Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:20:51 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam  (Đọc 7305 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #10 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2025, 08:23:50 pm »

Bước sang năm 1955, Đảng Lao động Việt Nam tổ chức hai Hội nghị Trung ương: Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (3-1955) và Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (8-1955). Điểm chung của hai hội nghị là đã nhận thức và chỉ rõ những thay đổi nhanh chóng, mau lẹ của tình hình. Nhận định chính quyền Sài Gòn và đứng sau là Mỹ - Pháp phá hoại Hiệp định Geneva, đàn áp phong trào cách mạng, Hội nghị Trung ương lần thứ 7 và lần thứ 8 có cùng quan điểm: Muốn củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc, phải có lực lượng. Lực lượng được các hội nghị Trung ương xác định bao gồm toàn quốc, "nhưng chủ yếu là ở miền Bắc. Muốn có lực lượng phải ra sức củng cố miền Bắc". Như vậy, từ khá sớm, Đảng Lao động Việt Nam đã nhận thức rằng, để cuộc đấu tranh có chỗ dựa vững chắc không chỉ trước mắt mà còn về lâu dài, nhất là khi mức độ ác liệt, khó khăn, gian khổ của chiến tranh ngày càng gia tăng, cần phải củng cố, bồi dưỡng miền Bắc một cách toàn diện, coi miền Bắc là chỗ đứng, là cơ sở, là nền, là gốc cuộc đấu tranh thống nhất đất nước. Bên cạnh đó, các hội nghị Trung ương 7 và 8 cũng nhấn mạnh nhiệm vụ đồng thời giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam, chỉ rõ mối quan hệ giữa nhiệm vụ củng cố miền Bắc và đấu tranh ở miền Nam: "Để lợi cho việc tranh thủ rộng rãi trong toàn quốc đặng thực hiện thống nhất nước nhà, phải luôn luôn chiếu cố miền Nam. Củng cố miền Bắc và chiếu cố miền Nam không thể tách rời"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 16, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 485); yêu cầu "khắc phục tư tưởng sai lầm cho rằng: để chiếu cố miền Nam nên hạ thấp yêu cầu củng cố miền Bắc, hoặc chỉ biết củng cố miền Bắc mà không chú ý chiếu cố miền Nam"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 16, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 485).


Giữa năm 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm từ chối hiệp thương tổng tuyển cử, thống nhất đất nước, triển khai giai đoạn hai "tố cộng, diệt cộng", đánh phá có chiều sâu cơ sở cách mạng. Chính quyền Ngô Đình Diệm tổ chức học tập "tố cộng" rộng rãi trong nhân dân, trong chính quyền; phân loại quần chúng... Ngoài ra, chính quyền Ngô Đình Diệm còn mở nhiều đợt càn quét có trọng điểm vào các chiến khu cũ như chiến dịch "Thoại Ngọc Hầu" (từ 6-1956 đến 10-1956) ở 18 tỉnh miền Tây Nam Bộ, Chiến dịch "Trương Tấn Bửu" (từ 7-1956 đến 12-1956) ở miền Đông Nam Bộ và giáp biên giới Campuchia. Tình hình miền Nam hết sức căng thẳng, nhiều cơ sở bị phá vỡ, hàng vạn quần chúng, đảng viên bị giết hại, bị bắt giam, cách mạng miền Nam chịu tổn thất nặng nề. Khả năng thực hiện điều khoản chính trị của Hiệp định Geneva không còn tồn tại nữa.


Trước tình hình đó, tháng 6-1956, Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam ra Nghị quyết xác định tính chất và nhiệm vụ cách mạng miền Nam: "Tính chất cuộc vận động cách mạng của ta ở miền Nam là dân tộc và dân chủ. Nhiệm vụ cách mạng của ta ở miền Nam là phản đế và phản phong kiến"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 17, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 224, 228). Nghị quyết nêu rõ: Tuy hình thức đấu tranh trong cả nước là đấu tranh chính trị, nhưng như thế không có nghĩa là không dùng vũ trang tự vệ trong những hoàn cảnh nhất định. Vì thế, cần "củng cố các lực lượng vũ trang và bán vũ trang hiện có và xây dựng căn cứ làm chỗ dựa. Đồng thời xây dựng cơ sở quần chúng vững mạnh làm điều kiện căn bản để duy trì và phát triển lực lượng vũ trang"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 17, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 224, 228). Điểm mới của Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 6-1956 so với những nghị quyết trước đó là đã nhấn mạnh sự cần thiết phải duy trì, phát triển lực lượng vũ trang. Đó là bước ngoặt đánh dấu sự chuyển hướng ban đầu trong lãnh đạo cách mạng miền Nam của Đảng Lao động Việt Nam thông qua phương thức đấu tranh chính trị kết hợp với vũ trang tự vệ.


Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 6-1956 được đưa xuống Xứ ủy Nam Bộ và Liên khu ủy Liên khu 5 và trong hai năm 1956-1957, hàng chục đơn vị vũ trang cách mạng ra đời, nhiều đội trừ gian thành lập ở Nam Bộ và Liên khu 5. Được Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 6-1956 phát "tín hiệu" về hướng đấu tranh mới và trên cơ sở sự vận động của thực tiễn cách mạng miền Nam, tháng 8-1956, Lê Duẩn - Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam, Bí thư Xứ ủy Nam Bộ đã soạn thảo Đường lối cách mạng miền Nam1 (Ở nhiều cuốn sách và các công trình khác, văn kiện này thường được gọi là Đề cương cách mạng miền Nam, chúng tôi lấy tên như trên là theo Văn kiện Đảng toàn tập, tập 17, Sđd, tr.783).


Đường lối cách mạng miền Nam chỉ rõ ba nhiệm vụ chính làm đường lối chung cho toàn bộ cách mạng Việt Nam:

"1) Củng cố thật vững chắc miền Bắc;

 2) Đẩy mạnh phong trào cách mạng miền Nam;

 3) Tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hoà bình, dân chủ, độc lập dân tộc trên thế giới"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 17, Sđd, tr. 784, 785).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #11 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2025, 08:24:49 pm »

Đường lối cách mạng miền Nam luận giải sự cần thiết phải thực hiện đồng thời ba nhiệm vụ nói trên như sau: Có củng cố miền Bắc thật vững mạnh mới đảm đương được nhiệm vụ "làm hậu thuẫn cho phong trào cách mạng giải phóng miền Nam"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 17, Sđd, tr. 784, 785); phải đẩy mạnh cuộc đấu tranh ở miền Nam, vì đồng bào miền Nam đang rên xiết dưới ách thống trị tàn bạo của chế độ Mỹ - Diệm. Để chống lại Mỹ - Diệm, "nhân dân miền Nam chỉ có con đường cứu nước và tự cứu mình, là con đường cách mạng. Ngoài con đường cách mạng không có một con đường khác"4 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 17, Sđd, tr. 784, 785). Thực hiện hai nhiệm vụ ở miền Bắc và miền Nam không thể tách rời nhiệm vụ tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân tiến bộ thế giới, vì đương đầu với thế lực mạnh nhất thời đại về kinh tế, quân sự, cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam là một bộ phận trong phong trào đấu tranh của nhân dân tiến bộ cuộc đấu tranh ấy không chỉ cần mà còn nhất định có được sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới. Bản Đường lối giải thích: Nhờ sự ủng hộ đó "mà ta được thêm sức mạnh, địch sẽ bị cô lập và yếu thế, ta có thêm điều kiện thuận lợi để thắng địch, để hoàn thành sự nghiệp giải phóng hoàn toàn dân tộc ta"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 17, Sđd, tr. 785, 785-786, 787). Nhấn mạnh lại một lần nữa sự cần thiết phải thực hiện đồng thời ba nhiệm vụ quan trọng nói trên, Đường lối cách mạng miền Nam chỉ rõ mối liên hệ gắn bó chặt chẽ giữa chúng: "Ba nhiệm vụ ấy không thể tách rời nhau được, ba nhiệm vụ ấy liên quan mật thiết với nhau. Có làm tròn ba nhiệm vụ ấy, cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân ta mới đi đến thành công"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 17, Sđd, tr. 785, 785-786, 787).


Đường lối cách mạng miền Nam tập trung xác định mục đích, vị trí và đối tượng của phong trào cách mạng miền Nam, chỉ rõ mục đích của cách mạng miền Nam là "đánh đổ chính quyền độc tài, phát xít Mỹ - Diệm, thực hiện một chính quyền liên hiệp dân chủ có tính chất dân tộc độc lập, để giải phóng nhân dân miền Nam ra khỏi ách đế quốc, phong kiến độc tài phát xít Mỹ - Diệm để cùng với toàn quốc thực hiện hoà bình, thống nhất, độc lập dân tộc"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 17, Sđd, tr. 785, 785-786, 787). Tranh đấu thực hiện mục đích riêng của mình, "tức là tranh đấu tự giải phóng ra khỏi chính quyền đế quốc, phong kiến Mỹ - Diệm"4 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 17, Sđd, tr. 785, 785-786, 787), cách mạng miền Nam đã cùng với cả nước đấu tranh thực hiện mục đích chung thống nhất đất nước. Đường lối cách mạng miền Nam nói rõ thêm: Mục đích của cách mạng miền Nam và mục đích cách mạng cả nước có mối quan hệ chặt chẽ, gắn với nhau làm một, không thể tách rời. Nguyên nhân chính gắn kết hết sức chặt chẽ hai mục đích đó là bởi quá trình tranh đấu của phong trào cách mạng chung cả nước chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn vì độc lập, tự do, hoà bình thống nhất sẽ tạo những điều kiện thuận lợi cho nhân dân miền Nam tranh đấu chống lại những chính sách độc tài phát xít của chính quyền ấy; đồng thời, quá trình tranh đấu của phong trào cách mạng miền Nam chống lại chính sách phản tiến bộ của Mỹ và chính quyền Sài Gòn để tự giải phóng sẽ tạo những điều kiện thuận lợi cho công cuộc tranh đấu hoà bình, thống nhất đất nước. Như vậy, theo nhận thức của Đảng Lao động Việt Nam, cách mạng miền Nam là một bộ phận khăng khít của phong trào cách mạng chung cả nước, đẩy mạnh phong trào cách mạng miền Nam là để thực hiện một trong ba nhiệm vụ chiến lược chung và ngược lại, thực hiện những nhiệm vụ chiến lược chung là biện pháp hiệu quả nhất thúc đẩy cách mạng miền Nam phát triển.


Nghiên cứu, xem xét toàn bộ nội dung và những luận giải của bản Đường lối cách mạng miền Nam, có thể nhận thấy một trong những điểm đặc biệt của nó là đã đồng thời xác định ba nhiệm vụ; trong đó hai nhiệm vụ thuộc về đối nội liên quan đến cách mạng miền Bắc và cách mạng miền Nam, nhiệm vụ còn lại là về đối ngoại. Ba nhiệm vụ này là ba bộ phận hợp thành đường lối chung của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong giai đoạn cách mạng mới - chuyển dần từ đấu tranh chính trị sang kết hợp giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. Xác định những nội dung, nhiệm vụ cụ thể bám sát tình hình thực tiễn, hướng đến mục tiêu giải quyết những vấn đề nóng bỏng của thực tiễa, Đường lối cách mạng miền Nam là những chỉ định trực tiếp đối với phong trào cách mạng miền Nam. Đó đồng thời cũng là những cơ sở quan trọng để sau đó Đảng Lao động Việt Nam tiếp tục hoạch định đường lối tiến hành chiến tranh chống Mỹ.


Tiếp nối tư tưởng chỉ đạo về đẩy mạnh xây dựng miền Bắc vững mạnh mọi mặt của Hội nghị Trung ương, Hội nghị Bộ Chính trị trước đó; đồng thời, để khích lệ khí thế đấu tranh của cách mạng miền Nam, Hội nghị Trung ương lần thứ 14 (11-1958) đề ra kế hoạch ba năm phát triển kinh tế - văn hóa và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư doanh (1958-1960). Hội nghị một lần nữa khẳng định lại quan điểm: Việt Nam tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng ở cả hai miền: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam; hai nhiệm vụ cách mạng nói trên đều quan trọng, coi nhẹ một nhiệm vụ nào cũng đều sai lầm.


Như vậy, những năm đầu tiếp quản miền Bắc giải phóng, Đảng Lao động Việt Nam chủ trương giữ gìn lực lượng, đấu tranh thực hiện những điều khoản cơ bản của Hiệp định Geneva, từng bước hiệp thương thống nhất đất nước bằng con đường hoà bình. Tuy nhiên, khi nhận thấy khả năng thực hiện các điều khoản của Hiệp định Geneva khó thành hiện thực, Đảng Lao động Việt Nam đã chuyển hướng đấu tranh, chuẩn bị, bồi dưỡng lực lượng, chuẩn bị cho một khả năng chiến tranh kéo dài và leo thang.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #12 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2025, 08:29:36 pm »

Sau năm năm (1954-1959), tình hình miền Nam ngày càng trở nên căng thẳng bởi chính sách thanh trừng của chính quyền Ngô Đình Diệm. Chính sách đó của Ngô Đình Diệm dẫn đến sự bất mãn ngày càng dâng cao của dân chúng. Thomas D. Boettcher (T. D. Bôtchơ) mô tả tình hình đó như sau: "Hậu quả của những biện pháp đàn áp càng ngày càng tăng là sự bất mãn của quần chúng đối với Diệm cũng ngày càng gia tăng, bất kể là Diệm luôn toan tính sử dụng mọi cơ hội để dập tắt sự bất mãn này"1 (Thomas D. Boettcher, Vietnam: The Valor and the Sorrow, Little, Brown Boston, 1985, p.150). Thật vậy, nếu như năm 1957, có 2 triệu lượt người tham gia đấu tranh chính trị, thì đến năm 1958 đã có tới 3,7 triệu lượt người và sang năm 1959, đã lên tới gần 5 triệu. Trong khi đó, dưới sự lãnh đạo của các cơ sở cách mạng còn trụ lại, cuộc đấu tranh vũ trang tự vệ, trừ gian, diệt ác vẫn được tiến hành (tuy không thường xuyên) và nhiều đơn vị vũ trang cách mạng đã ra đời. Thời kỳ này, phong trào cách mạng miền Nam phải trải qua những thử thách cực kỳ nghiêm trọng, những năm tháng hết sức khó khăn.


Cần phải nói thêm rằng, dù bản Đường lối cách mạng miền Nam do Bí thư Xứ ủy Nam Bộ Lê Duẩn soạn thảo có đề cập đến sử dụng bạo lực cách mạng để giải quyết các nhiệm vụ của cách mạng miền Nam, song hình thức đấu tranh vũ trang vẫn chưa được vận dụng. Trong hai năm 1957-1958, trong các cuộc Hội nghị, khi đề cập đến cách mạng miền Nam, Đảng Lao động Việt Nam có bàn về xây dựng lực lượng, tổ chức các đội vũ trang, song hình thức, biện pháp đấu tranh chủ yếu vẫn là bằng chính trị. Việc xây dựng, tổ chức các đơn vị vũ trang vẫn được tiến hành song hết sức gọn nhẹ, quy mô nhỏ, các hoạt động vũ trang ở mức nhỏ lẻ. Khi các đợt khủng bố, thanh trừng của chính quyền Sài Gòn được tiến hành khá rầm rộ, thì sự phản ứng của lực lượng cách mạng lại khá im ắng và tình hình này kéo dài cho đến tận tháng 6-1959. Báo cáo của Nha Tống giám đốc Bảo an (chính quyền Sài Gòn) đã cho thấy điều đó: "Việt cộng miền Nam đang sống những phút hồi hộp, tinh thần bị dao động, đang chờ quyết định của thượng cấp của chúng"2 (Bản Tổng kết tin tức tháng 6-1959 của Nha Tổng giám đốc Bảo an hồ sơ 5795, phông ĐICH, Trung tâm lưu trữ Trung ương II).


Trong khi cách mạng miền Nam đang ở trong tình thế "dầu sôi, lửa bỏng" rất cần những quyết sách phù hợp, thì trong khối xã hội chủ nghĩa, giữa các đồng minh lớn của Việt Nam có những bất đồng, mâu thuẫn gay gắt. Đối với cách mạng Việt Nam, bị chi phối bởi tư tưởng "ba hòa", "chung sống hòa bình", Liên Xô muốn Việt Nam giữ nguyên hiện trạng, e ngại nếu Việt Nam đẩy cuộc đấu tranh ở miền Nam lên cao, "một đốm lửa đốt cháy cả cánh rừng". Về phía Trung Quốc, kiên trì thuyết phục Việt Nam "trường kỳ mai phục", Mao Trạch Đông nêu quan điểm: "Tình trạng nước Việt Nam bị chia cắt không thể giải quyết được trong một thời gian ngắn mà cần phải trường kỳ... Nếu 10 năm chưa được thì phải 100 năm"1 (Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong 30 năm qua (In lần thứ hai), Nxb Sự thật, Hà Nội, 1975, tr. 37)... Những lập trường, ý kiến nói trên, ở một mức độ nhất định không thể không tác động đến nội bộ Đảng Lao động Việt Nam, đến tư duy, chính kiến một số lãnh đạo cấp cao của Hà Nội. Trong bối cảnh đó, tháng 1-1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam họp Hội nghị lần thứ 15. Hội nghị Trung ương 15 họp thành nhiều đợt và khi bàn về phương pháp tiến hành cách mạng ở miền Nam, có khá nhiều luồng ý kiến khác nhau, quy về ba phương án: 1- Tiến hành đấu tranh vũ trang; 2- Đấu tranh bằng phương pháp hòa bình dựa trên những điều khoản của Hiệp định Geneva; 3- Tiến hành khởi nghĩa từng phần2 (Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr.197). Kết thúc họp đợt 1 (từ 12 đến 22-1-1959), Hội nghị vẫn chưa thống nhất được quan điểm và chưa ra được nghị quyết, cuối cùng quyết định tiếp tục nghiên cứu và sẽ kết luận vào đợt 2. Hai đại biểu Xứ ủy Nam Bộ là Phan Văn Đáng và Phạm Văn Xô ra báo cáo với Trung ương đã phải chờ đợi hơn một năm mà chưa có nghị quyết nên đã xin trở về Nam Bộ. Giữa hai đợt họp, Xứ ủy Nam Bộ liên tục báo cáo, phản ánh tình hình, chuyển đến Trung ương Đảng Lao động Việt Nam mong muốn và để nghị được đứng lên đấu tranh.


Tháng 7-1959, Hội nghị Trung ương 15 họp đợt 2 và trên cơ sở thống nhất ý kiến qua hai đợt họp, Hội nghị chính thức thông qua nghị quyết. Nghị quyết viết: "Do sự can thiệp của đế quốc Mỹ vào miền Nam, nước ta bị tạm thời chia làm hai miền: Miền Bắc đã được giải phóng và độc lập hoàn toàn, còn miền Nam vẫn là một thuộc địa (kiểu mới) của đế quốc Mỹ"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 59, 60). Hội nghị nêu lên hai mâu thuẫn cơ bản mà cách mạng Việt Nam phải giải quyết: "1) Mâu thuẫn giữa một bên là chủ nghĩa đế quốc xâm lược, giai cấp địa chủ phong kiến, và bọn tư sản mại bản quan liêu thống trị ở miền Nam và một bên là dân tộc Việt Nam, nhân dân cả nước Việt Nam, bao gồm nhân dân miền Bắc và nhân dân miền Nam; 2) Mâu thuẫn giữa con đường xã hội chủ nghĩa và con đường tư bản chủ nghĩa ở miền Bắc"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 59, 60). Nghị quyết phân tích: Đó là hai mâu thuẫn có tính chất khác nhau, nhưng có quan hệ biện chứng với nhau và tác động mạnh mẽ lẫn nhau. Những mâu thuẫn này thể hiện sự đối kháng rất gay gắt giữa một bên là lực lượng của dân tộc ta (Việt Nam - TG) mong muốn hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và một bên là thế lực của chủ nghĩa đế quốc và tay sai, cụ thể là bè lũ Mỹ - Diệm xâm lược gây chiến và chia cắt nước ta (Việt Nam - TG). Đồng thời, những mâu thuẫn ấy cũng thể hiện sự đối kháng rất gay gắt giữa lực lượng xã hội chủ nghĩa, độc lập dân tộc, hoà bình dân chủ trên thế giới với thế lực do đế quốc hiếu chiến và xâm lược do đế quốc Mỹ cầm đầu ở khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 20, Sđd, tr. 60, 62).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #13 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2025, 08:30:49 pm »

Để giải quyết hai mâu thuẫn nêu trên, Hội nghị Trung ương lần thứ 15 nhận định rằng, cách mạng Việt Nam có hai nhiệm vụ chiến lược: "Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Hai nhiệm vụ chiến lược đó tuy tính chất khác nhau, nhưng quan hệ hữu cơ với nhau, song song tiến hành, ảnh hưởng sâu sắc lẫn nhau, trợ lực mạnh mẽ cho nhau, nhằm phương hướng chung là giữ vững hoà bình, thực hiện thống nhất nước nhà, tạo điều kiện thuận lợi để đưa cả nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 20, Sđd, tr. 60, 62). Nghị quyết làm rõ nội dung hai cuộc cách mạng đó như sau: Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là củng cố và phát huy thắng lợi đã giành được, xây dựng cơ sở vững chắc để thực hiện thống nhất nước nhà, còn tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân là đánh đổ chế độ đế quốc và nửa phong kiến ở miền Nam, nhằm đáp ứng yêu cầu khách quan của cách mạng Việt Nam, giải phóng miền Nam, đồng thời cũng là để bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa - cơ sở vững chắc của công cuộc thống nhất, độc lập và dân chủ trong cả nước. Đó chính là "quan hệ biện chứng giữa công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và việc hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước, giữa sự nghiệp hoà bình thống nhất nước nhà và cuộc đấu tranh cách mạng đánh đổ ách thống trị của Mỹ - Diệm ở miền Nam"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 20, Sđd, tr. 60, 62).


Khẳng định "nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, nhân dân Việt Nam quyết không chịu làm nô lệ và đứng lên tranh đấu đến cùng, giải phóng đất nước, thống nhất non sông", Nghị quyết 15 xác định: Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 20, Sđd, tr. 82, 82-83). Con đường đó dựa vào sức mạnh của quần chúng, lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang nhân dân. Định hướng đó cho thấy Nghị quyết Trung ương 15 chủ trương sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng để đánh đổ ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thành lập chính quyền cách mạng nhân dân. Nghị quyết cũng lường định về tính lâu dài, gian khổ của cách mạng miền Nam, đặt ra yêu cầu "phải tích cực xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng cách mạng, thì mới có thể có điều kiện nắm lấy thời cơ thuận lợi và giành lấy thắng lợi2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 20, Sđd, tr. 82, 82-83). Như vậy, Nghị quyết Trung ương 15 đã chỉ ra một cách toàn diện con đường tiến lên của cách mạng miền Nam, xác định rõ đường lối, phương pháp cách mạng chung của cả nước và đặc biệt là của cách mạng miền Nam - với những nội dung quan trọng, thể hiện sự chuyển hướng chiến lược trong lãnh đạo cách mạng của Đảng Lao động Việt Nam, Nghị quyết 15 được mệnh danh là "bó đuốc soi đường cho cách mạng miền Nam".


Lưu ý thêm rằng, Nghị quyết 15 được thông qua vào giữa tháng 7-1959, song tháng 9-1959, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam vẫn chỉ thị Xứ ủy Nam Bộ chỉ sử dụng lực lượng vũ trang để tự vệ, tuyên truyền, trừ gian, phục vụ nhiệm vụ chính trị, giành thắng lợi chính trị, chứ chưa phải là giành thắng lợi quân sự3 (Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975), Sđd, tr.186) và đến tháng 11-1959, Xứ ủy Nam Bộ mới nhận được điện của Ban Bí thư Trung ương Đảng Lao động Việt Nam về "Những nội dung cơ bản của Nghị quyết 15". Căn cứ vào diễn biến thực tế, Xứ ủy Nam Bộ đưa ra quan điểm: cần thiết phải phát động phong trào đấu tranh vũ trang mới duy trì được phong trào và phát triển ra các vùng khác; đồng thời, đề nghị Trung ương "cần có ngay kế hoạch, vì để lâu lực lượng ta mất đi nhiều, tinh thần quần chúng sa sút, sau này có muốn chuyển cũng khó"1 (Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975), Sđd, tr. 187). Quan điểm của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam là Xứ ủy nghiên cứu, áp dụng nghị quyết sát hợp với hoàn cảnh Nam Bộ. Tháng 11-1959, Xứ ủy Nam Bộ họp Hội nghị lần thứ tư và quyết nghị: "Cần phải nhận rõ rằng: Mọi hoạt động võ trang hiện nay đều nhằm phục vụ cho phong trào đấu tranh chính trị, hỗ trợ thúc đẩy phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng tiến lên khởi nghĩa giành chính quyền khi có đủ điều kiện và thời cơ thuận lợi"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 20, Sđd, tr. 988). Hội nghị Xứ ủy quán triệt cần thấu suốt nguyên tắc "sử dụng lực lượng võ trang hiện nay chỉ là một chiến thuật để phục vụ chiến lược đấu tranh chính trị của quần chúng, mở rộng sự sử dụng này có tính chất chiến lược là sai lầm nhưng không sử dụng theo phương châm chiến thuật kịp thời có mức độ thì cũng không đúng"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 20, Sđd, tr. 988).


Trên thực tế, từ nửa cuối năm 1959, ở nhiều vùng miền Nam, các đảng bộ đã chỉ đạo sử dụng lực lượng vũ trang chống bắt bớ, lùng sục và hỗ trợ quần chúng nổi dậy, điển hình là các trận đánh của Tiểu đoàn 502 và Đại đội 271 tại Giồng Thị Đam và Gò Quản Cung (Đồng Tháp Mười, tỉnh Kiến Phong) vào ngày 26-9-1959 chống lại cuộc càn quét cấp trung đoàn của quân đội Sài Gòn. Sau đó, những tháng cuối năm 1959, ở các huyện tả ngạn sông Tiền, một số xã vùng đồng bằng sông cửu Long và tỉnh Tây Ninh, các lực lượng vũ trang đã hỗ trợ nhân dân nổi dậy giành chính quyền.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #14 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2025, 08:31:53 pm »

Sau khi Hội nghị Xứ ủy lần thứ tư kết thúc, Xứ ủy Nam Bộ tiếp tục kiến nghị với Trung ương không thể giữ hoạt động vũ trang ở các vùng nông thôn căn cứ kháng chiến cũ ở mức vũ trang tuyên truyền như trước, mà cần phải nâng cao một bước hoạt động vũ trang, mở rộng và phát huy hoạt động vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị và binh vận để giành quyền làm chủ. Ba tháng cuối năm 1959, Xứ ủy tiếp tục chỉ đạo lực lượng vũ trang tiến hành một số trận đánh ở một số xã vùng đồng bằng sông Cửu Long và tỉnh Tây Ninh, hỗ trợ nhân dân nổi dậy. Tại các tỉnh Kiến Phong, Kiến Tường và một số địa phương khác, Xứ ủy Nam Bộ và các đảng bộ đã chỉ đạo quần chúng đấu tranh vũ trang kết hựp với đấu tranh chính trị, tấn công một số đồn bốt và trụ sở chính quyền địa phương. Tại tỉnh Kiến Phong, lực lượng vũ trang đã hạ bảy đồn, giải phóng bảy xã. Tại tỉnh Kiến Tường, lực lượng vũ trang diệt đồn, giải phóng nhiều thôn, ấp, mở rộng các căn cứ Mỹ An, Cao Lãnh thành thế liên hoàn lên sát biên giới Campuchia. Tại Bến Tre, được sự hỗ trợ của các đội vũ trang tự vệ, quần chúng các xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh nổi dậy giành chính quyền. Từ huyện Mỏ Cày, cuộc "Đồng khỏi" của nhân dân Bến Tre đã lan rộng sang các huyện Giồng Trôm, Châu Thành, Ba Tri, Thạnh Phú.


Làn sóng nổi dậy đồng loạt nhanh chóng lan rộng và dâng cao ở các tỉnh miền Trung Trung Bộ và Nam Bộ. Đảng bộ các cấp ở nhiều nơi lãnh đạo nhân dân vùng lên diệt ác ôn, đánh đồn bốt, làm chính quyền ở nhiều thôn, xà mất quyền kiểm soát, làm chủ nhiều khu vực ở rừng núi và nông thôn. Nhiều làng xã thành lập chính quyền cách mạng, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang tạo nên một hình thức căn cứ địa, có nơi hình thành thế liên hoàn bao gồm các vùng giải phóng và vùng du kích. Phong trào đấu tranh chính trị phát triển nhanh chóng: Năm 1960, có hơn 10 triệu lượt người và năm 1961 đã lên tới 33 triệu lượt người.


Giữa lúc phong trào "Đồng khởi" của nhân dân Bến Tre đang sôi sục, đêm 26-1-1960, theo kế hoạch đã định trước, lực lượng vũ trang cách mạng tấn công căn cứ Trung đoàn 32 thuộc Sư đoàn 21 tại Tua Hai, huyện Châu Thành (Tây Ninh) - một cứ điểm lớn án ngữ hai mặt biên giới Việt Nam - Campuchia. Đây là trận thắng lớn đầu tiên của các lực lượng vũ trang Nam Bộ, một điển hình của "Đồng khởi" bắt đầu từ đòn tiến công quân sự phối hợp với nổi dậy của quần chúng. Khởi nghĩa giành quyền làm chủ ở nông thôn đã thúc đẩy phong trào đồng khởi phát triển mạnh mẽ và lan rộng. Thắng lợi của đợt 1 "Đồng khởi" đã tạo bước ngoặt căn bản cho phong trào cách mạng ở Nam Bộ cũng như phong trào cách mạng toàn miền Nam, đẩy chính quyền Sài Gòn vào thời kỳ khó khăn, khủng hoảng.


Trong lúc làn sóng cách mạng ở miền Nam đang dâng cao, miền Bắc đã hoàn thành kế hoạch ba năm khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh (1954-1957), thực hiện kế hoạch ba năm cải tạo xã hội chủ nghĩa, bước đầu phát triển kinh tế - văn hóa (1958-1960). Tình hình ở hai miền Nam, Bắc Việt Nam đã có những thay đổi nhanh chóng và quan trọng, đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ mới phải giải quyết. Trước những chuyển biến của tình hình; đồng thời, để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cuộc đấu tranh, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ ba Đảng Lao động Việt Nam được tổ chức (9-1960). Nếu như Đại hội lần thứ hai là Đại hội kháng chiến, thì Đại hội Đảng lần thứ ba là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước.


Đại hội Đảng lần thứ ba xác định nhiệm vụ chủ yếu nhất, quan trọng nhất lúc này là "tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Vàn kiện Đảng toàn tập, tập 20 Sđd tr. 512,505). Đại hội phân tích: Do Mỹ xâm chiếm miền Nam, nước ta (Việt Nam - TG) đang tạm thời bị chia làm hai miền... Miền Bắc hoàn thành những nhiệm vụ của cách mạng dân chủ nhân dân, đã bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Miền Nam còn đang bị chủ nghĩa đế quốc và thế lực phong kiến thống trị2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Vàn kiện Đảng toàn tập, tập 20 Sđd tr. 512,505). Do đó, ở Việt Nam hình thành hai khu vực có chế độ chính trị - xã hội khác nhau - đặc điểm đó đồng thời quy định cách mạng Việt Nam có hai nhiệm vụ thuộc hai chiến lược: Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc; hai là, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước.


Đại hội đặt ra yêu cầu phải nhận rõ bản chất của nhiệm vụ cách mạng ở mỗi miền; theo đó, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội chính là đáp ứng yêu cầu khách quan của xã hội miền Bắc trên bước đường phát triển; đồng thời, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo người dân miền Bắc. Chỉ có đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội thì mới có thể củng cố và phát triển những thắng lợi cách mạng đã giành được, làm cho miền Bắc vững mạnh về mọi mặt, trở thành nền tảng, gốc rễ, căn cứ địa cách mạng của cả nước, thành hậu phương vững chắc của cách mạng miền Nam. Nghị quyết nhấn mạnh: "Sự lớn mạnh không ngừng của miền Bắc không những nâng cao lòng tin tưởng và cổ vũ tinh thần hăng hái cách mạng của đồng bào yêu nước ở miền Nam"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21, Sđd, tr. 509, 507). Với chế độ xã hội ưu việt, có một nền kinh tế phát triển, một nền văn hoá dân tộc và hiện đại, một nền an ninh - quốc phòng không ngừng lớn mạnh, miền Bắc là sức mạnh tập hợp tất cả những người yêu nước, tiến bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam. Trên quan điểm đó, Đại hội xác định phương châm tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là: "Xây dựng miền Bắc, chiếu cố miền Nam"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21, Sđd, tr. 509, 507).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #15 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2025, 08:33:02 pm »

Về cách mạng miền Nam, Đại hội chỉ ra rằng: "Giải phóng miền Nam tức là giải quyết hai mâu thuẫn cơ bản tồn tại trong xã hội miền Nam"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21, Sđd, tr. 509, 507) - đó là mâu thuẫn giữa nhân dân miền Nam với đế quốc xâm lược và với giai cấp địa chủ phong kiến. Những mâu thuẫn này ngày càng trở nên gay gắt và để bảo vệ sinh mạng, quyền lợi thiết thân của mình, nhân dân miền Nam không có con đường nào khác ngoài con đường đánh đổ chế độ độc tài phát xít của Mỹ - Diệm, giải phóng hoàn toàn miền Nam4 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21, Sđd, tr. 509, 507).


Đại hội chỉ rõ sự cần thiết "phải nắm vững quan hệ giữa hai nhiệm vụ cách mạng ở hai miền trong quá trình phát triển của cách mạng"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21, Sđd, tr. 505, 512, 511), để có biện pháp, cách thức thực hiện đúng đắn, hiệu quả các nhiệm vụ. Hai nhiệm vụ dù được thực hiện ở hai miền, thuộc hai chiến lược khác nhau, mỗi nhiệm vụ nhằm giải quyết yêu cầu cụ thể của mỗi miền, song trong điều kiện Việt Nam tạm thời bị chia cắt, hai nhiệm vụ đó đều có một mục tiêu chung là thống nhất Tổ quốc, đều nhằm giải quyết mâu thuẫn chung của cả nước là mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam và thế lực ngoại bang. Vì thế, hai nhiệm vụ này có môi "quan hệ mật thiết với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21, Sđd, tr. 505, 512, 511); trong đó, "nhiệm vụ cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng nước ta và sự nghiệp thống nhất nước nhà"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21, Sđd, tr. 505, 512, 511) còn cách mạng miền Nam có "tác dụng quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước"4 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21, Sđd, tr. 505, 512, 511). Văn kiện Đại hội phân tích: Chỉ có xác định đúng đắn vị trí cách mạng mỗi miền, mới có quan điểm toàn diện về nội dung và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam, mới có chủ trương, phương châm, kế hoạch, biện pháp đúng đắn để tiến hành thắng lợi các nhiệm vụ đặt ra. Đại hội cũng xác định cuộc đấu tranh thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam là một quá trình đấu tranh cách mạng gay go, lâu dài, gian khổ, phức tạp và "là một bộ phận tích cực của phong trào quốc tế đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc và hòa bình thế giới". Do đó, cuộc đấu tranh ấy, một mặt, được nhân dân tiến bộ trên thế giới cổ vũ, giúp đỡ; mặt khác, góp phần thúc đẩy trào lưu hòa bình, dân chủ và tiến bộ của nhân loại. Để phát huy sức mạnh nội lực, tranh thủ sức mạnh thời đại, đường lối, chính sách đối ngoại của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là tăng cường đoàn kết quốc tế, tranh thủ mọi sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước.


Những vấn đề nêu trên đồng thời cũng là nội dung của "đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước" - đường lối tiến hành chiến tranh mà Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã từng bước xác định, bổ sung, hoàn thiện và thông qua dựa trên những nhận thức quan trọng được rút ra từ quá trình tìm tòi, tổng kết thực tiễn những năm tháng trước đó. Đó là đường lối giương cao hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; đồng thời, ra sức tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo ra sức mạnh tổng hợp cần và đủ để có thể đương đầu, trụ vững và kết thúc chiến tranh theo cách có lợi nhất.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #16 vào lúc: 10 Tháng Mười, 2025, 08:34:58 pm »

Chương II
HẬU PHƯƠNG MIỀN BẮC VIỆT NAM TÔI RÈN VÀ PHÁT TRIỂN TRONG LÒ LỬA CHIẾN TRANH

I- XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG MIỀN BẮC VỮNG MẠNH TOÀN DIỆN

1. Về chính trị

Ngay sau khi Hội nghị Geneva kết thúc không bao lâu, Hội nghị Trung ương lần thứ 8 của Đảng Lao động Việt Nam được tổ chức (8-1955), xác định: "Miền Bắc là căn cứ địa của ta. Bất cứ trong tình hình nào, miền Bắc cũng phải được củng cố về mọi mặt"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 16, Sđd, tr. 498, 160). Nhằm củng cố vững chắc miền Bắc, một trong những nhiệm vụ trọng yếu là xây dựng miền Bắc về chính trị; trong đó, cải cách ruộng đất cần phải được tiếp tục tiến hành vì "có cải cách ruộng đất mới củng cố được hậu phương chính trị của ta, mới củng cố được cơ sở của ta ở nông thôn và mới tạo thêm điều kiện để hoàn thành thắng lợi những công tác khác, như khôi phục kinh tế, củng cố quốc phòng, củng cố chính quyền nhân dân"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 16, Sđd, tr. 498, 160).


Trong thời gian ba năm 10 tháng (từ 10-1954 đến 7-1956), trên miền Bắc Việt Nam đã tiến hành tám đợt giảm tô và năm đợt cải cách ruộng đất. Cải cách ruộng đất được tiến hành ở 3.653 xã (xã mới chia lại) tại 22 tỉnh, bao trùm cả đồng bằng và trung du miền Bắc, chia khoảng 334.100ha ruộng đất cho khoảng 2 triệu hộ nông dân không có hoặc thiếu ruộng. Tuy nhiên, do không nắm vững những biến đổi trong nông thôn miền Bắc từ sau Cách mạng tháng Tám, Đảng, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đánh giá thấp lực lượng cách mạng ở nông thôn, đánh giá quá cao thế lực kinh tế và chính trị của địa chủ miền Bắc nên đã phạm phải một số sai lầm, gây nên những tổn thất nặng nề1 (Xem kết luận của Bộ Chính trị về chủ trương cải cách ruộng đất, số 148/BCT, ngày 25-5-1994). Những sai lầm đó nghiêm trọng, phổ biên, kéo dài, đã gây hoang mang, hoài nghi, mất niềm tin không chỉ với bản thân và gia đình những người bị quy kết, đấu tố, xử trí oan sai, mà còn lan rộng trong các tầng lớp khác. Hệ quả là làm cho lực lượng của Đảng Lao động Việt Nam ở nông thôn bị tổn thất; ảnh hưởng đến uy tín của Đảng trong quần chúng, quan hệ giữa Đảng, chính quyền và quần chúng nhân dân bị ảnh hưởng. Mục tiêu và yêu cầu của cải cách ruộng đất là củng cố và mở rộng mặt trận chống phong kiến ở nông thôn, nhưng những sai lầm đó đã làm ảnh hưởng tiêu cực đến khối đoàn kết ở nông thôn và lan rộng đến thành thị, đến các giai cẫp ở miền Bắc và miền Nam. Khi phát hiện những sai lầm, Đảng đã tự kiểm điểm, công khai tự phê bình, sửa chữa những sai lầm phạm phải, nhằm lấy lại uy tín trong quần chúng nhân dân; nhờ vậy, đến cuối năm 1957, "công tác sửa chữa sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức đã mang lại kết quả tốt"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 19, Sđd, tr. 558-559).


Sau chiến tranh, để nâng cao sức mạnh, tăng cường hiệu quả lãnh đạo, Đảng chú trọng công tác tư tưởng và tổ chức, công tác lý luận, chỉnh đốn và kiện toàn bộ máy, tích cực sửa đổi lề lối làm việc và phương pháp lãnh đạo, đi sát thực tế và gắn bó với nhân dân, đẩy mạnh phê bình và tự phê bình đi đối với việc thực hiện dân chủ nội bộ. Bên cạnh đó, Đảng Lao động Việt Nam coi trọng công tác lựa chọn, rèn luyện, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ, đẩy mạnh công tác kiểm tra. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (khoá II, tháng 3-1955) chỉ rõ: "Mạnh dạn đề bạt cán bộ, bồi dưỡng cán bộ, nhất là cán bộ công nông một cách thường xuyên trong công tác hằng ngày, lựa chọn cán bộ cho thích hợp với từng công tác, tập trung lực lượng, bố trí cán bộ để đảm bảo thực hiện chu đáo những công tác chính trị. Thực hiện việc thống nhất quản lý cán bộ. Cần lập Ban Kiểm tra Trung ương, và ngành nào cũng phải tự tổ chức việc kiểm tra của mình để kiểm tra một cách có trọng điểm việc thi hành những chính sách của Đảng và Chính phủ"1 (). Nhiều đảng viên của Đảng có phẩm chất tốt, có năng lực, qua rèn luyện và thử thách trong thực tế công tác, chiến đấu được bố trí vào bộ máy Nhà nước và các cấp chính quyền. Đảng thực hiện sự lãnh đạo của mình thông qua việc đề ra và chỉ đạo thực hiện phương hướng, nhiệm vụ, phương châm công tác lớn. Đồng thời, Đảng thông qua các tổ chức đảng, đoàn ở Hội đồng Chính phủ và các cơ quan khác của Nhà nước, của Mặt trận để biến đường lối của Đảng thành chính sách hoạt động của Nhà nước. Các cấp ủy Đảng chú trọng lãnh đạo việc tăng cường hiệu lực của các cấp chính quyền, đẩy mạnh công tác kiểm tra, đôn đốc, uốn nắn việc thực hiện các nghị quyết của Đảng, chống hiện tượng "khoán trắng" cho chính quyền.


Chuyển sang thời bình, đội ngũ cán bộ, đảng viên đứng trước những nhiệm vụ nặng nề về kinh tế và xã hội. Do vậy, tất cả các cấp ủy Đảng ở miền Bắc và toàn bộ đảng viên được học tập chính sách kinh tế, tài chính, nhằm nâng cao hiểu biết và năng lực lãnh đạo của Đảng trên các lĩnh vực mới này.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #17 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2026, 08:58:10 pm »

Trong những năm kháng chiến chống Pháp, bộ máy chính quyền từng bước được xây dựng, nhưng do điều kiện lúc bấy giờ, tổ chức và hoạt động còn nặng về hành chính và kháng chiến. Hoà bình lập lại, Đảng Lao động Việt Nam chủ trương: "Củng cố chính quyền về các mặt: Chính trị, tổ chức và công tác"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 16, Sđd.tr. 146), về chính trị, phải đẩy mạnh việc tuyên truyền, giải thích, phổ biến chính sách của Chính phủ, làm cho nhân dân hiểu biết, tin tưởng chính sách và hăng hái làm đúng chính sách, tự động, tự giác chống lại những kẻ xuyên tạc hay phá hoại chính sách, về tổ chức, tập trung kiện toàn bộ máy chính quyền theo nguyên tắc dân chủ tập trung, phù hợp với yêu cầu của đất nước về mặt tổ chức, cán bộ và phương pháp làm việc, chú trọng nâng cao kỷ luật của chính quyền.


Thực hiện các nhiệm vụ đó, Đảng Lao động Việt Nam chỉ đạo kết hợp phát động quần chúng cải cách ruộng đất với việc củng cố chính quyền cấp xã và huyện, làm cho chính quyền các cấp thật sự là chính quyền của nhân dân lao động. Bên cạnh đó, đã từng bước chỉnh đốn, cải tạo, nâng cao hiệu lực của chính quyền ở các vùng mới giải phóng, xây dựng chính quyền ở các đô thị một cách vững vàng và rộng rãi. Kết quả là cơ quan Nhà nước trở lại hoạt động đều đặn, trách nhiệm, quyền hạn, thể lệ, chế độ được quy định rõ ràng, cụ thể, đặc biệt trong lĩnh vực tổ chức và quản lý kinh tế. Các kỳ họp của Quốc hội tiến hành theo định kỳ nhằm thông qua các chủ trương, chính sách lớn, thông qua các kế hoạch xây dựng và phát triển kinh tế, văn hoá, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Nhà nước. Hội đồng Chính phủ được kiện toàn về cơ cấu, tổ chức, từng bước nâng cao hiệu lực quản lý, chỉ đạo thực tiễn. Chính quyền các cấp được tăng cường theo nguyên tắc vừa đảm bảo sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Hội đồng Chính phủ vừa phát huy được tính chủ động, sáng tạo của cơ sở.


Nhằm đẩy mạnh việc dân chủ hoá cơ quan tư pháp, Quốc hội quyết định thành lập Toà án nhân dân tối cao và Viện Công tố nhân dân, tách hệ thống toà án nhân dân và hệ thống công tố khỏi Bộ Tư pháp, chuyển thành hai cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ.

Để phát huy tinh thần chủ động của nhân dân, động viên nhân dân tích cực tham gia xây dựng miền Bắc, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ban hành Luật Công đoàn bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân. Trung ương Đảng Lao động Việt Nam công bố chính sách đối với trí thức (8-1957), đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh (8-1957). Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra nghị quyết về văn hoá, văn nghệ... Sau gần ba năm biên soạn, lấy ý kiến đóng góp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, ngày 31-12-1959, Hiến pháp mới của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được Quốc hội thông qua. Hiến pháp năm 1959 là đạo luật cơ bản, quy định tính chất, chế độ chính trị - kinh tế - xã hội của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thể hiện nội dung, định hướng, quyết tâm xây dựng, bảo vệ miền Bắc, đảm bảo cho miền Bắc trở thành cơ sở của cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Tuy nhiên, do một số những lý do khách quan, chủ quan, về sự phân công giữa quyền lực nhân dân và quyền lực Nhà nước, Hiến pháp năm 1959 có sự thụt lùi so với Hiến pháp năm 1946, không có sự quy định rõ ràng về sự phân định, phối hợp, kiểm soát quyền lực giữa hai loại quyền lực này và có xu hướng hợp nhất quyền lực Nhà nước với quyền lực nhân dân, tập trung quyền lực Nhà nước vào Quốc hội - cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.


Tiếp đó, các văn bản pháp luật về tổ chức bộ máy Nhà nước và các cấp chính quyền từ Trung ương tới cơ sở về kinh tế, văn hoá, xã hội, về quyền tự do dân chủ, về quốc phòng, an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội được ban hành. Việc ban hành các văn bản pháp luật đó góp phần tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước, quyền làm chủ của nhân dân lao động trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội..., thúc đẩy công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội.


Khối đại đoàn kết toàn dân - nguồn sức mạnh của chính quyền dân chủ nhân dân tiếp tục được củng cố. Để xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, tháng 9-1954, Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam chỉ rõ một trong những nhiệm vụ quan trọng là tranh thủ sự ủng hộ của công nhân, nông dân, trí thức cách mạng. Cần thường xuyên chăm lo tuyên truyền, giáo dục cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân hiểu rõ tình hình và nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng, nêu cao ý thức cảnh giác, củng cố niềm tin và quyết tâm kháng chiến chống Mỹ, tăng cường khả năng định hướng về chính trị cho mọi người dân, trước hết là cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và lực lượng vũ trang.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #18 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2026, 09:00:16 pm »

Thực hiện nhiệm vụ nói trên, tháng 9-1955, Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc họp tại Hà Nội đã quyết định thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thay cho Mặt trận Liên Việt trước đây. Tuyên ngôn và Cương lĩnh của Mặt trận khẳng định đây là "mặt trận của tất cả những người Việt Nam yêu nước, không phân biệt tôn giáo, chủng tộc, xu hướng chính trị, thành phần xã hội miễn là tán thành hoà bình, thống nhất, độc lập và dân chủ"1 (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tuyên ngôn, Cương lĩnh, Điều lệ và Nghị quyết của Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc, Mặt trận Tổ quốc xuất bản năm 1955, tr.30). Cương lĩnh của Mặt trận gồm 10 điểm, kêu gọi: Đồng bào toàn quốc, không phân biệt dân tộc, trai gái, nghề nghiệp, giàu nghèo, thành phần xã hội, tín ngưỡng tôn giáo, không phân biệt trước đây đã đứng về phe nào, hãy đoàn kết chặt chẽ để thực hiện sự nghiệp thiêng liêng là xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Phát biểu tại buổi bế mạc Đại hội, Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Muốn thực hiện cương lĩnh của mặt trận, thì chúng ta phải ra sức củng cố miền Bắc về mọi mặt, phải làm cho miền Bắc vững mạnh và tiến lên mãi"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 67). Sau khi ra đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã xây dựng, củng cố và phát triển hệ thống tổ chức của mình (các ủy ban Mặt trận) từ Trung ương xuống tận cấp xã, tích cực vận động nhân dân thực hiện nhiệm vụ "ra sức củng cố miền Bắc, đồng thời giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 16, Sđd, tr. 576), vì "miền Bắc là nền tảng, là gốc rễ lực lượng đấu tranh của nhân dân ta. Nền có vững, nhà mới chắc. Gốc có mạnh, cây mới chắc"2 (Chí Minh, Toàn tập, tập 8, Sđd, tr.67).


Đảng, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đặc biệt quan tâm đến thành phần các dân tộc ít người, ban hành và thực hiện các chính sách phát triển kinh tế văn hóa - xã hội miền núi. Khu tự trị Thái - Mèo (Khu tự trị Tây Bắc) và Khu tự trị Việt Bắc lần lượt được thành lập để thực hiện mục tiêu nói trên. Chữ Thái được thống nhất về cách viết, được lấy làm ngôn ngữ chính để dạy ở các trường trong Khu tự trị Thái - Mèo. Trong thư gửi đồng bào khu tự trị, Hồ Chí Minh giải thích: "Mục đích thành lập khu tự trị là để cho các dân tộc anh em và toàn khu cùng nhau tự quản lý công việc của mình, phát huy khả năng của mình để tiến bộ mau chóng về mọi mặt"3 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Sđd, tr.520). Tiếp đó, từ tháng 8-1959, các khu vực và tỉnh miền núi thực hiện cuộc vận động hợp tác hoá nông nghiệp, phát triển sản xuất kết hợp với hoàn thành cải cách dân chủ. Cuộc vận động đã thu được kết quả bước đầu, từng bước tạo điều kiện cho vùng núi phát triển, cải thiện một bước đời sống sinh hoạt của đồng bào các dân tộc vùng cao...


Đối với vấn đề tôn giáo, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khẳng định: Chính sách tôn giáo đúng hay không sẽ quan hệ rất lớn đến việc đoàn kết giáo dân; vì thế, Đảng, Nhà nước Việt Nam tôn trọng tự do tín ngưỡng, không can thiệp vào hoạt động của tôn giáo ổn định giáo dân, tranh thủ đa số tín đồ. Đảng và Nhà nước chủ trương giáo dục cho cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân hiểu rõ và làm đúng chính sách tôn giáo, không can thiệp vào hoạt động tôn giáo, không xâm phạm đến tài sản và lợi ích hợp pháp của nhà thờ, nhà chùa. Trên cơ sở phân biệt rõ tín ngưỡng tôn giáo với việc lợi dụng tín ngưỡng đó, Đảng, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiên trì thuyết phục đồng bào theo đạo tham gia tích cực vào công cuộc xây dựng miền Bắc, kiên quyết trừng trị những lực lượng đội lốt tôn giáo, lợi dụng nhà thờ, nhà chùa để chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân. Đây là công tác phức tạp, khó khăn vì mặc cảm và tâm trạng cách biệt giữa người theo đạo và người không theo đạo vốn luôn tồn tại... Sau rất nhiều nỗ lực, các cấp chính quyền ở vùng có đông đồng bào theo đạo đã dần dần khắc phục được sự cách biệt đó, động viên được mọi người ra sức làm ăn xây dựng đời sống, góp phần xây dựng miền Bắc, đấu tranh thống nhất đất nước. Bên cạnh đó, Đảng Lao động Việt Nam cũng chú trọng tăng cường vận động đoàn kết với Phật giáo, chủ trương thành lập Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam (1958), đoàn kết rộng rãi giới tăng ni, tu sĩ tiến bộ. Hội Phật giáo thống nhất có trách nhiệm "giáo dục, đoàn kết tăng ni; vận động tăng ni ủng hộ và tham gia thi hành các chính sách của Đảng và Chính phủ tham gia phong trào đấu tranh thống nhất nước nhà và bảo vệ hoà bình"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21, Sđd, tr.399).


Để mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, củng cố chính - quyền, liên minh công nông được tăng cường trên nền tảng chính trị - kinh tế - xã hội mới. Những biến động sâu rộng trong đời sống chính trị, kinh tế những năm sau giải phóng đưa lại sự thay đổi về kết cấu giai cấp trong xã hội miền Bắc. Giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức trở thành chủ thể của chế độ xã hội mới. Trình độ giác ngộ chính trị, năng lực sản xuất, ý thức làm chủ, tinh thần cách mạng của công nhân, nông dân, trí thức ngày càng nâng cao - đó là một đảm bảo cho miền Bắc được xây dựng vững mạnh về chính trị.


Đảng và Nhà nước thường xuyên chú trọng công tác giáo dục chính trị cho nhân dân, làm cho mọi người dân hiểu rõ tình hình, nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng, thấy rõ âm mưu và thủ đoạn của kẻ thù. Qua đó nâng cao ý thức chính trị, củng cố sự đoàn kết nhất trí trong mọi tầng lớp nhân dân, động viên nhân dân giữ vững ý chí, quyết tâm kháng chiến. Ngay khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, Đảng đã tổ chức nhiều cuộc vận động chính trị. Thông qua các cuộc vận động đó, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng được phổ biến rộng rãi trong nhân dân, phù hợp nguyện vọng và ý chí của nhân dân, được nhân dân đón nhận và thực hiện tự nguyện, tự giác. Mặt khác, Đảng cũng thường xuyên chăm lo giáo dục và rèn luyện đội ngũ cán bộ đảng viên của mình, kịp thời phát hiện để uốn nắn hoặc xử lý nghiêm khắc mọi biểu hiện xa rời lập trường, quan điểm của Đảng, xa rời quần chúng nhân dân của một số cán bộ, đảng viên làm cho cán bộ, đảng viên ngày càng gắn bó với nhân dân, gương mẫu và tiên phong trong lối sống, công tác và chiến đấu được nhân dân tin yêu và mến phục.


Tinh thần đoàn kết quốc tế cũng được Đảng chú trọng giáo dục đến mọi tầng lớp nhân dân, làm cho mọi người hiểu rõ nhiệm vụ đối với cách mạng Lào và cách mạng Campuchia. Miền Bắc không chỉ là hậu phương chiến lược của cách mạng miền Nam mà còn mang trên mình trọng trách hậu phương của cách mạng hai nước láng giềng. Chính nhờ có công tác giáo dục chính trị tốt cho nhân dân mà tình hình chính trị - an ninh miền Bắc được giữ vững.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #19 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2026, 09:01:32 pm »

2- Về kinh tế, văn hoá - xã hội

Sự vững mạnh về chính trị vừa là điều kiện, vừa là kết quả của một chế độ kinh tế phát triển lành mạnh, cân đối. Cho nên, cùng với việc xây dựng miền Bắc vững mạnh về chính trị, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã đề ra và tổ chức thực hiện các kế hoạch kinh tế, văn hoá - xã hội ngắn hạn nhằm biến đổi sâu rộng kinh tế miền Bắc.


Sau khi miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, Đảng, Nhà nước chủ trương dành khoảng thời gian ba năm (1955-1957) để phục hồi nền kinh tế, ổn định đời sống nhân dân. Những chính sách và biện pháp của Đảng, Nhà nước đưa ra thời kỳ này đã động viên được khí thế chiến thắng thành sức mạnh phục hồi kinh tế, ổn định sản xuất và đời sống trên miền Bắc; đã phát huy được mọi năng lực sản xuất của các thành phần kinh tế; nhờ đó, những mục tiêu của kế hoạch đã được thực hiện. Mặc dù yếu tố kỹ thuật trong canh tác chưa có gì mới, nhưng nhờ phục hồi các công trình thủy lợi bị chiến tranh tàn phá, nhờ nỗ lực của người nông dân, nền nông nghiệp được khôi phục và có bước phát triển cả về diện tích, năng suất, chăn nuôi, nghề phụ. Sau ba năm, nông thôn miền Bắc một thời điêu tàn đang hồi sinh khởi sắc. Nạn đói từng bước được khắc phục. Đến cuối năm 1956, miền Bắc đã sản xuất được hơn 4 triệu tấn lương thực, vượt năm 1939 (năm cao nhất trước Chiến tranh thế giới thứ hai) là 2 triệu tấn.


Trải qua thử lửa chiến tranh, phát huy ý chí tự lực tự cường, đội ngũ công nhân miền Bắc khắc phục thiếu thốn khó khăn duy trì và mở rộng sản xuất ở các xí nghiệp mới. Nhờ vậy, năm 1957, sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp đạt mức năm 1939; đưa giá trị sản lượng công nghiệp trong tổng giá trị sản lượng công nông nghiệp từ 1,5% (1954) lên 24% (1957), đáp ứng yêu cầu thiết yếu về hàng tiêu dùng của nhân dân.


Trong 3 năm (1955-1957), lần lượt bốn tuyến đường sắt với 168 cầu, công được phục hồi, nối Thủ đô với các miền đất nước. Đường bộ, đường sông, cảng biển cũng đã lưu thông. Các tuyến điện thoại, điện báo đường thư và công văn từ Trung ương về địa phương và đường dây liên tỉnh, nội tỉnh được nối liền, phục vụ kịp thời công tác chỉ đạo sản xuất, cải cách ruộng đất, chống cưỡng bức di cư, chống phỉ và các yêu cầu về quốc phòng, an ninh.


Kết quả khôi phục kinh tế thúc đẩy sự nghiệp văn hoá, giáo dục, y tế. Hai hệ thống giáo dục ở vùng tự do và vùng tạm chiếm trước đây, bây giờ được thống nhất thành hệ thống giáo dục phổ thông 10 năm. Chăm lo đến việc học hành của con em nhân dân, các địa phương mở nhiều trường cấp I, cấp II, cấp III. Các trường học sinh miền Nam, các trường sư phạm miền núi cũng được xây dựng. Năm học 1956-1957, 65 vạn học sinh miền Bắc cắp sách tới trường, trong đó 60.000 con em các dân tộc ít người và 15.000 con em cán bộ miền Nam tập kết. Cùng với giáo dục phổ thông, các lớp bình dân học vụ được mở ra ở mọi địa phương, mọi công trường, xí nghiệp... Lần thứ hai trong lịch sử của chế độ dân chủ cộng hoà, "diệt dốt" trở thành phong trào quần chúng biểu hiện ý chí của một dân tộc không cam chịu thất học và đói nghèo. Ngoài ra, để nâng cao trình độ văn hoá cho đội ngũ cán bộ, công nhân viên và nhân dân lao động, Nhà nước và chính quyền các cấp mở các lớp bổ túc văn hoá, lập các trường bổ túc công nông. Hệ thống các trường đại học, trung học chuyên nghiệp được tổ chức lại. Trong tuyển sinh, các trường chú trọng cơ cấu xã hội theo hướng tăng dần tỉ lệ học sinh xuất thân từ công nhân, nông dân, bộ đội, miền núi, phụ nữ... Năm học 1956-1957, toàn miền Bắc có 3.860 sinh viên đại học.


Mạng lưới y tế bước đầu hình thành với 50 bệnh viện, 13 cơ sở điều dưỡng, 5.000 ban, phòng hoạt động ở các địa phương. Nhân viên y tế đi về các bản làng xa xôi, các vùng nông thôn hẻo lánh, khám chữa bệnh cho nhân dân, phát động phong trào "Vệ sinh yêu nước". Ba năm sau chiến tranh là khoảng thời gian ngắn. Trong khoảng thời gian đó, mặc dù vẫn còn nhiều gian khổ, phức tạp phải vượt qua để đưa miền Bắc trở thành hậu phương vững mạnh những với sự cố gắng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, tình hình bớt khó khăn gaý gắt. Chính trị ổn định, sản xuất phục hồi, đời sống văn hoá được cải thiện, giao lưu kinh tế, văn hoá giữa mọi miền đất nước được khuyến khích đã góp phần bồi đắp tình đoàn kết, gắn bó trong nhân dân.


Kết thúc kế hoạch ba năm khôi phục kinh tế, miền Bắc bước vào kế hoạch ba năm cải tạo và phát triển kinh tế (1958-1960). Trọng tâm của kế hoạch này là cải tạo các thành phần kinh tế tư nhân; thiết lập chế độ sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất. Nhờ làm tốt công tác tư tưởng, tuyên truyền sâu rộng chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong nhân dân, nhờ có biện pháp tổ chức thực hiện đúng nên sau ba năm, công cuộc cải tạo đã hoàn thành về cơ bản. 85,8% số hộ nông dân, 87,9% thợ thủ công vào hợp tác xã. 100% số hộ tư sản công nghiệp, 99% tư sản vận tải và 97,1% tư sản thương nghiệp đã được cải tạo bằng hình thức công tư hợp doanh và các hình thức khác. Năm vạn tiểu thương chuyển sang sản xuất. Kết quả cải tạo xã hội chủ nghĩa đã xoá bỏ về cơ bản chế độ người bóc lột người, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, nhất là trong điều kiện đất nước có chiến tranh. Hợp tác xã đã đảm bảo những điều kiện cần thiết cả về kinh tế, chính trị, tinh thần cho những người tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Các chỉ tiêu khác về kinh tế, văn hoá, xã hội cũng được hoàn thành. Sức mua toàn xã hội từ năm 1955 đến năm 1960 tăng 70%, thu nhập quốc dân bình quân đầu người tăng gấp đôi. Miền Bắc căn bản đã xoá nạn mù chữ cho những người dưới 50 tuổi, số trường học, bệnh viện cũng tăng mạnh. Nạn thất nghiệp và nhiều tệ nạn xã hội khác do chế độ cũ để lại tiếp tục được khắc phục tích cực bằng các biện pháp hiệu quả.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM