Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 06:30:44 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đất lửa  (Đọc 31042 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #20 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2024, 04:08:32 pm »

XVII


Lão Ịnh bước ra khỏi nhà ông Năm Bầu, trong lúc lẩn quẩn chưa biết đi đâu, sẵn đi trên con đường mòn, thuận chân, lão bước thẳng ra cánh đồng và ngồi lại dưới gốc cây vông cạnh những đầm sen. Những cơn gió dữ dội đã gom đám mây đen về một bên trời. Trên trời tây nhấp nháy một vài vì sao.

Cánh đồng trước mặt lão chỉ còn là cánh đồng hoang của cỏ lác, cảnh vắng lặng ấy chỉ còn có cánh vạc đi ăn đêm, những bầy đôm đốm lập lòe và tiếng dế giun ri rỉ. Những cơn gió miên man đưa hương sen dìu dịu thổi vào lồng ngực lão. Lão nghe như những cơn gió trong của cánh đồng khuya ấy đang thổi tan dần những chất độc đã thấm đen trong người mình, lão thấy tâm hồn được mát nhẹ, thấy mình như người đang mê trong cơn điên loạn của giết chóc và tang tóc được dần dần tỉnh lại.

Lão ngước mắt nhìn những vì sao và đưa tay vuốt vuốt lại những lọn tóc như sắp xếp lại những ý nghĩ bị lôi cuốn ở trong đầu.

Một đàn chuột có hơn mười con - đã được sống và lớn lên trong sự thờ ơ về mùa màng của con người - to bằng con chồn, nối đuôi nhau chạy qua trước chân lão, nó vừa chạy vừa kêu rúc rích như cười. Con cuối cùng bỗng dưng quay đầu lại, nhúc nhích bộ râu, kêu “chúc chích” mấy tiếng như muốn nói “cám ơn bác” rồi như giật mình, nhảy ngược lại một cái và phóng chạy theo đàn.

Nhưng lão Ịnh có nghĩ gì đến việc mùa màng ấy, lão hãy còn đang nghĩ về việc làm của mình. Nói cho đúng hơn là lão đang nghĩ lại về con đường đi của mình.

- Tà hay chánh? - Lão lẩm bẩm và tự hỏi.

Như để trả lời cho câu hỏi đó, lão nhớ lại lần lượt tất cả những cái gì đáng nhớ một cách tuần tự, rõ ràng và bình tĩnh. Lão nhớ rõ lại cái ngày mà lão bỏ làng đi, và cũng là cái ngày mà lão bỏ hàng ngũ của mình. Ngày ấy là ngày... năm bốn mươi của Nam Kỳ khỏi nghĩa.
Đêm hôm đó, tất cả chuông trống, mõ và tù và cùng một lúc đều nổi dậy. Cũng như bao nhiêu tá điền trong làng, lão cũng cầm đuốc, cầm dao đi cướp đồn của tên quận Ghiđi giành nước, giành lại đất cho dân cày. Và lão là một trong những người đi đầu. Bao nhiêu sự chờ đợi và hy vọng của lão đều hướng vào cái đêm ấy. Niềm tin chất chứa trong lồng ngực căng phồng của lão cháy lên ngùn ngụt không khác nào những ngọn đuốc của đoàn biểu tình. Cái đêm ấy, người lão cứ ngây ngất như say. Đôi vai to lớn của lão lách người này, người nọ, chen ra phía trước để được đi gần Sáu Sỏi.

Nhưng... chuyện không thành.

Sáng hôm sau, khi mà tên quận Ghiđi và Quản Dõng bọn lính mã kỵ mặt mũi đen sì về làng đốt phá, lùng bắt và khi mà Sáu sỏi mặt mày bị sưng húp, áo rách te tua như xơ mướp, ngực bị bầm đen, tay bị trói ngược ra sau đi giữa hai hàng lưỡi lê sáng chói, thì lão nằm trốn dưới bệ thờ thần của đình làng. Nằm nghe những tiếng súng nổ, tiếng nhà cháy, tiếng kêu khóc của trẻ con, tự dưng lão thầm van vái nhờ các thần linh của đình làng che chở cho.

Giữa đêm, lão đến ông Năm Bầu gửi Hiếu, rồi cùng với hai đứa con nhỏ bơi chiếc xuồng cui, vượt sóng đến tận làng Hòa Hảo xin ẩn náu trong gia đình của người anh bà con họ.

Lão còn nhớ rõ cái buổi chiều đi trên chiếc xe ngựa do người anh họ xa ấy đưa đi. Lão nhìn ra bên đường, thấy sân nhà nào cũng dựng lên một bàn thông thiên. Khói hương cứ quẩn quất một nỗi buồn. Và người thì già trẻ, trai gái gì sau ót cũng tòn teng cái búi tóc. Quả là một đất nước lạ lùng. Chỉ có mấy năm mà thay đổi hẳn đi rồi.

Trong tiếng vó ngựa chậm rãi và đều đều của buổi chiều hiu hắt ấy, ông Chín Cối, người anh họ của lão, với một giọng trầm trầm và thành kính, ông ta đã cắt nghĩa cho lão rằng:

- Cái làng Hòa Hảo này bây giờ đã thành cái đất Phật rồi đó, chú Tư!

Ông Chín gò cương cho ngựa chạy chậm lại, chốc chốc ngoảnh cái gương mặt đượm vẻ buồn tư lự về phía lão mà bảo:

- Chú thấy người trong làng ai nấy đều để tóc chắc là chú tức cười lắm, phải không? Không nên đâu chú Tư ạ! Ông bà tổ tiên mình ngày xưa có ai đi cắt tóc như mình bây giờ đâu! Cái đám hậu sanh của mình đây, vì bị cái thằng “Tây lỗ mũi lõ” nó qua đây, nó “truyền nhiễm” cho mình đó chớ!

Nói đến đây, ông Chín Cối chồm lên đưa roi đánh đốp vào lưng ngựa một cái. Ngựa chồm lên, xe chạy lắc lư. Ông Chín Cối lại gò cương cho ngựa chạy êm lại, rồi với một vẻ mặt hối hận, ông nói:

- Tôi hối lắm chú Tư à! Chú thấy cái đầu của tôi bây giờ mà còn trụi lủi đây thì chú biết, thật là tôi có lỗi với ông bà, trước đây vì bị con mắt trần tục mà tôi không thấy, nên tôi sợ người ta cười. Ngay từ lúc này, tôi đã bắt đầu để tóc rồi đó, chú Tư!

Ông Chín càng nói càng say sưa, và đôi mắt càng trở nên mơ màng, ông xoay người hẳn lại đối diện với lão, cho ngựa chạy chậm lại và tiếp:

- Tôi biết chú lên đây là không phải lên để làm thuê làm mướn gì đâu! Mà chú lên đây để mưu việc nước, tôi biết, chú đừng giấu... Nhưng mà... - Ông Chín Cối ngừng lại như ngại ngùng không muốn nói và đưa mắt nhìn khắp người lão hồi lâu rồi mới tiếp: - Không làm gì nổi nó đâu, chú Tư! Tụi nó là giặc trời chứ có phải là giặc thường đâu! Giặc trời mà không có phép Phật thì nó không tan đâu chú Tư! Chú cũng nhớ cái câu “mưu sự tại nhân mà thành sự thì tại thiên” chứ? Nằm đêm, chú ngẫm lại mà xem, từ xưa cho đến nay, dân mình có biết bao nhiêu lần nổi dậy, nhưng hỏi chú, có lần nào được nó không? Nào là thời Trương Định, thời Nguyễn Trung Trực, thời Nguyễn An Ninh, cái thế của mình như một ngọn lửa dưới một trận mưa, bởi vậy, không bị dập tắt làm sao được. Rồi bây giờ, qua đến cái thời của những ông làm cách mạng, hỏi vậy cái năm bốn mươi này, mình làm gì được nó? Tại sao mà cơ sự nó ra nông nỗi như vậy, hở chú? Có phải là tại vì mình không chịu quy y theo đạo để nhờ phép tắc thần thông của Phật thầy không? Hồi ngày xưa, lúc Tam Tạng đi thỉnh kinh, Tôn Hành Giả là người biết thăng thiên độn thổ, đã từng làm náo động cả thiên cung, mà đến lúc hiểm nghèo, Tôn Hành Giả còn phải đi cầu Phật thầy! Chú lên đây rồi chú sẽ thấy. Chú có biết ông Ngô Quang Vĩ không? Đi làm cộng sản từ ở xứ Badi (Pari) về bên này, bây giờ ông còn quy y theo đạo thầy, huống chi là mình, hở chú!

Trong cái tiếng vó ngựa thưa thớt và đều đều ấy, giọng của ông Chín Cối tuy sôi nổi, nhưng mỗi lúc một buồn tênh, ông tiếp:

- Cái việc năm nay, chết chóc như vậy chưa phải là hết đâu! Còn nữa - ông ta kéo dài cái tiếng còn nữa ấy - còn chết như là rạ chú Tư à! Chú đi làm việc nước, chắc là chú cũng biết cái thời ly loạn này rồi chứ? Nhật vào Đông Dương rồi Đồng minh đánh phe trục, còn nữa, có phải như vậy mà thôi đâu! Bởi vậy cho nên kinh sấm có truyền lại rằng... - Ông Chín Cối ngẩng đôi mắt mơ màng nhìn lên xa xăm một lúc, rồi cất lên một giọng trầm trầm như một dòng nước đục:

Mười phần chết bảy còn ba
Chết hai còn một mới ra thanh bình!...


và ông cắt nghĩa luôn:

- Đấy! đấy! Nghĩa là mười phần thì phải chết hết bảy còn ba, rồi phải chết hai còn một thì mới ra được cái sự đời chú Tư ạ! Bởi thế cho nên, lời Phật có khuyên bảo bá tánh chúng sanh như thế này... -  Rồi ông ngâm luôn:

   Người đời nay như ốc mượn hồn
   Chim tìm tổ mới gọi chim khôn
   Người hiền đức mới là người chí
   Xin bổn đạo từ nay kim chỉ
   Đói với nghèo sắp đến bây giờ...


Cái giọng ngâm nga trầm trầm và buồn bã ấy của ông Chín Cối, lão nghe như tiếng ai ru cho hồn mình và ngọn lửa hừng hực sẵn có trong ngực lão tự dưng dìu dịu xuống.

Lão xin ở nhờ trong cái chòi giữ lúa của ông Chín Cối. Ban ngày, lão gửi hai con cho bà Chín. Đêm, lão mang hai con ra chòi, một cái chòi trơ trọi giữa đồng. Ngày ngày, lão đi làm mướn, lão biết khá nhiều nghề: gặt, xắc thuốc, tát đìa, đào mương, bẻ dừa và những công việc nặng nhọc khác. Lão chỉ muốn làm đủ sống qua ngày, nuôi con để chờ cơ trở về làng. Nhưng lão sống không yên. Lão đi đâu cũng bị người ta dòm với cặp mắt dò xét, nghi ngờ. Người ta đang xầm xì to nhỏ với nhau, hễ thoáng thấy lão thì người ra hiệu, suỵt bảo nhau hãy im và dồn mắt nhìn khắp cả người lão. Lão luôn luôn thấy mình là con người xa lạ, luôn luôn bị người ta xa lánh. Bởi một lẽ rất giản đơn: lão không ăn mặc quần áo màu già, đầu không để tóc.

Lão toan trở về làng, nhưng sợ cảnh khủng bố. Hình ảnh của Sáu Sỏi bị trói giữa hai súng lưỡi lê hiện lên, lão lại thôi. Lão muốn đi lánh mặt ở những làng khác, nhưng làng nào cũng bị lùng bị bắt. Chỉ còn có cái đất Phật bọn lính kín và Tây mới ít qua ít lại thôi. Trong lúc ấy, những người ở khắp mọi nơi kéo nhau về đây xin theo đạo, nườm nượp như ngày hội lớn. Xuồng ghe trên các bến chen nhau như bến chợ. Xe ngựa qua lại dập dìu trên các ngả đường. Mỗi một chiếc ghe, trước mũi đều có bàn thông thiên, trầm hương ngui ngút suốt ngày. Đi trên đường, họ cũng cầm một bó hương, mùi thâm trầm của khói hương như tạo ra một không khí huyền bí luôn luôn phảng phất trong đời sống con người. Người ta như không dám làm gì gây ra tiếng động. Gặp nhau người ta không mừng nhau bằng cách vồ vập, không bắt tay theo kiểu Âu, mà chắp hai tay lên trước ngực xá chào, vừa thâm nghiêm, vừa kính cẩn như gặp nhau trong cảnh chùa. Người ta không to tiếng, nói gì cũng xầm xì, thỉnh thoảng lại suỵt một tiếng, bảo im. Những người ấy, đến đây, họ mang theo những nỗi buồn khổ của họ, mỗi một con người với mỗi cuộc đời, mỗi số phận khác nhau.

Đâu đâu, người ta cũng nghe nói đến cảnh khổ và mọi sự chán chường. Đất Hòa Hảo bỗng trở thành là nơi tố khổ của mọi người! Ngoài những cảnh ngộ riêng, người ta còn xì xầm với nhau về những chuyện khủng bố của giặc Pháp. Lão lắng nghe tất cả những tin đó, mặc dù người ta không nói với lão. Những người cộng sản, những người cầm dao cầm đuốc trong ngày khởi nghĩa, lần lượt đều bị bắt. Người bị bắt bị xỏ vào gan bàn tay thành từng xâu người, bị đày ra Côn Đảo, bị bắn ở giữa chợ, bị thả ra biển khơi. Đâu đâu, bọn cò Tây, bọn lính mật thám cũng đi lùng. Chúng lùng từng nhà, từng bụi rậm. Người nào chúng cũng xét hỏi giấy tờ. Ai là người có đạo, có để tóc, có mặc quần áo màu già, chúng mới cho tự do. Làng nào, xóm nào chúng cũng đến, chỉ còn có cái làng Hòa Hảo nầy, bọn chúng mới còn nể mặt thôi.
Đêm nằm gần hai con trong cái chòi giữa cánh đồng không hiu quạnh ấy, bao nhiêu tin tức ấy cứ hiện lên trước mắt lão bằng những hình ảnh do lão tạo ra. Lão thấy mình bị bắt, bị đày đi Côn Đảo. Chân tay lão bị xiềng. Lão nằm co ro trong ngục tối, bên ngoài là sóng biển gào thét ầm ì. Lão thấy mình bị xỏ vào gan bàn tay với Sáu Sỏi, bị đẩy xuống tàu sắt đen sì, bị xô xuống biển, bị sóng dồi dập, bị ngạt, rồi xương thịt rã tan ra. Ôi! Nếu lão mà bị bắt như thế, thì con của lão sẽ sống với ai? Mẹ nó đã mất rồi. Nhìn hai đứa con đang ngủ, nhớ Hiếu, lòng lão cứ se thắt lại.

Gần một năm sống lẩn lút, lão chưa hề gặp được người anh em đồng chí nào. Không có ai để bàn bạc đế lo lắng. Không có ai cắt nghĩa cho lão hiểu tường tận vì sao khởi nghĩa bị thất bại. Không có ai thêm sức cho lão. Không có ai mang đến cho lão một điều gì hy vọng đế lão nhìn theo đó mà đi. Suốt ngày, lão chỉ thấy có những con người trầm tư, lúc nào lão cũng nghe những tin đồn hoặc khủng khiếp, hoặc huyền bí một cách lạ lùng. Lúc nào lão cũng nghe kinh sấm với những lời lẽ cũ kỹ, chán nản với nhiều giọng buồn nản khác nhau. Kinh sấm ru người ta ngủ như một thứ thuốc mê, càng ngày càng thấm sâu vào tâm hồn. Nhiều đêm, lão thấy buồn như thắt ruột thắt gan. Làng, đã bỏ đi, nhà không có, hy vọng không còn, tiền làm mướn chỉ đủ nuôi con, không được thừa cho một cút rượu để khỏi phải nghĩ ngợi đến chuyện đời. Nghị lực sắt đá trong người lão như rã dần. Lão không muốn, nhưng lão cũng bắt đầu nghĩ đến lời lẽ trong kinh sấm, càng nghĩ lão càng thấy nản đời. Một đêm, lão đang trằn trọc thì ông Chín Cối mò ra chòi, gọi lão.

Lão vừa đánh diêm châm đèn thì ông Chín Cối thổi tắt và bảo:

- Đốt đèn mà làm gì. Ánh hào quang của nhà Phật - ông Chín Cối vừa nói vừa ngẩng nhìn những vì sao - đang chớp nháy đầy trời kia, không đủ soi sáng cho lòng dạ của mình hay sao? Chú tắt đèn đi chú Tư, tôi ra đây khuya khoắt như thế này kể cũng phiền cho giấc ngủ của chú. Nhưng vì tôi có một chuyện muốn “trần tình” với chú.

Qua giọng nói nghiêm nghị và vẻ mặt trang trọng của ông Chín Cối, lão đoán biết là chuyện gì rồi. Lão hơi bối rối:

- Anh Chín ngồi xuống đây... Tôi đến đây, tôi sống, tôi chết là cũng nhờ anh. Có chuyện gì, anh nói đi, tôi sẽ nghe theo lời khuyên bảo của anh.

Lão không ngờ mình lại nói được những lời dịu dàng và có vẻ đàn em như vậy. Từ xưa đến nay, lão vốn là con người ngang tàng. Lão vừa thấy nhục, vừa thấy mủi lòng.

Ông Chín Cối nhìn vào đôi mắt của lão một hồi lâu, rồi nói:

- Chuyện nói với chú đây, chẳng có gì là mới lạ. Vốn tôi là người không thích nói nhiều, mà tôi cũng đã nói với chú nhiều rồi. Đêm nay, tôi không ngủ được. Tôi biết là Phật trời khiến cho tôi ra đây để trần tình với chú lần cuối cùng. Chú lên đây đã gần một năm rồi, nhưng mà chú ngẫm nghiệm chưa ra cái lẽ đời. Những người “làm cộng sản” hơn chú, bao nhiêu lần bị tù đày, bị lưu vong, bị thất bại, người ta cũng đã hồi tâm mà quy y theo đạo rồi, ai ai cũng quy tụ dưới chân Thầy. Còn chú? Kinh thơ của nhà Phật có câu: “Người đời nay như ốc mượn hồn. Chim tìm tổ mới gọi chim khôn”.

Chú như chim đã về đến tổ rồi mà chú chưa biết. Chú ở đây mà hồn của chú cứ vỗ cánh bay đi như một con chim lạc đàn vậy. Thôi thì cũng tùy chú, tôi không dám ép, âu cũng là cái số phận của chú thôi. Nhưng phiền một nỗi, nếu bọn Tây tà biết chú mà mò tới đây thì ai là người che chở cho chú? Tôi sẽ vì chú mà bị liên can, rồi tan nhà nát cửa, rồi cả cái làng Hòa Hảo này có khi vì chú mà bị cháy ra tro. Nếu mà như vậy, tôi sẽ có lỗi với Phật trời, với bà con bổn đạo đến dường nào. Chú vì bị nạn mới lên đây nương náu, tôi không nỡ, nhưng chú cũng nên nghĩ cho cái tình cảnh của tôi. Thôi, đêm nay tôi ra đây là để trần tình với chú mấy lời như vậy nữa thôi. Chú hãy tùy theo lòng dạ mình mà lo liệu.

Ông Chín Cối nói xong, liền đứng dậy ra về.

Thế là ông Chín Cối muốn đuổi lão ra khỏi cái chòi rồi! Lão thấy nghẹn đắng ở cổ và nước mắt cứ trào ra.

Lão kêu theo:

- Anh Chín! Anh Chín!

Ông Chín Cối như không nghe, cứ lầm lũi đi. Lão chạy theo:

- Anh Chín!

Lão đuổi kịp ông Chín Cối, nắm lấy vai ông Chín Cối, nói nghẹn ngào trong nước mắt:

- Anh Chín! Anh hiểu cho tôi. Tôi chẳng phải là người không biết nghĩ. Nhưng tôi không muốn vào đạo cho lấy có, đã vào đạo thì phải thờ đạo cho hết lòng. Anh Chín nói với bà con để cho tôi vài hôm nữa.

- Tôi thương chú, tôi mới nói. Chứ đừng có giận tôi.

- Tôi biết, anh Chín! Gần một năm nay, ba cha con tôi sống là nhờ anh.

Chia tay với ông Chín Cối, lão đi lang thang mãi trên những con đường bờ. Lão có biết một số anh em đồng chí đã vào đạo rồi. Anh Sỏi ơi! Hiện giờ anh ở nơi đâu? Anh đã bị đày ra Côn Đảo hay đã bị vùi sâu dưới đáy biển, hay là anh cũng đã vào đạo rồi? Những anh em đồng chí ấy vào đạo với lòng thành hay vào đạo để che mắt bọn Tây, bọn mật thám? Sao mình không vào đạo để che mắt bọn Tây như anh em? Lão tự hỏi rồi bỗng chợt một ý nghĩ: tại sao lúc bỏ làng đi mình không băng qua sông về ở với người cháu bên Tháp Mười, mà lại ngược dòng sông, cưỡi sóng lên đây? Hay là Phật trời đã xui khiến cho mình? Câu hỏi ấy cứ giày vò tâm trí lão...

Trở lại chòi, nghe tiếng động, hai đứa con của lão giật mình thức giấc. Đứa lớn như hiểu được tâm trạng của lão, nó hỏi:

- Ba ơi! Sao ba không vào đạo đi?

Hai đứa vì không phải là con của người có đạo, cho nên nó không được trẻ con hàng xóm rủ đi chơi. Một đứa lên mười, một đứa lên tám. Cả hai đứa đều không có quần áo màu già, cả hai là con gái mà vẫn chưa để tóc. Còn những đứa trẻ khác, cùng một lứa tuổi với chúng nó, con trai nghèo không quần mặc mà cũng đã có cái búi tóc nhỏ như củ tỏi rồi. Hai đứa đều mang máng hiếu rằng: nếu ba vào đạo thì nó sẽ được lũ trẻ hàng xóm rủ đi chơi, sẽ được bà Chín cho quà.

Sau khi bảo lão vào đạo, đứa lớn lại đưa tay chỉ một ngôi sao và hỏi:

- Ngôi sao ở đây sao mà lớn quá vậy ba? Con sợ quá. Như là con mắt cứ nháy nháy với con hoài.

Trước đây, ở nhà, đêm nó ngủ đến sáng, nó có được ngắm sao khuya bao giờ đâu! Bây giờ, nó thấy ngôi sao là con mắt!

- Ừ! Thì ba vào đạo. Con ngủ đi! - Lão gãi lưng con, dỗ con ngủ, rồi lại lăn trở, trằn trọc và ngắm nhìn những ngôi sao. Nhìn những vì sao, lão lại vơ vẩn nhớ những chuyện đâu đâu. Mỗi một con người là một vì sao. Sao mờ, sao tỏ là định mệnh của con người. Một vì sao sa là một người chết. Chẳng biết vì sao nào là vì sao định mệnh của mình.

Sau đó, lão xin vào đạo. Lão mặc quần áo màu già, lão để tóc, để râu. Những lúc cúi nhìn xuống ao nước, lão không nhận ra mình được nữa. Bọn lính kín khó mà nhận ra mình lắm, lão thấy yên tâm hơn và được mọi người gần gũi yêu mến hơn.

Vào đạo, ba cha con lão được về ở chung với gia đình ông Chín, lão được đi hội họp, được bàn luận, được đọc kinh thơ và các thứ sấm. Kinh sấm của đạo đối với lão và mọi người như những mồi thuốc phiện. Đọc xong, trầm tư ngẫm nghĩ, lão vừa thấy buồn nản, vừa chê chán cuộc đời. Được nghe kinh sấm nói về nỗi khổ con người, lão thấy mình như được ai đó an ủi, vỗ về, được ru ngủ và như tìm thấy một lẽ sống đẹp đẽ hơn. Bao nhiêu lời kinh sấm, đọc đi đọc lại, lão ngẫm nghiệm ra được những ý chính: con người Việt Nam là loại người bị nạn, bị đau khổ. Muốn hết đau khổ thì phải đánh Tây, giành lại đất nước, giành lại đất cho dân cày. Muốn đánh được Tây, giành được đất thì phải theo đạo, phải hành động theo lời chỉ dạy của Phật. Rồi sau đó sẽ lập nên một triều vua mới... Càng ngẫm nghiệm những điều ấy, lão càng thấy đúng, càng thấy hợp với ý nghĩ của mình. Lão càng ngẫm, lão càng thấy thích cái câu “mưu sự tại nhân mà thành sự thì tại thiên” - Sức của con người không thể làm nên chuyện lớn!

Vào đạo, phần hồn, lão thấy được yên ổn, phần xác - thời thế ấy - lão thấy mình được tự do hơn. Lão đi ra chợ huyện đầu có búi tóc, quần áo màu già, lão không bị khám xét. Có một buổi chợ, vào quán uống chén rượu, đi ngang qua nhà dài chợ, thấy ảnh Pêtanh, hứng chí, lão đưa tay chỉ mặt Pêtanh chửi đổng mấy tiếng mà chẳng ai dám làm gì lão. Lão vừa chửi vừa phanh áo ngực vừa nghiêng vai nhìn mọi người. Lão thấy bọn lính đang cầm dùi cui nhìn lão lấm lét rồi lảng tránh. Còn người chung quanh thì nhìn lão với con mắt vừa khâm phục vừa lạ lùng. Đúng là cái bọn Tây đã phải nể mặt cái đạo Hòa Hảo này rồi! Thế là lão thấy hãnh diện. Lão nghĩ thương Sáu Sỏi, nghĩ thương anh em đồng chí. Lão muốn tìm gặp lại anh em đồng chí để bàn luận, lão mong muốn anh em đồng chí cũng cùng vào đạo như mình.

Lão muốn trở về làng. Nhưng lão chưa kịp về thì một tai nạn xảy đến. Nạn dịch tả từ Sài Gòn Chợ Lớn tràn đi khắp mọi nơi. Đứa con lớn của lão bị đi chảy có một đêm rồi lăn ra chết. Nấm mồ của đứa con lớn chưa khô thì đứa con nhỏ của lão lại chết theo. Trong làng, ngày nào cũng có người chết. Người chết như rạ. Ngày nào cũng có đám ma. Đám ma đi bằng xe ngựa, đám ma đi bằng xuồng, người chết cứ nối nhau nhiều đến nỗi không có hòm để chôn nữa. Người ta bó người chết bằng chiếu, bằng đệm. Lúc nào cũng nghe tiếng khóc, đâu đâu cũng thấy khăn tang. Người trong đạo cắt nghĩa cái cảnh tượng ấy bằng một câu kinh:

Mới thấy đó bỗng liền mất đó

hoặc:

Mười phần chết bảy còn ba,
Chết hai còn một mới ra thái bình...


Và người ta cắt nghĩa thêm: “Những người chết ấy là những người không thật lòng với đạo. Còn những đứa bé kia là những đứa chịu tội thay cho cha mẹ nó!”. Đứa con nhỏ của lão trước khi nhắm mắt, nó vừa đưa tay bắt chim chim, vừa gọi lão mà hỏi: “Ba ơi! Sao ba không vào đạo đi?...”. Có phải chăng, nó muốn nhắn nhủ lại lão lời cuối cùng? Khiến cho lão nhớ lại ý nghĩ đầu tiên của mình khi vào đạo - vào đạo để che mắt bọn Tây tà với mật thám - Lão vừa xót xa hối hận, vừa sợ sự trừng phạt về linh hồn.

Cảnh làng như một đám tang. Rồi người ta lại tự an ủi bằng một câu kinh khác:

- Ai chết trước được mồ được mả
Ai chết sau sẽ rã thây thi…


Mất hai đứa con, tâm hồn lão như một đêm tối và quạnh hiu như một dòng sông vắng. Lão càng nhớ đến Hiếu và thấy cần phải trở về làng.
Trong những ngày sắp sửa về làng, lão gặp lại Quản Dõng. Lão gặp Quản Dõng trong một buổi chiều sau khi đi chôn cất một người đàn bà ở đầu xóm bị chết vì nạn dịch. Lão đi một mình trên con đường đất xuyên qua xóm, đang thẫn thờ vì cái chết, bỗng lão nghe tiếng gọi:

- Anh Tư!

Lão quay lại. Nhìn một lúc, lão mới nhận ra người gọi mình là Quản Dõng. Sau khi vào đạo, lão luôn luôn hy vọng: ngày nổi dậy, lão sẽ tìm bắt cho kỳ được tên Quản Dõng, lão sẽ tự tay hành hình hắn và sẽ lấy đất của hắn trả lại cho mọi người. Nhưng bấy giờ, khi gặp lại Quản Dõng thì lão thấy thương thương. Quản Dõng không còn là tên Quản Dõng hống hách và ác hiểm như ngày xưa nữa. Bộ râu ngạnh trê của hắn đã cạo nhẵn đi từ lúc nào, đầu không đội nón cối, đầu hắn đã có một mái tóc dài, tay không cầm cù quéo nữa, tay hắn cầm một bó hương thơm và người thì mặc một chiếc áo màu già phủ phục đến tận gối. Hắn cũng đã vào đạo rồi ư? Lão hãy còn đang ngỡ ngàng thì Quản Dõng tay chấp lấy bó hương đưa lên trước ngực xá chào lão. Hắn bước gần đến lão một cách rụt rè:

- Anh Tư! Mới có mấy năm mà anh đã quên tôi rồi sao anh Tư?

- Cậu Quản đó à? Cậu dạo này khác quá.

Quản Dõng nói:

- Tôi quy y vào đạo rồi anh Tư ạ! Đêm nằm nghĩ đến chuyện xưa, tôi hối quá. Tôi quả là người có lỗi đối với anh.

Chưa bao giờ lão nghe hắn nói với giọng buồn buồn như vậy, lão mềm lòng, không nỡ nói một câu gì cho nặng lời.

Quản Dõng bước gần đến lão nói tiếp:

- Bấy lâu nay, tôi tưởng anh đi đâu, không ngờ anh đã về với đất Phật. Sao anh không trở về thăm làng thăm nước? Bà con ở làng mình cũng đã quy theo đạo nhiều rồi. Tôi cũng muốn xin vào đạo ở tại làng. Nhưng ngẫm vì mình có nhiều tội lỗi, nên tôi muốn lên đây để được gần với Phật hơn. Kể cũng may cho tôi, anh Tư ạ! Lệnh trên đã phán xuống cho tôi, tôi chưa phải là người đến nỗi đã đi muộn. Thì giờ vẫn hãy còn đủ cho tôi tu tâm dưỡng tánh...

Sau đó, Quản Dõng còn nói cho lão nghe bao nhiêu câu chuyện về làng nữa.

Đã gần ba năm rồi, lão mới nghe nhắc đến chuyện làng. Cuộc đời của lão nghèo khổ, nhưng lão chưa hề lận đận như thế. Trước đây, lão cũng có nghe người làng đến xin vào đạo, nhưng lão chẳng tìm ra. Ôi! Cái làng! Cái làng của lão, làng Mỹ Long Hưng! Một cái làng nằm dài theo Cửu Long giang. Làng có một cái chợ to như thị trấn lớn, mấy làng chung quanh đều quần tụ về đấy mua bán. Chợ có bến ô tô, bến xe ngựa và bến tàu, lúc nào cũng rộn rịp, ồn ào. Từ thị trấn có ba con đường lớn đi về các nơi. Một con đường đá chạy về chợ huyện - huyện Chợ Mới -đấy là con đường xuyên qua xóm Đình của lão. Một con đường nhựa chạy thẳng Sài Gòn và một con đường đất chạy tắt qua cánh đồng đỗ tận bờ Hậu Giang, nhìn về thị trấn tỉnh Long Xuyên. Một cái làng với cánh đồng bát ngát, nhà cửa san sát cặp dài theo những con đường, những con kinh. Một cái làng xanh bóng cây, bờ bãi xanh mướt những hàng dâu. Cả làng đều nghe tiếng sóng, tiếng gió rì rầm trên tàng cây, tiếng vó ngựa gõ trên mặt đường, tiếng khung cửi, tiếng còi với mùi ét xăng của ô tô và tiếng còi tàu từ Nam Vang, Sài Gòn đổ về xin bến và chào bến ra đi. Một cái làng trù phú và sầm uất. Nhưng cuộc sống của con người thì cay đắng và nhọc nhằn. Tuy thế, lão vẫn nhớ, vẫn yêu nó, xa nó nhưng bước chân của tâm hồn lão bao giờ cũng quanh quẩn ở xóm Đình.

Lão hỏi thăm con và tất cả người làng. Nghe Quản Dõng nhắc đến làng với giọng trầm buồn, lão tưởng như Quản Dõng mang cả cái làng đến cho mình. Lão thấy thân với Quản Dõng hơn.

Vì chuyện làng, lão không muốn vội chia tay. Và khi chia tay, lão còn nhận lời gặp lại nhau một lần nữa.

Đêm ấy, lão vừa nhớ làng, nhớ con, vừa nghĩ đến Quản Dõng.

Lão quỳ dưới bàn thông thiên rất lâu. Tay chấp hương trước ngực, mắt ngẩng nhìn những vì sao của định mệnh, lão thành kính hứa với Phật trời, sẽ hiến trọn đời mình cho đạo:

- Ôi! Nếu như đạo không thiêng liêng, nếu đạo không quyền lực, nếu đạo không có sức mạnh của Phật trời thì những con người như Quản Dõng làm gì biết ăn năn, biết hối lỗi, biết cải tà quy chánh và quy y theo đạo!...

Nhớ tới cái đêm thề dưới bàn thông thiên, lão chợt kêu thầm:

- Anh Chín ơi! Anh đã chết rồi! Linh hồn của anh đã lên cõi Niết bàn hay là đã sa xuống địa ngục? Con đường tà chánh đang lẫn lộn trên cõi đời này, chỉ có anh và tất cả những bổn đạo tín đồ đã chết mới là người biết rõ nhất, hồn anh có linh thiêng thì hãy về đây mách bảo cho tôi với!

Chung quanh lão, chỉ có cánh đồng hiu quạnh với bầy đôm đốm lập lòe và những cơn gió rì rào trên tàng vông, không có ai trả lời cho lão hết.

Lão lại lẩm bẩm đến lời dạy của đức Thích Ca Mô Ni: “Xét phải đoán những điều gì mà ta làm...” và lão tự hỏi:

- Nếu ta theo Sáu Sỏi để đánh Tây thì có làm trái lại lời dạy của Phật không? Linh hồn của ta sẽ ra sao? Nếu ta gạt bỏ tình nghĩa riêng tư cứ một lòng theo đạo thì còn gì nhục nhã bằng, ta là người đầu giặc! Mà không, đạo ta có phải đầu giặc đâu, ta đã lẩn thẩn rồi, nam mô a di đà Phật, đạo ta hàng giặc đây là hàng đỡ... Nhưng, trong tất cả kinh thơ, có câu nào dạy cho ta tạm hàng giặc? Tại sao những người kháng chiến không vô đạo mà lại đánh Tây? Ai bảo ta đi tạm hàng giặc? Lệnh trên! Trên là ai? Việt Minh là kẻ thù của đạo ta ư? Vì sao? Việt Minh là quỷ dương thực đấy ư? Hay là những người như Quản Dõng? Hay chỉ là Tây thôi?

Đầu óc của lão lại rối lên vì những câu hỏi đó.

- Ôi! Lòng dạ ta tối tăm quá!

- A! - Lão bỗng vụt kêu lên. Lão vừa nảy ra một ý nghĩ mới:

- Ta sẽ không hàng giặc, ta sẽ đánh Tây, vì Tây là kẻ cướp nước, ta không thể hàng nó được. Như thế, sẽ không ai dám nói ta là kẻ đầu giặc và ta đánh cả Việt Minh, như thế, sẽ không có bổn đạo nào dám nói ta là phản đạo! Ta là người làm đúng lời Phật nhất! Đúng nhất!

Ý nghĩ mới mẻ và táo bạo ấy lôi cuốn lão. Lão vùng đứng dậy, đi thẳng vào nhà. Lão định đến ông Năm Bầu và tìm Hiếu đế nói rõ cái ý định đó. Rồi lão và con lão sẽ lập thành một đạo quân, sẽ chiếm cứ cả một vùng này. Lão vừa đi vừa say mê, sung sướng nghĩ đến tương lai: lão là chủ tướng một đạo quân, lão sẽ cùng con xông vào các chiến trận, sẽ tung hoành như các vị tướng của thời xưa.

Lão đi qua mảnh đất cũ của mình nằm cạnh bên một đìa cá. Những con cúm núm giật mình hốt hoảng, lũi đầu chạy rào rào trong đám cỏ. Lão đang đi nhanh như chạy, tự dưng lão dừng lại. Lão nhìn mảnh đất cũ của mình. Mảnh đất mà ngày xưa đời ông cố, ông nội của lão về đây khai phá và để lại cho con cháu sau này. Rồi đến khi thân sinh của lão chết, mảnh đất này thuộc về tay nhà Quản Dõng. Từ đó cho đến nay, tuy vẫn cày bừa trên mảnh đất phù sa màu mỡ này, nhưng lão không phải là người chủ của nó nữa. Lão vẫn hằng khao khát một hy vọng: sẽ giành lại mảnh đất này!

Mùi đất, mùi cỏ dại, mùi bùn xông lên như nhắc với lão: “Đừng bỏ ruộng hoang nữa!”. Đáng lý ra, những ngày này đã cày bừa xong, lúa cũng đã cao lên đến rốn rồi. Nhưng trong năm nay, cũng như bao nhiêu tín đồ khác, lão đã nghe lời dạy “Lấy phảng mài thành gươm giáo”, và tin rằng: đời sắp đổi rồi, cần gì đến ruộng nương nữa.

Lão đứng nhìn mảnh đất một hồi lâu và nghe lòng thổn thức. Cái ý nghĩ mới mẻ lúc nãy lại lôi cuốn lão. Đi đúng theo lời Phật, thì không những có lại mảnh đất, mà sẽ có tất cả những cái gì trên đời này. Lão lại bước đi theo bờ mẫu nổi gồng lên dưới ánh sáng của các vì sao. Như ý chừng sợ cái ý định của mình là táo bạo và không thành, lão dừng lại, ngẩng mắt nhìn lên, lẩm bẩm cầu khẩn xin các thần sao soi sáng cho bước đường đi của mình. Nhưng lão có biết đâu, các vì sao xa xôi trên trời kia chỉ có thể soi sáng được con đường đi trên mặt đất, chứ có bao giờ soi rõ được con đường đời cho con người...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #21 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2024, 04:15:15 pm »

XVIII


Sau khi Sáu Sỏi đã bị giết và những người đi dự pháp trường đã về hết, đơn vị của Phát mới về đến làng. Ở ngoài khơi, họ nhìn thấy một đám đuốc, nhưng họ không biết rõ là chuyện gì. Hơn hai mươi chiếc xuồng cui cặp lại bờ, cách bến đò cây đa hơn ba trăm thước - nơi có một trạm gác đầu làng của lực lượng Hòa Hảo. Đêm tối. Đấy là một khoảng vắng của vườn xoài rậm lưa thưa năm bảy cái nhà - thuộc làng Long Điền. Theo kế hoạch: Hoành và ba đồng chí trinh sát sẽ cầm thư đến trạm gác ở cây đa, nhờ họ chuyển cho ban trị sự đạo. Nhưng xuồng vừa cặp lại, Hoành chưa kịp đi thì có tiếng tù và túc lên.

Tiếng tù và thôi thúc từng hồi ngắn rồi dội ra một hồi dài. Tiếng tù và của lệnh báo động. Tiếng tù và nghe lạnh cả người.

Nhanh nhẹn và vội vàng, tất cả đơn vị đều nhảy lên bờ, xuồng cặp lại bến, chiếm lấy khu vườn.

Bảy Thâm đứng cạnh bên đường, gầm gừ trong cuống họng:

- Được! Tao sẽ cho mày báo động! Cứ tập trung lại đây!

Anh nói với giọng thách thức.Anh nhìn anh em đang tìm vị trí trong khu vườn, anh hỏi:

- Hoài Nam đâu?

- Dạ, tôi đây!

- Coi chừng cái bàn tay! - Trước khi nổ súng, bao giờ anh cũng căn dặn Hoài Nam như vậy. Rồi anh liếc nhìn Phát như muốn bảo: “Anh đã thấy chưa, hả?”.

Phát đưa tay chữa lại chiếc nón cối, anh nghĩ đến đám lửa ở cây gừa, anh cố trấn tĩnh:

- Họ báo động như thế là thường thôi! - Phát nói mà không tin vào lời nói của mình. Anh hỏi:

- Hoành đâu? Ba đồng chí trinh sát đâu?

- Tôi đây! - Hoành, người gầy và cao từ trong khu vườn bước ra, đứng trước mặt anh. Ba đồng chí trinh sát mang súng tiểu liên cũng đứng cạnh bên anh.

- Nó đang báo động mà anh định cho anh em đi đấy à? - Bảy Thâm hỏi.

- Không! Tình hình này thì chưa nên đi đâu. - Phát vừa trả lời với Bảy Thâm vừa nói với Hoành và ba đồng chí trinh sát - Nhưng các đồng chí phải luôn luôn chuẩn bị. Khi ban chỉ huy gọi đến, các đồng chí cứ theo kế hoạch mà thi hành. Thôi, các đồng chí về vị trí.

- Chúng ta đi quan sát vị trí đi anh Bảy! - Phát nói. Hai người như làm lành lại với nhau.

Bảy Thâm dẫn một tiểu đội đi len theo khu vườn, tiến dần lên. Trung đội phó Sanh chỉ huy anh em đào công sự. Phát đi đến các tiểu đội, tìm các đồng chí đảng viên, dặn dò anh em.

Trong lúc ấy, tiếng tù và mỗi lúc mỗi rộ lên.

- Đúng là một cái cảnh thần sầu quỷ khốc ma kêu! Thà nó cứ bắn lên, tao nghe còn thích hơn. - Một anh lính tên An nói với bạn.

Minh nói:

- Hồi nhỏ, nửa đêm, hễ nghe tiếng tù và của ghe đò, là tao cứ tưởng là tiếng ma hú, tao cứ nằm rúc đầu vào chị tao.

- Lần này tao đập nát những cái tù và! Nếu nó không có súng thì cho nó vài cây, cần thì cứ bắn lên, nghe nó còn hay hơn.

- Đánh với Hòa Hảo hoài như thế này, bàn tay của tao bây giờ ngán bóp cò quá!

- Tao cũng vậy, mấy tháng nay, chẳng đánh với một thằng Tây nào hết. Nó rút đi đường nào ấy.

- Có Hòa Hảo ở đây, tụi nó đã bị điều đi các chiến trường khác hết rồi. Ở đây, chỗ nào quan trọng lắm, nó mới để lại một vài thằng.

- Nhiều đêm, tao muốn xin đi bộ đội các tỉnh khác, đánh với tụi lính lê dương, có chết cũng hả được cái dạ. Còn ở đây...

- Tao cũng nghĩ như mày. Này Ân, trước đây, đồng bào Hòa Hảo họ cho mình ăn đến ngập mặt, trong nhà có cái gì, họ cho mình ăn cái nấy, bây giờ, sao họ lại như vậy? Nhiều lúc, tao chẳng hiểu nữa.

- Đầu đuôi mối nhợ gì thì cũng tại thằng Tây hết! Đ... mẹ, “dùng người Việt đánh người Việt”, như thế là nó đã thành công! Tao ngẫm nghĩ ra, cũng tại nơi mình một phần. Ai đời, có ai như ông Bảy Thâm nhà mình không. Người ta sắp chạy theo mình, thì ổng đánh người ta đi. Mày còn nhớ cái buổi diễn thuyết ở tại Ba Răng không. Đồng bào Hòa Hảo ở đó, người ta muốn ngả theo mình, người ta kéo nhau dự mét tinh của mình, thế mà khi lên diễn đàn, ổng lại chào: “Xin chào tất cả quý đồng bào, nhưng xin chừa đồng bào Hòa Hảo ra!”. Đưa tay chào người ta mà mặt thì hầm hầm. Tao thấy đồng bào Hòa Hảo cúi mặt xuống hết. Họ mà giết được ông ta thì họ đã moi gan ông ta ra rồi. Còn ông Phát thì mặt tái như tàu lá chuối, cứ tặc lưỡi và kêu trời. Lúc đó, tao cũng không dám nhìn đồng bào, mặt tao sượng quá.

- Ban chỉ huy mình dạo này lục đục quá. May là nhờ có ông Phát. Nếu không, ông Bảy Thâm cứ cho mình đánh với Hòa Hảo đánh suốt ngày suốt đêm cho mà xem. Rồi thì cả hai không còn con đỏ. Lần này, tao không bắn nữa đâu. Có bắn, tao cũng bắn chỉ thiên thôi.

- Ông Phát thì lần này, tao cũng chưa chắc. Cái đám lửa hồi nãy, tao nghi quá. Cha ảnh mà bị giết, không biết chừng, ảnh còn hơn Bảy Thâm nữa là khác.

- Không có đâu!

- Chưa chắc! Lần này tao cũng bắn chỉ thiên thôi. Tao chỉ muốn đập cho nát mấy cái tù và thôi.

Có tiếng động, Minh đưa tay bấm vào vai Ân.

- Ông Phát!

Phát đi ngang qua chỗ hai anh lính:

- Ai nằm đây?

- Minh, Ân.

- Hai đồng chí nhớ đừng có đập phá bàn thờ, nhà cửa bà con nghe!

- Dạ!

- Dạ! Anh Phát ơi!

Phát dừng lại. Minh hỏi:

- Làm thế nào để đừng nghe cái tiếng tù và, anh Phát?

Trong bóng tối, hai anh lính thấy hình như người chính trị viên đang cười.

- Tôi sẽ bảo họ. - Phát vừa nói vừa đi đến chỗ khác.

Ở một nơi khác, tiểu đội trưởng Hồng nằm phục gần một ngôi nhà bỏ hoang, về đến gần làng, anh nhớ đến cái chết của Hiền, vết thương trong lòng anh như tấy lên. Sau khi cắt đặt, bố trí cho đơn vị, anh bước đến ngôi nhà, rút vách, bó lại thành một cây đuốc và lẩm bẩm những tên người cần phải trả thù: Chiến, Ịnh, Quản Dõng, Bảy Thẹo. Người anh như căng lên. Anh định sẵn: trước khi nổ súng, anh sẽ đốt cái nhà này để thị uy. Bó đuốc trong tay anh cứ run run. Thấy có bóng người bước đến nhà, tưởng là Phát, anh vội vàng rút trở về vị trí. Người bước đến nhà, ấy là anh lính tên Thông. Đấy là ngôi nhà của anh. Gia đình anh tản cư về Đồng Tháp đã hơn bốn tháng rồi. Anh tưởng, khi anh trở về, anh chỉ còn thấy một nền tro lạnh. Không ngờ, ngôi nhà anh vẫn còn nguyên. “Nhà mình vẫn còn nguyên, má à”. Anh nói với mẹ. Anh như thấy mẹ đang vui. Thông đưa tay sờ qua sờ lại cánh cửa một hồi lâu. Cánh cửa đã mọc rêu, gan bàn tay anh lành lạnh. Anh xô cửa, bước nhẹ vào nhà, đưa mắt tìm những đồ vật quen thuộc. Không có diêm, anh đưa tay sờ soạng. Tay anh chạm cái sa quay tơ. Anh đưa tay sờ cái sa quay. “Chiếc sa quay tơ của má vẫn còn!” Trước mắt anh lại hiện lên hình ảnh của mẹ. Ngày nào, mẹ anh cũng ngồi bên chiếc sa quay này. Và chiếc sa quay đã nuôi anh và cả một đàn em của anh.

Thông như không nghe tiếng tù và đang túc lên nữa. Anh như nghe chiếc sa quay tơ đang chạy. Anh ngồi bệt xuống đất, tay đặt lên chiếc sa quay và ve vuốt nó một cách thân yêu...

Ở một chỗ khác, ngồi dưới con mương khô, nhạc sĩ Hoài Nam đang đưa tay vuốt sợi dây mi từ thấp đến cao.

- Thằng nào địt 1 hoài vậy?

- Thằng Hoài Nam nó vuốt dây đàn.

- Làm gì mà vuốt dây đàn hoài vậy đồng chí Nam?

- Tôi đam tìm âm điệu của tiếng tù và anh ạ!

Bảy Thâm bố trí xong tiểu đội trinh sát, trở về, anh cùng đứng ở đấy. Anh nói:

- Cậu làm gì mà tôi cứ nghe “ủn ủn” hoài vậy?

Một vài người cười bật lên.

Phát bước ra đường cái, chờ trinh sát trở về.

Tiếng tù và mỗi lúc mỗi nhiều, tiếng gần, tiếng xa, hồi ngắn hồi dài, cứ chen nhau, dội vào đêm tối. Tiếng tù và nghe như từ cõi âm u nào ở tận dưới lòng đất dội lên. Cái âm thanh đùng đục ấy vừa u uất, vừa rùng rợn và tối tăm. Tiếng tù và như mang theo một luồng khói đục và những luồng khói đục ấy đang chen đầy đặc cả bầu trời, làm đục cả không khí, làm cho tâm hồn của con người tối lại.

Trước đây mỗi lần có dịp hành quân qua làng, mỗi một tiếng động, mỗi một cảnh vật hiện ra trước mắt, tiếng sóng, dòng sông, bông xoài rơi rụng, mùi hoa bưởi, mùi cây cỏ... tất cả đều gợi cho Phát những kỷ niệm của làng. Giờ đây, tiếng tù và như dìm tất cả những kỷ niệm ấy vào tăm tối. Phát chỉ thấy nó hiện lên trí óc anh một cách lờ mờ, thoáng hiện rồi thoáng mất, như lẫn vào nhau và quay cuồng trong óc anh. Phát không nghĩ đến số phận của cha nhiều như lúc chiều nữa.

Anh cố trấn tĩnh nghe tiếng tù và - như nghe tai họa đang kéo đến - và chờ đợi những việc sẽ xảy ra.




------------------------------------------------------------------
1. Đánh rắm
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #22 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2024, 04:18:52 pm »

*
*      *


Hiếu đang mơ ngủ, bỗng nghe tiếng tù và báo động, anh liền choàng dậy, chạy thẳng đến nhà ông Năm Bầu.

Ông Năm Bầu đang ngoẻo đầu bên cây đàn cò, cũng liền tỉnh dậy.

“A! Thằng Phát về!” Ông reo lên. Ông không kịp mang cây đàn cò lên, cũng không kịp dẹp chai rượu, ông nhảy xuống đất, rút cây chĩa ba, đưa ba cái mũi nhọn lên ánh đèn, lấy vạt áo chùi ba cái chĩa cho sạch đất, chạy ra sân. Ông định bụng: nếu bộ đội của Phát qua đây, ông sẽ bảo Phát kéo thẳng đến nhà Quản Dõng, ông sẽ có dịp đốt nhà, dập đổ nhà nó cho hả hê, rồi, nếu cần, ông sẽ đốt cả ngôi nhà của ông, ông sẽ dắt Lành cùng về bên kia vùng kháng chiến.

- Bác Năm hả bác Năm?

- Ừ, tao đây, Hiếu hở Hiếu?

- Dạ, cháu đây!

Hiếu bước đến:

- Bác Năm ơi! Chắc là bộ đội của anh Phát kéo về !

- Tao cũng nghĩ như vậy!

- Cháu định lội qua kinh, chạy đi cho ảnh biết.

- Ừ! Vậy thì mau đi...

- Thôi, cháu đi - Hiếu nghĩ là sẽ đi luôn, nên anh trù trừ, còn muốn gặp lại Lành lần cuối cùng.

- Đi thì đi nhanh đi, sao còn ở đó. Bác đứng bác đợi, mau đi! - Ông Năm Bầu khoát tay giục Hiếu.

Hiếu vừa bước đi thì Lành từ trong nhà liền chạy vụt ra.

- Anh Hiếu! - Lành kêu như nấc.

Ông Năm Bầu xoay lại, nắm lấy vạt áo của Lành kéo lại, ông thét lên:

- Mày chạy đi đâu vậy? Để cho nó đi!

Sợ cha, Lành không dám cưỡng lại, nàng riu ríu bước vào nhà. Nhìn con, ông bỗng thấy thương tâm. Ông cũng lại quát lên:

- Này! Chạy theo nó, bảo nó đi mau lên!

Lành đang bỡ ngỡ vì thái độ thay đổi bất ngờ ấy, ông lại hét to hơn:

- Sao còn đứng đó, hả?

Lành vụt chạy theo con đường mòn xuống bến kinh.

Hiếu biết Lành sẽ chạy theo, anh đứng chờ ở bến.

- Anh Hiếu!

Hai người đứng sát lại nhau, rồi lẳng lặng. Lành bỗng ôm mặt khóc. Hiếu nghe nhói đến tim, anh nghẹn ngào:

- Anh đi rồi anh về!

Từ sân nhà, ông Năm Bầu quát theo:

- Nó đã đi chưa, hả?

Hiếu vội vàng:

- Anh đi nhé! - Hiếu quay đi

- Anh Hiếu! - Hiếu dừng lại. Hai người lại nhìn nhau, lại lẳng lặng.

- Anh đi nhé! - Hiếu quay đi.

- Anh Hiếu!

Hiếu lại dừng lại.

- Anh đi đi! - Giọng của Lành đầm đìa trong nước mắt. Tàu chuối quơ qua quơ lại như vẫy chào ai.

Hiếu bước xuống bến, cởi áo vo tròn lại cầm tay, bơi qua kinh. Tiếng tù và thôi thúc Hiếu bơi nhanh.

Hiếu chạy lẩn trong khu vườn. Hiếu lại bơi qua kinh ranh làng. Hiếu chạy vào khoảng vườn vắng.

- Ai? Đứng lại! Giơ tay lên.

Hiếu vừa giơ tay cho ba anh lính trinh sát khám xét vừa hỏi:

- Có phải là bộ đội của anh Phát không mấy anh?

- Anh ở đâu mà hỏi?

- Tôi là người bà con của anh Phát, tôi tìm ảnh suốt một ngày nay.

- Vậy à. Đồng chí Hoành đưa đồng chí này đến gặp đồng chí Phát đi.

- Đồng chí đi theo tôi.

Lâu lắm, Hiếu mối nghe được hai tiếng đồng chí. Cũng con đường vắng vẻ này lúc nãy anh đi tìm Phát, bây giờ, nó bỗng trở nên thênh thang. Sẽ nói với anh Phát như thế nào đây? Câu hỏi ấy như dìm mất tất cả cái cảm giác được tự do đang đến với anh.

- Có đồng chí Phát đó không? - Hoành hỏi.

- Có!

- Có người bà con đi tìm đồng chí đấy!

Trong bóng tối, hai người nhận ra nhau. Bảy Thâm, Hoành và một vài anh lính đứng vây lấy hai người. Họ cảm động khi thấy hai người cùng hấp tấp bước đến ôm lấy nhau.

- Anh Phát! - Hiếu nghẹn ngào. Một tiếng tù và buông dài, rồi như tan ra, làm đục thêm đêm tối.

Nghe cái giọng nghẹn ngào của Hiếu, Phát thấy rởn lạnh cả người.

- Đồng chí Sỏi hiện bây giờ ở đâu, đồng chí?

Bảy Thâm hỏi với một giọng như tra hỏi.

- Anh Phát! Bác Sáu đã bị...

Nghe cái tin đó, người chung quanh tưởng là Phát lồng lộn lên, sẽ móc súng bắn liền mấy phát và sẽ thét xung phong và lập tức sẽ xảy ra một cảnh khói lửa ghê gớm.

Nhưng Phát vẫn đứng im. Người chung quanh chỉ nghe được hơi thở hấp tấp và nặng nề của anh.

Đau đớn quá, Phát như mất hết cảm giác.

Lúc ấy người đang lồng lên lại là Bảy Thâm.

- Giết hồi nào? Ai giết? - Bảy Thâm vừa quát vừa nắm lấy vai Hiếu lắc rung lên. - Ai giết? - Hiếu lạnh cả người.

- Thằng Quản Dõng phải không?

Hiếu lập bập:

- Chính là tại nó!

Phát ngước nhìn Bảy Thâm:

- Thôi anh Bảy! - Phát nói, giọng đau đớn và lạnh lùng. - Dù sao thì cha tôi cũng đã chết rồi. Có làm gì đi nữa thì cha tôi cũng không sống nữa đâu. Chúng ta rút thôi, anh Bảy.

- Chú Sáu không chỉ là cha anh! - Hai mắt của Bảy Thâm rực lên như hai ngọn lửa. Anh trờ tới, lưng hơi cong, anh như một con gấu. - Tại sao lại rút hả? Bắt lấy nó! - Bảy Thâm liền quay người vào khu vườn, móc súng, nổ lên hai phát và hét dài: “Xung phong!”

Tất cả các tay súng đều nổ lên. Những luồng tù và ngắn dài đang tuôn vào đêm tối như bị bắn tan ra.

Tất cả đều chồm lên khỏi vị trí, tràn vào làng như một cơn dông.Trong lúc ấy, tiểu đội trưởng Hồng châm lửa. Ngôi nhà bừng cháy.

Một anh lính đang tiến, bỗng quay trở lại, kêu hoảng lên:

- Ai đốt nhà đó? - Anh lượm một cái cây, đập vào lửa.

- Thằng nào đập lửa đó, hả?

Anh lính đang đập lửa quay lại:

- Ai đốt đây hả?

- Tao đốt!

- Tại sao anh đốt nhà người ta, hả?

- Tao đốt, mày hỏi làm gì? Sao không tiến lên mà còn ở đây hả? - Thông cầm cây gậy cháy sém, bước chầm chậm lại tiểu đội trưởng Hồng.
 
Tiểu đội trưởng Hồng thấy cái vẻ hung hăng kỳ lạ của Thông, anh lùi lại.

- Nhà của tôi, tại sao anh đốt, hả?

Tiểu đội trưởng Hồng ngớ ra, nhưng đang lúc hăng máu, anh không nhịn, anh quát bừa lại:

- Tại sao nhà mày lại ở đây, hả?

Anh lính Thông ngớ ra vì câu hỏi kỳ quặc ấy. Anh vừa tức giận lại vừa buồn cười.

Những người ở phía sau tiến lên, hỏi:

- Sao không tiến, mà còn đứng đó, hả?

- Anh Hồng, anh ấy đốt nhà tôi.

- Tao có biết nhà của mày đâu mà nói!

- Thôi, tiến lên đi, độc lập rồi cất lại. - Tiểu đội trưởng Hồng vọt lên, tiến theo tiểu đội. Anh lính Thông mãi còn nhìn ngọn lửa của ngôi nhà.
Anh muốn lao vào kéo chiếc sa quay tơ của mẹ. Nhưng lửa đã bốc lan ra và bốc cao rồi.

Anh tiến theo đơn vị mà cứ nghĩ đến cái sa quay tơ.

Tiểu đội trưởng Hồng chạy đến một ngôi nhà khác, anh nhìn lại, nhìn chung quanh, đưa tay lên miệng làm loa:

- Nhà này của ai đây?

- Có đốt thì đốt nhanh lên, ông Phát ông ấy thấy bây giờ!

Tiểu đội trưởng Hồng vừa châm lửa vừa nói:

- Độc lập rồi tao sẽ cất lại - Anh khoái trá nhìn ngọn lửa đang lan ra. Anh vừa tiến vừa ngoái lại nhìn ngọn lửa.

Bảy Thâm dẫn đầu. Cả đơn vị, hơn sáu mươi tay súng đánh lui những người ở trạm gác dưới gốc đa, rầm rập vượt qua chiếc cầu cây bắc qua con sông nhỏ. - ranh giới của hai làng.

Hơn sáu mươi tay súng tràn lên con đường xuyên qua xóm nhà.

Tiểu đội trưởng Hồng bỏ hẳn tiểu đội mình, phó mặc cho anh tiểu đội phó, anh rơi lại sau cùng. Đây là làng anh. Anh biết rõ từng người chủ của những ngôi nhà đang hiện lên trước mắt anh.

- Hiền ơi! Anh trả thù cho em đây! - Anh vừa lẩm nhẩm với người con gái đã chết, vừa châm lửa đốt. Anh đốt liền năm cái. Khi thấy ngọn lửa bốc lên và có thể cháy lan cả xóm, anh mới tiến lên tìm đơn vị.


*
*      *


Lão Ịnh đang cắm cúi đi vào nhà thì giật mình và dừng lại. Sau những tiếng nổ súng, trước mắt lão: ngọn lửa ở xóm Bến đò bỗng bùng cháy. Tiếng nổ lốp đốp, tiếng phù phù càng lúc càng to như cái lò rèn khổng lồ, ngọn lửa mỗi lúc mỗi lan ra dữ dội, thè cái lưỡi cao lên, lia qua lia lại như liếm lấy bóng tối một cách thèm khát. Lão đoán biết là Phát kéo bộ đội về để trả thù. Những ý định tốt đẹp đang rạo rực lên trong lòng lão đều tan hết. Lão hoảng sợ, lão quay lại, chạy thẳng ra cây vông. Lão không chạy theo bờ mẫu, lão chạy tắt, lão chạy bừa trong cỏ lác, lão chạy cắm đầu, cỏ lác rạch nát cả da mặt lão.

Lão đứng dưới gốc vông, vừa thở vừa vuốt râu, nhìn vào đám lửa.

Tiếng tù và của các trạm canh trong xóm Đình túc rộ lên, báo động và truyền lệnh tập trung. Tiếng “bun bun...” của tù và túc lên không dồn dập, không thúc giục, không rung động không gian, mà kéo ra những hồi dài u ẩn nghe như tiếng hú của từ cõi xa xăm nào vẳng lại và như một đường khói đục đang quằn quại trong đêm tối. Tiếng chó đầu trên xóm dưới tru lên ông ổng hòa theo.

Đèn, đuốc nổi lên rải rác, lập lòe. Tiếng la, tiếng kêu, tiếng gào, tiếng thét, hỗn độn như ong vỡ ổ. Các ngọn đuốc rải rác gom dần về tiếng tù và, và tiếng hò hét. Tiếng hò hét ấy không rõ là tiếng gì, chỉ “hươi, hươi”, vang vọng ra như tiếng dội của rừng núi... Những bó đuốc gom lại rừng rực như một đám cháy. Tiếng hát “Hòn vọng phu” của trăm thứ giọng khác nhau dội lên. Đám đuốc ngùn ngụt là đà khi tắt khi sáng qua các lùm cây và tiếng hát tiếng hò trào lên như sóng ấy tiến dần về đám cháy.

Từ xóm Bến đò, súng lại nổ. Tiếng nổ từng hồi dài giòn giã như ốc đổ. Những viên đạn đỏ kéo thành đường dài tới tấp bay lại xóm.

Đám cháy ở cuối làng mỗi lúc mỗi ngùn ngụt và thè cái lưỡi cao lên, lia qua lia lại như khao khát một cái gì, như chờ đợi cái đám đuốc rừng rực kia đang ồ ạt tiến tới để chụp xuống và nuốt lấy. Hai khối lửa của hai mối căm thù vờn lên, tiến dần vào nhau. Cái khoảng đêm giữa hai khối lửa mỗi lúc mỗi thu dần lại. Lòng lão Ịnh như có một sợi dây đang thắt dần lại và lão nghe đau như sắp đứt.

Hai đám lửa lẫn vào nhau. Đám đuốc dày đặc như một khối lửa tan ra, từng ngọn lập lòe, tắt cháy, lẫn lộn trong bóng cây, rồi tan tác như một đám tàn. Lão vẫn đứng yên dưới gốc cây vông, bứt rứt, đau đớn và khó chịu.

- Ôi! Nếu ta biết được rõ đâu là tà chánh thì ngọn gươm của ta sẽ không vị nể một người nào, bất cứ là ai.

Lão bứt tóc, bứt tai, miệng ngứa ngáy muốn gào thét lên lời kêu đó. Phút chốc, lão muốn chạy vào, muốn chém giết tất cả mọi người bất cứ là ai, chém rụi hết những con người đang quần nhau trong đám cháy ấy, chính họ, những người làm khổ đời lão, họ dồn lão vào con đường không biết đâu là phải trái.

- Trời! - Lão muốn thét lên cho động đến trời. Bàn tay của lão tự dưng thấy ngứa ngáy, muốn đâm và muốn chém.

Nhìn cái đám cháy ấy, lão như thấy những người bạn tín đồ của mình: Năm Ngũ, Chiến, Hằng, Hiếu đang vung ngọn kiếm, đang lao vào đối phương, đang chém giết, rồi ôm ngực ngã xuống. Và trang thờ như đang cháy ra thành tro bụi.

Những cơn gió ào ào thổi tới, thổi bay manh áo lão, lão nghe như linh hồn của tín đồ từ khắp các nơi cũng đang vùng dậy, quay về bảo vệ đạo. Chỉ có riêng lão là vẫn còn đứng ở đây. Tại sao lão không lăn xả vào đám cháy ấy? Lão là một tên phản đạo, phản nước ư? Ngọn lửa thù hằn trong lòng lão liền bốc dậy theo câu hỏi đó. Đầu lão nóng bừng lên như bốc cháy.

Và lão chạy xông vào...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #23 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2024, 04:32:20 pm »

XIX


Đơn vị của Bảy Thâm đang ào ạt tiến tới thì phải dừng lại bên này cầu bắc qua con kinh nhỏ chảy vào đồng - con kinh chảy qua nhà ông Năm Bầu - vì phía bên kia cầu là bức thành người đang đứng chen chúc chắn ngang, đao kiếm tua tủa lấp loáng trong ánh đuốc cháy ngùn ngụt.

Hai bên cách nhau một chiếc cầu, khoảng cách độ hơn hai mươi thước, cùng gườm nhau với cặp mắt thù hằn, thách thức, chỉ trở gào thét và chửi bới nhau:

- Đồ bán nước! Đồ phản động!

- Bọn mày là đồ bán nước, đồ quỷ dương.

- Đồ theo giặc, Việt gian, bán nước!

- Mày là quỷ dương, mày bán nước chớ ai bán nước.

- Tổ cha mày!

Cứ như thế mà họ chửi nhau, mỗi người mỗi tiếng mỗi câu, hỗn độn, ồn ào như một bầy ong. Ngần ấy tiếng chửi, ngần ấy tiếng gào la, hai bên vẫn chiếm lấy đầu cầu, không bên nào tiến lên một bước. Bức thành người với đao kiếm ở phía bên kia cầu chỉ nhích tới nhích lui chứ chưa dám xông vào các họng súng. Nếu như trước đây, họ đã chen nhau tràn lên rồi. Vì họ cho là súng của Việt Minh không nổ, nếu súng có nổ thì họ cho rằng súng nổ mà không chết và nếu có người chết thì họ bảo: chết ba ngày sống lại, và khi thấy những người chết không bao giờ sống lại thì họ tự an ủi: những người chết được về với cõi Phật.

Nhưng, sau những lần xung đột, Niết bàn đâu không thấy, họ chỉ thấy những cảnh mất chồng, mất con và bao nhiêu sự mất mát mà họ là người phải chịu lấy.

Nhìn về đám cháy, lửa cũng đang cháy trong lòng họ, nhưng họ chưa dám lao vào các họng súng.

Quản Dõng và số người trong ban trị sự đều đứng ở phía sau. Họ có mấy cây súng, nhưng họ không dám bắn. Quản Dõng càu nhàu với Bảy Thẹo:

- Mày nói thế nào mà bây giờ ổng chưa cho tiếp viện, Bảy Thẹo?

- Ổng nói là khi nào tụi nó về, thì ổng sẽ bắn mọt chê vào.

- Bắn mọt chê à? Ổng biết đường đâu mà ổng bắn, hả?

Bảy Thẹo quay mặt chỗ khác, làm thinh.

Quản Dõng tay cầm loa, vừa gào lên “Thiện nam tín nữ” vừa nhìn ra sau, dọn đường rút lui và chờ Chiến đưa bộ đội Ba Kềnh Càng kéo về.
Quản Dõng để loa xuống khỏi miệng, càu nhàu với Bảy Thẹo:

- Mày muốn giết tao hả Bảy Thẹo?

Bảy Thẹo không đáp, hắn đang đưa mắt tìm Hằng.

Phía bên này cầu, Bảy Thâm cũng đứng ở phía sau, anh dựa vào cây, nghe những tiếng chửi nhau ở phía trước, anh vừa căm giận vừa buồn cười. “Không đánh thì rút đi chớ!”. Anh càu nhàu và bắn một phát chỉ thiên.

Phát đi lẫn vào anh em, dặn dò anh em bằng sự có mặt của mình. Anh muốn bàn với Bảy Thâm cho rút nhưng đã như thế này thì không rút được nữa. Nếu đơn vị của Phát mà quay súng rút đi thì đao kiếm của họ sẽ chém vào lưng của anh em. Nếu bộ đội nổ súng xông lên thì họ sẽ rút và nếu bộ đội rút đi thì họ sẽ lao theo. Đánh nhau với lực lượng của Hòa Hảo thì bao giờ cũng vậy cả. Phát muốn ra lệnh nổ một loạt súng để giải tán họ, nhưng lại ngại xảy ra một cuộc xung đột lớn. Đứng lẫn trong anh em, nhìn qua bên kia, Phát gặp lại hầu hết bà con trong làng. Thấp thoáng ở phía sau, trong ánh đuốc, anh thấy ai như là Hằng. Tim anh đập dồn dập và nhoi nhói. Anh đi tìm Bảy Thâm.

- Chúng ta tìm cách cho rút đi anh Bảy.

Bảy Thâm không đáp ngay câu hỏi của Phát, mà đưa tay sờ râu vừa càu nhàu:

- Hòa Hảo cái làng này không có được một cây súng à? - Anh hỏi lại Phát.

- Cho rút cách nào bây giờ? - Ý của Bảy Thâm là chưa muốn rút.

- Cho rút dần dần thôi anh Bảy.

- Chờ một chút nữa coi.

Phía trước, hai bên vẫn cứ chửi nhau. Bỗng một giọng trong loa vang lên:

- Hỡi thiện nam tín nữ!

Bao nhiêu tiếng chửi, tiếng gào la liền tắt lặng. Những ngọn đuốc bên kia cầu cháy rào rào. Ánh đuốc vờn qua vờn lại các gương mặt khác nhau, nhưng cùng một vẻ tăm tối và hầm hừ giống nhau.

Từng bầy thiêu thân li ti như cám, nối theo lao vào những ngọn đuốc, cháy lèo xèo. Cái tiếng loa của Quản Dõng từ phía sau vẫn vang tới:

- Hỡi thiện nam tín nữ! Bọn quỷ dương Việt Minh đang đứng trước mặt, đang tràn vào xóm, hãy chặn chúng lại! Hỏi vậy, ai là người dám tử vì đạo?

Bao nhiêu ngọn đuốc, bao nhiêu ngọn kiếm, ngọn đao liền dấy lên cùng với tiếng gào la:

- Tử vì đạo!

- Tử vì đạo!

Tất cả họng súng ở phía bên này cầu liền hạ xuống ngang với tầm ngực của họ. Họ gào thét xôn xao, xích tới xích lui, nhưng vẫn bám lấy đầu cầu.

Lúc ấy, Quản Dõng nghe có tiếng vó ngựa từ xa trở về.

- Thằng Chiến nó về? - Quản Dõng quay nhìn lại. Đúng là Chiến phi ngựa về.

Chiến vừa thắng ngựa, Quản Dõng và số người trong ban trị sự liền bước tới, vây lấy Chiến:

- Sao? Ông Ba Kềnh Càng có về không?

Chiến ngồi trên mình ngựa vừa đưa tay chỉ ra sau:

- Ổng về sắp tới rồi.

- Ổng đi bằng gì ?

- Đi bằng xe ngựa, đi vòng qua chợ, có hơn mười lăm chiếc, mỗi chiếc chở hơn năm người, có hai cây “luột”.

- Vậy à?

- Ổng đòi ăn hai trăm giạ lúa.

- Hai trăm kia à? - Quản Dõng vặn lại - Ổng đã về tới chưa?

- Ổng về tới ở phía sau kia kìa. Tôi thấy lửa cháy, một mình một ngựa, tôi chạy trước đây. Bây giờ tụi nó ở đâu rồi, hả? - Giọng Chiến hăm hở và sôi nổi, như truyền thêm sức nóng cho mọi người.

- Nó ở bên kia cầu kia kìa.

- Hả? ở bên kia cầu à? Sao không tiến lên mà còn dồn ở đây?

Chiến vừa hỏi vừa cúi người, móc lấy cây súng ngắn của Quản Dõng, bắn liền mấy phát. Con ngựa lồng lên, Chiến đưa ngọn súng giật dây cương thét dài:

- Tiến!

Ngựa anh chồm tới. Khối người trên đầu cầu liền nép vào nhau dạt ra hai bên. Chiến như một vị tướng xông vào mặt trận. Người, ngựa, tay giơ cao ngọn súng, hình ảnh oai vệ của Chiến như mang đến cho họ một niềm tin. Người họ sôi nổi lên.

Ngựa Chiến phi qua giữa các ngọn đuốc đang quơ lên. Đầu Chiến bốc nóng, người rộn rực. Nghe tiếng gào thét mỗi lúc mỗi dấy to, anh tưởng mình như một vị anh hùng. Anh háo hức, sôi nổi, muốn gây ra trước mắt mình một cuộc chém giết ghê gớm. Anh không còn biết nguy hiểm là gì nữa. Súng đưa cao, tay buông lỏng dây cương, anh rạp đầu xuống mình ngựa cho ngựa phi về phía trước. Ngựa anh chồm lên đầu cầu, nó như biết sợ súng, muốn quay lại. Nhưng Chiến đã thúc vào hông nó.

Chiến trận thay đổi một cách bất ngờ. Bộ đội của Bảy Thâm đang gào lên những tiếng chửi, bỗng thấy khối người ở bên kia xô đẩy nhau gào thét lên, họ chưa kịp đoán được điều gì thì có một con ngựa đang chồm lên với một con người đầu chít khăn xanh, tay cầm súng ngắn. Tiểu đội trưởng Hồng thấy rất rõ, anh nhận ra Chiến. Không cần có lệnh, anh cất tiểu liên lên, bắn một loạt thẳng vào người Chiến.

Con ngựa của Chiến vừa chồm lên đầu cầu thì Chiến buông súng nhào lộn xuống. Rất nhanh, có một số người ào đến, bế lấy Chiến, luồn vào đám đông. Con ngựa lồng lên, quay trở lại, chạy bừa trong đám người. Và súng nổ. Bảy Thâm liền có mặt trước hàng quân, anh khoát tay, thét lên:

- Xung phong!

Súng nổ vào đám người đang chạy tán loạn. Bảy Thâm dẫn cả đơn vị xông qua cầu.

Phút chốc, cái khối người tay đuốc, tay đao liền rã tan ra. Họ ném đuốc, có người ném cả đao kiếm, xô nhau, chen nhau, đạp lên nhau, chạy khắp các ngả đường. Bảy người bị trúng đạn, kẻ bò, người lết, họ lẩn vào các lùm cây và bóng tối.

- Xung phoong - Sáu mươi tay súng vừa tiến, vừa thét vang. Họ tiến thẳng vào xóm Đình. Bảy Thâm quyết kéo đơn vị tiến thẳng đến nhà Quản Dõng.

Phát không giữ được bước tiến của đơn vị nữa, anh đang khom mình đuổi theo Bảy Thâm thì anh dừng lại. Anh đứng nép bên đường, vừa nhìn các chiến sĩ lao lên, vừa nghiêng tai lắng nghe trong bóng tối. Tiếng rên của ai đâu đấy vẳng lại tai anh? Rõ là tiếng kêu rên của một người con gái. Phát mở tròn mắt nhìn vào những bóng tối đang chập chờn trong ánh lửa của một ngôi nhà đang cháy. Anh lom khom, rón rén bước đến vườn chuối rậm um tùm nằm cạnh bên đường. Tiếng kêu rên mỗi lúc mỗi rõ, lòng anh bỗng đau xôn lên như có một mũi thép khoan vào.

Phát dừng lại, rụng rời cả chân tay. Trước mặt anh: một người con gái được che đậy bằng những tàu lá chuối khô, đang ôm bụng, quằn quại, vật vã và rên xiết. Nghe có tiếng người xào xạo bước đến, người con gái cố nằm im, hai tay bịt lấy vết thương ở bụng, nhắm nghiền mắt lại.
Trong bóng tối, Phát vẫn nhận ra những nét quen thuộc của người bị thương. Anh không tin vào mắt mình. Anh mở to mắt và cúi nhìn. Mùi máu tanh hắt lên mũi anh. Anh giật mình lùi lại, kinh ngạc đến sững sờ.

- Hằng!

Anh liền cởi áo, xé lấy vải lưng, cúi xuống, nâng Hằng lên, băng bó lại vết thương cho Hằng. Máu của Hằng thấm ướt cả tay anh. Anh lay khẽ đôi vai Hằng, kêu lên với giọng run rẩy và nghẹn ngào:

- Hằng! Hằng!

Phút chốc, anh như quên nhiệm vụ của mình. Anh bế Hằng lên.

Anh không nghe tiếng súng, không nghe tiếng gào thét của đơn vị đang lao vào mặt trận, anh không thấy những ngọn lửa của những ngôi nhà đang bốc cháy, anh không có cảm giác gì đối với mùi thuốc súng, anh không nghe thấy gì nữa, anh chỉ nghe hơi thở phập phồng của Hằng, anh chỉ thấy những nét đau đớn trên vẻ mặt của Hằng.

Hằng, người con gái có một vẻ đẹp thùy mị và hiền từ mà trước đây... Đêm đêm, khi mà trong làng đã tắt tiếng thoi đưa qua khung cửi, khi mà trai gái trong làng buông chày giã gạo và tản ra về trên các sân nhà, khi mà trong làng chỉ còn nghe tiếng gió reo qua hàng dương trước sân đình và, hương thơm của các mùi hoa lan ra khắp xóm, khi mà trai gái lén cha lén mẹ đi tìm nhau; thì, anh ra đứng dưới gốc cây vông đồng cạnh đầm sen để đón đợi Hằng, cũng có đêm Hằng ra đứng đấy để đợi anh và khi gặp nhau thì anh nghe Hằng bảo: “Sương đêm thấm ướt cả hai vai của em rồi! Sao lâu thế?”... Người con gái, đêm đêm đã cùng anh đi gác. Người con gái đã tiễn anh ra đi... Và từ ngày xảy ra cảnh nồi da xáo thịt, kẻ thù đã treo mặt nạ thù hằn giả dối lên gương mặt của những tín đồ Hòa Hảo, khiến cho mọi người nhìn họ khác đi, còn anh, đôi mắt anh vẫn thông suốt, anh đã nhìn thấu qua cái mặt nạ giả ấy, anh thấy rõ được mọi người, anh vẫn thấy rõ được người yêu của mình. Người chung quanh anh thù hằn họ, đốt phá nhà cửa họ, còn anh, chiếc nóp mà Hằng đã đan và tiễn anh đi, anh vẫn còn ngủ trong chiếc nóp ấy, ngủ trong hơi ấm của nàng.

Hình ảnh của Hằng vẫn luôn luôn hiện lên trong mơ ước của anh: một ngôi nhà nhỏ bên bờ sông, anh làm thợ mộc, còn nàng thì dệt vải quay tơ. Hai người sẽ cùng sống với nhau cho đến suốt cả một đời người.

Trong những cuộc chiến đấu, hễ mỗi lần gặp một nữ tín đồ nào cầm đao kiếm, anh cũng đều nghĩ đến Hằng, nơm nớp lo cho số phận của Hằng.

Bao nhiêu lần anh muốn gặp lại Hằng, muốn tìm cách đưa Hằng cùng đi với mình. Đã bốn lần trở về làng, lần nào hai người cũng đứng hai bên trận tuyến khác nhau. Những lần ấy anh không muốn cho Hằng thấy mặt. Khi gặp lại nhau thì sẽ xảy ra chuyện gì? Anh đã được gặp những nữ tín đồ đã cầm đao lao vào họng súng. Anh không muốn Hằng cầm đao lao vào họng súng của mình. Và anh không muốn Hằng phải chết như một người con trai mà anh đã thấy. Hai người như cùng một con đường, nhưng kẻ ngược người xuôi nên cứ mãi xa nhau. Anh mong mỏi, nhưng tưởng là sẽ không bao giờ gặp lại nhau nữa.

Hôm nay, cái chết của cha anh đã đưa đường cho hai người gặp lại nhau. Một cuộc gặp gỡ phải trả bằng một mạng người! Và người ấy lại là cha anh. Và khi gặp lại, thì đây, Hằng đang hấp hối trên đôi tay của anh.

Anh đau đớn đến tê tái và thấy người bàng hoàng như khi nghĩ lại một cơn ác mộng. Anh bế Hằng đi, nhưng cũng chẳng biết đưa Hằng đi đâu.

Anh bế Hằng nhích lên từng bước trong vườn chuối um tùm.

Trong cơn đau, Hằng mơ màng biết mình đang được bế lên. Hằng từ từ mở mắt. Hằng thấy một đôi mắt quen thuộc, đôi mắt trong sáng mà đau đớn đang cúi nhìn mình. Hằng giật mình, ngực thóp lại. Rồi Hằng cố mở to mắt, gương mặt của Phát hiện dần lên trước mắt Hằng. Mình mơ chăng? Nàng tự hỏi. Hằng muốn đưa tay lên sờ cái gương mặt đang cúi nhìn mình nhưng nàng không còn đủ sức nữa. Gương mặt của Phát cứ chập chờn trước mắt Hằng như hư như thật. Và tất cả cái gì chung quanh cũng chập chờn: tiếng súng, tiếng gào thét, tiếng lửa cháy, tất cả đều lẫn vào nhau lào xào bên tai nàng. Đúng là một giấc mơ. Nàng tự nghĩ và cố mở to mắt. Gương mặt của Phát bỗng hiện lên trước mắt nàng thật rõ ràng. Nàng cố giơ cánh tay đặt lên vai và kêu lên: “Anh!” Nàng muốn kêu cái tên thân thiết. Nàng muốn hỏi có phải là anh không. Hằng muốn trách vì sao anh lâu về. Nàng muốn nói những nỗi đau khổ của mình. Nàng muốn nói người ta đã bao vây nàng như thế nào, nàng đã chống chế lại, cầu khẩn van xin và mong mỏi anh thế nào. Bao nhiêu lần nàng đã khóc - những lúc khóc thành tiếng, những lúc khóc thầm. Nàng sẽ nói về chuyện của hai cô con nhà Quản Dõng đã có ý muốn ghép nàng cho thằng Bảy Thẹo. Nàng sẽ trách anh, đi sao không cho tin về, anh là người chỉ huy sao anh để cho anh em đốt phá nhà cửa của dân làng. Hằng muốn nói tất cả. Hằng muốn khóc, muốn cười với anh. Và Hằng muốn nghe anh nói lại những lời trách giận mà tha thiết và dịu dàng. Tất cả những ý nghĩ bị chôn chặt dưới đáy lòng đều sống dậy trong người nàng. Nhưng cổ của nàng nóng bỏng. Nàng đang bị khát, nàng không kêu thành tiếng.

Hằng cố hết sức, đưa hai tay ôm choàng lấy cổ Phát. Nàng mở tròn mắt, đôi mắt to mông mênh và đầy lệ.

- Anh! - Hằng vừa gọi, vừa đưa tay bấu chặt lấy vai Phát và nàng muốn nói:

- Cha đã chết rồi... Sao bây giờ anh mới về? Cha có bảo anh... đừng có trả thù... Nhà ai đang bị cháy đấy anh... Đưa em đi đi anh. Đưa em ra khỏi chỗ nầy nhanh đi anh. Em không sống ở đây nữa đâu. Nhớ anh, mong anh, người ta sẽ giết em chết mất thôi. Người ta đang gán ghép em cho thằng Bảy Thẹo. Em sợ lắm! Ở đây, lúc nào người ta cũng bắt em phải nguyền rủa anh. Mỗi lần nguyền rủa anh là mỗi lần em khóc. Đưa em đi đi anh. Em sẽ làm cứu thương cho bộ đội của anh như cái đêm anh đã bảo em dưới gốc cây vông đồng. Em sẽ đi với anh. Em sẽ sống với anh và chết với anh thôi!...

Ôi! Hằng muốn nói nhiều, nhưng cổ của nàng như bị cháy, nàng không nói được gì. Nàng chỉ còn đủ sức mở to đôi mắt để nhìn cho rõ mặt người yêu của mình thôi. Chẳng biết làm cách nào cho Phát hiểu, nàng cố hết sức hít một hơi đầy ngực, rồi vùi đầu vào người Phát, cắn nghiến vào cánh tay Phát, cắn rất lâu. Đuối sức, nàng ngả mặt ra, chớp mắt nhìn Phát, khe khẽ lắc đầu, hai giọt nước mắt trào ra.

Phát bị Hằng cắn, anh chẳng biết đau, nhưng nhìn thấy Hằng cứ vật vã anh không cầm được nước mắt. Anh cúi mặt cho gần Hằng. Nước mắt anh từng giọt rơi xuống tóc Hằng, trán Hằng, má Hằng và môi Hằng.

Hằng đưa lưỡi liếm những giọt nước mắt của Phát đọng trên môi mình và uống hết những giọt nước mắt mằn mặn ấy mà vẫn còn thấy khát. Hằng lại muốn cố lấy sức một lần nữa, nhưng vết thương lại nhói lên, nàng quậy mình và tất cả đều chập chờn.

Trong cơn đau mê mệt, ước mơ của những ngày trước lại trở về với nàng: “Trong một cuộc chiến đấu nào đó, nàng sẽ bị thương, anh ấy sẽ băng bó cho mình và mình sẽ được vuốt ve”... Đau đớn như chỉ còn đọng lại ở vết thương, ngoài ra, tất cả trên cơ thể của nàng đều rợn lên và nàng có một cảm giác lâng lâng...

Bảy Thâm đang dẫn đơn vị lao tới thì phải thối lại vì một loạt súng đại liên. Được nghe tiếng súng của quân địch, Bảy Thâm vừa hăm hở vừa bình tĩnh và sáng suốt lạ thường. Những lúc như thế này, anh hoàn toàn làm chủ tình cảm của mình.

Bảy Thâm nép vào cây xoài, lắng nghe thêm tiếng súng. Đúng là đại liên của thằng Ba Kềnh Càng chó đẻ đây. Tiếng súng nổ từng loạt, chắc chắn, như có vẻ tiếc đạn, luồng đạn thường bay đi ngang tầm ngực.

Không thể đâm đầu vào họng súng của nó, cũng không thể cho nó bọc ra sau, chiếm lấy đầu cầu, chiếm lấy bờ kênh mà bắn vào lưng của mình được! Phải cho đơn vị trở về, chiếm lấy khoảng vườn vắng, nằm vào vị trí, bắn tỉa từng thằng và chờ nó xung phong, quét cho hàng loạt.

Nhanh nhẹn, Bảy Thâm nhảy từ cây này qua cây khác, tìm tiểu đội trưởng Hồng.

- Hồng đó hả?

- Dạ! - Hồng đứng nép vào cây xoài chong tiểu liên về phía trước. Bảy Thâm cùng nép một cạnh bên Hồng, vừa đưa mắt nhìn về phía trước vừa hỏi:

- Có biết tiếng súng của ai đó không?

- Của thằng Ba Kềnh Càng chớ ai.

Bảy Thâm đưa cùi chỏ thúc khẽ vào ngực tiểu đội trưởng Hồng:

- Khá lắm! Ráng lên, tao sẽ cho chú mày lên làm phó. Tiểu đội của chú mày bây giờ phải chặn bọn chúng nó lại...

- Rút à? - Tiểu đội trưởng Hồng vặn lại với giọng gay gắt.

- Phải nghe lệnh cho hết đã. Đừng có hữu dõng vô mưu! Phải trở lại vị trí cũ, ở đây trống trải lắm, như nằm trong cái bẫy, hiểu chưa? Chú mày ở đây với cây F.M. chặn nó, hút tàn một điếu thuốc thì cho anh em rút lần về, nghe chưa? Có chuyện, tao sẽ trở lên. Không được bắn nhiều. Rút một đoạn, bắn trả lại một loạt, làm mồi dụ nó, biết chưa?

- Biết!

- Đi bố trí đi!

Hai người liền rời khỏi cây xoài.

Lệnh rút lui được truyền từ miệng người này qua người khác. Hơn năm mươi tay súng lần lượt rút đi, thoăn thoắt trong vườn cây. Tiếng tù và lại túc lên.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #24 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2024, 04:36:57 pm »

*
*      *


Nghe một loạt đại liên và tiếng đạn rào rào, Phát giật mình. Bóng tối bị rạch ra bằng những đường đạn lửa. Phát dừng lại, nhìn quanh quẩn, nhưng vẫn bế Hằng.

Một loạt súng nữa lại nổ. Phát thấy xa xa có ánh đuốc lập lòe. Rồi tiếng chân người mỗi lúc mỗi nhiều.

Nhìn ra đường, trong bóng tối, Phát thấy anh em đơn vị đang chạy ngược trở về. Phát bối rối. Anh để Hằng xuống rồi lại bế Hằng lên. Anh loay hoay một lúc rồi lấy chân dẹp một khoảng đất, để nhẹ Hằng xuống. Anh kê miệng cắn lá chuối, đắp lên mình cho Hằng. Anh tự nhủ: một chốc nữa, anh sẽ trở lại. Anh sẽ đưa Hằng đi.

Phát bước ra đường, thấy Bảy Thâm đang chạy tới.

- Anh Bảy! - Anh muốn hỏi nhưng lại thôi.

Bảy Thâm dừng lại:

- Phát đó hả? Ba Kềnh Càng! Cho đơn vị rút về vị trí, nhanh lên.

- Đồng chí y tá đâu?

Bảy Thâm mở tròn mắt:

- Ai bị thương đấy?

- Không! Thôi anh đi đi.

- Bảo anh em rút về vị trí, nhanh lên.

Bảy Thâm vừa nói vừa khoát tay bảo chiến sĩ chạy nhanh lên. Bóng Bảy Thâm hút mất bên kia đầu cầu.

Một loạt đại liên lại nổ dài. Phát không nhìn thấy ai nữa. Anh quay vào vườn chuối. Anh áp mặt xuống lồng ngực Hằng. Nghe Hằng hãy còn thở, anh thấy yên yên. Anh vuốt qua mái tóc Hằng rồi trở về với đơn vị.

Tiếng súng mỗi lúc mỗi nổ gần, tiếng gào la và tiếng hét mỗi lúc mỗi rõ dần.

Trong vị trí, Phát tìm gặp lại Hiếu.

Hai người cùng nấp một bờ mương, mắt nhìn vào một đám cháy đang tàn. Hình ảnh của Hằng cứ hiện lên trước mắt Phát. Anh muốn nói với Hiếu, muốn bàn với Hiếu tìm cách cứu Hằng. Nằm cạnh bên Phát, Hiếu cứ sợ Phát hỏi đến Sáu Sỏi. Nếu anh ấy hỏi ai giết thì mình sẽ trả lời như thế nào?

- Tôi không ở lại đây nữa, anh Phát ạ! Ban trị sự nó ghìm tôi lắm. Một mình tôi tôi không làm thế nào cứu được bác Sáu. Tôi đã bênh vực bác Sáu trước mặt bọn nó. Tôi ở lại không được nữa đâu, anh Phát!

- Hiếu đi thì cũng được thôi. Nhưng còn bác Tư thì bác sống với ai?

Cho đến lúc này, anh ấy vẫn còn nghĩ đến cha mình. Hiếu cảm động, cay đắng và thấy thương Phát nhiều hơn. Hay là cứ nói thật với anh ấy? Anh ấy sẽ hiểu và anh ấy sẽ tha thứ cho cha mình. Anh đưa mắt nhìn Phát, dò ý.

Vừa lúc đó thì đối phương bắt đầu xuất hiện.

Đơn vị của tiếu đội trưởng Hồng vừa bắn vừa rút, dụ được đơn vị của Ba Kềnh Càng lọt vào tầm súng. Thấp thoáng những cái bóng và những họng súng chớp lửa. Tiếng tù và, tiếng hò hét ở phía sau mỗi lúc mỗi to và hình như có tiếng hát nữa.

Bảy Thâm đi lom khom trước các họng súng, theo sau anh là Hoành, anh liên lạc, Bảy Thâm dặn:

- Chừng nào thấy rõ thì mới bắn. Được lệnh thì mới bắn. Ai sai lệnh thì tao chặt đầu.

Bảy Thâm mò đến chỗ Phát. Anh vừa nhìn về phía trước vừa vỗ vai Phát:

- Thằng Ba Kềnh Càng! Phen này thì phải cho nó ngã kềnh ngã càng ra mới được! - Giọng Bảy Thâm háo hức hẳn lên. Những lúc như thế này anh dễ gần gũi và dễ thân thiết với mọi người.

- Ai đây?

- Đồng chí ở làng - Phát đáp.

- Đồng chí hồi nãy đấy à?

- Dạ.

- Có muốn đi theo bộ đội không?

- Dạ muốn.

- Biết bắn súng không?

- Dạ biết!

- Tốt lắm! Có biết nghề võ không?

- Dạ biết!

- Vậy thì cứ theo tôi dạy nghề võ cho anh em để đánh giáp lá cà.

Anh đưa tay nắn bóp lấy vai Hiếu.

Trước mặt mọi người, đối phương như dừng lại. Và cả hai bên đều im lặng.

- A, cái thằng này khôn thật! - Bảy Thâm càu nhàu, - Hoành, chú lại chú Sanh, bảo chú ấy cho một tổ với một cây “mi”, chạy tuốt ra sau cho thật xa, rồi bắn lên vài phát, nhanh lên.

Hoành thoắt đi.

Một lát sau, một loạt tiểu liên và súng trường từ phía sau vọng tới.

Đúng như ý định của Bảy Thâm, phía bên đối phương liền dấy lên, súng nổ và tiếng gào la. Nhiều cái bóng lao tới. Phát đưa họng súng ngắn dõi theo một cái bóng. Anh mang theo hình ảnh của cha và người yêu, lao vào cuộc chiến đấu.

- Bắn!

Ba cây trung liên cùng thổi lên và tất cả các tay súng thi nhau nổ. Đạn rít lên, rào rào như một cơn dông.

Không thấy, nhưng anh em biết đối phương đang thối ngược lại. Bảy Thâm chồm lên, khoát tay, thét dài “Xung phong!...” Bảy Thâm lao lên như một con hổ.

Cả đơn vị đều chồm lên. Họ cướp lấy súng của kẻ chết, bắn đuổi theo kẻ đang bỏ chạy, rồi lần lượt rút về vị trí.

Lại im lặng!

Phía bên kia đối phương, những ngọn đuốc lại nổi đỏ cả một khoảng vườn, tiếng tù và, tiếng gào thét cùng dấy lên. Tiếng gào la của họ nghe ầm ầm ì ì như tiếng sấm xa. Tiếng tù và ở phía sau họ cũng lại nổi lên. Dân làng Long Điền cũng đã kéo đến rồi. Xa xa, có tiếng động cơ tàu và tiếng súng ở đồn Mỹ Long Hưng đang vọng tới.

Phát đi tìm Bảy Thâm. Hai người ngồi nấp dưới gốc cây.

- Cho rút thôi anh Bảy! Bọn nó dồn nhân dân đi trước. Bốn bên đều có. Không rút thì nhân dân sẽ chết hết.

Bảy Thâm gật gù.

- Được! Rút thôi. - Rồi anh văng tục - Đ... mẹ cái thằng Ba Kềnh Càng này, không có nhân dân thì mày chết với tao!

Những ngọn đuốc mỗi lúc mỗi đến gần, đã nghe rõ được tiếng người và hình như có tiếng hát nữa.

Bảy Thâm cho một tiểu đội ở lại chặn đường tiến của đối phương, còn tất cả, một nửa đi bằng xuồng, một nửa đi dọc theo hai bờ kênh.

- Anh Bảy đưa đơn vị đi đi, còn tôi với đồng chí Hiếu ở lại với tiểu đội. Bảo anh em để cái loa lại cho tôi.

Trong hàng người đang rút đi có tiếng nói:

- Ẩn ơi, tao lấy được một cái tù và!

Hiếu chồm qua Phát:

- Anh Phát. Bảo để cái tù và lại.

- Để lại làm gì? - Bảy Thâm hỏi.

- Cần thì tôi sẽ túc lên, bọn nó sẽ tưởng mình là nó.

- Vậy kia à? Đưa cái tù và lại đây! - Bảy Thâm ra lệnh.

- Tôi biết được mật hiệu của nó.

- Vậy thì đồng chí ở lại với đồng chí Phát. - Bảy Thâm đưa cái tù và cho Hiếu.

- Dạ.

Bảy Thâm thấy có cảm tình với anh bộ đội mới.

- Thôi anh đi đi! - Phát giục.

Nhìn Phát, Bảy Thâm bỗng chợt nhớ lại lần rút lui mà anh bị thương. Lần ấy Phát đã cứu anh. Lần này, Phát muốn ở lại để đồng bào đừng đỡ chết. Anh thấy thương Phát. Nhớ đến cái chết Sáu Sỏi, anh đau đớn cho Phát, muốn ôm chầm lấy Phát.

- Thôi, anh Bảy đi đi.

Bảy Thâm dang hai tay đặt lên vai Phát, bóp mạnh:

- Tôi sẽ chờ anh.

Bảy Thâm đi xa rồi, không thể còn thấy gì nữa, nhưng anh vẫn nhìn lại. Anh chợt nhớ đến nụ cười ác độc của mình lúc ban chiều. Nhìn đám đuốc mỗi lúc mỗi đến gần, anh nghĩ, hối hận và bực dọc lấy mình.


*
*      *


Ông Năm Bầu đứng thập thò trong vườn chuối cạnh bên nhà, hai tay giữ chặt cây chĩa ba, ngong ngóng nhìn ánh lửa.

Tiếng súng, tiếng chửi bới ở ngoài cầu ông đều nghe, nhưng ông chẳng thấy một anh lính nào chạy qua. Ông ngóng chờ đợi. Rồi một loạt súng nổ, những tiếng thét vang và tiếng chân chạy.

Chắc là bộ đội đang xung phong. Ông chạy ra đường, định nhập theo bộ đội, thì một đám người chạy tràn lại phía ông, rồi một bàn tay nắm lấy vạt áo ông kéo lại:

- Việt Minh! Việt Minh!

Một loạt đạn lửa bay qua trên đầu ông, ríu ríu qua người ông. Đám người liền kéo ông nằm xuống.

Sợ đạn lạc, ông vội bò trở lại nhà, ẩn mình dưới con mương nước.

Ông nghe tiếng súng từ nhà Quản Dõng bắn trả lại. Rồi lại im. Rồi tiếng tù và lại túc lên.

- Việt Minh rút lui rồi!

- Việt Minh rút lui rồi!

Những người đang nằm rạp trong vườn chuối chung quanh, họ ngóc đầu lên, gọi nhau, bảo nhau đi tập trung.

Từ các ngõ xóm, từ các lùm cây, đầu này đầu nọ, xôn xao tiếng gọi, tiếng chân và đuốc bắt đầu nổi lên.

Lệnh vua hành quân trống kêu dồn...
Quan với quân lên đường...


Và tiếng hát lại bắt đầu trỗi dậy, mỗi lúc mỗi gần như một đám mưa rào.

Ông biết bộ đội đã rút thật rồi. Ngọn lửa chưa tràn đến nhà Quản Dõng. Nhìn một đám người với những ngọn đuốc bốc ngùn ngụt kéo qua nhà, ông thấy buốt lạnh cả người. Bao nhiêu hy vọng của ông chờ đợi bộ đội của Phát thế là hết rồi.

Ông bước lên mương, vác cây chĩa ba, thẫn thờ bước vào nhà.

- Bác Năm ơi! Bác Năm!

Tiếng kêu của Bảy Thẹo lạc lõng và thất thanh nghe thật lạ thường. Ông Năm Bầu sững lại, nhìn cái bóng thấp lùn đang hấp tấp bước vào nhà mình, ông cất tiếng:

- Cái gì đó chú Bảy?

Cái bóng ấy quay lại:

- Thằng Chiến nó bị thương rồi!

- Cái gì? Hả? - Ông Năm Bầu buông rơi cây chĩa ba, hấp tấp bước vào, lập bập hỏi.

Bảy Thẹo nhìn ông, nói gằn từng tiếng, như mỗi tiếng đều có một dấu phẩy:

- Tôi, nói, thằng, Chiến, nó, bị, thương, rồi!

Bao nhiêu tiếng nói ấy như bao nhiêu viên đạn và từng viên, từng viên bắn vào lồng ngực ông. Hai bàn tay ông đưa lên như chực ôm lấy cái gì rồi buông xuống. Ông đứng lặng, mồm há hốc, mắt trố ra và đứng như trồng.

- Nó đang nằm ở nhà cậu Quản ấy, có đi thì đi mau lên. Cậu Quản sửa soạn cho nó đi nhà thương. Sao ông còn đứng đó?

- Ở... ở đâu?

- Tôi nói đằng nhà cậu Quản. Có đi thì đi mau đi!

Trước đây, có nhiều lúc, ông không muốn nhìn mặt Chiến nữa, nhưng giờ đây, khi nghe Chiến bị thương thì tình cha con liền trở lại với ông trọn vẹn và đầy đủ như bát nước đầy.

Mặt ông sầm tối. Ông nghiến răng, cố ghìm nước mắt, từng bước nặng nề, ông đi về phía nhà Quản Dõng.

Lành sợ đạn lạc, nằm nấp ở phía sau vườn - cái chỗ đứng chia tay với Hiếu - nghe trước nhà có tiếng người, nàng rón rén bước vào.

- Chuyện gì vậy anh Bảy?

- Chuyện gì tôi đã nói rồi. Muốn biết thì cứ đi đến nhà cậu Quản.

Bảy Thẹo chủ nói thế rồi đi thẳng. Lành chẳng hiểu được gì. Lành muốn đi lại nhà Quản Dõng, nhưng ngại không dám đi một mình. Trù trừ rồi nàng quay lại chỗ nấp, hy vọng sẽ được gặp Hiếu trở về.

Bảy Thẹo đang bực dọc. Trong lòng anh cũng đang bị một vết thương. Anh đi báo tin cho người khác, còn người khác thì chẳng biết gì đến việc của anh.

Hằng đã bị thương. Anh đã chen lấn với mọi người để giấu Hằng vào vườn chuối. Suýt nữa thì anh cũng đã chết rồi! Nếu không có một loạt đạn bay đến chỗ anh, thì anh không bỏ chạy một mình đâu. Hằng chết hay sống? Ruột gan anh như cháy bỏng. Thế mà chẳng có ai hiểu cho anh cả. Người ta - Quản Dõng - còn bảo anh đi báo tin cho người khác, đã thế mà còn bảo phải quay về để cầm đầu một toán người. Thằng trưởng ban ám sát bị thương mà cả đám cứ vây quanh, lo xe, lo cộ, đưa nó đi nhà thương, còn Hằng thì chẳng ai nói tới. Càng nghĩ, anh vừa tủi vừa giận. Bảy Thẹo không quay lại để cầm đầu một đám người nữa. Nhìn thấy những ngọn đuốc đã qua khỏi bên kia cầu, anh liền chạy thẳng lại vườn chuối. Anh đi sâu vào vườn, tìm lại cái chỗ mà anh đã giấu Hằng. Anh đánh diêm, anh đến nơi và sững sờ. Trước mắt anh chỉ còn là một khoảng trống và những tàu lá bị vứt đi. Anh hốt hoảng, mồ hôi vã ra ướt đầm cả trán. Anh nhìn quanh quất, bước tới bước lui, đưa tay sờ soạng. Chợt có tiếng rên anh dừng lại rồi len theo vườn, chạy lom khom.

Hằng còn đây. Anh cúi nhìn Hằng, nghe Hằng vẫn còn thở. Anh không nghĩ vì sao Hằng lại đến đây và ai đã đưa Hằng đi.

Anh không cần biết. Anh cúi xuống, luồn hai tay xuống lưng Hằng và bế Hằng lên.

Anh đưa Hằng ra vườn. Trong bóng tối, anh vẫn nhìn thấy vẻ mặt xanh xao mà xinh đẹp của Hằng. Nghe hơi thở của Hằng, ngửi cái mùi là lạ của Hằng, không cưỡng được lòng mình, anh cúi hôn môi, mũi của Hằng và hôn cái lồng ngực phập phồng của Hằng.

Còn Hằng, trong cơn đau và mê mệt, nàng vẫn đeo đuổi theo cái ước mơ của mình: “... Trong một cuộc chiến đấu nào đó, nàng sẽ bị thương, anh ấy sẽ băng bó cho mình và mình sẽ được vuốt ve”. Rõ ràng là nàng đã thấy đôi mắt trong sáng và thân thiết đang nhìn nàng. Nàng thấy rõ gương mặt của anh ấy nữa. Hằng không hay Phát đã bỏ đi. Hằng nghĩ là Phát vẫn còn bế mình và đang cúi hôn lên đôi môi và lồng ngực của mình. Trong cơn mê, vết đau của nàng như dịu lại và tan đi. Anh ấy đang hôn mình. Trong cơn mê, nàng tự nghĩ và chập chờn thấy Phát. Tuy trong cơn đau, nàng vẫn nghe một cảm giác kỳ lạ đang chạy ran khắp cả người khiến cho người nàng uốn cong lên. Nàng muốn vùng dậy, muốn ôm ghì lấy anh ấy và muốn hôn anh ấy. Nhưng nàng không đủ sức.

Nàng sung sướng, nàng đau đớn, nàng bực dọc lấy mình và nàng muốn khóc.


*
*      *


Trong vườn xoài rậm, những tay súng của Ba Kềnh Càng và dân tín đồ với đao kiếm, gươm giáo, đuốc, đang kéo nhau đuổi theo đối phương. Ông Năm Bầu phải vất vả lắm mới đi ngược lại được dòng người đó.

Người ta nạt ông, bắt ông đứng lại, kéo áo ông, bắt ông quay trở lại.

- Thằng Chiến nhà tôi bị thương! - Ông vừa hét lên vừa nắm giật lại áo, người ta mới chịu buông tha ông.

Đang đi, ông gặp lão Ịnh tay cầm ngọn đao, tay cầm đuốc, tóc xổ tung. Lão Ịnh cầm đầu một đám người. Năm Ngũ, Phi Hùng cũng đang cầm đầu một đám người - Hai cha con Năm Ngũ chưa biết Hằng bị thương - Quản Dõng đầu chít khăn đen, tay cầm đuốc, tay cầm loa. Ba Kềnh Càng, một con người cao lênh khênh tay dài như vượn, đầu đội mũ sắt Nhật, hông đeo kiếm dài, tay cầm súng ngắn, đang bàn bạc với Quản Dõng.

- Ai đó? - Lão Ịnh đang đi, bỗng quơ ngọn đuốc qua mặt ông hỏi. - Anh Năm hả? Thằng Chiến nó bị thương rồi. Anh có thấy thằng Hiếu nhà tôi ở đâu không?

- Thằng Hiếu nó đi rồi! - Ông vừa đáp vừa đi.

Lão Ịnh tưởng là Hiếu cũng đang cầm đầu một đám người và đang lao về phía trước. “Nó tuy thế mà là người trung thành”. Lão tự nghĩ và thấy thương con. Lão không muôn để con phải xông xáo một mình. Lão quơ đuốc, hướng về đám người không hàng không ngũ đang lúc nhúc trong vườn. Lão gào lên:

- Bà con bổn đạo! Tiến lên! Tử vì đạo!

Cái đám người ở phía sau rùng lên.

Ông Năm Bầu đi ngang qua chỗ Quản Dõng và tên Ba Kềnh Càng.

- Anh Năm đó hả? - Quản Dõng hỏi.

Năm Bầu dừng lại:

- Con tôi ở đâu?

- Anh đi mau đi, xe cứu thương sắp sửa đưa cậu Chiến lên nhà thương chợ đấy. Anh chạy mau lên mà đi với nó.

Ông Năm Bầu liền chạy ra đường. Trong bóng tối, lờ mờ những chiếc xe ngựa đậu dọc theo đường. Mùi mồ hôi, mùi nước đái và mùi cứt của đám ngựa xông lên nồng nặc. Một vài tiếng vó gõ lộp cộp, một vài tiếng hí và tiếng ngựa rùng mình.

Ông Năm Bầu vừa chạy đến các cỗ xe vừa kêu:

- Chiến ơi! Chiến!

Những người bị cưỡng bức phải đưa xe đi, đang ngồi nấp dưới các gốc cây, nghe tiếng người hớt hải, họ biết đấy là thân nhân của người bị thương. Một người hỏi:

- Chiến nào?

- Thằng Chiến nhà tôi!

- Phải cái anh bị thương không?

- Phả... ải!

- Người ta đã đưa ảnh đi rồi.

Ông Năm Bầu sựng lại, nhìn theo con đường loang loáng trải dài và hút mất trong bóng tối.

Chiến mặt xanh xao đang quằn quại và kêu rên! Hình ảnh đau đớn của con hiện lên trước mắt ông và hình ảnh ấy như quằn quại trong lòng ông.

Ông bỗng đưa tay vẫy và thét lên: “Xe”. Rồi ông cắm cổ đuổi theo. Xe của Chiến đã đi xa rồi, nhưng ông lại như nghe tiếng vó ngựa đang gõ vang trên mặt đường và chiếc xe như đang lúc lắc chạy ở trước mặt mình. Ông vừa chạy vừa vẫy tay, vừa gọi: “Xe!” Con đường im ắng, giữa hai hàng cây lào xào trong đêm tối mỗi lúc mỗi trải dài ra. Đầu óc ông quay cuồng. Ông cắm cúi chạy. Vấp phải một hòn đá, ông ngã sấp, mặt đập xuống mặt đường. Ông không còn đủ sức để chạy nữa, cũng không đưa tay chùi dòng máu từ mũi tuôn ra. Ông chỉ khẽ nghiêng qua, nằm áp má trên mặt đường, hai vai run lên, Gió từ dòng sông hắt lên, cuốn theo cát bụi và lá khô rải qua người ông như muốn chôn ông xuống giữa mặt đường.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #25 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2024, 09:39:11 am »

XX


Cái đám người của lão Ịnh, Phi Hùng, Năm Ngũ và Quản Dõng vừa qua khỏi cầu, đang hò hét lao theo những tay súng của Ba Kềnh Càng thì đạn bay vào họ như cám rãi.

Đạn réo qua người họ, cắm vào các thân cây cạnh bên người họ, rít qua những cành lá. Lá tơi tả rơi rãi quanh người họ. Nghe tiếng “xung phong” thét vang bên kia khu vườn và thấy những tay súng của Ba Kềnh Càng thối ngược lại, không ai bảo ai, họ liền quay mặt lại, chen nhau, xô nhau, đạp vào nhau, dồn trở lại. Có người khỏe tay, khỏe chân, họ nhảy ùm xuống dòng kinh, mang theo cả đao kiếm và đuốc. Đuốc tắt lèo xèo trên mặt nước, họ lóp ngóp bơi vào. Ba Kềnh Càng vung ngọn kiếm, hét vang:

- Đứng lại!

Cây đại liên liền nổ lên trên một tràng dài, yểm hộ cho toán xung kích tháo ngược về. Tất cả những tay súng của Ba Kềnh Càng lần lượt lui ra phía sau, dồn cái đám người đao kiếm ra phía trước.

Phía bên kia vườn bỗng im lặng. Đám người đao kiếm bắt đầu tìm nhau. Họ không có tổ chức gì hết, không có đơn vị, không có tiểu đội, không có tổ, cũng không người chỉ huy chính thức. Người nào hăng hái là người chỉ huy của họ. Họ thích ai, tin ai, họ chạy theo người ấy. Trong lúc không có chuyện gì, họ có một đội ngũ hẳn hoi: đại đội, trung đội, tiểu đội, nhưng đến lúc chiến đấu thì họ lại rã ra, rã ra nhưng lại là một khối, và tất cả đều dưới quyền chỉ huy của một người cầm loa, bất cứ là người nào. Ông già, bà già, đàn bà con gái, trai tráng và trẻ con, tất cả đều có. Có người bị bắt buộc, có người tình nguyện và mỗi người chiến đấu với mỗi ý nghĩ riêng của mình. Kẻ đi đánh quỷ dương, người đi đánh cộng sản, kẻ đi đánh những người đã giết người thân của mình, kẻ thì đánh vì đạo, vì Thầy. Đám người hỗn độn ấy bị dồn ra phía trước. Họ tìm nhau, ra lệnh cho nhau, giành nhau một chỗ nấp, chửi nhau và thổi tù và.

- Có súng mà sao lại nằm ở phía sau hả? Đánh giặc cái con cặc gì vậy?

- Con ơi!

- Má ơi!

- Thằng nào muốn tử vì đạo thì lên trước đi.

- Thằng nào muốn về đất Phật thì cứ xung phong.

- Đ... mẹ cái bọn quỷ dương nó đốt nhà tao rồi.

- Mày có giỏi thì lên trước đi, tao còn một bầy con của tao.

- Đ... mẹ thằng nào nói đó? Thằng nào làm mất tinh thần bà con đó?

- Chém mẹ nó đi.

Bao nhiêu người, bao nhiêu tiếng chửi, bao nhiêu gương mặt khác nhau đều chờn vờn trong ánh đuốc. Họ quần nát cả một khu vườn. Lão Ịnh cầm đuốc len lỏi qua đám người đó, soi mặt từng người, nhìn mặt từng người để tìm Hiếu.

- Bà con có ai thấy thằng Hiếu nhà tôi không?

- Hiếu nào? Thằng Hiếu dạy võ hả?

- Thằng đó nó ở nhà ôm đít vợ rồi!

- Câm cái mồm! - Lão Ịnh quay ngọn đuốc lại phía người nói, hét lên - Tao chém thằng cha mày bây giờ.

- Ông Phó ơi! Ông giết người ta thì ông lên trước đi, đi tìm thằng Hiếu làm gì?

- Tao tìm mặc tao!

- Đâu trở về đó đi, bọn quỷ dương nó tới kia kìa.

Một tràng đại liên rít lên, kéo một đường nhì nhằng bay qua bên kia khu vườn. Họ xôn xao lên, giấu người vào chỗ nấp, rồi lại im.

Im lặng.

Cho đến lúc ấy, họ mới nghe được tiếng sóng của dòng sông, tiếng gió reo qua khu vườn, tiếng đuốc nổ lách tách, và những con thiêu thân lao vào lửa cháy lèo xèo. Trên nền trời, mây mỗi lúc mỗi dồn về, bóng tối mỗi lúc mỗi dày đặc. Tử thần như đang dừng lại trước mặt họ.

- Hỡi bà con bổn đạo tín đồ... ồ... ồ!

Tiếng loa của Quản Dõng từ phía sau vang tới. Tiếp theo có tiếng xì xào ở phía sau truyền đến, từ người này sang người khác:

- Nghe súng của ông Ba nổ thì xông lên.

- Nghe súng nổ phải xông lên.

- Thằng nào, con nào không xung phong thì bị đâm vô lưng.

- Tử vì đạo!

- Chết vì Thầy.

- Nó đốt nhà của mầy đó, xông lên mà lấy đầu nó.

Lão Ịnh nằm nấp dưới cây xoài to, chờ lệnh mà lòng vẫn nghĩ đến Hiếu.

Tiếng loa từ phía sau vẫn vang tới:

- Bọn quỷ dương Việt Minh cộng sản đang vật vờ trước mặt, chúng đã đem lửa đốt cháy cả xóm làng, đốt cháy trang thờ, đốt cháy cả trần điều, giết hại cả anh Dương Văn Chiến đệ tử. Hỡi bổn đạo của làng Mỹ Long Hưng, hãy đứng lên, hãy làm sáng danh cho đạo! Hỡi bổn đạo! Hỡi ai là người dám tử vì đạo, chết vì Thầy... - Cái tiếng loa ấy vang lên khắp khu vườn chung quanh họ, gió như dừng lại. Cây cối như đứng im. Tiếng loa vừa ấm vừa tha thiết như tiếng than và lời van đối với mọi người. Lời than van ấy đã khơi động lòng yêu đạo của họ. Họ nằm im, có người nín cả thở để lắng nghe.

Cái tin Thầy bị nạn - do Quản Dõng bịa ra - khiến cho lão Ịnh rưng rưng nước mắt. Hình ảnh của ngày đi gặp mặt Thầy chập chờn lên trong trí lão. Thầy đứng trên đài cao. Thầy mặc chiếc áo dài đen, người dong dỏng.. Dáng Thầy tha thướt và dịu dàng. Tóc Thầy xõa đến vai, mái tóc đen huyền. Thầy cúi nhìn “chúng sanh bá tánh”. Gương mặt của Thầy đẹp với vẻ từ bi. Đôi mắt của Thầy trong sáng mà xa xăm. “Bá tánh chúng sanh” bao chặt bốn bên lễ đài, đều quỳ mọp xuống.

- Hỡi thiện nam tín nữ! (Lúc ấy, Huỳnh Phú Sổ nói trước mi-cơ-rô nhưng lão Ịnh và hầu hết dân làng thì có biết cái mi-cơ-rô là cái gì. Trong làng, trong quận, ai muốn nói lớn tiếng thì phải cầm cái loa bằng thiếc) Tiếng của Thầy rền như tiếng sấm, vang ra đến tận bốn phương và nghe như từ cõi xa xôi nào đưa tối. Người trần thì làm gì nói được như vậy! Nghe như là tiếng thiên thần. Lúc ấy, lão mọp đầu nghe và tự nghĩ như vậy. Từ ấy đến nay, lão không gặp được Thầy nữa.

Nghe cái tiếng loa của Quản Dõng, giọng nói ấm áp và huyền bí của Thầy lại vẳng đến tai lão. Một nỗi xúc động kỳ lạ xâm chiếm tâm hồn lão. Tất cả những gì chung quanh lão như mờ đi và chập chờn như hư như thật. Tự dưng, lão muốn ngủ. Lão dựa đầu vào gốc cây, mơ màng và rưng rưng nước mắt. Lão thấy mình không phải là Tư Ịnh nữa, mình là một tín đồ, là đệ tử của Phật thầy!

Một loạn đại liên nổ lên, đêm tĩnh mịch như vỡ tan ra. Đạn rít ào ào. Lão giật mình, vùng dậy. Tất cả người chung quanh đều dấy lên, ào ào như một cơn dông.

- Tử vì đạo!

Người ta quơ đuốc, vung đao, vung kiếm, gào thét như sấm, chen lẫn với tiếng tù và, và tràn lên như một lượn sóng.

Lão Ịnh vung đao, chém bừa vào một cành cây, như một con mãnh hổ, lão xông lên hàng đầu.

Tiếng súng bên kia khu vườn lại nổ lên, đạn rít qua đầu họ. Có một số người thối ngược trở lại. Lão Ịnh thì như không nghe tiếng súng. Lão vừa thét “Tử vì đạo!” vừa xông lên. Có một người nắm lấy áo lão kéo lại lão cũng không biết. Lão tưởng áo mình bị vướng một cành cây, lão vừa đưa ngọn đao ra chặt, thì bên kia vườn cũng lại nổi lên tiếng loa:

- Hỡi bà con bổn đạo!

Lão Ịnh và mọi người đều sựng lại và ngớ ra. Tiếng loa bên kia khu vườn vẫn vang tới:

- Anh em bộ đội về đây không phải là để trả thù. Anh em bộ đội về đây để cùng với bà con bổn đạo đoàn kết đánh Tây cứu nước. Người Việt không đánh người Việt. Xin bà con hãy dẹp đao kiếm, trở về.

Những người đang lắng nghe, bỗng có một tiếng chửi:

- Đoàn kết cái con cặc đây nè! Tao chém đầu cha mày bây giờ.

Tiếng loa bên kia khu vườn vẫn vang tới:

- Tôi là Hiếu đây! Hiếu dạy võ của bà con đây! Tôi xin bà con hãy trở lại, hãy cùng với anh em bộ đội đánh Tây cứu nước...

Khối người đao kiếm liền xôn xao hẳn lên, họ kêu lên những tiếng kinh ngạc, lạ lùng và sợ sệt. Còn lão Ịnh thì ngơ ngác và không tin vào lỗ tai của mình.

- A! Thằng Hiếu!

- Thằng Hiếu!

- Thôi! Bỏ mẹ rồi.

- Lão Ịnh đâu?

- Thằng Hiếu, con của ông đó!

- Thằng phản đạo! Tiến lên đi!

- Chém lấy đầu nó.

- Mổ mật nó!

- Thằng nào mình đồng gan sắt thì lên đi. Nó chém một nhát ba cái đầu!

Cái khối đao kiếm dừng lại ở mí vườn, họ cứ nhao nhao lên và như rã rời ra từng nhóm từng người.

Còn lão Ịnh - lão đứng cạnh một cây xoài, tay cầm đao, mình trần, áo bịt qua đầu, - tiếng nói của Hiếu như kéo lão trở về với sự thực. Lão không còn là đệ tử của Thầy nữa. Lão là lão Ịnh. Lão là một người cha. Người cha có một đứa con, cuộc đời của lão chỉ còn có hai cha con. Và hiện giờ con của lão đang đứng ở phía bên kia vườn. Hai cha con, hai trận tuyến khác nhau. Lão bủn rủn cả tay chân. Lão muốn xông lên, chém lấy nó. Lão muốn đưa tay kéo nó trở về. Cả hai thứ tình cảm ấy giằng xé trong người lão. Và chung quanh người ta đang nguyền rủa lão.

Trong lúc ấy, tiếng loa của Quản Dõng cứ gào lên như muốn át lấy tiếng loa của Hiếu.

- Tiến lên!

- Tử vì đạo!

Người ta cũng gào theo, nhưng những tiếng hô đã rời rạc, chỗ này, chỗ nọ và người ta chỉ hô mà không tiến.

Hô xong, họ lại kêu nhau, tìm nhau, chửi nhau, người đòi về, người la hét bảo phải đứng lại.

Tiếng súng ở phía sau lại bắt đầu nổ. Mọi người liền nằm rạp xuống. Tiếng súng nổ như điên, như loạn.

Khu vườn phía bên kia vẫn im lặng, không bắn trả lại một phát nào và tiếng loa cũng đã im.

Những tay súng của Ba Kềnh Càng bắt đầu xông lên, và cái khối người đao kiếm được dồn lại phía sau.

Ba Kềnh Càng tổ chức thêm một đợt tấn công.

Cây đại liên đặt cạnh bên cây xoài khạc qua bên kia khu vườn một tràng dài. Khu vườn bên kia vẫn im. Những tay súng bắt đầu bò lên. Số người đao kiếm thấy những tay súng tiến trước, họ bắt đầu yên, bắt đầu củng cố lại tinh thần, họ lò mò theo sau.

Một tràng đại liên lại khạc qua bên kia khu vườn một tràng dài nữa, tiếng súng nổ dài nghe như đứt hơi. Tiếng súng dứt, Ba Kềnh Càng vung kiếm hét vang:

- Tiến lên!

Những tay súng liền chồm tới. Khối người đao kiếm liền dấy lên.

Lão Ịnh sợ mọi người, xấu hổ với mọi người và sợ nhìn cái chết của con, lão nép vào bóng tối, lưng còng xuống như muốn thu người lại, lão vừa nhìn dáo dác, vừa bước từng bước trở về.

Những tay súng của Ba Kềnh Càng và khối người đao kiếm vừa xông đến khu vườn, thì khu vườn chỉ toàn là cây và những cái hầm không.
Tiểu đội của Phát và Hiếu đã đuổi theo đơn vị. Đơn vị của Bảy Thâm, tốp đi xuồng, tốp đi trên bờ kinh, đang đi vòng theo con kinh chảy qua đồng. Đơn vị của Bảy Thâm đang rút về xóm du kích thuộc xóm nhà thờ công giáo. Ở đó, ngày mai, họ sẽ chặn đường về của Ba Kềnh Càng. Cho đến lúc ấy, tiếng súng của đồn Tây làng Mỹ Long Hưng mới bắt đầu bắn ra. Bảy Thâm đi cạnh bên đơn vị, anh mở cúc áo cho mát lồng ngực, nhìn đồn Tây và nghe tiếng súng. Đúng là tiếng súng của cái thằng quan hai Tây. Không ai chạm tới nó, tiếng súng của nó nghe thật bình tĩnh. Nó cố ý bắn theo một điệu nhạc, nếu tiếng súng ấy chỉ nổ, mà không chết người, thì nghe thật sướng tai. Tiếng đầu nó cho bắn một viên đạn đum đum “bóc bùm”, tiếp theo là một tràng trung liên, mỗi chùm ba tiếng: “Bùm, bùm, bùm. Bùm, bùm, bùm” rồi lại “bóc bùm”, rồi tiếp theo là một tràng “hốt kít” tiếng nổ nghe ấm như gõ thùng, và kéo một tràng dài, rồi nó đệm lên một tiếng “mót chê” “phụp... ầm...”. Rồi nó bắt đầu bắn lại “bóc bùm”. Bảy Thâm nhìn những đường lửa nhằng nhịt trong đêm tối, anh nghiến răng chửi thầm: “Không có cái bọn Hòa Hảo thì cha mày cũng chết! Rồi mày sẽ biết tay tao, xem mày có bắn điên lên không cho biết”. Bảy Thâm dừng lại, nhìn đoàn quân của mình vẫn còn nguyên, lại cướp thêm được một số súng, anh thấy hãnh diện và khoan khoái với cái tài chỉ huy của mình.
Cùng lúc ấy, trong khu vườn, khối người đao kiếm bắt đầu nổi đuốc, họ quơ đuốc lùng khắp cả khu vườn. Xem như là đi tìm địch, nhưng thật ra thì họ đang tìm đồ vật của “Việt Minh” xem có cái gì còn rơi lại sau khi đã rút lui. Họ tự thấy mình đã chiến thắng. Họ đi tìm nhau, kêu nhau, gọi nhau và một vài người bắt đầu cất tiếng hát:

Lệnh vua hành quân trống kêu dồn
Quan với quân lên đường...


Lão Ịnh thẫn thờ đi qua những ngôi nhà bị cháy, tiếng hát ấy vẳng đến, mang đến cho lão một nỗi buồn hiu quạnh.


*
*      *


Mặt trận đã tàn, ai về nhà nấy, việc ai nấy lo. Nhà ai mất người thì đốt đuốc chia nhau đi tìm. Nhà ai bị cháy thì xúm lại dập lửa, lượm lặt, gom góp những gì còn có thể dùng được: cái chén, cái nồi, hủ mắm, cái lu... Bảo an lại đi gác.

Nhà Quản Dõng lại thắp đèn “măng sông”, kẻ lên người xuống, yến tiệc bày ra. Ban trị sự, ban chỉ huy của Ba Kềnh Càng lại bắt đầu “hội nghị” chung quanh những bàn thức ăn, lại uống rượu, lại bàn thêm những âm mưu mới. Lính của Ba Kềnh Càng chia ra ở các nhà dân, họ bắt đầu nói chuyện với người trong gia đình, và liếc nhìn những cô nữ tín đồ.

Họ bắt đầu nghe lại tiếng sóng muôn thuở của dòng sông, và nhìn trời, đoán có mưa không và dự tính những chuyện làm ăn trong mùa mưa. Cuộc sống bình thường đã bắt đầu trở lại với những gia đình còn nguyên vẹn.

Suốt một ngày nay, mây đen cứ vần vũ mà không mưa được. Trời thấp xuống, đen sì như một cái lồng chảo úp xuống làng. Một vài tiếng sấm rền rĩ ở xa xa. Gió liu riu thổi qua hàng dương, hơi gió ẩm lạnh, cuốn theo tro bụi và tàn than của những ngôi nhà bị cháy rào rào qua các khu vườn.

Những gia đình có người bị thương, bị chết, lác đác ở đầu xóm cuối xóm, họ bắt đầu khóc lóc, kể lể, nguyền rủa, chạy đi tìm đuốc, chạy đi tìm ván đóng hòm. Đèn đuốc lại nổi lên, tiếng búa đóng hòm lại vang đi.

Lão Ịnh đi ngang qua một ngôi nhà bị cháy, khói hãy còn ngui ngút, người đàn bà đang lom khom bới tro nhặt những cái chén, thấy lão, người đàn bà ấy liền kêu lên:

- Này ông trị sự. Ông là trị sự sao ông để cho con ông đi đón quỷ dương về đốt nhà của tôi, hả? Ông giỏi giết người sao ông không giỏi ra chận người ta lại, ông để người ta đốt cái nhà của tôi. Ông có thấy đàn con của tôi không? Đêm nay rồi nó ngủ đâu, ăn đâu, hở ông Phó? Tôi cho ông biết, ngày mai tôi sẽ dẫn cả đàn con tôi đến ở nhà ông đấy. Còn ông, thì ông về đất Phật mà ở.

Người đàn bà ấy xói xỉa lão với giọng vừa đau đớn, căm giận, chua xót lẫn mỉa mai, và đầm đìa trong nước mắt. Và không chỉ riêng người đàn bà ấy, người nào đang bị thiệt, hễ gặp ông là họ kêu tên ông, chửi mắng và mỉa mai đủ lời.

Lão mất hết cái tính nóng nảy của mình. Lão đau khổ đến đờ đẫn cả người. Ai chửi mặc ai, ai kêu đến, lão cũng mặc họ. Lão cứ đi, đầu cúi gầm, lưng còng xuống, áo bịt qua đầu, tóc xõa dài xuống cái lưng trần. Lão muốn tránh mọi người, nhưng lão cứ đi ở giữa đường, đi qua những ngôi nhà bị cháy.

Đến một đoạn đường vắng gần đình, lão gặp ông Năm Bầu đi ngược lại. Trong bóng tối, hai người vẫn nhận ra nhau.

- Anh Năm đó hả?

Ông Năm Bầu dừng lại trước mặt lão:

- Anh Năm ơi! - Lão kêu lên như tuôn ra những tiếng than. Tay lão run và giọng lão cũng run run - Thằng Hiếu! Thằng Hiếu của tôi nó đã đi rồi!

Lão muốn khóc, muốn ôm chầm lấy người bạn già, muốn được nghe lời an ủi. Nhưng ông Năm Bầu lại “hừm” lên một tiếng:

- Tôi đã nói với anh mà - Giọng của ông đay nghiến. Đau đớn và căm giận bị đè nén từ nãy giờ và hằng bao nhiêu lâu nữa, như có dịp, ông liền trút vào lão Ịnh. -Anh đã bằng lòng chưa anh Tư? Tôi nói với anh mà anh không nghe tôi! Anh đã thấy cái gì chưa? Tại sao anh lại đi giết Sáu Sỏi, đi giết một người cộng sản, hả?

Ông hỏi gằn, nghiến răng, mắt mỏ tròn và nảy lửa, hai tay run lên và giọng ông cũng run lên:

- Hỏi vậy, làng Mỹ Long Hưng nầy đã nhờ ai mà đã làm nên bao nhiêu chuyện. Hồi thời bí mật, ai là người đánh Tây bị tù đày, ai là người “cầm binh” đánh Tây giành được ngày độc lập? Hiển vinh biết bao nhiêu! Anh còn chưa muốn hay sao? Rồi thằng Tây trở lại, biết bao nhiêu là kẻ mất người còn, hỏi vậy ai là người kháng chiến đánh Tây cứu nước? Hỏi vậy tại sao lại bắt giết người kháng chiến, hả? Anh Tư, tại sao lại đi đầu Tây? Từ ngày những người trong ban trị sự các anh lên cầm quyền, hỏi vậy, các anh đã làm nên được một cái gì? Bao nhiêu là người chết, bao nhiêu là nhà cháy? Tôi cũng tưởng khi các anh đánh đuổi được Việt Minh, cộng sản ra khỏi làng, thì cái làng này là thiên đường, là đất Phật, nhưng lại hóa ra là địa ngục.

Càng nói, càng xúc động, giọng ông càng sôi nổi, càng căm giận:

- Rồi hôm nay nữa, chỉ có nửa ngày với nửa đêm thôi, khi anh đã giết chết chú Sáu Sỏi, giết chết ông chủ nhiệm, giết chết một người cộng sản, thì cái làng Mỹ Long Hưng này xảy ra chuyện gì? Anh đi mà nhìn lại cái làng này, bao nhiêu nhà cháy, bao nhiêu người bị thương, bao nhiêu người chết? Còn anh? Anh nói: giết hết bọn cộng sản quỷ dương thì được lên đất Phật, sao anh không đi lên đất Phật đi? Sao lại còn đứng ở đây? Để làm gì, hả? Hỏi anh, trong ngày nay, anh đã được cái gì? Anh mất một người bạn, anh mất một đứa con. Còn tôi? Thằng Hiếu chưa phải là chồng của con Lành, nhưng tôi vẫn coi nó như con. Tôi mất một thằng rể, con tôi mất thằng chồng, nhà tôi mất một đứa con. Thằng Phát đã mồ côi mẹ, bây giờ tại anh mà nó bị mất cha. Quản Dõng nó muốn tranh quyền đạt lợi, nó gây thù gây oán, anh theo nó để làm gì? Anh vào sống ra chết để làm gì? Anh nói cho tôi nghe coi! Có phải anh là một con thiêu thân hay không?

Ông Năm Bầu nói mà không nhìn lão Ịnh.

Càng nói, ông càng nhớ đến những chuyện đã xảy ra. Đau đớn và căm giận trào nghẹn lên cổ ông. Hai tay ông nắm chặt, run run và hai hàm răng nghiến chặt như cố ghìm người lại. Ông cau mày nhìn sâu vào đêm tối. Hàng cây bên kia bờ sông đã tan trong bóng tối. Dòng sông lấp loáng những ngọn sóng bạc đầu và ào ào. Gió vẫn dồn mây đen kéo về. Một vài tiếng sấm rền lên. Một tia chớp rạch nứt đêm tối. Cảnh vật chớp hiện lên, rồi tắt ngấm.

Lão Ịnh đứng trơ ra như đá. Những lời đay nghiến của ông Năm Bầu, lão nghe đau như bị rứt ra từng miếng thịt. Đầu óc lão như không còn chỗ để mà nghĩ suy nữa, đầu óc của lão như đã cứng đặc lại. Và lão đã kiệt sức rồi. - Cái đói cũng đang cồn cào lão - Lão không còn sức mà giận nữa. Lão chỉ muốn thấy lại mặt con thôi, lão chỉ muốn nghe những lời an ủi thôi. Lão khe khẽ lắc đầu, nói như hơi gió:

- Thôi, anh Năm, đừng nói nữa!

- Hừ, đừng nói à? - ông Năm Bầu vẫn tiếp với những ý nghĩ của mình - Ngày mai, ngày kia, rồi sẽ ra làm sao đây? Tôi còn được cái gì. Tôi còn một cái nhà như một cái tum. Tôi còn một đứa con gái, tôi sẽ còn bị mất cái gì nữa đây?

Câu nói ấy như mang một tai nạn không rõ ràng đe dọa lại ông, ông bỗng nổi giận, ông nhìn thẳng vào lão Ịnh và giọng ông cất cao lên:

- Anh muốn làm gì tôi thì làm! Còn tôi, tôi cho anh biết trước, tôi sẽ đi rước những người cộng sản trở về.

Như sét đánh qua tai, lão Ịnh nghe lạnh và rùng mình.

Trời có sét đánh thật. Một tiếng nổ nghe như tức tối, một tia chớp kéo lằng nhằng, tiếng sấm rền ra những nơi xa. Trời bắt đầu mưa. Và mưa gió là chuyện của trời. Mưa gió ở đây từ trước đến nay, nó không chiều theo lòng người. Mỗi năm, bắt đầu tháng tư, tháng năm, tháng sáu thì mưa lại đến. Mưa cứ ròng rã ngày này qua ngày khác. Mưa cho nước từ trên nguồn đổ xuống, mưa cho nước đổi màu, nước mang theo phù sa ngầu đục, mang theo từng ề củi riều cuồn cuộn trôi qua làng. Mưa đầy ngập cả dòng sông. Mưa cho dòng sông dâng lên, tràn ngập cả đường sá, tràn ngập cả ruộng đồng. Và nước sẽ mang cá về cho các ao đầm. Nước tắm mát cho cánh đồng. Nhưng năm nay, dòng sông nào có biết là cánh đồng đang bỏ hoang. Nó mang nước về cho ai, nó nào có biết. Đó là chuyện của con người. Con người chưa làm chủ được nó!

Sau những ngày nắng gắt và chói chang, mặt nước trên sông, mặt nước các hồ ao và các con mương đã bốc hơi, chuyển thành những đám mây, khi những đám mây trắng đã chuyển thành đen như khói đèn, và khi đã ứ  đầy cả bầu trời, có những tia chớp thì mưa đổ xuống.
Mưa mỗi lúc mỗi nặng hạt. Mưa dập tắt những ngôi nhà còn đang cháy. Mưa thấm lạnh những nền nhà nóng bỏng. Mưa tắm mát cho những khu vườn và cỏ cây. Mưa lạnh những con người không nhà.

Mưa mù mịt và dầm dề...

15-4-1963




HẾT
Logged
Trang: « 1 2 3   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM