho mình một vài trái đại bác! Như vậy nghe anh Phó! Đêm nay tôi nghi quá! Thôi, tôi về! - Hắn thúc mạnh vào hông ngựa, ngựa chồm sải tới.

Lão Ịnh vẫn trầm lặng và đi những bước chậm.


*
*      *


Sau khi gặp Chiến, bảo Chiến đến nhà Năm Ngũ bắt ngựa; về đến nhà, không thấy Hiếu lão có ý hơi mừng. Lão pha vào diệm nước một ít rượu và xòe hai bàn tay run run ngâm vào. Hai bàn tay của lão cứ run run, buốt buốt, tê tê, lão thấy như không phải chính hai bàn tay của mình: Cái bàn tay cầm ngọn đao làm rụng đầu người bạn chí chiết!

- Bàn tay của anh có thể cắt được tình nghĩa anh em, nhưng bàn tay anh không thể che được ánh sáng của chánh nghĩa đâu!

Lồi nói của Sáu Sỏi lúc phản đối lời kêu hàng của lão trước đây, vẳng đến tai lão như lời nguyền rủa. Càng nhớ, lão càng kỳ cọ hai bàn tay. Nhưng bàn tay của lão vẫn chưa trở lại bình thường, lão trút thêm rượu và nhổm mình cao lên, dồn tất cả sức lực vào tay và kỳ cọ từng ngón một. Nước rượu vỗ vào thành diệm trào lên. Chốc chốc, lão đưa bàn tay lên, nhìn, rồi nhúng vào, rồi kỳ cọ. Dòng máu của Sáu Sỏi làm hoa mắt lão, lão thấy nước rượu trắng trong qua ánh sáng của ngọn đèn dầu đã đỏ ngầu như máu, mà hai bàn tay của lão vẫn chưa hết chất nhờn nhờn và tê tê, buốt buốt ấy.

Bây giờ, lão mới bấu víu lấy cái gương xa xôi của đức Phật do Quản Dõng nói ra mà an ủi nỗi đau đớn của mình. Lão kêu thầm:

- Anh Sáu ơi! Linh hồn của anh sẽ không sa xuống địa ngục!

Đoạn, lão chùi nhanh hai bàn tay vào quần, đi nhanh về hướng trang thờ, đốt lấy ba nén hương và ra đứng trước bàn thông thiên. Thân lão đứng thẳng, hai bàn chân khít lại, hai bàn tay chấp ba nén hương đưa lên ngang trán, đầy đủ cái tư thế thành kính nhất, lão thì thầm:

- Nam mô a di đà Phật. Cầu Phật tổ Phật thầy, chư vị năm ông, trăm quan cựu thần, chư vị sơn thần năm non bảy núi phổ độ bá tánh vạn dân tiêu tác, tỉnh sự giải thoát mê ly...

Ngoài cái câu chánh thức ấy, lão lại vái thêm:

- Nam mô a di đà Phật! Tôi là Nguyễn Văn Ịnh năm nay năm mươi tư tuổi, sanh đẻ ở làng Mỹ Long Hưng, thuộc quận Chợ Mới, tỉnh Long Xuyên, đêm nay tôi có giết anh Sáu Sỏi là người bạn thân. Hôm nay, anh Sáu vì đi sai con đường của trời Phật mà tôi phải xuống tay. Tôi giết anh không phải vì thù nhơ oán chạ, mà vì lòng trung với đạo với nước. Xin các vị chư phật chứng kiến cho. Nam mô a di đà Phật...

Lão cúi đầu xá, cắm hương, rồi hai bàn tay chắp khít lại để ngang ngực, mọp đầu lạy: hai đầu gối, hai cánh và đầu mọp cho tới đất, hai bàn tay thì lật ngửa lên kèm theo hai bên trán. Lão lạy như thế là ba lạy.

Sau khi cầu nguyện xong, lão thấy trong người được nhẹ nhàng đi một ít. Và cho đến bây giờ, lão mới sực nhớ ra rằng: từ chiều đến giờ, lão chưa ăn một hột cơm nào.

Lão vào nhà, soi đèn xuống bếp. Nồi niêu đều trống rỗng và bếp thì lạnh tanh. Lão biết Hiếu không có nấu cơm chiều. Bụng lão cồn cào vì bị chất men đốt cháy. Nếu như mọi lần, lão đã đến nhà Quản Dõng để nhậu rồi, nhưng hôm nay thì lão nghĩ đến ông Năm Bầu, người bạn nghèo của mình.

Lão đến nhà ông Năm Bầu, thập thò ngoài cửa nhìn vào.

Thằng Chiến đi rồi, chỉ thấy ông Năm Bầu một mình trên bộ phản. Cạnh bên ông là một cái xương cá lóc nướng trui nằm vắt ngang miếng lá chuối. Chai rượu đã cạn, thân vẩy cá nằm đen trên manh chiếu.

Còn ông Năm Bầu, ông ta đang ngoẻo đầu bên cần cây đàn cò.

“Í i i ò, i ỉ ì ỉ í i ò...”

Đó là tiếng đàn hay là tiếng khóc? Lão nhìn ông Năm Bầu đang cầm cây cung đàn kéo qua kéo lại mà tưởng như ông ta đang cầm con dao cứa qua cứa lại khúc ruột mình. Rồi, lão thẫn thờ quay ra và đi lẫn trong bóng tối mịt mù.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #18 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2024, 03:15:28 pm »

XV


Đêm hãy còn sớm mà trời như giữa khuya.

Nhà của Hằng lạnh tênh. Phi Hùng đã đi gác. Mẹ Hằng đang mọp đầu dưới trang thờ. Hằng đang quỳ dưới bàn thông thiên trước sân nhà. Ông Năm Ngũ đang ngồi uống rượu suông trên bộ phản. Nhà không để đèn. Chỉ có ánh sáng của những đóm lửa li ti của bó hương.

Ông đang vắt óc tìm ra những tội lỗi của Sáu Sỏi để chứng minh cho cái chết của Sáu Sỏi là phải. Ông mở trừng mắt, nhìn vào đêm tối. Hình ảnh của Sáu Sỏi hiện dần ra trước mắt ông. Tháng giêng năm 1932, Sáu Sỏi về xóm, dựng nhà cạnh bên nhà ông với đứa con trai mười hai tuổi. Cái thằng con thích đuổi theo chim én là đà trên mặt đường, mà Hằng rất thích. Sáu Sỏi cắt tóc cho Hằng, Phi Hùng, và cắt tóc cả cho ông mà không lấy tiền. Một anh thợ lành nghề! Trước khi cắt, tay lần tóc nhổ cho ông một sợi tóc bạc, rồi gãi gãi cái chỗ ngứa cho ông. Còn “cái nước” cạo nữa chứ! Cái dao cạo từ ót cạo dài đến nửa lưng, đã ngứa làm sao! Cả câu chuyện của Sáu Sỏi cũng gãi đúng cái chỗ ngứa của ông, nào chuyện làm ăn, chuyện “quốc sự”, chuyện Trương Định đánh Tây ở đám lá tối trời, chuyện những đâu đâu đang biểu tình chống sưu chống thuế. Những câu chuyện ấy cứ làm cho ông rộn rực mãi, vừa lo vừa thú, không ngủ được.

Ông đang tìm, đang moi móc những tội lỗi của Sáu Sỏi, thì những hình ảnh ấy lại đến với ông. Ông đưa tay gãi gãi ngay cái sợi tóc mà Sáu Sỏi đã nhổ cho ông cách đây đã hơn mười năm. Ông vội lắc đầu, xua đuổi những hình ảnh ấy! Và ông cố nhớ lại từng cử chỉ nhỏ của Sáu Sỏi từ lúc ở tù về. Một ông chủ nhiệm của huyện mà chẳng có vẻ gì là ông chủ nhiệm cả. Vẫn những bộ quần áo bà ba bạc màu, vẫn như xưa, chỉ có khác trước là tay không xách cái va li nhỏ đựng bộ đồ nghề, mà tay ôm một chiếc cặp bàng công văn giấy tờ. Vào đạo, ông để tóc, ông chủ nhiệm không cắt tóc cho ông nữa, nhưng thỉnh thoảng lại cạo râu cho ông. Sau khi được cạo râu, ông lại còn được ngoáy tai nữa chớ! Vừa được cạo râu vừa được nghe chuyện. Không như những người ngoại đạo khác, - cha cũng như con - ông chủ nhiệm không bao giờ cười cái đầu tóc của ông, không bao giờ hỏi ông chừng nào thì đi dự hội Long Hoa với giọng chế giễu, một ông chủ nhiệm ngoại đạo mà lại hiểu về đạo lý một cách sâu xa.

- Anh Năm có biết cái trần điều ở trang thờ có cái ý nghĩa gì không?

Ông là tín đồ, ông không biết sao được! Nhưng ông không nói, mà hỏi vặn lại:

- Vậy theo anh thì nó có cái nghĩa gì?

Ông “chủ” vừa cạo râu cho ông vừa nói:

- Tấm trần điều màu đỏ. Màu đỏ là máu, màu máu là màu cách mạng. Thờ trần điều tức là thờ cách mạng, tức là phải làm cách mạng, phải đánh Tây, phải đoàn kết với mọi người để đánh Tây.

Như được gãi đúng vào chỗ ngứa, ông thấy hãnh diện cho cái đạo của mình... Trong những cuộc vui trước anh em, vui miệng đôi khi nửa đùa nửa thật, Sáu Sỏi thường gọi ông là anh xuôi. Được làm xuôi với ông chủ nhiệm! Ông thấy tự hào!

Ông Năm Ngũ lại lắc đầu, xua đuổi những hình ảnh đó. Ông bỗng chợt nhớ ra rồi. Có, có một lần. Ông lẩm bẩm. Lần ấy, cũng là lần Sáu Sỏi cạo râu cho ông. Ông cố bám vào hình ảnh, cố nhớ lại thật rõ ràng. Một buổi chiều ba mươi Tết. Gió bấc non thổi rao rao qua cây xoài. Chim én lượn qua sân. Ông ngồi trên chiếc ghế đẩu dưới gốc xoài. Một lá xoài, rơi xuống trước mặt ông. Sáu Sỏi mặc bộ quần áo bà ba đen. Sáu Sỏi lấy ra con dao cạo trong chiếc cặp bàng, liếc con dao trên gan bàn tay.

Sáu Sỏi vừa cạo râu cho ông, vừa nói về đạo lý. Bỗng ông chợt hỏi:

- Chú biết nhiều đạo lý, thuộc nhiều kinh sấm, hay là chú vào đạo với tôi đi.

Sáu Sỏi cười, (ông nhớ cái nụ cười ấy) nói:

- Tôi không nói anh cũng biết, tôi thì tôi không tin trời Phật đâu!

Nghe nói, ông thấy nóng mặt, ông hỏi lại:

- Vậy thì ông chủ tin ai? Làm người ông không theo một cái đạo nào à?

- Tôi không tin ở trời Phật, nhưng tôi tin ở sức lực, ở con người và tôi cũng có một cái đạo, đạo làm người.

Lúc ấy, ông nổi nóng thật, nhưng ông cố dằn, ông hỏi lại với giọng châm chọc:

- Ông tin ở cái sức của ông, vậy ông quên cái ngày Nam Kỳ bốn mươi rồi à? Ông tin ở cái sức của ông, sao lại đi tù?

Nói xong câu đó, ông nghĩ là ông chủ nhiệm sẽ nổi điên lên. Nhưng không, ông chủ nhiệm cũng lại cười, cái nụ cười có vẻ coi ông là một đứa trẻ con, thế mới ức chớ! Ông chủ nhiệm cười, rồi nói:

- Anh là người có đạo mà anh lại quên cái câu kinh, câu sấm này rồi à? - Ông chủ nhiệm đọc luôn, giọng trầm trầm: - “Chuyện thế gian như thể cuộc cờ, thắng với thối một hai nước tướng”. Đấy! Ăn thua nhau một hai con cờ mà nhằm gì, ăn thua nhau là ở nước cuối. Nam Kỳ bốn mươi bị thất bại thì Cách mạng Tháng Tám lại thành công!

- Cách mạng Tháng Tám thành công là nhờ có lá cờ già của đạo Phật giáo Hòa Hảo.

- Anh nói cũng đúng thôi! Nhưng nếu chỉ có lực lượng của bà con Hòa Hảo không thì cũng chưa đủ, cái chính là lực lượng của toàn dân.
Lúc ấy, ông đuối lý, nhưng ông vẫn tin theo ý nghĩ của ông. Nếu ở “thế gian” này mà không xuất hiện lá cờ già thì làm gì lấy lại nước được.
Đúng rồi, anh ta có bảo là anh ta không tin trời Phật. Làm người mà tại sao không tin trời Phật? Có cái tội nào to hơn như thế nữa không? Nhưng rồi ông thấy cái câu nói ấy của Sáu Sỏi không đủ cho cái chết. Ông lại thấy bứt rứt.

- Đúng! - Ông bỗng kêu thầm lên. - Làm chủ nhiệm của huyện mà không tin trời Phật, nên làng xóm mới ra nông nỗi này. Chết là đáng! - Ông nói thầm. Nhưng ông lại thấy mình nói gượng.

Ông lại lắc đầu. Đầu ông căng lên như muốn vỡ tung ra. Thôi. Không nghĩ nữa! Ông tự giận lấy mình. Ông cầm chai rượu, uống ừng ực, uống một hơi cạn cả hai phần ba lít. Ông uống một hơi dài.

Ruột gan ông nóng như lửa đốt. Đầu ông nặng như đá. Ông đưa tay chùi hai mép. Ông nằm ngả xuống. Ông lấy cái chai làm ghế kê đầu. Nhưng cái chai không nằm im, cái chai trượt xuống ót ông, thành ra ông kê cái cổ lên chai.. Đầu ông ngửa lên, miệng ông há ra. Bao nhiêu hình ảnh, bao nhiêu ý nghĩ lẫn lộn vào nhau, xoay tròn trong óc ông. Và ông không còn thấy gì nữa.

Mẹ Hằng lạy xong, lấy manh chiếu đắp cho chồng, ngồi cạnh bên chồng.


*
*      *


Hằng quỳ dưới bàn thông thiên nhưng không mơ thấy những hình ảnh ở cõi hư vô nữa. Cái chết của Sáu Sỏi cứ hiện lên trước mắt nàng.
Đầu hôm, Hằng định không đi dự pháp trường. Nhìn cái cảnh ấy Hằng sẽ chết mất. Nhưng khi tiếng tù và vừa dội lên thì Bảy Thẹo đã đi qua nhà, hỏi vọng vào:

- Cô Hằng có dự pháp trường không? Bà con lối xóm, người ta đã đi hết rồi.

- Anh đi trước đi, tôi sẽ đi sau.

Đêm chập choạng, nhìn thấy cái bóng to, lùn của tên Bảy Thẹo, Hằng bỗng nhố đến những lời đồn: đêm đổi đời, bọn quỷ dương đi nghểu nghến ngoài đường, gõ cửa gọi tên người. Hằng rùng mình.

Hằng định vào giường, trùm chăn cho kín, thì hai cô ả con gái của Quản Dõng bước vào. Một cô cùng tuổi Hằng, một cô nhỏ hơn Hằng hai tuổi. Cô em hơi xinh, cô lớn xấu như quỷ. Cả hai cô đều ăn mặc theo điệu Phàn Lê Huê, Lưu Kim Đính. Cả hai cô đều giắt kiếm, vỏ kiếm bằng da may rất khéo. Cô lớn hỏi:

- Sao bây giờ mày còn ở đây, hả?

Cô nhỏ hỏi:

- Mày có thấy anh Bảy Thẹo đi ngang qua đây không?

- Dạ có!

- Anh có rủ mày đi không?

- Em bảo ảnh đi trước, rồi em đi sau.

Hằng biết là họ muốn ghép mình cho tên Thẹo, nàng thấy kinh tởm và buồn cười. Họ làm như cả làng này không được một người đàn ông nào vậy.

Một hồi tù và lại dội lên. Cô lớn giục:

- Thôi, mặc quần áo vào, đi đi chớ?

- Mấy cô đi trước đi, em cho heo ăn rồi em sẽ đi.- Hằng tìm cách từ chối.

- Bây giờ mà còn heo với củi. - Cô nhỏ nói.

- Em có được như các cô đâu. Nhà em dạo này bấn lắm.

- Thôi, đừng có viện lẽ. Chắc là còn nghĩ tình cha chồng rồi! Không đi thì cứ nói thật thôi. Ai làm gì đâu mà sợ.

Câu nói ấy ác quá! Nếu cô ta cứ cầm ngọn kiếm kia mà đâm vào tim mình, mình còn gì đau hơn. Hằng nghĩ. Nhưng Hằng lại cười ngất lên, mái tóc cứ rung lên theo chuỗi cười của nàng. Cái cách cười của nàng khiến cho hai cô của nhà Quản Dõng phát sợ.

Hằng luôn luôn chống chế lại bằng một chuỗi cười như vậy, rất nhạy như một thói quen của bản năng.

- Cha chồng của em đấy à? Thằng ấy thì để em giết mới vừa. - Nước mắt cùng tràn lên theo câu nói ấy của Hằng, nàng vội quay đi, rồi nàng nói với giọng liến thoắng. - Ừ! Đi đi hai cô.

- Thay quần áo đi! - Cô nhỏ bảo.

- Em cứ ăn mặc thế này thôi. Quần áo em đã giặt hết rồi.

- Tiếng tù và đang túc kên nữa kìa, đi đi thôi!

Thế là Hằng phải đi pháp trường. Hằng đi với hai cô con nhà Quản Dõng. - Cô tên Loan, cô tên Phượng. - Hằng đi giữa, hai cô đi hai bên. Hai bên hai ngọn kiếm. Hằng như bị họ giải đi. Hằng đi dự pháp trường, mà thấy mình như bị đem ra xử. Tất cả ống xương trong người nàng như mềm lại. Nàng thấy mình yếu như một cộng bún.

Đến nơi, pháp trường đầy đủ mặt người, có hơn nghìn người, những người ở xóm khác cũng đến.

Pháp trường là cái cột bằng cây săn, chôn dưới đất, cao hơn thước, dùng để buộc chặt người bị giết vào đó. Sau pháp trường là dòng sông, dòng sông lúc nào cũng hằm hè và từ xa khơi bủa lên những ngọn sóng bạc đầu.

Họ đốt đuốc vây một vòng hình cánh cung trước cây cột của pháp trường. Những ngọn đuốc, lửa không rực rõ, không tươi sáng. Ngọn lửa đỏ sậm, bốc lên một làn khói đen. Cái màu lửa thật tối tăm. Hằng bỗng chợt nhớ đến ngọn lửa dưới địa ngục của một bầy quỷ hình thù dị kỳ mà người ta vẽ trong các bức tranh. Trong ánh đuốc, mắt của mọi người đều đỏ hoe như những cặp mắt nhuộm bằng máu.

Quản Dõng ngồi trên mình ngựa cạnh bên cây cột. Hắn mặc bộ đồ già phủ phục đến gối. Tóc của hắn không bới, buông xõa và bị gió thổi tung lên. Bảy Thẹo đứng cạnh bên, cầm đuốc, thẳng tay đưa cao lên, gần mặt Quản Dõng. Trong ánh đuốc, nước da của Quản Dõng biến thành màu đồng điếu. Ngồi trên mình ngựa, tay giữ đốc gươm, tay cầm một tờ giấy màu đỏ đưa lên trước mặt, hắn cố gào lên cho át tiếng sóng, đọc xong một câu, hắn dừng lại, trợn mắt như muốn hăm dọa mọi người:

- Đêm nay, ta đem ra xử một thằng Việt Minh cộng sản, một thằng phản quốc, một thằng quỷ dương - thằng Sáu Sỏi. Nó đã chỉ huy bọn Việt Minh, giết hại bà con tín đồ chúng ta, bà con bổn đạo của làng chúng ta, đã chết hơn mười lăm người, đốt hai mươi ngôi nhà. Nó đã đập phá không biết bao nhiêu trang thờ của chúng ta, xé không biết bao nhiêu tấm trần điều của chúng ta, đốt không biết bao nhiêu hình ảnh đáng ngưỡng mộ của Phật thầy!

- Giết nó! Giết nó! Đả đảo.

Có nhiều tiếng bỗng thét lên. Tất cả đều gào theo, quơ đuốc, vung gươm vung kiếm. Gươm kiếm chạm vào nhau, nghe lạnh cả người. Quản Dõng tiếp:

- Nó độc tài, nó giành hết chánh quyền để đàn áp bà con bổn đạo của chúng ta. Nay, bọn nó đang bắt ép Thầy.

Cả một khối người liền xôn xao, nhìn nhau, xầm xì.

- Nó định mang giấy của Thầy về đây để do thám, nói là đế đoàn kết kháng chiến, nhưng nó là bọn tà tâm, nó về đây để lập mưu giết hại bà con bổn đạo chúng ta. Phật thầy đã vì bá tánh chúng sanh mà phải lao đao lận đận...

Trong khối người có tiếng sụt sịt khóc, có tiếng tắc lưỡi, tiếng thở dài và tiếng nghiến răng. Thầy bị nạn và cái chết của Sáu Sỏi, cả hai cái tin, Hằng đều bị xúc động. Hằng không đứng vững nữa. Hằng phải vịn vào vai của một người đứng cạnh. Giọng của hắn vẫn gào lên nhưng có vẻ đau xót:

- Trong cái cảnh gian truân này, như người bị nạn vì bá tánh, Thầy phải nói ngược lại. Thầy bảo đánh thì đoàn kết, mà Thầy bảo đoàn kết thì phải đánh. Giấy của Thầy đưa cho nó đi viết là đoàn kết, tức là Thầy dạy chúng ta phải giết nó.

- Đả đảo! Đả đảo!

Khối người bỗng vung đuốc, vung đao kiếm, gào thét lên như tiếng sấm.

Lúc ấy, ở phía sau, có tiếng lòi tói khua lên mỗi lúc mỗi gần. Chiến đang đưa Sáu Sỏi ra pháp trường.

- Đả đảo! - Quản Dõng vung tay gào lên.

- Đả đảo! - Mọi người đều gào theo, mỗi lúc mỗi to, mỗi lúc mỗi dữ dội hơn.

Chiến đưa Sáu Sỏi đến trước mọi người, rồi buộc chặt Sáu Sỏi vào cái cột. Tiếng gào thét, chửi rủa, thù hằn cứ nổi lên. Quản Dõng cho ngựa trở về, đứng cạnh bên khối người.

Khi Sáu Sỏi ngước nhìn thì, tiếng gào thét mỗi lúc mỗi thưa, mỗi dịu đi, rời rạc rồi im hẳn.

- Lão Ịnh đâu?

Quản Dõng quát hỏi. Mọi người nhìn nhau, lơ láo và kêu réo một hồi. Một hồi tù và dội lên, rồi lại một hồi nữa. Mọi người xôn xao, hỏi nhau, ngó quanh ngó quất, tìm lão Ịnh. Một lúc sau, người ta nghe tiếng vó ngựa. Và lão Ịnh đến. Trong ánh đuốc nhập nhoạng, người ta vẫn thấy được người lão Ịnh ướt đẫm mồ hôi. Lão Ịnh xuống ngựa, tay cầm một ngọn kiếm dài.

Hằng không dám đứng ở hàng đầu. Hằng ẩn ở giữa. Hằng thấy Sáu Sỏi bị buộc vào cây. Hằng quên hẳn cái tin của Thầy đang bị nạn (cái tin bịa của Quản Dõng). Vả lại, Thầy bị nạn thế nào, người ta không nói rõ và Thầy là một đấng thiêng liêng đáng ngưỡng mộ, nhưng đối với Hằng thì Thầy là một người không quen biết, trước mắt Hằng là Sáu Sỏi, một thân hình thật đáng thương, quần áo nhơ nhớp, mặt mày hốc hác. Nước mắt của Hằng dâng đầy và mờ đi. Những nét nhăn của Sáu Sỏi như mờ dần, Sáu Sỏi như trẻ lại, đôi mắt sáng, mũi dọc dừa, trán hơi cao, mái tóc húi cao và Hằng thấy như Phát đang bị trói, không phải là Sáu Sỏi nữa. Ánh đuốc chờn vờn qua gương mặt của Sáu Sỏi. Hằng thấy như hình ảnh của Phát đang lởn vởn đâu đây.

Hằng đưa tay bóp chặt lấy bụng, người run lên.

Khi lão Ịnh vừa xuống ngựa thì Quản Dõng phất cờ, hét lên một tiếng dài, “Sát!” và tất cả đều quơ đuốc gào theo.

Lão Ịnh bước tới. Hằng đưa tay bịt mắt lại trong cái cảnh hỗn độn ấy, Hằng nghe rất rõ tiếng của Sáu Sỏi.

- Anh Tư!

Rồi tất cả im lặng, như một cái máy xộc xệch đang rít, đang nghiến, bỗng dừng lại. Chỉ còn nghe tiếng nổ lách tách của ngọn đuốc.

- Thằng mà đáng giết là thằng Quản Dõng kia kìa! - Hằng như mất hết cảm giác, nàng chỉ thấy lạnh cả người.

Quản Dõng lại hét lên một tiếng dài “Sát”, nghe như tiếng rống của một con thú dữ bị thương. Khối người lại quơ đuốc, quơ kiếm, gào theo.

- Anh Tư!

Tiếng gào la, tiếng gươm kiếm va vào nhau lại nhỏ dần, rời rạc, rồi im lặng.

Giọng của Sáu Sỏi vang lên. Hằng nghe như từ xa vẳng đến:

- Bà con ạ!... Nếu bà con có gặp lại thằng Phát con của tôi, bà con nhớ nói lại nó giùm cho tôi, bảo với nó, bảo nó hãy bắn vào kẻ giặc, bắn thẳng vào thằng Quản Dõng kia, còn đối với bà con thì bảo cho nó đừng có trả thù.

Hằng nghe rõ tiếng cờ phất trên tay của Quản Dõng và tiếng con ngựa rùng mình bỏ vó - có lẽ nó cất đầu chồm lên.

- S a a á t!

Khối người lại ùn lên. Đuốc, đao, kiếm, gươm giáo lại quơ. Lần này, Hằng nghe cái tiếng gào la của mọi người như không thật. Có một vài tiếng kêu thét, nạt nộ nổi lên:

- A! Thằng Tư Ịnh!

Hằng thấy lão Ịnh bước tới và ngọn kiếm đưa cao lên.

Hằng vội ôm lấy mặt. Hằng không thấy, nhưng Hằng nghe tiếng ngọn kiếm xả xuống người Sáu Sỏi.

Từ lâu, tuy không gặp lại Phát, nhưng giữa Hằng và Phát hãy còn một sợi dây ràng buộc lấy hai người. Sợi dây ấy vô hình và mong manh, nhưng không bao giờ bị đứt, Hằng vẫn hy vọng, hai người sẽ lần theo sợi dây ấy mà tìm lại nhau. Sợi dây ấy như đã giữ Hằng lại những lúc sắp ngã. Hằng đã nắm chặt sợi dây và nhờ đó mà Hằng đã đứng vững. Hằng không đi theo con đường của mọi người, Hằng vẫn không yêu ai. Sợi dây ấy như đã bị ngọn kiếm của lão Ịnh chặt đứt rồi. Hằng thấy chới với và mắt tối sầm lại.

Cái chết của Sáu Sỏi làm rung động cả lòng người. Những người đi dự pháp trường, họ chờ đợi người bị giết khạc ra những lời thù hằn. Nhưng người bị giết lại nói ra những lời tha thiết và bạn bè. Trước khi chết, còn lo cho số phận của họ.

Lồng ngực họ đã căng lên vì căm thù, như một quả bóng đầy hơi, chực nổ tung ra thì bỗng thóp lại và xẹp dần xuống. Họ chờ đợi những tia lửa thù hằn trong đôi mắt của người bị giết nhìn về phía họ, để họ lấy đó mà đốt lên ngọn lửa trong lòng mình. Nhưng người bị giết lại nhìn họ với đôi mắt đau khổ và chan chứa một tình yêu. Và tia mắt của người bị giết như chia tách họ ra với một số người.

Ra khỏi pháp trường, họ cố gào la để át đi những kỷ niệm tốt đẹp của người bị giết đang lần lượt trở về. Họ cố gào la để ghìm lại những giọt nước mắt. Họ gào la đến khàn cả cổ. Họ không dụm ba dụm bảy để bàn thêm cái chết như mọi lần nữa. Họ không giết gà, mổ heo, uống rượu, cười nói và la ó như mọi lần nữa.

Họ đã kiệt sức rồi.

Họ tản ra về, mỗi người một ngọn đuốc mập mờ trong các lùm cây trên khắp các ngả đường. Đuốc tắt và tiếng hát cũng tan đi.

Còn Hằng thì ôm mặt chạy về nhà, vội vàng thắp lấy một nắm hương, quỳ dưới bàn thông thiên. Cùng với cái chết của Sáu Sỏi, hình ảnh của Phát cứ hiện lên trước mắt Hằng. Nàng thấy Phát trở về, khi thì Phát đốt nhà, đập phá, khi thì Phát nổ súng, bắn người này đến người khác. Hằng thấy mình đang chạy đến Phát, ôm lấy đôi chân của anh ấy như ngày nào, nàng khóc và kêu lên:

- Anh! Anh! Bác bảo anh hãy bắn vào thằng giặc, hãy bắn vào tên Quản Dõng, còn đối với đồng bào thì đừng có trả thù.

Hằng thấy khi thì Phát xô nàng ra, tay cầm súng lao vào ngọn lửa, khi thì cúi xuống, đỡ nàng đứng dậy.

Cây cỏ, nhà cửa và cả cái làng Mỹ Long Hưng đều chìm sâu trong đêm tối. Bầy đom đóm đậu trên tàn gừa chỗ pháp trường như những ngọn đuốc vừa thu nhỏ lại, thoi thóp và lập lòe. Tiếng động chỉ còn có tiếng sóng của dòng sông, tiếng lá khô lông lốc trên mặt đường và tiếng gió rít qua hàng dương. Mây đen vẫn cứ vần vũ và không mưa được. Trời oi bức.

Một vài tiếng sấm rền lên ở nơi xa.

Hằng quỳ dưới bàn thông thiên mà không niệm Phật. Hằng quỳ dưới bàn thông thiên, mà tưởng mình như đang quỳ dưới chân Phật.

Và nước mắt đầm đìa cả mặt nàng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #19 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2024, 04:02:18 pm »

XVI


Trong lúc ấy, mẹ Hằng ngồi bó gối trên bộ phản, miệng nhóp nhép nhai trầu. Bà ngồi đấy, khi thì nhìn chồng đang ngủ trong cơn say, khi thì nhìn đứa con gái đang quỳ dưới bàn thông thiên, khi thì lắng tai nghe tiếng động chờ đứa con trai trở về.

Mẹ Hằng cũng là người đàn bà mê tín. Chính bà là người đầu tiên khuyên bảo chồng con hãy vào đạo. Nhưng lòng mê tín của bà không bị cuốn đi. Bà là người mẹ, người đàn bà trong gia đình, cũng như bao nhiêu người đàn bà khác, lúc nào bà cũng lo cho cái ăn cái mặc và thu vén cho gia đình. Chính những điều lặt vặt như cơm cá, mắm muối, tiêu hành, đèn dầu luôn luôn níu lấy ý nghĩ của của bà trở về với cuộc sống thực.

Trước đây, Hằng còn lo lắng việc nhà, nhưng gần đây nó cũng bỏ mặc cho bà, như thế là một tay của bà phải xoay xở cho năm miệng ăn. Không như chồng con, như người khác, bà biết rằng đất mà bỏ hoang thì nhà không gạo, tằm không nuôi, dâu không trồng, khung cửi không dệt thì quần áo sẽ rách rưới, không nuôi con gà, con heo thì không có tiền để mua lấy những vật dụng trong nhà. Lúa đã đi vay nhà Quản Dõng thì sau này phải trả. Bà không tin Quản Dõng, bà thấy thương lão Ịnh và tất cả tín đồ. Bà mong muốn mọi người hãy yêu thương nhau, hãy cùng nhau đánh Tây cứu nước, hãy quần tụ dưới ngọn cờ của Phật và đức Cha già đáng tôn kính của dân tộc - đó là Hồ Chí Minh. Bà thấy anh em trong làng không có để thù hằn nhau cả, tất cả đều là con một cha, nhà một mẹ. Bà hiểu nhiều lắm, và bà cũng hiểu trong cái lúc hỗn độn này, trong lúc tâm trạng của mọi người đang sôi nổi như điên, tốt nhất không nên nói một điều gì trái với ý nghĩ của họ. Bà biết mình đang bất lực, cho nên bà đành phải âm thầm. Bà chỉ biết lo và tìm mọi cách chăm sóc, an ủi chồng con thôi. Hai ba lần thấy chồng từ xa về, chân đi chữ bát, quần dài không mặc, chỉ còn mặc một cái quần đùi, quần dài quấn qua đầu, thì bà vội vàng đi lùi một củ khoai, nấu nước khoai để cho chồng uống để giã rượu.

Thấy con trai đi khuya thì bà dọn dẹp giường ngủ cho con, thấy con gái bận đi hội họp thì bà lo thổi nấu. Bà vừa đau xót cho cái chết của Sáu Sỏi, người bạn sắp lập sui gia, vừa thương xót cho mối tình dang dở của con, vừa vu vơ nghĩ đến những ngày nước lũ sắp về.

Sẽ không còn bao nhiêu ngày nữa, dòng sông Cửu Long sẽ dâng tràn cả đường xá và cánh đồng. Nước sẽ đưa cá Biển Hồ về làng, cá từng bầy từng lũ dưới  mặt nước dày đặc như bánh canh. Bà thầm đếm lại những cái lờ, cái lọp, cái đó, cái đăng. Bà tính đến những gì trong nhà còn có thể bán được để có thể lấy tiền mua muối. Mùa nước năm nay bà sẽ chăm chút hơn, bà sẽ thức khuya dậy sớm để đổ lờ, đổ lọp nhiều hơn. Bà sẽ làm khô, làm mắm nhiều hơn để đổi cái ăn cho cả nhà. Con gà, con heo bà mang ra chợ bán lấy tiền mua gọi để khỏi phải đi vay từng giạ lúa của nhà Quản Dõng nữa.

Nghĩ hết mùa cá bà lại nghĩ đến mùa xoài. Bà chẳng có vườn xoài nào cả, đất để ở còn phải đọng thuế, đất đâu mà làm vườn. Mùa xoài sắp tới chắc là ít người lo tới. Bà sẽ dành dụm, nếu không thì mua trước trả sau. Bà sẽ đi buôn xoài, mỗi ngày ít nhất sẽ thu đôi ba đồng.
Bà cứ ngồi đấy nghĩ miên man. Chợt nhớ đến việc nhà, bà đốt ngọn đuốc bước ra sau hè, đóng lại cánh cửa chuồng gà.

Hiếu không đi dự pháp trường. Giận cha, anh bỏ đi nhưng chưa biết phải đi đâu. Anh định đến Lành nhưng Lành cũng không an ủi anh được nữa rồi. Khi nghe tiếng tù và túc lên báo hiệu giờ giết Sáu Sỏi đã đến, anh liền chạy thẳng đến cây cầu trong làng, chỗ bến đò, cây đa. Anh vào trạm gác nói khào với mấy anh lính gác một lúc rồi tìm cách lẻn đến khoảng vắng của khu vườn. Đấy là nơi vắng vẻ, nhà cửa thưa thớt, cây cối um tùm, nơi mà những đồng chí kháng chiến hay trở về. Hiếu vừa chạy vừa kêu thầm: “Anh Phát ơi! Đến bây giờ mà sao anh chưa chịu về?”.

Gió rít ù ù và thổi bay manh áo anh. Anh vẫn cứ chạy, thỉnh thoảng anh ngoái đầu nhìn lại.

Khi đã ra khỏi xóm, tai không nghe tiếng tù và, và mắt không thấy những ánh đuốc chỗ giết Sáu Sỏi nữa, thì anh dừng lại.

Anh vừa thở vừa nhìn vào những lùm cây để mong gặp lại một người về, nhưng chung quanh anh cũng chỉ là lùm cây, bóng tối và tiếng sóng vỗ ì ầm. Dòng sông vẫn mênh mông, vẫn vắng lạnh và vẫn trào lên những ngọn sóng bạc đầu. Thế là không có một ai về rồi! Hy vọng cứu Sáu Sỏi không còn nữa, Hiếu nghĩ đến việc đã xảy ra với cha mình. Anh thấy hối hận và đau đớn. Anh không khóc, nhưng anh nhớ lại những giọt nước mắt đọng long lanh trên chòm râu của cha. Cha anh suốt đời có bao giờ biết khóc! Anh nghe những giọt nước mắt hiếm hoi ấy từng giọt, từng giọt rỏ buốt xuống lòng mình. Bao nhiêu hình ảnh của người cha suốt đời chịu cay đắng nhọc nhằn vì con, lũ lượt quay về trước mắt anh.

Cái cảnh bao la mờ mịt của dòng sông và tiếng ầm ì của sóng gió như mang một nỗi buồn trơ trọi đến vò xé tâm can anh. Đôi mi anh nóng ran lên vì nước mắt. Bỗng chốc anh thấy tha thiết nhớ đến cha như đã xa nhau từ lâu lắm. Giờ này, chắc cha anh đang vật vã vì đã giết Sáu Sỏi, và đang cần đến sự an ủi, đang nhớ anh?

Thấy những ngọn đuốc của những người đi dự pháp trường rải rác trở về trên các ngả đường, anh lững thững trở về.

Hiếu về đến nhà thì lão Ịnh đã ra đồng. Anh chỉ thấy hương khói trên các trang thờ, cảnh nhà thật âm u.

Thấy diệm rượu còn để trên bộ phản, tưởng là diệm nước, anh đưa tay vốc lên rửa mặt. Rượu thấm vào mắt anh cay xè. Thuận tay, anh ném cả cái diệm ra ngoài. Cái diệm vỡ tan.

Hiếu ôm mặt nằm sấp xuống mặt phản. Anh không còn muốn nghĩ gì nữa. Anh muốn quên tất cả. Anh nhắm nghiền đôi mắt cay xè, cố dỗ giấc ngủ...
Logged
Trang: « 1 2 3 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM