Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 06:30:07 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam  (Đọc 7229 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« vào lúc: 22 Tháng Chín, 2025, 08:42:24 pm »

- Tên sách: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam
- Tác giả: Hồ Khang
- Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
- Năm xuất bản: 2017
- Người số hóa: macbupda, vnmlitaryhistory


LỜI NÓI ĐẦU


Cuộc chiến tranh Việt Nam dài 21 năm (1954-1975) là cuộc chiến tranh cục bộ lớn nhất thời kỳ Chiến tranh lạnh, xét trên nhiều phương diện khác nhau: về phương tiện chiến tranh, về quy mô, lực lượng tham gia, về tính chất và cường độ... Trong chiến tranh Việt Nam, với sự ủng hộ, tham gia của 34 nước đồng minh, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã huy động vào cuộc chiến một lực lượng vật chất - kỹ thuật hết sức to lớn, thực hiện nhiều chiến lược chiến tranh khác nhau. Bằng những cố gắng đó và cùng với tiềm lực kinh tế, quân sự vượt trội, nước Mỹ luôn tin tưởng ở một chiến thắng nhanh chóng và tuyệt đối. Tuy nhiên, lịch sử không diễn ra một cách đơn giản, theo ý muốn chủ quan - diễn biến và kết cục của chiến tranh Việt Nam đã khiến nhiều vấn đề từng được định hình hoặc mang tính mô thức cần phải được nhận thức lại. Sau những năm tháng dài sa lầy vào cuộc chiến như không có hồi kết thúc, cuối cùng, nước Mỹ hùng mạnh đã phải rút khỏi miền Nam Việt Nam khi rất nhiều trù định ban đầu chưa thành hiện thực.


Chiến tranh Việt Nam ngay cả khi đang diễn ra cũng như khi đã kết thúc luôn tác động nhiều chiều và sâu rộng đến tình hình không chỉ của các bên tham chiến, mà cả của khu vực cũng như thế giới. Tính thời sự, ảnh hưởng của cuộc chiến, vì thế, càng trở nên nóng bỏng và thu hút sự chú ý của dư luận quốc tế cũng như của giới nghiên cứu. Suốt toàn bộ thời gian diễn ra cuộc chiến và cả khoảng thời gian 40 năm sau khi cuộc chiến kết thúc, chiến tranh Việt Nam đã làm tổn không ít giấy mực làm hao tổn và lấy đi rất nhiều tâm sức của các nhà khoa học. Cuộc chiến ấy được nghiên cứu rộng rãi cả ở trong nước lẫn ở nước ngoài, được mổ xẻ, soi chiếu dưới nhiều góc độ khác nhau, gây ra những cuộc tranh luận khoa học với rất nhiều chiều kích. Tất yếu, với ngần ấy nỗ lực, kết quả nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam trên mọi chiều cạnh của nó là hết sức to lớn, nhận thức, tri thức lịch sử về cuộc chiến ngày càng đẩy lên.


Tuy nhiên, cũng như bao sự kiện lịch sử quan trọng khác, hiểu biết, nhận thức thu nhận được bao nhiêu đi chăng nữa cũng không bao giờ là đầy đủ, các giới hạn được đặt ra rồi lại bị phá vỡ. Để mô tả, phục dựng, đánh giá, nhìn nhận thấu tỏ hơn, chân thực, đầy đủ hơn nhiều vấn đề, sự kiện của chiến tranh Việt Nam, vẫn hết sức cần thiết đối với những công trình nghiên cứu mới. Trên quan điểm ấy và với tâm thế đó, chúng tôi đã nghiêm túc, cẩn trọng trong nghiên cứu và cho ra đời công trình: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam (1954-1975), hy vọng đóng góp vào nỗ lực chung của giới khoa học trong nghiên cứu về cuộc chiến mười ngàn ngày - cuộc chiến dài nhất trong lịch sử nước Mỹ.


Để làm rõ con đường, cách thức kết thúc chiến tranh từ phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngoài Lời nói đầu, Kết luận, chúng tôi bố cục cuốn sách thành bốn chương; trong đó, chương I dành để viết về nguyên nhân bùng nổ chiến tranh và tình hình, đường lối tiến hành chiến tranh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; chương II có nội dung trọn vẹn về quá trình xây dựng và bảo vệ hậu phương miền Bắc của Việt Nam; chương III làm rõ những nét lớn, những hoạt động quan trọng của miền Nam thành đồng trên tuyến đầu gian khó; chương IV làm sáng tỏ quá trình Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tranh thủ và kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại - đó đồng thời cũng là những yếu tố cốt lõi làm nên chiến thắng quyết định dẫn đến kết cục cuối cùng của cuộc chiến.


Với tinh thần thực sự cầu thị, chúng tôi mong được bạn đọc đón nhận và thảo luận, góp ý, phê bình. Chúng tôi luôn biết ơn và trân trọng mọi nhận xét, đóng góp từ phía độc giả để cuốn sách được hoàn thiện hơn trong lần xuất bản sau!

HỒ KHANG
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #1 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2025, 08:44:34 pm »

Chương I
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
BƯỚC VÀO CUỘC ĐỤNG ĐẦU LỊCH SỬ


I-HỘI NGHỊ GENEVA (GIƠNEVƠ) NĂM 1954 VÀ SỰ KHỞI PHÁT CỦA CHIẾN TRANH VIỆT NAM

1- Hội nghị Geneva năm 1954 và vĩ tuyến 17

Cho đến mùa Xuân năm 1953, cục diện chiến tranh ở Việt Nam và Đông Dương chuyển biến theo chiều hướng bất lợi cho nước Pháp. Những thất bại liên tiếp trên chiến trường đẩy Pháp vào tình thế khó khăn, ngày càng lệ thuộc vào Mỹ. Cuộc chiến giằng co với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã làm bộc lộ rõ thêm những yếu điểm trong hoạt động quân sự của quân đội dày dạn kinh nghiệm chinh chiến và khiến ngân khố nước Pháp thâm hụt trầm trọng1 (Chiến tranh đã tiêu tốn của nước Pháp khoảng 5.000 tỉ franc cũ, chưa kể 477 tỉ viện trợ của Mỹ đổ vào Đông Dương trước tháng 7-1954 (Nguồn: Bernard B. Fall, Hell in a very small place: The siege of Dien Bien Phu, Da Capo Press, 2002, p.3)).


Nhằm cứu vãn tình hình, hy vọng tìm "một lối thoát danh dự", Tổng Chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương một lần nữa được thay thế - R. Salan (R. Xalăng) kế nhiệm J. L. de Tassigny (J. L. D. Tátxinhi) bị cách chức, thay bằng Tướng H. Navarre (H. Nava) - viên tướng sáng giá của nước Pháp.


Một thời gian ngắn sau khi sang Đông Dương, Tướng H Navarre đã cho ra đời kế hoạch H. Navarre - một kế hoạch được Mỹ đánh giá cao, tin tưởng rằng kế hoạch đó nếu không phải là một thắng lợi hoàn toàn, thì ít nhất cũng thu được kết quả nhất định về quân sự. Một trong những mục tiêu quan trọng của kế hoạch H. Navarre là nhằm "chứng minh cho Việt Minh thấy rằng nếu như chúng ta (tức phía Pháp - TG) không thắng trong cuộc chiến tranh thì họ cũng không có hy vọng gì thắng ta bằng quân sự và do đó cần phải thương lượng"1 (Jean Pouget, Tướng Navarre với trận Điện Biên Phủ, Nxb Công an nhân dân, 2004, tr.61).


Để thực hiện kế hoạch chiến lược quan trọng này, Pháp tăng thêm viện binh, phát triển quân đội, xây dựng khối cơ động chiến lược. Sau cuộc tiến quân của bộ đội chủ lực Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lên Tây Bắc, cái tên "Điện Biên Phủ" bắt đầu được nhắc đến thường xuyên hơn trong các cuộc thảo luận của các tướng lĩnh quân đội Pháp và cuối cùng nó được chọn lựa để trở thành "Verdun" (Vécđon) của Đông Nam Á, được xây dựng thành pháo đài bất khả xâm phạm. Điện Biên Phủ trở thành nơi đọ sức, cuộc chạy đua nước rút quyết liệt, mà mỗi bên đều gửi gắm vào đó những mục tiêu quyết tử, có giá trị quyết định trong ván cờ cuối cùng. Đặc biệt, cuộc quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ lại càng ý nghĩa, vai trò to lớn, quan trọng hơn khi ngày 25-1-1954, Hội nghị cấp Bộ trưởng Ngoại giao giữa Liên Xô, Anh, Pháp, Mỹ khai mạc tại Berlin (Béclin) ra thông báo sẽ triệu tập Hội nghị Geneva bàn giải pháp cho vấn đề Triều Tiên và lập lại hoà bình ở Đông Dương.


Trước khi khai mạc Hội nghị Geneva, liên quan đến Đông Dương và Việt Nam, hai nước lớn vốn được coi là đồng minh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Trung Quốc và Liên Xô đã có phương án - đó là án "vạch ranh giới đình chiến ở Đông Dương giống như Triều Tiên"1 (Dương Khuê Tùng, Nghiên cứu về lịch sử thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, tập 2, Nxb Nhân dân Giang Tây, 2008, bản dịch Quốc Thanh), lấy "vĩ tuyến 16 độ Bắc như là một trong những phương án để xem xét"2 (Qian Jiang, Zhou Enlai and the Geneva Conference, Beijing: History of CPC Press, 2005, p.38), cả Moscow (Mátxcơva) và Bắc Kinh đều cố gắng thuyết phục Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chấp thuận phương án này. Nhận xét về đường ranh giới được đặt tại "vĩ độ 16", Đại sứ Trung Quốc tại Liên Xô Trương Văn Thiên cho rằng, đó là lựa chọn "có lợi cho Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh nên và cần phải đồng ý khi đề nghị này được nêu lên chính thức"3 (ABЛ РФ, Ф, 06, on, 13a, Н.25, Л.7, Л.43). Nhằm bắn tín hiệu cho "phía bên kia", đầu tháng 3-1954, trao đổi với nhân viên của Đại sứ quán Mỹ ở London (Luân Đôn) và nhân viên Bộ Ngoại giao Anh (G. Holerom - Hôlêrôm), hai nhà ngoại giao Liên Xô (Rodionov - Rôđiônôp, Belokhvostikov - Bêlôkhơvôxtikốp) đã "vô tình" đề cập đến quan điểm giải quyết vấn đề Việt Nam của Liên Xô theo mô thức Triều Tiên và nhắc đến vĩ tuyến 164 (И. В. Гайдук, Соьемский иа Жеиеьской коифеpem no Ииоокumano, allconspirology.org). Có vẻ như hình mẫu cho đình chiến Đông Dương đã được lựa chọn và mọi chuyện đã được quyết định, ý kiến, nguyện vọng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ còn là hình thức.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #2 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2025, 08:46:47 pm »

Thực hiện "vai trò bảo vệ thế giới" và "sứ mệnh ngăn chặn làn sóng đỏ", Hoa Kỳ can thiệp ngày càng sâu vào chiến tranh Đông Dương. Song dù đã đổ lượng vật chất to lớn1 (Theo tính toán của Pháp, viện trợ Mỹ đã chiếm gần 80% chiến phí của Pháp, tổng cộng khoảng 1.700 triệu USD. Trong tổng số 1.700 triệu USD Mỹ viện trợ đó, tuyệt đại bộ phận là vũ khí và dụng cụ chiến tranh. Theo "Tài liệu mật của Lầu Năm Góc", tính đến ngày 21-1-1954, Mỹ đã viện trợ cho Pháp 1.400 xe tăng và xe bọc thép, 619 máy bay, 390 tàu đổ bộ, 16.000 ô tô, 175.000 súng trường và súng máy, 2.555 triệu viên đạn, trong đó có 15 triệu viên đại bác), yểm trợ người Pháp "ngăn chặn họa cộng sản", nhưng tình hình diễn biến không như trông đợi của Mỹ. Pháp không thể dùng biện pháp quân sự để tiêu diệt Việt Minh, tình hình Đông Dương đang xấu đi, "cộng sản chiếm vị trí không chế trong phong trào dân tộc"2 (U. S. Policy toward Southeast Asia (NSC 51), dated 1 July 1949, Harry S. Truman Library, Independence, Missouri, 137). Tuy không hài lòng về hiệu quả chính sách của Pháp, song Mỹ vẫn hy vọng về một chiến thắng quân sự của Pháp trước Việt Minh. Bằng nhiều biện pháp, Mỹ củng cố quyết tâm tiếp tục chiến đấu của Pháp; đồng thời, quyết liệt phản đối các cuộc đàm phán ở Đông Dương. Nghiêng về phương án can thiệp và trợ giúp quân sự cho Pháp, song Mỹ phụ thuộc vào việc thuyết phục được Anh phối hợp nhất trí cùng với Mỹ, chỉ có như vậy Quốc hội Mỹ mới có thể phê chuẩn3 (Qian Jiang, Zhou Enlai and the Geneva Conference, lbld, p.57). Song, nhận thấy đe dọa quân sự không giúp gì cho việc giải quyết vấn đề Đông Dương, trái lại có thể dẫn đến cuộc xung đột lớn hơn, Anh kiên quyết phản đối. Trong tình thế đó, quan điểm của Mỹ là nếu đàm phán, Pháp phải tiến hành đàm phán trên thế mạnh, không vội chấp nhận ngừng bắn. Mỹ phản đối phương án phân vùng và từ giữa tháng 6-1954, tích cực vận động cho một Hiệp ước phòng thủ Đông Nam Á. Sau khi chính phủ Laniel (Lanien) sụp đổ vào ngày 12-6-1954, Thủ tướng mới của Pháp Pierre Mendès France (P. M. Phơrăng) tuyên bố sẽ giải quyết vấn đề Đông Dương trong vòng bốn tuần lễ, Mỹ mới bắt đầu cân nhắc và thay đối lập trường, hướng tới chấp nhận phương án đàm phán của Pháp, đồng ý với giải pháp chia cắt Việt Nam. Đây là lần đầu tiên kể từ cuốỉ năm 1953, Mỹ và Pháp có chung quan điểm về các chính sách đối với Đông Dương. Nhìn chung, lập trường tham gia Hội nghị của Mỹ là bảo đảm ảnh hưởng đối với các quyết định, song không ràng buộc, "là một quốc gia quan tâm, nhưng không phải là một bên tham chiến, cũng không phải là người tham gia chính trong cuộc đàm phán"1 (The Pentagon Papers, Gravel Edition, Volume 1, Document 47, Memorandum from Secretary of State Dulles on Instruction to the American Delegation at Geneva, 12 May 1954, p. 507-508). Đó là cách Mỹ né tránh để không phải chịu trách nhiệm và không bị chế định bởi kết quả của Hội nghị, chuẩn bị trước cho khả năng can thiệp vào Đông Dương khi cần thiết, nhằm ngăn chặn khối cộng sản2 (The Pentagon Papers, Gravel Edition, Volume 1, Chapter 3).


Ngày 26-4-1954, Hội nghị Geneva chính thức khai mạc với sự tham gia của năm nước và bốn bên, nhằm giải quyết cuộc chiến tranh trên Triều Tiên và thảo luận về khả năng khôi phục hòa bình ở Đông Dương. Các cuộc thảo luận về Đông Dương bắt đầu từ ngày 8-5-1954 - một ngày sau khi Quân đội nhân dân Việt Nam chiếm Sở chỉ huy cứ điểm Điện Biên Phủ, Tướng C. de Castries (C. Đờ Cát) và toàn bộ Bộ Tham mưu bị bắt sống. Wilfred Burchett (W. Bớtchét) bình luận: "Người đồng chí thân thiết của ông Phạm Văn Đồng là ông Võ Nguyên Giáp đã trao lại cho ông một vũ khí hiệu nghiệm nhất, mà không phải bất kỳ nhà thương lượng nào cũng dám nghĩ đến khi bắt đầu một hội nghị như vậy - Điện Biên Phủ thắng lợi hoàn toàn một ngày trước khi Hội nghị khai mạc. Nhờ thời điểm tuyệt diệu của ông Giáp, kế hoạch Dulles (Đalét) nhằm quốc tế hoá cuộc chiến tranh đã thất bại"1 (George Burchett and Nick Shimmin, Memoirs of a Rebel Journalist: The Autobiography of Wilfred Burchett, University of New South Wales Press, Sydney, New South Wales, 2005, p.190). N. Khrushchev (N.Khơrútxốp) nhớ lại: "Một điều kỳ diệu đã xảy ra. Khi các phái đoàn vừa đặt chân đến Geneva, những người kháng chiến Việt Nam đã giành được thắng lợi to lớn ở Điện Biên Phủ [tháng 5-1954]"2 (Nikita Sergei Khrushchev, Memoirs of Nikita Khrushchev, volume 3 statesman (1953-1954), Pennsylvania State University Press, 2006, p.501. Khrushchev viết tiếp: Chúng tôi đã chỉ thị cho phái đoàn của mình tại Geneva đưa yêu cầu về đường giới tuyến dịch chuyển xuống phía Nam, đến vĩ tuyến 15; tuy nhiên, chúng tôi cũng khuyến cáo rằng đó là vị trí [vĩ tuyến 15 - TG] đặt ra để thương lượng và bằng cách đó, những thành quả đạt được của những người cộng sản Việt Nam được bảo đảm. Hiệp định đã được ký kết vì lý do đó"). Thực vậy, Điện Biên Phủ thất thủ đã khiến nội tình nước Pháp thêm chia rẽ sâu sắc, Pháp tìm cách nhanh chóng rút lui khỏi Đông Dương, nhiệm vụ cấp bách nhất của phái đoàn Pháp tại Hội nghị Geneva là đạt được ngừng bắn càng sớm càng tốt.


Đến Geneva, đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mang theo giải pháp tám điểm: 1- Pháp công nhận độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Cambodia (Campuchia); 2- Ký một hiệp định về việc rút quân đội nước ngoài ra khỏi ba nước (Đông Dương - TG) trong thời hạn do các bên tham chiến ấn định. Trước khi rút quân, đạt thỏa thuận về nơi đóng quân của lực lượng Pháp hay Việt Nam trong một số khu vực hạn chế; 3- Tổ chức tổng tuyển cử tự do trong ba nước (Đông Dương - TG) nhằm thành lập chính phủ duy nhất cho mỗi nước; 4- Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố ý định xem xét việc tự nguyện gia nhập Liên hiệp Pháp và những điều kiện của việc gia nhập đó; 5- Ba nước thừa nhận các quyền lợi kinh tế, văn hóa của Pháp tại mỗi nước. Sau khi chính phủ duy nhất được thành lập, các quan hệ kinh tế và văn hóa được giải quyết theo đúng các nguyên tắc bình đẳng và củng cố; 6- Hai bên cam kết không truy tố những người hợp tác với đối phương trong thời gian chiến tranh; 7- Trao đổi tù binh và dân thường bị bắt trong chiến tranh; 8- Các biện pháp nói trên sẽ được thực hiện sau khi đình chỉ chiến sự. 


Tóm lại, toàn bộ nội dung các giải pháp phản ánh về thiện chí hòa bình của Hà Nội, mong muốn toàn vẹn lãnh thổ và độc lập; tự do cũng như mối quan hệ thân thiện với Pháp.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #3 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2025, 08:49:39 pm »

Trong thời gian diễn ra Hội nghị, các bên trình bày lập trường về cách giải quyết vấn đề Việt Nam và Đông Dương, nhưng do lập trường giữa các bên tham gia Hội nghị quá khác xa nhau, nên các cuộc đàm phán tiến triển rất chậm chạp. Để thúc đẩy tiến trình đàm phán, các bên tăng cường gặp nhau tay đôi, tay ba trong cuộc thảo luận riêng và các thỏa thuận chủ yếu đạt được trong những phiên họp hẹp. Diễn biến các phiên đàm phán cho thấy, mọi vấn đề về Đông Dương phụ thuộc vào sự sắp đặt và quyết định của các nước lớn. Đến Hội nghị với những yêu cầu phù hợp tương quan lực lượng trên chiến trường, song dưới áp lực của Liên Xô, Trung Quốc, dù cố giữ lập trường cứng rắn, nhưng cuối cùng, các yêu cầu đàm phán buộc phải hạ thấp dần. Mặc dù mong muốn độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, nhưng phân tích tình hình, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hiểu rằng Liên Xô, Trung Quốc không muốn giúp đưa cuộc kháng chiến lên cao hơn. Hơn nữa, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, dù tương quan lực lượng thay đổi tuy có lợi cho Việt Nam, song chưa căn bản, Việt Nam "cần một thời gian để quân đội, đất nước củng cố, xốc lại lực lượng"1 (ABПРФ, Ф, 0445, оп. 1, п. 1, д. 1, л. 3-4). Trong điều kiện thiếu sự giúp đỡ của các nước đồng minh, nếu Mỹ trực tiếp tham chiến, cuộc chiến đấu của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ hết sức bất lợi.


Sau nhiều tranh cãi, thảo luận, thoả thuận và thỏa hiệp, cuối cùng, ngày 20-7-1954, Hiệp định Geneva về Đông Dương được ký kết, gồm những văn kiện chủ yếu sau:

- Ba hiệp định đình chỉ chiến sự tại Việt Nam, Lào và Campuchia.

- Bản Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị.

- Bản Tuyên bố riêng ngày 21 tháng 7 của Mỹ tại Hội nghị Geneva.

- Bản tuyên bố của chính phủ Pháp ngày 21 tháng 7.

- Các công hàm trao đổi giữa Trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng và Thủ tướng Pháp Pierre Mendès France.


Hiệp định đình chỉ chiến sự tại Việt Nam gồm có 6 chương, 47 điều được ký bởi Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Tạ Quang Bửu thay mặt cho Quân đội nhân dân Việt Nam và Thiếu tướng H. Deltei (H. Đentây) thay mặt cho Quân đôi Liên hiệp Pháp ở Đông Dương. Hiệp định đình chỉ chiến sự tại Việt Nam quy định hàng loạt vấn đề như vùng ranh giới tạm thời, khu phi quân sự, thời hạn tối đa để hai bên rút quân, giám sát và kiểm soát thi hành hiệp định1 (Cụ thể như sau: Việt Nam chia làm hai vùng tập trung, giới tuyến quân sự tạm thời được quy định từ phía Đông sang phía Tây, từ cửa sông Bến Hải (Cửa Tùng) và theo dòng sông đó đến làng Bồ Hồ Sừ, biên giới Việt-Lào. Ranh giới khu phi quân sự là những đường hạn định khu phi quân sự ở phía Bắc và phía Nam vĩ tuyến 17, mỗi bên cách vĩ tuyến 17 khoảng 5 km (có hiệu lực từ ngày 14-8-1954). Cuộc ngừng bắn bắt đầu từ 8 giờ sáng ngày 27-7-1954 ở miền Bắc, ngày 1-8-1954 ở miền Trung Việt và ngày 11-8-1954 ở miền Nam Việt Nam. Thời hạn tối đa để hai bên rút quân là 300 ngày kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực. Mỗi bên sẽ tập hợp quân đội của mình và tự tổ chức nền hành chính riêng. Cấm phá hủy trước khi rút lui, không được trả thù hay ngược đãi những người đã hợp tác với phía bên kia. Trong thời gian 300 ngày, dân chúng được tự do di cư từ bên này sang bên kia hoặc ngược lại. Không phát triển thêm quân đội, vũ khí hoặc lập thêm căn cứ quân sự mới. Tù binh và thường dân bị giữ được trả tự do trong thời hạn 30 ngày kể từ khi thực sự ngừng bắn. Giám sát và kiểm soát thi hành Hiệp định sẽ giao cho một Ủy ban Quốc tế. Thời hạn rút quân riêng cho từng khu vực kể từ khi thực sự ngừng bắn như sau: Hà Nội (80 ngày), Hải Dương (100 ngày), Hải Phòng (300 ngày), miền Nam Trung Việt (80 ngày), Đồng Tháp Mười (100 ngày), Cà Mau (200 ngày), đợt cuối cùng ở khu tập kết Trung Việt (300 ngày))...


Ngày 21-7-1954, các phái đoàn họp tiếp và thông qua Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Geneva năm 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương, gồm 13 điều, ghi nhận những nội dung liên quan đến việc chấm dứt chiến sự tại ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia. Bản Tuyên bố cũng đồng thời ghi nhận tuyên bố của chính phủ Pháp về giải pháp khôi phục và củng cố hoà bình tại Việt Nam, Lào và Campuchia cũng như cam kết của chính phủ Pháp về việc sẽ tôn trọng sự tự do, thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Đông Dương1 (The Final Declaration of the Geneva Conference: On Restoring Peace in Indochina, July 21, 1954, The Department of State Bulletin, XXXI, No. 788 (August 2, 1954), p. 164). Đối với Việt Nam, Hiệp định "công nhận mục đích chính của Hiệp định liên quan tới Việt Nam là để giải quyết vấn đề quân sự theo hướng chấm dứt xung đột và đường ranh giới quân sự tạm thời này không thể diễn giải bằng bất cứ cách nào rằng đó là một biên giới phân định về chính trị hay lãnh thổ"2 (The Final Declaration of the Geneva Conference: On Restoring Peace in Indochina, July 21, 1954, The Department of State Bulletin, XXXI, No. 788 (August 2, 1954), p. 164). Hội nghị cũng hy vọng rằng việc thực hiện những điều khoản trình bày trong tuyên bố và trong những hiệp định đình chiến sẽ tạo điều kiện giúp Việt Nam, Lào, Campuchia có được nền độc lập, tự chủ hoàn toàn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #4 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2025, 08:51:26 pm »

Bản tuyên bố cuối cùng không có chữ ký của bất cứ phái đoàn nào tham dự Hội nghị, song Điều 12 của Hiệp định đã nói lên thái độ và cam kết đối với việc thực thi Hiệp định của các bên liên quan (trừ Việt Nam Quốc gia và Mỹ). Về phía Mỹ, cũng trong ngày 21-7-1954, Trưởng phái đoàn Mỹ là Bedell Smith (B. Xmít) đưa ra bản tuyên bố riêng; theo đó, tuy không tham gia vào tuyên bố cuối cùng, song Mỹ cam đoan không đe dọa hay dùng vũ lực để sửa đổi Hiệp định - đồng thời, phản đối mọi hành vi vi phạm Hiệp định. Mỹ khẳng định tôn trọng việc thực hiện thống nhất Việt Nam bằng tổng tuyển cử tự do đặt dưới sự giám sát của Liên Hiệp Quốc. Bản tuyên bố riêng của Mỹ cũng bày tỏ hy vọng rằng, các thỏa thuận đạt được "sẽ cho phép Việt Nam, Lào và Campuchia giành được độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ (...), là cơ sở để các dân tộc Đông Dương có thể tự quyết định vận mệnh và tương lai của mình"1 (The Pentagon Papers, Gravel Edition, Volume 1, Chapter 1, "The Geneva Conference, May - July, 1954", Boston: Beacon Press, 1971).


Như vậy, các bên tham gia Hội nghị Geneva cũng đã đạt được những nhất trí mang tính then chốt, thể hiện sự hòa hoãn và tư tưởng "chung sống hoà bình" giữa các nước lớn trong thương lượng. Đặc biệt, mặc dù mục tiêu của Hội nghị là để giải quyết cuộc xung đột ở Đông Dương, các cường quốc tham gia Hội nghị đã quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề về an ninh châu Âu, về quan hệ song phương, về các lợi ích có được sau Hội nghị Geneva. Để đạt được mục đích khi đến Geneva, các nước này sẵn sàng hy sinh lợi ích của các nước Đông Dương. Đó cũng là một trong những lý do để Hiệp định được thông qua ở Geneva nghiêng về kế hoạch của Pháp hơn là của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Việc Trung Quốc và Liên Xô sắp đặt sẵn với Pháp, Anh một giải pháp về Việt Nam đã làm mất hiệu lực của chiến thắng Điện Biên Phủ. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuy thắng lớn trên chiến trường, song dưới tác động của các yếu tô khách quan, chủ quan đành phải chấp nhận bị chia cắt với ranh giới là vĩ tuyến 17 (thay cho vĩ tuyến 13 yêu cầu ban đầu) và thời hạn hai năm tổng tuyển cử (thay vì sáu tháng như đề nghị), rút hết quân đội khỏi Lào và Campuchia.


Bảo toàn lợi ích riêng, "cả Liên Xô, Trung Quốc đã tiết chế bớt những yêu cầu của Việt Minh và đóng vai trò quan trọng trong việc dàn xếp thỏa hiệp"1 (George C. Herring, America's Longest War: The United States and Vietnam 1950-1975, with Poster (4th Edition), McGraw-Hill Humanities, Social/Sciences/Languages, 2001, p.28), về ranh giới phân vùng, tại Hội nghị Liễu Châu, khi Chu Ân Lai nhắc đến giới tuyến 17, cả Võ Nguyên Giáp và Hồ Chí Minh đều cảm thấy ngỡ ngàng, vì "với so sánh lực lượng trên thực tế chiến trường hiện nay, ta đề ra vĩ tuyến 13 là hợp lý, vĩ tuyến 17 đối với ta là không thể chấp nhận, chí ít cũng phải giành được vĩ tuyến 16"2 (Võ Nguyên Giáp: Tổng tập - Hồi ký: Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử, Nxb QĐND, Hà Nội, 2010, tr.1.114). Sau này, Phạm Văn Đồng nhớ lại: "Chúng tôi có thể giành được nhiều hơn, nhiều hơn nữa. Nhưng tất cả đều đã thay đổi"3 (Wilfred G. Burchett, The China Cambodia Vietnam Triangle, London: Vanguard Books; Zed Press, 1981). Jean Lacouture (J. Lacốttơ) mô tả nỗi "ấm ức" của Trưởng đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa như sau: "Chung quanh một chiếc bàn lớn, ghế xô đẩy ngổn ngang, người ta thấy Eden (Êđen) và P.M.F (Pierre Mendès France - TG), Molotov (Môlôtôp) và Chu Ân Lai đang bao quanh Phạm Văn Đồng. Phạm Văn Đồng nhìn vào bản đồ Đông Dương trước mặt: Lãnh thổ của Việt Nam cộng sản bị đẩy lùi dần từng cây số một về phía Bắc"1 (Jean Lacouture, Philippe Devillers, La Fin d'une guerre: Indochine 1954, Éditions du Seuil, Paris, 1960, p.311). Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã buộc phải chấp nhận một giải pháp tồi tệ hơn so với diễn biến quân sự trên chiến trường, còn Pháp đã đạt được một kết quả khả quan hơn dự kiến, mặc dù tương quan trên bàn đàm phán như Bidault (Biđôn) đã so sánh thì trong ván bài, "Việt Nam Dân chỉ Cộng hòa đã sở hữu những con át chủ bài như K cơ, Át cơ, còn Pháp chỉ có những con bài tẹp nhẹp như Hai nhép, Ba rô"2 (Fredik Logevall, Embers of War, The fall of an Empire and the making of America's Vietnam, Random House Trade Paperbacks, 2012, p.607).


Là kết quả của một cuộc hoà giải không vững chắc, Hiệp định Geneva đã góp phần kết thúc chiến tranh ở Đông Dương, song cũng lại đặt Đông Dương trên bờ vực của một cuộc chiến tranh mới. Hòa bình được tái lập bởi Hiệp định Geneva là một nền hòa bình hết sức mong manh và không vững chắc, nhất là khi bị ám ảnh bởi sự nguy hiểm của chủ nghĩa cộng sản, một trong năm cường quốc tham gia Hội nghị đã bắt đầu các hoạt động chuẩn bị cho sự can thiệp sâu rộng hơn vào Việt Nam.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #5 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2025, 08:55:00 pm »

2- Mỹ can thiệp ngày càng sâu vào Đông Dương và sự khởi phát của chiến tranh Việt Nam

Sự quan tâm thực sự của Hoa Kỳ đối với châu Á bắt đầu vào cuối năm 1941, sau khi người Nhật tấn công Trân Châu Cảng và Washington (Oasinhtơn) phản ứng bằng cách tuyên bố chiến tranh với Nhật Bản. Năm 1944, Office of Strategic Services (OSS) của Mỹ, tiền thân của Cục Tình báo Trung ương (CIA), đã hoạt động ở miền Nam Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam. OSS đã tìm kiếm và thiết lập quan hệ với Hồ Chí Minh, yêu cầu hỗ trợ bảo vệ, hồi hương phi công Mỹ bị bắn rơi trên lãnh thổ Việt Nam đổi lại bằng việc Mỹ sẽ cung cấp trang bị, vũ khí cho Việt Minh. Đây là mối quan hệ được sắp đặt trên liên minh lợi ích trong thời gian chiến tranh chứ hoàn toàn không phải trên sự tương đồng về quan điểm chính trị, mặc dù Hồ Chí Minh nuôi dưỡng một số hy vọng rằng hợp tác với Hoa Kỳ có thể mang lại sự ủng hộ của Washington đối với vấn đề độc lập của Việt Nam sau chiến tranh.


Từ năm 1945, sự tham gia của Mỹ ở châu Á, trong đó có Đông Dương và Việt Nam được định hướng và định hình bởi cuộc Chiến tranh lạnh và chính sách đối ngoại của Mỹ phần lớn được dẫn dắt bằng học thuyết Truman - Tờruman (1947)1 (Học thuyết Truman là một chính sách của chính quyền Mỹ dưới thời Tổng thống H. S. Truman được thông qua vào tháng 3 năm 1947 với mục đích hỗ trợ Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ bằng viện trợ quân sự, kinh tế nhằm ngăn hai quốc gia này rơi vào vòng kiểm soát của các lực lượng cộng sản. Học thuyết này chính thức đánh dấu sự chuyển hướng chính sách của Mỹ từ hòa hoãn sang ngăn chặn đối với Liên Xô, trở thành một nền tảng quan trọng của chính sách đối ngoại Mỹ thời kỳ Chiến tranh lạnh; đồng thời, tạo ra những tiền lệ cho các chương trình viện trợ kinh tế, quân sự của Mỹ đối với các thể chế chính trị chống cộng sản ở khắp nơi trên thế giới. Học thuyết Truman nhận được sự hoan nghênh rộng rãi của công luận Mỹ, vì nó thể hiện vai trò lãnh đạo của nước Mỹ trong việc ủng hộ tự do và dân chủ trên thế giới. Học thuyết trở thành yếu tố trung tâm đối với việc hình thành thế đối đầu phe phái và ý thức hệ thời kỳ Chiến tranh lạnh, thúc đẩy một chiến dịch lớn ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới). Chính quyền Mỹ cho rằng, những tư tưởng, quan điểm của học thuyết Truman đặc biệt phù hợp với tình hình và diễn biến các sự kiện chính trị ở châu Á, nơi chính phủ nhiều nước không đủ mạnh để ngăn chặn sự xâm nhập của chủ nghĩa cộng sản và các lực lượng cộng sản. Các nhà hoạch định chính sách Mỹ tin rằng sau khi lây lan từ Trung Quốc đến Bắc Triều Tiên, các lực lượng cộng sản sẽ tiếp tục chuyển động về phía Nam tới các quốc gia như Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar (Miến Điện), Malaysia (Malaixia) và Indonesia (Inđônêxia). Theo quan điểm của Washington, nếu như cộng sản thành công ở những quốc gia nói trên thì đó thực sự là một hiểm họa đối với thế giới tự do - cộng sản sẽ thống lĩnh hơn một phần tư thế giới, từ Đông Đức đến bên kia bờ Thái Bình Dương.


Từ năm 1947, Hoa Kỳ quyết tâm ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản ở châu Á, ủng hộ sự trở lại Việt Nam của người Pháp, đẩy mạnh hỗ trợ Pháp trong cuộc chiến tranh Pháp - Việt. Ngày 13-5-1947, gửi điện cho Đại sứ Mỹ ở Paris (Pari), Bộ Ngoại giao Mỹ bày tỏ nỗi lo lắng về việc Việt Nam chính là tâm điểm của phong trào chống phương Tây ở châu Á, làm lợi cho phe cộng sản trên thế giới. Khẳng định quan điểm ủng hộ Pháp trở lại Đông Dương, Bộ Ngoại giao Mỹ nhấn mạnh: "Việc nước Pháp và Liên hiệp Pháp gắn kết với nhau không chỉ có lợi cho những người liên quan mà còn có lợi cho Mỹ" và "người Việt Nam, trong một thời gian nhất định, vẫn cần sự hỗ trợ về trang bị và kỹ thuật của người Pháp"1 (Department of State, Foregin relations of the United States, 1947, The Far East Vol, VI, United States Government Printing office, Washington, 1972, p.96, 181, 132-134). Lo ngại về một Việt Nam cộng sản và độc tài, mùa Hè năm 1947, Mỹ quyết định không thúc đẩy Pháp thương lượng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa2 (Department of State, Foregin relations of the United States, 1947, The Far East Vol, VI, United States Government Printing office, Washington, 1972, p.96, 181, 132-134) và cuối năm 1947, nước Mỹ đã tài trợ 160 triệu USD cho Pháp tiến hành chiến tranh; đồng thời, làm ngơ khi Paris chuyển một số quỹ của Kế hoạch Marshall (Mácsan) sang phục vụ chiến tranh Đông Dương. Trong vòng ba tháng, từ tháng 3 đến tháng 6-1950, Washington quyết định viện trợ cho Pháp 54,5 triệu USD; trong đó có 31 triệu USD viện trợ quân sự1 (William J. Duiker, US containment policy and the conflict in Indochina, Stanford University Press, California, 1994, p.96, 76). Tháng 11-1952, Hoa Kỳ đã gửi 200 tàu chất đầy quân dụng, 222 phi cơ chiến đấu, 225 chiến hạm hải quân, 1.300 xe tải, trả 1/3 chi phí cho cuộc chiến của người Pháp ở Việt Nam2 (Avro Manhattan, Vietnam why did we go? The shocking Story of the Catholic "Church's" Role in Starting the Vietnam War, Chick Pub, 1984, p.16).


Ủng hộ việc thành lập các nhà nước phi cộng sản ở châu Á, mùa Thu cùng năm, Nhà Trắng cử cựu Đại sứ ở Pháp W. Bullit đến Hồng Kông tiếp xúc với Bảo Đại để chuẩn bị cho việc lập một chính phủ bản xứ không cộng sản3 (Lưu Văn Lợi, Nguyễn Hồng Thạch, Pháp tái chiếm Đông Dương và Chiến tranh lạnh, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2002, tr.1.981). Ngày 21-6-1949, sau khi Tổng thống Pháp ký thỏa ước Elide (Êlidê) với Bảo Đại (8-3-1949) thừa nhận Việt Nam độc lập, thống nhất trong Liên hiệp Pháp, Bộ Ngoại giao Mỹ tuyên bố: "Sự kiến lập một nước Việt Nam độc lập thống nhất là một bước phát triển đáng hoan nghênh giúp đẩy nhanh việc lập lại hòa bình ở Việt Nam và tạo cơ sở cho việc dần hiện thực hóa những nguyện vọng chính đáng của người Việt Nam"4 (Department of State, Foregin relations of the United States, 1947, The Far East Vol, VI, United States Government Printing office, Washington, 1972, p.96, 181, 132-134). Tháng 2-1950, Washington công nhận chính quyền Bảo Đại và chỉ một tháng sau đó (3-1950), hai chiến hạm của Mỹ đã đến Sài Gòn để ủng hộ Bảo Đại; đồng thời, Hoa Kỳ đồng ý để Pháp lo liệu chuyện Việt Nam trong khi Mỹ bận tham chiến ở Triều Tiên5 (Avro Manhattan, Vietnam why did we go? The shocking Story of the Catholic "Church's" Role in Starting the Vietnam War, Chick Pub, 1984, p.16).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #6 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2025, 08:56:44 pm »

Tháng 12-1950, Mỹ và Pháp cùng các chính phủ "quốc gia" Việt Nam, Campuchia, Lào ký kết bản "Hiệp định phòng thủ chung Đông Dương"; theo đó, Mỹ cam kết sẽ viện trợ quân sự cho các nước nói trên để đối phó với lực lượng cộng sản tại các nước này. Tháng 9 và tháng 12-1951, Mỹ ký với chính phủ Bảo Đại bản "Hiệp ước hợp tác kinh tế Việt - Mỹ" và "Hiệp ước an ninh chung". Bên cạnh đó, càng ngày, viện trợ của Mỹ cho Pháp để tiến hành chiến tranh càng tăng đáng kể: Nếu như năm 1951, viện trợ quân sự Mỹ cho Pháp đã tăng gấp ba lần so với năm 1947, đạt 450 triệu USD, thì năm 1953 đã lên đến 785 triệu USD1 (US involvement in Vietnam, alphahistory.com). Quân đội Pháp tại Việt Nam sử dụng tàu và máy bay được cung cấp bởi quân đội Mỹ; CIA tiến hành các hoạt động bí mật hỗ trợ quân đội Pháp thực hiện các chiến dịch quân sự tại Việt Nam.


Sự bùng nổ của chiến tranh Triều Tiên cũng như diễn tiến của toàn bộ cuộc chiến càng củng cố thêm nhận thức của Mỹ về sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản dưới ảnh hưởng của Trung Quốc và Liên Xô. Cuộc chiến tranh của người Pháp chống Việt Minh được coi là một yếu tố rất quan trọng trong việc ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở khu vực cũng như toàn cầu. Tổng thống Mỹ H. Truman nhận xét về cuộc chiến này như sau: "Không còn nghi ngờ gì nữa, các cuộc tấn công vào Nam Triều Tiên cho thấy rõ hơn bao giờ hết ngoài việc sử dụng hình thức lật đổ để chinh phục các quốc gia độc lập, chủ nghĩa cộng sản còn sử dụng cuộc xâm lược vũ trang và chiến tranh"2 (Martin J. Medhurst and H. W. Brands, Critical Reflections on the Cold War: Linking Rhetoric and History, Texas A&M University Press; 1st edition (August 1, 2000), p.31). Người Mỹ nhìn nhận cả hai cuộc chiến tranh (chiến tranh Triều Tiên và chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất) là những cuộc có sự thao túng, can dự của Trung Quốc trong một nỗ lực tăng sức mạnh, mở rộng phạm vi của chủ nghĩa cộng sản.


Bước chân vào Nhà Trắng năm 1953, D. Eisenhower (D. Aixenhao) có chung quan điểm với người tiền nhiệm H. Truman về nhiều vấn đề liên quan đến Đông Dương cũng như Việt Nam. Ngoại trưởng John Foster Dulles nhận định rằng, trong trường hợp tất cả các khu vực Đông Nam Á thuộc cộng sản, một sự liên kết với chủ nghĩa cộng sản ở Ấn Độ và trong dài hạn với Trung Đông sẽ gâỵ ra những nguy hiểm cho sự ổn định, an ninh của châu Âu1 (Department of State Bulletin (Washington D.C.), May 17, 1954, P. 744). John Foster Dulles khẳng định: "Sự kiểm soát của cộng sản đối với Đông Nam Á và Indonesia sẽ đe dọa vị trí của Mỹ ở Thái Bình Dương và chuỗi đảo ngoài khơi, làm tổn hại nghiêm trọng đến lợi ích an ninh cơ bản của Mỹ ở vùng Viễn Đông. Những mất mát của khu vực Đông Nam Á sẽ gây những hậu quả kinh tế nghiêm trọng cho nhiều quốc gia trong thế giới tự do và ngược lại sẽ thêm nguồn lực đáng kể cho khối cộng sản do Liên Xô đứng đầu. Đông Nam Á, đặc biệt là Malaysia và Indonesia có nguồn cao su tự nhiên, thiếc, dầu mỏ và các hàng hóa chiến lược quan trọng khác. Đánh mất khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là Malaysia và Indonesia có thể dẫn đến những áp lực kinh tế, chính trị đối với Nhật Bản và điều này sẽ tạo ra những khó khăn to lớn trong việc ngăn chặn sự lây lan của chủ nghĩa cộng sản đến Nhật Bản"2 (Department of State Bulletin (Washington D.C.), May 17, 1954, P. 744).


Lo sợ sự lây lan chủ nghĩa cộng sản ở Đông Dương thông qua phong trào do Hồ Chí Minh lãnh đạo với "kẻ đứng sau" Trung Quốc, D. Eisenhower kết luận sự sụp đổ của Đông Dương sẽ để lại hậu quả chính trị, kinh tế và chiến lược tai hại đối với Hoa Kỳ3 (George C. Herring, America's Longest War: The United States and Vietnam, 1950-1975, Random House, Inc (2nd edition), New York, 1986, p.25.Cool. Nhận thức rằng việc hỗ trợ người Pháp tiến hành chiến tranh hiệu quả ở Đông Dương sẽ làm suy yếu sức mạnh của Trung Quốc cộng sản tại khu vực cũng như trên thế giới, Hoa Kỳ tăng cường viện trợ quân sự cho Pháp chiến đấu với "bóng ma" của chủ nghĩa cộng sản: Từ năm 1950 đến năm 1954, Mỹ đã chuyển cho Pháp hơn 400 nghìn tấn vật liệu chiến tranh, 150 nghìn vũ khí, 340 phi cơ và 350 tàu chiến1 (Avro Manhattan, Vietnam why did we go? The shocking Story of the Catholic "Church's" Role in Starting the Vietnam War, Ibid, p.51). Có thể thấy rằng, mặc dù không mấy thiện cảm và luôn phản đối chủ nghĩa thực dân, song đối với nước Mỹ, thà nhìn thấy chủ nghĩa thực dân ở Đông Dương, còn hơn là thấy ở đó chủ nghĩa cộng sản.


Mặc dù được các nước đồng minh tăng cường viện trợ, sự kiểm soát của Pháp đối với Đông Dương ngày càng thu hẹp: Cuối năm 1950, Pháp mất quyền kiểm soát biên giới Đông Bắc Việt Nam; đầu năm 1952, không có khả năng ngăn cản quân đội của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hoạt động ở các vùng trung du, đồng bằng, vùng núi Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam; mùa Xuân năm 1953, Pháp mất thêm 4.000km2 đất đai ở Thượng Lào... Bối cảnh đó đòi hỏi nước Pháp phải nhanh chóng tìm ra một giải pháp cho cuộc xung đột - một giải pháp như Bernard B. Fall (Bécna B. Phôn) nhận xét: "Nếu không giành được chiến thắng thì cũng tạo ra một tình thế cho phép quân đội quốc gia các nước liên kết Việt Nam, Cao Miên, Lào thanh toán được chiến tranh du kích, một khi quân đội chính quy Pháp đã tiêu diệt được đội quân chủ lực của Việt Minh sau một loạt những trận giao chiến lớn"2 (Bernard B. Fall, Hell in a very small place: The siege of Dien Bien Phu, J.B. Lippincott (2nd edition), 1967, p.3). Và như đã nói ở trên, H. Navarre và Điện Biên Phủ chính là điểm mấu chốt trong toàn bộ giải pháp đó; tuy nhiên, bất chấp mọi nỗ lực của quân đội Pháp cũng như sự hỗ trợ ngày càng tăng của người Mỹ, Điện Biên Phủ đã thất thủ (7-1954). Đại bại ở Điện Biên Phủ đã làm tiêu tan nốt hy vọng đàm phán trên thế mạnh của Pháp; đồng thời, đặt dấu chấm hết sự có mặt của người Pháp ở Đông Dương cũng như Việt Nam. Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Geneva 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương (4-1954) ghi nhận cam kết sẵn sàng rút quân khỏi lãnh thổ Việt Nam, Lào và Campuchia của chính phủ Pháp cũng như sự tôn trọng chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Đông Dương của mỗi thành viên tham dự Hội nghị Geneva1 (The Final Declaration of the Geneva Conference: On Restoring Peace in Indochina, July 21, 1954, Ibid, p. 164).


Theo cam kết tại Hội nghị, ngày 28-6-1954, người Pháp thực hiện cuộc hành binh cuối cùng ở Đông Dương - cuộc hành binh rút khỏi miền Bắc. Không công nhận kết quả Hiệp định Geneva và thấy trước kết quả sẽ thiên về phe Cộng sản nếu tổng tuyển cử được thi hành, Mỹ bắt đầu các hoạt động tại Việt Nam, chuẩn bị cho sự can thiệp sâu rộng hơn. Năm 1954, dưới sự chỉ huy của Edward Lansdale (người làm việc cho CIA, từng làm cố vấn cho Pháp tại Việt Nam từ năm 1953), đội bán quân sự Mỹ đã chọn và gửi người Việt tới các căn cứ quân sự Mỹ ở Thái Bình Dương huấn luyện; huấn luyện các lực lượng vũ trang của Quốc gia Việt Nam (sau là Việt Nam Cộng hòa); xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ quân sự tại Philippines; bí mật đưa một lượng lớn vũ khí và thiết bị quân sự vào Việt Nam; phát triển các kế hoạch "bình định Việt Minh và các vùng chống đối". Đặc biệt, một trong những kế hoạch quan trọng của Mỹ là tiến hành các hoạt động tuyên truyền tâm lý chiến để khuyến khích dân chúng miền Bắc di cư vào Nam. Được sự giúp đỡ của Mỹ, Ban Công giáo di cư Trung ương của chính quyền Ngô Đình Diệm do Lê Hữu Từ đứng đầu được thành lập. Cuộc di chuyển lớn của người Công giáo đã bắt đầu ngay khi những tin tức của Hiệp định Geneva và những điều khoản chuyển quân của nó được công bố. Khi Hội nghị Geneva kết thúc, đã có 25.000 người Công giáo tị nạn tại Hà Nội, 15.000 ở Hải Phòng và 5.000 ở Hải Dương. Bên cạnh đó, Tổng thống D. Eisenhower chỉ đạo phải dựng lên một liên minh để kiềm chế sự xâm lấn của chủ nghĩa cộng sản vào các lãnh thổ tự do thuộc Việt Nam, Lào, Campuchia và Đông Nam Á. Ngày 8-9-1954, liên minh quân sự có tên gọi Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (Southeast Asia Treaty Organization - SEATO) ra đời, cam kết sẽ "hành động để chống lại các mối nguy hiểm chung" trong trường hợp xảy ra xâm lược chống lại bất kỳ quốc gia tham gia hiệp ước nào. Một nghị định thư riêng biệt gắn với Hiệp ước coi Lào, Campuchia, và "các lãnh thổ tự do thuộc thẩm quyền của Quốc gia Việt Nam" là các khu vực chịu sự điều chỉnh của Hiệp ước này. Hiệp ước quy định phải tổ chức tham vấn lẫn nhau trong trường hợp xảy ra xâm lược chống lại một bên ký kết hoặc một bên tham gia nghị định thư trước khi bất kỳ hành động phối kết hợp nào được tiến hành.


Như vậy, đi từ bảo trợ đến viện trợ, cuối cùng sự can thiệp và can dự của Mỹ vào Việt Nam ngày càng rõ nét. Sự can thiệp và can dự ấy cũng báo trước khả năng bùng nổ chiến tranh - điều mà Hiệp định Geneva đã cố gắng ngăn chặn song không thể làm được.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #7 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2025, 08:11:58 pm »

II- VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA ĐỐI DIỆN VỚI CHIẾN TRANH
   
1- Tình hình Việt Nam sau tháng 7-1954

Sau khi Hiệp định Geneva ký kết (7-1954), miền Bắc hoàn toàn giải phóng, miền Nam tạm thời thuộc về "phía bên kia", sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên phạm vi cả nước chưa hoàn thành. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bước vào một giai đoạn hết sức đặc biệt: Tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược ở cả hai miền Nam, Bắc hướng vào mục tiêu thống nhất đất nước. Ở miền Bắc, yêu cầu trước mắt là hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi kinh tế, giảm bớt khó khăn, nâng dần mức sống của nhân dân, chuẩn bị điều kiện cho việc cải tạo và phát triển kinh tế, xây dựng miền Bắc thành hậu phương lớn, căn cớ địa vững chắc cho cả nước.


Trước nhiệm vụ to lớn đó, miền Bắc Việt Nam phải đối diện với rất nhiều khó khăn - hậu quả của gần một thế kỷ thuộc địa và hơn chín năm chiến tranh. Nền kinh tế miền Bắc vốn nghèo nàn, lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Nông nghiệp, ngành kinh tế chủ yếu của miền Bắc bị thiệt hại nghiêm trọng: 1.430.000ha đất bị bỏ hoang, tám công trình thủy nông lớn và nhiều công trình thủy nông vừa và nhỏ bị phá hủy. 1/7 ruộng đất bị bỏ hoang, 1/3 ruộng đất không có nước tưới để cấy cày, các công trình thủy lợi đều bị phá hủy, 1/4 số trâu, bò bị bắn giết... Phần lớn ruộng đất chỉ làm một vụ, năng suất rất thấp, kỹ thuật sản xuất thô sơ, thiên tai, mất mùa, hạn hán, lũ lụt lại liên tiếp xảy ra (đầu năm 1955 miền Bắc bị hạn nặng, tháng 9 cùng năm lại xảy ra bão lũ), hàng trăm ngàn gia đình không có nhà ở, nông thôn xơ xác, tiêu điều vì hậu quả của chiến tranh và bão lũ. Hoà bình lập lại, nhưng nạn đói vẫn tiếp tục xảy ra, tháng 9-1954, miền Bắc có nửa triệu người chết đói. Trong khi đó, nền công nghiệp nhỏ, yếu lại bị thiệt hại nặng nề, số nhà máy đã ít ỏi lại đều bị phá hoại, máy móc bị tháo dỡ mang đi, sản xuất bị bế tắc phần lớn các xí nghiệp ngừng hoạt động, nguyên liệu, nhiên liệu thiếu trầm trọng. Tỷ trọng của công nghiệp trong giá trị tổng sản lượng công - nông nghiệp từ 10% năm 1939, tụt xuống còn 1,5% khi miền Bắc được giải phóng. Khi Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp quản miền Bắc, không chỉ có các cơ sở kinh tế hầu như không hoạt động, mà hạ tầng còn hết sức thấp kém, giao thông vận tải, mạch máu của nền kinh tế quốc dân bị phá hủy nặng nề. Đường ô tô bị phá hủy, hư hỏng nặng, hàng nghìn kilômét đường sắt bị tàn phá, 3.500 cây cầu lớn, nhỏ bị đánh sập1 (Vũ Như Khôi (chủ biên), 75 năm Đảng Cộng sản Việt Nam dưới ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (3.2.1930 - 3.2.2005), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2005, tr. 343). Thương nghiệp đình đốn, các hoạt động đầu cơ, nâng giá, lũng đoạn thị trường diễn ra phổ biến. Sản xuất ngưng trệ, lưu thông, phân phối khó khăn, hàng hoá khan hiếm nghiêm trọng, hàng vạn người thất nghiệp. Bên cạnh đó, tình trạng của tiểu - thủ công nghiệp cũng rất sa sút, không mấy sáng sủa, nhất là không có nguyên liệu sản xuất. Nhiều ngành, nghề thủ công truyền thống bị mai một hoặc mất hẳn. Giáo dục, y tế nghèo nàn, lạc hậu, nhiều bệnh dịch như sốt rét, lao phổi... hoành hành phổ biến. Tình hình an ninh, chính trị, trật tự và an toàn xã hội trên các địa phương miền Bắc rất phức tạp, nhiều vấn đề xã hội cả cũ và mới chưa có điều kiện giải quyết, các vấn đề tôn giáo, dân tộc, giai cấp có nhiều nổi cộm... Bên cạnh đó, hệ thống chính quyền chưa được củng cố, kiện toàn, trình độ, năng lực tổ chức, quản lý kinh tế, quản lý xã hội của bộ máy nhà nước thấp kém...


Một trong những khó khăn lớn nhất vào thời điểm bấy giờ của miền Bắc Việt Nam liên quan đến cuộc di cư lịch sử của giáo dân nhiều giáo phận. Ngay từ khi vấn đề chấm dứt chiến tranh Việt Nam và Đông Dương còn đang được bàn thảo trên bàn đàm phán Hội nghị Geneva, Washington đã trù tính về một kế hoạch di cư người Việt từ Bắc vào Nam, một cuộc di cư như một hành động chính trị, nhằm "làm cho chủ nghĩa quốc gia thêm sáng tỏ và cho thế giới hiểu rõ chế độ độc tài, khát máu của Cộng sản"1 (Báo cáo số 655/TUNP/M của Phủ Tổng ủy di cư tị nạn Về hoạt động của Phủ tổng ủy di cư tị nạn trong năm chấp chánh thứ hai của Ngô Tổng thống (từ tháng 1-1954 đến tháng 7-1955), Trung tâm lưu trữ Quốc gia II). Được sự hỗ trợ của Mỹ, Giáo hội Công giáo Việt Nam mở chiến clịch tuyên truyền: "Chính phủ Hồ Chí Minh sẽ cấm đạo, ai mang tượng Đức Mẹ phải đóng thuế 50 đồng Đông Dương và mỗi lần đến lễ Nhà thờ phải trả 5 đồng"2 (Bộ Tuyên truyền, Tội ác của đế quốc Mỹ, phải thực dân Pháp phản Hiệp định và bẻ lũ Ngô Đình Diệm trong âm mưu cưỡng ép và dụ dỗ đồng bào di cư ở Việt Nam, Bộ Tuyên truyền xuất bản, 1955, tr.31, 33, 63); "Chúa đi đâu con chiên phải theo đó. Ai ở lại miền Bắc sẽ bị mất đạo, sẽ bị rút phép thông công, đày xuống địa ngục lửa và mất linh hồn"3 (Bộ Tuyên truyền, Tội ác của đế quốc Mỹ, phải thực dân Pháp phản Hiệp định và bẻ lũ Ngô Đình Diệm trong âm mưu cưỡng ép và dụ dỗ đồng bào di cư ở Việt Nam, Bộ Tuyên truyền xuất bản, 1955, tr.31, 33, 63); "ở lại dưới Chính quyền Cộng sản sẽ bị bom nguyên tử hủy diệt"'4 (Bộ Tuyên truyền, Tội ác của đế quốc Mỹ, phải thực dân Pháp phản Hiệp định và bẻ lũ Ngô Đình Diệm trong âm mưu cưỡng ép và dụ dỗ đồng bào di cư ở Việt Nam, Bộ Tuyên truyền xuất bản, 1955, tr.31, 33, 63). Các nhà chiêm tinh được yêu cầu soạn những cuốn lịch dự báo số phận thảm khốc của giáo dân dưới chính quyền cộng sản, tiếng đồn thổi về những kế hoạch trả thù của Việt Minh được phát tán rộng rãi. Tất cả các làng mạc miền Bắc có giáo dân đều tràn ngập hàng triệu tờ rơi truyền đơn, "giáo dân được báo rằng Chúa Giêsu đã đi vào Nam. Khi một số giáo dân bày tỏ nghi ngờ về chuyện di chuyển của Giêsu, liền có thêm hàng triệu tờ rơi khác xuất hiện khắp nơi, tuyên bố rằng Mẹ của ông, bà Mary, đã rời miền Bắc. Tại sao Đức Mẹ rời miền Bắc? Vì Mẹ của Thiên Chúa muốn vào Nam để sống dưới một Thủ tướng Catô - ông Diệm"5 (Avro Manhattan, Vietnam why did we go? The shocking Story of the Catholic "Church's" Role in Starting the Vietnam War, Ibid, p.63). Việc Mỹ chi 112 triệu USD6 (Phong Hiền, Chủ nghĩa thực dân mới kiểu Mỹ ở miền Nam Việt Nam 1954-1975, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội, 1984, tr.37) thực hiện cuộc di cư; Mỹ, Pháp sử dụng 19 máy bay, 41 tàu thủy chuyên chở người di cư vào Nam cũng khiến cuộc di cư trở nên rầm rộ, thu hút thêm người ra đi. Năm 1956 được xem là thời điểm kết thúc cuộc di cư, khoảng 880.000 người đã vào Nam, trong đó có 750.000 đồng bào Công giáo (chiếm 85% số lượng người di cư)1 (Linh mục Trần Tam Tỉnh, Thập giá và lưỡi gươm, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 1988, tr.112) và nó đã để lại hậu quả vô cùng nghiêm trọng cho miền Bắc Việt Nam đang hết sức cần thiết nguồn nhân lực phục vụ khôi phục, phát triển kinh tế, ổn định xã hội.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #8 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2025, 08:13:58 pm »

Sau Hiệp định Geneva, tình hình miền Nam Việt Nam đã có những thay đổi to lớn. Trước tiên, phục vụ cho việc thành lập một chính phủ chống cộng và thân Mỹ ở miền Nam Việt Nam, cần phải lựa chọn người đứng đầu. Ngô Đình Diệm - một giáo dân hăng say, một người chống cộng điên cuồng đã được lựa chọn và được "đặt" vào chức tổng thống bởi Hồng y Spellman (Xpenman) và Giáo hoàng Pius (Piút) XII2 (Avro Manhattan, Vietnam why did we go? The shocking Story of the Catholic "Church's" Role in Starting the Vietnam War, Ibid, p.56).


Ở miền Nam Việt Nam thời gian này, bên cạnh lực lượng Công giáo khá đông đảo còn có lực lượng Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên với quân số khá đông đảo. Mỗi lực lượng đều có lãnh địa hoạt động riêng, có tầm ảnh hưởng nhất định, theo đuổi những mục đích và có thủ đoạn riêng nhưng chủ trương liên kết hình thành nên một mặt trận chống Diệm.


Tháng 3-1955, sau khi củng cố quyền lực, Ngô Đình Diệm chủ trương tiêu diệt các giáo phái thân Pháp, thống nhất quân đội dưới quyền mình. Quá trình loại bỏ các thế lực thân Pháp và ảnh hưởng của nó được chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện bằng nhiều phương thức, từ mua chuộc lôi kéo, gây sức ép về chính trị, đến dùng sức mạnh quân sự. Trước áp lực của đó, "Mặt trận thống nhất toàn lực quốc gia" bị phân hóa, nhóm Cao Đài liên minh Trịnh Minh Thế quay về hàng chính phủ Ngô Đình Diệm. Ngô Đình Diệm thực hiện các chiến dịch "Hoàng Diệu", "Đinh Tiên Hoàng tắn công vào các phái Bình Xuyên, Hòa Hảo, dùng biện pháp chia rẽ nội bộ để phá bỏ bộ máy hành chính của Cao Đài, uy hiếp Toà thánh Tây Ninh. Đến tháng 6-1956, đại bộ phận lực lượng Cao Đài hoặc bị tiêu diệt hoặc ra đầu hàng chính phủ Ngô Đình Diệm. Sau những hoạt động này, uy tín của Ngô Đình Diệm tăng lên đáng kể và Pháp hết cơ hội loại bỏ Ngô Đình Diệm.


Vào cuối năm 1955, Ngô Đình Diệm gần như kiểm soát hoàn toàn miền Nam Việt Nam và quyền lực của chính phủ đã mạnh hơn bao giờ hết. Với những thuận lợi đó, tháng 12-1955, chính phủ Ngô Đình Diệm xóa bỏ tất cả các hiệp ước kinh tế, tài chính ký kết với Pháp trước đó, yêu cầu Pháp hủy bỏ Hiệp định Geneva và cắt đứt quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau đó, Ngô Đình Diệm rút đại diện của Quốc gia Việt Nam ra khỏi Liên hiệp Pháp và ngày 22-3-1956, Pháp thỏa thuận với Quốc gia Việt Nam rút toàn bộ quân Pháp ra khỏi Việt Nam và đến ngày 26-4-1956, giải thể Bộ chỉ huy quân sự Pháp tại Sài Gòn1 (Archimedes L.A Patti, Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?), Nxb Đà Nẵng, 2008, tr. 744). Năm 1955, chính phủ Ngô Đình Diệm tổ chức cuộc trưng cầu dân ý (cuộc trưng cầu dân ý bị tố cáo là gian lận), phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, Ngô Đình Diệm trở thành Quốc trưởng. Tiếp đó, tháng 3-1956, tổ chức bầu cử Quốc hội lập hiến; tháng 10-1956, ban hành bản Hiến pháp của Việt Nam cộng hòa. Trong vòng hai năm (từ tháng 7-1954 đến tháng 7-1956) dưới sự giúp đỡ của Mỹ, về cơ bản chính quyền Ngô Đình Diệm đã đánh sập toàn bộ cơ cấu thống trị của Pháp ở miền Nam Việt Nam, thay vào đó là một chế độ mới.


Tháng 6-1956, chính quyền Ngô Đình Diệm đã hoàn tất việc xây dựng quân đội, bảo an với lực lượng khá hùng hậu2 (Lục quân có bốn sư đoàn dã chiến, sáu sư đoàn khinh chiến, 13 trung đoàn địa phương, năm trung đoàn giáo phải, một trung đoàn dù. Pháo binh có bảy tiểu đoàn và chín đại đội. Cơ giới - kỹ thuật có năm trung đoàn, công binh có sáu tiểu đoàn, 14 đại đội, vận tải có 12 đại đội. Không quân với 100 chiếc máy bay chiến đấu, 132 chiếc dự trữ, xây dựng bốn sân bay lớn ở Phú Bài, Đà Nẵng, Nha Trang, Tân Sơn Nhất và 58 sân bay nhỏ rải rác ở khắp nơi. Lực lượng hải quân có 121 tàu chiến trên sông, 25 tàu chiến trên biển, 96 tàu của lực lượng ở các căn cứ). Sau khi được thành lập, chính quyền Ngô Đình Diệm ban hành chính sách "cải tiến nông thôn" và lập "khu dinh điền, khu trù mật" nhằm ổn định tình hình nông thôn cũng như các địa bàn xung yếu dọc tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia. Lấy chính sách "cải cách điền địa" làm nền tảng, bắt đầu từ năm 1955, chương trình "cải tiến nông thôn" kết thúc vào cuối năm 1962. Trong tất cả các chương trình, Ngô Đình Diệm được chính phủ Mỹ hỗ trợ tích cực. Đáp ứng lợi ích của Mỹ, "Ngô Đình Diệm cắt đứt thương mại với Bắc Việt Nam và khiến công nghiệp miền Nam Việt Nam suy yếu bởi tác động cạnh tranh hàng dệt may và các sản phẩm khác của Mỹ theo thỏa thuận nhập khẩu hàng hóa năm 1953"1 (Walter L.Coleman and Michael Robinsonw, U.S. Battling Peasant Revolt in Vietnam, The Harvard Crimson, February 19, 1965).


Bên cạnh đó, chính quyền Ngô Đình Diệm sử dụng các phương pháp cứng rắn để chống lại những người kháng chiến, thực hiện chiến dịch tố cộng với các khẩu hiệu như "đồng tâm diệt cộng", "tiêu diệt cán bộ nằm vùng", "tiêu diệt nội tuyến, diệt trừ nội tâm", "đạp lên oán thù để thực thi dân chủ, nhân vị quốc gia", "tiêu diệt cộng sản tận gốc", "giết nhầm còn hơn bỏ sót"... Ngô Đình Diệm tuyên bố: "Thấy cộng sản ở đâu là phải bắn bỏ ngay, thấy ai tuyên truyền cho cộng sản cũng bắn bỏ ngay"2 (Marilyn B. Young, The Vietnam Wars 1945-1990, Harper Perennial, Reprint edition, 1991, p.297). Báo cáo của CIA (2-1957) mô tả chế độ Ngô Đình Diệm như sau: "Một bộ mặt chính quyền đại diện cho dân được duy trì, nhưng thực chất chính quyền là độc tài. Quyền lập pháp của Quốc hội bị hạn chế gắt gao, quyền tư pháp chưa phát triển và tùy thuộc quyền hành pháp và những nhân viên trong ngành hành pháp không gì hơn là những tay sai của ông Diệm. Không có một tổ chức đối lập nào, dù trung thành hay không, được phép thành lập và mọi chỉ trích chính quyền đều bị đàn áp... Quyền lực và trách nhiệm tập trung nơi ông Diệm và một nhóm nhỏ gồm có những thân nhân của ông Diệm, những người quan trọng nhất là ông Nhu và ông Cẩn"1 (The Pentagon Papers, Volume 1, Chapter 5, "Origins of the Insurgency in South Vietnam, 1954-1960", Boston: Beacon Press, 1971). Chế độ độc tài của Ngô Đình Diệm dựa trên mạng lưới mật vụ, tòa án quân sự và công chức tham nhũng, tuyên bố không những chiến đấu chống cộng mà còn chống bất cứ nhóm nào không trung thành với Ngô Đình Diệm và kết cục là nhiều người không cộng sản vào tù hơn là cộng sản. Theo số liệu của CIA, từ năm 1955 đến năm 1960, đã có 48.250 người bị bắt bớ, tù giam2 (The Pentagon Papers, Volume 1, Chapter 5, "Origins of the Insurgency in South Vietnam, 1954-1960", Boston: Beacon Press, 1971), còn theo tổng kết của Avro Manhattan thì có khoảng 24.000 người bị thương, 80.000 người bị hành quyết hoặc bị ám sát, 275.000 người bị cầm tù, thẩm vấn và khoảng 500.000 ngươi bị đưa đi các trại tập trung3 (Avro Manhattan, Vietnam why did we go? The shocking story of the Catholic "Church's" Role in Starting the Vietnam War, Ibid, p.89). Theo số liệu của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì chỉ trong vòng bốn năm (1955-1958) đã có gần 90 vạn người bị bắt tù đày, gần 20 vạn người bị tra tấn thành tật4 (Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr. 42). Ngô Đình Diệm "đã biến Tổng thống chế thành một nền độc tài Catô thực sự, nghiền nát tàn nhẫn các đối lập tôn giáo và chính trị"5 (Avro Manhattan, Vietnam why did we go? The shocking story of the Catholic "Church's" Role in Starting the Vietnam War, Ibid, p.89). Theo đánh giá của người Mỹ thì Ngô Đình Diệm là một kẻ độc tài, một người Công giáo hiếu chiến và một người bảo thủ trong quan hệ với những người bất đồng chính kiến6 (Walter L.Coleman and Michael Robinsonw, U.S. Battling Peasant Revolt in Vietnam, The Harvard Crimson, February 19, 1965). Nhà báo Neil Sheehan viết: "Tình báo quốc gia đoán trước: Sự bất mãn và phẫn nộ đối với chính quyền có lẽ sẽ tiếp tục tăng lên và nêu những chiều hướng bất lợi này không bị ngăn chặn thì hầu như chắc chắn sẽ dẫn tới sự sụp đổ nhanh chóng của chế độ Diệm"1 (Neil Sheehan, Sự lừa dối hào nhoáng: John Paul Vann và nước Mỹ ở Việt Nam, tập 1, Nxb Hồ Chí Minh, 1990, tr. 250).


Như vậy, sau Hiệp định Geneva, tình hình Việt Nam có một số thuận lợi, song khó khăn, phức tạp là hết sức to lớn. Đặc điểm cơ bản, quan trọng nhất, chi phối toàn bộ yêu cầu, hoạt động và nhiệm vụ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị - xã hội khác nhau. Đặc điểm này chi phối và quyết định đường lối chiến lược, phương pháp đấu tranh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong nước cũng như trên trường quốc tế hướng tới mục tiêu thống nhất đất nước.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #9 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2025, 08:21:40 pm »

2- Đường lối tiến hành chiến tranh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Nếu như khi bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã hình thành ngay một đường lối tương đối rõ nét - đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh, thì khi chiến tranh với Mỹ bùng nổ, không phải ngay từ đầu, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã có ngay một đường lối tiến hành chiến tranh hoàn chỉnh. Trải qua một quá trình tính toán, phân tích, đánh giá toàn bộ tình hình khu vực và trên thế giới có liên quan, lường định những chuyển động của tình hình trong nước, Đảng Lao động Việt Nam, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã dần định hình và đề ra những nội dung lớn, khái quát nhất của đường lối tiến hành chiến tranh. Bên cạnh đó, đường lối ấy còn là kết quả của cả một quá trình vận động thực tiễn không hề đơn giản, thành công có, hạn chế, vấp váp có, hy sinh, tổn thất có và đặc biệt là kết quả của những cố gắng, nỗ lực vượt qua tác động, ảnh hưởng tiêu cực từ bên ngoài. Đường lối đó được hình thành trong những năm 1954-1959 và được hoàn chỉnh, ấn định tại Đại hội lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam (9-1960), sau đó, ở những giai đoạn tiếp theo, được cụ thể hóa và có sự điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với những diễn biến thực tế của tình hình.


Từ tháng 7-1954 đến tháng 7-1956 là khoảng thời gian Việt Nam thực hiện Hiệp định đình chiến, thực hiện các quy định của Hiệp định Geneva. Ngay từ khi Hội nghị Geneva chưa kết thúc, Đảng Lao động Việt Nam đã tổ chức Hội nghị lần thứ 6 (khóa II) từ ngày 15 đến ngày 18-7-1954, đề ra nhiệm vụ, quyết định chủ trương, phương châm, sách lược đấu tranh trong tình hình mới.


Nhận thức "Mỹ là một trở lực chính ngăn cản việc lập lại hoà bình ở Đông Dương"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 225, 181), Hội nghị xác định: "Chĩa mũi nhọn đấu tranh vào đế quốc Mỹ và hiếu chiến Pháp, dựa trên cơ sở những thắng lợi đã đạt được mà phấn đấu để thực hiện hoà bình ở Đông Dương, phá tan âm mưu của đế quốc Mỹ kéo dài và mở rộng chiến tranh Đông Dương"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 225, 181). Để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất và độc lập và dân chủ trong toàn quốc, Hội nghị chủ trương đàm phán trên cơ sở đối phương phải thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và lãnh thổ toàn vẹn của Việt Nam. Hội nghị chỉ rõ: "Muốn đàm phán có kết quả thì ta phải nhân nhượng, nhưng nhân nhượng có chừng mực, trong nguyên tắc, và đối phương cũng phải nhân nhượng với ta"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 225, 181) và nếu đối phương nhất định phủ nhận những thắng lợi mà Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đạt được, muốn đòi những điều kiện vô lý, thì ''một mặt ta giương cao ngọn cờ hoà bình, một mặt phải tiếp tục chiến tranh để đạt tới mục đích, quyết không từ một gian khổ, hy sinh nào để giành lấy thắng lợi cuối cùng"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 15, Sđd, tr. 181, 273-274, 287). Như vậy, tinh thần cốt yếu trong đấu tranh thực hiện Hiệp định Geneva được Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xác định là để nhằm đi tới là hoà bình, thống nhất, độc lập thực sự.


Tiếp nối Hội nghị lần thứ 6, ngày 6-9-1954, Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam ra Nghị quyết về tình hình mới và nhiệm vụ công tác mới của miền Nam. Trên cơ sở phân tích diễn biến mọi mặt của tình hình, nghị quyết xác định nhiệm vụ của cách mạng miền Nam: "Củng cố hoà bình, đòi tự do dân chủ và cải thiện dân sinh, tiến tới thực hiện thống nhất và hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 15, Sđd, tr. 181, 273-274, 287). Nghị quyết khẳng định: "Nhiệm vụ đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta chưa phải đã hoàn thành, cuộc đấu tranh ái quốc không vì đình chiến mà kết thúc, cuộc đấu tranh đó còn đang tiếp tục, nhưng phương thức đấu tranh cần phải thay đổi. Chúng ta cần hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc trong hình thức đấu tranh mới"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 15, Sđd, tr. 181, 273-274, 287). Những "hình thức đấu tranh mới" được áp dụng ở miền Nam Việt Nam là kết hợp đấu tranh kinh tế với đấu tranh chính trị, thực hiện những hình thức hợp pháp và nửa hợp pháp.
Logged
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM